• Tổng quan
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung hợp nhất 

    Tính năng này chỉ có tại LuatVietnam.vn. Nội dung hợp nhất tổng hợp lại tất cả các quy định còn hiệu lực của văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính... trên một trang. Việc hợp nhất văn bản gốc và những văn bản, Thông tư, Nghị định hướng dẫn khác không làm thay đổi thứ tự điều khoản, nội dung.

    Khách hàng chỉ cần xem Nội dung hợp nhất là có thể nắm bắt toàn bộ quy định hiện hành đang áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

    =>> Xem hướng dẫn chi tiết cách sử dụng Nội dung hợp nhất

  • Tải về
Lưu
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Theo dõi VB
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Ghi chú
Báo lỗi
In

Nghị quyết 39/NQ-HĐND Hà Nội 2026 hoạt động chất vấn kỳ họp thường lệ giữa năm 2026

Ngày cập nhật: Thứ Tư, 22/07/2026 22:18 (GMT+7)
Cơ quan ban hành: Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội
Số công báo:
Số công báo là mã số ấn phẩm được đăng chính thức trên ấn phẩm thông tin của Nhà nước. Mã số này do Chính phủ thống nhất quản lý.
Đang cập nhật
Số hiệu: 39/NQ-HĐND Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Nghị quyết Người ký: Phùng Thị Hồng Hà
Trích yếu: Về hoạt động chất vấn tại kỳ họp thường lệ giữa năm 2026 (Kỳ họp thứ 5) Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội khóa XVII, nhiệm kỳ 2026-2031
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
15/07/2026
Ngày hết hiệu lực:
Ngày hết hiệu lực là ngày, tháng, năm văn bản chính thức không còn hiệu lực (áp dụng).
Đang cập nhật
Áp dụng:
Ngày áp dụng là ngày, tháng, năm văn bản chính thức có hiệu lực (áp dụng).
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Lĩnh vực: Hành chính

TÓM TẮT NGHỊ QUYẾT 39/NQ-HĐND

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải Nghị quyết 39/NQ-HĐND

Tải văn bản tiếng Việt (.pdf) Nghị quyết 39/NQ-HĐND PDF (Bản có dấu đỏ)

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
HỘI
ĐỒNG
NHÂN
DÂN
THÀNH
PHÓ
NỘI
Số:
39
/NQ-HĐND
CỘNG
HÒA
HỘI
CHỦ
NGHĨA
VIỆT
NAM
Độc
lập
-
Tự
do
-
Hạnh
phúc
Nội,
ngày
15
tháng
7
năm
2026
NGHỊ
QUYÉT
Về
hoạt
động
chất
vấn
tại
kỳ
họp
thường
lệ
giữa
năm
2026
(Kỳ
họp
thứ
5)
Hội
đồng
nhân
dân
thành
phố
Nội
khóa
XVII,
nhiệm
kỳ
2026-2031
HỘI
ĐỒNG
NHÂN
DÂN
THÀNH
PHÓ
NỘI
KHÓA
XVII,
KỲ
HỌP
THỨ
NĂM
Căn
cứ
Luật
Tổ
chức
chính
quyền
địa
phương
số
72/2025/QH15;
Căn
cứ
Luật
Hoạt
động
giám
sát
của
Quốc
hội
Hội
đồng
nhân
dân
số
121/2025/QH15;
Căn
cứ
Luật
Thủ
đô
số
02/2026/QH16;
Căn
cứ
Nghị
quyết
số
114/2025/UBTVQH15
ngày
24/12/2025
của
Ủy
ban
Thường
vụ
Quốc
hội
hướng
dẫn
thi
hành
Luật
Hoạt
động
giám
sát
của
Quốc
hội
Hội
đồng
nhân
dân
về
hoạt
động
giám
sát
của
Hội
đồng
nhân
dân;
Trên
sở
kết
quả
chất
vấn
trả
lời
chất
vấn
tại
kỳ
họp
thường
lệ
giữa
năm
2026
(kỳ
họp
thứ
5)
của
Hội
đồng
nhân
dân
thành
phố
khóa
XVII,
nhiệm
kỳ
2026-2031,
Tờ
trình
số
31/TTr-HĐND
ngày
15
tháng
7
năm
2026
của
Thường
trực
Hội
đồng
nhân
dân
Thành
phố
về
việc
ban
hành
Nghị
quyết
hoạt
động
chất
vấn
tại
kỳ
họp
thường
lệ
giữa
năm
2026
(Kỳ
họp
thứ
5)
Hội
đồng
nhân
dân
thành
phố
Nội
khóa
XVII,
nhiệm
kỳ
2026-2031
kết
quả
thảo
luận,
biểu
quyết
của
đại
biểu
Hội
đồng
nhân
dân
tại
kỳ
họp.
QUYẾT
NGHỊ:
Điều
1.
Hội
đồng
nhân
dân
Thành
phố
khóa
XVII,
nhiệm
kỷ
2026-2031
tại
kỳ
họp
thường
lệ
giữa
năm
2026
(Kỳ
họp
thứ
5)
tổ
chức
chất
vấn,
tái
chất
vấn
đối
với
02
nhóm
vấn
đề:
(1)
Tái
chất
vấn
việc
thực
hiện
Nghị
quyết
số
436/NQ-
HĐND
ngày
10/7/2025
về
hoạt
động
chất
vấn
tại
kỳ
họp
thứ
25
Hội
đồng
nhân
dân
Thành
phố
khóa
XVI,
nhiệm
kỳ
2021-2026;
gắn
với
việc
triển
khai
bữa
ăn
bán
trú
cho
học
sinh
trên
địa
bàn
Thành
phố
sau
khi
thực
hiện
hình
chính
quyền
địa
phương
hai
cấp;
(2)
Chất
vấn
nhóm
vấn
đề
việc
giải
quyết
điểm
nghẽn
về
úng
ngập
đô
thị
trên
địa
bàn
Thành
phố.
SAO Y; Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND TP Hà Nội
Giờ ký: 21/07/2026 11:19:29
2
Nội
dung
chất
vấn
của
các
đại
biểu
tập
trung
vào
những
vấn
đề
còn
tồn
tại,
hạn
chế
cần
được
tiếp
tục
làm
về
nguyên
nhân,
trách
nhiệm
giải
pháp
thực
hiện;
đồng
thời
phản
ánh
đúng
những
nội
dung
Thành
phố
đang
tập
trung
lãnh
đạo,
chỉ
đạo
cũng
những
vấn
đề
được
cử
tri,
Nhân
dân
Thủ
đô
đặc
biệt
quan
tâm.
Hội
đồng
nhân
dân
Thành
phố
ghi
nhận
đánh
giá
cao
sự
nghiêm
túc,
tinh
thần
cầu
thị,
trách
nhiệm
của
các
đồng
chí
lãnh
đạo
Ủy
ban
nhân
dân
Thành
phố,
Giám
đốc,
Thủ
trưởng
các
sở,
ngành
một
số
Ủy
ban
nhân
dân
các
xã,
phường
tham
gia
trả
lời
chất
vấn;
bản
trả
lời
đúng
trọng
tâm
các
nội
dung
được
đại
biểu
chất
vấn;
giải
trình,
làm
nhiều
vấn
đề
đại
biểu
quan
tâm;
đồng
thời
đề
ra
các
giải
pháp,
lộ
trình
cam
kết
tiếp
tục
tổ
chức
thực
hiện
trong
thời
gian
tới
theo
phương
châm
“rõ
người,
việc,
thời
gian,
trách
nhiệm,
sản
phẩm,
thẩm
quyền”".
Điều
2.
Về
nhóm
vấn
đề
Tái
chất
vấn
việc
thực
hiện
Nghị
quyết
số
436/NQ-HĐND
ngày
10/7/2025
về
hoạt
động
chất
vấn
tại
kỳ
họp
thứ
25
Hội
đồng
nhân
dân
Thành
phố
khóa
XVI,
nhiệm
kỳ
2021-2026;
gắn
với
việc
triển
khai
bữa
ăn
bán
trú
cho
học
sinh
trên
địa
bàn
Thành
phố
sau
khi
thực
hiện
hình
chính
quyền
địa
phương
hai
cấp
1.
Tại
kỳ
họp
thứ
25
(kỳ
họp
thường
lệ
giữa
năm
2025)
Hội
đồng
nhân
dân
Thành
phố
khóa
XVI,
nhiệm
kỷ
2021-2026,
Hội
đồng
nhân
dân
Thành
phố
đã
chất
vấn
về
vấn
đề
an
toàn
thực
phẩm,
tại
phiên
chất
vấn,
Chủ
tọa
kỳ
họp
đã
kết
luận
8
nhóm
nhiệm
vụ
12
nội
dung
yêu
cầu
cam
kết,
đã
được
Ủy
ban
nhân
dân
Thành
phố
đề
ra
các
nhóm
giải
pháp
cam
kết
để
thực
hiện
tốt
nhiệm
vụ
quản
nhà
nước
về
an
toàn
thực
phẩm.
Qua
phiên
tái
chất
vấn,
Hội
đồng
nhân
dân
Thành
phố
ghi
nhận
đánh
giá
việc
thực
hiện
Nghị
quyết
đã
đạt
được
nhiều
kết
quả
tích
cực,
cụ
thể
như
sau:
a)
Công
tác
chỉ
đạo,
điều
hành
chuyển
biến
hơn;
Ủy
ban
nhân
dân
Thành
phố
đã
ban
hành
Kế
hoạch
khắc
phục
các
"điểm
nghẽn",
thành
lập
Tổ
công
tác
chuyên
trách
về
an
toàn
thực
phẩm,
giao
nhiệm
vụ
cụ
thể
cho
các
sở,
ngành
chính
quyền
sở.
b)
Đã
chấm
dứt
hoạt
động
313/701
sở
giết
mổ
nhỏ
lẻ,
đạt
gần
45%;
giải
tỏa
214/231
chợ
cóc,
điểm
kinh
doanh
tự
phát,
đạt
trên
92%;
triển
khai
thí
điểm
05
tuyến
phố
bảo
đảm
an
toàn
thực
phẩm;
126/126
xã,
phường
đã
thành
lập
mạng
lưới
tự
giám
sát
an
toàn
thực
phẩm
tại
cộng
đồng.
c)
Đã
hình
thành
phát
triển
các
hình
bảo
đảm
an
toàn
thực
phẩm;
duy
trì,
phát
triển
182
chuỗi
liên
kết
sản
xuất
-
tiêu
thụ
nông
sản
an
toàn;
hiện
334,7
ha
được
chứng
nhận
hữu
cơ,
331,4
ha
đang
chuyển
đổi
theo
hướng
hữu
cơ,
khoảng
1.700
ha
sản
xuất
VietGAP
146
số
vùng
trồng
được
cấp,
quản
lý.
3
d)
Công
tác
tổ
chức
bữa
ăn
bán
trú
tại
các
trường
học
được
triển
khai
theo
quy
định;
tăng
cường
kiểm
soát
chặt
chẽ
nguồn
gốc
thực
phẩm
các
khâu:
chế
biến,
bảo
quản,
vận
chuyển
thực
phẩm
trong
các
sở
giáo
dục;
tuân
thủ
quy
trình
giao
nhận,
kiểm
thực
ba
bước,
lưu
mẫu
thực
phẩm
theo
đúng
quy
định
2.
Tuy
nhiên,
bên
cạnh
những
kết
quả
đạt
được,
vẫn
còn
nhiều
nội
dung
chuyển
biến
chưa
nét,
chưa
đáp
ứng
yêu
cầu
của
cử
tri
Nhân
dân,
cụ
thể:
a)
Công
tác
quản
giết
mổ
gia
súc,
gia
cầm
xử
chợ
cóc,
điểm
kinh
doanh
tự
phát
tuy
đã
chuyển
biến
nhưng
chưa
đạt
yêu
cầu
đề
ra.
Vẫn
còn
388/701
sở
giết
mổ
nhỏ
lẻ,
chưa
hoàn
thành
mục
tiêu
chấm
dứt
giết
mổ
nhỏ
lẻ,
đưa
vào
giết
mổ
tập
trung
theo
lộ
trình;
còn
17/231
chợ
cóc,
điểm
kinh
doanh
tự
phát
tiếp
tục
xử
theo
lộ
trình
đến
năm
2027;
tình
trạng
tái
lấn
chiếm
lòng
đường,
via
sau
khi
đã
ra
quân
xử
vẫn
còn
xảy
ra
tại
một
số
địa
bàn.
Đây
nguy
trực
tiếp
làm
phát
sinh
thực
phẩm
không
bảo
đảm
an
toàn,
khó
kiểm
soát
nguồn
gốc
trước
khi
đưa
ra
thị
trường.
b)
UBND
Thành
phố
đã
ban
hành
Quyết
định
53/2025/QĐ-UBND
ngày
15/9/2025
về
phân
công,
phân
cấp
quản
an
toàn
thực
phẩm,
tuy
nhiên
trong
quá
trình
triển
khai
còn
nhiều
vướng
mắc,
bất
cập,
chưa
khắc
phục
được
tình
trạng
chồng
chéo
trong
công
tác
quản
nhà
nước
về
an
toàn
thực
phẩm.
c)
chế
quản
an
toàn
vệ
sinh
thực
phẩm
còn
phân
tán,
chưa
thống
nhất
quản
từ
khâu
sản
xuất,
lưu
thông,
chế
biến
về
an
toàn
thực
phẩm;
việc
kiểm
soát
hiện
nay
còn
nhiều
nội
dung
giao
thoa,
chồng
lấn,
khó
phối
hợp
khi
truy
xuất
nguồn
gốc,
cũng
như
làm
trách
nhiệm
của
đơn
vị
liên
quan,
nhất
khi
cần
xử
sự
cố
an
toàn
thực
phẩm
quy
lớn.
d)
Tình
trạng
hoa
quả
dán
tem,
nhãn
mác
nhưng
không
nguồn
gốc,
xuất
xứ
vẫn
diễn
ra
tại
một
số
chợ
đầu
mối,
chợ
dân
sinh
cả
tại
một
số
cửa
hàng
kinh
doanh
hoa
quả
được
quảng
cáo
“hoa
quả
sạch”.
đ)
Việc
quản
lý,
kiểm
soát
sử
dụng
hóa
chất
bảo
vệ
thực
vật
trong
sản
xuất
nông
nghiệp
vẫn
còn
bất
cập.
Điều
này
làm
gia
tăng
nguy
mất
an
toàn
thực
phẩm
đối
với
rau,
củ,
quả
đưa
vào
tiêu
thụ
tại
thị
trường,
nhất
qua
hệ
thống
chợ
truyền
thống
các
kênh
phân
phối
nhỏ
lẻ.
e)
Công
tác
cấp
giấy
chứng
nhận
sở
đủ
điều
kiện
an
toàn
thực
phẩm,
cam
kết
bảo
đảm
an
toàn
thực
phẩm
hậu
kiểm
sau
cấp
giấy
vẫn
còn
hạn
chế.
g)
An
toàn
thực
phẩm
đối
với
thức
ăn
đường
phố,
hàng
rong
bếp
ăn
tập
thể
vẫn
vấn
đề
đáng
lo
ngại.
Việc
kiểm
soát
nguồn
gốc
nguyên
liệu,
quy
trình
chế
biến,
lưu
mẫu,
kiểm
thực
ba
bước
nơi
chưa
chặt
chẽ;
nguy
xảy
ra
ngộ
độc
thực
phẩm
tập
thể
vẫn
còn
tiềm
ẩn.
4
h)
Việc
xả
nước
thải
từ
các
sở
giết
mổ
gia
súc,
gia
cầm
nước
thải
chứa
dầu
mỡ
từ
các
sở
kinh
doanh
dịch
vụ
ăn
uống
trực
tiếp
xuống
hệ
thống
thoát
nước
chưa
được
kiểm
soát
chặt
chẽ,
gây
ô
nhiễm
nguồn
nước,
tắc
nghẽn
hệ
thống
thoát
nước,
phát
sinh
mùi
ảnh
hưởng
đến
môi
trường
sức
khỏe
của
người
dân;
tiềm
ẩn
nguy
lây
lan
dịch
bệnh,
vi
phạm
các
quy
định
về
bảo
vệ
môi
trường
an
toàn
thực
phẩm
trong
hoạt
động
sản
xuất,
chế
biến,
kinh
doanh
thực
phẩm.
i)
Tình
hình
vận
chuyển,
buôn
bán
thực
phẩm
nhập
lậu,
không
đảm
bảo
an
toàn
thực
phẩm
từ
tỉnh
khác
vào
Nội
tuy
giảm
nhưng
còn
diễn
ra
trên
địa
bàn.
k)
Công
tác
bảo
đảm
an
toàn
thực
phẩm
đối
với
bữa
ăn
bán
trú
trong
các
trường
học
tuy
đã
được
quan
tâm
chỉ
đạo
nhưng
vẫn
còn
nhiều
vấn
đề
cần
tiếp
tục
khắc
phục.
Đề
án
tổng
thể
về
hình
cung
cấp
suất
ăn
bán
trú
cho
học
sinh
còn
chậm
được
hoàn
thiện.
1)
Nhân
lực
quản
an
toàn
thực
phẩm
còn
mỏng,
chủ
yếu
kiêm
nhiệm.
cấp
xã,
cán
bộ
phụ
trách
an
toàn
thực
phẩm
còn
thiếu,
kiêm
nhiệm.
Việc
đầu
nguồn
lực,
phương
tiện,
thiết
bị
cho
công
tác
bảo
đảm
An
toàn
thực
phẩm
còn
hạn
chế
3.
Hội
đồng
nhân
dân
Thành
phố
yêu
cầu
Uỷ
ban
nhân
dân
Thành
phố,
Chủ
tịch,
các
Phó
Chủ
tịch
Ủy
ban
nhân
dân
Thành
phố;
Giám
đốc,
Thủ
trưởng
các
sở,
ngành
đơn
vị
liên
quan
nghiêm
túc
thực
hiện
những
giải
pháp,
cam
kết,
khắc
phục
những
tồn
tại,
hạn
chế,
tạo
chuyển
biến
mạnh
mẽ
trong
công
tác
quản
nhà
nước
đối
với
những
vấn
đề
tái
chất
vấn
tại
kỳ
họp,
gồm:
a)
Tiếp
tục
soát,
đánh
giá
việc
thực
hiện
các
nội
dung
chất
vấn
đã
được
Hội
đồng
nhân
dân
Thành
phố
quyết
nghị
để
đôn
đốc,
theo
dõi,
kiểm
tra,
giám
sát;
xác
định
trách
nhiệm
của
từng
sở,
ngành,
địa
phương
người
đứng
đầu;
tăng
cường
kỷ
luật,
kỷ
cương;
bảo
đảm
tiến
độ,
thời
hạn
hoàn
thành
sản
phẩm
đầu
ra
của
từng
nhiệm
vụ,
góp
phần
nâng
cao
hiệu
lực,
hiệu
quả
công
tác
quản
nhà
nước
về
an
toàn
thực
phẩm
trên
địa
bàn
Thành
phố,
cụ
thể:
Tăng
cường
kiểm
soát
việc
sử
dụng
thuốc
bảo
vệ
thực
vật,
hóa
chất
trong
sản
xuất,
bảo
quản
nông
sản;
mở
rộng
việc
cấp,
quản
số
vùng
trồng,
nhật
sản
xuất,
lấy
mẫu
kiểm
nghiệm,
giám
sát
tồn
hóa
chất
công
khai
kết
quả
kiểm
tra
để
người
dân
biết,
lựa
chọn
giám
sát.
-
Chỉ
đạo
kiểm
tra
thực
chất
việc
ghi
nhãn,
dán
tem,
truy
xuất
nguồn
gốc
đối
với
hoa
quả,
rau
củ
các
mặt
hàng
nông
sản
tiêu
thụ
tại
chợ
đầu
mối,
chợ
dân
sinh,
cửa
hàng
thực
phẩm
sạch;
xử
nghiêm
tình
trạng
sử
dụng
tem
mác
không
đúng,
tem
mác
không
giá
trị
truy
xuất,
lợi
dụng
danh
nghĩa
hàng
sạch,
hàng
an
toàn
để
kinh
doanh
sản
phẩm
không
nguồn
gốc.
Cần
sớm
kết
nối
dữ
liệu
vùng
trồng,
sở
chế,
đơn
vị
phân
phối
với
chợ
đầu
mối,
siêu
thị,
cửa
hàng
các
chuỗi
cung
ứng
thực
phẩm.
5
-
Chỉ
đạo
xử
dứt
điểm
các
sở
giết
mổ
nhỏ
lẻ
không
bảo
đảm
điều
kiện;
tăng
cường
kiểm
tra,
kiểm
soát
chặt
chẽ
nguồn
gốc,
quá
trình
vận
chuyển,
bảo
quản,
phân
phối
thịt
gia
súc,
gia
cầm,
sản
phẩm
thịt
thực
phẩm
chế,
chế
biến;
kiên
quyết
xử
các
trường
hợp
vận
chuyển
bằng
phương
tiện
không
chuyên
dụng,
sản
phẩm
chưa
qua
kiểm
dịch,
không
nguồn
gốc,
thực
phẩm
nhập
lậu,
thực
phẩm
giả,
thực
phẩm
kém
chất
lượng
đưa
vào
lưu
thông
trên
địa
bàn
Thành
phố.
-
soát
toàn
diện
công
tác
cấp
giấy
chứng
nhận
sở
đủ
điều
kiện
an
toàn
thực
phẩm,
cam
kết
bảo
đảm
an
toàn
thực
phẩm
chú
trọng
công
tác
hậu
kiểm
sau
cấp
giấy.
Đối
với
thức
ăn
đường
phố,
hàng
rong,
bếp
ăn
tập
thể,
cần
tăng
cường
quản
theo
địa
bàn,
theo
nhóm
nguy
cơ;
kiểm
soát
nguồn
gốc
nguyên
liệu,
điều
kiện
chế
biến,
bảo
quản,
dụng
cụ,
nước
sạch,
sức
khỏe
kiến
thức
an
toàn
thực
phẩm
của
người
trực
tiếp
kinh
doanh,
chế
biến.
-
Chỉ
đạo
xử
dứt
điểm
các
điểm
kinh
doanh
tự
phát
theo
danh
mục
đã
soát;
không
để
tình
trạng
giải
tỏa
xong
lại
tái
lấn
chiếm.
Nơi
nào
để
tái
diễn
chợ
cóc,
chợ
tạm,
lấn
chiếm
lòng
đường,
via
gắn
với
kinh
doanh
thực
phẩm
không
an
toàn,
thiếu
kiểm
tra
chưa
xử
kịp
thời
thì
phải
xem
xét
trách
nhiệm
người
đứng
đầu.
Đẩy
nhanh
chuyển
đổi
số
trong
quản
an
toàn
thực
phẩm;
hoàn
thiện,
đưa
vào
vận
hành
hệ
thống
sở
dữ
liệu
dùng
chung
về
an
toàn
thực
phẩm,
bảo
đảm
kết
nối,
chia
sẻ
dữ
liệu
giữa
các
sở,
ngành,
địa
phương.
Tiếp
tục
nghiên
cứu,
hoàn
thiện
hình
quản
nhà
nước
về
an
toàn
thực
phẩm
theo
hướng
thống
nhất,
đầu
mối,
trách
nhiệm,
khắc
phục
tình
trạng
chồng
chéo,
bỏ
sót,
đùn
đẩy
trách
nhiệm.
b)
Đối
với
công
tác
đảm
bảo
an
toàn
thực
phẩm
trong
bữa
ăn
bán
trú
tại
các
trường
học,
đề
nghị
Ủy
ban
nhân
dân
Thành
phố:
-
Sớm
ban
hành
Đề
án
tổng
thể
hình
cung
cấp
suất
ăn
bán
trú
cho
học
sinh;
đẩy
mạnh
số
hóa
quản
bữa
ăn
bán
trú;
từng
bước
triển
khai
hệ
thống
quản
lý,
truy
xuất
nguồn
gốc
thực
phẩm
học
đường
theo
hướng
công
khai,
minh
bạch,
dễ
giám
sát,
phù
hợp
với
điều
kiện
thực
tiễn
của
từng
địa
bàn.
-
Phát
huy
vai
trò
giám
sát
của
ban
đại
diện
cha
mẹ
học
sinh,
cộng
đồng
dân
chính
quyền
sở,
nhưng
phải
bảo
đảm
đúng
quy
định,
tránh
hình
thức,
tránh
khoán
trắng
trách
nhiệm
cho
nhà
trường
hoặc
phụ
huynh.
(Các
nội
dung
cam
kết
cụ
thể
tại
Phụ
lục
số
01)
6
Điều
3.
Đối
với
nhóm
nội
dung
chất
vấn
việc
giải
quyết
điểm
nghẽn
về
úng
ngập
đô
thị
trên
địa
bàn
Thành
phố.
1.
Qua
kết
quả
giám
sát
của
Thường
trực
Hội
đồng
nhân
dân
Thành
phố,
báo
cáo
của
Ủy
ban
nhân
dân
Thành
phố
kết
quả
phiên
chất
vấn
cho
thấy,
công
tác
phòng,
chống
ngập
úng
trên
địa
bàn
Thành
phố
đã
nhiều
chuyển
biến
tích
cực
so
với
trước
đây,
cụ
thể:
a)
Trong
thời
gian
qua,
trên
sở
chỉ
đạo
của
đồng
chí
Tổng
thư
Bộ
Chính
trị
các
quan
trung
ương,
công
tác
lãnh
đạo,
chỉ
đạo
của
Thành
ủy,
Hội
đồng
nhân
dân,
Ủy
ban
nhân
dân
Thành
phố
trong
công
tác
triển
khai
chống
ngập
úng
trên
địa
bàn
Thành
phố
đã
được
quan
tâm
chỉ
đạo.
Thành
phố
đã
xác
định
việc
chống
úng
ngập
trên
địa
bàn
Thành
phố
một
trong
“điểm
nghẽn”
của
Thành
phố
cần
tháo
gỡ,
khắc
phục.
b)
Công
tác
quy
hoạch:
Quy
hoạch
thoát
nước
Thủ
đô
Nội
theo
Quyết
định
số
725/QĐ-TTg
ngày
10/5/2013
của
Thủ
tướng
Chính
phủ
bản
đã
xác
định
tương
đối
đầy
đủ
hệ
thống
công
trình
đầu
mối,
hồ
điều
hòa,
trạm
bơm
các
tuyến
tiêu
thoát
nước
chính
theo
từng
lưu
vực.
Tại
đồ
án
Quy
hoạch
tổng
thể
Thủ
đô
Nội
tầm
nhìn
100
năm
được
đã
được
Hội
đồng
nhân
dân
Thành
phố
thông
qua
Ủy
ban
nhân
dân
Thành
phố
phê
duyệt
tại
Quyết
định
số
2512/QÐ-UBND
ngày
13/5/2026
đã
đề
ra
những
chỉ
tiêu,
nội
dung
công
việc
cần
tiếp
tục
soát,
chỉnh
sửa
để
đồng
bộ
vào
các
quy
hoạch
thoát
nước
trong
thời
gian
tới.
c)
Về
Đầu
tư:
Trong
giai
đoạn
từ
tháng
01/2025
đến
15/4/2026,
Thành
phố
đã
quyết
định
chủ
trương
đầu
bố
trí
vốn
cho
25
dự
án
đầu
thuộc
lĩnh
vực
thoát
nước
chống
úng
ngập
sử
dụng
vốn
ngân
sách
Thành
phố,
trong
đó
bao
gồm
13
dự
án
đầu
theo
hình
thức
khẩn
cấp
12
dự
án
theo
trình
tự
xây
dựng
bản
(đạt
12,07%
so
với
tổng
vốn
của
khối
Hạ
tầng
đô
thị),
minh
chứng
cho
sự
chủ
động
vào
cuộc
của
Ủy
ban
nhân
dân
Thành
phố,
các
sở,
ban
ngành,
các
chủ
đầu
chính
quyền
địa
phương
trong
việc
tổ
chức
thực
hiện
các
nhóm
công
trình
khẩn
cấp,
bước
đầu
đã
nhiều
kết
quả
khả
quan.
d)
Công
tác
quản
tổ
chức
xử
tình
trạng
úng
ngập
đã
được
triển
khai
đồng
bộ
từ
cấp
Thành
phố
đến
sở,
bám
sát
định
hướng
quy
hoạch
thoát
nước
các
kế
hoạch,
phương
án
đã
được
ban
hành,
tạo
nhiều
chuyển
biến
tích
cực,
từng
bước
nâng
cao
năng
lực
ứng
phó.
e)
Hệ
thống
thoát
nước
Thành
phố
hiện
được
phân
cấp
cho
nhiều
chủ
thể
cùng
tham
gia
quản
lý,
như
Sở
Xây
dựng,
Sở
Nông
nghiệp
Môi
trường,
Ủy
ban
nhân
dân
các
phường,
xã,
góp
phần
nâng
cao
tính
chủ
động
của
các
cấp
chính
quyền
đơn
vị
quản
trong
công
tác
vận
hành,
duy
trì
hệ
thống
thoát
nước.
7
2.
Bên
cạnh
kết
quả
đạt
được
Hội
đồng
nhân
dân
Thành
phố
đánh
giá
còn
một
số
nội
dung
tồn
tại,
vướng
mắc,
cụ
thể:
a)
Về
lập
cập
nhật
quy
hoạch:
-
Quy
hoạch
thoát
nước
được
phê
duyệt
từ
năm
2013,
với
lượng
mưa
khoảng
310mm/2
ngày,
chu
kỳ
lặp
lại
10
năm.
Tuy
nhiên,
thực
tế
gần
đây
đã
xuất
hiện
nhiều
trận
mưa
cực
đoan,
nơi
đạt
500
-
600mm/2
ngày,
vượt
xa
năng
lực
thiết
kế
của
hệ
thống,
gây
ngập
sâu,
ngập
kéo
dài
tại
nhiều
khu
vực,
ngoài
ra
việc
bổ
cập
nước
cho
các
sông,
xác
định
cao
độ
nền
xây
dựng
cũng
chưa
cập
nhật,
ảnh
hưởng
đến
triển
khai
các
dự
án
thoát
nước
dẫn
đến
một
số
giải
pháp
quy
hoạch
hệ
thống
thoát
nước
trong
Quyết
định
số
725/QĐ-TTg
ngày
10/5/2013
của
Thủ
tướng
Chính
phủ
chưa
đáp
ứng
được
các
trận
mưa
cực
đoan,
cường
độ
lớn.
Quy
hoạch
thoát
nước
hiện
nay
chưa
cập
nhật
với
nhóm
các
công
trình
ngầm,
công
trình
hạ
tầng
lớn
được
đầu
trong
thời
gian
qua;
Quy
hoạch
thoát
nước
tại
khu
vực
nông
thôn
mới
chỉ
dừng
lại
quy
hoạch
tiêu
thoát
nước
của
công
trình
hiện
hữu.
-
Khả
năng
tiêu
thoát
nước
của
nhiều
khu
vực
còn
phụ
thuộc
vào
hệ
thống
tiêu
thoát
nước
nông
nghiệp
các
nguồn
tiếp
nhận
liên
vùng.
Khi
mực
nước
các
sông
tiêu
dâng
cao
hoặc
công
trình
đầu
mối
chưa
vận
hành
đồng
bộ,
hiệu
quả
tiêu
thoát
nước
đô
thị
bị
ảnh
hưởng
rệt,
làm
phát
sinh
các
điểm
úng
ngập
cục
bộ.
Năng
lực
tiêu
thoát
nước
của
một
số
lưu
vực
vẫn
phụ
thuộc
lớn
vào
các
công
trình
hiện
hữu,
còn
thiếu
quy
hoạch
đối
với
nhóm
công
trình
tiếp
nước,
trạm
bơm
chuyển
bậc
(đặc
biệt
lưu
vực
Hữu
sông
Nhuệ).
Không
gian
trữ
nước
tự
nhiên
(ao,
hồ,
kênh
mương)
tại
một
số
khu
vực
bị
thu
hẹp;
Công
tác
quản
phát
triển
đô
thị
chưa
kiểm
soát
chặt
chẽ
yêu
cầu
về
cao
độ
nền,
hành
lang
thoát
nước
đấu
nối
hệ
thống.
Tình
trạng
san
lấp
ao
hồ,
thu
hẹp
kênh
mương,
tôn
nền
cục
bộ
đấu
nối
hệ
thống
không
phù
hợp
vẫn
còn
xảy
ra
tại
một
số
khu
vực,
làm
thay
đổi
điều
kiện
thủy
văn,
thủy
lực
ban
đầu,
phát
sinh
các
điểm
nghẽn
dòng
chảy
làm
suy
giảm
hiệu
quả
của
các
công
trình
đã
đầu
tư.
Trong
nhiều
trường
hợp,
hệ
thống
thoát
nước
phải
“gánh”
thêm
lưu
lượng
phát
sinh
ngoài
tính
toán
thiết
kế,
dẫn
đến
quá
tải
cục
bộ
khi
xảy
ra
mưa
lớn.
b)
Việc
đầu
triển
khai
thực
hiện
quy
hoạch:
Hệ
thống
thoát
nước
chưa
được
đầu
đồng
bộ,
chưa
khép
kín
theo
từng
lưu
vực
theo
quy
hoạch.
Mức
độ
đầu
hệ
thống
thoát
nước
của
Thành
phố
giữa
quy
hoạch
thực
tế
còn
khoảng
cách
lớn,
nguồn
lực
chưa
tập
trung
vào
nhóm
các
công
trình
đầu
mới
hồ
điều
hòa
tính
quyết
định.
8
-
Việc
đánh
giá
hiệu
quả
kinh
tế
hội
sau
đầu
còn
chưa
được
quan
tâm
đúng
mức.
Nhiều
công
trình
đầu
mối,
hồ
điều
hòa
tuyến
dẫn
chưa
được
đầu
đầy
đủ,
đồng
bộ
dẫn
đến
khả
năng
tiêu
thoát
nước
phụ
thuộc
lớn
vào
điều
kiện
vận
hành
chưa
đáp
ứng
yêu
cầu
khi
xảy
ra
mưa
lớn.
Các
công
trình,
dự
án
này
còn
dự
án
chưa
tính
đến
các
yếu
tố
tạo
giá
trị
gia
tăng
sau
đầu
tư,
vừa
thúc
đẩy
kinh
tế
địa
phương,
tạo
nguồn
thu
để
duy
trì
hệ
thống
thoát
nước.
-
Hệ
thống
thoát
nước
tại
một
số
khu
đô
thị,
khu
vực
phát
triển
mới
chưa
được
khớp
nối
đồng
bộ
với
hệ
thống
chung
của
Thành
phố
về
hướng
tuyến,
cao
độ
nền
phương
án
đấu
nối.
Một
số
hồ
điều
hòa
trong
khu
đô
thị
chưa
phát
huy
đầy
đủ
chức
năng
điều
tiết,
chủ
yếu
phục
vụ
cảnh
quan,
làm
giảm
hiệu
quả
hỗ
trợ
tiêu
thoát
nước
khi
mưa
lớn.
Còn
nhiều
khu
đô
thị
chưa
đầu
đồng
bộ
hạ
tầng
theo
dự
án.
-
Việc
thi
công
các
công
trình
khẩn
cấp
còn
xảy
ra
tình
trạng
làm
ảnh
hưởng
tới
môi
trường
(bụi
bẩn),
làm
xuống
cấp
hạ
tầng
khu
vực
(sụt
lún),
cảnh
báo
an
toàn
trong
thi
công,
cho
người
dân
chưa
đáp
ứng
được
yêu
cầu.
-
Đối
với
khối
lượng
bùn,
đất
đào
của
các
dự
án
vừa
qua
cần
xử
rất
lớn,
việc
bố
trí
các
bãi
tập
kết,
phương
án
xử
đất
đào
rất
chậm,
đến
ngày
09
tháng
7
năm
2026
Ủy
ban
nhân
dân
Thành
phố
mới
văn
bản
số
3406/UBND-NNMT
để
chỉ
đạo
xử
khối
lượng
đất
đào
theo
hướng
tận
dụng
tài
nguyên
(thu
hồi),
làm
ảnh
hưởng
đến
tiến
độ
dự
án,
gây
phát
thải
bụi
ra
môi
trường.
c)
Về
quản
vận
hành:
-
Công
tác
quản
lý,
vận
hành
phối
hợp
giữa
các
đơn
vị
chưa
thực
sự
đồng
bộ
theo
lưu
vực.
Hệ
thống
thoát
nước
hiện
do
nhiều
chủ
thể
quản
(Cơ
quan
quản
chuyên
ngành
đô
thị,
thủy
lợi;
chính
quyền
địa
phương;
chủ
đầu
dụ
án),
trong
khi
chế
điều
phối
thống
nhất
theo
lưu
vực
chưa
hoàn
thiện,
dẫn
đến
một
số
thời
điểm
việc
vận
hành,
điều
tiết
chưa
tối
ưu,
ảnh
hưởng
đến
hiệu
quả
xử
úng
ngập
cục
bộ.
Một
số
khu
đô
thị
đã
hoàn
thành
xây
dựng
công
trình
nhà
nhưng
chưa
hoàn
thiện
hoặc
chưa
bàn
giao
hệ
thống
thoát
nước,
hồ
điều
hòa,
trạm
bơm
các
công
trình
hạ
tầng
kỹ
thuật
liên
quan
theo
quy
hoạch,
dẫn
đến
phát
sinh
khoảng
trống
trong
công
tác
quản
lý,
vận
hành,
duy
tu,
duy
trì
công
trình.
-
Hệ
thống
thông
tin,
dữ
liệu
phục
vụ
giám
sát,
dự
báo
điều
hành
thoát
nước
chưa
đồng
bộ,
chưa
đáp
ứng
yêu
cầu
quản
theo
thời
gian
thực,
làm
hạn
chế
khả
năng
ra
quyết
định
nhanh,
chính
xác
trong
các
tình
huống
mưa
lớn,
diễn
biến
phức
tạp.
Công
tác
phối
hợp
giữa
các
ngành
đôi
lúc
còn
chưa
tốt,
còn
vướng
mắc
trong
việc
khớp
nối
hạ
tầng
giữa
các
dự
án;
việc
xử
hạng
mục
công
trình
ngầm
cần
sự
vào
cuộc
của
nhiều
sở
ngành
chuyên
môn,
nhiều
cấp,
nhiều
đơn
vị.
9
-
Số
lượng
vụ
việc
vi
phạm
phạm
vi
bảo
vệ
công
trình
thủy
lợi
còn
tồn
đọng
lớn
(còn
tồn
đọng
khoảng
81,68%);
một
số
địa
phương
chưa
quyết
liệt
trong
xử
vi
phạm,
phối
hợp
giữa
chính
quyền
địa
phương
đơn
vị
khai
thác
công
trình
thủy
lợi
còn
hạn
chế,
làm
ảnh
hưởng
trực
tiếp
đến
khả
năng
tiêu
thoát
nước
liên
vùng
hiệu
quả
vận
hành
chung
của
hệ
thống.
Ý
thức
một
bộ
phận
người
dân
chưa
cao,
vẫn
còn
tình
trạng
vứt
rác
thải
xuống
cống,
mương;
nhiều
hộ
kinh
doanh
thực
phẩm
đường
phố
vẫn
xả
nước
thải
vào
hệ
thống
thoát
nước
mưa;
một
số
nơi
còn
tình
trạng
đổ
rác
che
bịt
miệng
hố
ga
gây
cản
trở,
tắc
nghẽn
hệ
thống
thoát
nước.
Việc
xử
vi
phạm
đối
với
các
hành
vi
này
còn
hạn
chế,
chưa
thực
sự
mang
tính
răn
đe.
3.
Hội
đồng
nhân
dân
Thành
phố
yêu
cầu
Ủy
ban
nhân
dân
Thành
phố
chỉ
đạo
các
Sở,
Ngành
các
đơn
vị
liên
quan
một
số
nội
dung
sau:
a)
Về
công
tác
xây
dựng,
triển
khai
Quy
hoạch:
-
Nghiên
cứu
các
giải
pháp,
soát
quy
hoạch
thoát
nước
của
Thủ
đô
theo
định
hướng
Quy
hoạch
tổng
thể
Thủ
đô
100
năm
đã
được
phê
duyệt
(như:
thành
phố
bọt
biển,
bể
siêu
lớn,
nêm
xanh...)
tình
hình
biến
đổi
khí
hậu
phức
tạp
trong
giai
đoạn
hiện
nay,
cũng
như
dự
báo
trong
thời
gian
tới,
hoàn
thành
việc
soát
ban
hành
quy
hoạch
thoát
nước,
xây
dựng
quy
định
về
quản
cao
độ
nền,
quản
quy
hoạch
hạ
tầng
không
gian
ngầm
của
Thành
phố
trong
năm
2026.
-
Kiểm
soát
chặt
về
quy
hoạch
hạn
chế
tối
đa
việc
giảm
diện
tích
ao
hồ,
mặt
nước
trên
địa
bàn
Thành
phố,
giải
pháp
nâng
thêm
diện
tích
mặt
nước,
khu
vực
trữ
nước,
tiêu
thoát
nước.
b)
Về
việc
đầu
tư,
thực
hiện
quy
hoạch:
Triển
khai
các
công
trình
theo
Quy
hoạch
thoát
nước,
ưu
tiên
đầu
các
công
trình
đầu
mối,
trạm
bơm,
hồ
điều
hòa
các
tuyến
truyền
dẫn
theo
từng
lưu
vực,
bảo
đảm
tính
khép
kín
của
hệ
thống.
Tập
trung
nguồn
lực
hoàn
thành
dứt
điểm
các
dự
án
trọng
điểm
như:
Trạm
bơm
tiêu
Yên
Nghĩa
(kênh
La
Khê),
cụm
công
trình
đầu
mối
Liên
Mạc,
trạm
bơm
Đông
Mỹ,
Văn
Khê,
Phương
Trạch;
đồng
thời
đẩy
nhanh
tiến
độ
các
dự
án
trung
hạn
quy
lớn,
từng
bước
bổ
sung
công
suất
đầu
mối
không
gian
trữ
nước
theo
quy
hoạch.
-
Tăng
cường
chỉ
đạo
công
tác
phối
hợp
giữa
các
đơn
vị,
kế
hoạch
triển
khai
cụ
thể
với
từng
ngành,
từng
cấp;
thực
hiện
lồng
ghép
đầu
hệ
thống
thoát
nước,
xử
nước
thải
với
các
dự
án
xây
dựng
hạ
tầng
khác
nhằm
đảm
bảo
thực
hiện
đồng
bộ
theo
thiết
kế,
chống
lãng
phí
phát
huy
hiệu
quả
sau
đầu
tư.
10
-
Xây
dựng
lộ
trình
xử
thoát
nước
theo
từng
lưu
vực,
gắn
với
tiến
độ
hoàn
thành
các
công
trình
đầu
mối
dự
án
trọng
điểm.
soát,
xây
dựng
nguyên
tắc,
thứ
tự
ưu
tiên
đầu
các
công
trình
thoát
nước.
Trong
đó,
phấn
đấu
đến
hết
năm
2026
bản
khắc
phục
các
điểm
úng
ngập
cục
bộ
phát
sinh
do
thiếu
kết
nối
hệ
thống;
giai
đoạn
2026-2030
tập
trung
xử
các
điểm
ngập
tính
chất
hệ
thống,
phụ
thuộc
vào
các
công
trình
đầu
mối
dự
án
quy
lớn,
bảo
đảm
từng
bước
giảm
số
lượng,
phạm
vi
thời
gian
úng
ngập
trên
địa
bàn
Thành
phố.
-
Chỉ
đạo
các
Chủ
đầu
tập
trung
bố
trí
nguồn
lực
đảm
bảo
để
đẩy
nhanh
tiến
độ
thực
hiện
đối
với
nhóm
dự
án
thực
hiện
theo
lệnh
khẩn
cấp.
soát,
thực
hiện
nghiêm
túc
theo
các
quy
định
về
việc
đảm
bảo
an
toàn
cho
người
lao
động
người
dân
xung
quanh
dự
án;
thực
hiện
nghiêm
việc
kiểm
soát
bụi,
vệ
sinh
môi
trường
công
tác
hoàn
trả
mặt
bằng
của
dự
án;
Đẩy
nhanh
tiến
độ
triển
khai
hệ
thống
hỗ
trợ
kiểm
soát
ngập
lụt
Thành
phố.
soát,
đánh
giá
năng
lực
nhà
thầu
đối
với
nhóm
các
dự
án
chậm
tiến
độ,
chậm
triển
khai
thực
hiện.
Chỉ
đạo
Ủy
ban
nhân
dân
các
xã,
phường
tiếp
tục
tăng
cường
phối
hợp
với
các
chủ
đầu
đối
với
nhóm
các
dự
án
thực
hiện
theo
lệnh
khẩn
cấp,
đồng
thời
tăng
cường
công
tác
kiểm
tra,
giám
sát
việc
thực
hiện
của
các
Chủ
đầu
đối
với
các
nội
dung
đã
phân
cấp
thuộc
trách
nhiệm
của
địa
phương
(công
tác
an
ninh,
an
toàn,
công
tác
vệ
sinh
môi
trường...);
thường
xuyên
phối
hợp
với
Chủ
đầu
để
khớp
nối
đồng
bộ
hạ
tầng
giữa
các
dự
án
khẩn
cấp
với
các
dự
án
trên
địa
bàn
hạ
tầng
hiện
hữu;
-
Chỉ
đạo
hoàn
chỉnh
việc
xác
định
công
nghệ,
quy
chuẩn,
tiêu
chuẩn,
định
mức,
đơn
giá
phục
vụ
quản
vận
hành
đối
với
các
nhà
máy
xử
nước
thải
sau
khi
đưa
dự
án
vào
vận
hành
nhằm
đảm
bảo
việc
đồng
bộ,
khả
năng
cân
đối
ngân
sách
của
Thành
phố
hiệu
quả,
tránh
lãng
phí;
Nghiên
cứu
hoàn
thiện
giải
pháp
tách
nước
mưa
nước
thải
trong
hệ
thống
thu
gom,
hạn
chế
nước
mưa,
nước
mặt
xâm
nhập
vào
hệ
thống
thu
gom
nước
thải.
Yêu
cầu
các
nhà
đầu
nhà
máy
xử
nước
thải
lộ
trình
chuyển
giao
công
nghệ,
cam
kết
về
giá,
cũng
như
đảm
bảo
việc
xác
định
đơn
giá
ngay
sau
khi
dự
án
đưa
vào
hoạt
động
để
xác
định
được
chi
phí
duy
tu,
duy
trì
công
trình.
c)
Về
quản
lý:
-
Kiểm
soát
chặt
không
để
việc
san
lấp
ao
hồ,
lấn
chiếm
hành
lang
thoát
nước
hoặc
tự
ý
đấu
nối
vào
hệ
thống
thoát
nước.
Làm
trách
nhiệm
cụ
thể
của
chính
quyền
địa
phương
trong
việc
xử
vi
phạm
tình
trạng
vứt
rác
thải
xuống
cống,
mương;
hộ
kinh
doanh
xả
nước
thải
chưa
qua
xử
hoặc
đồ
rác
che
bịt
miệng
hố
ga
gây
cản
trở,
tắc
nghẽn
hệ
thống
thoát
nước.
11
-
Nghiên
cứu,
đề
xuất
giải
pháp
để
quản
đồng
bộ
hệ
thống
thoát
nước
của
Thành
phố
theo
thời
gian
thực,
đồng
thời
với
việc
xây
dựng
quy
chế
quản
vận
hành
các
hồ,
hệ
thống
thu
gom,
các
chế
chính
sách
phát
triển
xây
dựng
các
bể
chứa,
hệ
thống
hồ
trữ
nước
kết
hợp
hồ
cảnh
quan,
công
viên
sinh
thái,
tạo
giá
trị
gia
tăng
khai
thác
về
du
lịch,
dịch
vụ.
Nghiên
cứu
các
chế
khuyến
khích,
bảo
tồn
giữ
lại
các
hồ
ao
cổ
giá
trị
văn
hóa,
lịch
sử;
-
Chỉ
đạo
soát,
hoàn
thiện
chế
quản
hệ
thống
hồ
điều
hòa
trên
địa
bàn
Thành
phố;
nghiên
cứu,
xây
dựng
quy
trình
quản
lý,
vận
hành
hồ
điều
hòa
thống
nhất
trên
địa
bàn
Thành
phố;
hướng
dẫn
chung
về
công
tác
quan
trắc,
kiểm
soát
chất
lượng
nước
hồ;
xác
định
trách
nhiệm
của
các
đơn
vị
được
giao
quản
trực
tiếp
trong
công
tác
duy
trì
vệ
sinh
môi
trường,
thu
gom
rác
nổi,
xử
rác
thải,
xác
động
vật,
thủy
sản
chết
các
vấn
đề
phát
sinh
khác
nhằm
bảo
đảm
vệ
sinh
môi
trường,
phát
huy
hiệu
quả
điều
hòa,
tiêu
thoát
nước
của
hệ
thống
hồ.
Chỉ
đạo
các
quan
chuyên
môn
tổ
chức
đánh
giá
hiệu
quả
đầu
sau
khi
hoàn
thành
đối
với
các
công
trình,
dự
án
thoát
nước,
chống
úng
ngập
xử
nước
thải;
xây
dựng
bộ
tiêu
chí
đánh
giá
theo
từng
lưu
vực
trên
sở
số
điểm
úng
ngập
được
xử
lý,
thời
gian
tiêu
thoát
nước
sau
mưa,
khả
năng
vận
hành
hệ
thống
mức
độ
cải
thiện
chất
lượng
môi
trường
nước
làm
sở
phục
vụ
công
tác
quản
lý,
đầu
trong
giai
đoạn
tiếp
theo.
-
Chỉ
đạo
các
đơn
vị
liên
quan
soát
các
khu
đô
thị
chưa
đồng
bộ
về
khớp
nối
hạ
tầng
kỹ
thuật
của
các
khu
đô
thị;
đôn
đốc
các
chủ
đầu
các
dự
án
khu
đô
thị,
dự
án
nhà
trong
việc
chậm
đầu
xây
dựng
hạ
tầng
của
dự
án,
việc
đấu
nối,
khớp
nối
giữa
hạ
tầng
của
dự
án
hạ
tầng
khu
vực
xung
quanh,
việc
bàn
giao
hạ
tầng
của
dự
án
cho
Thành
phố;
yêu
cầu
các
chủ
đầu
thực
hiện
đầy
đủ
trách
nhiệm
đầu
tư,
hoàn
thiện,
đấu
nối
bàn
giao
hệ
thống
hạ
tầng
kỹ
thuật
theo
quy
định;
xử
dứt
điểm
các
tồn
tại
ảnh
hưởng
đến
khả
năng
tiêu
thoát
nước
của
từng
lưu
vực
hệ
thống
thoát
nước
chung
của
Thành
phố;
xây
dựng
các
tiêu
chuẩn
để
thực
hiện
việc
đánh
giá
hiệu
quả
sau
đầu
đối
với
nhóm
các
dự
án
thoát
nước.
soát,
đánh
giá,
phân
loại
đối
với
việc
bàn
giao
hạ
tầng
kỹ
thuật
của
các
khu
đô
thị
cho
Ủy
ban
nhân
dân
các
xã,
phường
vận
hành,
trong
đó
đảm
bảo
việc
vận
hành
đồng
bộ
hệ
thống
thoát
nước
của
toàn
khu
vực,
đáp
ứng
yêu
cầu,
mức
độ
sử
dụng
dịch
vụ
của
người
dân.
-
Chỉ
đạo
Sở
Xây
dựng
soát,
nghiên
cứu
hoàn
thiện
chế
giá
dịch
vụ
thoát
nước
xử
nước
thải
trong
năm
2026,
bảo
đảm
đắp
chi
phí
vận
hành,
duy
tu
hệ
thống
quy
chuẩn
tiêu
chuẩn
xử
nước
thải
chung
của
Thành
phố;
đồng
thời
nghiên
cứu,
đề
xuất
chế
huy
động
các
nguồn
lực
ngoài
ngân
sách,

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Nghị quyết 39/NQ-HĐND Hà Nội 2026 hoạt động chất vấn kỳ họp thường lệ giữa năm 2026

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

văn bản cùng lĩnh vực

văn bản mới nhất

CHÍNH SÁCH BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN
Yêu cầu hỗ trợYêu cầu hỗ trợ
Chú thích màu chỉ dẫn
Chú thích màu chỉ dẫn:
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng các màu sắc:
Sửa đổi, bổ sung, đính chính
Thay thế
Hướng dẫn
Bãi bỏ
Bãi bỏ cụm từ
Bình luận
Click vào nội dung được bôi màu để xem chi tiết.
×