Thông tư 06-TC/TCDN của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích

Thuộc tính Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng:Đã biết

THÔNG TƯ

CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 06 TC/TCDN NGÀY 24 THÁNG 2 NĂM 1997

VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC HOẠT ĐỘNG CÔNG ÍCH

Căn cứ Nghị định số 56/CP ngày 02 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ về doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích, Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích như sau:

I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
1. Đối tượng áp dụng Thông tư này là các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích đã được cấp có thẩm quyền quyết định bao gồm các doanh nghiệp độc lập, các doanh nghiệp hạch toán độc lập là thành viên của Tổng công ty (gọi tắt là doanh nghiệp công ích). Danh sách doanh nghiệp công ích do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định theo các tiêu thức được quy định tại Điều 1 và Điều 2 Nghị định số 56/CP ngày 02 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ.
2. Doanh nghiệp công ích có trách nhiệm sử dụng vốn và các nguồn lực do Nhà nước giao để thực hiện việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ công ích cho các đối tượng theo giá, khung giá hoặc phí do Nhà nước quy định.
3. Ngoài nhiệm vụ công ích được giao, doanh nghiệp công ích có quyền tận dụng đất đai, cảnh quan, vốn và tài sản Nhà nước sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ công ích và huy động vốn để tổ chức hoạt động kinh doanh phù hợp với khả năng của doanh nghiệp và nhu cầu của thị trường với điều kiện:
- Được cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp đồng ý bằng văn bản.
- Không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ công ích Nhà nước đã giao hoặc đặt hàng.
- Đăng ký bổ sung ngành nghề kinh doanh theo quy định hiện hành.
- Hạch toán riêng phần hoạt động kinh doanh thêm.
- Thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với phần hoạt động kinh doanh thêm theo quy định của pháp luật.
II. QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN, TÀI SẢN TẠI DOANH NGHIỆP CÔNG ÍCH
1. Đầu tư vốn:
1.1. Doanh nghiệp công ích mới thành lập được Nhà nước ưu tiên đầu tư đủ vốn điều lệ ban đầu, không thấp hơn vốn pháp định cho mỗi ngành nghề đã quy định tại Nghị định số 50/CP ngày 28/08/1996 của Chính phủ để xây dựng, mua sắm tài sản cố định và tài sản lưu động phù hợp với quy mô và nhiệm vụ công ích được giao.
1.2. Doanh nghiệp công ích đang hoạt động nếu thực sự thiếu vốn so với nhiệm vụ công ích được Nhà nước giao (sau khi huy động các nguồn vốn hiện có tại doanh nghiệp) được Nhà nước đầu tư bổ sung vốn như sau:
- Đối với doanh nghiệp công ích có lãi được xét giảm thuế lợi tức để bổ sung vào vốn của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
- Đối với doanh nghiệp công ích không có lãi hoặc doanh nghiệp sau khi xét giảm thuế lợi tức vẫn thiếu vốn thì được Nhà nước xem xét đầu tư bổ sung vốn.
1.3. Cơ quan thành lập doanh nghiệp có trách nhiệm đảm bảo vốn điều lệ tại thời điểm thành lập doanh nghiệp theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 50/CP nêu trên và bổ sung vốn cho doanh nghiệp.
1.4. Thủ tục đầu tư vốn.
a. Đối với đầu tư xây dựng: doanh nghiệp thực hiện theo quy định tại Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành.
b. Đầu tư vốn lưu động: doanh nghiệp phải lập hồ sơ cấp vốn bao gồm:
+ Bản sao quyết định thành lập doanh nghiệp.
+ Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
+ Quyết định của Thủ trưởng cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp về việc giao nhiệm vụ công ích.
+ Kế hoạch sản xuất, tài chính của doanh nghiệp tại năm đề nghị bổ sung vốn đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
+ Báo cáo tài chính của năm trước (nếu là doanh nghiệp đang hoạt động).
+ Biên bản định mức vốn lưu động do cơ quan Quản lý vốn và tài sản Nhà nước phê duyệt.
1.5. Trình tự cấp vốn cho doanh nghiệp được thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính.
2. Huy động vốn:
2.1. Khi có nhu cầu huy động vốn, gọi vốn liên đoanh, thế chấp giá trị quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp tại các Ngân hàng của Việt Nam để vay vốn phục vụ hoạt động công ích theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp phải lập phương án cụ thể gửi cơ quan Quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp tham gia ý kiến trước khi trình Thủ trưởng cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp quyết định.
2.2. Trường hợp doanh nghiệp công ích tổ chức hoạt động kinh doanh ngoài nhiệm vụ công ích được giao, doanh nghiệp được vay vốn của các tổ chức tín dụng (Ngân hàng thương mại, các công ty tài chính. ..), các doanh nghiệp khác, các cá nhân (kể cả cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp) để phục vụ hoạt động kinh doanh, nhưng phải tuân theo các quy định của pháp luật, không được làm thay đổi hình thức sở hữu.
Riêng đối với các doanh nghiệp sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài trang bị chuyên dùng trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh việc huy động vốn cho hoạt động kinh doanh phải được Bộ Quốc phòng, Nội vụ quyết định sau khi có ý kiến tham gia của cơ quan Quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp.
2.3. Lãi suất huy động vốn hạch toán trong chi phí sản xuất, dịch vụ của doanh nghiệp không được cao hơn lãi suất trần cho vay do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố trong thời điểm huy động vốn và cùng ngành nghề.
2.4. Khi huy động vốn doanh nghiệp phải tính toán cân nhắc kỹ về hiệu quả kinh tế, đảm bảo sử dụng vốn huy động đúng mục đích, có hiệu quả, không được dùng vốn vay ngắn hạn vào đầu tư xây dựng. Doanh nghiệp phải trả nợ gốc và lãi theo đúng cam kết khi huy động vốn.
Giám đốc doanh nghiệp công ích phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc lập phương án huy động vốn, sử dụng vốn không đúng mục đích, không có hiệu quả dẫn đến tổn thất về vốn.
3. Đầu tư ra ngoài doanh nghiệp:
3.1. Khi có nhu cầu sử dụng vốn, tài sản, giá trị quyền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất để đầu tư ra ngoài doanh nghiệp, doanh nghiệp công ích phải lập phương án góp vốn hoặc giải trình về dự án liên doanh gửi cơ quan quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp tham gia ý kiến trước khi trình Thủ trưởng cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp chuẩn y.
3.2. Đầu tư ra ngoài doanh nghiệp không được làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ công ích được Nhà nước giao, phải tuân thủ các quy định của pháp luật, đảm bảo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, tăng thu nhập. Khi đem giá trị quyền sử dụng đất để đầu tư ra ngoài doanh nghiệp phải thực hiện theo các quy định của Luật đất đai.
3.3. Doanh nghiệp công ích không được sử dụng vốn Nhà nước đầu tư để kinh doanh tiền tệ như mua trái phiếu, tín phiếu, gửi tiết kiệm...
3.4. Doanh nghiệp công ích không được phép đầu tư vào các doanh nghiệp không thuộc sơ hữu Nhà nước mà người quản lý, điều hành hoặc người sở hữu chính là vợ, chồng, bố, mẹ, con của giám đốc doanh nghiệp công ích đó.
4. Chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản:
4.1. Việc chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp công ích phải được Thủ trưởng cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp quyết định sau khi có ý kiến thoả thuận bằng văn bản của cơ quan Quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp.
4.2. Khi nhượng bán tài sản không cần dùng, lạc hậu kỹ thuật để thu hồi vốn, doanh nghiệp phải định giá và tổ chức đấu giá theo quy định của pháp luật. Khoản chênh lệch giữa số tiền thu được do nhượng bán tài sản với giá trị còn lại trên sổ kế toán và chi phí nhượng bán được hách toán vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
4.3. Đối với tài sản cho thuê hoạt động nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng và tăng thu nhập doanh nghiệp vẫn phải trích khấu hao theo chế độ quy định, phải theo dõi và thu hồi tài sản khi hết hạn cho thuê.
Những tài sản đem cầm cố, thế chấp, vay vốn tại các tổ chức tín dụng phải thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp công ích không được cầm cố, thế chấp, cho thuê các tài sản đi mượn, đi thuê, nhận giữ hộ, nhận cầm cố, nhận thế chấp... của doanh nghiệp khác nếu không được sự đồng ý của chủ sở hữu những tài sản đó.
5. Thanh lý tài sản:
5.1. Những máy móc thiết bị, tài sản chủ yếu có tính chất quyết định hoạt động của doanh nghiệp công ích (trừ tài sản là cây trồng, con gia súc) khi thanh lý phải được cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp và cơ quan Quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp cho phép bằng văn bản.
Riêng tài sản của các doanh nghiệp sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài trang thiết bị chuyên dùng cho quốc phòng an ninh khi thanh lý phải được Bộ Quốc phòng, Nội vụ cho phép bằng văn bản, trường hợp đặc biệt phải do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Việc thanh lý đối với những tài sản khác được thực hiện như đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh.
5.2. Doanh nghiệp phải thành lập Hội đồng thanh lý tài sản, trường hợp sử dụng phụ tùng, phế liệu thu hồi từ tài sản thanh lý cho sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải tổ chức định giá, nếu bán tài sản thanh lý phải tổ chức đấu giá theo quy định của pháp luật. Khoản chênh lệch giữa số tiền thu được do thanh lý tài sản với giá trị còn lại trên sổ kế toán của tài sản thanh lý và chi phí thanh lý được hạch toán vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
6. Việc giao vốn, trách nhiệm bảo toàn vốn, đánh giá lại tài sản, phương án xử lý các trường hợp tổn thất tài sản, quản lý các khoản công nợ thực hiện như quy định đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh.
7. Doanh nghiệp công ích có trách nhiệm mở sổ kế toán theo dõi chính xác toàn bộ tài sản và vốn hiện có của doanh nghiệp theo đúng chế độ hạch toán kế toán; phản ánh trung thực, kịp thời tình hình biến động của tài sản và vốn trong quá trình hoạt động.
III. KẾT QUẢ TÀI CHÍNH VÀ XỬ LÝ KẾT QUẢ CỦA DOANH NGHIỆP CÔNG ÍCH
A. KẾT QUẢ TÀI CHÍNH
1. Doanh thu của doanh nghiệp công ích bao gồm doanh thu từ hoạt động công ích, doanh thu từ hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác.
1.1. Doanh thu từ hoạt động công ích bao gồm: khoản thu do Nhà nước thanh toán sản phẩm dịch vụ công ích theo chỉ tiêu kế hoạch hoặc đặt hàng, tiền bán sản phẩm, cung ứng dịch vụ theo giá, khung giá hoặc thu phí do Nhà nước quy định; thu từ phần trợ cấp, trợ giá của Nhà nước khi thực hiện cung cấp hàng hoá và dịch vụ theo yêu cầu của Nhà nước.
a. Trường hợp doanh nghiệp công ích được Nhà nước thanh toán sản phẩm, dịch vụ công ích theo chỉ tiêu kế hoạch hoặc đặt hàng của Nhà nước thì căn cứ để thanh toán là:
- Nhiệm vụ công ích do Thủ trưởng cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp giao kế hoạch hoặc đặt hàng cho doanh nghiệp công ích trong năm kế hoạch.
- Đơn giá thanh toán do cơ quan có thẩm quyền quyết định theo phân cấp của Chính phủ.
- Biên bản nghiệm thu số lượng, chất lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành bàn giao giữa cơ quan giao kế hoạch hoặc đặt hàng và doanh nghiệp công ích.
Cơ quan tài chính thẩm định và làm thủ tục thanh toán cho doanh nghiệp công ích sau khi trừ tiền phạt do doanh nghiệp vi phạm các điều khoản quy định trong đơn đặt hàng.
b. Căn cứ để được Nhà nước xem xét trợ cấp, trợ giá là:
- Mặt hàng, dịch vụ thuộc danh mục trợ cấp, trợ giá do Chính phủ quy định.
- Nhiệm vụ công ích được Thủ trưởng cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp giao trong năm kế hoạch.
- Số lượng, chất lượng sản phẩm, dịch vụ thực hiện trong phạm vi kế hoạch được giao.
- Đơn giá trợ cấp, trợ giá cho từng sản phẩm, dịch vụ do cơ quan có thẩm quyền quyết định theo phân cấp của Chính phủ.
Phương thức cấp phát các khoản trợ cấp, trợ giá thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính.
1.2. Doanh thu hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác áp dụng như quy định đối với doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh.
2. Chi phí của doanh nghiệp công ích bao gồm chi phí hoạt động công ích, hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác:
2.1. Nội dung chi phí hoạt động công ích của từng ngành sản xuất do Bộ quản lý ngành hoặc Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố quy định trên cơ sở đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành sau khi có sự thoả thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính.
2.2. Nội dung chi phí của hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác thực hiện như quy định đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh.
3. Doanh nghiệp công ích được sử dụng doanh thu để bù đắp các khoản chi phí, trong đó:
- Doanh thu hoạt động công ích dùng để bù đắp chi phí hoạt động công ích, thuế và các khoản thu khác của Nhà nước theo quy định của pháp luật (trừ thuế lợi tức).
- Doanh thu hoạt động kinh doanh dùng để bù đắp giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ, thuế và các khoản thu khác của Nhà nước theo quy định của pháp luật (trừ thuế lợi tức).
- Doanh thu hoạt động khác dùng để bù đắp chi phí, thuế và các khoản thu khác của Nhà nước theo quy định của pháp luật (trừ thuế lợi tức).
Doanh nghiệp công ích tổ chức hoạt động kinh doanh về nguyên tắc phải đảm bảo có lãi, không được lấy lãi của hoạt động công ích bù lỗ hoạt động kinh doanh.
B. XỬ LÝ KẾT QUẢ TÀI CHÍNH
1. Đối với doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công cộng theo giá Nhà nước quy định nhưng thu nhập không phụ thuộc nhiều vào chi phí phát sinh (sau khi thoả thuận với cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp, Bộ Tài chính sẽ quyết định danh sách các doanh nghiệp công ích thuộc loại hình này), khoản chênh lệch giữa thu và chi được xử lý như sau:
a. Trích lập các quỹ theo tỷ lệ và mức khống chế sau:
+ Quỹ đầu tư phát triển: trích 25% số chênh lệch
+ Quỹ dự phòng tài chính: trích 5% số chênh lệch, số dư của quỹ này tối đa không vượt quá 25% vốn điều lệ.
+ Trích hai quỹ khen thưởng, phúc lợi bằng 3 tháng lương thực tế nếu số nộp Ngân sách năm báo cáo hơn năm trước, bằng 2 tháng lương thực tế nếu số nộp Ngân sách năm báo cáo bằng hoặc thấp hơn năm trước.
b. Phần chênh lệch còn lại nộp Ngân sách Nhà nước.
Nếu có lợi nhuận hoạt động kinh doanh và lợi nhuận các hoạt động khác thì được phân phối như doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh nhưng tổng mức trích mỗi quỹ từ các nguồn không vượt quá mức khống chế tối đa của doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh.
2. Đối với doanh nghiệp được Nhà nước mua toàn bộ sản phẩm, dịch vụ công ích (bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài, trang bị chuyên dùng cho quốc phòng, an ninh), doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công cộng theo giá Nhà nước quy định, lợi nhuận thực hiện trong năm (bao gồm cả lợi nhuận kinh doanh và các hoạt động khác) được phân phối theo thứ tự như sau:
a. Nộp thuế lợi tức theo luật định.
b. Trừ các khoản tiền phạt vi phạm kỷ luật thu nộp Ngân sách, vi phạm hành chính, vi phạm hợp đồng, phạt nợ quá hạn, các khoản chi phí hợp lệ chưa được trừ khi xác định lợi tức chịu thuế.
c. Trừ các khoản lỗ chưa được trừ vào lợi nhuận trước thuế.
d. Phần lợi nhuận còn lại sau khi trừ các khoản a, b, c, doanh nghiệp được trích lập các quỹ theo tỷ lệ và mức khống chế như sau:
+ Quỹ đầu tư phát triển: mức trích tối thiểu 50%
+ Quỹ dự phòng tài chính: trích 10%, số dư của quỹ này tối đa không vượt quá 25% vốn điều lệ.
+ Trích hai quỹ khen thưởng, phúc lợi tối đa không quá 3 tháng lương thực tế nếu số nộp Ngân sách năm báo cáo cao hơn năm trước, bằng 2 tháng lương thực tế nếu số nộp Ngân sách năm báo cáo bằng hoặc thấp hơn năm trước.
Sau khi trừ các khoản a, b, c, d, quỹ đầu tư phát triển và quỹ dự phòng tài chính nếu lợi nhuận trích vào hai quỹ khen thưởng, phúc lợi còn dư thì phần chênh lệch còn lại được chuyển toán bộ vào quỹ đầu tư phát triển, nếu không đủ nguồn để trích lập hai quỹ khen thưởng, phúc lợi bằng 2 tháng lương thực tế thì doanh nghiệp công ích được Nhà nước cấp đủ phần còn thiếu.
3. Đối với doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công cộng theo giá Nhà nước quy định nhưng không đủ bù đắp các khoản chi phí hợp lý (bao gồm cả chi phí phát sinh do làm nhiệm vụ phòng chống thiên tai, quốc phòng, an ninh), sau khi sử dụng 50% từ lợi nhuận hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác để bù đắp, nếu vẫn còn lỗ được Nhà nước hỗ trợ như sau:
- Trợ cấp đủ số lỗ còn lại.
- Cấp 2 quỹ khen thưởng, phúc lợi bằng 2 tháng lương thực tế của doanh nghiệp.
Phần lợi nhuận còn lại từ hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác dùng để: trích quỹ đầu tư phát triển 80%, quỹ dự phòng tài chính 20%.
4. Thủ tục, thời điểm trích lập, mục đích sử dụng các quỹ của doanh nghiệp thực hiện như đối với doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh.
Trong phạm vi tổng mức trích vào hai quỹ khen thưởng, phúc lợi, giám đốc doanh nghiệp được quyền quyết định tỷ lệ trích vào mỗi quỹ sau khi tham khảo ý kiến của Công đoàn doanh nghiệp.
Doanh nghiệp công ích không thành lập quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm. Trường hợp đặc biệt cần phải thu hẹp quy mô hoạt động công ích thì cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp và cơ quan tài chính cùng cấp xem xét trợ cấp cho số lao động mất việc làm theo chế độ quy định.
5. Đối với các doanh nghiệp công ích ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo hoặc địa bàn chiến lược đặc biệt khó khăn được Nhà nước xem xét hỗ trợ các khoản kinh phí sau đây:
- Kinh phí nhà trẻ, giáo dục tại địa bàn chưa có trường lớp theo hệ thống giáo dục.
- Kinh phí sự nghiệp y tế đối với những nơi do điều kiện đặc biệt phải duy trì bệnh viện hoặc bệnh xá.
IV. KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH
1. Hàng năm căn cứ vào quy định và hướng dẫn của cơ quan tài chính, doanh nghiệp công ích phải lập kế hoạch sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng theo chính sách hoặc đơn đặt hàng của Nhà nước, dự toán thu chi ngân sách (bao gồm kế hoạch trợ cấp, trợ giá) báo cáo cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp và cơ quan tài chính cùng cấp. Cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp có nhiệm vụ phê duyệt, tổng hợp báo cáo cấp có thẩm quyền và cơ quan tài chính có liên quan.
2. Trong phạm vi dự toán thu chi ngân sách hàng năm được duyệt, Thủ trưởng cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp giao kế hoạch sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng hoặc đặt hàng, phân bổ dự toán ngân sách cho doanh nghiệp công ích và gửi cho cơ quan tài chính cùng cấp để phối hợp. Ngân sách chỉ đảm bảo hỗ trợ trong phạm vi dự toán Ngân sách được duyệt.
V. KIỂM TRA KẾ TOÁN, BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ CÔNG KHAI TÀI CHÍNH
1. Lập báo cáo tài chính:
- Hàng quý, năm doanh nghiệp công ích có trách nhiệm lập báo cáo tài chính theo quy định hiện hành. Giám đốc doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước và pháp luật về tính chính xác, tính trung thực của báo cáo tài chính.
- Báo cáo tài chính quý, năm gửi cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp, cơ quan thuế, cơ quan Quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp, cơ quan thống kê.
2. Kiểm tra kế toán, báo cáo tài chính:
- Hàng quý, năm doanh nghiệp công ích phải tự kiểm tra kế toán, báo cáo tài chính.
- Cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp cùng cơ quan quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra phê duyệt báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp công ích.
- Cơ quan tài chính có nhiệm vụ kiểm tra việc chấp hành các chế độ tài chính, kế toán, kỷ luật thu nộp Ngân sách và tính chính xác, trung thực của báo cáo tài chính.
- Những vi phạm chế độ kế toán, chế độ thu chi tài chính, thu nộp Ngân sách, chế độ trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp sẽ bị xử phạt hành chính, xử phạt kinh tế theo quy định của pháp luật.
3. Công khai báo cáo tài chính hàng năm:
- Căn cứ vào báo cáo tài chính hàng năm đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, doanh nghiệp công ích công bố công khai một số chỉ tiêu tài chính trước hội nghị công nhân viên chức của doanh nghiệp.
- Nội dung các chỉ tiêu công bố công khai theo mẫu đính kèm Thông tư này.
nhayKhoản 1 Mục V Thông tư số 65/1999/TT-BTC thay thế điểm 3, Mục IV về "Công khai báo cáo tài chính hàng năm" tại Thông tư số 06 TC/TCDN ngày 24/02/1997. Tuy nhiên nội dung bị thay thế này được quy định tại điểm 3, Mục V Thông tư số 06 TC/TCDNnhay
VI. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
1. Ngoài những quy định riêng cho doanh nghiệp công ích tại Thông tư này, doanh nghiệp công ích còn thực hiện các quy định khác của pháp luật đối với doanh nghiệp Nhà nước.
2. Đối với một số hoạt động công ích có đặc thù riêng thì cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp căn cứ vào chế độ quản lý tài chính tại Thông tư này để nghiên cứu, quy định cho phù hợp sau khi có sự thoả thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính.
3. Thông tư này áp dụng từ ngày ký. Mọi quy định trước đây về quản lý tài chính đối với doanh nghiệp trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng theo chính sách của Nhà nước trái với Thông tư này đều bãi bỏ.
4. Trong quá trình thực hiện, có gì vướng mắc đề nghị các doanh nghiệp phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày... tháng... năm...

BẢN CÔNG BỐ CÔNG KHAI BÁO CÁO TÀI CHÍNH NĂM...

Chỉ tiêu

Năm trước

Năm nay

Tỷ lệ so với năm trước

1. Tổng số vốn.

2. Kết quả hoạt động:

- Sản phẩm, dịch vụ chủ yếu

- Sản phẩm tiêu thụ, dịch vụ cung ứng trong năm

- Tổng doanh thu:

Trong đó: Doanh thu hoạt động công ích

- Tổng chi phí:

Trong đó: chi phí hoạt động công ích

- Lợi nhuận thực hiện từ hoạt động công ích

- Lợi nhuận thực hiện từ hoạt động kinh doanh và hoạt động khác

3. Các khoản nộp Ngân sách Nhà nước.

- Tổng số phải nộp

- Đã nộp Ngân sách trong năm

4. Các khoản được Nhà nước cấp.

- Trợ giá

- Trợ cấp

- Cấp quỹ khen thưởng, phúc lợi.

5. Tổng quỹ lương thực hiện

- Lương bình quân

6. Các quỹ của doanh nghiệp.

a. Quỹ đầu tư phát triển

- Dư đầu năm

- Trích trong năm

- Sử dụng trong năm

- Dư cuối năm

b. Quỹ dự phòng tài chính

- Dư đầu năm

- Trích trong năm

- Sử dụng trong năm

- Dư cuối năm

c. Quỹ khen thưởng, phúc lợi

- Dư đầu năm

- Trích, được cấp trong năm

- Sử dụng trong năm

- Dư cuối năm

 

 

 

Doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của báo cáo này

Giám đốc
Ký tên đóng dấu

 

Thuộc tính văn bản
Thông tư 06-TC/TCDN của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích
Cơ quan ban hành: Bộ Tài chính Số công báo: Đã biết
Số hiệu: 06-TC/TCDN Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Thông tư Người ký: Phạm Văn Trọng
Ngày ban hành: 24/02/1997 Ngày hết hiệu lực: Đang cập nhật
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực: Doanh nghiệp
Tóm tắt văn bản
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng:Đã biết

THÔNG TƯ

CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 06 TC/TCDN NGÀY 24 THÁNG 2 NĂM 1997
VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC HOẠT ĐỘNG CÔNG ÍCH

 

Căn cứ Nghị định số 56/CP ngày 02 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ về doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích, Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích như sau:

 

I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

1. Đối tượng áp dụng Thông tư này là các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích đã được cấp có thẩm quyền quyết định bao gồm các doanh nghiệp độc lập, các doanh nghiệp hạch toán độc lập là thành viên của Tổng công ty (gọi tắt là doanh nghiệp công ích). Danh sách doanh nghiệp công ích do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định theo các tiêu thức được quy định tại Điều 1 và Điều 2 Nghị định số 56/CP ngày 02 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ.

2. Doanh nghiệp công ích có trách nhiệm sử dụng vốn và các nguồn lực do Nhà nước giao để thực hiện việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ công ích cho các đối tượng theo giá, khung giá hoặc phí do Nhà nước quy định.

3. Ngoài nhiệm vụ công ích được giao, doanh nghiệp công ích có quyền tận dụng đất đai, cảnh quan, vốn và tài sản Nhà nước sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ công ích và huy động vốn để tổ chức hoạt động kinh doanh phù hợp với khả năng của doanh nghiệp và nhu cầu của thị trường với điều kiện:

- Được cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp đồng ý bằng văn bản.

- Không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ công ích Nhà nước đã giao hoặc đặt hàng.

- Đăng ký bổ sung ngành nghề kinh doanh theo quy định hiện hành.

- Hạch toán riêng phần hoạt động kinh doanh thêm.

- Thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với phần hoạt động kinh doanh thêm theo quy định của pháp luật.

 

II. QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN, TÀI SẢN TẠI
DOANH NGHIỆP CÔNG ÍCH

 

1. Đầu tư vốn:

1.1. Doanh nghiệp công ích mới thành lập được Nhà nước ưu tiên đầu tư đủ vốn điều lệ ban đầu, không thấp hơn vốn pháp định cho mỗi ngành nghề đã quy định tại Nghị định số 50/CP ngày 28/08/1996 của Chính phủ để xây dựng, mua sắm tài sản cố định và tài sản lưu động phù hợp với quy mô và nhiệm vụ công ích được giao.

1.2. Doanh nghiệp công ích đang hoạt động nếu thực sự thiếu vốn so với nhiệm vụ công ích được Nhà nước giao (sau khi huy động các nguồn vốn hiện có tại doanh nghiệp) được Nhà nước đầu tư bổ sung vốn như sau:

- Đối với doanh nghiệp công ích có lãi được xét giảm thuế lợi tức để bổ sung vào vốn của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.

- Đối với doanh nghiệp công ích không có lãi hoặc doanh nghiệp sau khi xét giảm thuế lợi tức vẫn thiếu vốn thì được Nhà nước xem xét đầu tư bổ sung vốn.

1.3. Cơ quan thành lập doanh nghiệp có trách nhiệm đảm bảo vốn điều lệ tại thời điểm thành lập doanh nghiệp theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 50/CP nêu trên và bổ sung vốn cho doanh nghiệp.

1.4. Thủ tục đầu tư vốn.

a. Đối với đầu tư xây dựng: doanh nghiệp thực hiện theo quy định tại Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành.

b. Đầu tư vốn lưu động: doanh nghiệp phải lập hồ sơ cấp vốn bao gồm:

+ Bản sao quyết định thành lập doanh nghiệp.

+ Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

+ Quyết định của Thủ trưởng cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp về việc giao nhiệm vụ công ích.

+ Kế hoạch sản xuất, tài chính của doanh nghiệp tại năm đề nghị bổ sung vốn đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

+ Báo cáo tài chính của năm trước (nếu là doanh nghiệp đang hoạt động).

+ Biên bản định mức vốn lưu động do cơ quan Quản lý vốn và tài sản Nhà nước phê duyệt.

1.5. Trình tự cấp vốn cho doanh nghiệp được thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính.

2. Huy động vốn:

2.1. Khi có nhu cầu huy động vốn, gọi vốn liên đoanh, thế chấp giá trị quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp tại các Ngân hàng của Việt Nam để vay vốn phục vụ hoạt động công ích theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp phải lập phương án cụ thể gửi cơ quan Quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp tham gia ý kiến trước khi trình Thủ trưởng cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp quyết định.

2.2. Trường hợp doanh nghiệp công ích tổ chức hoạt động kinh doanh ngoài nhiệm vụ công ích được giao, doanh nghiệp được vay vốn của các tổ chức tín dụng (Ngân hàng thương mại, các công ty tài chính. ..), các doanh nghiệp khác, các cá nhân (kể cả cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp) để phục vụ hoạt động kinh doanh, nhưng phải tuân theo các quy định của pháp luật, không được làm thay đổi hình thức sở hữu.

Riêng đối với các doanh nghiệp sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài trang bị chuyên dùng trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh việc huy động vốn cho hoạt động kinh doanh phải được Bộ Quốc phòng, Nội vụ quyết định sau khi có ý kiến tham gia của cơ quan Quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp.

2.3. Lãi suất huy động vốn hạch toán trong chi phí sản xuất, dịch vụ của doanh nghiệp không được cao hơn lãi suất trần cho vay do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố trong thời điểm huy động vốn và cùng ngành nghề.

2.4. Khi huy động vốn doanh nghiệp phải tính toán cân nhắc kỹ về hiệu quả kinh tế, đảm bảo sử dụng vốn huy động đúng mục đích, có hiệu quả, không được dùng vốn vay ngắn hạn vào đầu tư xây dựng. Doanh nghiệp phải trả nợ gốc và lãi theo đúng cam kết khi huy động vốn.

Giám đốc doanh nghiệp công ích phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc lập phương án huy động vốn, sử dụng vốn không đúng mục đích, không có hiệu quả dẫn đến tổn thất về vốn.

3. Đầu tư ra ngoài doanh nghiệp:

3.1. Khi có nhu cầu sử dụng vốn, tài sản, giá trị quyền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất để đầu tư ra ngoài doanh nghiệp, doanh nghiệp công ích phải lập phương án góp vốn hoặc giải trình về dự án liên doanh gửi cơ quan quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp tham gia ý kiến trước khi trình Thủ trưởng cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp chuẩn y.

3.2. Đầu tư ra ngoài doanh nghiệp không được làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ công ích được Nhà nước giao, phải tuân thủ các quy định của pháp luật, đảm bảo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, tăng thu nhập. Khi đem giá trị quyền sử dụng đất để đầu tư ra ngoài doanh nghiệp phải thực hiện theo các quy định của Luật đất đai.

3.3. Doanh nghiệp công ích không được sử dụng vốn Nhà nước đầu tư để kinh doanh tiền tệ như mua trái phiếu, tín phiếu, gửi tiết kiệm...

3.4. Doanh nghiệp công ích không được phép đầu tư vào các doanh nghiệp không thuộc sơ hữu Nhà nước mà người quản lý, điều hành hoặc người sở hữu chính là vợ, chồng, bố, mẹ, con của giám đốc doanh nghiệp công ích đó.

4. Chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản:

4.1. Việc chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp công ích phải được Thủ trưởng cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp quyết định sau khi có ý kiến thoả thuận bằng văn bản của cơ quan Quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp.

4.2. Khi nhượng bán tài sản không cần dùng, lạc hậu kỹ thuật để thu hồi vốn, doanh nghiệp phải định giá và tổ chức đấu giá theo quy định của pháp luật. Khoản chênh lệch giữa số tiền thu được do nhượng bán tài sản với giá trị còn lại trên sổ kế toán và chi phí nhượng bán được hách toán vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

4.3. Đối với tài sản cho thuê hoạt động nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng và tăng thu nhập doanh nghiệp vẫn phải trích khấu hao theo chế độ quy định, phải theo dõi và thu hồi tài sản khi hết hạn cho thuê.

Những tài sản đem cầm cố, thế chấp, vay vốn tại các tổ chức tín dụng phải thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật.

Doanh nghiệp công ích không được cầm cố, thế chấp, cho thuê các tài sản đi mượn, đi thuê, nhận giữ hộ, nhận cầm cố, nhận thế chấp... của doanh nghiệp khác nếu không được sự đồng ý của chủ sở hữu những tài sản đó.

5. Thanh lý tài sản:

5.1. Những máy móc thiết bị, tài sản chủ yếu có tính chất quyết định hoạt động của doanh nghiệp công ích (trừ tài sản là cây trồng, con gia súc) khi thanh lý phải được cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp và cơ quan Quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp cho phép bằng văn bản.

Riêng tài sản của các doanh nghiệp sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài trang thiết bị chuyên dùng cho quốc phòng an ninh khi thanh lý phải được Bộ Quốc phòng, Nội vụ cho phép bằng văn bản, trường hợp đặc biệt phải do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Việc thanh lý đối với những tài sản khác được thực hiện như đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh.

5.2. Doanh nghiệp phải thành lập Hội đồng thanh lý tài sản, trường hợp sử dụng phụ tùng, phế liệu thu hồi từ tài sản thanh lý cho sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải tổ chức định giá, nếu bán tài sản thanh lý phải tổ chức đấu giá theo quy định của pháp luật. Khoản chênh lệch giữa số tiền thu được do thanh lý tài sản với giá trị còn lại trên sổ kế toán của tài sản thanh lý và chi phí thanh lý được hạch toán vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

6. Việc giao vốn, trách nhiệm bảo toàn vốn, đánh giá lại tài sản, phương án xử lý các trường hợp tổn thất tài sản, quản lý các khoản công nợ thực hiện như quy định đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh.

7. Doanh nghiệp công ích có trách nhiệm mở sổ kế toán theo dõi chính xác toàn bộ tài sản và vốn hiện có của doanh nghiệp theo đúng chế độ hạch toán kế toán; phản ánh trung thực, kịp thời tình hình biến động của tài sản và vốn trong quá trình hoạt động.

 

III. KẾT QUẢ TÀI CHÍNH VÀ XỬ LÝ KẾT QUẢ CỦA
DOANH NGHIỆP CÔNG ÍCH

 

A. KẾT QUẢ TÀI CHÍNH

1. Doanh thu của doanh nghiệp công ích bao gồm doanh thu từ hoạt động công ích, doanh thu từ hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác.

1.1. Doanh thu từ hoạt động công ích bao gồm: khoản thu do Nhà nước thanh toán sản phẩm dịch vụ công ích theo chỉ tiêu kế hoạch hoặc đặt hàng, tiền bán sản phẩm, cung ứng dịch vụ theo giá, khung giá hoặc thu phí do Nhà nước quy định; thu từ phần trợ cấp, trợ giá của Nhà nước khi thực hiện cung cấp hàng hoá và dịch vụ theo yêu cầu của Nhà nước.

a. Trường hợp doanh nghiệp công ích được Nhà nước thanh toán sản phẩm, dịch vụ công ích theo chỉ tiêu kế hoạch hoặc đặt hàng của Nhà nước thì căn cứ để thanh toán là:

- Nhiệm vụ công ích do Thủ trưởng cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp giao kế hoạch hoặc đặt hàng cho doanh nghiệp công ích trong năm kế hoạch.

- Đơn giá thanh toán do cơ quan có thẩm quyền quyết định theo phân cấp của Chính phủ.

- Biên bản nghiệm thu số lượng, chất lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành bàn giao giữa cơ quan giao kế hoạch hoặc đặt hàng và doanh nghiệp công ích.

Cơ quan tài chính thẩm định và làm thủ tục thanh toán cho doanh nghiệp công ích sau khi trừ tiền phạt do doanh nghiệp vi phạm các điều khoản quy định trong đơn đặt hàng.

b. Căn cứ để được Nhà nước xem xét trợ cấp, trợ giá là:

- Mặt hàng, dịch vụ thuộc danh mục trợ cấp, trợ giá do Chính phủ quy định.

- Nhiệm vụ công ích được Thủ trưởng cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp giao trong năm kế hoạch.

- Số lượng, chất lượng sản phẩm, dịch vụ thực hiện trong phạm vi kế hoạch được giao.

- Đơn giá trợ cấp, trợ giá cho từng sản phẩm, dịch vụ do cơ quan có thẩm quyền quyết định theo phân cấp của Chính phủ.

Phương thức cấp phát các khoản trợ cấp, trợ giá thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính.

1.2. Doanh thu hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác áp dụng như quy định đối với doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh.

2. Chi phí của doanh nghiệp công ích bao gồm chi phí hoạt động công ích, hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác:

2.1. Nội dung chi phí hoạt động công ích của từng ngành sản xuất do Bộ quản lý ngành hoặc Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố quy định trên cơ sở đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành sau khi có sự thoả thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính.

2.2. Nội dung chi phí của hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác thực hiện như quy định đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh.

3. Doanh nghiệp công ích được sử dụng doanh thu để bù đắp các khoản chi phí, trong đó:

- Doanh thu hoạt động công ích dùng để bù đắp chi phí hoạt động công ích, thuế và các khoản thu khác của Nhà nước theo quy định của pháp luật (trừ thuế lợi tức).

- Doanh thu hoạt động kinh doanh dùng để bù đắp giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ, thuế và các khoản thu khác của Nhà nước theo quy định của pháp luật (trừ thuế lợi tức).

- Doanh thu hoạt động khác dùng để bù đắp chi phí, thuế và các khoản thu khác của Nhà nước theo quy định của pháp luật (trừ thuế lợi tức).

Doanh nghiệp công ích tổ chức hoạt động kinh doanh về nguyên tắc phải đảm bảo có lãi, không được lấy lãi của hoạt động công ích bù lỗ hoạt động kinh doanh.

 

B. XỬ LÝ KẾT QUẢ TÀI CHÍNH

1. Đối với doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công cộng theo giá Nhà nước quy định nhưng thu nhập không phụ thuộc nhiều vào chi phí phát sinh (sau khi thoả thuận với cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp, Bộ Tài chính sẽ quyết định danh sách các doanh nghiệp công ích thuộc loại hình này), khoản chênh lệch giữa thu và chi được xử lý như sau:

a. Trích lập các quỹ theo tỷ lệ và mức khống chế sau:

+ Quỹ đầu tư phát triển: trích 25% số chênh lệch

+ Quỹ dự phòng tài chính: trích 5% số chênh lệch, số dư của quỹ này tối đa không vượt quá 25% vốn điều lệ.

+ Trích hai quỹ khen thưởng, phúc lợi bằng 3 tháng lương thực tế nếu số nộp Ngân sách năm báo cáo hơn năm trước, bằng 2 tháng lương thực tế nếu số nộp Ngân sách năm báo cáo bằng hoặc thấp hơn năm trước.

b. Phần chênh lệch còn lại nộp Ngân sách Nhà nước.

Nếu có lợi nhuận hoạt động kinh doanh và lợi nhuận các hoạt động khác thì được phân phối như doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh nhưng tổng mức trích mỗi quỹ từ các nguồn không vượt quá mức khống chế tối đa của doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh.

2. Đối với doanh nghiệp được Nhà nước mua toàn bộ sản phẩm, dịch vụ công ích (bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài, trang bị chuyên dùng cho quốc phòng, an ninh), doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công cộng theo giá Nhà nước quy định, lợi nhuận thực hiện trong năm (bao gồm cả lợi nhuận kinh doanh và các hoạt động khác) được phân phối theo thứ tự như sau:

a. Nộp thuế lợi tức theo luật định.

b. Trừ các khoản tiền phạt vi phạm kỷ luật thu nộp Ngân sách, vi phạm hành chính, vi phạm hợp đồng, phạt nợ quá hạn, các khoản chi phí hợp lệ chưa được trừ khi xác định lợi tức chịu thuế.

c. Trừ các khoản lỗ chưa được trừ vào lợi nhuận trước thuế.

d. Phần lợi nhuận còn lại sau khi trừ các khoản a, b, c, doanh nghiệp được trích lập các quỹ theo tỷ lệ và mức khống chế như sau:

+ Quỹ đầu tư phát triển: mức trích tối thiểu 50%

+ Quỹ dự phòng tài chính: trích 10%, số dư của quỹ này tối đa không vượt quá 25% vốn điều lệ.

+ Trích hai quỹ khen thưởng, phúc lợi tối đa không quá 3 tháng lương thực tế nếu số nộp Ngân sách năm báo cáo cao hơn năm trước, bằng 2 tháng lương thực tế nếu số nộp Ngân sách năm báo cáo bằng hoặc thấp hơn năm trước.

Sau khi trừ các khoản a, b, c, d, quỹ đầu tư phát triển và quỹ dự phòng tài chính nếu lợi nhuận trích vào hai quỹ khen thưởng, phúc lợi còn dư thì phần chênh lệch còn lại được chuyển toán bộ vào quỹ đầu tư phát triển, nếu không đủ nguồn để trích lập hai quỹ khen thưởng, phúc lợi bằng 2 tháng lương thực tế thì doanh nghiệp công ích được Nhà nước cấp đủ phần còn thiếu.

3. Đối với doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công cộng theo giá Nhà nước quy định nhưng không đủ bù đắp các khoản chi phí hợp lý (bao gồm cả chi phí phát sinh do làm nhiệm vụ phòng chống thiên tai, quốc phòng, an ninh), sau khi sử dụng 50% từ lợi nhuận hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác để bù đắp, nếu vẫn còn lỗ được Nhà nước hỗ trợ như sau:

- Trợ cấp đủ số lỗ còn lại.

- Cấp 2 quỹ khen thưởng, phúc lợi bằng 2 tháng lương thực tế của doanh nghiệp.

Phần lợi nhuận còn lại từ hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác dùng để: trích quỹ đầu tư phát triển 80%, quỹ dự phòng tài chính 20%.

4. Thủ tục, thời điểm trích lập, mục đích sử dụng các quỹ của doanh nghiệp thực hiện như đối với doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh.

Trong phạm vi tổng mức trích vào hai quỹ khen thưởng, phúc lợi, giám đốc doanh nghiệp được quyền quyết định tỷ lệ trích vào mỗi quỹ sau khi tham khảo ý kiến của Công đoàn doanh nghiệp.

Doanh nghiệp công ích không thành lập quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm. Trường hợp đặc biệt cần phải thu hẹp quy mô hoạt động công ích thì cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp và cơ quan tài chính cùng cấp xem xét trợ cấp cho số lao động mất việc làm theo chế độ quy định.

5. Đối với các doanh nghiệp công ích ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo hoặc địa bàn chiến lược đặc biệt khó khăn được Nhà nước xem xét hỗ trợ các khoản kinh phí sau đây:

- Kinh phí nhà trẻ, giáo dục tại địa bàn chưa có trường lớp theo hệ thống giáo dục.

- Kinh phí sự nghiệp y tế đối với những nơi do điều kiện đặc biệt phải duy trì bệnh viện hoặc bệnh xá.

 

IV. KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH

 

1. Hàng năm căn cứ vào quy định và hướng dẫn của cơ quan tài chính, doanh nghiệp công ích phải lập kế hoạch sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng theo chính sách hoặc đơn đặt hàng của Nhà nước, dự toán thu chi ngân sách (bao gồm kế hoạch trợ cấp, trợ giá) báo cáo cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp và cơ quan tài chính cùng cấp. Cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp có nhiệm vụ phê duyệt, tổng hợp báo cáo cấp có thẩm quyền và cơ quan tài chính có liên quan.

2. Trong phạm vi dự toán thu chi ngân sách hàng năm được duyệt, Thủ trưởng cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp giao kế hoạch sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng hoặc đặt hàng, phân bổ dự toán ngân sách cho doanh nghiệp công ích và gửi cho cơ quan tài chính cùng cấp để phối hợp. Ngân sách chỉ đảm bảo hỗ trợ trong phạm vi dự toán Ngân sách được duyệt.

 

V. KIỂM TRA KẾ TOÁN, BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ
CÔNG KHAI TÀI CHÍNH

 

1. Lập báo cáo tài chính:

- Hàng quý, năm doanh nghiệp công ích có trách nhiệm lập báo cáo tài chính theo quy định hiện hành. Giám đốc doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước và pháp luật về tính chính xác, tính trung thực của báo cáo tài chính.

- Báo cáo tài chính quý, năm gửi cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp, cơ quan thuế, cơ quan Quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp, cơ quan thống kê.

2. Kiểm tra kế toán, báo cáo tài chính:

- Hàng quý, năm doanh nghiệp công ích phải tự kiểm tra kế toán, báo cáo tài chính.

- Cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp cùng cơ quan quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra phê duyệt báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp công ích.

- Cơ quan tài chính có nhiệm vụ kiểm tra việc chấp hành các chế độ tài chính, kế toán, kỷ luật thu nộp Ngân sách và tính chính xác, trung thực của báo cáo tài chính.

- Những vi phạm chế độ kế toán, chế độ thu chi tài chính, thu nộp Ngân sách, chế độ trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp sẽ bị xử phạt hành chính, xử phạt kinh tế theo quy định của pháp luật.

3. Công khai báo cáo tài chính hàng năm:

- Căn cứ vào báo cáo tài chính hàng năm đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, doanh nghiệp công ích công bố công khai một số chỉ tiêu tài chính trước hội nghị công nhân viên chức của doanh nghiệp.

- Nội dung các chỉ tiêu công bố công khai theo mẫu đính kèm Thông tư này.

 

VI. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

 

1. Ngoài những quy định riêng cho doanh nghiệp công ích tại Thông tư này, doanh nghiệp công ích còn thực hiện các quy định khác của pháp luật đối với doanh nghiệp Nhà nước.

2. Đối với một số hoạt động công ích có đặc thù riêng thì cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp căn cứ vào chế độ quản lý tài chính tại Thông tư này để nghiên cứu, quy định cho phù hợp sau khi có sự thoả thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính.

3. Thông tư này áp dụng từ ngày ký. Mọi quy định trước đây về quản lý tài chính đối với doanh nghiệp trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng theo chính sách của Nhà nước trái với Thông tư này đều bãi bỏ.

4. Trong quá trình thực hiện, có gì vướng mắc đề nghị các doanh nghiệp phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CỘNG HOÀ Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Ngày... tháng... năm...

 

BẢN CÔNG BỐ CÔNG KHAI BÁO CÁO TÀI CHÍNH NĂM...

 

Chỉ tiêu

Năm trước

Năm nay

Tỷ lệ so với năm trước

1. Tổng số vốn.

2. Kết quả hoạt động:

- Sản phẩm, dịch vụ chủ yếu

- Sản phẩm tiêu thụ, dịch vụ cung ứng trong năm

- Tổng doanh thu:

Trong đó: Doanh thu hoạt động công ích

- Tổng chi phí:

Trong đó: chi phí hoạt động công ích

- Lợi nhuận thực hiện từ hoạt động công ích

- Lợi nhuận thực hiện từ hoạt động kinh doanh và hoạt động khác

3. Các khoản nộp Ngân sách Nhà nước.

- Tổng số phải nộp

- Đã nộp Ngân sách trong năm

4. Các khoản được Nhà nước cấp.

- Trợ giá

- Trợ cấp

- Cấp quỹ khen thưởng, phúc lợi.

5. Tổng quỹ lương thực hiện

- Lương bình quân

6. Các quỹ của doanh nghiệp.

a. Quỹ đầu tư phát triển

- Dư đầu năm

- Trích trong năm

- Sử dụng trong năm

- Dư cuối năm

b. Quỹ dự phòng tài chính

- Dư đầu năm

- Trích trong năm

- Sử dụng trong năm

- Dư cuối năm

c. Quỹ khen thưởng, phúc lợi

- Dư đầu năm

- Trích, được cấp trong năm

- Sử dụng trong năm

- Dư cuối năm

 

 

 

 

Doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của báo cáo này

 

Giám đốc

Ký tên đóng dấu

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE MINISTRY OF FINANCE
---------
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom Happiness
--------------
No. 6-TC/TCDN
Hanoi, February 24, 1997

 
CIRCULAR
GUIDING THE REGIME OF FINANCIAL MANAGEMENT AT PUBLIC UTILITY STATE ENTERPRISES
In furtherance of Decree No.56-CP of October 2, 1996 of the Government concerning the State enterprises engaged in public utility activities, the Ministry of Finance gives the following guidance on the financial management at these enterprises:
I. GENERAL PROVISIONS
1. The scope of regulation of this Circular covers the public utility State enterprises already ratified by the competent authorities. They include independent enterprises, independent accounting enterprises members of a Corporation (public utility enterprises for short). The list of public utility enterprises shall be decided by the Ministers, the Heads of ministerial-level agencies, the Heads of the agencies attached to the Government, the Presidents of the People�s Committees of the provinces and cities directly under the Central Government according to the criteria stipulated in Article 1 and Article 2 of Decree No.56-CP of October 2, 1996 of the Government.
2. The public utility enterprises shall have to use the capital and other sources assigned by the State to supply public utility products and services to given objects at prices, price frames or charges prescribed by the State.
3. After fulfilling the assigned public utility task, a public utility enterprise is entitled to make full use of the land, landscapes and State capital and property and raise capital to organize production and business in a way suited to its capability and the demand of the market on the following conditions:
- It must get the written consent of the agency deciding its establishment.
- Such activities shall not affect the implementation of the public utility task which the State has assigned to it or for which the State has placed orders with it.
- It has to register auxiliary occupations and trades under current regulations.
- It has to account the extra businesses separately.
- It has to fulfill its obligation of tax payment for the extra businesses as prescribed by law.
II. MANAGING AND USING CAPITAL AND PROPERTY AT PUBLIC UTILITY ENTERPRISES
1.Capital investment:
1.1. A newly established public utility enterprise shall receive priority investment in the necessary start-up registered capital from the State which shall not be lower than the legal capital prescribed for each occupation and trade in Decree No.50-CP of August 28, 1996 of the Government in order to build fixed assets and purchase mobile assets correspondingly with the scale and task of public utility assigned to it.
1.2. If an operating public utility enterprise really runs short of capital compared to the public utility task assigned by the State (after mobilizing all the existing sources at the enterprise) shall be given additional investment by the State according to the following modalities:
- If the enterprise is making profit, it shall be eligible for consideration for reduction of profit tax to supplement its capital according to provisions of law.
- If the enterprise has no profit or after enjoying profit tax reduction still runs short of capital, the State shall consider additional capital investment.
1.3. The agency which establishes the enterprise shall have to ensure the registered capital at the time of the establishment as stipulated in Article 2 of Decree No.50-CP mentioned above and to make additional investment to the enterprise.
1.4. Procedures of capital investment:
a/ With regard to construction investment: the enterprise shall comply with the stipulations in the Regulations on the management of investment and construction currently in force.
b/ Investment in floating capital: the enterprise shall have to make a dossier to apply for capital allocation including:
+ A copy of the decision to establish the enterprise.
+ A copy of the certificate of business registration
+ The decision of the head of the agency that has decided to establish the enterprise on the assignment of the public utility task.
+ The production and financial plan of the enterprise already ratified by the competent authority for the year when the proposal of capital supplement is made.
+ The financial report of the previous year (if it is an operating enterprise).
+ The record of the assignment of mobile capital ratified by the agency for management of State capital and property.
1.5. The order of capital allocation for the enterprise shall proceed as stipulated by the Ministry of Finance.
2. Capital mobilization:
2.1. When the need arises to raise capital, to call for joint venture capital or to mortgage the value of land use right associated with the property under the management of the enterprise at Vietnamese banks in order to borrow capital in service of the public utility activities as prescribed by law, the enterprise shall have to draw up a concrete plan and send it to the agency for the management of State capital and property located in the enterprise so that it may give its comments before submitting the plan to the head of the agency which has decided the establishment of the enterprise for decision.
2.2. In case the public utility enterprise engaged in business activities outside the assigned public utility task, it can borrow capital from credit organizations (commercial banks, financial companies...), other enterprises, individuals (including the personnel in the enterprise) to cater for its business activities, but it must comply with the regulations of law and must not change the form of ownership.
In particular, with regard to the enterprises producing or repairing weapons, specialized military gear and equipment directly in service of national defense and security, the raising of capital for business activities must be decided by the Ministry of Defense and the Ministry of the Interior after consultation with the agency for the management of State capital and property at the enterprise.
2.3. The interest rate of the mobilized capital accounted for in the production and service cost of the enterprise must not be higher than the ceiling interest rate of loans announced by the Vietnam State bank at the time of the capital mobilization for the enterprises of the same branch or business line.
2.4. When it mobilizes capital, the enterprise must make careful calculations about the economic efficiency, ensure that the capital raised shall be used for the right purpose and efficiently. It must not use short term loans to invest in construction. The enterprise has to pay the debt including capital and interest according to the commitments made when it raises capital.
The Director of a public utility enterprise is answerable to the State for the drawing up of the capital raising plan and if the capital is not used according to the purported objective or is not used efficiently leading to losses of capital.
3. Investment outside the enterprise
3.1. When the need arises to use the capital, property or the value of the land use right or the land rent of the public utility enterprise to invest outside the enterprise, the enterprise must draw up the plan of capital pool or give explanations about the joint venture project and send it to the agency managing the State capital and property at the enterprise so that it can make comments before submitting the plan to the Head of the agency which has decided to establish the enterprise for approval.
3.2. Investment outside the enterprise must not affect the public utility task assigned by the State and must comply with the prescriptions of law, ensure the principle of efficiency, conservation and development of the capital and increase of income. When it uses the value of the land use right to invest outside, the enterprise must comply with the provisions of the Land Law.
3.3. A public utility enterprise must not use the State investment to conduct monetary businesses such as purchasing treasury bonds, credit bonds or depositing in savings banks...
3.4. A public utility enterprise must not invest in enterprises not owned by the State where the manager, the executive director or the main owner is the wife, husband, father, mother or child of the director of the said public utility enterprise.
4. Assigning, renting, mortgaging and pawning property:
4.1. The assignment, renting, mortgaging or pawning of property under the management of a public utility enterprise must be decided by the Head of the agency which has decided to establish the enterprise subject to the written consent of the agency managing the State capital and property at the enterprise.
4.2. When it decides to assign property which is no longer needed or which has become technically backward in order to retrieve capital, the enterprise must set the price and organize a bidding as prescribed by law. The difference between the revenue from the assignment of the property and the remaining value in the book of accounts together with the expenses in the assignment shall be accounted for in the business result of the enterprise.
4.3. With regard to the property leased by the enterprise with the aim of raising its use efficiency and increasing the income of the enterprise, the enterprise still has to deduct the depreciation cost according to the prescribed regime and must monitor the activities of the property and recover it at the end of the lease term.
The property which is mortgaged, pawned for capital borrowing at a credit organization must comply with the order and procedures prescribed by law.
A public utility enterprise must not pawn, mortgage or lease the property which is borrowed or hired by it or is entrusted to its charge or used as a mortgage or a pawn... from other enterprises unless it has the consent of the owners of these property.
5. Liquidation of property:
5.1. With regard to the essential machinery and equipment and other property of a decisive importance for the operation of a public utility enterprise (except trees and animals), if the enterprise decides to liquidate them it must get a written permission from the agency which has decided to establish it and the agency managing the State capital and property at the enterprise.
In particular, with regard to the property of the enterprises producing or repairing weapons, military equipment and special use gear for defense and security, such a liquidation must get a written permission from the Ministry of Defense and the Ministry of the Interior and, in special cases, must be decided by the Prime Minister.
The liquidation of other properties shall be conducted in the same way as in other State enterprises engaged in business activities.
5.2. The enterprise shall have to set up the property liquidation council. If spare parts and waste materials recovered from the liquidated property are to be used in production and business, the enterprise shall have to set the prices. If it sells the liquidated property it has to organize an action as prescribed by law. The difference between the revenue from the liquidation of the property and the remaining value in the book of accounts of the liquidated property and the expenses in the liquidation shall be accounted for in the business result of the enterprise.
6. Capital allocation, responsibility for capital conservation, re-evaluation of property, plan for handling cases of property losses, and the management of the public debts shall comply with the prescriptions for State enterprises engaged in business activities.
7. A public utility enterprise has the responsibility to open a book of accounts to accurately monitor the whole existing property and capital of the enterprise in conformity with the accountancy accounting regime; it shall have to report truthfully and in time the changes of the property and capital in the process of its operation.
III. FINANCIAL RESULT AND HANDLING OF RESULT OF OPERATION OF PUBLIC UTILITY ENTERPRISES
A. FINANCIAL RESULT
1. The turnover of a public utility enterprise comprises the turnover from public utility activities, from business activities and other activities.
1.1. The turnover from public utility activities includes: revenue from the payment by the State of the public utility services achieved according to plan or orders, the sale of products and the supply of services at the prices, price frame or fee collection set by the State; and revenue from State allowances and price subsidies when the enterprise supplies goods and services at the request of the State.
a/ In case the enterprise is paid by the State for the public utility and services it supplies according to the planned targets or orders from the State, the bases for payment are:
- The public utility task in the plan or orders assigned to the public utility enterprise by the Head of the agency which decides to set up the enterprise in the plan year.
- The unit price for payment decided by the competent agency by assignment of responsibilities from the Government.
- The written record on the test on completion concerning the quantity and quality of the products and services accomplished and delivered by the public utility enterprise to the agency which assigns the plan or places the order.
The financial agency shall conduct the expertise and procedures of payment for the public utility enterprise after deducting the fines to be paid by the enterprise when it violates the terms in the goods order.
b/ Bases for the Government to consider allowances and price subsidies:
- The business lines or services on the list of eligibility for allowances or price subsidies defined by the Government.
- The public utility task assigned to the enterprise in the plan year by the Head of the agency which decides to establish the enterprise.
- The quantity and quality of the products or services achieved in the framework of the assigned plan.
- The unit price of the allowances and subsidies for each product or service decided by the competent agency according to the Government assignment.
The modalities of granting the allowances and price subsidies shall comply with the regulations of the Ministry of Finance.
1.2. The turnover from business and other activities shall comply with the regulations concerning State enterprises engaged in business activities.
2. The expenses of public utility enterprises comprise expenses on public utility activities, business activities and other activities:
2.1. The contents of the expenses on public utility activities of each branch of production shall be defined by the parent ministry or the President of the People�s Committee of the province or city on the basis of the economic and technical characteristics of the branch after getting a written consent from the Ministry of Finance.
2.2. The content of the expenses on business activities and other activities shall comply with the regulations concerning the State enterprises engaged in business activities.
3. The public utility enterprises are allowed to use their turnover to make up for expenses. More concretely:
- The turnover from business activities used to make up for the total production cost of the goods and services already consumed, taxes and other revenues of the State as prescribed by law (excluding profit tax).
- The turnover from business activities used to make up for the total production cost of commodity products and services already consumed, taxes and other revenues of the State as prescribed by law (excluding profit tax).
- The turnover from other activities shall be used to make up for expenses, tax and other revenues of the State as prescribed by law (excluding profit tax).
A public utility enterprise engaged in business activities must in principle ensure that these activities are profitable and must not use the profit from public utility activities to compensate for the losses in business activities.
B. HANDLING OF FINANCIAL RESULT
1. For the enterprises which supply public products and services at State defined prices but the revenue of which does not depends much on the expenses incurred (the Ministry of Finance shall decide the list of public utility enterprises of this type after consulting the agency which decides to establish such an enterprise), the difference between revenue and expenditure shall be handled as follows:
a/ Deductions to set up various funds at the following rates and ceiling levels:
+ Development investment fund: 25% of the difference.
+ Financial reserve fund: 5% of the difference, but the balance of this fund must not exceed 25% of the registered capital.
+ Deductions to establish the reward and welfare funds representing three months of real wages if the remittance to the budget in the reporting year is higher than the previous year, and representing two months of real wages if the remittance to the budget in the reporting year is equal to or lower than the previous year.
b/ The remainder shall be remitted to the State budget.
The profits from business activities and other activities shall be distributed as in a State enterprise engaged in business activities but the total of deductions for each fund from all sources shall not exceed the maximum prescribed for a State enterprise engaged in business activities.
2. With regard to an enterprise from which the State buys the whole of its public utility products and services (including enterprises producing or repairing weapons, military equipment and special purpose gear for defense and security) and the enterprises which supply public utility products and services at State defined prices, the profits earned within the year (including profits from business and other activities) shall be distributed according to the following order:
a/ Payment of profit tax as prescribed by law.
b/ Deductions to pay fines for violation of discipline in the collection of revenues and remittances to the budget, administrative violations, violations of contracts, failure to pay due debts, and reasonable expenses which have not been deducted when determining the taxable profits.
c/ Deductions to compensate for the losses not yet deducted from the pre-tax profit.
d/ Concerning the remaining profits, after deductions according to Items a, b and c, the enterprise is allowed to make deductions for the establishment of various funds according to the following proportions and ceiling rates:
+ For the development investment fund: 50% at least.
+ For the financial reserve fund: 10%, with a maximum balance not exceeding 25% of the registered capital.
+ For the reward and welfare funds: a maximum of three months of real wages if the remittance to the budget in the reporting year is higher than the previous year, and two months of real wages if the remittance to the budget in the reporting year is equal to or lower than the previous year.
After deductions according to Items a, b, c and d, and for the investment development fund and the financial reserve fund, if there is a balance from the deduction of the profit for the reward and welfare funds, the balance shall be wholly transferred to the development investment fund. In case the profit is not enough to deduct for the establishment of the reward and welfare funds at the rate of two months of real wages, the State shall make up for the shortfall.
3. For an enterprise supplying public utility products or services at State defined prices which cannot make up for the reasonable expenses (including expenses necessitated by the fight against natural calamities, and defense and security needs), if it is still in the red after using 50% of the profit from business activities to fill the gap, the State shall provide subsidies as follows:
- Make the necessary allocations to fill the remaining shortfall
- To grant to the reward and welfare funds allowances equal to two months of real wages of the enterprise.
For the remaining profit from the business and other activities, 80% shall be deducted for the development investment fund and 20% for the financial reserve fund.
4. The procedures and time of the deductions and the aim of the use of the funds of the enterprise shall comply with the regulations for State enterprises engaged in business activities.
Within the total of deductions for the reward and welfare funds, the Director of the enterprise is entitled to decide the proportion of the deduction for each fund after consulting the trade union organization at the enterprise.
A public utility enterprise shall not set up a reserve fund for severance allowance. In special cases where the enterprise has to scale down its public utility activities, the agency that has decided its establishment and the financial agency of the same level shall consider the grant of severance allowances for the laborers who have lost their jobs according to the prescribed regime.
5. With regard to the public utility enterprises in deep-lying, remote and border or island areas or strategic areas with exceptional difficulties, the State shall consider the provision of the following expenses:
- Expenses on crches and other educational establishments where there is not yet any school or class of the national educational system.
- Expenses on healthcare for the areas where, for special conditions, a hospital or medical station must be maintained.
IV. FINANCIAL PLAN
1. Each year, basing itself on the regulations and guidance of the financial agency, the public utility enterprise shall draw up the plan for the production of the public utility products and the supply of public utility services according to the policies or orders placed by the State, the draft budget revenues and expenditures (including the planned allowances and subsidies) and report it to the agency that has decided to establish the enterprise and the financial agency of the same level. The agency which has decided to establish the enterprise shall have to ratify the plan, and make a general report to the competent authority and the related financial agency.
2. Within the ratified annual draft budget revenues and expenditures, the Head of the agency which has decided to establish the enterprise shall assign the plan of production of public utility products and supply of public utility services, place orders and make draft budget allocations to the enterprise and send it to the financial agency of the same level for coordination. The Budget shall provide allowances only within the ratified draft budget.
V. INSPECTION OF ACCOUNTS, FINANCIAL REPORT AND FINANCIAL TRANSPARENCY
1. Drawing up the financial report:
- Every three months and every year the public utility enterprise shall have to draw up the financial report according to current regulations. The director of the enterprise shall be answerable to the State and law for the accuracy, truthfulness of the financial report.
-The quarterly and annual financial report shall be sent to the agency which has decided to establish the enterprise, the tax agency, the agency for the management of the State capital and property at the enterprise and the statistical agency.
2. Inspection of accounts and financial report:
- Quarterly and annually, the public utility enterprise shall have to make its own inspection of the accounts and of the financial report.
- The agency which has decided to establish the enterprise shall together with the agency managing State capital and property at the enterprise have to inspect the ratification of the annual financial report of the public utility enterprise.
- The financial agency shall have to inspect the implementation of the financial and accountancy regimes, the discipline of Budget collection and remittance and the accuracy and truthfulness of the financial report.
- All violations of the regime of accountancy and the regime of financial revenues and expenditures, the regime of collection and remittance to the budget, the regime of deduction and use of the funds of the enterprise shall be subject to administrative and economic sanctions according to the provisions of law.
3. Making public annual financial report:
- Basing itself on the annual financial report already ratified by the competent agency, the public utility enterprise shall publicly announce a number of financial targets before the conferences of workers and public employees of the enterprise.
- The contents of the targets shall be made public according to the form attached to this Circular.
VI. IMPLEMENTATION PROVISIONS
1. Apart from separate provisions for the public utility enterprises stipulated in this Circular, the public utility enterprises shall also have to carry out other regulations of law with regard to a State enterprise.
2. With regard to a number of public utility activities with specific characteristics, the agency which decides to establish the enterprises shall base themselves on the regime of financial management stipulated in this Circular to study and issue appropriate regulations after getting a written consent from the Ministry of Finance.
3. This Circular takes effect from the date of its signing. All earlier regulations on financial management at the enterprises directly performing defense or security tasks or producing products and supplying public utility services according to the State policies which are contrary to this Circular are now annulled.
4. In the process of implementation if any problem arises, the enterprises are asked to report in time to the Ministry of Finance with a view to appropriate modifications and amendments.
 

 
FOR THE MINISTER OF FINANCE
VICE MINISTER





Pham Van Trong

 
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem Nội dung MIX.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi
1900.6192 hoặc gửi câu hỏi tại đây

Tải ứng dụng LuatVietnam Miễn phí trên

Văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!