Thông tư 01-BKH/DN của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định 56/CP ngày 02/10/1996 của Chính phủ về doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích

Thuộc tính Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

THÔNG TƯ

CỦA BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ SỐ 01 BKH/DN NGÀY 29 THÁNG 1 NĂM 1997 HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 56/CP NGÀY 2 THÁNG 10 NĂM 1996 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
HOẠT ĐỘNG CÔNG ÍCH

 

Thi hành Nghị định số 56/CP ngày 2 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ về doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) hoạt động công ích; sau khi trao đổi với Ban chỉ đạo Trung ương Đổi mới doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn cụ thể việc xác định DNNN hoạt động công ích và việc Nhà nước giao kế hoạch hàng năm hoặc đặt hàng cho DNNN hoạt động công ích như sau:

 

I. XÁC ĐỊNH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC HOẠT ĐỘNG
CÔNG ÍCH

 

Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích là DNNN độc lập hoặc DNNN là thành viên hạch toán độc lập của Tổng công ty nhà nước trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng theo chính sách của Nhà nước, do Nhà nước giao kế hoạch hoặc đặt hàng và theo giá, khung giá hoặc phí do Nhà nước quy định, hoạt động chủ yếu không vì mục tiêu lợi nhuận.

Các DNNN hoạt động công ích nêu trên bao gồm:

 

1. Các DNNN trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh:

- Các DNNN sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài, trang bị chuyên dùng cho quốc phòng, an ninh đã được quyết định thành lập lại và thành lập mới theo Nghị định 388/HĐBT và đã được phê duyệt trong phương án tổng thể tổ chức, sắp xếp lại DNNN theo chỉ thị số 500/TTg ngày 25 tháng 8 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ mà công nghệ và nhiệm vụ chủ yếu của doanh nghiệp là sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài, trang bị chuyên dùng cho quốc phòng, an ninh.

- Các DNNN được thành lập để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh: trực tiếp xuất, nhập khẩu vũ khí, khí tài, vật tư, trang thiết bị chuyên dùng cho quốc phòng, an ninh; rà phá bom, mìn; xây dựng công trình đặc biệt; in, xuất bản và phát hành sách báo, tài liệu chuyên về quốc phòng, an ninh; các doanh nghiệp được giao nhiệm vụ đặc biệt, duy trì tiềm lực quốc phòng.

- Các DNNN được thành lập tại các địa bàn chiến lược quan trọng như vùng biên giới, hải đảo, Tây nguyên để thực hiện nhiệm vụ chủ yếu Nhà nước giao là bảo đảm quốc phòng, an ninh chính trị, xã hội trên địa bàn kết hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh các ngành nghề phù hợp với quy định của pháp luật.

 

2. Các DNNN sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng có ít nhất 70% doanh thu do sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ trong các lĩnh vực sau đây:

- Giao thông, công chứng đô thị: vận tải hành khách công cộng, dịch vụ vệ sinh môi trường và bảo vệ môi trường sinh thái, quản lý công viên, cây xanh, vườn thú, bảo đảm chiếu sáng, cấp, thoát nước, dịch vụ tang lễ... tại các đô thị.

- Quản lý, khai thác, duy tu bảo dưỡng hệ thống cơ sở hạ tầng: đường sắt quốc gia, đường bộ, đường thuỷ, bến cảng, bảo đảm hàng hải, dẫn dắt tầu ra vào cảng biển, sân bay, điều hành bay.

- Kiểm định kỹ thuật phương tiện giao thông đường bộ, đường thuỷ.

- Kiểm tra, kiểm soát và phân phối tần số vô tuyến điện.

- Khai thác, bảo vệ các công trình thuỷ lợi.

- Sản xuất giống cây trồng, vật nuôi: giống cây lương thực, cây ăn quả, cây công nghiệp, giống cây rừng, giống gia súc, gia cầm, giống thuỷ, hải sản, bao gồm cả sản xuất tinh và truyền tinh nhân tạo cho gia súc.

- Sản xuất và phát hành sách giáo khoa, sách báo chính trị.

- Sản xuất và phát hành phim thời sự, tài liệu, khoa học, phim truyền hình, phim cho thiếu nhi.

- Sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ theo chính sách xã hội của Nhà nước: sản xuất và cung ứng muối ăn, chiếu bóng, cung ứng các hàng hoá dịch vụ khác theo quy định của Chính phủ phục vụ miền núi, vùng cao, biên giới, hải đảo; sản xuất, cung ứng thuốc phòng chống dịch cho người, cây trồng và vật nuôi; sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ cho người tàn tật.

Doanh thu do sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng được tính trên cơ sở doanh thu thực tế của doanh nghiệp trong hai năm gần nhất.

 

II. QUYẾT ĐỊNH DNNN HOẠT ĐỘNG CÔNG ÍCH

 

1. Đối với các DNNN đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong phương án tổng thể tổ chức, sắp xếp lại DNNN theo Chỉ thị số 500/TTg ngày 25 tháng 8 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ:

Căn cứ vào các tiêu thức quy định tại Điều 1 và Điều 2 của Nghị định số 56/CP và hướng dẫn thực hiện tại Thông tư này, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xem xét và quyết định cho từng doanh nghiệp trong số các DNNN đang hoạt động thuộc ngành, địa phương mình là doanh nghiệp hoạt động công ích.

Đối với các DNNN quy định lại điểm 2, mục I của Thông tư này đã được quyết định là doanh nghiệp hoạt động công ích, nếu sau hai năm liên tiếp, doanh thu của doanh nghiệp do sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng không đạt 70% doanh thu, thì cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp xem xét, phân định lại không quyết định là doanh nghiệp hoạt động công ích.

Trường hợp DNNN hoạt động trong các lĩnh vực quy định tại điểm 2, mục I của Thông tư này chưa được quyết định là doanh nghiệp hoạt động công ích, nếu đạt được 70% doanh thu do sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng trong hai năm liên tiếp thì sẽ được cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp xem xét để quyết định là doanh nghiệp hoạt động công ích

Cơ quan quyết định doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích gửi danh sách các DN hoạt động công ích thuộc ngành, địa phương mình đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính.

 

2. Thành lập mới DNNN hoạt động công ích:

Căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ hoạt động công ích và năng lực của các DNNN hoạt động công ích hiện có trong ngành, lĩnh vực và trên địa bàn, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thành phố, thị xã, Hội đồng quản trị của Tổng công ty nhà nước đề nghị thành lập mới DNNN hoạt động công ích thuộc ngành, địa phương hoặc Tổng công ty mình.

Trình tự, thủ tục thành lập DNNN hoạt động công ích thực hiện theo quy định tại Nghị định số 50/CP ngày 28 tháng 8 năm 1996 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định này.

 

III. GIAO KẾ HOẠCH HOẶC ĐẶT HÀNG CHO DNNN
HOẠT ĐỘNG CÔNG ÍCH

 

1. Các chỉ tiêu giao kế hoạch hoặc đặt hàng:

- Các DNNN hoạt động công ích căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động đã được xác định trong quyết định thành lập doanh nghiệp để xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch cụ thể về hoạt động công ích và các hoạt động khác (nếu có) gửi cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp và cơ quan tài chính cùng cấp.

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giao kế hoạch hàng năm hoặc đặt hàng cho DNNN hoạt động công ích thuộc ngành, địa phương mình gồm các chỉ tiêu sau đây:

+ Số lượng và chất lượng sản phẩm sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng.

+ Thời gian và địa chỉ giao nhận sản phẩm, dịch vụ công cộng.

+ Đơn giá thanh toán sản phẩm, dịch vụ công cộng.

+ Đơn giá trợ cấp, trợ giá cho từng sản phẩm, dịch vụ công cộng do cấp có thẩm quyền quyết định.

+ Dự toán thu, chi ngân sách (trong phạm vi dự toán ngân sách hằng năm của Bộ, địa phương được duyệt).

- Hằng năm, cơ quan giao kế hoạch hoặc đặt hàng tổ chức nghiệm thu số lượng, chất lượng sản phẩm, dịch vụ công cộng hoàn thành được Nhà nước thanh toán cho DNNN hoạt động công ích.

 

2. Giao kế hoạch hoặc đặt hàng đối với DNNN hoạt động công ích trong một số lĩnh vực:

a- Đối với các doanh nghiệp trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, Bộ trưởng Quốc phòng, Nội vụ giao chỉ tiêu số lượng, chất lượng sản phẩm, dịch vụ bảo đảm cho quốc phòng, an ninh.

b- Riêng đối với các doanh nghiệp tại địa bàn chiến lược, đây là DNNN hoạt động công ích đặc thù. Để thực hiện nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn khi có thiên tai, địch hoạ xảy ra, Nhà nước giao chỉ tiêu số lượng và chất lượng lao động có mặt thường xuyên tại doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu. Căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao về lao động, doanh nghiệp lập kế hoạch sử dụng có hiệu quả số lượng và chất lượng lao động để sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ phục vụ nền kinh tế quốc dân, bảo đảm đời sống cho người lao động.

Đối với các doanh nghiệp hoạt động công ích nói tại điểm a và b trên đây, được hưởng các chế độ ưu đãi cho DNNN hoạt động công ích theo quy định và hướng dẫn của Bộ Tài chính.

c- Đối với các DNNN hoạt động công ích khác, Nhà nước giao kế hoạch hoặc đặt hàng về số sản phẩm, dịch vụ công cộng chiếm từ 70% doanh thu của doanh nghiệp trở lên. Trường hợp sản phẩm, dịch vụ Nhà nước giao kế hoạch hoặc đặt hàng không đảm bảo đủ 70% thì doanh nghiệp vẫn được hưởng chế độ ưu đãi tương ứng với số lượng, chất lượng sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp thanh toán với Nhà nước.

Ngoài nhiệm vụ thực hiện chỉ tiêu Nhà nước giao hoặc đặt hàng, doanh nghiệp có thể sản xuất, kinh doanh các sản phẩm dịch vụ khác để tận dụng năng lực sản xuất nhưng phải đảm bảo các điều kiện sau:

- Phải được cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp đồng ý bằng văn bản.

- Không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ công ích Nhà nước giao hoặc đặt hàng.

- Đăng ký bổ sung ngành nghề kinh doanh theo quy định hiện hành.

- Hạch toán riêng phần hoạt động kinh doanh.

- Thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với phần hoạt động kinh doanh thêm, theo quy định của pháp luật.

d- Đối với các DNNN hoạt động kinh doanh, nếu được Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tổng giám đốc Tổng công ty, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giao chỉ tiêu kế hoạch hoặc đặt hàng sản xuất các sản phẩm, dịch vụ công ích thì cũng được hưởng các chế độ trợ cấp, trợ giá hoặc các chế độ ưu đãi khác của Nhà nước tương ứng với phần sản phẩm hoặc dịch vụ công ích đó.

 

IV. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

 

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày ký. Các quy định trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ.

Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, các cơ quan và doanh nghiệp phản ảnh kịp thời về Bộ Kế hoạch và Đầu tư để nghiên cứu hướng dẫn bổ sung.

Thuộc tính văn bản
Thông tư 01-BKH/DN của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định 56/CP ngày 02/10/1996 của Chính phủ về doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích
Cơ quan ban hành: Bộ Kế hoạch và Đầu tư Số công báo: Đang cập nhật
Số hiệu: 01-BKH/DN Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Thông tư Người ký: Trần Xuân Giá
Ngày ban hành: 29/01/1997 Ngày hết hiệu lực: Đã biết
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực: Doanh nghiệp
Tóm tắt văn bản
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE MINISTRY OF PLANNING AND INVESTMENT
---------
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom - Happiness
---------
No. 01/BKH-DN
Ha Noi , January 29, 1997

 
CIRCULAR
PLANNING AND INVESTMENT GUIDING THE IMPLEMENTATION OF DECREE No.56-CP OF OCTOBER 2, 1996 OF THE GOVERNMENT ON THE PUBLIC UTILITY STATE ENTERPRISES
In furtherance of Decree No.56-CP of October 2, 1996 of the Government on the Public Utility State Enterprises; after consultation with the Central Steering Committee for Renovation of Enterprises, the Ministry of Planning and Investment provides detailed guidance on the determination of the publicutility State enterprises, and the annual plans assigned or production orders placed by the State to the public utility State enterprises, as follows:
I. DETERMINING THE PUBLIC UTILITY STATE ENTERPRISES
A public utility State enterprise is an independent enterprise or an independent cost-profit accounting member of a State corporation directly performing national defense and security tasks or producing goods or providing public services according to the State policies, State plans or production orders within the price levels, price brackets or charges prescribed by the State and operating not mainly for profits.
The above-said public utility State enterprises include:
1- The enterprises directly performing national defense and security tasks:
- State enterprises engaged in the manufacture and/or repair of weapons, military equipment and facilities for special use in national defense and security, which have already been re-established or newly established under Decree No.388-HDBT and already ratified in the general plan for reorganization and rearrangement of State enterprises under Directive No.500-TTg of August 25, 1995 of the Prime Minister and the technology and main tasks of which consist in manufacturing and repairing weapons and military equipment and facilities for special use in national defense and security.
- State enterprises established to directly perform national defense and security tasks: conducting direct export and/or import of weapons, military supplies, materials and equipment for special use in national defense and security; sweeping and deactivating bombs and mines; erecting special-use structures; printing, publishing and distributing defense and security books and newspapers; other enterprises which are assigned special tasks of maintaining national defense capability.
- State enterprises established in important strategic areas such as border regions, islands and the Central Highlands to perform the main State-assigned tasks of maintaining national defense and socio-political security in their respective areas in combination with production and business activities in various branches and with various occupations in accordance with provisions of law.
2- State enterprises engaged in the manufacture of products, the provision of public services with at least 70 % of their turnovers derived from production and the provision of services in the following domains:
- Urban communication and public utility works: mass transit, environmental sanitation and ecological environment protection, management of parks, plants, zoos, public lighting, water supply and drainage, funeral services... in urban areas.
- Management, exploitation, renovation and maintenance of the infrastructure system: the national railways, roads, water ways, ports, maritime insurance, piloting and/or towing ships into or out of sea ports and airports and flight control.
- Technical test of overland and waterway transport means.
- Control, supervision and distribution of radio frequencies.
- Exploitation and protection of irrigation works.
- Production of prototype breeds of plants, domestic animals: varieties of food crops, fruit trees, industrial plants, strains of forest trees, breeds of cattle, poultry, aquatic species, including spermatogenesis and artificial insemination of animals.
- Publication and distribution of text books and political materials.
- Production and distribution of newsreels, documentary and scientific films, TV films and films for children.
- Production of goods, provision of services according to the State social policies: production and supply of kitchen salt, film projection and provision of other goods and services under Government prescriptions in service of the mountain, highland and border regions and islands: production and supply of anti-epidemic medicines for human beings, plants and domestic animals; production of goods and provision of services for the disabled.
The turnover from the production of goods and provision of public services shall be calculated on the basis of the actual turnover of the enterprises in the two latest years.
II. DECISIONS ON THE PUBLIC UTILITY STATE ENTERPRISES
1- With regard to State enterprises already ratified by the Prime Minister in the general plan for reorganization and rearrangement of State enterprises in accordance with Directive No.500-TTg of August 25, 1995 of the Prime Minister:
Basing themselves on the criteria defined in Articles 1 and 2 of Decree No.56-CP and implementation guidances in this Circular, the Ministers, the Heads of ministerial-level agencies, the Heads of the agencies attached to the Government, the Presidents of the People’s Committees of the provinces and cities directly under the Central Government shall consider and decide which among the State enterprises currently operating in their respective branches and localities are public utility enterprises.
With regard to State enterprises defined in Point 2, Section I of this Circular which have already been defined as public utility enterprises, if after two consecutive years, their turnover from either the production of goods and/or provision of public services fails to reach 70% of the total turnover, the agency that has decided the establishment of such enterprises shall reconsider and stop recognizing them as public-utility enterprises.
In cases where the State enterprises operating in the domains defined in Point 2, Section I of this Circular have not yet been classified as public utility enterprises but their turnover from the production of goods and provision of public services makes up 70% of the total turnover for two consecutive years, they shall be reconsidered and classified as public utility enterprises by the agencies that decided their establishments.
The agencies that issue decisions on the State public utility enterprises shall submit the lists of the public utility enterprises within their respective branches or localities to the Ministry of Planning and Investment and the Ministry of Finance.
2- Establishment of new public utility State enterprises:
Basing on the public-utility requirements, tasks and capability of the State public utility enterprises currently operating in their respective branches, areas and localities, the Ministers, the Heads of the ministerial-level agencies, the Heads of the agencies attached to the Government, the Presidents of the Peoples Committees of the provinces and cities directly under the Central Government, the Presidents of the Peoples Committees of districts and provincial towns, the Managing Boards of the State corporations shall propose the establishment of new public utility State enterprises within their branches, localities or corporations.
The order and procedures for the establishment of the public utility State enterprises shall comply with the provisions of Decree No.50-CP of August 28, 1996 of the Government and the documents guiding the implementation of this Decree.
III. ASSIGNING PLANS TO OR PLACING PRODUCTION ORDERS WITH THE PUBLIC UTILITY STATE ENTERPRISES
1- Assigning plans or placing production orders:
- The public utility State enterprises shall base themselves on the functions, tasks and operating domains defined in the decisions on their establishment to draw up specific plans for public utility activities and other activities (if any) and submit them to the agencies that have issued decisions on their establishment and the financial agencies of the same level.
- The Ministers, the Heads of the ministerial-level agencies, the Heads of the agencies attached to the Government, the Presidents of the People�s Committees of the provinces and cities directly under the Central Government shall assign annual plans to or place production orders with the public utility State enterprises within their branches, localities with the following criteria:
+ The quantity and quality of products and public services.
+ The time and places of delivering and receiving products and public services.
+ The payment unit prices of products and public services.
+ The unit price for allowance and subsidy to each product or public service set by the competent level.
+ The draft budget revenues and expenditures (within the scope of the already approved annual draft budgets of the Ministries or localities).
-Annually, the agencies that assign plans or place production orders shall examine the quantity, quality of products, public services fulfilled by the public utility State enterprises to be paid for by the State.
2- The assignment of plans to and placing of production orders with the public utility State enterprises in a number of domains:
a/ With regard to enterprises directly performing national defense and security tasks, the Minister of Defense and the Minister of the Interior shall assign quantitative and qualitative quotas of products and services to the national defense and security enterprises.
b/ Enterprises operating in strategic areas are considered special public utility enterprises. For the performance of the task of securing national defense and security in the area when natural calamity or enemy sabotage occurs, the State shall assign the quantitative and qualitative quotas of the permanent workforce at the enterprises to meet the requirement of combat readiness. The enterprises shall base themselves on the labor quotas and plans assigned by the State to draw up plans for the use of their labor forces in terms of quantity and quality to turn out products and provide services for the national economy and ensure the livehood of laborers.
The public-utility enterprises mentioned in points a and b above shall be entitled to privileges according to the regulations and guidances of the Ministry of Finance.
c/ With regard to other public utility State enterprises, the State shall assign plans or place production orders for products and/or public-utility services with turnover accounting for 70 or more percent of the total turnover of the enterprises. In case where the turnover from the State-assigned products and/or services fails to reach 70 per cent of the total turnover, the enterprises shall still be entitled to privileges corresponding to the quantity and quality of products and services paid for by the State.
In addition to the tasks or production orders assigned by the State, the enterprises can also produce other kinds of products and/or provide other kinds of services so as to make full use of the production capacity, but must meet the following requirements:
- Getting written approval from the agency that has decided their establishment.
- Not affecting the performance of the public-utility tasks or production orders assigned by the State.
- Making supplementary registration of trades and occupations in accordance with current regulations.
- Accounting separately the business part.
- Discharging the tax obligation with respect to the extra business activities, as prescribed by law.
d/ The State enterprises conducting business activities when assigned plans or orders for production or provision of public-utility goods or services by the Prime Minister, the Ministers, the Heads of the ministerial-level agencies and agencies attached to the Government, the general directors of Corporations, the Presidents of the People�s Committees of the provinces and cities directly under the Central Government, shall be entitled to the regime of allowances and price subsidies and other preferential regimes of the State corresponding to such part of products or public-utility services.
IV. IMPLEMENTATION PROVISION
This Circular takes effect from the date of its signing. The previous regulations which are contrary to this Circular are now annulled.
If any problem arises in the course of implementation, the agencies and enterprises shall have to promptly report to the Ministry of Planning and Investment for consideration and additional guidance.
 

 
THE MINISTRY OF PLANNING AND INVESTMENT




Tran Xuan Gia

 
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.

Tải App LuatVietnam miễn phí trên Android tại đây trên IOS tại đây. Xem thêm

Văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!