Nghị định 177-CP của Chính phủ về việc ban hành Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung MIX

    - Tổng hợp lại tất cả các quy định pháp luật còn hiệu lực áp dụng từ văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính…

    - Khách hàng chỉ cần xem Nội dung MIX, có thể nắm bắt toàn bộ quy định pháp luật hiện hành còn áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

  • Tải về
Mục lục
Tìm từ trong trang
Tải văn bản
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
Lưu
Theo dõi hiệu lực VB

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký phần mềm.

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản LuatVietnam và đăng ký sử dụng Phần mềm tra cứu văn bản.

Báo lỗi
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 177-CP NGÀY 20-10-1994 VỀ VIỆC BAN HÀNH
ĐIỀU LỆ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG

 

CHÍNH PHỦ

 

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30-9-1992;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước,

NGHỊ ĐỊNH

 

Điều 1. Ban hành kèm theo Nghị định này Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng, thay thế Điều lệ quản lý xây dựng cơ bản ban hành kèm theo Nghị định số 385-HĐBT, ngày 7-11-1990, và điều lệ lập, thẩm tra, xét duyệt thiết kế các công trình xây dựng ban hành kèm theo Nghị định số 237-HĐBT, ngày 19-9-1985, của Hội đồng Bộ trưởng.

 

Điều 2. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

 

Điều 3. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ trưởng Bộ xây dựng, Bộ trưởng Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn chi tiết việc thi hành Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định này.

 

Điều 4. Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

ĐIỀU LỆ

QUẢN LÝ ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG

(Ban hành kèm theo Nghị định só 177-CP ngày 20-10-1994 của Chính phủ)

 

CHƯƠNG I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

Điều 1. Giải thích từ ngữ:

Trong Điều lệ này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Quản lý và đầu tư và xây dựng:

Quản lý đầu tư và xây dựng là quản lý Nhà nước về quá trình đầu tư và xây dựng từ bước xác định dự án đầu tư đến thực hiện đầu tư và cả quá trình đưa dự án vào khai thác, sử dụng đạt mục tiêu đã định,

2. Dự án đầu tư:

Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định.

3. Công trình xây dựng:

Công trình xây dựng là sản phẩm của công nghệ xây lắp gắn liền với đất (bao gồm cả mặt nước, mặt biển và thềm lục địa) được tạo thành bằng vật liệu xây dựng, thiết bị và lao động.

Công trình xây dựng bao gồm một hạng mục hoặc nhiều hạng mục công trình nằm trong dây chuyền công nghệ đồng bộ, hoàn chỉnh (có tính đến việc hợp tác sản xuất) để làm ra sản phẩm cuối cùng nêu trong dự án.

4. Chủ đầu tư:

Chủ đầu tư là người chủ sở hữu vốn. Chủ đầu tư có thể là một tổ chức hoặc cá nhân bỏ toàn bộ hoặc một phần vốn và chịu trách nhiệm huy động phần vốn còn lại để đầu tư theo quy định của pháp luật.

Trường hợp vốn đầu tư của dự án chủ yếu thuộc sở hữu Nhà nước thì chủ đầu tư là người được cấp quyết định đầu tư chỉ định ngay từ khi lập dự án và giao trách nhiệm trực tiếp quản lý sử dụng vốn.

5. Tổng mức đầu tư:

Tổng mức đầu tư là vốn đầu tư dự kiến để chi phí cho toàn bộ quá trình đầu tư nhằm đạt được mục tiêu đầu tư để đưa vào khai thác, sử dụng theo yêu cầu của dự án (bao gồm cả yếu tố trượt giá).

6. Tổng dự toán công trình:

Tổng dự toán công trình là tổng mức chi phí cần thiết cho việc đầu tư công trình được tính toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật. Tổng dự toán công trình bao gồm các khoản chi phí có liên quan đến khảo sát, thiết kế, xây dựng, mua sắm thiết bị, chi phí sử dụng đất đai đền bù và giải phóng mặt bằng, chi phí khu phụ trợ, nhà làm việc, nhà ở tạm của công nhân xây dựng đối với công trình quy mô lớn; các chi phí khác kể cả chi phí dự phòng (bao gồm cả yếu tố trượt giá).

7. Quyết toán vốn đầu tư:

Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp thức đã thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác sử dụng (các chi phí do thiên tai, địch hoạ và các chi phí không hợp lý, không hợp pháp đã được loại trừ).

8. Quy chuẩn xây dựng:

Quy chuẩn xây dựng là những văn bản pháp quy bao gồm những quy định về điều kiện kỹ thuật phải được dùng trong thiết kế xây dựng, quản lý công trình dân dụng và công nghiệp.

9. Tiêu chuẩn xây dựng:

Tiêu chuẩn xây dựng là các tiêu chuẩn kỹ thuật được quy định để thực hiện các công việc khảo sát, thiết kế, xây lắp, nghiệm thu, đảm bảo chất lượng công trình, áp dụng cho từng loại chuyên ngành xây dựng do Nhà nước hoặc các Bộ quản lý xây dựng chuyên ngành ban hành.

 

Điều 2. Yêu cầu cơ bản của quản lý đầu tư và xây dựng.

1. Đảm bảo đúng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

2. Huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu tư trong nước cũng của nước ngoài đầu tư vào Việt Nam; khai thác tốt tài nguyên, tiềm năng lao động, đất đai và mọi tiềm lực khác, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái.

3. Xây dựng phải theo quy hoạch được duyệt, thiết kế hợp lý, tiên tiến, mỹ quan; công nghệ xây dựng tiên tiến; xây lắp đúng tiến độ, đạt chất lượng cao với chi phí hợp lý và thực hiện bảo hành công trình.

 

Điều 3. Những nguyên tắc cơ bản của công tác quản lý đầu tư và xây dựng.

1. Công tác quản lý đầu tư và xây dựng phải bảo đảm tạo ra những sản phẩm và dịch vụ được xã hội và thị trường chấp nhận về giá cả, chất lượng và đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ.

2. Thực hiện quản lý thống nhất của Nhà nước về cơ chế, chính sách và tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật đối với toàn bộ quá trình đầu tư và xây dựng từ khâu quy hoạch, kế hoạch đến khâu huy động và sử dụng vốn, lựa chọn công nghệ, các giải pháp thiết kế kiến trúc, thiết kế kỹ thuật, xây lắp, bảo hiểm, bảo hành công trình.

3. Thực hiện đúng trình tự đầu tư và xây dựng.

4. Phân định rõ chức năng quản lý Nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh. Quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước, chủ đầu tư, các tổ chức tư vấn, các doanh nghiệp xây dựng, cung ứng vật tư thiết bị trong quá trình đầu tư và xây dựng.

 

Điều 4. Trình tự đầu tư và xây dựng.

Trình tự đầu tư và xây dựng bao gồm 3 giai đoạn:

1. Chuẩn bị đầu tư

2. Thực hiện đầu tư

3. Kết thúc xây dựng, đưa dự án vào khai thác sử dụng.

 

Điều 5. Phân loại dự án đầu tư.

Tuỳ theo tính chất và quy mô, dự án đầu tư được phân loại thành 3 nhóm: A, B, C. Đặc trưng của mỗi nhóm được quy định trong phụ lục ban hành kèm theo Điều lệ này (riêng đối với dự án đầu tư bằng nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài được phân loại theo quy định riêng).

 

Điều 6. Trách nhiệm quản lý Nhà nước về đầu tư và xây dựng.

1. Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về đầu tư và xây dựng của các thành phần kinh tế theo pháp luật, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội và quốc phòng, an ninh theo quy hoạch, kế hoạch đã định; ban hành các chính sách về quản lý đầu tư và xây dựng: các chính sách khuyến khích đầu tư đối với các lĩnh vực và thành phần kinh tế, các chính sách ưu đãi trong đầu tư, cơ chế huy động và thu hồi vốn.

2. Thủ tướng Chính phủ quyết định các dự án đầu tư thuộc nhóm A và uỷ quyền Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định đầu tư các dự án thuộc nhóm B và C theo quy định của Điều lệ này, riêng các dự án nhóm B, trước khi quyết định đầu tư phải có ý kiến thống nhất của Bộ trưởng Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước. Đối với các dự án đầu tư của các cơ quan trực thuộc Chính phủ, các tổ chức, đoàn thể, trực thuộc Trung ương, Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền cho thủ trưởng các cơ quan đó quyết định đầu tư các dự án nhóm C và giao cho Bộ trưởng Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước quyết định đầu tư các dự án nhóm B.

3. Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước:

Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước có trách nhiệm nghiên cứu cơ chế, chính sách về quản lý đầu tư; hoạch định các mục tiêu chiến lược, các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, vùng và lãnh thổ; xác định cơ cấu đầu tư và danh mục các dự án đầu tư ưu tiên để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ban hành, hoặc được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền ban hành. Cân đối nguồn lực bảo đảm nhu cầu đầu tư theo các mục tiêu phát triển và cơ cấu kinh tế. Hướng dẫn việc lập các dự án; Chủ trì việc thẩm định các dự án đầu tư thuộc nhóm A để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư. Kiểm tra giám sát việc thực hiện kế hoạch đầu tư thuộc nguồn vốn do Nhà nước quản lý. Đảm bảo các yếu tố để thực hiện kế hoạch huy động từng phần kết quả đầu tư vào hoạt động.

4. Bộ Xây dựng:

- Bộ Xây dựng có trách nhiệm nghiên cứu cơ chế, chính sách về quản lý xây dựng, quy hoạch xây dựng đô thị nông thôn, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ban hành; hoặc được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền ban hành; Ban hành hoặc thoả thuận để các Bộ quản lý xây dựng chuyên ngành ban hành các tiêu chuẩn, quy phạm, các quy định quản lý chất lượng công trình và kinh tế xây dựng (hệ thống các định mức và chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật, đơn giá tổng hợp); Chủ trì việc thẩm định tổng dự toán các dự án thuộc nhóm A trình Thủ tướng Chính phủ xem xét để uỷ quyền cho Bộ trưởng quản lý ngành phê duyệt. Thống nhất quản lý Nhà nước về hành nghề tư vấn đầu tư xây dựng và kinh doanh xây lắp; quản lý và hướng dẫn đấu thầu, chọn thầu tư vấn và xây lắp.

5. Bộ Tài chính:

Bộ tài chính có trách nhiệm nghiên cứu cơ chế quản lý các nguồn vốn đầu tư; bố trí tổng mức vốn ngân sách Nhà nước đầu tư hàng năm và các biện pháp bảo đảm nguồn cân đối trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành hoặc được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền ban hành. Quản lý và cấp phát vốn ngân sách Nhà nước đầu tư và vốn tín dụng ưu đãi thuộc nguồn vốn Ngân sách Nhà nước đối với các dự án, mục tiêu chương trình quy định của Chính phủ hoặc cho các doanh nghiệp vay lại thông qua ngân hàng được lựa chọn. Thông báo kế hoạch cấp vốn đầu tư hàng năm cho chủ đầu tư đối với các dự án có đủ điều kiện theo quy định hiện hành; đảm bảo vốn Ngân sách Nhà nước và vốn tín dụng ưu đãi cho các dự án đã được ghi trong kế hoạch đầu tư, kiểm tra việc sử dụng vốn đầu tư, hướng dẫn việc quyết toán vốn đầu tư khi dự án (công trình hoặc hạng mục công trình) hoàn thành đưa vào sử dụng, kiểm tra quyết toán trước khi cơ quan quyết định đầu tư phê duyệt.

6. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm nghiên cứu cơ chế, chính sách quản lý Nhà nước về tiền tệ, tín dụng ngân hàng trong đầu tư và xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền ban hành, hướng dẫn các ngân hàng thực hiện việc huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước để cho các chủ đầu tư vay, và cho các doanh nghiệp xây lắp vay vốn lưu động. Các ngân hàng tự quyết định việc cho vay, thu nợ đối với các dự án đầu tư theo lãi suất thị trường.

- Phối hợp với Bộ Tài chính trong việc lựa chọn Ngân hàng thích hợp để đảm nhiệm việc cho vay các dự án từ nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng quốc tế do Bộ Tài chính uỷ nhiệm.

7. Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và đầu tư

- Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và đầu tư có trách nhiệm nghiên cứu cơ chế chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài trình Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền ban hành; cấp giấy phép đầu tư và hướng dẫn các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài triển khai thực hiện việc đầu tư và xây dựng theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các quy định có liên quan của Điều lệ này, phối hợp với các ngành, các cấp có liên quan tổ chức kiểm tra định kỳ hoạt động của các doanh nghiệp theo quy định của giấy phép đầu tư và các văn bản pháp lý khác của Nhà nước.

8. Các Bộ chức năng Nhà nước khác có liên quan:

- Các Bộ có chức năng Nhà nước về quản lý đất đai, tài nguyên, công nghệ, môi trường, thương mại, bảo tồn bảo tàng di tích, di sản văn hoá, cảnh quan, quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, có trách nhiệm chỉ dẫn cho các chủ đầu tư về các vấn đề có liên quan đến việc lập dự án đầu tư trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ khi nhận được văn bản đề nghị của chủ đầu tư và có quyền tuỳ theo yêu cầu cụ thể của mỗi dự án mà thực hiện chức năng quản lý của mình trong quá trình đầu tư và xây dựng, kiến nghị đình chỉ đối với hoạt động đầu tư và xây dựng trái pháp luật.

- Các Bộ quản lý ngành có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể việc thực hiện các cơ chế, chính sách về đầu tư phát triển ngành và quản lý Nhà nước các dự án đầu tư thuộc ngành.

- Các Bộ có quản lý xây dựng chuyên ngành (xây dựng công nghiệp, dân dụng, xây dựng giao thông, thuỷ lợi, hầm mỏ, đường dây tải điện và trạm biến thế, bưu điện, nông lâm ngư nghiệp); hướng dẫn cụ thể việc thực hiện các cơ chế chính sách xây dựng cho phù hợp với đặc thù của các chuyên ngành; nghiên cứu và ban hành theo quy định phân công của Chính phủ các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm kỹ thuật xây dựng; xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật chuyên ngành để ban hành với sự thoả thuận của Bộ Xây dựng.

9. Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm quản lý hành chính Nhà nước đối với tất cả các tổ chức và cá nhân thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn theo đúng quy định của pháp luật.

 

Điều 7. Trách nhiệm của chủ đầu tư và các tổ chức tư vấn xây dựng, cung ứng thiết bị và xây lắp.

1. Chủ đầu tư:

- Chủ đầu tư có trách nhiệm thực hiện hoặc thuê các tổ chức tư vấn và các doanh nghiệp xây lắp có tư cách pháp nhân lập, hoặc thẩm định dự án do các tổ chức tư vấn khác lập, quản lý dự án, thực hiện dự án đầu tư thông qua hợp đồng kinh tế theo pháp luật hiện hành.

- Chủ đầu tư có thể sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau theo quy định của Điều lệ này để thực hiện dự án và có trách nhiệm toàn diện, liên tục về quản lý sử dụng các nguồn vốn đầu tư từ khi lập dự án, thực hiện dự án và đưa dự án vào hoạt động theo yêu cầu đề ra trong dự án được duyệt.

- Chủ đầu tư có trách nhiệm trả nợ các nguồn vốn vay, vốn huy động đúng thời hạn và các điều kiện đã cam kết khác khi huy động vốn.

- Khi thay đổi chủ đầu tư thì người mới thay thế phải chịu trách nhiệm thừa kế toàn bộ công việc đầu tư của chủ đầu tư trước và phải chịu trách nhiệm về phần công việc đầu tư đã tiến hành trong thời gian đương nhiệm.

- Trường hợp chủ đầu tư là các doanh nghiệp thuộc mọi hình thức sở hữu khi phá sản thì công việc đầu tư đã được thực hiện của chủ đầu tư đó được xử lý theo quy định của Luật phá sản doanh nghiệp.

- Khi lập hồ sơ nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi, Chủ đầu tư có nhiệm vụ và được yêu cầu các cơ quan hữu quan của Nhà nước chỉ dẫn về các vấn đề có liên quan đến dự án như đất đai, tài nguyên, nguồn nước, điện, giao thông vận tải, môi trường sinh thái, phòng cháy, bảo vệ di tích văn hoá, lịch sử, an ninh quốc phòng.

2. Các tổ chức tư vấn xây dựng, cung ứng thiết bị và xây lắp:

Các tổ chức tư vấn về đầu tư và xây dựng (khảo sát, thiết kế, quản lý việc thực hiện dự án...), cung ứng thiết bị, vật tư, thi công xây lắp có trách nhiệm thực hiện đầy đủ hợp đồng kinh tế đã ký với chủ đầu tư hoặc chủ nhiệm điều hành dự án và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả và thực hiện hợp đồng.

 

Điều 8. Nguyễn tắc quản lý sử dụng các nguồn vốn đầu tư.

1. Vốn Ngân sách Nhà nước sử dụng để đầu tư theo kế hoạch Nhà nước đối với những dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, các dự án trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, vườn Quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các dự án xây dựng công trình văn hoá, xã hội, phúc lợi công cộng, quản lý Nhà nước, khoa học kỹ thuật, quốc phòng, an ninh và các dự án trọng điểm của Nhà nước do Chính phủ quyết định mà không có khả năng trực tiếp thu hồi vốn.

2. Vốn tín dụng ưu đãi thuộc ngân sách Nhà nước dùng để đầu tư đối với các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, các cơ sở sản xuất tạo việc làm; các dự án đầu tư trọng điểm của Nhà nước trong từng thời kỳ (điện, xi măng, sắt thép, cấp thoát nước...) và một số dự án của các ngành có khả năng thu hồi vốn đã được xác định trong cơ cấu kế hoạch của Nhà nước. Việc bố trí đầu tư cho các dự án này do Chính phủ quyết định cụ thể cho từng đối tượng trong thời kỳ kế hoạch.

3. Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của các tổ chức quốc tế và các Chính phủ hỗ trợ trực tiếp cho Chính phủ Việt Nam được quản lý thống nhất theo Nghị định số 20/CP ngày 15-3-1994 của Chính phủ.

4. Vốn tín dụng thương mại dùng để đầu tư xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, đổi mới kỹ thuật và công nghệ các dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ có hiệu quả, có khả năng thu hồi và có đủ điều kiện vay vốn theo quy định hiện hành. Vốn tín dụng thương mại được áp dụng theo cơ chế tự vay, tự trả và thực hiện đầy đủ các thủ tục đầu tư và điều kiện vay trả vốn.

5. Vốn tự huy động của các doanh nghiệp Nhà nước dùng để đầu tư cho phát triển sản xuất - kinh doanh nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm; doanh nghiệp phải sử dụng theo đúng các chế độ quản lý vốn đầu tư hiện hành. Doanh nghiệp thuộc tổ chức nào quản lý thì tổ chức đó chịu trách nhiệm kiểm tra chặt chẽ, đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả.

6. Vốn hợp tác liên doanh với nước ngoài của các doanh nghiệp Nhà nước theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Trường hợp các doanh nghiệp Nhà nước được phép góp vốn liên doanh với nước ngoài bằng quyền sử dụng đất đai, mặt nước, mặt biển, nhà xưởng, thiết bị và các công trình khác thuộc sở hữu Nhà nước phải được cấp có thẩm quyền cho phép và làm thủ tục nhận vốn để có trách nhiệm hoàn trả vốn cho Nhà nước theo quy định hiện hành.

7. Vốn đóng góp của nhân dân bằng tiền, vật liệu, hoặc công lao động cho các dự án đầu tư chủ yếu sử dụng vào việc xây dựng các công trình phúc lợi công cộng phục vụ trực tiếp cho người góp vốn theo các điều kiện cam kết khi huy động vốn.

8. Vốn đầu tư của các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh và vốn đầu tư của dân, chủ đầu tư phải lập thủ tục trình cơ quan có thẩm quyền xem xét cấp giấy phép kinh doanh, giấy phép xây dựng.

9. Việc quản lý vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài thực hiện theo Nghị định số 18-CP ngày 16-4-1993 của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

10. Vốn đầu tư của các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế và các cơ quan nước ngoài khác được phép xây dựng trên đất Việt Nam được quản lý theo Hiệp định hoặc thoả thuận đã được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ các nước hoặc các tổ chức, cơ quan nước ngoài nêu trên.

11. Một dự án đầu tư có thể sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau, nhưng không được trái với những quy định về sử dụng vốn của Điều lệ này; không được sử dụng nguồn vốn sự nghiệp để đầu tư xây dựng mới; trừ các công trình hạ tầng thuộc các chương trình mục tiêu do Chính phủ quy định. Các ngành, các địa phương không được tự ý chuyển vốn đầu tư đã được cấp hoặc cho vay theo kế hoạch từ dự án này sang dự án khác khi chưa có ý kiến đồng ý của Thủ tướng Chính phủ hoặc các cơ quan được uỷ quyền (Uỷ ban kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính).

 

Điều 9. Kế hoạch hoá đầu tư.

1. Kế hoạch hoá đầu tư phải phản ánh mọi nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế, trước hết là các dự án đầu tư thuộc sở hữu Nhà nước.

2. Thực hiện kế hoạch đầu tư theo dự án được duyệt. Vốn đầu tư thuộc sở hữu Nhà nước được duyệt một lần cho toàn bộ dự án theo tổng mức vốn đầu tư trong quyết định đầu tư. Khi cần điều chỉnh kéo dài tiến độ thực hiện dự án phải được cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư cho phép.

3. Vốn đầu tư các dự án và vốn sự nghiệp có tính chất xây dựng đều phải được ghi trong kế hoạch Nhà nước và được quản lý theo Điều lệ này.

4. Trình tự và điều kiện ghi kế hoạch đầu tư:

a. Trình tự kế hoạch đầu tư được thể hiện theo các bước sau:

- Kế hoạch vốn cho công tác điều tra, khảo sát và lập quy hoạch ngành, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị nông thôn.

- Kế hoạch chuẩn bị đầu tư bao gồm vốn đầu tư để thực hiện việc lập dự án, (kể cả điều tra, khảo sát) thẩm định dự án và quyết định đầu tư.

- Kế hoạch chuẩn bị thực hiện dự án phải bố trí đủ vốn để thực hiện công tác khảo sát, thiết kế kỹ thuật, lập tổng dự toán, lập hồ sơ mời thầu, xây dựng khu phụ trợ, nhà ở tạm của công nhân xây dựng đối với các dự án có nhu cầu được cấp có thẩm quyền cho phép và các chi phí cho công tác chuẩn bị thực hiện các dự án khác có liên quan.

- Kế hoạch thực hiện dự án bao gồm vốn đầu tư để thực hiện việc mua sắm thiết bị, xây lắp và các chi phí có liên quan đến việc đưa dự án vào khai thác, sử dụng.

b. Điều kiện ghi dự án vào kế hoạch đầu tư:

- Các dự án được ghi vào kế hoạch chuẩn bị đầu tư phải nằm trong quy hoạch phát triển ngành và lãnh thổ.

- Các dự án được ghi vào kế hoạch chuẩn bị thực hiện dự án phải có quyết định đầu tư phù hợp với những quy định của Điều lệ này.

- Riêng các dự án đầu tư có xây dựng được ghi vào kế hoạch thực hiện dự án phải có thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán; hoặc thiết kế kỹ thuật và dự toán theo giai đoạn, hạng mục công trình khởi công (đối với dự án xây dựng quy mô lớn, thời gian xây dựng dài) được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

 

CHƯƠNG II

CHUẨN BỊ ĐẦU TƯ

 

Điều 10. Công tác chuẩn bị đầu tư.

Nội dung công tác chuẩn bị đầu tư bao gồm:

1. Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư vào quy mô đầu tư.

2. Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước hoặc ngoài nước để tìm nguồn cung ứng vật tư, thiết bị hoặc tiêu thụ sản phẩm. Xem xét khả năng có thể huy động các nguồn vốn để đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư.

3. Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng.

4. Lập dự án đầu tư.

5. Thẩm định dự án để quyết định đầu tư.

 

Điều 11. Lập dự án đầu tư.

Trình tự lập dự án đầu tư bao gồm các bước sau:

- Xác định dự án đầu tư.

- Nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi.

- Đối với những dự án thuộc nhóm A và các dự án sử dụng vốn ODA phải tiến hành 2 bước: nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi.

- Các dự án còn lại được thực hiện một bước: nghiên cứu khả thi.

 

Điều 12: Nội dung chủ yếu báo cáo nghiên cứu tiền khả thi.

1. Kết quả nghiên cứu sơ bộ về sự cần thiết phải đầu tư, các điều kiện thuận lợi để có thể tiến hành đầu tư (các căn cứ pháp lý, điều kiện tự nhiên, tài nguyên, cơ hội đầu tư, dự báo thị trường v.v...).

2. Dự kiến quy mô có đầu tư, các dự án và khả năng đảm bảo của dự án khi hoạt động, so sánh lựa chọn hình thức đầu tư.

3. Chọn khu vực địa điểm xây dựng và dự kiến nhu cầu diện tích sử dụng đất.

4. Phân tích sơ bộ về công nghệ, kỹ thuật và xây dựng, lựa chọn hướng giải quyết về nguồn và điều kiện cung cấp vật tư thiết bị, nguồn và điều kiện cung cấp nguyên liệu, năng lượng, dịch vụ, hạ tầng.

5. Phân tích tài chính: Xác định sơ bộ tổng mức đầu tư, các khả năng và điều kiện huy động các nguồn vốn; ước tính chi phí sản xuất, khả năng hoàn vốn và trả nợ, thu lãi.

6. Tính toán sơ bộ hiệu quả đầu tư về mặt kinh tế, xã hội của dự án.

 

Điều 13. Nội dung chủ yếu của báo cáo nghiên cứu khả thi.

1. Những căn cứ để xác định sự cần thiết phải đầu tư.

2. Lựa chọn hình thức đầu tư.

3. Chương trình sản xuất và các yếu tố phải đáp ứng.

4. Các phương án địa điểm cụ thể (hoặc tuyến công trình).

5. Phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật công nghệ.

6. Các phương án và giải pháp xây dựng.

7. Tổ chức quản lý khai thác, sử dụng lao động.

8. Phân tích tài chính kinh tế.

Nội dung chi tiết của báo cáo nghiên cứu khả thi do Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ Xây dựng hướng dẫn.

 

Điều 14. Thẩm định dự án đầu tư.

1. Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi được cấp quyết định đầu tư thông qua bằng văn bản là cơ sở để tiến hành lập báo cáo nghiên cứu khả thi, hoặc để tiếp tục thăm dò, đàm phán, ký thoả thuận giữa các đối tác trước khi lập báo cáo nghiên cứu khả thi. Tuỳ theo mức độ phức tạp và ý nghĩa đối với từng dự án cụ thể, khi thông qua báo cáo nghiên cứu tiền khả thi cấp quyết định đầu tư có thể yêu cầu các cơ quan liên quan có ý kiến hoặc thông qua Hội đồng thẩm định để thẩm định. Thời hạn thông qua bằng văn bản không quá 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ (bao gồm cả trường hợp phải thông qua Hội đồng thẩm định).

2. Báo cáo nghiên cứu khả thi:

- Các dự án nhóm A đều phải Hội đồng thẩm định Nhà nước trước khi quyết định đầu tư.

Chủ tịch Hội đồng thẩm định Nhà nước có thể lựa chọn tổ chức hoặc chuyên gia tư vấn để thẩm định từng mặt hoặc toàn bộ dự án trước khi hội đồng xem xét. Hội đồng thẩm định chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả đã thẩm định.

- Các dự án nhóm B, C: Cấp quyết định đầu tư có thể sử dụng các cơ quan chuyên môn trực thuộc đủ năng lực hoặc thành lập Hội đồng thẩm định, hoặc có thể lựa chọn tổ chức tư vấn để thẩm định dự án trước khi quyết định đầu tư.

3. Việc thẩm định các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài có quy định riêng.

 

Điều 15. Yêu cầu thẩm định dự án.

1. Tất cả các dự án đầu tư có xây dựng thuộc mọi nguồn vốn và các thành phần kinh tế đều phải thẩm định về quy hoạch xây dựng, các phương án kiến trúc, công nghệ, sử dụng đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái và các khía cạnh xã hội của dự án.

2. Đối với các dự án đầu tư sử dụng vốn của nhà nước còn phải được thẩm định về phương án tài chính và hiệu quả kinh tế của dự án.

3. Đối với các dự án đầu sử dụng vốn ODA phải phù hợp với yêu cầu của Nhà nước và thông lệ quốc tế.

 

Điều 16. Hội đồng thẩm định các cấp.

Thành phần Hội đồng thẩm định các cấp như sau:

1. Hội đồng thẩm định cấp Nhà nước do Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước làm Chủ tịch. Các thành viên thường trực là Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường và Văn phòng Chính phủ. Các thành viên khác do Chủ tịch Hội đồng mời tham gia tuỳ theo dự án. Đối với các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài thì Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và đầu tư là thành viên thường trực.

2. Hội đồng thẩm định cấp Bộ do Thứ trưởng làm Chủ tịch. Các thành viên thường trực của Hội đồng cấp Bộ là Vụ trưởng phụ trách công tác xây dựng cơ bản, kế hoạch, tài chính kế toán, Kinh tế, Khoa học công nghệ.

3. Hội đồng thẩm định cấp tỉnh do Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh làm Chủ tịch hội đồng. Các thành viên thường trực là Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch tỉnh, Giám đốc Sở xây dựng và Giám đốc Sở quản lý xây dựng chuyên ngành, Tài chính - Vật giá, Khoa học Công nghệ, kiến trúc sư trưởng ở các thành phố đã được thành lập.

 

Điều 17. Thời gian thẩm định dự án.

1. Đối với các dự án đầu tư thuộc nhóm A thời gian thẩm định không quá 45 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

2. Đối với các dự án đầu tư thuộc nhóm B thời gian thẩm định không quá 30 ngày kể từ kho nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

3. Đối với các dự án đầu tư thuộc nhóm C thời gian thẩm định không quá 20 ngày kể từ nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

 

Điều 18. Quyết định đầu tư.

1. Tất cả các dự án đầu tư thuộc nguồn vốn Nhà nước phải có quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền trước khi thực hiện đầu tư.

2. Nội dung quyết định đầu tư:

a. Xác định chủ đầu tư và hình thức thực hiện dự án.

b. Xác định địa điểm, diện tích đất sử dụng.

c. Công suất thiết kế.

d. Tổng mức đầu tư và nguồn vốn huy động.

e. Phương thức đấu thầu, chọn thầu, hoặc chỉ định thầu.

h. Thời hạn xây dựng và các mốc tiến độ chính.

 

Điều 19. Thay đổi nội dung dự án.

1. Khi cần thay đổi nội dung dự án phải được cấp có thẩm quyền đã thông qua hoặc quyết định dự án đó chấp nhận bằng văn bản.

2. Khi cần thay đổi nội dung dự án đã được quyết định phải giải trình rõ lý do nội dung dự định thay đổi và phải tiến hành việc thẩm định, quyết định theo quy định của Điều lệ này.

3. Dự án có thể bị đình chỉ hoặc huỷ bỏ trong các trường hợp sau:

- Sau 12 tháng khi có quyết định đầu tư nếu chủ đầu tư không triển khai dự án mà không có sự chấp thuận của cấp có thẩm quyền.

- Thay đổi mục tiêu của dự án mà không được cấp có thẩm quyền phê duyệt lại.

- Kéo dài việc thực hiện dự án quá 6 tháng so với các mốc tiến độ ghi trong quyết định đầu tư (hoặc giấy phép đầu tư) mà không có lý do chính đáng.

 

Điều 20. Kinh phí lập dự án, thẩm định dự án đầu tư.

1. Dự án đầu tư thuộc nguồn vốn nào thì kinh phí cho việc lập thẩm định dự án tính trong nguồn vốn đó. Các dự án chưa xác định được nguồn vốn đầu tư thì chủ đầu tư sử dụng nguồn vốn hợp pháp của mình hoặc vay vốn Ngân hàng để thực hiện và sau khi xác định được nguồn vốn chính thức sẽ hoàn trả.

2. Mức kinh phí cho công tác tư vấn lập dự án, thẩm định dự án do Bộ Xây dựng quy định sau khi thống nhất với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ Tài chính.

 

CHƯƠNG III

THỰC HIỆN ĐẦU TƯ

 

Điều 21. Nội dung thực hiện dự án đầu tư có xây dựng.

1. Xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bao gồm cả mặt nước, mặt biển, thềm lục địa).

2. Chuẩn bị mặt bằng xây dựng.

3. Tổ chức chọn thầu tư vấn khảo sát, thiết kế, giám định kỹ thuật và chất lượng công trình.

4. Thẩm định thiết kế công trình.

5. Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị, thi công xây lắp.

6. Xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có).

7. Ký kết hợp đồng với các tổ chức, cá nhân có liên quan để thực hiện dự án.

8. Thi công xây lắp công trình.

9. Theo dõi kiểm tra việc thực hiện các hợp đồng.

 

Điều 22. Giao, nhận đất xây dựng.

1. Chủ đầu tư có nhu cầu sử dụng đất phải lập hồ sơ xin giao đất theo quy định của Nhà nước.

2. Thời gian xem xét giải quyết hồ sơ xin giao đất và ra quyết định giao đất của cơ quan có thẩm quyền không quá 25 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

3. Việc giao, nhận đất tại hiện trường được thực hiện khi chủ đầu tư đã nộp đủ tiền sử dụng đất, lệ phí địa chính và làm xong các thủ tục đền bù thiệt hại theo quy định của Nhà nước.

 

Điều 23. Chuẩn bị mặt bằng xây dựng.

1. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm chính về việc đền bù và giải toả mặt bằng xây dựng trước khi giao mặt bằng xây dựng cho đơn vị xây dựng. Chủ đầu tư có thể ký hợp đồng với tổ chức chuyên trách công tác đền bù và giải toả mặt bằng của địa phương để thực hiện nhiệm vụ này.

2. Công tác đền bù và giải toả mặt bằng được thực hiện theo quy định của Nhà nước.

 

Điều 24. Chọn thầu tư vấn khảo sát, thiết kế, giám định kỹ thuật và chất lượng công trình.

Việc chọn thầu tư vấn xây dựng được thực hiện theo Quy chế của Nhà nước. Trường hợp chọn thầu tư vấn quốc tế thực hiện theo thông lệ quốc tế, có tính đến điều kiện cụ thể của Việt Nam.

 

Điều 25. Thiết kế công trình.

1. Tài liệu hợp pháp dùng để thiết kế.

Các tài liệu về thăm dò, khảo sát địa hình, địa chất, thuỷ văn, khí tượng và các tài liệu khi dùng để thiết kế xây dựng các công trình phải do tổ chức chuyên môn có tư cách pháp nhân lập theo quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng của Nhà nước ban hành. Trường hợp áp dụng quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng của nước ngoài thì phải được Bộ Xây dựng chấp thuận.

2. Trình tự thiết kế.

Tuỳ theo tính chất kỹ thuật phức tạp của công trình mà thực hiện thiết kế 1 bước hoặc 2 bước.

- Công trình có yêu cầu kỹ thuật cao, có nền móng địa chất thuỷ văn phức tạp phải thực hiện thiết kế hai bước: thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công.

- Công trình kỹ thuật đơn giản hoặc đã có thiết kế mẫu, xử lý nền móng không phức tạp được thực hiện thiết kế 1 bước: thiết kế kỹ thuật thi công.

- Tổ chức thiết kế phải lập tổng dự toán phù hợp với thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế kỹ thuật thi công.

- Nội dung hồ sơ thiết kế từng bước được thực hiện theo quy định của Bộ Xây dựng.

 

Điều 26. Thẩm định và phê duyệt thiết kế.

Tất cả các dự án đầu tư xây dựng thuộc mọi nguồn vốn và thành phần kinh tế đều phải được thẩm định thiết kế.

1. Đối với các dự án đầu tư xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước:

- Thiết kế kỹ thuật các dự án thuộc nhóm A do Bộ trưởng quản lý ngành phê duyệt sau khi đã được các cơ quan chuyên môn thẩm định.

- Thiết kế kỹ thuật các dự án còn lại do Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư phê duyệt sau khi đã được cơ quan chuyên môn thẩm định. Riêng thiết kế kỹ thuật các dự án thuộc nhóm B của các cơ quan trực thuộc Chính phủ, các tổ chức, đoàn thể trực thuộc Trung ương do Bộ trưởng Bộ Xây dựng phê duyệt.

2. Đối với dự án có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, việc thẩm định thiết kế theo hướng dẫn riêng.

3. Đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, Bộ Xây dựng hướng dẫn Uỷ ban nhân dân tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương về việc phân cấp xét duyệt thiết kế cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.

Điều 27. Giấy phép xây dựng.

1. Những trường hợp được miễn Giấy phép xây dựng:

- Công trình thuộc dự án nhóm A đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư và Bộ trưởng quản lý ngành phê duyệt về thiết kế kỹ thuật.

- Công trình giao thông thuỷ lợi thuộc nhóm B và C đã được phê duyệt thiết kế kỹ thuật không đi qua đô thị và có sự thoả thuận của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

- Các trường hợp sửa chữa không làm thay đổi kết cấu, kiến trúc công trình mặt phố và không gây tranh chấp dân sự.

2. Thẩm quyền cấp Giấy phép xây dựng:

- Bộ trưởng Bộ Xây dựng cấp Giấy phép xây dựng các dự án đầu tư xây dựng liên tỉnh trên cơ sở các địa phương có liên quan xác nhận dự án đủ điều kiện cấp Giấy phép xây dựng.

- Việc cấp Giấy phép xây dựng mới, cải tạo, sửa chữa công trình trên đất đô thị thực hiện theo Nghị định số 91/CP ngày 17-8-1994 của Chính phủ.

- Giám đốc Sở xây dựng cấp Giấy phép xây dựng các dự án đầu tư xây dựng không thuộc đất đô thị.

- Chủ tịch quận, huyện, thị xã cấp Giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ và công trình xây dựng mới có vốn đầu tư dưới 500 triệu đồng.

3. Hồ sơ xin cấp Giấy phép xây dựng (hoặc sửa chữa):

- Đơn xin phép xây dựng (hoặc sửa chữa).

- Hồ sơ thiết kế công trình.

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp.

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà hợp pháp (nếu sửa chữa cải tạo nhà).

4. Thời hạn có hiệu lực của Giấy phép xây dựng.

Sau 12 tháng kể từ ngày được cấp Giấy phép xây dựng mà chủ đầu tư chưa khởi công xây dựng công trình thì Giấy phép xây dựng không còn giá trị.

5. Sửa đổi bổ sung Giấy phép xây dựng.

- Khi có nhu cầu sửa đổi, bổ sung Giấy phép xây dựng, chủ đầu tư phải có văn bản đề nghị cấp có thẩm quyền cấp Giấy phép xây dựng xem xét.

- Chỉ cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép xây dựng mới được quyền sửa đổi, bổ sung Giấy phép xây dựng.

 

Điều 28. Giấy phép khai tác tài nguyên.

Trường hợp dự án đầu tư có nhu cầu khai thác tài nguyên thì chủ đầu tư phải xin phép khai thác tài nguyên theo Nghị định số 95/HĐBT ngày 23-3-1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc thi hành Pháp lệnh tài nguyên khoáng sản. Điều 29. Đấu thầu dự án.

1. Các dự án đầu tư thuộc sở hữu Nhà nước đều phải tổ chức đấu thầu hoặc chọn thầu theo quy chế do Nhà nước ban hành (bao gồm đấu thầu hoặc chọn thầu mua sắm thiết bị; xây lắp; và tư vấn) trừ các dự án sau đây thực hiện phương thức chỉ định thầu.

- Dự án có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm.

- Dự án có tính cấp bách do thiên tai, địch hoạ.

- Dự án có giá trị nhỏ dưới 500 triệu đồng.

- Dự án có tính đặc thù của một số ngành được Thủ tướng Chính phủ cho phép.

Cơ quan tài chính hoặc ngân hàng các cấp không cấp vốn hoặc cho vay vốn đối với dự án mà Chủ đầu tư tự tiện giao thầu trái với quy định trên, đồng thời xử lý các vấn đề có liên quan tuỳ theo mức độ vi phạm của chủ đầu tư.

2. Tuỳ theo quy mô, tính chất, loại hình các dự án và những điều kiện cụ thể của mỗi dự án, có thể tổ chức đấu thầu hoặc chọn thầu toàn bộ dự án, hoặc từng công trình, hạng mục công trình, hay loại công tác có khối lượng lớn.

3. Việc tổ chức đấu thầu quốc tế các dự án nói trên được tổ chức tại Việt Nam.

 

Điều 30. Hợp đồng kinh tế về tư vấn, mua sắm thiết bị và xây lắp.

Việc tư vấn, mua sắm thiết bị và xây lắp đều thực hiện thông qua hợp đồng giữa chủ đầu tư (hoặc người được uỷ quyền hợp pháp) với các tổ chức tư vấn, kinh doanh thiết bị và doanh nghiệp xây lắp có đủ tư cách pháp nhân đúng ngành nghề theo đăng ký được cấp. Trước khi ký các hợp đồng trên, Chủ đầu tư (hoặc người được uỷ quyền hợp pháp) phải làm căn cứ vào tiến độ thực hiện dự án, chuẩn bị các điều kiện để tổ chức đấu thầu hoặc chọn thầu theo quy định của Nhà nước hoặc thông lệ quốc tế tuỳ theo nguồn vốn đầu tư của dự án.

 

Điều 31. Điều kiện khởi công công trình.

Tất cả các công trình muốn khởi công phải có đủ các điều kiện dưới đây:

- Có Giấy phép xây dựng (đối với các dự án có Giấy phép xây dựng).

- Có thiết kế kỹ thuật (riêng đối với các công trình thuộc sở hữu Nhà nước phải có tổng dự toán được cấp có thẩm quyền duyệt). Trường hợp đối với các dự án xây dựng quy mô lớn. Thời gian xây dựng dài mà chưa đủ điều kiện lập tổng dự toán thì phải có thiết kế kỹ thuật và dự toán được duyệt theo giai đoạn, hoặc hạng mục công trình khởi công.

- Có hợp đồng giao nhận thầu hợp lệ.

 

Điều 32. Quản lý kỹ thuật và chất lượng xây dựng.

1. Các tổ chức khảo sát, thiết kế phải tổ chức thực hiện chặt chẽ việc xét duyệt nội bộ từng đồ án. Từng đồ án thiết kế có chủ nhiệm đồ án chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về chất lượng và hiệu quả đồ án đó. Thực hiện chế độ giám sát tác giả, chủ nhiệm đồ án phối hợp chặt chẽ với chủ đầu tư và doanh nghiệp xây dựng giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh trong quá trình xây dựng để đảm bảo chất lượng.

2. Các doanh nghiệp xây dựng chịu trách nhiệm trước Nhà nước và chủ đầu tư về kỹ thuật, chất lượng xây lắp công trình. Doanh nghiệp xây dựng có bộ phận kiểm tra kỹ thuật và chất lượng để thực hiện công tác quản lý kỹ thuật và chất lượng xây lắp; cùng với chủ đầu tư, tổ chức thiết kế, tổ chức giám sát thực hiện việc lập hồ sơ nghiệm thu kiểm tra chất lượng từng công việc, từng hạng mục và toàn bộ công trình.

3. Chủ đầu tư có trách nhiệm thực hiện hoặc thuê tổ chức tư vấn thực hiện việc giám định chất lượng xây dựng trong quá trình thi công xây lắp.

4. Bộ Xây dựng là cơ quan chức năng thống nhất quản lý Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng, phối hợp với các Bộ chuyên ngành để ban hành hoặc phân cấp ban hành các quy định về quản lý chất lượng công trình chuyên ngành.

5. Sở Xây dựng là cơ quan giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chức năng thống nhất quản lý Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh, thành phố, có trách nhiệm phối hợp với các Sở chuyên ngành hướng dẫn và tổ chức việc thanh tra, kiểm tra, giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh, thành phố.

 

Điều 33. Nghiệm thu công trình.

Công tác nghiệm thu công trình phải tiến hành từng đợt, ngay sau khi làm xong những khối lượng công trình khuất, những kết cấu chịu lực, những bộ phận hay hạng mục công trình và toàn bộ công trình.

 

Điều 34. Cấp vốn và thanh toán.

1. Việc cấp phát, cho vay, thanh toán vốn đầu tư các dự án chỉ định thầu căn cứ theo giá trị khối lượng thực hiện được nghiệm thu hàng tháng, nhưng phải nằm trong phạm vi kế hoạch vốn đầu tư hàng năm và có ghi trong hợp đồng kinh tế và trong mức tổng dự toán của dự án được duyệt.

Đối với dự án xây dựng theo phương thức đấu thầu và chọn thầu thì việc tạm ứng vốn đầu tư và thể thức thanh toán được thực hiện theo quy chế đấu thầu và chọn thầu.

Đối với các hợp đồng tư vấn xây dựng được tạm ứng ít nhất 25% giá trị hợp đồng tư vấn.

2. Trong năm kết thúc dự án chủ đầu tư chỉ được cấp phát hoặc cho vay tối đa là 95% giá trị khối lượng năm kế hoạch. Số tiền 5% còn lại chủ đầu tư thanh toán ngay sau khi có báo cáo quyết toán được duyệt.

3. Công tác cải tạo, sửa chữa các công trình, các chương trình mục tiêu do Chính phủ quyết định được chi từ nguồn vốn sự nghiệp có tính chất xây dựng cơ bản của Ngân sách Nhà nước cũng được áp dụng cơ chế cấp phát và thanh toán theo quy định của Điều lệ này.

Điều 35. Quyết toán vốn đầu tư.

1. Hàng năm, chủ đầu tư phải báo cáo vốn đầu tư thực hiện với cơ quan cấp phát hoặc cho vay vốn. Khi dự án hoàn thành (công trình hoặc hạng mục công trình) chủ đầu tư phải gửi báo cáo quyết toán vốn đầu tư cho cơ quan cấp phát, hoặc cho vay vốn và cơ quan quyết định đầu tư.

2. Dự án đầu tư bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, trong báo cáo quyết toán phải phân tích rõ từng nguồn vốn.

3. Các dự án đầu tư kéo dài nhiều năm, khi quyết toán chủ đầu tư phải quy đổi vốn đầu tư đã thực hiện về mặt bằng giá tại thời điểm bàn giao đưa vào vận hành để xác định giá trị tài sản cố định mới tăng và giá trị tài sản bàn giao.

Bộ Xây dựng có trách nhiệm hướng dẫn phương pháp quy đổi giá thống nhất trong từng thời kỳ để các chủ đầu tư thực hiện khi quyết toán.

4. Chậm nhất là 1 tháng sau khi kết thúc năm kế hoạch, chủ đầu tư phải hoàn thành báo cáo vốn đầu tư thực hiện của năm trước gửi cơ quan cấp phát hoặc cho vay vốn là Bộ hoặc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Chậm nhất là 6 tháng sau khi dự án đầu tư hoàn thành đưa vào vận hành, chủ đầu tư phải hoàn thành báo cáo quyết toán vốn đầu tư gửi cơ quan cấp phát hoặc cho vay vốn, các cơ quan có chức năng thẩm tra quyết toán của Bộ hoặc tỉnh và cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quyết toán.

5. Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn thời gian lập quyết toán, nội dung báo cáo quyết toán, nội dung thẩm tra và phê duyệt quyết toán vốn đầu tư các dự án thuộc sở hữu Nhà nước.

 

Điều 36. Thẩm tra và phê duyệt quyết toán.

1. Trước khi phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành phải tiến hành thẩm tra:

- Đối với các dự án thuộc nhóm A, Bộ Tài chính có trách nhiệm chủ trì thẩm tra.

- Đối với các dự án còn lại do các Bộ hoặc tỉnh tổ chức việc thẩm tra.

Cơ quan tài chính có trách nhiệm kiểm tra và có ý kiến nhận xét bằng văn bản trước khi cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán.

2. Phê duyệt quyết toán:

- Đối với dự án đầu tư hoàn thành (công trình hoặc hạng mục công trình) người có thẩm quyền quyết định đầu tư đồng thời là người phê duyệt quyết toán.

Riêng các dự án thuộc nhóm A, Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt quyết toán.

- Đối với vốn đầu tư thực hiện hàng năm, cơ quan cấp phát hoặc cho vay vốn tiến hành kiểm tra số vốn đã sử dụng theo kế hoạch được duyệt.

3. Chi phí thẩm tra và duyệt quyết toán được tính trong vốn đầu tư của dự án, do Bộ Tài chính quy định.

CHƯƠNG IV

KẾT THÚC XÂY DỰNG ĐƯA DỰ ÁN VÀO KHAI THÁC SỬ DỤNG

 

 

Điều 37. Nội dung công việc của giai đoạn kết thúc xây dựng, đưa dự án vào khai thác sử dụng.

1. Bàn giao công trình.

2. Kết thúc xây dựng.

3. Bảo hành công trình.

4. Vận hành dự án.

 

Điều 38. Bàn giao công trình.

1. Công trình xây dựng chỉ được bàn giao cho người sử dụng khi đã xây lắp hoàn chỉnh theo thiết kế được duyệt và nghiệm thu đạt yêu cầu chất lượng (kể cả việc hoàn thiện nội ngoại thất công trình và thu dọn vệ sinh mặt bằng).

2. Khi bàn giao công trình, phải giao cả hồ sơ hoàn thành công trình và những vấn đề có liên quan đến công trình được bàn giao.

3. Các hồ sơ về xây dựng công trình phải nộp lưu trữ theo các quy định về lưu trữ của Nhà nước.

 

Điều 39. Kết thúc xây dựng.

1. Hoạt động xây dựng được kết thúc khi công trình đã bàn giao cho chủ đầu tư.

2. Sau khi bàn giao công trình, người xây dựng phải thanh lý hoặc di chuyển hết tài sản của mình ra khỏi khu vực xây dựng công trình và trả lại đất mượn hoặc thuê để phục vụ thi công theo quy định của hợp đồng.

3. Nghĩa vụ theo hợp đồng xây dựng được chấm dứt hoàn toàn khi hết thời hạn bảo hành công trình.

 

Điều 40. Bảo hành công trình.

1. Người cung cấp tài liệu, số liệu khảo sát (kể cả sản phẩm sao chụp, đo vẽ, thí nghiệm) phục vụ thiết kế, xây lắp, nghiệm thu, giám định công trình; Chủ nhiệm đề án thiết kế; Chủ nhiệm xây lắp, người cung ứng vật tư thiết bị cho xây dựng và người giám sát xây dựng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về trách nhiệm sản phẩm hoặc kết quả công tác do mình thực hiện.

2. Thời hạn bảo hành: quyền, nghĩa vụ của các bên; thủ tục thực hiện tranh tụng về các quyền và nghĩa vụ đó, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy dịnh:

- Đối với sản phẩm khảo sát, thiết kế xây lắp công trình, do Bộ Xây dựng quy định.

- Đối với các loại vật tư, thiết bị là sản phẩm hàng hoá công nghiệp do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường quy định.

 

Điều 41. Vận hành dự án.

Sau khi nhận bàn giao công trình, Chủ đầu tư có trách nhiệm khai thác, sử dụng năng lực công trình, đồng bộ hoá tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; hoàn thiện tổ chức và phương pháp quản lý, nhằm phát huy đầy đủ các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật đề ra trong dự án.

 

Điều 42. Hoàn trả vốn đầu tư.

1. Thu hồi vốn đầu tư là nguyên tắc bắt buộc đối với tất cả các dự án đầu tư có khả năng thu hồi vốn.

2. Đối với các dự án đầu tư bằng vốn Ngân sách Nhà nước, tín dụng ưu đãi, tín dụng ngân hàng, vốn đầu tư của các doanh nghiệp mà chủ đầu tư có trách nhiệm hoàn trả vốn hoặc trả nợ vay thì nguồn vốn để thu hồi và trả nợ vay bao gồm: toàn bộ khấu hao cơ bản, một phần lợi nhuận và các nguồn vốn khác (nếu có).

Trường hợp không thu hồi được vốn và hoàn trả hết nợ vay, Chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm theo pháp luật hiện hành.

3. Đối với những dự án do doanh nghiệp trực tiếp vay của nước ngoài có bảo lãnh của Nhà nước, thì doanh nghiệp có trách nhiệm trả theo hợp đồng vay vốn. Trường hợp doanh nghiệp không có khả năng trả hết nợ mà đã quá hạn thì cơ quan bảo lãnh phải chịu trách nhiệm trả nợ thay, đồng thời có quyền phát mại tài sản doanh nghiệp theo quy định tại Luật phá sản doanh nghiệp.

 

CHƯƠNG V

CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC QUẢN LÝ THỰC HIỆN DỰ ÁN

 

 

Điều 43. Các hình thức tổ chức quản lý thực hiện dự án.

Tuỳ theo điều kiện cụ thể của dự án (công trình) có thể áp dụng các hình thức quản lý sau:

- Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án.

- Chủ nhiệm điều hành dự án.

- Chìa khoá trao tay.

- Tự làm.

 

 

Điều 44. Hình thức chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án.

Chủ đầu tư tổ chức chọn thầu và trực tiếp ký hợp đồng với một hoặc nhiều tổ chức tư vấn để thực hiện công tác khảo sát, thiết kế công trình, soạn thảo hồ sơ mời thầu, tổ chức đấu thầu hoặc chọn thầu. Sau khi chủ đầu tư ký hợp đồng với đơn vị trúng thầu xây lắp, nhiệm vụ giám sát, quản lý quá trình thi công đảm bảo tiến độ và chất lượng công trình vẫn do tổ chức tư vấn đã được lựa chọn đảm nhận.

 

Điều 45. Hình thức chủ nhiệm điều hành dự án.

1. Chủ đầu tư tổ chức chọn thầu và ký hợp đồng với một tổ chức tư vấn thay mình làm chủ nhiệm điều hành dự án đứng ra giao dịch, ký kết hợp đồng với các tổ chức khảo sát, thiết kế, cung ứng vật tư, thiết bị, xây lắp để thực hiện các nhiệm vụ của quá trình thực hiện dự án, đồng thời chịu trách nhiệm giám sát, quản lý toàn bộ quá trình thực hiện dự án.

2. Hình thức này chỉ áp dụng đối với các dự án có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp và thời hạn xây dựng dài.

 

Điều 46. Hình thức chìa khoá trao tay.

1. Chủ đầu tư tổ chức đấu thầu dự án để lựa chọn một nhà thầu (tổng thầu xây dựng) thực hiện toàn bộ việc thực hiện dự án (thiết kế, mua sắm vật tư, thiết bị, xây lắp...). Chủ đầu tư chỉ trình duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán, nghiệm thu và nhận bàn giao khi dự án hoàn thành đưa vào sử dụng. Tổng thầu xây dựng có thể giao thầu lại việc khảo sát, thiết kế, mua sắm thiết bị hoặc một phần khối lượng công tác xây lắp cho các nhà thầu phụ.

2. Hình thức này thường được áp dụng trong việc xây dựng các công trình nhà ở, công trình dân dụng và công trình sản xuất kinh doanh có quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản. Đối với những công trình (dự án) có đủ điều kiện có thể áp dụng hình thức này.

 

Điều 47. Hình thức tự làm.

1. Chủ đầu tư sử dụng lực lượng được phép hành nghề xây dựng của mình để thực hiện khối lượng xây lắp công trình.

2. Hình thức này chỉ áp dụng đối với các công trình sửa chữa, cải tạo quy mô nhỏ, công trình chuyên ngành đặc biệt (xây dựng nông lâm nghiệp...).

 

Điều 48. Tổ chức tư vấn đầu tư xây dựng.

Tổ chức tư vấn đầu tư xây dựng bao gồm các công ty tư vấn chuyên nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được thành lập và hoạt động theo luật định; các cơ quan nghiên cứu có tư cách pháp nhân và được phép hành nghề tư vấn về đầu tư và xây dựng. Các tổ chức tư vấn nêu trên tuỳ theo năng lực có thể thực hiện việc lập hoặc thẩm định các dự án (tiền khả thi, khả thi); thiết kế, tổng dự toán, soạn thảo hồ sơ mời thầu, tổ chức đấu thầu, giám sát và quản lý quá trình thi công xây lắp, nghiệm thu công trình và cũng có thể ký hợp đồng lại với các tổ chức tư vấn khác để thực hiện một phần nhiệm vụ của công tác tư vấn.

 

CHƯƠNG VI

QUẢN LÝ GIÁ XÂY DỰNG

 

 

Điều 49. Nguyên tắc lập và quản lý giá xây dựng.

1. Nhà nước thực hiện quản lý giá xây dựng thông qua việc ban hành các chế độ chính sách về giá, các nguyên tắc phương pháp lập dự toán, các căn cứ (định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá xây dựng, suất vốn đầu tư...) để xác định tổng mức vốn đầu tư của dự án, tổng dự toán công trình (hoặc dự án) và dự toán hạng mục công trình.

2. Tất cả các dự án thuộc sở hữu Nhà nước đều phải lập đủ các tài liệu dự toán xác định chi phí cần thiết của dự án, giá xây dựng các công trình. Các chủ đầu tư, các tổ chức tư vấn phải căn cứ vào những quy định quản lý giá xây dựng của Nhà nước để lập, thẩm định và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt tổng dự toán, dự toán hạng mục làm căn cứ để xét thầu các dự án thuộc sở hữu Nhà nước. Các doanh nghiệp nhận thầu xây dựng căn cứ vào những quy định quản lý giá xây dựng của Nhà nước để tham khảo khi xác định giá dự thầu của doanh nghiệp mình.

3. Giá thanh toán công trình (hoặc dự án) là giá trúng thầu và các điều kiện được ghi trong hợp đồng giữa chủ đầu tư và các doanh nghiệp xây dựng.

 

Điều 50. Quản lý Nhà nước về giá xây dựng.

Bộ Xây dựng chủ trì cùng các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan có trách nhiệm quản lý thống nhất về giá xây dựng (các định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá tổng hợp, giá chuẩn, giá tư vấn: khảo sát, thiết kế, quy hoạch, thiết kế xây dựng) và trực tiếp quản lý định mức, đơn giá các công trình thuộc các dự án nhóm A của Nhà nước làm căn cứ để xác định giá xét thầu (khi đấu thầu hoặc chọn thầu) và xác định đơn giá thanh toán (trường hợp Nhà nước chỉ định thầu).

 

Điều 51. Quản lý tổng dự toán các dự án thuộc sở hữu Nhà nước.

1. Bộ trưởng Bộ Xây dựng chủ trì thẩm định tổng dự toán các dự án thuộc nhóm A trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, uỷ quyền Bộ trưởng quản lý ngành phê duyệt.

2. Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư các dự án thuộc nhóm B và C phê duyệt tổng dự toán sau khi đã được cơ quan chuyên môn thẩm định.

Riêng tổng dự toán các dự án thuộc nhóm B của các cơ quan trực thuộc Chính phủ, các tổ chức, đoàn thể trực thuộc Trung ương do Bộ trưởng Bộ Xây dựng phê duyệt.

3. Đối với các công trình thực hiện phương thức đấu thầu và chọn thầu thì giá trúng thầu không được vượt quá tổng dự toán được duyệt.

4. Đối với các công trình được phép chỉ định thầu thì giá thanh toán trong những trường hợp thực sự cần thiết chỉ được vượt dưới 5% tổng dự toán được duyệt và phải được cấp phê duyệt tổng dự toán chấp thuận.

5. Trường hợp tổng dự toán thay đổi từ nhóm B lên nhóm A hoặc từ nhóm C lên nhóm B thì chủ đầu tư phải trình duyệt lại báo cáo nghiên cứu khả thi với đúng cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư.

 

Điều 52. Bảo hiểm công trình xây dựng.

1. Khi tiến hành đầu tư và xây dựng chủ đầu tư phải mua bảo hiểm công trình tại một Công ty bảo hiểm được phép hoạt động hợp pháp ở Việt Nam. Đối với các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài phải mua bảo hiểm theo quy định trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

2. Chi phí bảo hiểm công trình là một bộ phận vốn đầu tư của dự án. Chi phí bảo hiểm tính theo tỷ lệ % so với giá trị công trình.

3. Các tổ chức nhận thầu, xây lắp, các tổ chức tư vấn mua bảo hiểm cho vật tư thiết bị, nhà xưởng phục vụ thi công, bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba, bảo hiểm cho sản phẩm khảo sát, thiết kế trong quá trình thực hiện dự án. Phí bảo hiểm tính vào chi phí sản xuất.

4. Các điều kiện và qui định bảo hiểm quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia bảo hiểm do các bên thoả thuận nhưng không được trái với quy định của luật pháp Việt Nam, tập quán quốc tế và hướng dẫn của Bộ Tài chính.

 

CHƯƠNG VII

THANH TRA, KIỂM TRA VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

 

 

Điều 53. Thanh tra, kiểm tra các hoạt động đầu tư và xây dựng.

1. Tất cả các hoạt động đầu tư và xây dựng thuộc mọi tổ chức có liên quan đều phải chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chức năng Nhà nước theo từng lĩnh vực quản lý.

2. Tuỳ theo tình hình cụ thể của từng dự án đầu tư, có thể thanh tra, kiểm tra từng khâu hoặc tất cả các khâu của quá trình đầu tư xây dựng.

 

Điều 54. Xử lý vi phạm đối với chủ đầu tư.

1. Chủ đầu tư phải thực hiện đúng quy định của Nhà nước về quản lý dự án đầu tư quy định trong Điều lệ này, nếu vi phạm gây thiệt hại sẽ bị xử phạt hành chính, hoặc bị truy tố trước pháp luật tuy theo mức độ vi phạm.

2. Khi chủ đầu tư không làm tròn trách nhiệm của mình ghi trong hợp đồng kinh tế với các tổ chức nhận thầu (tư vấn, mua sắm thiết bị, xây lắp) thì chủ đầu tư phải trả cho các tổ chức nhận thầu tiền phạt vi phạm hợp đồng và trong trường hợp có thiệt hại thì còn phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp lệnh Hợp đồng kinh tế.

3. Khi chủ đầu tư vi phạm nghiêm trọng các quy định ghi trong Giấy phép xây dựng, gây ô nhiễm độc hại đến môi trường xung quanh, có nguy cơ sụp đổ công trình bên cạnh được cơ quan giám định kỹ thuật xác định sẽ bị thu hồi Giấy phép xây dựng và xử lý các việc vi phạm.

 

Điều 55. Xử lý vi phạm đối với các tổ chức (cá nhân) thẩm định dự án, thiết kế, tổng dự toán và tổng quyết toán.

Tổ chức cá nhân thẩm định chịu trách nhiệm trước cơ quan quyết toán đầu tư về độ chính xác của các tài liệu, số liệu và kết luận trong báo cáo kết quả thẩm định của mình. Trường hợp người có thẩm quyền quyết định sai (gây sự cố, lãng phí hoặc không có hiệu quả kinh tế, xã hội) vì các tài liệu, số liệu và kết luận của các tổ chức (cá nhân) thẩm định thiếu chính xác thì tổ chức (cá nhân) thẩm định đó bị xử lý hành chính hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Người có thẩm quyền quyết định sai về chủ trương đầu tư, địa điểm xây dựng, v.v... gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, xã hội, môi trường thì người ký quyết định chịu trách nhiệm trước pháp luật.

 

Điều 56. Xử lý vi phạm đối với các tổ chức tư vấn, cung ứng thiết bị, xây lắp.

1. Trường hợp phát hiện có nguy cơ mất an toàn lao động khi xây dựng, hay các tổ chức xây dựng vi phạm nhiều lần các quy định về an toàn lao động, cơ quan quản lý xây dựng, thanh tra an toàn xây dựng có quyền tạm thời đình chỉ thi công.

Việc tạm thời đình chỉ thi công sẽ hết hiệu lực khi các tổ chức xây dựng đã khắc phục được nguy cơ hoặc vi phạm đó.

2. Những sai phạm lớn về kỹ thuật do tổ chức tư vấn hoặc tổ chức xây lắp gây nên làm giảm sút nghiêm trọng chất lượng của dự án (công trình) gây sụp đổ, hư hại, kể cả các trường hợp xảy ra khi đưa dự án (công trình) vào khai thác sử dụng thì tổ chức tư vấn và Chủ nhiệm đề án thiết kế hoặc tổ chức xây lắp phải bồi thường thiệt hại và bị truy tố trước pháp luật.

3. Nếu tổ chức tư vấn, tổ chức cung ứng thiết bị xây lắp không thực hiện đúng hợp đồng về chất lượng, tiến độ thì phải chịu bù đắp mọi tổn thất và phải chịu mức phạt. Mức phạt cụ thể (không bao gồm chi phí đền bù, sửa chữa hư hỏng...) do các bên thống nhất ghi trong hợp đồng kinh tế nhưng tổng số không quá 10% chi phí của phần công tác tư vấn hoặc 5% đối với phần giá trị thiết bị từ lợi nhuận thuộc quyền sử dụng của đơn vị, sau khi đã thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước.

 

Điều 57. Xử phạt đối với cá nhân.

Đối với những cá nhân thuộc cơ quan chủ đầu tư, các tổ chức tư vấn, cung ứng thiết bị vật tư thi công xây lắp và các cơ quan quản lý có liên quan khi vi phạm phải chịu những hình thức xử phạt hành chính, bồi thường vật chất hoặc bị truy tố trước pháp luật tuỳ theo mức độ vi phạm.

CHƯƠNG VIII

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

 

Điều 58. Bản điều lệ này thay thế cho bản điều lệ quản lý xây dựng cơ bản ban hành kèm theo Nghị định số 385/HĐBT ngày 07-11-1990 và Điều lệ lập, thẩm tra, xét duyệt thiết kế các công trình xây dựng ban hành kèm theo Nghị định số 237/HĐBT ngày 19-9-1985 của Hội đồng Bộ trưởng.

 

Điều 59. Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thực hiện đầy đủ bản Điều lệ này.

Bộ trưởng Bộ Xây dựng cùng với Thủ trưởng các Bộ có liên quan trình Chính phủ ban hành các văn bản cần thiết kèm theo bản Điều lệ này và chịu trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi kiểm tra việc thi hành.

 

Điều 60. Bản Điều lệ này có hiệu lực kể từ ngày ban hành và áp dụng đối với mọi thành phần kinh tế trong cả nước.

thuộc tính Nghị định 177-CP

Nghị định 177-CP của Chính phủ về việc ban hành Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng
Cơ quan ban hành: Chính phủSố công báo:Đang cập nhật
Số hiệu:177-CPNgày đăng công báo:Đang cập nhật
Loại văn bản:Nghị địnhNgười ký:Võ Văn Kiệt
Ngày ban hành:20/10/1994Ngày hết hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Ngày hết hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Áp dụng:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản để xem Ngày áp dụng. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Tình trạng hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Lĩnh vực:Đầu tư , Xây dựng
TÓM TẮT VĂN BẢN

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

tải Nghị định 177-CP

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tình trạng hiệu lực: Đã biết

THE GOVERNMENT
-------
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom – Happiness
---------
No: 177-CP
Hanoi, October 20, 1994
 DECREE
ON THE PROMULGATION OF THE REGULATION ON THE MANAGEMENT OF INVESTMENT AND CONSTRUCTION
THE GOVERNMENT
Pursuant to the Law on Organization of the Government on the 30th of September, 1992;
At the proposals of the Minister of Construction, the Minister of Finance and the Minister-Chairman of the State Planning Committee:
DECREES:
Article 1.- To issue together with this Decree the Regulation on the Management of Investment and Construction in replacement of the Regulation on the Management of Capital Construction issued together with Decree No. 385-HDBT on the 7th of November 1990, and the Regulation on the Drawing up, Inspection and Approval of Construction Designs issued together with Decree No. 237-HDBT on the 19th of September 1985 by the Council of Ministers.
Article 2.- This Decree takes effect on the date of its signing.
Article 3.- The Minister-Chairman of the State Planning Committee, the Minister of Construction and the Minister of Finance shall have to direct the detailed implementation of the Regulation on the Management of Investment and Construction issued together with this Decree.
Article 4.- The Ministers, the Heads of ministerial-level agencies, the agencies attached to the Government and the Presidents of the People's Committees of the provinces and cities directly under the Central Government shall have to implement this Decree.
 

 
ON BEHALF OF THE GOVERNMENT
PRIME MINISTER




Vo Van Kiet
 
REGULATION
ON THE MANAGEMENT OF INVESTMENT AND CONSTRUCTION (ISSUED TOGETHER WITH DECREE No. 177-CP OF THE GOVERNMENT ON THE 20th OF OCTOBER, 1994)
Chapter I
GENERAL PROVISIONS
Article 1.- Definition:
In this Regulation, the following terms are understood as follows:
1. Management of investment and construction: To manage investment and construction is to exercise State management of the process of investment and construction from the determination of the investment project to the implementation of the investment and also of the process of putting the project into operation and use according to the set objective.
2. Investment project: An investment project is an assortment of suggestions concerning the disbursement of capital to create, expand or transform given objects aimed at realizing an increment in quality or an improvement or upgrading of the quality of a certain product or services in a given period.
3. Construction projects: A construction project is a product of the construction and assembly technology associated with land (including water area, the sea and the continental shelf) created by construction materials, equipment and labor.
A construction project may consist of one or many installations in a synchronous technological chain (this may include cooperation in production) in order to produce the end-product stated in the project.
4. Investor: The investor is the owner of the capital. An investor may be an organization or an individual who contributes the whole or part of the capital and takes responsibility for mobilizing the remaining part of the capital to invest as prescribed by law.
In case the investment capital of the project is chiefly owned by the State, the investor is the one who is granted the decision on investment right from the moment the project is drawn up and who is given the responsibility of directly using the capital.
5. Total investment: Total investment is the investment projected to be spent on the whole process of investment aimed at achieving the objective of investment in order to put the project into operation and use according to the requirement of the project (including allowance made for an increase of prices).
6. Total estimated cost of the project: Total estimated cost is the total expenditures necessary for the investment in the project which is minutely calculated in the stage of technocal designing. This total estimated cost comprises expenditures related to the survey, designing, construction, purchase of equipment; expenditures in the use of the land on which compensation is to be made for the displacement of former constructions or for clearing the ground; expenditures on out-houses, working offices, the temporary dwelling of the construction workers in large-scale constructions; and other expenditures, including reserve expenditures (including allowance made for an increase of prices).
7. Statement of accounts concerning the investment capital: An investment capital account is the whole of lawful expenditures already made in the process of investment aimed at putting the project into operation or use (not counting the expenditures to overcome consequences of natural disasters and enemy sabotage and unreasonable and unlawful expenditures).
8. Construction norms: The construction norms are the legal documents concerning the regulations on technical conditions which must be used in the designing of the project construction, the management of civil and industrial projects.
9. Construction criteria: Construction criteria are prescribed technical norms in the carrying out of survey, designing, assembly and construction and test operation on completion, in order to ensure the quality of the project. They differ from one branch of construction to another and are issued by the State or the managing board of the controlling ministries of the specialized construction services.
Article 2.- Fundamental requirements in the management of investment and construction:
1. To ensure strict implementation of the objectives of the socio-economic development strategy in each period along the socialist orientation. To achieve economic restructuring along the line of industrialization-modernization, to accelerate the economic growth rate, and to improve the material and cultural life of the people.
2. To mobilize and make the most effective use of domestic and foreign sources of investment in Vietnam, to make good use of the natural resources, labor and land potentials and all other potentials while protecting the ecological environment.
3. All construction must comply with the approved plans, have rational advanced and beautiful designs and apply advanced construction technology. The construction and assembly must conform to the schedule, achieve high quality with reasonable expenditures and adopt the system of construction guaranty.
Article 3.- Fundamental principles of the management of investment and construction:
1. The management of investment and construction must ensure the creation of products and services accepted by the society and market in terms of prices and quality and meeting the objectives of socio-economic development in each period.
2. Realization of unified State management in terms of mechanism, policies and economic and technical norms for the whole process of investment and construction from general planning and planning to the mobilization and utilization of capital, selection of technology, architecture and design solutions, technical design, assembly, insurance and guaranty of the project.
3. Strict compliance with the order of investment and construction.
4. Clear delineation of the function of State management from the management of production and business. Clear definition of the responsibilities of the State management agencies, the investors, the consultancy organizations, the construction businesses, and the material and equipment supply businesses in the process of investment and construction.
Article 4.- Order in investment and construction:
All investments and constructions shall have to follow this three-period order:
1. Preparation for investment;
2. Carrying out of investment;
3. Completion of construction and putting the product into operation or use.
Article 5.- Classification of investment projects:
Depending on their character and scale, the investment projects are divided into three groups, A, B and C. The characteristics of each group are defined in the Appendix issued together with this Regulation (except for the projects using direct foreign investments which shall have a separate regulation).
Article 6.- State managerial responsibility in investment and construction:
1. The Government exercises unified management of investment and construction by all economic sectors according to law and in conformity with the strategy for socio-economic development, defense and security and with the set general program and plan. The Government shall promulgate policies on the management of investment and construction policies to encourage investment in different areas and sectors of the economy, and preferential policies in investment as well as in the mechanism of capital mobilization and retrieval.
2. The Prime Minister shall decide the investment projects in Group A and empowers the ministers, the heads of ministerial-level agencies, and the Presidents of the People's Committees in the provinces and cities directly under the Central Government to decide the investment in the projects of Group B and Group C as prescribed by this Regulation. With regard to the projects in Group B, before the investment decision is made, thy must have the approval of the Minister-Chairman of the State Committee. With regard to the investment projects of the agencies attached to the Government or the organizations and agencies attached to the Central Government, the Prime Minister shall empower the heads of these agencies to decide on the investment in the projects in Group C. The Prime Minister shall empower the Minister-Chairman of the State Planning Committee to decide on the investment in the projects in Group B.
3. The State Planning Committee:
The State Planning Committee shall have to study the mechanism and policies on the management of investment, work out the strategic aims and the socio-economic development plans in each region and territory, determine the investment structures and the list of priority projects and submit them to the Prime Minister for examination, approval and promulgation, or it may be empowered by the Prime Minister to promulgate them. The Committee shall have to balance the resources to ensure the needs of investment according to the development targets and the economic structure; direct the elaboration of the projects, preside over the expertise of the investment projects in Group A and submit them to the Prime Minister for decision to invest; inspect and supervise the implementation of the investment plan funded by sources under State management; ensure the necessary factors for the realization of the plan of putting part by part the results of investment into operation.
4. The Ministry of Construction:
The Ministry of Construction shall have to study the mechanism and polcies on the management of construction and the plan for rural and urban construction and submit them to the Prime Minister for approval and promulgation. It may also have to issue or agree with specialized construction services to issue the norms, rules and regulations on the management of quality of construction and the construction economics (the system of economic and technical norms and targets, the general unit price) it shall also preside over the expertise the total estimate of expenditures of projects in Group A and submit them to the Prime Minister for examination before empowering the Minister of the controlling ministry to approve it. The Ministry of Construction shall exercise unified State management of consultancy work in construction investment and the business of construction and assembly, and the management and guidance for the organization of bidding and selection of consultants in bidders in construction and assembly.
5. The Ministry of Finance:
The Ministry of Finance shall have to study the mechanism of managing the investment capital sources, the distribution of the total capital from the annual State investment budget and the measures to ensure its balance, then submit them to the Prime Minister for examination and promulgation or it may be empowered by the Prime Minister to promulgate them. The Ministry of Finance shall manage and allocate the State investment budget and preferential credits from the State investment budget and preferential credits from the State budget to the projects and program targets defined by the Government or re-loan to the businesses through the chosen bank. It shall inform the investors of the plan of annual budget allocation with regard to the projects which meet the conditions currently prescribed. The Ministry shall also ensure the State budget capital and preferential credits for the projects already registered in the investment plan, control the use of investment capital, direct the drawing up of the final statement of accounts when the project (or part of the project or installation) is completed and put into operation, and inspect the balance of accounts before the investment management agency's approval.
6. The Vietnam State Bank:
- The Vietnam State Bank shall have to study the mechanism and policy on State management of money and bank credits in investment and construction and submit them of the Prime Minister for promulgation, or it may be empowered by the Prime Minister to promulgate them. It shall also guide the banks to mobilize capital inside the country and from outside the country to lend to the investors and to lend floating capital to the construction and assembly businesses. The banks shall have to decide themselves the loans and retrieval of debts from the investment projects at the market interest rates.
- The Vietnam State Bank shall coordinate with the Ministry of Finance in the selection of the appropriate bank to provide the projects with capital borrowed from international credit organizations with the accreditation of the Ministry of Finance.
7. The State Committee for Cooperation and Investment shall have to study the mechanism and polices of drawing direct foreign investments and submit them to the Prime Minister for promulgation, or it may be empowered by the Prime Minister to promulgate them. The Committee shall also issue investment licenses and direct the enterprises having foreign investments to carry out the investment and construction according to the Law on Foreign investment in Vietnam and the regulations related to this Regulation and cooperate with the concerned services and echelons in conducting regular inspection of the operations of the businesses as stipulated in the investment licenses and other legal documents of the State.
8. The other concerned ministries:
- The ministries with State functions in the management of land, natural resources, technology, environment, commerce, museums and cultural relics conservation, preservation of landscapes, national defense and political security and social order shall have to direct the investors in matters related to the drawing up of the investment projects within no more than thirty days after receiving the written proposal of the investor. They are entitled, depending on the concrete requirement of each project, to effect their managerial functions in the process of investment and construction and may ask for the suspension of unlawful investments and construction activities.
- The ministries in charge of service management shall have to give concrete guidance for the implementation of the mechanism and policies on development investment of their services and shall exercise State management of the investment projects in their services.
- The ministries with specialized construction service (industrial and civil construction, projects in transport, water conservancy, mining, power transmission and transformers, posts, agriculture, forestry and fisheries) shall provide concrete guidance for the realization of the mechanism and policies on construction in a way compatible to the characteristics of the specialized services; study and issue as prescribed by Government assignment the norms, order and technical rules of construction; work out the specialized economic and technical norms, and promulgate them with the consent of the Ministry of Construction.
9. The People's Committees in the provinces and cities directly under the Central Government:
The People's Committees in the provinces and cities directly under the Central Government shall have to exercise State administrative management of all the organizations and individuals in carrying out investment projects on their territories in accordance with law.
Article 7.- Responsibility of the investors and the consultancy organizations in construction and the supply of equipment and assembly:
1. Investors:
- The investor shall have to carry out or hire consultancy organizations and the construction and assembly businesses having legal entity, or it shall have to expertize the projects drawn up by other consultancy firms. It also has to manage the project, and carry out the investment project through the economic contract as prescribed by current law.
- The investor may use different sources of capital as prescribed in this Regulation in order to carry out the project and has to take overall and continuous responsibility for managing the use of these investment sources of capital right from the moment the project is drawn up, till it is carried out and put into operation as required in the approved project.
- The investor has the responsibility to repay the loans as well as the mobilized capital on schedule and in conformity with other commitments made during the capital mobilization.
- In case of a change of the investor, the successor must take the responsibility of inheriting the whole investment work of his predecessor and the responsibility of the investment work conducted during his incumbency.
- If the investor is a business of all forms of ownership, in case of bankruptcy, the investment already achieved by the investor shall be handled in accordance with the Law on Bankruptcy.
- When drawing up the dossier on pre-feasibility and feasibility study, the investor has the duty and right to ask the concerned agencies of the State to provide guidance on questions related to the project such as land, natural resources, water and electric supply, comminations and transport, ecological environment, fire prevention, protection of cultural and historical relics, defense and security.
2. Consultancy organizations on construction and equipment supply and assembly:
The consultancy organizations on investment and construction (survey, designing, management of the implementation of the project) on the supply of equipment and materials, construction and assembly shall have to fully implement the economic contract signed with the investor or the managing director of the project and shall be accountable before law on the result of the implementation of the contract.
Article 8.- Principles on the management of the use of the sources of investment capital:
1. The State budgetary capital shall be used for investment according to the State plan in the projects of construction of economic infrastructures; the headwater afforestation projects; the planting of protection forests, national parks, nature preserves; the construction of cultural, social and public utility projects; the State management projects and projects on science, technique, defense and security and other key projects of the State which are decided by the Government and which are not capable of direct capital retrieval.
2. The preferential credits from the State Budget shall be used to invest in economic infrastructure projects, job generation production centers, key projects of the State in each period (electricity, cement, iron and steel, water supply and drainage...), and a number of other projects of different services capable of capital retrieval already listed in the State plan. The Government shall decide on the investment in each of these project in different periods of the plan.
3. The Official Development Aid (ODA) of various international organizations and governments as direct aid to the Vietnam Government shall be placed under unified management in accordance with Decree No. 20/CP on the 15th of March 1994 of the Government.
4. The commercial credits shall be used to invest in new constructions and in the transformation, expansion and technological renewal at the production, business and service establishments which are economically effective, which are capable of capital retrieval and which meet the conditions for loans as required by the regulations in force. The use of this capital shall conform to the mechanism of self-borrowing and self-repayment and full implementation of the investment procedures and conditions for capital borrowing and repayment.
5. Capital mobilized by the State businesses shall be used to invest in developing production and business and in improving the quality and competitiveness of products. The business shall have to use this capital in accordance with current regimes of management of investment capital. The controlling organization of the business shall have the responsibility to closely control the use of capital in order to ensure that it is used effectively for the right purpose.
6. The capital of a cooperative venture or join venture between State businesses and foreign partners according to the Law on Foreign Investment in Vietnam.
In case a State business is allowed to contribute to the capital of a joint venture with foreigners with the right to use land, water surface, sea area, workshops and working space, equipment and other installations owned by the State, it must have the permission of the authorized echelon and must fill the procedures to receive capital and has the responsibility to return the capital to the State according to current regulations.
7. Contributions of the population in cash, materials or labor to the investment projects shall be used chiefly for the construction of public utility projects for direct benefits to the contributors under the terms of the commitments made during the mobilization.
8. With regard to investments made by non-State population, the investor must fill in the procedures and submit them to the authorized agency, which shall consider and examine them and issue business or construction permits.
9. The management of direct foreign investments is effected according to Decree No.18/CP on the 16th of April 1993 of the Government providing details for the implementation of the Law on Foreign Investment in Vietnam.
10. The investment capital of diplomatic offices, international organizations and other foreign agencies which are allowed to build on Vietnamese land shall be managed according to the treaties or agreements signed between the Vietnam Government and the governments of the concerned countries or with the concerned foreign organizations and agencies.
11. One investment project may use different sources of capital but not in contravention of the regulations on the use of capital stipulated in this Regulation. It is not entitled to use the administrative source of capital to invest in new constructions, except for the infrastructure works under the target programs defined by the Government. No services nor localities are allowed to transfer on their own initiative the capital allocated or loaned under plan from one project to another pending the permission of the Prime Minister or the empowered agency (the State Planning Committee or the Ministry of Finance).
Article 9.- Planning of investment:
1. The investment plan must reflect all sources of investment capital of various economic sectors, first of all the investment projects owned by the State.
2. The implementation of the investment plan must comply with the approved projects. The State investment capital shall be approved once and for all for the projects based on the total investment stipulated in the investment decision. Any readjustment leading to the prolongation of the implementation of the project must have the permission of the authorized level which decides the investment.
3. The investment for the projects and the administrative sources devoted to construction purposes must be registered in the State plan and shall be managed according to this Regulation.
4. Order and conditions to register investment plans:
a/ The investment plan is to follow this order:
- The plan of capital procurement for the survey and prospection, for service and territorial planning, and for urban and rural planning.
- The plan for preparations of investment including the investment capital to be used in the drafting of the project (including prospection and survey).
- The plan of preparation to implement the project must assure enough capital to conduct survey and technical designing, drafting of the estimated total cost, the dossier for bidding, building the support sector, appendant constructions, the temporary dwellings of construction workers with regard to the projects requiring the permission of the authorized level and expenditures for the preparations of the implementation of other related projects.
- The plan of implementation of the project comprises the investment capital for the purchase of equipment, construction and assembly and other expenditures related to the putting of the project into operation or use.
b/ Conditions for registering the project in the investment plan:
- All projects registered in the plan of preparation for investment must lie within the service and territorial development program.
- The projects registered in the plans for preparation for implementation of the project must have the investment license conforming to the prescriptions of this Regulation.
- With regard to the investment projects, including constructions registered in the plan of implementation of the project, they must have the technical design and the total cost estimate, or the technical design and cost estimate according to each phase and each part of the project which has stated construction (concerning large-scale projects built over a long period) and has been approved by the authorized level.
Chapter II
PREPARATIONS OF INVESTMENT
Article 10.- Work involved in the preparation for investment:
The preparations of investment involve the following:
1. Study of the necessity of investment and the size of investment.
2. Contacting and exploring the market in the country and abroad in order to find the source of supply of material and equipment and the marketing of products. Examining the possibility of mobilizing different sources of capital for investment and choosing the forms of investment.
3. Prospection, survey and selection of the site of construction.
4. Drawing up the investment project.
5. Examining the project to decide on the investment.
Article 11.- Drawing up the investment project:
The drawing up of an investment project shall proceed by the following steps:
- To determine the investment project.
- To make pre-feasibility and feasibility studies.
- With regard to the projects in Group A and the projects using ODA capital, there must be two steps: pre-feasibility study and feasibility study.
- The other projects shall proceed with only a feasibility study.
Article 12.- Main contents of the report on pre-feasibility study:
1. Preliminary results of the study on the necessity of investment and favorable conditions for investment (legal foundations, natural conditions, natural resources, investment opportunity, market forecasts, etc.)
2. Projected size of the investment, factors and possibilities to ensure operation of the project, and a comparison of different forms of investment.
3. Selection of the area and site of construction and projected need in land area.
4. Preliminary analysis in terms of technology, technique and construction, selection of the various options in the finding of sources, conditions for the supply of materials and equipment, and the conditions in the supply of raw materials, energy, services and infrastructures.
5. Financial analysis: Preliminary determination of the total investment, the various possibilities and conditions to mobilize various sources of capital, estimated cost of production and possibility of capital retrieval, debt payment and expected profits.
6. Preliminary estimate of the efficiency of the investment in the project in economic and social terms.
Article 13.- Main contents of the report on feasibility study:
1. Foundations to determine the necessity of investment.
2. Selection of the form of investment.
3. The production program and the conditions which are to be met.
4. Various options on a concrete site (or a system of constructions).
5. Analysis of the selection of the technological and technical option.
6. The construction options and solutions.
7. The organization for managing the use of labor.
8. Financial and economic analysis.
The detailed report on the feasibility study shall be made with the guidance of the State Planning Committee and the Ministry of Construction.
Article 14.- Expertise of the investment project:
1. The pre-feasibility study report approved in writing by the investment deciding level shall be the basis for drawing the feasibility study report or for the continued sounding, negotiations and signing of agreements among the partners before the feasibility study report is drawn up. Depending on the level of complexity and the significance of each project and before approving the report on pre-feasibility study, the investment deciding authority may ask the concerned agencies to give their opinions or submit to the Expertise Council. The time-limit for the approval in writing shall not exceed twenty days after the full dossier in due form is received (including the cases which necessitate the approval of the Expertise Council).
2. Report on feasibility study:
- The projects in Group A must go through the State Expertise Council before the decision to invest is taken.
- The President of the State Expertise Council may select a consultant organization or expert to expertize each aspect of the project or the whole project before submitting it to the Council for examination. The Expertise Council shall take responsibility before law on the results of the expertise.
- The projects in Group B and C: The investment deciding level may use qualified specialized agencies directly under its control or set up the Expertise Council, or select a consultant organization to expertize the project before deciding to invest.
3. The expertise of the direct foreign investment projects shall follow a special regulation.
Article 15.- Requirement for expertise of projects:
1. All investment projects involving constructions belonging to whatever source of capital and economic sector must be expertized in terms of construction planning and in terms of architecture, technology, land use, environmental and ecological protection, and its social impact.
2. With regard to the investment projects using State capital, they must also be expertized on their financial option and their economic efficiency.
3. The investment projects using ODA fund shall have to comply with the requirements of the State and international practice.
Article 16.- Expertise Council at various levels:
The Expertise Council at various levels is constituted as follows:
1. The Expertise Council at the State level shall be headed by the Chairman of the State Planning Committee. Its standing members are the Ministry of Construction, the Ministry of Finance, the Ministry of Science, Technology and Environment, and the Office of the Government. A number of other members may be invited in by the Council Chairman, depending on the character of the project. With regard to the direct foreign investment projects, the State Committee for Cooperation and Investment shall be the standing member.
2. The Expertise Council at ministerial level shall be headed by a Vice Minister. The standing members of the Council are the heads of departments in charge of capital construction, planning, finance and accountancy, economy, science and technology.
3. The Expertise Council at provincial level shall be headed by a Vice-President of the provincial People's Committee. The standing members are the head of the planning committee of the province, the director of the construction service and the directors of the specialized construction service, of the finance pricing service, the science and technology service, and the chief architect in the city.
Article 17.- Time limit for the expertise of the project:
1. With regard to the investment projects in Group A, the time-limit for expertise shall not exceed forty five days after receiving the full and duly compiled dossier.
2. With regard to the projects in Group B, the time-limit shall not exceed thirty days after receiving the full and duly compiled dossier.
3. With regard to projects in Group C, the time-limit shall not exceed twenty days after receiving the full and duly compiled dossier.
Article 18.- Decision to invest:
1. All the investment projects covered by State capital must have a decision to invest issued by the authorized level before investment can be carried out.
2. Contents of the decision to invest:
a/ Determination of the investor and the form of carrying out the project.
b/ Determination of the location and the land area to be used.
c/ The design capacity.
d/ Total investment and sources of capital mobilization.
e/ Modalities for bidding, selection or appointment of the contractor.
f/ Duration of construction and the main time-limits of the construction tempo.
Article 19.- Changing the contents of the project:
1. Any change in the contents of the project must have the written consent of the authorized level which has approved the project or decided the investment.
2. When the need arises to change the contents of the approved project, the reason for the change must be given and the contents of the changes specified, and the expertise and decision must be done as prescribed by this Regulation.
3. The project may be suspended or cancelled in the following conditions:
- The investor does not begin implementing the project without the consent of the authorized level twelve months after the decision to invest is made.
- The objective of the project is changed without the approval of the authorized level.
- The implementation of the project is prolonged for more than six months compared with the time limits stipulated in the investment decision (or investment permit) without plausible reason.
Article 20.- Expenditures in the drawing up of the projects and in the expertise of the project:
1. The expenditures in the drawing up and expertise of a project shall be accounted for in the source of capital to which the project belongs. In case the source of capital is not yet determined, the investor may use his legal capital or borrow from the Bank and shall repay after the official source of funding has been determined.
2. The levels of the expenditures for the consultancy in the drawing up and expertise of the project shall be set by the Ministry of Construction in consultation with the State Planning Committee and the Ministry of Finance.
Chapter III
IMPLEMENTATION OF THE INVESTMENT PROJECT
Article 21.- The implementation of an investment project involving construction shall comprise the following:
1. Application for a certificate of land use right (including water surface, sea area and continental shelf).
2. Leveling the ground for construction.
3. Organizing bidding for consultancy in survey, designing, and expertise of technique and project quality.
4. Expertise of project design.
5. Organizing bidding for the purchase of equipment, construction and assembly.
6. Application for construction permit and a permit for the exploitation of natural resources (if any).
7. Signing contracts with concerned organizations and individuals to implement the project.
8. Construction and assembly of the project.
9. Monitoring and inspecting the implementation of the contracts.
Article 22.- Delivering and taking delivery of construction land:
1. The investor who needs the use of land has to draw up a dossier to apply for land allocation as prescribed by the State.
2. The time for considering and settling an application for land allocation and deciding to allocate land by the authorized agency shall not exceed twenty five days after receiving the full and duly compiled dossier.
3. The allocation and taking delivery of land at the site shall be carried out only after the investor has fully paid the tax on land use, the cadastre fee and filled out the procedures for making compensations for damages as prescribed by the State.
Article 23.- Leveling the ground:
1. The investor shall take the main responsibility for paying compensations and leveling the construction ground before delivering the ground to the construction unit. The investor may sign a contract with an organization specializing in compensation work and ground leveling in the locality in the discharge of this task.
2. Compensation work and ground leveling shall be carried out according to the prescriptions of the State.
Article 24.- Bidding for consultancy in survey, designing and technical expertise and of technique and project quality:
The bidding for construction consultancy shall be carried out according to the Regulation of the State. In case of bidding for international consultancy, it shall be done according to international practice with consideration for the concrete conditions of Vietnam.
Article 25.- Designing of the project:
1. Lawful documents used in designing:
All documents on the prospection and survey of the terrain geology, hydrology and meteorology and other documents used in designing the construction of projects must be compiled by specialized organizations with a legal entity according to the construction criteria, rules and technical norms for construction issued by the State. In case the foreign modalities and construction norms are applied, they must have the approval of the Ministry of Construction.
2. Order in designing:
Depending on the technical complexity of the project, designing shall be conducted in one or two steps.
- With regard to projects with high technical requirements and complicated geology and hydrology conditions of foundation, two step designing shall apply: technical designing and construction blueprint designing;
- With regard to simple projects requiring simple technique or provided with model designs and requiring no complicated techniques in the building of the foundations, only one step is required: designing of construction technique;
- The designing organization must draw up the total cost estimate suited to the technical design or the design for construction technique;
- The contents of designing work in each step shall be effected according to the prescriptions of the Ministry of Construction.
Article 26.- Expertise and approval of design:
All construction investment projects of any source of capital and economic sector must have their designs expertized.
1. With regard to the construction investment projects owned by the State:
- The technical designs of the projects in Group A shall be expertized and approved by the controlling Minister of the service concerned after expertise by the specialized agency.
- The technical designs of the other projects shall be expertized and approved by the Head of the agency with authority to decide the investment after it is expertized by the specialized agency. The technical designs of the projects in Group B owned by the agencies attached to the Government or the organizations and associations directly under the Center shall be expertized and approved by the Minister of Construction.
2. The expertise of the projects involving direct foreign investments shall follow a specific instruction.
3. With regard to the non-State economic sectors, the Ministry of Construction shall direct the People's Committees in the provinces and cities directly under the Central Government to assign the power to approve the designs in conformity with the local conditions.
Article 27.- Construction permit:
1. Exemptions from construction permits:
- The construction belonging to projects in Group A which the Prime Minister has decided to invest and of which the Minister of the controlling ministry has approved the technical designs.
- Transport works and water conservancy works belonging to Group B and Group C which have been approved for their technical designs, which do not cross and urban center and which have won the approval of the President of the provincial People's Committee.
- Repairs which do not lead to the change in the structure or architecture of street-front construction or to civil disputes.
2. Competence in issuing construction permits:
The Minister of Construction shall issue construction permits to the inter-provincial construction investment projects on the basis of the certification by the concerned localities that the projects meet the conditions for the issue of construction permits.
- The issue of permits for new constructions, transformations and repairs of constructions on urban land shall be effected in accordance with Decree No. 91/CP issued by the Government on the 17th of August 1994.
- The Director of the Construction Service shall issue permits for construction investment projects outside urban land.
- The Presidents of the districts and provincial towns shall issue construction permits for signing dwelling houses and new constructions capitalized at less than 500 million Dong.
3. The dossier to apply for construction (or repair) permit consists of:
- An application for construction (or repair),
- The dossier on the project design,
- The certificate of lawful right to land use,
- The certificate of the lawful right to use the house (in case of repair or transformation of a house).
4. Validity of construction permit:
If twelve months after the issue of the construction permit the investor still has not begun construction, the construction permit shall cease to be valid.
5. Changes and supplements to construction permit:
- If the need arises to change or make additions to the construction permit, the investor must make a written proposal to the level authorized to issue construction permits for consideration.
- Only the agency authorized to issue construction permits shall have the right to change or amend the construction permits.
Article 28.- Permit for exploitation of natural resources:
In case the investment project is aimed at exploiting natural resources, the investor must ask for the permit to exploit natural resources as stipulated in Decree No.95/HDBT of the Council of Ministers (now the Government) issued on the 23rd of March 1992 on the implementation of the Ordinance on Mineral Resources.
Article 29.- Bidding for construction:
1. All investment projects owned by the State shall have to organize bidding or selection of contractors according to the regulations issued by the State (including bidding and selection of contractor, purchase of equipment, construction and assembly, and consultancy). But the following projects shall apply the mode of designation of contractor:
- Projects of a research or experimental character,
- Projects of an emergency character necessitated by natural disasters and acts of sabotage,
- Projects of small value of less than 500 million Dong,
- Projects of a specific character owned by a number of branches licensed by the Prime Minister.
The financial and banking organizations at all levels shall not supply funds or loans to the projects which the investor arbitrarily assigns to the contractors contrarity to the above stipulations. At the same time they have to handle the related issues depending on the extent of the violations by the investor.
2. Depending on the size, character and categories of the projects, and the practical conditions of each project, the bidding or selection of contractor may be done for the whole project or each construction or each installation in the construction or each job involving a big volume of work.
3. The international bidding for the above projects mentioned above shall be held in Vietnam.
Article 30.- Economic contract on consultancy, purchase of equipment and construction and assembly:
The consultancy work, purchase of equipment and construction and assembly shall be effected through the contract between the investor (or his legal representative) and the organizations for consultancy, equipment dealers and construction and assembly businesses with legal entity operating in the lines stipulated in their licenses. Before signing such a contract, the investor (or his legal representative) must base himself on the realization tempo to prepare conditions for organizing the bidding or selection of the contractor in accordance with State regulations or international practice, depending on the source of investment of the project.
Article 31.- Conditions to start the construction:
Before starting their operations all constructions must meet the following conditions:
- They must have a construction permit (for projects requiring such a permit).
- They must have a technical design (for the constructions owned by the State, they must have a total cost estimate approved by the authorized level). Large-scale construction projects with long construction time which cannot yet make a total cost estimate, must procure a technical design and cost estimate approved for each period or for each part of the projects which have started construction.
- They must have a duly made delivery and receipt contract.
Article 32.- Management of construction technique and quality:
1. The survey and designing organizations must assure close examination of details of each project. Every designing project must have a project director who takes personal responsibility before law for the project's quality and efficiency. These organizations must effect the regime of supervision of the author, and the project director must closely cooperate with the investor and the construction business to settle in time the issues arising in the process of construction in order to ensure the quality.
2. The construction business shall take responsibility before the State and the investor for the construction technique and quality of the project. The construction business must set up a section for technical and quality control in order to manage the construction technique and quality. Together with the investor, the design organization and the supervising organization, it must draw up the dossier on test on completion and inspect the quality of each work, each construction and the whole project.
3. The investor shall have to carry out by himself or to hire a consultancy organization to expertize the construction quality during the process of construction.
4. The Ministry of Construction is the agency having the function of exercising unified State management of the quality of construction projects and cooperates with the specialized ministries in issuing or assigning responsibilities in issuing the regulations on management of quality of specialized construction projects.
5. The Construction Service is the agency to assist the People's Committees in the provinces and cities directly under the Central Government in exercising unified State management of the quality of construction projects in the territory of the province or city. It shall have to coordinate with the specialized services in directing and organizing the State inspection, control and State expertise of the quality of construction projects in the provinces and cities.
Article 33.- Test on completion:
Test on completion shall have to be conducted phase by phase right after completion of the volumes of work concerning hidden installations, weight-bearing structures, parts or the whole installation, or the whole project.
Article 34.- Fund allocation and payment:
1. The fund allocation, loans and payment of the fund for the projects in which the contractors are designated shall be based on the value of the volume achieved and tested on completion every month, but they must lie within the plan for annual investment capital and must be registered in the economic contract and also in the total cost estimate already approved.
With regard to the construction projects which apply the modalities of bidding and selection f contractors, the advance funding and the modalities of payment shall be effected in accordance with the regulation on bidding and selection of contractors.
With regard to the contracts on construction consultancy, they shall be given advance funding representing at least 25% of the value of the contract.
2. In the ending year of the project the investor shall be allocated or loaned not more than 95% of the value of the volume in the plan-year. The remaining 5% is to be paid by the investor immediately after the final balance of accounts is approved.
3. The expenditures for the transformation and repair of works and target programs decided by the Government shall be taken from the administrative fund having the character of capital construction from the State budget. It shall also apply the mechanism of allocation and payment according to the provisions of this Regulation.
Article 35.- Balance of accounts:
1. Each year the investor shall have to report the investment capital already used to the allocating or lending agency. On completion of the project (the whole project or part of the project), the investor shall have to send a report on the final balance of accounts on the investment capital to the allocating or lending agency and also to the agency which decides the investment.
2. If the investment project is financed by different sources of capital, the report must deal separately and distinctively with each source.
3. With regard to the projects the construction of which stretches over many years, when making the final balance of accounts, the investor must convert the investment capital already achieved to the price platform at the time of delivery and operation of the project in order to determine the value of the newly added value of the fixed assets and the valued of the assets on delivery.
The Ministry of Construction shall have to guide the unified method of conversion in each period for the uniform conversion by the investors during the drawing up of the final balance of accounts.
4. One month at the latest after the conclusion of the plan-year, the investor shall have to complete his report on the investment capital already achieved in the previous year to the Ministry or the People's Committee of the province or the city directly under the Central Government. Six months at the latest after the investment project is completed and put into operation, the investor shall have to complete the report on the final statement of accounts of the investment capital and send it to the allocating or lending agency and the agencies of the ministry or province entrusted with examining the final statement of accounts and the agency authorized to approve the final statement of accounts.
5. The Ministry of Finance shall have to give guidance on the time for making the final statement of accounts, the contents of the report on statement, the contents of the inspection and approval of the statement of accounts of the projects owned by the State.
Article 36.- Inspecting and approving the final statement of accounts:
1. Before approving the final statement of accounts of the project on completion, inspection shall be made of the following:
- The Ministry of Finance shall have to preside over the inspection with regard to the projects in Group A.
- The ministries or the provinces shall organize the inspection with regard to the remaining projects.
The financial agency shall have to carry out inspection and make its observation in writing before the authorized agency approves the final statement of accounts.
2. Approving the final statement of accounts:
- On completion of an investment project (or one construction or one installation) the person authorized to decide on the investment is also the person who approves the final statement of accounts. With regard to the projects in Group A, their final statement of accounts shall be approved by the Minister of Finance with the accreditation of the Prime Minister.
- With regard to the investment capital to be carried out yearly, the allocating or lending agency shall inspect the capital already used according to the approved plan.
3. The cost of inspection and approval of the final statement of accounts shall be taken from the investment capital of the project to be defined by the Ministry of Finance.
Chapter IV
CONCLUSION OF CONSTRUCTION AND PUTTING THE PROJECT INTO OPERATION OR USE
Article 37.- Contents of the work in the concluding period of construction and putting the project into operation or use:
1. Hand-over of the construction.
2. Conclusion of the construction.
3. Providing maintenance services,
4. Putting the project into operation.
Article 38.- Handing over the project:
1. The project can be handed over to the user only after it has been completely built according to the approved design and the quality of the construction certified as up to standard (including the completion of the project's interior and exterior decorations and the clearance of waster matters).
2. The dossier concerning the completion of the project and related issues must be handed over together with the project.
3. The dossiers on the construction of the project must be handed in for safe keeping as archives in accordance with State regulations on archives.
Article 39.- Completion of construction:
1. The construction work ends as soon as the project is handed over to the investor.
2. After handing over the project, the builder must dispose of or move all his properties from the construction site and return the land borrowed or rented for the construction of the project as stipulated by the contract.
3. The obligation defined by the construction contract will cease completely as soon as the warranty period expires.
Article 40.- Warranty of project:
1. The suppliers of documents, survey statistics (including copies, drawing and tests) for the design, construction, test on completion, expertise of the project; the chairman of the design project; the contractor of the construction; the supplier of materials and equipment for the construction, and the supervisor of the construction must bear full responsibility before law for the quality of the project or the results of their work.
2. The warranty period, the privileges and obligation of the sides, the procedure of exercising those privileges and obligations, and litigations about them are defined by the competent State institution:
- The Ministry of Construction sets regulations for the survey, design and construction of the project.
- The Ministry of Science, Technology and Environment sets regulations for industrial products such as materials and equipment.
Article 41.- Operating the project:
After taking delivery of the project, the investor is obliged to make use of the project's capacity and arrange a uniform organization of production, trade and services and to perfect the organization and the method of management in order to bring into full play the economic and technical norms set by the project.
Article 42.- Repaying the investment capital:
1. It is compulsory for all investment projects to retrieve investment capital if they have such capabilities.
2. With regard to projects invested with State budget allocations, low-interest loans, bank loans and investment capital of those businesses whose investors are obliged to return the capital or to repay the debt, the sources of capital to draw from and to repay the debt include all the depreciation fund, part of the profit gained and other sources of capital (if any).
In case the investor fails to retrieve his capital and to repay his debt, he must bear the responsibility for it in accordance with current law.
3. With regard to those projects invested with capital borrowed by a business from foreign partners with the guarantee of the State, the business concerned must repay the debt in accordance with the loan contract. In case the business fails to repay fully the debt which is due, the guarantor is obliged to repay the debt, an at the same time, has the right to sell the property of the business as stipulated by the Law on Insolvency.
Chapter V
THE FORMS OF ORGANIZING MANAGEMENT IN IMPLEMENTING PROJECTS
Article 43.- The forms of organizing management in the implementation of projects:
The following forms of management can be applied depending on the specific conditions of each project:
- The investor directly manages the implementation of the project,
- The Chairman manages the project,
- Turnkey project,
- Self-implementation.
Article 44.- Direct management of the implementation of the project by the investor:
The investor organizes a bidding for contractors and directly signs a contract with one or more consultancy organizations to carry out the survey and designing of the projects, compile the dossier for the bidding, organize the bidding or select the contractor. After the investor signs a contract with the winner of the bidding for the construction, the task of supervising and managing the construction, and ensuring the tempo and quality of the construction continues to be undertaken by the selected consultancy organization.
Article 45.- Management of the project by the chairman:
1. The investor organizes a bidding for contractors and signs a contract with a consultancy organization to act as manager of the project by contacting and signing contracts on his behalf with survey and design organizations and suppliers of materials and equipment for the construction to implement the projects, and at the same time, to assume the responsibility of supervising and managing the whole process of implementing the project.
2. This form applies only to large-scale projects involving complicated technical matters and a long time of construction.
Article 46.- Turnkey project:
1. The investor organizes a bidding for the project to select a contractor (chief construction contractor) to carry out the whole project (designing, buying materials and equipment, building...). The investor only submits for approval the technical design and total cost estimate, checks the quality of the project and takes delivery of it when the project is completed and put into operation. The chief construction contractor can sub-contract to other contractors the survey, design and purchase of equipment or part of the construction.
2. This form usually applies to the construction of dwelling houses, civil projects and production and business projects which have a small scale and require simple technical solutions. This form can also apply to those constructions (projects) which meet these conditions.
Article 47.- Self-implementation:
1. The investor uses his workforce licensed as builders to build the project.
2. This form applies only to small-scale repair and renovation projects, and projects of a specialized branch (agro-forestry projects...).
Article 48.- Consultancy on investment and construction:
Providing consultancy on investment and construction are professional consultancy companies of different economic sectors which are founded on and operate in accordance with law; the research institutions which have a legal status and are licensed to practice consultancy organizations can in their capabilities plan or supervise the planning of projects (pre-feasibility, feasibility); make the design and a total cost estimate, compile a dossier inviting bidders, organize the bidding, supervise and manage the process of construction, and check the quality of the project. They can also sub-contract to other consultancy organizations to carry out part of the consultancy work.
Chapter VI
MANAGEMENT OF CONSTRUCTION COST
Article 49.- The principle for setting and managing construction costs:
1. The State exercises its management of construction cost by issuing pricing policies, the principle and method of making cost estimates and the basic date (economic and technical norms, construction cost per unit, allocation of investment capital...) in order to set the total estimated investment of the construction and cost estimate of the construction (or project) and the cost estimates of different construction items.
2. All projects owned by the State must compile the necessary documents on the cost estimates stating the necessary expenses of the project and the construction cost of the installations. The investors and consultancy organizations must base themselves on the State regulations on the management of construction costs to compile, check and submit the total cost estimates and estimates of different construction items to the competent institution for approval and use them as a basis for selecting contractors of the projects owned by the State. The businesses winning a construction contract shall base themselves on the State regulations on the management of construction costs as a reference to determine their bidding price.
3. The cost to be paid for the construction (or project) is the cost of the winning bid and the conditions written in the contract between the investor and construction businesses.
Article 50.- State management of construction cost:
The Ministry of Construction shall sponsor and, together with the State managing offices concerned, exercise unified control of the construction cost (economic-technical norms, unit price, standard price, suggested price: survey, design, planning, construction design), and directly manage norms, for the unit price of State-owned projects in Group A and use them as a basis for determining the minimum bidding price (at a bidding or for selecting the contractor) and the paid unit price (if the State designates the contractor).
Article 51.- Managing the total cost estimates of State-owned projects:
1. The Ministry of Construction chairs the expertise of the total cost estimate of group-A projects, submits it to the Prime Minister for consideration, and empowers the Minister concerned to approve it.
2. The director of the authorized agency decides the level of investment in projects of groups B and C, and ratifies the total cost estimate after expertise by the professional institution concerned.
As for the total cost estimate for group B projects of government institutions and economic and mass organizations under the Central Government, they shall be approved by the Ministry of Construction.
3. With regard to projects offered for bidding, the winning price shall not exceed the total cost estimate already approved.
4. With regard to those projects where contractor is designated, the paid price even in cases of absolute necessity shall not exceed 5% of the total cost estimate already approved and it must be approved by the institution that is authorized to ratify the total cost estimate.
5. In case the total cost estimate changes from group B to group A, or from group C to group B, the investor must re-submit the feasibility study to the agency which has authority to decide the investment.
Article 52.- Insuring construction projects:
1. In making an investment for construction, the investor must buy insurance for the project from an Insurance Company which is licensed to operate in Vietnam. With regard to foreign invested projects, the investor must buy insurance in accordance with the Law on Foreign Investment in Vietnam.
2. The expense for the insurance of the project is part of the investment capital of the project. The insurance expense is calculated in percentage of the project's value.
3. The construction contractors and consultancy organizations buy insurance for the materials, equipment and workshop used in construction, against labor accidents, for the responsibility of the third party, and for the survey and design in the process of implementing the project. The insurance expense is added to the production cost.
4. The conditions and stipulations for insuring the interests and obligations of the insured parties shall be mutually agreed upon, but they must not contravene Vietnam's laws, international practice, and the instructions of the Ministry of Finance.
Chapter VII
INSPECTION, CONTROL AND HANDLING OF VIOLATIONS
Article 53.- Inspection and supervision of investment and construction activities:
1. All investment and construction activities of every organization concerned must be subject to the inspection and control of the authorized State agency in each sphere of management.
2. According to the specific conditions of each investment project, a part or all parts of the process of investment and construction can be inspected and controlled.
Article 54.- Handling violations by investors:
1. The investor must strictly observe the State's regulations on the management of investment projects as defined in these Regulations, any violation by them will be fined, or prosecuted, depending on extent of the violation.
2. If the investor fails to fulfill his responsibilities as defined in the economic contract with the contractor organizations (consultancy, equipment supply, construction), he must pay fines to the contractor organizations for violating the contract, and if it causes losses, he must compensate also for the losses in accordance with the Ordinance on Economic Contracts.
3. If the investor seriously violates the stipulations written in the construction permit, causing pollution to the surrounding environment, putting the adjacent buildings in danger of collapse as verified by a technical control agency, he will have his construction permit revoked and shall be fined for the violation.
Article 55.- Handling violations by organizations (individuals) who supervise the project, design, total cost estimates and final statement of accounts:
The supervisory organization (individual) is responsible before the investor institution for the accuracy of the documents, statistics and conclusion in its report on the results of the expertise. In case the competent person decides that it is wrong (causing accident and waster or having no economic or social efficiency) due to the inaccuracy of the documents, statistics and conclusion of the expertise organizations (individuals), the latter shall be fined or can be investigated for penal liability.
If the authorized person makes a wrong decision on investment and the location of construction, etc., causing serious economic, social and environmental consequences, the person who signs the decision is responsible for it before the law.
Article 56.- Handling violations by the consultancy organizations, the suppliers of equipment and construction organizations:
1. In case labor safety in construction is found to be in jeopardy or the construction organizations have repeatedly violated the regulations on labor safety, the institutions for management of construction and inspection of construction safety can suspend the construction temporarily.
The temporary suspension of the construction shall be lifted after the construction units have taken measures to eliminate the danger or stop such a violation.
2. Any major technical mistake made by the consultancy organization or the construction organization which seriously affects the quality of the project (construction), causing collapse or damage, even after the project (construction) has been put into operation, the consultancy organization and the chairman of the project design or the construction unit must compensate for the damage and shall be prosecuted before law.
3. If the consultancy organization and the organization supplying construction equipment fail to comply with the contract's terms on the quality and tempo of construction, they must compensate for all the losses and shall be fined. The fine (not including expenses for compensation and repair of the damage...) is to be mutually agreed upon and written in the economic contract, but its total shall not exceed 10% of the expenditure for the consultancy work or 5% of the value of the defective volume of work. The fine is drawn from the profit of the unit concerned after it has paid tax to the State.
Article 57.- Individual responsibility:
Regarding violations by individuals in the investor organization, consultancy organizations, organizations supplying equipment and materials for the construction, and the managing offices concerned, they are liable to fines, compensations or prosecution depending on the extent of the violation.
Chapter VIII
IMPLEMENTATION PROVISIONS
Article 58.- These Regulations are issued in replacement of the Regulations on the Management of Capital Construction issued together with Decree No.385-HDBT on the 7th of November 1990 and the Regulations on the Drawing up, Inspection and Approval of Construction Designs issued together with Decree No.237-HDBT on the 19th of September 1985 of the Council of Ministers.
Article 59.- The Ministers, the Heads of agencies of ministerial level and agencies attached to the Government, and the Presidents of the People's Committees of provinces and cities directly under the Central Government are responsible for fully implementing this Regulation.
The Minister of Construction and other Ministers concerned shall have to submit the necessary documents to the Government for promulgation together with this Regulation and are responsible for guiding, supervising and inspecting the implementation of this Regulation.
Article 60.- This Regulation takes effect as from the date of its issue and is applicable to all economic sectors throughout the country.
 
APPENDIX
CLASSIFICATION OF INVESTMENT PROJECTS
(issued together with the Regulation on the Management of Investment and Construction issued together with Decree No.177-CP on the 20th of October 1994 of the Government)
Investment projects (not including foreign invested projects) are classified into three groups - A, B and C - according to the following definitions:
1. Projects of group A are those that have one of the following conditions:
1.1. New investment projects of whatever size of investment which are classified as national secrets or have vital political or social significance, and investment projects in these branches: production of toxics and explosives, exploitation and processing of precious minerals (gold, silver, gemstone, rare earth).
1.2. Investment projects of which the total investment exceeds the following levels:
a/ Over 200 billion Vietnamese Dong (VND) or over 20 million USD for the following branches:
- Electricity, mining, metallurgy, machine building, fuel, cement.
- Transport, irrigation, supply and drainage of water in urban areas.
b/ Over 100 billion VND or over 10 million USD for the following branches:
- Heavy industry: technologies of electricity, electronics, chemicals, fertilizer, engineering, construction materials.
- Light industry: pottery, porcelain, glass, paper, textiles, leather, garments.
- Posts.
- Pharmaco-chemistry, medicines, the processing of agro-forestry products, foods, aquaproducts, agricultural production (not including supply stations, farms), aquaculture.
c/ Over 50 billion VND or over 5 million USD for the remaining branches.
1.3. Restoration, upgrading and expansion projects and projects for renewing technology which have a total investment equal to 70% of the investment level stipulated at point 1.2.
2. Projects of group B are those which have one of the following conditions:
2.1. Investment projects stipulated at point 1.2.a which have a total investment of 25 billion VND to 200 billion VND or 2.5 million USD to 20 million USD.
2.2. Investment projects stipulated at point 1.2.b which have a total investment of 15 billion VND to 100 billion VND or 1.5 million USD to 10 million USD.
2.3. Investment projects stipulated at point 1.2.c which have a total investment of 5 billion VND to 50 billion VND or 0.5 million USD to 5 million USD.
2.4. Projects stipulated at point 1.3. which have a total investment equal to 70% of the investment level stipulated at points 2.1., 2.2. and 2.3.
3. Projects of group C are those not mentioned above.-

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.
văn bản TIẾNG ANH
Bản dịch tham khảo
download Decree 177-CP DOC (Word)
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao để tải file.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi

19006192

Theo dõi LuatVietnam trên YouTube

TẠI ĐÂY

văn bản cùng lĩnh vực

Vui lòng đợi