Luật Khuyến khích đầu tư trong nước số 35-L/CTN của Quốc hội

Tóm tắt Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng:Đã biết

LUẬT

KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC

 

Để huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn, tài nguyên, lao động và các tiềm năng khác của đất nước nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh;

Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;

Luật này quy định về khuyến khích đầu tư trong nước.

 

Chương 1. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

Điều 1

Nhà nước bảo hộ và khuyến khích tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Chính phủ quy định cụ thể việc đầu tư của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và của người nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam.

 

Điều 2

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1- "Đầu tư trong nước" là việc bỏ vốn vào sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam của tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 1 của Luật này.

2- "Chủ đầu tư" là tổ chức hoặc cá nhân quy định tại Điều 1 của Luật này trực tiếp bỏ vốn để thực hiện đầu tư quy định tại Điều 4 của Luật này.

 

Điều 3

Vốn đầu tư là tiền Việt Nam; ngoại tệ chuyển đổi được; vàng, bạc, đá quý; chứng khoán chuyển nhượng được; nhà xưởng, công trình xây dựng, thiết bị, máy móc, các phương tiện sản xuất khác hoặc giá trị quyền sử dụng đất, quyền sử hữu công nghiệp được sử dụng để đầu tư tại Việt Nam.

 

Điều 4

Đầu tư được áp dụng theo Luật này bao gồm:

1- Đầu tư thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế;

2- Đầu tư mở rộng quy mô, nâng cao năng lực sản xuất, nghiên cứu phát triển và đổi mới công nghệ của các cơ sở sản xuất, kinh doanh hiện có;

3- Mua cổ phần của các doanh nghiệp, góp vốn vào các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp Nhà nước được phép đa dạng hóa hình thức sở hữu.

Chương 2. BẢO ĐẢM VÀ HỖ TRỢ ĐẦU TƯ

 

Điều 5

Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, lợi nhuận, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của chủ đầu tư.

 

Điều 6

Tài sản, vốn đầu tư và lợi nhuận hợp pháp của chủ đầu tư không bị quốc hữu hoá.

Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước quyết định trưng mua hoặc trưng dụng tài sản của chủ đầu tư, thì chủ đầu tư được thanh toán hoặc bồi thường theo thời giá thị trường và được tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư vào lĩnh vực, địa bàn thích hợp.

 

Điều 7

Nhà nước thực hiện các biện pháp sau đây nhằm hỗ trợ các hoạt động đầu tư trong nước:

1- Giao đất hoặc cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai;

2- Xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp để cho thuê làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh;

3- Lập và khuyến khích các quỹ hỗ trợ đầu tư để cho vay đầu tư trung hạn và dài hạn. Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của các quỹ hỗ trợ đầu tư;

4- Góp vốn thông qua các quỹ hỗ trợ đầu tư, ngân hàng thương mại, công ty tài chính vào các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế trên cơ sở cùng có lợi;

5- Quy định việc bảo lãnh tín dụng đầu tư của các ngân hàng, tổ chức tín dụng và công ty tài chính;

6- Hỗ trợ việc tổ chức thực hiện các chương trình, dịch vụ khuyến khích đầu tư, gồm:

a) Tư vấn quản lý và kinh doanh;

b) Tư vấn pháp lý;

c) Tổ chức dạy nghề và đào tạo cán bộ kỹ thuật;

d) Đào tạo và nâng cao kiến thức quản lý;

đ) Cung cấp thông tin kinh tế;

7- Phổ biến và chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện cho các chủ đầu tư được sử dụng với mức phí ưu đãi các công nghệ mới tạo ra bởi vốn ngân sách Nhà nước.

 

Điều 8

Chủ đầu tư được thuê chuyên gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài làm việc cho dự án đầu tư trong nước. Trình tự và thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh được áp dụng như quy định về xuất cảnh, nhập cảnh đối với người nước ngoài làm việc trong các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Chuyên gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài làm việc cho dự án đầu tư trong nước, sau khi nộp thuế thu nhập theo quy định của pháp luật Việt Nam, được chuyển ra nước ngoài phần thu nhập của mình theo chế độ quản lý ngoại hối của Nhà nước Việt Nam.

 

Chương 3. ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ

 

Điều 9

Các dự án đầu tư sau đây được ưu đãi:

1- Đầu tư vào các lĩnh vực:

a) Trồng rừng, trồng cây lâu năm trên đất chưa sử dụng, đất trống, đồi núi trọc; nuôi trồng thuỷ sản ở các vùng nước chưa được khai thác; đánh bắt hải sản ở vùng biển xa bờ;

b) Xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật; phát triển vận tải công cộng đô thị; phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, văn hoá dân tộc; nghiên cứu khoa học, công nghệ;

c) Chế biến nông sản, lâm sản, thuỷ sản; các dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp;

d) Sản xuất hàng xuất khẩu;

đ) Các ngành công nghiệp cần ưu tiên trong từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội; các ngành, nghề truyền thống;

2- Đầu tư ở các vùng dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo và các vùng khó khăn khác;

3- Đầu tư thành lập cơ sở sản xuất sử dụng công nghệ hiện đại, cơ sở sản xuất sử dụng nhiều lao động.

Chính phủ quy định danh mục ngành, nghề của từng lĩnh vực, phạm vi các vùng, tiêu chuẩn về công nghệ và quy mô sử dụng lao động được hưởng ưu đãi đầu tư, theo quy hoạch và định hướng phát triển của Nhà nước.

 

Điều 10

Ngoài chế độ ưu đãi được quy định trong các luật, pháp lệnh về thuế hiện hành, các dự án đầu tư quy định tại Điều 9 của Luật này được hưởng thêm các ưu đãi về thuế như sau:

1- Cơ sở sản xuất, kinh doanh mới thành lập được giảm 50% (năm mươi phần trăm) thuế lợi tức thêm từ một đến hai năm; riêng đầu tư vào vùng dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo và các vùng khó khăn khác, được miễn thuế lợi tức thêm từ một đến hai năm, giảm 50% (năm mươi phần trăm) thuế lợi tức thêm từ một đến năm năm và giảm 50% (năm mươi phần trăm) thuế doanh thu thêm từ một đến hai năm;

2- Cơ sở sản xuất, kinh doanh bỏ thêm vốn đầu tư hoặc sử dụng lợi nhuận còn lại để tái đầu tư mở rộng quy mô, nâng cao năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ được miễn thuế lợi tức cho phần lợi nhuận tăng thêm của năm tiếp theo do phần đầu tư mới này mang lại;

3- Các dự án đầu tư cần đặc biệt khuyến khích được Chính phủ cho phép miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị, máy móc, phụ tùng mà chủ đầu tư trực tiếp hoặc uỷ thác nhập khẩu để xây dựng cơ sở sản xuất. Trong trường hợp sử dụng sai mục đích thiết bị, máy móc, phụ tùng được miễn thuế nhập khẩu, thì chủ đầu tư phải truy nộp số thuế nhập khẩu đã được miễn và bị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật;

4- Lợi nhuận được chia từ hình thức đầu tư quy định tại điểm 3 Điều 4 của Luật này được miễn thuế thu nhập hoặc thuế lợi tức trong thời hạn ba năm, kể từ khi lợi nhuận được chia lần đầu.

Chính phủ quy định cụ thể các mức ưu đãi đầu tư.

 

Điều 11

Chủ đầu tư thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh mới theo quy định tại Điều 9 của Luật này bảo đảm có hiệu quả, thì được ưu tiên xem xét cho vay tín dụng trung hạn và dài hạn từ các quỹ hỗ trợ đầu tư; riêng thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh mới bảo đảm có hiệu quả tại vùng dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo và các vùng khó khăn khác được ưu tiên xem xét cho vay tín dụng trung hạn và dài hạn với lãi suất ưu đãi từ các quỹ hỗ trợ đầu tư.

Cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu thuộc diện ưu tiên phát triển được bảo lãnh tín dụng và cấp tín dụng xuất khẩu.

 

Chương 4. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHỦ ĐẦU TƯ

 

Điều 12

Theo quy định của pháp luật, chủ đầu tư có quyền:

1- Lựa chọn ngành, nghề và địa bàn đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam;

2- Lựa chọn hình thức đầu tư;

3- Được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của Luật này;

4- Chủ động trong hoạt động đầu tư và sản xuất, kinh doanh đã đăng ký;

5- Thuê lao động không hạn chế về số lượng; trả tiền công trên cơ sở thoả thuận với người lao động nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định;

6- Xuất cảnh ra nước ngoài để thực hiện dự án đầu tư theo quy định của Chính phủ.

 

Điều 13

Chủ đầu tư có nghĩa vụ:

1- Kinh doanh theo đúng đăng ký, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về kế toán, thống kê.

2- Nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật;

3- Tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội;

4- Tuân thủ các quy định của pháp luật về tổ chức công đoàn và các đoàn thể khác tại doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức đó hoạt động;

5- Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ được quy định trong pháp luật về lao động;

6- Tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh.

 

Điều 14

Trong trường hợp có sự thay đổi chủ đầu tư trong thời hạn được hưởng ưu đãi mà chủ đầu tư mới vẫn tiếp tục thực hiện dự án đầu tư đó, thì chủ đầu tư mới đương nhiên được hưởng các ưu đãi trong thời hạn còn lại và có trách nhiệm thực hiện đúng các nghĩa vụ để được hưởng ưu đãi của dự án đầu tư đã đăng ký.

 

Điều 15

Trong trường hợp chủ đầu tư không còn đủ điều kiện để tiếp tục hưởng ưu đãi theo quy định của Luật này, thì sẽ bị rút bỏ một phần hoặc toàn bộ các ưu đãi đã được chấp thuận.

 

Điều 16

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện đầu tư theo quy định của Luật này được chuyển ra nước ngoài:

1- Lợi nhuận thu được trong quá trình sản xuất, kinh doanh do việc sử dụng vốn đầu tư chuyển hợp pháp từ nước ngoài vào;

2- Tiền gốc và lãi của các khoản vay từ nước ngoài trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh;

3- Vốn đầu tư đã chuyển hợp pháp từ nước ngoài vào;

4- Các khoản tiền và tài sản khác thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình.

Chính phủ quy định thủ tục chuyển ra nước ngoài các khoản tiền và tài sản quy định tại Điều này.

 

 

 

 

Điều 17

Khi chuyển lợi nhuận ra nước ngoài theo điểm 1 Điều 16 của Luật này, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nộp một khoản thuế bằng 5% (năm phần trăm) số tiền chuyển ra nước ngoài.

 

Chương 5. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ

 

Điều 18

1- Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về đầu tư và khuyến khích đầu tư.

Chính phủ chỉ định cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về khuyến khích đầu tư.

2- Cơ quan quản lý Nhà nước về khuyến khích đầu tư có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

a) Xây dựng và trình Chính phủ quyết định danh mục các ngành, nghề và phạm vi các vùng được hưởng ưu đãi đầu tư;

b) Hướng dẫn và giám sát việc thực hiện các biện pháp hỗ trợ và chế độ ưu đãi đầu tư;

c) Nhận đơn xin ưu đãi đầu tư và trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận đơn, quyết định việc cấp hoặc từ chối cấp chứng nhận ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật cho các doanh nghiệp do Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập.

 

Điều 19

Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về khuyến khích đầu tư trong nước trên phạm vi địa phương theo quy định của pháp luật;

2- Xây dựng và công bố danh mục các dự án cần khuyến khích đầu tư gắn với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương;

3- Nhận đơn xin ưu đãi đầu tư và trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận đơn, quyết định việc cấp hoặc từ chối cấp chứng nhận ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật.

 

Chương 6. XỬ LÝ VI PHẠM

 

Điều 20

Chủ đầu tư có hành vi man trá để hưởng chế độ ưu đãi đầu tư hoặc vi phạm các quy định khác của Luật này, thì phải hoàn trả các khoản ưu đãi đã được hưởng và tuỳ theo mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

 

Điều 21

Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc đầu tư, cho hưởng ưu đãi đầu tư không đúng với quy định, có hành vi sách nhiễu đối với chủ đầu tư hoặc vi phạm các quy định khác của Luật này, thì phải bồi thường thiệt hại và tuỳ theo mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

 

Chương 7. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

 

Điều 22

Luật này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 1995.

Những quy định trước đây trái với Luật này đều bị bãi bỏ.

 

Điều 23

Cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc diện ưu đãi đầu tư quy định tại Điều 9 của Luật này đã thành lập trước khi Luật khuyến khích đầu tư trong nước có hiệu lực, được hưởng chế độ ưu đãi đầu tư cho thời gian còn lại, theo quy định của Luật này.

Nhà nước không hoàn trả các khoản thuế và các nghĩa vụ đóng góp khác mà doanh nghiệp phải thực hiện trong thời gian trước khi Luật này có hiệu lực.

 

Điều 24

Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật này.

 

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 22 tháng 6 năm 1994.

Thuộc tính văn bản
Luật Khuyến khích đầu tư trong nước số 35-L/CTN của Quốc hội
Cơ quan ban hành: Quốc hội Số công báo: Đã biết
Số hiệu: 35-L/CTN Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Luật Người ký: Lê Đức Anh
Ngày ban hành: 22/06/1994 Ngày hết hiệu lực: Đã biết
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực: Đầu tư
Tóm tắt văn bản
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE STANDING COMMITTEE OF NATIONAL ASSEMBLY
-------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom – Happiness
---------

No: 35-L/CTN

Hanoi, June 22, 1994

 

LAW

ON PROMOTION OF DOMESTIC INVESTMENT

With a view to mobilizing and using effectively all sources of capital, national resources, labor and other potentials of the country to contribute to socio-economic development, to bring prosperity to the people and strength to the country and build and equitable and civilized society;

Pursuant to Article 84 of the 1992 Constitution of the Socialist Republic of Vietnam;

This law provides for the promotion of domestic investment.

Chapter I

GENERAL PROVISIONS

Article 1.- The State protects and encourages Vietnamese organizations and citizens, Vietnamese residing abroad, foreigners residing for a long time in Vietnam, to invest in socio-economic fields on Vietnamese territory according to provisions of Vietnamese law.

The Government shall issue concrete regulations concerning investment by Vietnamese residing abroad and foreigners residing for a long time in Vietnam.

Article 2.- In this Law, the expressions herebelow are understood as follows:

1- "Domestic investment" is the commitment of capital to production and for business in Vietnam, by an organization or individual as provided for in Article 1 of this Law.

2- "Investor" is an organization or individual, as provided for in Article 1 of this Law, who directly invests capital as provided for in Article 4 of this Law.

Article 3.- Investment capital includes: Vietnamese currency, convertible foreign currencies, gold, silver, gems, transferable stock, factory buildings, construction, equipment, machinery, other production means or land use value, industrial property used for investment in Vietnam.

Article 4.- Investment under this Law may assume one of the following forms:

1- Investment for establishing production and business in any economic sector;

2- Investment for enlarging the scale, raising the production capacity, research on the development and renovation of technology utilized by existing production and business establishments:

3- Purchase of shares in companies, capital contributions to businesses, including State businesses allowed to diversify their form of ownership.

Chapter II

ASSURANCE AND ASSISTANCE OF INVESTMENT

Article 5.- The State recognizes and protects the right to ownership of property, investment capital, profit as well as other legal rights and interests of investors.

Article 6.- Lawful property, investment capital and profits of investors shall not be nationalized.

In case of utter necessity when, for reason of national defense, security or national interest, the State decides to purchase or requisition the property of an investor, the investor shall be compensated or indemnified according to current market prices and shall be afforded favorable conditions to invest in an appropriate field and area.

Article 7.- The State shall undertake the following measures to assist domestic investment activities:

1- Allotting or renting land as provided for in the land legislation;

2- Building the infrastructure of industrial zones for renting them as the ground to build production and business establishments;

3- Establishing and encouraging investment support funds for mid-term and long-term investment loans. The Government provides regulations for the organization and activities of investment support funds;

4- Contributing capital, via investment support funds, commercial banks, financial companies, to production and business ventures belonging to various economic sectors on the basis of mutual benefit;

5- Providing for investment credit guarantee for banks, credit organizations and financial companies;

6- Supporting the implementation of programs and services for encouraging investment. This includes:

a/ Management and business consultation;

b/ Legal consultation;

c/ Organizing job-training and the training of technical workers;

d/ Training and raising management skills;

e/ Supplying economic information.

7- Disseminating and transferring technology along with creating conditions for investors to use, at preferential fees, new technology created by State funds.

Article 8.- Investors are entitled to hire experts, who are foreigners or Vietnamese residing abroad to work in domestic investment projects. The order and procedure of exit and entry are the same as for foreigners working in enterprises with foreign invested capital.

Experts who are foreigners or Vietnamese residing abroad working in domestic investment projects, after paying their income tax according to the regulations of Vietnamese law, are entitled to transfer abroad their income according to the foreign exchange management regulation of the Vietnamese State.

Chapter III

PREFERENTIAL AREAS OF INVESTMENT

Article 9.- The following investment project are eligible for preferential treatment:

1- Investment in the fields of:

a/ Afforestation, growing perennial trees on unused land, bare lands, bare hills and mountains, practicing aquaculture in unexploited waters, fishing in sea areas far from the shore;

b/ Building infrastructure: developing urban public transportation; developing education, training, health care, national culture, scientific and technological research;

c/ Processing agricultural, forest and aquaculture products; different technical services of direct benefit to agriculture, forestry and fishery;

d/ Production of export goods;

e/ Industrial branches which need priority development in each period of socio-economic development; traditional branches and skills.

2- Investment in ethnic minority areas, mountain areas, islands and other difficult areas;

3- Investment in setting up production establishments using modern technology or production ventures using a large labor force.

The Government shall draw up a list of branches and skills for each field and each territorial area, technological norms and labor force employment for priority investment according to the plan and orientation of the State.

Article 10.- Apart from preferential systems prescribed by the law and ordinances on current taxes, investment projects defined in Article 9 of this Law are entitled to additional tax preferences as follows:

1- Newly set up production and business establishments shall receive a reduction of 50% (fifty percent) of revenue tax for one to two years; investments in ethnic minority areas, mountain areas, islands and other difficult areas, are exempt from revenue tax for one to two years, and an additional 50% (fifty percent) of revenue tax from one to five years and an additional 50% (fifty percent) of income tax from one to two years;

2- Production and business establishments which augment their investment capital or reinvest their remaining profit in enlarging production and raising productivity or renovating technology, are exempt from revenue tax on the increased profit of the subsequent year brought about by this new investment;

3- Investment projects which need special encouragement are exempt by the Government from import tax on the equipment, machinery and spare parts, that investors directly import or import through an agency, for building production establishments. In case the equipment, machinery and spare parts exempted from import tax are used for an unauthorized purpose, the investor shall have to reimburse the exempted import tax and be penalized as prescribed by law.

4- A dividend from the form of investment defined in Item 3 of Article 4 from this Law is exempt from income tax or revenue tax during a period of three years from the first dividend.

The Government shall provide concrete levels of investment preference.

Article 11.- An investor who forms and efficiently runs a new production and business establishment, as provided for in Article 9 of this Law, shall be given priority consideration for mid-term and long-term credit loans from the investment support fund; if such an establishment is located in an ethnic minority area, mountain area, island or other difficult areas, it shall be considered for preferential interest rates from the investment support fund.

Ventures producing export goods, in the aforementioned priority categories, shall receive a credit guarantee and export credit.

Chapter IV

RIGHTS AND OBLIGATIONS OF INVESTORS

Article 12.- Under the law, the investor is entitled to:

1. Choose any branch, occupation and investment domain on Vietnamese territory;

2. Choose the form of investment;

3. Enjoy investment preferences as stipulated in this Law;

4. Take the initiative in investment, production and business;

5. Hire labor in unlimited numbers; pay salaries as agreed with the workers but the salary must not be lower than the minimum wage defined by the Government;

6. Travel abroad to execute an investment project, as provided for by the Government.

Article 13.- The investor has the obligation to:

1- Conduct business according to licenses and seriously execute the prescriptions of the Law in Accounting and Statistics;

2- Pay taxes and fulfill other financial obligations as prescribed by law;

3- Observe provisions of the law regarding the defense of the Fatherland, national security, social safety and public order;

4- Observe provisions of law regarding trade unions and other mass organizations in business, and create favorable conditions for these organizations to carry out their activities;

5- Accomplish all obligations as defined in the Labor Code;

6- Observe the Law on Protection of the Environment, Protection of Historical and Cultural Relics and Sites of Scenic Beauty.

Article 14.- In case the investor changes in the period covered by the preferences, if the new investor continues the investment project, he shall automatically receive the preferences from the remaining period and shall have the responsibility to implement strictly the obligations under the preferences of the licensed investment project.

Article 15.- When the investor is no longer eligible for preferences under this Law, the preferences shall be withdrawn partly or entirely.

Article 16.- Vietnamese residing abroad, who are investors under this Law, are entitled to transfer abroad:

1- Profit obtained during the course of production and business with the investment capital legally transferred from abroad;

2- Principal and interest from foreign loans in the process of production and business;

3- Investment capital legally transferred from abroad;

4- Other sums of money and property under their lawful ownership.

The Government shall define the procedures for transferring abroad sums of money and property stipulated in this Article.

Article 17.- When transferring profit abroad, according to Point 1 of Article 16 of this Law, Vietnamese residing abroad shall pay a tax representing 5% (five percent) of the amount transferred.

Chapter V

STATE MANAGEMENT OF THE PROMOTION OF INVESTMENT

Article 18.-

1- The Government exercises unified State management of investment and promotion of investment.

The Government appoints competent agencies to assist the Government achieve its function of State management of the promotion of investment.

2- The State management agency for the promotion of investment has the following tasks and authority:

a/ To elaborate and submit to the Government for adoption a list of branches, occupations and territorial areas eligible for investment preferences;

b/ To guide and supervise the implementation of support measures and the regime of investment preferences;

c/ To receive applications for investment preferences. Within 30 days from the day the application is received, the agency must decide whether or not to issue the investment preference warrant, as prescribed by law to the business licensed by the Prime Minister.

Article 19.- The People's Committee of the provinces or cities directly under the Central Government have the following tasks and authority:

1- To exercise State management in the promotion of domestic investment in the localities according to the provisions of the law;

2- To elaborate and publish a list of projects in which investment needs to be encouraged with an eye to the orientation for socio-economic development in the localities;

3- To receive applications for investment preferences. Within 30 days from the day the application is received, they must decide whether or not to issue the investment preference warrant pursuant to the provisions of the law.

Chapter VI

HANDLING OF VIOLATIONS

Article 20.- The investor who commits fraudulent acts to enjoy investment preferences or violates other provisions of this Law, shall have to reimburse the money he receives from the preferences and depending on the degree of violation, be subjected to administrative sanction or be investigated for penal liability as prescribed by law.

Article 21.- Those taking advantage of their position and authority to impede investment, to grant investment preferences contrary to the law, engage in acts of harassment againt investors or violate other provisions of this Law, shall be liable for damages and depending on the degree of violation, shall be disciplined or investigated for penal liability as prescribed by law.

Chapter VII

PROVISIONS FOR IMPLEMENTATION

Article 22.- This Law takes effect from the 1st of January, 1995.

Any previous provisions contrary to this Law are now annulled.

Article 23.- Production and business establishments in the categories of investment preferences, provided in Article 9 of this Law, and set up before the Law on Promotion of Domestic Investment took effect, shall enjoy investment preferences for the remaining period, as provided for by this Law.

The State shall not reimburse the amounts of tax and other obligatory contributions made by the businesses during the period prior to this Law becoming effective.

Article 24.- The Government shall issue detailed provisions for the implementation of this Law.

This Law was adopted by the National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam, Ninth Legislature, Fifth Session, on June 22, 1994.

 

 

CHAIRMAN OF THE NATIONAL ASSEMBLY




Nong Duc Manh

 

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.
Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi
1900.6192 hoặc gửi câu hỏi tại đây

Tải ứng dụng LuatVietnam Miễn phí trên

Văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!