- Tổng quan
- Nội dung
- VB gốc
- Tiếng Anh
- Hiệu lực
- VB liên quan
- Lược đồ
-
Nội dung hợp nhất
Tính năng này chỉ có tại LuatVietnam.vn. Nội dung hợp nhất tổng hợp lại tất cả các quy định còn hiệu lực của văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính... trên một trang. Việc hợp nhất văn bản gốc và những văn bản, Thông tư, Nghị định hướng dẫn khác không làm thay đổi thứ tự điều khoản, nội dung.
Khách hàng chỉ cần xem Nội dung hợp nhất là có thể nắm bắt toàn bộ quy định hiện hành đang áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.
- Tải về
Nghị quyết 65/2006/QH11 của Quốc hội về việc thi hành Luật Luật sư
| Cơ quan ban hành: | Quốc hội |
Số công báo:
Số công báo là mã số ấn phẩm được đăng chính thức trên ấn phẩm thông tin của Nhà nước. Mã số này do Chính phủ thống nhất quản lý.
|
Đã biết
|
| Số hiệu: | 65/2006/QH11 | Ngày đăng công báo: |
Đã biết
|
| Loại văn bản: | Nghị quyết | Người ký: | Nguyễn Phú Trọng |
|
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
|
29/06/2006 |
Ngày hết hiệu lực:
Ngày hết hiệu lực là ngày, tháng, năm văn bản chính thức không còn hiệu lực (áp dụng).
|
Đang cập nhật |
|
Áp dụng:
Ngày áp dụng là ngày, tháng, năm văn bản chính thức có hiệu lực (áp dụng).
|
Đã biết
|
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
|
Đã biết
|
| Lĩnh vực: | Tư pháp-Hộ tịch |
TÓM TẮT NGHỊ QUYẾT 65/2006/QH11
Nghị quyết 65/2006/QH11: Quy định quan trọng về thi hành Luật Luật sư
Nghị quyết số 65/2006/QH11 của Quốc hội về việc thi hành Luật Luật sư được thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2007. Nghị quyết này quy định về cách thức thi hành và những điều chỉnh cần thiết đối với hoạt động của luật sư tại Việt Nam. Dưới đây là những điểm chính ảnh hưởng đến đối tượng luật sư, tổ chức luật sư và cá nhân, tổ chức kinh doanh dịch vụ pháp lý:
Luật sư đã có chứng chỉ: Những người đã được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư theo Pháp lệnh luật sư năm 2001 được quyền tiếp tục hành nghề theo Luật mới. Điều này đảm bảo tính liên tục trong hoạt động của họ.
Luật sư tập sự: Những cá nhân hiện đang là luật sư tập sự sẽ được tiếp tục tập sự theo quy định của Luật Luật sư, với thời gian đã tập sự trước đó được công nhận. Thẻ luật sư tập sự cũ sẽ không còn giá trị.
Thẻ luật sư: Thẻ luật sư do Đoàn luật sư cấp theo quy định cũ vẫn có giá trị cho đến khi được đổi thẻ mới. Ủy ban tổ chức luật sư toàn quốc chịu trách nhiệm hướng dẫn việc đổi thẻ luật sư.
Văn phòng luật sư và công ty luật: Trong vòng sáu tháng, các văn phòng luật sư và công ty luật đã được cấp Giấy đăng ký hoạt động theo Pháp lệnh trước đây phải hoàn tất thủ tục chuyển đổi để phù hợp với Luật Luật sư, được hướng dẫn thực hiện bởi Bộ Tư pháp.
Dịch vụ pháp lý: Những cá nhân và tổ chức đang kinh doanh dịch vụ pháp lý mà tiếp tục hoạt động này cũng cần phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện hành nghề luật sư và thực hiện chuyển đổi hình thức tổ chức hành nghề theo đúng quy định mới trong thời hạn sáu tháng, nếu không sẽ phải chấm dứt hoạt động.
Luật sư nước ngoài: Luật sư nước ngoài đã được cấp Giấy phép hành nghề tại Việt Nam và các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài có giấy phép hoạt động được phép tiếp tục hành nghề theo quy định của Luật Luật sư mới.
Đoàn luật sư: Các Đoàn luật sư đã thành lập theo quy định cũ không cần phải làm thủ tục xin phép thành lập lại, tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong việc duy trì hoạt động.
Hỗ trợ kinh phí: Nghị quyết cũng quy định rằng Chính phủ có trách nhiệm quy định cụ thể về việc hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước nhằm phát triển đội ngũ luật sư, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi đặc biệt khó khăn.
Nghị quyết này không chỉ thể hiện sự nhất quán trong quy định pháp luật, mà còn đảm bảo quyền lợi cho luật sư hiện đang hành nghề và các tổ chức liên quan, qua đó nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý tại Việt Nam.
Xem chi tiết Nghị quyết 65/2006/QH11 có hiệu lực kể từ ngày 12/07/2006
Tải Nghị quyết 65/2006/QH11
|
QUỐC HỘI Nghị quyết số: 65/2006/QH11 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Hà Nội, ngày 29 tháng 06 năm 2006 |
NGHỊ QUYẾT
VỀ VIỆC THI HÀNH LUẬT LUẬT SƯ
QUỐC HỘI
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;
QUYẾT NGHỊ:
1. Luật luật sư được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2007.
2. Chính phủ tổ chức việc rà soát những văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh luật sư năm 2001 để huỷ bỏ, ban hành văn bản mới để thi hành Luật này.
3. Kể từ ngày Luật luật sư có hiệu lực thì:
a) Người đã được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 được tiếp tục hành nghề luật sư theo quy định của Luật này;
b) Người đang là luật sư tập sự theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 được tiếp tục tập sự hành nghề luật sư theo quy định của Luật này; thời gian đã tập sự hành nghề luật sư được tính vào thời gian tập sự hành nghề luật sư theo quy định của Luật này và Thẻ luật sư tập sự không còn giá trị;
c) Thẻ luật sư do Đoàn luật sư cấp theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 có giá trị cho đến khi được đổi thẻ mới; tổ chức luật sư toàn quốc hướng dẫn việc đổi Thẻ luật sư;
d) Trong thời hạn sáu tháng, văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh đã được cấp Giấy đăng ký hoạt động theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 phải thực hiện thủ tục chuyển đổi thành văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh theo quy định của Luật này.
Bộ Tư pháp hướng dẫn việc chuyển đổi đối với các văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh đã được cấp Giấy đăng ký hoạt động theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001;
đ) Trong thời hạn sáu tháng, cá nhân, tổ chức đang kinh doanh dịch vụ pháp lý theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 1999 mà tiếp tục kinh doanh dịch vụ pháp lý thì phải có đủ các điều kiện hành nghề luật sư và phải chuyển đổi hình thức tổ chức hành nghề theo quy định của Luật này; nếu không chuyển đổi thì phải chấm dứt hoạt động.
Bộ Tư pháp hướng dẫn việc chuyển đổi đối với cá nhân, tổ chức kinh doanh dịch vụ pháp lý theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 1999;
e) Luật sư nước ngoài đã được cấp Giấy phép hành nghề tại Việt Nam; chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, công ty luật nước ngoài, công ty luật hợp danh nước ngoài và Việt Nam đã được cấp Giấy phép thành lập theo quy định của Nghị định 87/2003/NĐ-CP ngày 22 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ về hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam được tiếp tục hành nghề theo quy định của Luật này;
g) Đoàn luật sư được thành lập theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 không phải làm thủ tục xin phép thành lập lại;
h) Trong thời gian tổ chức luật sư toàn quốc chưa được thành lập, việc kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư do Bộ Tư pháp tổ chức thực hiện, việc cấp Thẻ luật sư do Đoàn luật sư thực hiện.
4. Chính phủ quy định cụ thể việc hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước đối với các tỉnh miền núi đặc biệt khó khăn để phát triển đội ngũ luật sư và bảo đảm hoạt động của Đoàn luật sư.
Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006.
|
|
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!