• Tổng quan
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung hợp nhất 

    Tính năng này chỉ có tại LuatVietnam.vn. Nội dung hợp nhất tổng hợp lại tất cả các quy định còn hiệu lực của văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính... trên một trang. Việc hợp nhất văn bản gốc và những văn bản, Thông tư, Nghị định hướng dẫn khác không làm thay đổi thứ tự điều khoản, nội dung.

    Khách hàng chỉ cần xem Nội dung hợp nhất là có thể nắm bắt toàn bộ quy định hiện hành đang áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

    =>> Xem hướng dẫn chi tiết cách sử dụng Nội dung hợp nhất

  • Tải về
Lưu
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Theo dõi VB
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Ghi chú
Báo lỗi
In

Kế hoạch 8247/KH-UBND Lai Châu khai thác sử dụng tài nguyên nước 2025-2026

Ngày cập nhật: Thứ Hai, 22/12/2025 21:29 (GMT+7)
Cơ quan ban hành: Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu
Số công báo:
Số công báo là mã số ấn phẩm được đăng chính thức trên ấn phẩm thông tin của Nhà nước. Mã số này do Chính phủ thống nhất quản lý.
Đang cập nhật
Số hiệu: 8247/KH-UBND Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Kế hoạch Người ký: Hà Trọng Hải
Trích yếu: Khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Lai Châu giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
19/12/2025
Ngày hết hiệu lực:
Ngày hết hiệu lực là ngày, tháng, năm văn bản chính thức không còn hiệu lực (áp dụng).
Đang cập nhật
Áp dụng:
Ngày áp dụng là ngày, tháng, năm văn bản chính thức có hiệu lực (áp dụng).
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Lĩnh vực: Tài nguyên-Môi trường

TÓM TẮT KẾ HOẠCH 8247/KH-UBND

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải Kế hoạch 8247/KH-UBND

Tải văn bản tiếng Việt (.pdf) Kế hoạch 8247/KH-UBND PDF (Bản có dấu đỏ)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH LAI CHÂU
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: /KH-UBND
Lai Châu, ngày tháng năm 2025
KẾ HOẠCH
Khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Lai Châu
giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026
Căn cứ Quyết định số 4822/QĐ-BNNMT ngày 14 tháng 11 năm 2025 của
Bộ Nông nghiệp và Môi trường về việc công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu
vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn năm 2025-2026, Ủy ban nhân dân tỉnh Lai
Châu ban hành Kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh
Lai Châu giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026, với các nội
dung chủ yếu sau:
I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1. Mục đích
- Chủ động điều hòa, phân phối tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh trong
mùa cạn năm 2025-2026.
- Bảo đảm ưu tiên cấp nước sinh hoạt, góp phần bảo đảm an ninh nguồn
nước, an ninh lương thực và an ninh năng lượng.
- Phòng ngừa, giảm thiểu nguy cơ thiếu nước cục bộ, hạn hán; hạn chế tác
động bất lợi đến đời sống Nhân dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
2. Yêu cầu
- Các sở, ban, ngành tỉnh; Ủy ban nhân dân các xã, phường và các cơ
quan, đơn vị có liên quan chủ động tổ chức thực hiện Kế hoạch khai thác, sử
dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến
tháng 6 năm 2026 theo nhiệm vụ, thẩm quyền được giao. Chủ trì, phối hợp trong
việc tham mưu điều hòa, phân phối nguồn nước phù hợp với thực trạng nguồn
nước, đáp ứng nhu cầu khai thác, phục vụ cấp nước sinh hoạt, sản xuất trên địa
bàn tỉnh.
- Đề xuất kế hoạch khai thác, sử dụng nước của từng công trình, từng khu
vực theo từng tháng, năm. Đề xuất các giải pháp điều hòa, phân phối nguồn
nước tại các khu vực có nguy cơ thiếu nước, trong đó ưu tiên cho cấp nước sinh
hoạt, sản xuất, phù hợp với thực trạng nguồn nước của tỉnh và Kịch bản nguồn
nước trên Lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn năm 2025-2026 công bố tại
Quyết định số 4822/QĐ-BNNMT ngày 14 tháng 11 năm 2025 của Bộ Nông
nghiệp và Môi trường.
8247
19
12
2
II. PHẠM VI, THỜI KỲ THỰC HIỆN
- Phạm vi thực hiện: Trên toàn bộ địa bàn tỉnh Lai Châu, theo các lưu vực
và tiểu lưu vực sông thuộc địa bàn tỉnh.
- Thời kỳ thực hiện: Mùa cạn năm 2025-2026, từ tháng 12 năm 2025 đến
hết tháng 6 năm 2026.
III. HIỆN TRẠNG NGUỒN NƯỚC VÀ DỰ BÁO XU THẾ DIỄN
BIẾN MƯA, DÒNG CHẢY, LƯỢNG NƯỚC TÍCH TRỮ TRONG CÁC
HỒ CHỨA NƯỚC LỚN
1. Hiện trạng nguồn nước trên địa bàn tỉnh
1.1. Hiện trạng nguồn nước mưa, nước mặt
a) Theo Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn
năm 2025-2026, trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2025, tổng lượng
mưa trên toàn lưu vực phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm cùng thời kỳ từ
khoảng 30% đến 60%, riêng lưu vực sông Đà cao hơn từ khoảng 10% đến 20%
- Trong các tháng 9 và tháng 10 năm 2025, do xuất hiện nhiều đợt mưa
diện rộng, tổng lượng mưa tại các lưu vực tiếp tục cao hơn trung bình nhiều năm
từ khoảng 30% đến 80%, trong đó một số khu vực thuộc lưu vực sông Đà có
lượng mưa cao gấp từ 2 đến 3 lần trung bình nhiều năm cùng kỳ.
- Dòng chảy thượng nguồn sông Đà (phía Trung Quốc) trong giai đoạn này
cao hơn trung bình 10 năm gần đây khoảng 68% đến 70%, góp phần gia tăng lượng
nước về các hồ chứa và dòng chảy trên hệ thống sông suối thuộc địa bàn tỉnh.
- Tổng lượng dòng chảy trên các sông, suối trong thời gian từ tháng 6 đến
tháng 10 năm 2025 phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm cùng thời kỳ, đặc
biệt trong tháng 10 năm 2025 do xuất hiện các đợt mưa lớn trên diện rộng.
- Riêng trên sông Đà, tổng lượng dòng chảy đến các hồ Lai Châu, Sơn La
và Hòa Bình trong giai đoạn này thấp hơn trung bình nhiều năm từ khoảng 3%
đến 5%. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm 2024, tổng lượng dòng chảy trên sông
Đà cũng như tổng lượng dòng chảy đến các hồ Lai Châu, Sơn La và Hòa Bình
cao hơn từ khoảng 3% đến 30%, góp phần cải thiện khả năng tích trữ nước phục
vụ điều tiết trong mùa cạn năm 2025-2026.
b) Theo số liệu Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Lai Châu
- Trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2025, tổng lượng mưa tại
các khu vực trên địa bàn tỉnh dao động từ khoảng 1.079 mm đến 1.970 mm. Phần
lớn các khu vực có tổng lượng mưa trong 5 tháng cao hơn trung bình nhiều năm
và cùng kỳ năm trước từ khoảng 20 mm đến 357 mm; riêng tại khu vực trạm khí
tượng Than Uyên ghi nhận tình trạng thiếu hụt lượng mưa trong 5 tháng so với
trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm trước từ khoảng 241 mm đến 434 mm.
3
- Trong tháng 9 năm 2025, trên địa bàn tỉnh xuất hiện từ 8 đến 12 ngày
mưa; tổng lượng mưa đo được dao động từ khoảng 157 mm đến 369 mm, cao
hơn trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm trước từ khoảng 20 mm đến 22 mm.
- Trong tháng 10 năm 2025, số ngày mưa tại các khu vực trong tỉnh từ 4
đến 6 ngày; tổng lượng mưa đo được từ khoảng 74 mm đến 216 mm, thấp hơn
trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm trước từ khoảng 16 mm đến 136 mm.
- Trong tháng 10 năm 2025, trên các sông, suối trên địa bàn tỉnh xuất hiện
từ 1 đến 2 đợt lũ nhỏ; từ tháng 11 năm 2025 đến nửa đầu tháng 12 năm 2025,
mực nước trên các sông, suối chủ yếu dao động theo chế độ điều tiết của các hồ
thủy điện thượng lưu.
- Tổng lượng dòng chảy trên các sông, suối trên địa bàn tỉnh từ tháng 10
đến tháng 11 năm 2025 ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm từ khoảng 30%
đến 60%, cho thấy nguồn nước bước vào giai đoạn suy giảm đầu mùa cạn, cần
được theo dõi chặt chẽ để chủ động điều hòa, phân phối và bảo đảm cấp nước
cho các nhu cầu thiết yếu trong thời gian tiếp theo.
1.2. Hiện trạng tích nước của các hồ chứa
- Theo Kịch bản nguồn nước (lần đầu) trên lưu vực sông Hồng - Thái
Bình, tổng lượng nước tích trữ tại 03 hồ chứa Lai Châu, Bản Chát và Huội
Quảng đến tháng 11 năm 2025 đạt khoảng 3.442 triệu m³.
- Hiện trạng các hồ chứa trên địa bàn tỉnh: Tính đến ngày 25 tháng 11
năm 2025, trên địa bàn tỉnh Lai Châu có 19 hồ chứa có dung tích trên 1 triệu m³,
gồm 02 hồ chứa thủy lợi và 17 hồ chứa thủy điện, cụ thể như sau:
+ Đối với hồ chứa thủy lợi: Có 02 hồ chứa, gồm Hồ Hoàng Hồ (xã Sìn
Hồ) với dung tích toàn bộ 2,406 triệu m³ và Hồ Xà Dề Phìn (xã Sìn Hồ) với
dung tích toàn bộ 2,650 triệu m³; hiện trạng tích nước cơ bản đáp ứng yêu cầu
cấp nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp theo thiết kế.
+ Đối với hồ chứa thủy điện: Có 03 hồ chứa của công trình thủy điện Lai
Châu, Huội Quảng, Bản Chát, hồ chứa điều tiết nước dài hạn (điều tiết năm), hồ
chứa có nhiệm vụ tích nước trong mùa mưa lũ phục vụ vận hành phát điện và
chống hạn cho vùng hạ du vào mùa khô. Hiện nay, 03 hồ chứa thủy điện nêu
trên đã thực hiện tích nước đạt sấp xỉ với dung tích toàn bộ của hồ chứa, cụ thể:
Dung tích hồ chứa thủy điện Lai Châu đạt 99,84%; dung tích hồ chứa thủy điện
Bản Chát đạt 99,81%; dung tích hồ chứa thủy điện Huội Quảng đạt 96,2%. Đảm
bảo sẵn sàng thực hiện việc vận hành xả nước phát điện thực hiện theo lệnh điều
độ của Trung tâm Điều độ hệ thống lưới điện Quốc gia, vận hành xả nước chống
hạn theo yêu cầu của bộ, ngành Trung ương nhằm đảm bảo an ninh năng lượng
và an ninh quốc gia trong giai đoạn tháng 12/2025 đến tháng 6/2026.
4
+ Có 14 hồ chứa của công trình thủy điện (Nậm Na 2, Nậm Na 3, Nậm Na
1, Pắc Ma, Pa Hạ, Phiêng Lúc, Nậm Củm 3, Mường Mít, Nậm Cuổi, Nậm Mít
Luông, Nậm Xí Lùng 2, Nậm Củm 4, Vàng Ma Chải 2, Nà An) có dung tích hồ
chứa trên 1 triệu m
3
điều tiết nước phát điện theo giờ trong ngày. Mực nước
trong hồ chứa được duy trì không thấp hơn mực nước chết và không vượt quá
mực nước dâng bình thường thông qua các tổ máy phát điện và công trình xả lũ.
- Các hồ chứa thủy lợi và thủy điện cơ bản đảm bảo nguồn nước phục vụ
sinh hoạt, sản xuất và phát điện theo thiết kế, tuy nhiên hồ chứa thủy điện Huội
Quảng thiếu khoảng 3,8% so với kế hoạch.
1.3. Hiện trạng cấp nước sinh hoạt
a) Cấp nước sạch đô thị
- Hiện nay, Công ty Cổ phần Nước sạch Lai Châu đang quản lý, vận hành
và khai thác 10 trạm cấp nước, với tổng công suất thiết kế đạt khoảng 45.220
m³/ngày đêm, tăng 1.720 m³/ngày đêm so với cùng kỳ năm 2024. Lưu lượng
nước khai thác thực tế đạt khoảng 27.220 m³/ngày đêm, sử dụng 08 nguồn nước
mặt và 02 nguồn nước ngầm trên các con suối trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
- Trong những năm gần đây, nhiều nguồn nước mặt và suối phục vụ cấp
nước sinh hoạt đô thị thường xuyên bị suy giảm lưu lượng vào mùa khô (từ đầu
tháng 12 năm trước đến hết tháng 4 năm sau), dẫn đến tình trạng thiếu nước cục
bộ tại một số khu vực. Cụ thể:
+ Nhà máy xử lý và cấp nước sinh hoạt - hệ thống cấp nước trạm Tả Lèng
chỉ đạt khoảng 72% công suất thiết kế, thiếu khoảng 27%, tương đương 4.320
m³/ngày đêm;
+ Trạm xử lý và cấp nước sinh hoạt đầu nguồn Nùng Nàng chỉ đạt khoảng
70% công suất thiết kế, thiếu khoảng 30%, tương đương 600 m³/ngày đêm;
+ Trạm xử lý và cấp nước sinh hoạt khu vực Nậm Lỏong chỉ đạt khoảng
71% công suất thiết kế, thiếu khoảng 29%, tương đương 435 m³/ngày đêm;
+ Trạm cấp nước sinh hoạt Bình Lư (xã Bình Lư) chỉ đạt khoảng 72%
công suất thiết kế, thiếu khoảng 28%, tương đương 560 m³/ngày đêm;
+ Trạm cấp nước sinh hoạt xã Sìn Hồ chỉ đạt khoảng 78% công suất thiết
kế, thiếu khoảng 22%, tương đương 440 m³/ngày đêm;
+ Trạm cấp nước sinh hoạt khu vực xã Phong Thổ chỉ đạt khoảng 73%
công suất thiết kế, thiếu khoảng 27%, tương đương 540 m³/ngày đêm;
+ Công trình cấp nước sinh hoạt Hua Nà (xã Than Uyên) chỉ đạt khoảng
72% công suất thiết kế, thiếu khoảng 28%, tương đương 840 m³/ngày đêm.
5
Như vậy, trên địa bàn tỉnh Lai Châu trong mùa khô, tình trạng thiếu nước
sinh hoạt đô thị trên địa bàn tỉnh Lai Châu ước khoảng 7.700 - 8.000 m³/ngày
đêm, tập trung chủ yếu tại các khu vực Tả Lèng, phường Đoàn Kết, Bình Lư,
Sìn Hồ, Phong Thổ và Than Uyên. Đây là các khu vực cần được ưu tiên theo
dõi, điều hòa và bổ sung nguồn nước trong giai đoạn mùa cạn từ tháng 12 năm
2025 đến tháng 6 năm 2026.
b) Cấp nước sạch/nước hợp vệ sinh nông thôn:
- Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Lai Châu có 808 công trình cấp nước
sạch/nước hợp vệ sinh khu vực nông thôn, trong đó gồm 22 công trình cấp nước
sạch nông thôn và 786 công trình cấp nước hợp vệ sinh nông thôn. Nhìn chung,
nguồn nước cơ bản bảo đảm nhu cầu cấp nước sinh hoạt cho Nhân dân; tuy
nhiên, trong mùa khô vẫn tiềm ẩn nguy cơ thiếu nước cục bộ tại một số khu vực,
cụ thể như sau:
+ Khu vực các xã: Sin Suối Hồ, Phong Thổ, Sì Lở Lầu, Dào San, Khổng
Lào: Trong thời gian từ tháng 01 đến tháng 5 hằng năm, có 09 công trình cấp
nước hợp vệ sinh có nguy cơ thiếu nước, gồm các công trình: cấp nước sinh hoạt
bản Dền Thàng A, Dền Thàng B, bản Hợp 2, bản Xì Phải, bản Lèng Chư (xã
Dào San); công trình cấp nước sinh hoạt xã Dào San; công trình cấp nước sinh
hoạt bản Lảng Than (xã Dào San); công trình cấp nước sinh hoạt trung tâm xã
Sì Lở Lầu; công trình cấp nước sinh hoạt bản Hoàng Trù Sào (xã Phong Thổ).
+ Khu vực các xã: Lê Lợi, Nậm Hàng, Mường Mô, Hua: Trong thời gian
từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, có 13/65 công trình cấp nước sinh hoạt hợp vệ
sinh có nguy cơ thiếu nước, gồm các công trình: cấp nước sinh hoạt bản Nậm
Manh, Huổi Héo, Huổi Chát 2, bản Nậm Nàn (nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3), bản
Cang, bản Nậm Cầy, bản Nậm Ty, bản Phiêng Luông I và II, bản Phiêng Lằn,
bản Táng Ngá, bản Chang Chảo Pá, bản Pa Cheo, bản Lao Chen.
+ Khu vực các xã: Tủa Sín Chải, Sìn Hồ, Hồng Thu, Nậm Tăm, Pu Sam
Cáp, Nậm Cuổi, Nậm Mạ: Trong thời gian từ khoảng tháng 9 đến tháng 3 năm
sau, có 03/157 công trình cấp nước sinh hoạt có nguy cơ thiếu nước, gồm: công
trình nâng cấp nước sinh hoạt bản Hồ Sì Pán (xã Pu Sam Cáp); công trình nước
sinh hoạt bản Nậm Khăm (xã Tủa Sín Chải); công trình nước sinh hoạt bản Pú
Mạ (xã Nậm Cuổi).
+ Khu vực các phường: Đoàn Kết, Tân Phong: Hiện có 13 công trình cấp
nước tập trung khu vực nông thôn, các công trình cơ bản bảo đảm đủ nước sinh
hoạt cho các hộ dân, chưa ghi nhận nguy cơ thiếu nước trong mùa khô.
Như vậy cấp nước sinh hoạt khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh cơ bản
đáp ứng nhu cầu trong điều kiện bình thường; tuy nhiên, tại một số xã, khu vực
vùng cao, vùng xa, nguy cơ thiếu nước trong mùa khô vẫn còn, cần được theo
6
dõi, chủ động điều hòa, bổ sung nguồn nước và có phương án ứng phó kịp thời
trong giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026.
1.4. Hiện trạng khai thác nguồn nước tại các hồ chứa thủy lợi, hệ thống
công trình thủy lợi
- Đến hết năm 2025, trên địa bàn tỉnh Lai Châu có khoảng 1.018 công
trình thủy lợi, trong đó gồm 06 hồ chứa, 1.012 công trình tưới tự chảy, với tổng
diện tích tưới khoảng 27.550 ha. Công ty TNHH MTV Quản lý thủy nông Lai
Châu đang quản lý, vận hành 96 công trình, các công trình còn lại do Ủy ban
nhân dân các xã, phường trực tiếp quản lý.
- Về hiện trạng công trình, toàn tỉnh có 947 công trình kiên cố và 71 công
trình tạm; tổng chiều dài kênh mương khoảng 2.330 km, trong đó 1.890 km
kênh kiên cố và 470 km kênh tạm. Nhìn chung, các công trình thủy lợi cơ bản
đáp ứng nhu cầu tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp; tuy nhiên, vào mùa khô, do
ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng kéo dài và lưu lượng nguồn nước suy giảm,
một số công trình có nguy cơ thiếu nước cục bộ, cụ thể như sau:
- Khu vực các xã: Sin Suối Hồ, Phong Thổ, Sì Lở Lầu, Dào San, Khổng
Lào: Có 13/193 công trình có nguy cơ thiếu nước vào mùa khô, gồm các công
trình: Nà Củng, Đon Kang, Kênh Thủy điện, Nậm Nhịp, Nà Giang, Nà Trai, Nà
Tung, Dao Chản, Nậm Hang, Phái Bản, Tùng Luông, Nậm Chín (xã Phong
Thổ); Mồ Sì Câu (xã Khổng Lào); Sín Chải (xã Sì Lở Lầu). Lượng nước thiếu
dự kiến từ khoảng 10% đến 18,5% so với công suất thiết kế.
- Khu vực các xã: Lê Lợi, Nậm Hàng, Mường Mô, Hua Bum: Có 06/60
công trình có nguy cơ thiếu nước vào mùa khô, gồm các công trình: Nậm Nhùn
(Na Sai), bản Nậm Nhùn; Na Bắc Cang (Nậm Bắc), xã Nậm Hàng; Se Sư (bản
Chang Chảo Pá, xã Hua Bum); Nậm Nó 1 (Trung Trải, xã Pa Tần); Nậm Cầy 1
(Huổi Ban, xã Nậm Hàng); Nậm Cầy 2 (bản Pa Tết, xã Nậm Hàng); Nậm Manh
(bản Nậm Manh, xã Nậm Hàng); Nậm Manh (bãi 1 và bãi 2, xã Nậm Hàng).
Một số công trình thiếu nước trong tháng 4 đến tháng 5, gây thiệt hại khoảng 12
ha lúa bị mất trắng, không cho thu hoạch. Lượng nước thiếu dự kiến từ khoảng
12% đến 28,3% so với công suất thiết kế.
- Khu vực các xã: Bản Bo, Bình Lư, Tả Lèng, Khun Há: Có 19/170 công
trình có nguy cơ thiếu nước vào mùa khô, gồm các công trình: Lở Thàng, Thèn
Sin, Bản Giang, Nậm Pé, Hồ Thầu, Nà Đa Phìn, Tắc Tình, Nậm Na – Nậm
Tường, Lài Khan, Thèn Thầu, Nà Hum, công trình thủy lợi kiên cố cánh đồng
Bình Lư - Nà Tăm, Chu Va 12.2, Nậm Tằng - Nà Sằng, Nà Ly, Khun Há, Ma
Sao Phìn, Đông Pao, Nà Ly (Nà Hiềng). Lượng nước thiếu trung bình từ khoảng
4,7% đến 18,75% so với công suất thiết kế.
7
- Khu vực các xã: Pắc Ta, Nậm Sỏ, Tân Uyên, Mường Khoa: Có 15/116
công trình có nguy cơ thiếu nước vào mùa khô, gồm các công trình: Bản
Mường, Hua Cưởm 1 và 2, Bó Lun - Cóc Nhủng, C23, Nậm Mít, Nậm Vai (K2),
Mít Dạo, Phiêng Chăng II, Chom Chăng, Nà Pắt, Nậm Be, Hua Chăng, Nà
Khoang, Ngọc Lại, công trình thủy lợi Nậm Bon. Lượng nước thiếu trung bình
từ khoảng 3,75% đến 20% so với công suất thiết kế.
- Khu vực các xã: Mường Kim, Khoen On, Than Uyên, Mường Than: Có
09/119 công trình có nguy cơ thiếu nước vào mùa khô, gồm các công trình: Nà
Khằm, Cẩm Chung, Nà Ban, Chiềng Ban, Phai Ngoa, Nậm Mở, Nậm Lưng, Nà
Phát - Sang Ngà, Phai Ta. Lượng nước thiếu trung bình từ khoảng 5% đến
22,22% so với công suất thiết kế.
- Khu vực các xã: Sìn Hồ, Hồng Thu, Nậm Tăm, Pu Sam Cáp, Nậm Cuổi,
Nậm Mạ: Có 10/169 công trình có nguy cơ thiếu nước vào mùa khô, gồm các
công trình: Hoàng Hồ, Nậm Tần 2 (Pá Nặm), Tà Ghênh (nhóm Tà Tâu), Phiêng
Diểm, Nậm Ta La, Ná Hay, Ta Pả, Nậm Há, Phiêng Trạng, Pa Khóa. Lượng
nước thiếu trung bình từ khoảng 10% đến 17,4% so với công suất thiết kế.
- Khu vực các xã: Bum Nưa, Bum Tở, Mường Tè, Thu Lũm, Pa Ủ: Có
03/144 công trình có nguy cơ thiếu nước vào mùa khô, gồm các công trình: Nậm
Mạ Nọi, Na Pu Đeng, Công Cầu Máng. Lượng nước thiếu trung bình từ khoảng
9% đến 28,57% so với công suất thiết kế.
- Khu vực các phường: Đoàn Kết, Tân Phong: Hiện có 23 công trình
thủy lợi đang vận hành và 02 hồ điều hòa, chưa ghi nhận nguy cơ thiếu nước
trong mùa khô.
Như vậy trên địa bàn tỉnh Lai Châu có 75/1.018 công trình thủy lợi có
nguy cơ thiếu nước trong mùa khô từ tháng 01 năm 2026 đến tháng 4 năm 2026,
với mức thiếu hụt ước từ khoảng 3,75% đến 28,57% so với công suất thiết kế.
Đây là cơ sở để tỉnh xây dựng phương án điều hòa, phân phối nguồn nước và ưu
tiên cấp nước cho sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn mùa cạn từ tháng 12
năm 2025 đến tháng 6 năm 2026.
1.5. Hiện trạng khai thác nguồn nước tại các hồ chứa thủy điện
- Tính đến ngày 25 tháng 11 năm 2025, trên địa bàn tỉnh Lai Châu có 72
công trình thủy điện đã đưa vào vận hành phát điện; trong đó có 17 công trình
thủy điện có hồ chứa với dung tích từ 1 triệu m³ trở lên. Cụ thể như sau:
+ Nhóm hồ chứa điều tiết dài hạn (điều tiết năm): Có 03 công trình thủy
điện Lai Châu, Huội Quảng và Bản Chát là các hồ chứa điều tiết dài hạn, có
nhiệm vụ tích nước trong mùa mưa lũ để phục vụ vận hành phát điện và điều
hòa, bổ sung nguồn nước chống hạn cho vùng hạ du trong mùa khô. Đến thời
8
điểm cuối tháng 11 năm 2025, các hồ chứa này đã thực hiện tích nước đạt xấp xỉ
dung tích toàn bộ, cụ thể: hồ chứa thủy điện Lai Châu đạt khoảng 1.215.000.000
m³ (đạt 99,84%); hồ chứa thủy điện Bản Chát đạt khoảng 2.137.700.000 m³ (đạt
99,81%); hồ chứa thủy điện Huội Quảng đạt khoảng 2.137.700.000 m³ (đạt
95,18%). Các hồ chứa này bảo đảm điều kiện sẵn sàng vận hành theo lệnh điều
độ của Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia và thực hiện xả nước chống
hạn theo yêu cầu của các bộ, ngành Trung ương, góp phần bảo đảm an ninh
năng lượng và an ninh nguồn nước trong giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến
tháng 6 năm 2026.
+ Nhóm hồ chứa điều tiết ngày: Có 14 công trình thủy điện gồm: Nậm Na
1, Nậm Na 2, Nậm Na 3, Pắc Ma, Pa Hạ, Phiêng Lúc, Nậm Củm 3, Nậm Củm 4,
Mường Mít, Nậm Cuổi, Nậm Mít Luông, Nậm Xí Lùng 2, Vàng Ma Chải 2, Nà
An; cùng với 46 hồ chứa nhỏ điều tiết nước phát điện theo giờ trong ngày. Mực
nước tại các hồ chứa này được duy trì không thấp hơn mực nước chết và không
vượt quá mực nước dâng bình thường, thông qua vận hành các tổ máy phát điện
và công trình xả lũ theo quy định.
2. Dự báo xu thế diễn biến mưa, dòng chảy, lượng nước tích trữ trong
các hồ chứa có dung tích từ 1 triệu m³ trở lên trong kỳ kế hoạch
- Theo Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn
năm 2025-2026, hiện nay hiện tượng ENSO đang trong trạng thái La Niña. Dự
báo, trong 03 tháng tới, xác suất duy trì trạng thái La Niña ở mức khoảng 60%
đến 75%, trong khi xác suất chuyển sang trạng thái trung tính khoảng 25% đến
40%. Trong giai đoạn từ tháng 02 đến tháng 4 năm 2026, ENSO có khả năng
chuyển dần sang trạng thái trung tính với xác suất khoảng 55% đến 65%; xác suất
duy trì trạng thái La Niña khoảng 25% đến 30% và El Nino khoảng 5% đến 20%.
- Về nhiệt độ, trong thời gian từ tháng 11 năm 2025 đến tháng 3 năm
2026, nhiệt độ trung bình trên khu vực phổ biến xấp xỉ trung bình nhiều năm
cùng thời kỳ. Giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2026, nhiệt độ trung bình có
xu hướng cao hơn trung bình nhiều năm từ khoảng 0,5°C đến 1,0°C. Nắng nóng
có khả năng xuất hiện tại khu vực Tây Bắc Bộ từ cuối tháng 3 năm 2026, và từ
tháng 4 năm 2026 có khả năng xảy ra nắng nóng trên diện rộng tại khu vực Bắc
Bộ, làm gia tăng nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt và sản xuất.
- Về tổng lượng mưa, trong thời gian từ tháng 11 năm 2025 đến tháng 6 năm
2026, tổng lượng mưa trên toàn lưu vực xấp xỉ trung bình nhiều năm, cụ thể:
+ Tháng 11 năm 2025: Tổng lượng mưa phổ biến xấp xỉ trung bình nhiều năm;
+ Tháng 12 năm 2025: Tổng lượng mưa tại các lưu vực thiếu hụt khoảng
5% đến 10% so với trung bình nhiều năm, phổ biến từ 15 mm đến 40 mm, thiếu
hụt từ 5 mm đến 10 mm;
9
+ Từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2026: tổng lượng mưa tại các lưu vực phổ
biến xấp xỉ trung bình nhiều năm, trong đó:
Tháng 01 năm 2026: Khoảng 15 - 35 mm;
Tháng 02 năm 2026: Khoảng 20 - 40 mm;
Tháng 3 năm 2026: Khoảng 40 - 70 mm;
Tháng 4 năm 2026: Khoảng 70 - 120 mm;
Tháng 5 năm 2026: Khoảng 100 - 200 mm;
Tháng 6 năm 2026: Khoảng 200 - 400 mm.
- Về dòng chảy, trong các tháng mùa cạn trên các sông thuộc lưu vực
sông Hồng - Thái Bình, đặc biệt là trên sông Đà, dòng chảy đến hồ Hòa Bình so
với trung bình nhiều năm có xu hướng thiếu hụt trong thời gian cuối tháng 11 và
tháng 12 năm 2025, với mức thiếu hụt khoảng 6% đến 17%. Trong giai đoạn từ
tháng 01 đến tháng 5 năm 2026, dòng chảy có khả năng cao hơn trung bình
nhiều năm từ khoảng 15% đến 40%; riêng tháng 6 năm 2026, dòng chảy có khả
năng thiếu hụt khoảng 23% so với trung bình nhiều năm.
Nhận định chung, trong kỳ kế hoạch, nguồn nước trên các lưu vực thuộc
địa bàn tỉnh cơ bản đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng trong điều kiện bình
thường; tuy nhiên, trong các tháng cao điểm mùa khô và thời kỳ nắng nóng, vẫn
tiềm ẩn nguy cơ thiếu nước cục bộ, đòi hỏi phải chủ động điều hòa, phân phối
và sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, đặc biệt đối với các hồ chứa có dung tích từ
1 triệu m³ trở lên.
2.1. Dự báo khí tượng, thủy văn từ tháng 01 năm 2026 đến tháng 03 năm 2026
a) Khí tượng
- Nắng nóng: Có khả năng xuất hiện sớm vào cuối tháng 3 năm 2026 tại các
khu vực vùng thấp, gồm các xã: Bum Nưa, Bum Tở, Mường Tè, Thu Lũm, Lê Lợi,
Nậm Hàng, Mường Mô, Hua Bum, Sin Suối Hồ, Phong Thổ, Sì Lở Lầu, Dào San,
Khổng Lào. Số ngày nắng nóng có khả năng cao hơn trung bình nhiều năm.
- Dông, lốc, sét, mưa đá và mưa lớn cục bộ: Cần đề phòng các hiện
tượng thời tiết nguy hiểm như dông, lốc, sét, mưa đá, mưa lớn cục bộ và gió
giật mạnh, đặc biệt trong các đợt gió mùa Đông Bắc tăng cường và thời kỳ
giao mùa (cuối tháng 3).
- Khả năng tác động: Các hiện tượng nêu trên có thể ảnh hưởng bất lợi
đến môi trường, điều kiện sống, cơ sở hạ tầng, hoạt động sản xuất nông nghiệp
và sức khỏe cộng đồng tại các khu vực chịu tác động; trong một số đợt rét đậm,
rét hại có thể kèm theo sương muối, băng giá tại vùng núi cao.
10
b) Dự báo thủy văn và nguồn nước
Xu thế mực nước: Trên các sông, suối thuộc địa bàn tỉnh, từ đầu tháng 01 năm
2026 đến hết tháng 03 năm 2026 là giai đoạn đầu mùa cạn, mực nước có xu thế giảm
dần và chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi điều tiết của các hồ thủy điện thượng nguồn.
Mực nước trung bình trên các sông, suối phổ biến ở mức thấp hơn trung bình nhiều
năm; riêng sông Nậm Bum tại trạm Nà Hừ ở mức xấp xỉ trung bình nhiều năm.
Tổng lượng mưa: Trong giai đoạn này, tổng lượng mưa phổ biến xấp xỉ
trung bình nhiều năm và thấp hơn cùng kỳ năm trước.
Nguồn nước trong giai đoạn đầu mùa cạn có xu hướng suy giảm, cần theo
dõi chặt chẽ diễn biến mực nước và chủ động điều hòa, phân phối nguồn nước
cho các nhu cầu thiết yếu.
2.2. Xu thế thời tiết, thủy văn từ tháng 04 năm 2026 đến tháng 06 năm 2026
a) Khí tượng
- Xu thế nhiệt độ: Trong thời gian từ tháng 04 đến tháng 06 năm 2026,
nhiệt độ không khí trung bình trên địa bàn tỉnh phổ biến xấp xỉ và cao hơn trung
bình nhiều năm.
- Xu thế lượng mưa: Tổng lượng mưa trong giai đoạn này phổ biến xấp xỉ
trung bình nhiều năm.
- Nắng nóng: Số ngày nắng nóng có khả năng nhiều hơn trung bình nhiều
năm; cần đề phòng nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt tại các xã vùng thấp,
gồm: Bum Nưa, Bum Tở, Mường Tè, Thu Lũm, Lê Lợi, Nậm Hàng, Mường
Mô, Hua Bum, Sin Suối Hồ, Phong Thổ, Sì Lở Lầu, Dào San, Khổng Lào.
- Khả năng tác động: Nắng nóng, dông, lốc, sét, mưa đá và mưa lớn cục
bộ có thể tác động tiêu cực đến môi trường, sản xuất nông nghiệp và sức khỏe
cộng đồng trên phạm vi toàn tỉnh.
b) Thủy văn và nguồn nước
- Xu thế mực nước: Trong giai đoạn từ tháng 04 đến tháng 05 năm 2026,
mực nước các sông, suối dao động theo chế độ điều tiết của các hồ chứa thượng
nguồn; sang tháng 06 năm 2026, mực nước có khả năng dao động nhẹ. Mực
nước trung bình trên các sông, suối phổ biến thấp hơn trung bình nhiều năm;
riêng trạm Nà Hừ ở mức xấp xỉ trung bình nhiều năm.
- Xu thế tổng lượng nước mặt: Từ tháng 04 đến tháng 06 năm 2026, tổng
lượng nước mặt trên các sông, suối có khả năng thấp hơn trung bình nhiều năm
từ khoảng 10% đến 30%.
- Cảnh báo thủy văn nguy hiểm: Nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất tại một
số khu vực trong tỉnh, tập trung vào tháng 05 và tháng 06 năm 2026.
11
- Khả năng tác động: Lũ quét, sạt lở đất có thể đe dọa an toàn tính mạng
người dân, gây thiệt hại cơ sở hạ tầng, công trình dân sinh, làm gián đoạn giao
thông cục bộ và ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn.
2.3. Dự báo lượng nước tích trữ trong các hồ chứa có dung tích từ 1 triệu m
3
trở lên
Trong giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026, là thời kỳ
cao điểm mùa khô, lượng mưa trên lưu vực thấp hơn đáng kể so với trung bình
cả năm, kéo theo lưu lượng dòng chảy về các hồ chứa thủy điện suy giảm. Theo
dự báo, lượng nước về hồ trong mùa khô có thể thấp hơn khoảng 30% so với
tổng lượng dòng chảy trung bình năm.
Do đó, trong kỳ kế hoạch, khả năng tích trữ và bổ sung nước cho các hồ
chứa thủy điện chủ yếu phụ thuộc vào lượng nước đã tích lũy từ mùa mưa năm
trước; việc vận hành phát điện trong một số thời điểm có thể không bảo đảm duy
trì công suất lắp máy tối đa trong toàn bộ số giờ vận hành, đặc biệt vào các
tháng cao điểm mùa khô. Điều này đòi hỏi tăng cường phối hợp điều tiết, vận
hành hồ chứa hợp lý, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu phát điện và nhiệm vụ điều
hòa, bổ sung nguồn nước cho hạ du.
Nhận định, lượng nước tích trữ tại các hồ chứa có dung tích từ 1 triệu m³
trở lên trong kỳ kế hoạch cơ bản đáp ứng yêu cầu vận hành theo kịch bản điều
tiết, song cần theo dõi chặt chẽ diễn biến dòng chảy đến hồ để chủ động điều
chỉnh phương thức vận hành trong điều kiện nguồn nước bất lợi.
2.4. Dự báo nhu cầu và khả năng cấp nước của các hồ chứa thủy lợi, hệ
thống công trình thủy lợi
Trong giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026, do ảnh
hưởng của mùa khô kéo dài và lượng mưa thấp, khả năng bổ sung nước cho các
công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh bị hạn chế. Theo đánh giá hiện trạng và dự
báo nguồn nước, toàn tỉnh có khoảng 75/1.018 công trình thủy lợi có nguy cơ
thiếu nước trong thời gian từ tháng 01 năm 2026 đến tháng 4 năm 2026, với
mức thiếu hụt ước từ khoảng 3,75% đến 28,57% so với công suất thiết kế.
Việc thiếu nước tại các công trình này chủ yếu xảy ra cục bộ, tập trung tại
các khu vực vùng cao, vùng xa, phụ thuộc lớn vào nguồn nước tự nhiên. Do đó,
trong kỳ kế hoạch cần ưu tiên bố trí, điều hòa nguồn nước hợp lý, áp dụng các
biện pháp tưới tiết kiệm, đồng thời chủ động phương án ứng phó nhằm hạn chế
thấp nhất ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống Nhân dân.
IV. KẾ HOẠCH KHAI THÁC, SỬ DỤNG NƯỚC THEO TỪNG
THÁNG, THỜI KỲ TRONG NĂM
1. Kế hoạch khai thác, sử dụng nước sinh hoạt đến tháng 6 năm 2026
1.1. Kế hoạch khai thác, sử dụng nước sinh hoạt khu vực đô thị
12
a) Nhiệm vụ
- Quản lý, vận hành, khai thác các trạm cấp nước sinh hoạt đô thị trên địa
bàn tỉnh, bảo đảm cung cấp đủ nước cho các cơ quan, tổ chức và Nhân dân;
không để xảy ra tình trạng thiếu nước kéo dài, thiếu nước trên diện rộng.
- Thực hiện điều tiết hài hòa các nguồn nước, ưu tiên cấp bổ sung cho các
trạm cấp nước có nguy cơ thiếu nguồn trong mùa khô.
b) Giải pháp
- Thường xuyên kiểm tra, bảo trì, bảo dưỡng các trạm cấp nước sinh hoạt
đô thị, bảo đảm vận hành liên tục, ổn định, hạn chế sự cố, rò rỉ, thất thoát, lãng
phí nước.
- Tăng cường kiểm tra, vệ sinh, khơi thông các nguồn nước, bảo đảm lưu
thông dòng chảy, hạn chế suy giảm lưu lượng.
- Chủ động tìm kiếm, bổ sung nguồn nước đối với các trạm có nguy cơ
thiếu nước, gồm: Trạm xử lý và cấp nước sinh hoạt xã Phong Thổ (cụm Pa So),
Trạm xử lý và cấp nước sinh hoạt xã Bình Lư, Trạm xử lý và cấp nước sinh hoạt
Hua Nà.
- Riêng Nhà máy nước trạm Tả Lèng, thực hiện khai thác tối đa công suất
các trạm cấp nước Nậm Loỏng, Nùng Nàng để bổ sung lượng nước thiếu hụt
trong thời gian cao điểm mùa khô.
1.2. Kế hoạch khai thác, sử dụng nước sinh hoạt khu vực nông thôn
a) Nhiệm vụ
- Quản lý, vận hành, khai thác các công trình cấp nước sạch/nước hợp vệ
sinh khu vực nông thôn, bảo đảm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước của Nhân dân.
- Chủ động rà soát, tìm kiếm các nguồn nước bổ sung cho các công trình
có nguy cơ thiếu nước trong mùa khô.
b) Giải pháp
- Trước mùa khô, đơn vị quản lý, vận hành tổ chức kiểm tra, vệ sinh khu
vực cửa lấy nước, hệ thống dẫn nước; giảm thiểu thất thoát, lãng phí nước.
- Trường hợp xảy ra hạn hán, thiếu nước, nghiên cứu, đề xuất phương án
cấp nước bổ sung hoặc thay thế nguồn cấp, bảo đảm lưu lượng và chất lượng
nước hợp vệ sinh.
- Tăng cường tuyên truyền, vận động Nhân dân sử dụng nước tiết kiệm,
chia sẻ nguồn nước tại các khu vực có nguy cơ thiếu nước.
13
2. Kế hoạch khai thác, sử dụng nước phục vụ sản xuất nông nghiệp
a) Nhiệm vụ
- Quản lý, vận hành các công trình thủy lợi, bảo đảm cấp nước phục vụ
sản xuất nông nghiệp phù hợp với điều kiện nguồn nước mùa khô.
- Chủ động điều hòa, phân phối nước, hạn chế thấp nhất thiệt hại do thiếu
nước gây ra.
b) Giải pháp
- Các đơn vị quản lý, vận hành công trình thủy lợi xây dựng kế hoạch
canh tác, kế hoạch lấy nước tưới phù hợp với mùa vụ, bám sát kịch bản nguồn
nước và kế hoạch này.
- Đối với các công trình thủy lợi phía hạ du các nhà máy thủy điện, tổ chức
lấy nước theo giờ phát điện, phối hợp chặt chẽ với đơn vị vận hành thủy điện.
- Ưu tiên bảo đảm nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, đề nghị các hồ
thủy điện xả dòng chảy tối thiểu đúng quy định trong giấy phép khai thác nước mặt.
- Tiếp tục đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi theo hướng nâng cao hiệu
quả sử dụng nước, xã hội hóa quản lý công trình; củng cố, phát triển các tổ chức
quản lý thủy lợi cơ sở.
- Đẩy mạnh kiên cố hóa kênh mương, áp dụng các công nghệ tưới tiết
kiệm nước, phát triển các hồ thủy lợi theo hướng đa mục tiêu (tưới, tiêu, thủy
sản, du lịch, phòng chống thiên tai).
3. Kế hoạch khai thác, sử dụng nước phục vụ sản xuất điện
a) Nhiệm vụ
Quản lý, vận hành hiệu quả các hồ chứa thủy điện, bảo đảm an ninh năng
lượng, phù hợp với thực trạng nguồn nước và yêu cầu điều tiết mùa khô.
b) Giải pháp
- Đối với 03 công trình thủy điện Lai Châu, Huội Quảng, Bản Chát, bảo
đảm sẵn sàng vận hành theo lệnh điều độ của Trung tâm Điều độ Hệ thống điện
Quốc gia; thực hiện xả nước chống hạn theo yêu cầu của cơ quan Trung ương
trong giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026.
- Đối với các thủy điện điều tiết ngày, duy trì mực nước không thấp hơn mực
nước chết, không vượt mực nước dâng bình thường; căn cứ lưu lượng nước về hồ
và lệnh điều độ để vận hành phát điện phù hợp, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước.
- Trường hợp mực nước hồ ở mực nước chết và lưu lượng nước về hồ
không đáp ứng yêu cầu vận hành tối thiểu, nhà máy tạm dừng phát điện.
14
- Thực hiện nghiêm quy trình vận hành hồ chứa, liên hồ chứa; trong
trường hợp hạn hán, thiếu nước, chủ động cắt giảm sản lượng phát điện, ưu tiên
cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp.
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Các Sở, ngành
1.1. Sở Nông nghiệp và Môi trường
- Theo dõi, kiểm tra việc duy trì xả dòng chảy tối thiểu của các công trình
khai thác nước; xử lý nghiêm trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật.
- Hướng dẫn, tiếp nhận, tham mưu cấp, điều chỉnh, gia hạn, thu hồi giấy
phép khai thác tài nguyên nước theo thẩm quyền.
- Chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan đôn đốc, tiếp nhận hồ sơ,
tham mưu cấp thẩm quyền phê duyệt phương án cắm mốc hành lang bảo vệ
nguồn nước hồ chứa thủy lợi, thủy điện theo thẩm quyền.
- Chủ trì tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành, điều chỉnh kế hoạch
khai thác, sử dụng tài nguyên nước khi kịch bản nguồn nước thay đổi.
- Chỉ đạo vận hành hiệu quả các công trình thủy lợi, tổ chức lấy nước tập
trung, hạn chế phát sinh nhu cầu lấy nước ngoài kế hoạch.
- Rà soát, nâng cấp công trình thủy lợi; tính toán cụ thể nhu cầu nước tưới
dưỡng lúa giai đoạn tháng 02-4 năm 2026.
- Thẩm định, điều chỉnh quy trình vận hành hồ chứa thủy lợi, bảo đảm sử
dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu.
1.2. Sở Công Thương
- Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức thẩm định quy trình vận hành hồ chứa thủy
điện thuộc thẩm quyền phê duyệt của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; đôn đốc các
chủ đầu tư rà soát, lập và trình phê duyệt điều chỉnh quy trình vận hành hồ chứa
thủy điện, bảo đảm sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu, chống thất
thoát, lãng phí; trong trường hợp xảy ra hạn hán, thiếu nước, ưu tiên sử dụng
nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất của Nhân dân.
- Chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường và các chủ dự án
thủy điện tổ chức điều tiết hồ chứa công trình thủy điện khi xảy ra thiếu nước
phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp; kiểm tra theo thẩm quyền việc chấp
hành quy trình vận hành hồ chứa đối với các dự án, công trình thủy điện trên địa
bàn và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
1.3. Sở Xây dựng
Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành và Ủy ban nhân dân các xã, phường
xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch, dự án cấp nước sinh hoạt, nước
15
sạch; thực hiện biện pháp khẩn cấp để bảo đảm cấp nước sinh hoạt trong trường
hợp hạn hán thiếu nước hoặc sự cố ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng gây ra
thiếu nước đối với khu vực đô thị trên địa bàn tỉnh.
1.4. Các sở, ban, ngành có liên quan
Theo chức năng, nhiệm vụ được giao khẩn trương, hoàn thiện các dự án,
công trình điều tiết, trữ nước trong quy hoạch thủy lợi, quy hoạch về tài nguyên
nước và các quy hoạch khác có liên quan.
1.5. Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Lai Châu
- Cung cấp cho Sở Nông nghiệp và Môi trường danh mục và vị trí các trạm
thủy văn chuyên dùng, tài liệu khí tượng thủy văn hiện có và số liệu các yếu tố
khí tượng thủy văn quan trắc được khi Sở Nông nghiệp và Môi trường có yêu cầu
để tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh và Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
- Định kỳ hàng tháng, vào mùa khô, có trách nhiệm cung cấp cho Sở
Nông nghiệp và Môi trường, Sở Công Thương và các cơ quan có liên quan kết
quả quan trắc khí tượng thủy văn và môi trường, đồng thời dự báo tình hình khí
tượng thủy văn 10 ngày, tháng, mùa tiếp theo trên địa bàn tỉnh
2. Ủy ban nhân dân các xã, phường
- Tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên
nước trên địa bàn; chủ động xây dựng phương án cụ thể tại địa phương phù hợp
với điều kiện nguồn nước, đặc biệt trong thời gian cao điểm mùa khô.
- Rà soát hiện trạng các công trình khai thác, sử dụng nước phục vụ sinh
hoạt và sản xuất nông nghiệp trên địa bàn; kịp thời phát hiện, báo cáo nguy cơ
thiếu nước, đề xuất giải pháp điều hòa, bổ sung nguồn nước khi cần thiết.
- Chỉ đạo quản lý, vận hành các công trình thủy lợi, công trình cấp nước
sinh hoạt thuộc thẩm quyền quản lý của cấp xã bảo đảm cấp nước tiết kiệm, hiệu
quả, ưu tiên nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp thiết yếu.
- Chủ động tìm kiếm, huy động các nguồn nước bổ sung, thay thế trong
trường hợp xảy ra hạn hán, thiếu nước; phối hợp với các đơn vị quản lý công
trình thủy lợi, thủy điện trên địa bàn để điều hòa, phân phối nguồn nước hợp lý.
- Tổ chức quản lý, bảo vệ mốc giới hành lang bảo vệ nguồn nước; ngăn
chặn, xử lý kịp thời các hành vi lấn chiếm, sử dụng trái phép đất trong phạm vi
hành lang bảo vệ nguồn nước theo thẩm quyền.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân sử dụng nước tiết
kiệm, bảo vệ nguồn nước; chủ động hướng dẫn Nhân dân áp dụng các biện pháp
tiết kiệm nước trong sinh hoạt và sản xuất.
16
- Thường xuyên theo dõi diễn biến khí tượng, thủy văn; tổng hợp, báo cáo
kịp thời về Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Sở Nông nghiệp và Môi trường) những khó
khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện để xem xét, chỉ đạo xử lý.
3. Các tổ chức khai thác nước
a) Công ty Cổ phần nước sạch Lai Châu
- Thường xuyên kiểm tra tình trạng hoạt động của các nhà máy/trạm cấp
nước, mạng lưới cấp nước, đảm bảo khai thác nước hiệu quả, tiết kiệm, tránh
thất thoát, lãng phí tài nguyên nước.
- Chủ động đề xuất nguồn nước bổ sung, thay thế trong trường hợp trạm
cấp nước thiếu nguồn nước cấp.
b) Công ty TNHH MTV quản lý thủy nông Lai Châu
- Thường xuyên duy tu bảo dưỡng các công trình thủy lợi do công ty quản
lý, đảm bảo việc cung cấp đủ lưu lượng nước để sản xuất nông nghiệp tiết kiệm,
hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí nước.
- Đề xuất các giải pháp, nguồn nước cấp bổ sung trong trường hợp thiếu
nước cấp cho sản xuất nông nghiệp.
c) Chủ các dự án thủy điện
- Vận hành các công trình thủy điện theo đúng quy trình vận hành hồ
chứa, liên hồ chứa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
- Tuân thủ quy định của giấy phép khai thác tài nguyên nước, đảm bảo
khai thác tiết kiệm hiệu quả, duy trì xả dòng chảy tối thiểu theo đúng giấy phép
được cấp. Trường hợp thiếu nước phải có giải pháp ưu tiên cho mục đích cấp
nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp.
Trong quá trình triển khai thực hiện Kế hoạch này, nếu phát sinh khó
khăn, vướng mắc các cơ quan, đơn vị phản ánh về Sở Nông nghiệp và Môi
trường để tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, kịp thời chỉ đạo./.
Nơi nhận:
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
- Thường trực Tỉnh ủy; (B/c)
- Thường trực HĐND tỉnh;
- Chủ tịch, các PCT UBND tỉnh;
- Các sở, ban, ngành tỉnh;
- UBND các xã, phường;
- Công ty Cổ phần nước sạch Lai Châu;
- Công ty TNHH MTV quản lý thủy nông Lai Châu;
- Chủ các dự án thủy điện trên địa bàn tỉnh;
- VP. UBND tỉnh: V1, V2, Kt1, CB;
- Lưu: VT, Kt7.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Hà Trọng Hải

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Kế hoạch 8247/KH-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Lai Châu giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026

văn bản tiếng việt

downloadKế hoạch 8247/KH-UBND (Bản PDF)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

văn bản TIẾNG ANH

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

văn bản cùng lĩnh vực

văn bản mới nhất

CHÍNH SÁCH BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN
Yêu cầu hỗ trợYêu cầu hỗ trợ
Chú thích màu chỉ dẫn
Chú thích màu chỉ dẫn:
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng các màu sắc:
Sửa đổi, bổ sung, đính chính
Thay thế
Hướng dẫn
Bãi bỏ
Bãi bỏ cụm từ
Bình luận
Click vào nội dung được bôi màu để xem chi tiết.
×