Nghị định 49/2022/NĐ-CP sửa đổi một số điều của Nghị định 209/2013/NĐ-CP

  • Tóm tắt
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung MIX

    - Tổng hợp lại tất cả các quy định pháp luật còn hiệu lực áp dụng từ văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính…

    - Khách hàng chỉ cần xem Nội dung MIX, có thể nắm bắt toàn bộ quy định pháp luật hiện hành còn áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

  • Tải về
Mục lục
Mục lục
Tìm từ trong trang
Lưu
Theo dõi hiệu lực VB

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký phần mềm.

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản LuatVietnam và đăng ký sử dụng Phần mềm tra cứu văn bản.

Báo lỗi
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

CHÍNH PHỦ
_________


Số: 49/2022/NĐ-CP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_________________________

Nội, ngày 29 tháng 7 năm 2022

NGHỊ ĐỊNH

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 12/2015/NĐ-CP, Nghị định số 100/2016/NĐ-CP và Nghị định số 146/2017/NĐ-CP

______________

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22 tháng 11 năm 2019;

Căn cứ Luật Thuế giá trị gia tăng ngày 03 tháng 6 năm 2008; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng ngày 19 tháng 6 năm 2013;

Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế ngày 26 tháng 11 năm 2014;

Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế ngày 06 tháng 4 năm 2016;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính;

Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị  gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 12/2015/NĐ-CP, Nghị định số 100/2016/-CP và Nghị định số 146/2017/NĐ-CP.

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị  gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 12/2015/NĐ-CP, Nghị định số 100/2016/NĐ-CP và Nghị định số 146/2017/NĐ-CP
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 3, 4 Điều 4 như sau:
“3. Đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản, giá tính thuế giá trị gia tăng là giá chuyển nhượng bất động sản trừ (-) giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng.
a) Giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng được quy định cụ thể như sau:
a.1) Trường hợp được Nhà nước giao đất để đầu tư cơ sở hạ tầng xây dựng nhà để bán, giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng bao gồm tiền sử dụng đất phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật về thu tiền sử dụng đất và tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng (nếu có).
a.2) Trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất thì giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng là giá đất trúng đấu giá.
a.3) Trường hợp thuê đất để xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng nhà để bán, giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng là tiền thuê đất phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước và tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng (nếu có).
Tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng quy định tại điểm a.1 và điểm a.3 khoản này là số tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng theo phương án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, được trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp theo quy định pháp luật về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuề đất, thuê mặt nước.
a.4) Trường hợp cơ sở kinh doanh nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân thì giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng là giá đất tại thời điểm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất không bao gồm giá trị cơ sở hạ tầng. Cơ sở kinh doanh được kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào của cơ sở hạ tầng (nếu có). Trường hợp không xác định được giá đất tại thời điểm nhận chuyển nhượng thì giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng là giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định tại thời điểm ký hợp đồng nhận chuyển nhượng.
Trường hợp cơ sở kinh doanh nhận chuyển nhượng bất động sản của các tổ chức, cá nhân đã xác định giá đất bao gồm cả giá trị cơ sở hạ tầng theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 3 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2015) thì giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng là giá đất tại thời điểm nhận chuyển nhượng không bao gồm cơ sở hạ tầng.
Trường hợp không tách được giá trị cơ sở hạ tầng tại thời điểm nhận chuyển nhượng thì giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng là giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định tại thời điểm ký hợp đồng nhận chuyển nhượng.
a.5) Trường hợp cơ sở kinh doanh nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân thì giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng là giá ghi trong hợp đồng góp vốn. Trường hợp giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thấp hơn giá đất nhận góp vốn thì chỉ được trừ giá đất theo giá chuyển nhượng.
a.6) Trường hợp cơ sở kinh doanh bất động sản thực hiện theo hình thức xây dựng - chuyển giao (BT) thanh toán bằng giá trị quyền sử dụng đất thì giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng là giá tại thời điểm ký hợp đồng BT theo quy định của pháp luật; nếu tại thời điểm ký hợp đồng BT chưa xác định được giá thì giá đất được trừ là giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định để thanh toán công trình.
b) Trường hợp xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng, xây dựng nhà để bán, chuyển nhượng hoặc cho thuê, giá tính thuế giá trị gia tăng là số tiền thu được theo tiến độ thực hiện dự án hoặc tiến độ thu tiền ghi trong hợp đồng trừ (-) giá đất được trừ tương ứng với tỷ lệ % số tiền thu được trên tổng giá trị hợp đồng.
4. Giá tính thuế đối với hoạt động sản xuất điện của Tập đoàn điện lực Việt Nam như sau:
a) Đối với điện của các công ty thủy điện hạch toán phụ thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam, hạch toán phụ thuộc các Tổng công ty phát điện, giá tính thuế giá trị gia tăng để xác định số thuế giá trị gia tăng nộp tại địa phương nơi có nhà máy thủy điện được tính bằng 35% giá bán lẻ điện bình quân chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật điện lực và pháp luật giá.
b) Đối với điện của các công ty nhiệt điện hạch toán phụ thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam, hạch toán phụ thuộc các Tổng công ty phát điện, giá tính thuế giá trị gia tăng để xác định số thuế giá trị gia tăng nộp tại địa phương nơi có nhà máy nhiệt điện là giá bán điện cho khách hàng ghi trên hóa đơn theo hợp đồng mua bán điện áp dụng cho từng nhà máy nhiệt điện.
Trường hợp chưa có hợp đồng mua bán điện áp dụng cho từng nhà máy nhiệt điện thì giá tính thuế giá trị gia tăng được xác định là giá bán lẻ điện bình quân chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật điện lực và pháp luật giá.
c) Đối với điện của các công ty sản xuất điện (trừ thủy điện, nhiệt điện) hạch toán phụ thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam, hạch toán phụ thuộc các Tổng công ty phát điện, giá tính thuế giá trị gia tăng để xác định số thuế giá trị gia tăng nộp tại địa phương nơi có nhà máy sản xuất điện là giá bán điện chưa có thuế giá trị gia tăng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định cho từng loại hình phát điện.
Trường hợp chưa có giá bán điện do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định cho từng loại hình phát điện nêu tại điểm này thì giá tính thuế giá trị gia tăng được xác định là giá bán lẻ điện bình quân chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật điện lực và pháp luật giá.”
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 8 như sau:
“3. Hoạt động kinh doanh, hộ kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật thì nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khoán thuế quy định tại Điều 51 Luật Quản lý thuế.”
3. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 10 như sau:
“2. Cơ sở kinh doanh được hoàn thuế đối với dự án đầu tư như sau:
a) Cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ (bao gồm cả cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư) có dự án đầu tư mới (bao gồm cả dự án đầu tư được chia thành nhiều giai đoạn đầu tư hoặc nhiều hạng mục đầu tư) theo quy định của Luật Đầu tư tại địa bàn cùng tỉnh, thành phố hoặc khác tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính (trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản này và dự án đầu tư xây dựng nhà để bán, dự án đầu tư không hình thành tài sản cố định) đang trong giai đoạn đầu tư hoặc dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, có số thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong giai đoạn đầu tư lũy kế chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên được hoàn thuế giá trị gia tăng.
Cơ sở kinh doanh thực hiện kê khai thuế giá trị gia tăng riêng đối với dự án đầu tư và phải bù trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào của dự án đầu tư với số thuế giá trị gia tăng phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện (nếu có). Sau khi bù trừ nếu số thuế giá trị gia tăng đầu vào lũy kế của dự án đầu tư chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên được hoàn thuế giá trị gia tăng.
Trường hợp dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra, kiểm toán thì cơ quan thuế có thể sử dụng kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán để quyết định việc hoàn thuế giá trị gia tăng.
b) Đối với dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thuộc các trường hợp sau thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế giá trị gia tăng đối với dự án đầu tư theo quy định tại điểm a khoản này:
b.1) Dự án đầu tư trong giai đoạn đầu tư, theo quy định của pháp luật đầu tư, pháp luật chuyên ngành đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo một trong các hình thức: Giấy phép hoặc giấy chứng nhận hoặc văn bản xác nhận, chấp thuận.
b.2) Dự án đầu tư trong giai đoạn đầu tư, theo quy định của pháp luật đầu tư, pháp luật chuyên ngành chưa phải đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo một trong các hình thức: Giấy phép hoặc giấy chứng nhận hoặc văn bản xác nhận, chấp thuận.
b.3) Dự án đầu tư theo quy định của pháp luật đầu tư, pháp luật chuyên ngành không phải có giấy kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo một trong các hình thức: Giấy phép hoặc giấy chứng nhận hoặc văn bản xác nhận, chấp thuận.
c) Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế giá trị gia tăng mà được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo đối với các trường hợp:
c.1) Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật Đầu tư quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 Luật Thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế là dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nhưng chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo một trong các hình thức: Giấy phép hoặc giấy chứng nhận hoặc văn bản xác nhận, chấp thuận hoặc chưa đáp ứng được điều kiện để thực hiện đầu tư kinh doanh có điều kiện mà không cần phải có xác nhận, chấp thuận dưới hình thức văn bản theo quy định của pháp luật về đầu tư (trừ các trường hợp quy định tại điểm b khoản này).
Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện không bảo đảm duy trì đủ điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 Luật Thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế là dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nhưng trong quá trình hoạt động cơ sở kinh doanh bị thu hồi một trong các giấy kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện: Giấy phép hoặc giấy chứng nhận hoặc văn bản xác nhận, chấp thuận; hoặc trong quá trình hoạt động cơ sở kinh doanh không đáp ứng được điều kiện để thực hiện đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật về đầu tư thì thời điểm không hoàn thuế giá trị gia tăng được tính từ thời điểm cơ sở kinh doanh bị thu hồi một trong các loại giấy tờ nêu trên hoặc từ thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, phát hiện cơ sở kinh doanh không đáp ứng được các điều kiện về đầu tư kinh doanh có điều kiện.
c.2) Dự án đầu tư khai thác tài nguyên, khoáng sản được cấp phép từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 hoặc dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hàng hóa mà tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên theo dự án đầu tư, trừ dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ dầu khí quy định tại điểm a khoản này.
Việc xác định tài nguyên, khoáng sản; trị giá tài nguyên, khoáng sản và thời điểm xác định trị giá tài nguyên, khoáng sản và chi phí năng lượng thực hiện theo quy định tại khoản 11 Điều 3 Nghị định này.”
Điều 2. Hiệu lực và trách nhiệm thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 12 tháng 9 năm 2022.
2. Quy định về hoàn thuế giá trị gia tăng đối với dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại khoản 3 Điều 1 Nghị định này được áp dụng kể từ ngày Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ có hiệu lực thi hành.
Trường hợp cơ sở kinh doanh đã bị thu hồi số thuế giá trị gia tăng của dự án đầu tư theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo khoản 6 Điều 1 Nghị định số 100/2016/NĐ-CP) thì cơ quan thuế điều chỉnh tiền thuế giá trị gia tăng, tiền chậm nộp, tiền phạt vi phạm hành chính về thuế (nếu có). Việc bù trừ, hoàn nộp thừa thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
3. Bãi bỏ quy định tại Điều 2 Nghị định số 10/2017/NĐ-CP ngày 09 tháng 02 năm 2017 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý tài chính của Tập đoàn Điện lực Việt Nam và sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 4 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ.
4. Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định này.
5. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Nơi nhận:
Ban Bí thư Trung ương Đảng;
Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
Văn phòng Tổng Bí thư;
Văn phòng Chủ tịch nước;
Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
Văn phòng Quốc hội;
Tòa án nhân dân tối cao;
Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
Kiểm toán nhà nước;
Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia;
Ngân hàng Chính sách xã hội;
Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
Cơ quan trung ương của các đoàn thể;
VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, TGĐ cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
Lưu: VT, KTTH (2b).

TM. CHÍNH PHỦ
KT. THỦ TƯỚNG
PHÓ THỦ TƯỚNG

 

 

 

 

 

Lê Minh Khái

thuộc tính Nghị định 49/2022/NĐ-CP

Nghị định 49/2022/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định 12/2015/NĐ-CP, Nghị định 100/2016/NĐ-CP và Nghị định 146/2017/NĐ-CP
Cơ quan ban hành: Chính phủ Số công báo: Đang cập nhật
Số hiệu: 49/2022/NĐ-CP Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Nghị định Người ký: Lê Minh Khái
Ngày ban hành: 29/07/2022 Ngày hết hiệu lực: Đang cập nhật
Áp dụng:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản để xem Ngày áp dụng. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Tình trạng hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Lĩnh vực: Tài chính-Ngân hàng , Thuế-Phí-Lệ phí
TÓM TẮT VĂN BẢN

3 trường hợp không thực hiện hoàn thuế GTGT mà kết chuyển sang kỳ tiếp theo

Ngày 29/7/2022, Chính phủ ban hành Nghị định 49/2022/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định 12/2015/NĐ-CP, Nghị định 100/2016/NĐ-CP và Nghị định 146/2017/NĐ-CP.

Theo đó, cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT) theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới tại địa bàn cùng hoặc khác tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính (trừ một số trường hợp) đang trong giai đoạn đầu tư hoặc dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, có số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong giai đoạn đầu tư lũy kế chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên được hoàn thuế GTGT.

Bên cạnh đó, 3 trường hợp cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế GTGT mà được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo gồm:

Một là, dự án đầu tư khai thác tài nguyên, khoáng sản được cấp phép từ 01/7/2016 hoặc dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hàng hóa mà tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên theo dự án đầu tư (trừ dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ dầu khí nêu ở phần trên).

Hai là, dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định.

Ba là, dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện không bảo đảm duy trì đủ điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động.

Nghị định có hiệu lực từ ngày 12/9/2022.

Xem chi tiết Nghị định 49/2022/NĐ-CP tại đây

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiển thị:
download Văn bản gốc có dấu (PDF)
download Văn bản gốc (Word)
Tình trạng hiệu lực: Đã biết

THE GOVERNMENT

_________

No. 49/2022/ND-CP

THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM

Independence - Freedom - Happiness

___________________

Hanoi, July 29, 2022

 

DECREE

Amending and supplementing a number of the Government's Decree No. 209/2013/ND-CP dated December 18, 2013, detailing and guiding a number of articles of the Law on Value-Added Tax, which was amended and supplemented under Decree No. 12/2015/ND-CP, Decree No. 100/2016/ND-CP and Decree No. 146/2017/ND-CP

______________

 

Pursuant to the Law on Organization of the Government dated June 19, 2015; the Law Amending and Supplementing a Number of Articles of the Law on Organization of the Government and the Law on Organization of Local Administration dated November 22, 2019;

Pursuant to the Law on Value-Added Tax dated June 03, 2008 and the Law on amending and supplementing a number of articles of the Law on Value-Added Tax dated June 19, 2013;

Pursuant to the Law Amending and Supplementing a Number of Articles of the Tax Laws dated November 26, 2014;

Pursuant to the Law Amending and Supplementing a Number of Articles of the Law on Value-Added Tax, the Law on Excise Tax and the Law on Tax Administration dated April 06, 2016;

At the proposal of the Minister of Finance;

The Government hereby promulgates the Decree amending and supplementing a number of the Government's Decree No. 209/2013/ND-CP dated December 18, 2013, detailing and guiding a number of articles of the Law on Value-Added Tax, which was amended and supplemented under Decree No. 12/2015/ND-CP, Decree No. 100/2016/ND-CP and Decree No. 146/2017/ND-CP.

 

Article 1. Amending and supplementing a number of the Government's Decree No. 209/2013/ND-CP dated December 18, 2013, detailing and guiding a number of articles of the Law on Value-Added Tax, which was amended and supplemented under Decree No. 12/2015/ND-CP, Decree No. 100/2016/ND-CP and Decree No. 146/2017/ND-CP

1. To amend and supplement Clauses 3 and 4 Article 4 as follows:

“3. For real estate transfer, the taxable price is the real estate transfer price minus (-) the land price permitted to be deducted for value-added tax calculation.

a) The land price permitted to be deducted for value-added tax calculation is specified as follows:

a.1) In case of land allocation by the State for investment in infrastructure to build houses for sale, the land price permitted to be deducted for value-added tax calculation is the land use levy payable into the state budget in accordance with the law on land use levy collection plus expenses for compensation and ground clearance (if any).

a.2) In case of auction of land use rights, the land price permitted to be deducted for value-added tax calculation is the auction-winning land price;

a.3) In case of land lease for building infrastructure or building houses for sale, the land price permitted to be deducted for value-added tax calculation is the land rental payable into the state budget in accordance with the law on land use levy collection, plus expenses for compensation and ground clearance (if any).

Expenses for compensation and ground clearance mentioned at Point a.1 and Point a.3 of this Clause are the compensation and ground clearance payment according to the plan approved by the competent State agency, and shall be deducted from the land use levy and land rental payable as prescribed by the law on collection of land use levy, land rental and water surface rental.

a.4) In case business establishments acquire land use rights from organizations or individuals, the land price permitted to be deducted for value-added tax calculation is the land price at the time of acquisition, exclusive of the value of infrastructure. Business establishments may declare and credit input value-added tax on infrastructure (if any). In case the land price at the time of acquisition cannot be determined, the land price permitted to be deducted for value-added tax calculation is the land price set by the People’s Committee of province or centrally-run city at the time of signing the acquisition contract.

In case business establishments acquiring land use rights from organizations or individuals have already determined the land price including the value of infrastructure as prescribed at Point a Clause 3 Article 4 of Decree No. 209/2013/ND-CP (amended and supplemented under Clause 3 Article 3 of Decree No. 12/2015/ND-CP dated February 12, 2015), the land price permitted to be deducted for value-added tax calculation at the time of acquisition shall not include the infrastructure value.

In case the infrastructure value at the time of acquisition cannot be separated, the land price permitted to be deducted for value-added tax calculation is the land price set by the People’s Committee of province or centrally-run city at the time of signing the acquisition contract.

a.5) In case business establishments receive land use rights as contributed capital from organizations or individuals, the land price permitted to be deducted for value-added tax calculation is the price stated in the capital contribution contract. In case the land use rights transfer price is lower than the price of land received as contributed capital, the land price to be deducted must be the transfer price.

a.6) For real estate businesses that implement build-transfer (BT) works for which they receive payments being the value of land use rights, the land price permitted to be deducted for value-added tax calculation is the price at the time of signing the BT contract as prescribed by law; if the price is not determined yet at the time of contract signing, the land price permitted to be deducted is the land price decided by the People’s Committee of province or centrally-run city for payment for the works.

b) In case business establishments build and commercially operate infrastructure or build houses for sale, transfer or lease, the taxable price is the amount collected according to the project implementation schedule or payment schedule written in the contract minus (-) the land price permitted to be deducted in proportion to the percentage (%) of the collected amount to the total contractual value.

4. The taxable price applicable to the electricity generation by Vietnam Electricity shall be as follows:

a) For electricity of dependent cost-accounting hydropower plants of Vietnam Electricity, electricity of dependent cost-accounting hydropower plants of power generation corporations, the taxable price for determining the value-added tax amount to be paid in the locality where the plant is located equals 35% of the average electricity retail prices exclusive of value-added tax in accordance with the electricity law and law on prices.

b) For electricity of dependent cost-accounting thermal power plants of Vietnam Electricity, electricity of dependent cost-accounting thermal power plants of power generation corporations, the taxable price for determining the value-added tax amount to be paid in the locality where the plant is located is the electricity selling price for the customer as written on the invoice according to the power purchase agreement applicable to each thermal power plant.

In case of absence of the power purchase agreement for each thermal power plant, the taxable price shall be the average electricity retail price exclusive of value-added tax in accordance with the electricity law and law on prices.

c) For electricity of dependent cost-accounting power generation companies (excluding thermal power and hydropower) of Vietnam Electricity, electricity of dependent cost-accounting power generation companies of power generation corporations, the taxable price for determining the value-added tax amount to be paid in the locality where the plant is located is the electricity selling price exclusive of value-added tax as prescribed for each type of power generation by the competent State agency.

In case of absence of the electricity selling price prescribed for each type of power generation by the competent State agency as mentioned at this Point, the taxable price shall be the average electricity retail price exclusive of value-added tax in accordance with the electricity law and law on prices.”

2. To amend and supplement Clause 3 Article 8 as follows:

“3. Business households that fail to observe or fully observe regulations on accounting, invoices and documents in their business activities shall pay value-added tax by the presumption method prescribed in Article 51 of the Law on Tax Administration.”

3. To amend and supplement Clause 2 Article 10 as follows:

“2. Business establishments are entitled to tax refund for investment projects as follows:

a) A business establishment which has already made business registration and registers to pay value-added tax by the tax credit method (including new business establishments established under investment projects), has new investment projects (including investment projects divided into many investment phases or investment items) under the Law on Investment in the same province or city, or in a province or city other than the one where it is headquartered (except for the cases specified at Point c of this Clause, and the housing investment projects for sale, and investment projects that do not form fixed assets) at the investment stage, or oil and gas prospecting, exploration and development projects still at the investment stage, with the input value-added tax amount of goods and services arising in the accumulated investment stage not yet fully credited that is valued at VND 300 million or more, shall be entitled to value-added tax refund.

The business establishment shall declare value-added tax separately for each investment project and must offset the input value-added tax amount of the investment project with the payable value-added tax amount of production and business activities being carried out (if any). After offseting, if the accumulated input value-added tax amount of the investment project, that has not yet been fully credited, is valued at VND 300 million or more, it shall be entitled to value-added tax refund.

In case where the investment project of the business establishment has been inspected, examined and audited by the competent State agencies, the tax office may use the inspection, examination and audit results to decide on value-added tax refund.

b) For investment projects of establishments engaged in conditional production and business lines that fall into the following conditions, business establishments shall be entitled to value-added tax refund for investment projects specified at Point a of this Clause:

b.1) Investment projects at investment stage, as prescribed by the investment law and specialized law, which have been licensed to conduct business in conditional production and business lines by the competent State agency according to one of the following forms: Licenses or certificates or written certification or approval.

b.2) Investment projects at investment stage, as prescribed by the investment law and specialized law, which are not subject to the licensing to conduct business in conditional production and business lines by the competent State agency according to one of the following forms: Licenses or certificates or written certification or approval.

b.3) Investment projects as prescribed by the investment law and specialized law, which do not require licenses for conducting business in conditional production and business lines according to one of the following forms: Licenses or certificates or written certification or approval.

c) Business establishments not entitled to value-added tax refund but may carry forward the investment projects’ tax amount not yet credited as prescribed by the investment law to the subsequent period in the following cases:

c.1) Investment projects of establishments engaged in conditional production and business lines while failing to fully satisfy business conditions as prescribed by the Law on Investment, prescribed at Point a Clause 1 Article 13 of the Law on Value-Added Tax, which was amended and supplemented under the Law Amending and Supplementing a Number of Articles of the Value-Added Tax Law, the Excise Tax Law and the Tax Administration Law, are investment projects of establishments engaged in conditional production and business lines, which have not been granted a license, or certificate or written certification or approval in writing by a competent State agency to run such conditional production and business lines, or have not yet satisfied conditions for conditional production business investment without having to obtain written certification or approval as prescribed by the investment law (except for the cases specified at Point b of this Clause).

Investment projects of establishments engaged in conditional production and business lines while failing to fully maintain business conditions throughout their operation prescribed at Point a Clause 1 Article 13 of the Law on Value-Added Tax, which was amended and supplemented under the Law Amending and Supplementing a Number of Articles of the Value-Added Tax Law, the Excise Tax Law and the Tax Administration Law, are investment projects of establishments engaged in conditional production and business lines which, in the course of operation, have their license or certificate or a written certification or approval revoked; or in the course of operation, the establishments fail to satisfy the conditions for conducting conditional production and business lines as prescribed by the investment law, the time the establishments are not entitled to value-added tax refund shall be counted from the time they have one of the above papers revoked or from the time a competent State agency conducts inspection and detects that the establishments fail to satisfy the conditions on conditional production and business investment.

c.2) Natural resources or mineral exploitation investment projects licensed from July 01, 2016, or goods production investment projects with the total value of natural resources or minerals plus the energy cost making up 51% or more of the cost price of the products under investment projects, except for oil and gas prospecting, exploration and development projects specified at Point a of this Clause.

The determination of natural resources and minerals and their value and the time of determining the value of natural resources and minerals and the energy cost must comply with Clause 11 Article 3 of this Decree.”

Article 2. Effect and implementation responsibility

1. This Decree takes effect from September 12, 2022.

2. Regulations on value-added tax refund applicable to investment projects of establishments engaged in conditional production and business lines specified in Clause 3 Article 1 of this Decree apply from the effective date of the Government’s Decree No. 100/2016/ND-CP dated July 01, 2016.

In case where the business establishments have investment projects’ value-added tax amount recovered under Point c Clause 2 Article 10 of Decree No. 209/2013/ND-CP (which was amended and supplemented under Clause 6 Article 1 of Decree No. 100/2016/ND-CP), tax offices shall adjust the value-added tax amount, the late-payment interests and fines imposed for tax-related administrative violations (if any).  The offseting and payment of overpaid amount shall comply with the law on tax administration.

3. To repeal Article 2 of the Government's Decree No. 10/2017/ND-CP dated February 09, 2017, promulgating the Financial Management Regulation applicable to Vietnam Electricity, amend and supplement Clause 4 Article 4 of the Government's Decree No. 209/2013/ND-CP dated December 18, 2013.

4. The Ministry of Finance shall guide the implementation of this Decree.

5. Ministers, heads of ministerial-level agencies, heads of government-attached agencies, chairpersons of People’s Committees of provinces and centrally-run cities, and related organizations and individuals shall implement this Decree.

 

 

ON BEHALF OF THE GOVERNMENT

FOR THE PRIME MINISTER

THE DEPUTY MINISTER

 

 

Le Minh Khai

 

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Văn bản này chưa có chỉ dẫn thay đổi
văn bản TIẾNG ANH
Bản dịch LuatVietnam
download Decree 49/2022/ND-CP DOC (Word)
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao để tải file.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

download Decree 49/2022/ND-CP PDF
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao để tải file.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi

19006192

Theo dõi LuatVietnam trên YouTube

TẠI ĐÂY

tin liên quan

văn bản cùng lĩnh vực

Vui lòng đợi