• Tổng quan
  • Nội dung
  • Tải về
Lưu
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Theo dõi VB
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Ghi chú
Báo lỗi
In

Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng quy định pháp luật giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ

Ngày cập nhật: Thứ Hai, 22/06/2026 15:27 (GMT+7)
Lĩnh vực: Tư pháp-Hộ tịch Sở hữu trí tuệ Nhóm dự thảo: Dự thảo văn bản Trung ương
Lần ban hành: Lần 1 Loại dự thảo: Nghị quyết
Hạn gửi góp ý: 26/06/2026 Link góp ý: Gửi góp ý
Cơ quan chủ trì dự thảo: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp Trạng thái:
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Ngày cập nhật: 22/06/2026

Phạm vi điều chỉnh

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải Dự thảo Nghị quyết

Tải văn bản tiếng Việt (.doc) Tải Dự thảo Nghị quyết DOC (Bản Word)

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Tình trạng hiệu lực: Đã biết

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

___________

Số:     /2026/NQ-HĐTP

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

________________________

Hà Nội, ngày    tháng     năm 2026

 

DỰ THẢO 1

 

NGHỊ QUYẾT

 

Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp, khiếu kiện về quyền sở hữu trí tuệ tại Toà án nhân dân

______________________________

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Căn cứ Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15, Luật số 106/2025/QH15, Luật số 116/2025/QH15, Luật số 142/2025/QH15 và Luật số 150/2025/QH15;

Căn cứ Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 36/2009/QH12, Luật số 42/2019/QH14, Luật số 07/2022/QH15, Luật số 93/2025/QH15 và  Luật số 131/2025/QH15;

Sau khi có ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp;

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp, khiếu kiện về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân.

 

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị quyết này hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh doanh, thương mại, khiếu kiện hành chính về quyền sở hữu trí tuệ tại Toà án nhân dân.

            Điều 2. Các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân

            1. Các tranh chấp về quyền tác giả bao gồm:

            a) Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, tác phẩm phái sinh;

            b) Tranh chấp giữa các đồng tác giả về phân chia quyền đồng tác giả;

                c) Tranh chấp giữa cá nhân với tổ chức về chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm;

            d) Tranh chấp giữa chủ sở hữu quyền tác giả với tác giả về tiền nhuận bút, tiền thù lao cho tác giả sáng tạo tác phẩm trên cơ sở nhiệm vụ được giao hoặc hợp đồng;

            đ) Tranh chấp về thực hiện quyền nhân thân hoặc quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả;

            e) Tranh chấp về quyền tác giả đối với chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu giữa người cung cấp tài chính và các điều kiện vật chất có tính chất quyết định cho việc xây dựng, phát triển chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu với người thiết kế, xây dựng chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu;

            g) Tranh chấp về quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu giữa người đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật để sản xuất tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu với người tham gia sáng tạo và người sản xuất ra tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu hoặc tranh chấp giữa họ với nhau về tiền nhuận bút, thù lao và các quyền lợi vật chất khác;

            h) Tranh chấp giữa chủ sở hữu quyền tác giả với người sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao, vì lý do việc sử dụng làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm;

            i) Tranh chấp giữa chủ sở hữu quyền tác giả với người sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao vì lý do người sử dụng không trả tiền nhuận bút, thù lao hoặc làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả;

            k) Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng quyền tác giả hoặc tranh chấp về hợp đồng dịch vụ bản quyền tác giả;

            l) Tranh chấp phát sinh do hành vi xâm phạm quyền tác giả;

            m) Tranh chấp về thừa kế, kế thừa quyền tài sản quy định tại Điều 20 và quyền nhân thân theo quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ;

            n) Tranh chấp khác về quyền tác giả theo quy định của pháp luật.

            2. Các tranh chấp về quyền liên quan bao gồm

            a) Tranh chấp giữa chủ đầu tư với người biểu diễn về quyền nhân thân và quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn; tranh chấp giữa người biểu diễn với người khai thác sử dụng các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn về tiền thù lao;

            b) Tranh chấp giữa nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình với người thực hiện các quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình về quyền lợi vật chất khi bản ghi âm, ghi hình của nhà sản xuất được phân phối đến công chúng;

            c) Tranh chấp giữa tổ chức phát sóng với người sử dụng các quyền của tổ chức phát sóng về quyền lợi vật chất khi chương trình phát sóng của tổ chức đó được ghi âm, ghi hình, phân phối đến công chúng;

            d) Tranh chấp giữa người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng với người sử dụng quyền liên quan không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao vì lý do việc sử dụng làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và gây phương hại đến quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng;

            đ) Tranh chấp giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng với người sử dụng quyền liên quan không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao, vì lý do người sử dụng không phải trả tiền nhuận bút, thù lao hoặc làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và gây phương hại đến quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng;

            e) Tranh chấp về quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng (tranh chấp ai là chủ sở hữu đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đó...);

            g) Tranh chấp phát sinh do hành vi xâm phạm quyền liên quan;

            h) Tranh chấp về thừa kế, kế thừa quyền liên quan;

            i) Tranh chấp khác về quyền liên quan theo quy định của pháp luật.

            3. Các tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp bao gồm:

a) Tranh chấp về quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý;

b) Tranh chấp về quyền ưu tiên đối với đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu;

c) Tranh chấp về quyền tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí;

            d) Tranh chấp về quyền nhân thân, quyền tài sản của tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí;

            đ) Tranh chấp về quyền tạm thời đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí giữa người có quyền nộp đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí với người đang sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp đó hoặc tranh chấp về khoản tiền đền bù giữa chủ văn bằng bảo hộ với người đã sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí;

            e) Tranh chấp về quyền sử dụng trước sáng chế, kiểu dáng công nghiệp giữa chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp với người sử dụng trước sáng chế, kiểu dáng công nghiệp liên quan đến việc chuyển giao quyền đó cho người khác, mở rộng phạm vi, khối lượng sử dụng mà không được phép của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp;

            g) Tranh chấp về khoản tiền đền bù giữa chủ văn bằng bảo hộ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp; thiết kế bố trí với người sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp; thiết kế bố trí trong khoảng thời gian từ ngày công bố đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ trên Công báo sở hữu công nghiệp đến ngày cấp văn bằng bảo hộ;

            h) Tranh chấp về quyền của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp (bao gồm cả tranh chấp về phần quyền của các đồng chủ sở hữu);

            i) Tranh chấp phát sinh từ các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp;

            k) Tranh chấp phát sinh từ các hành vi xâm phạm quyền của tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp; thiết kế bố trí;

            l) Tranh chấp về trả thù lao cho tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí;

            m) Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp; hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc tranh chấp về hợp đồng dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp;

            n) Tranh chấp về thừa kế, kế thừa quyền sở hữu công nghiệp, quyền
tài sản của tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp; thiết kế bố trí;

            o) Tranh chấp phát sinh từ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;

            p) Các tranh chấp khác về quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật.

            4. Các tranh chấp về quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch bao gồm:

a) Tranh chấp về quyền nhân thân, quyền tài sản của tác giả giống cây trồng;

b) Tranh chấp về trả thù lao cho tác giả giống cây trồng;

c) Tranh chấp về hợp đồng chuyển giao, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng giống cây trồng;

d) Tranh chấp về thừa kế, kế thừa quyền đối với giống cây trồng;

đ) Tranh chấp phát sinh do hành vi xâm phạm quyền đối với giống cây trồng;

 e) Các tranh chấp khác về quyền đối với giống cây trồng.

Điều 3. Khởi kiện vụ án dân sự về quyền tác giả, quyền liên quan

1. Các chủ thể quyền sau đây có quyền khởi kiện tại Toà án có thẩm quyền để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình:

a) Tác giả;

b) Chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan;

c) Người thừa kế hợp pháp của tác giả hoặc của chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan;

d) Cá nhân, tổ chức được chuyển giao quyền của chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan;

đ) Cá nhân, tổ chức sử dụng tác phẩm theo hợp đồng;

e) Người biểu diễn;

g) Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình;

h) Tổ chức phát sóng;

i) Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan được uỷ thác quyền;

k) Các chủ thể quyền khác theo quy định của pháp luật.

2. Cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, quản lý xã hội về lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực do cơ quan, tổ chức đó phụ trách.

3.  Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự về quyền tác giả, quyền liên quan

a) Quyền tác giả, quyền liên quan đã phát sinh theo quy định tại các khoản 1 và 2 Điều 6 của Luật Sở hữu trí tuệ.

Khi có tranh chấp về quyền tác giả, quyền liên quan mà đương sự khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, thì Toà án phải xem xét mà không phân biệt việc họ đã có giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan hay chưa, họ đã nộp đơn hay chưa nộp đơn đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan.

b) Thời hạn bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan vẫn còn theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan chỉ được thực hiện quyền nhân thân và quyền tài sản của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định tại Điều 27, Điều 34 của Luật Sở hữu trí tuệ.

Hết thời hạn bảo hộ đối với quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định nêu trên (trừ các quyền nhân thân quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ), thì các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan không còn được Nhà nước và pháp luật bảo hộ. Toà án chỉ thụ lý đơn khởi kiện để giải quyết nếu các quyền đó vẫn còn trong thời hạn bảo hộ, trừ trường hợp pháp luật không quy định thời hạn bảo hộ đối với quyền tác giả.

            Điều 4. Khởi kiện vụ án dân sự về quyền sở hữu công nghiệp

            1. Các chủ thể quyền sau đây có quyền khởi kiện tại Toà án có thẩm quyền để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp.

            a) Tác giả, đồng tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí;

            b) Chủ văn bằng bảo hộ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí;

            c) Chủ sở hữu giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, đăng ký quốc tế nhãn hiệu được chấp nhận bảo hộ tại Việt Nam, chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng;

            d) Chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, tên thương mại;

            đ) Cá nhân, tổ chức có quyền sử dụng hợp pháp chỉ dẫn địa lý, tổ chức tập thể đại diện cho cá nhân, tổ chức được trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý;

            e) Tổ chức, cá nhân có đối tượng sở hữu công nghiệp liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;

            g) Người thừa kế hợp pháp của tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí; hoặc người thừa kế hợp pháp, người kế thừa quyền sở hữu công nghiệp của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp;

            h) Cá nhân, tổ chức được chuyển giao hợp pháp quyền sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp;

            k) Cá nhân, tổ chức được chuyển giao hợp pháp quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp;

            l) Cá nhân, tổ chức được chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

            m) Các chủ thể quyền khác theo quy định của pháp luật.

            2.  Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự về quyền sở hữu công nghiệp

            a) Quyền sở hữu công nghiệp đã được xác lập theo các căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ và văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

            Cần xác định cụ thể tranh chấp liên quan đến đối tượng sở hữu công nghiệp nào (sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu...) để xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với đối tượng đó.

            Ví dụ:

Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, thiết kế bố trí, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định của cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp cấp Văn bằng bảo hộ cho người nộp đơn đăng ký các đối tượng đó theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

            Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu đăng ký quốc tế theo Thỏa ước Madrid và Nghị định thư Madrid được xác lập trên cơ sở chấp nhận bảo hộ của cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp đối với đăng ký quốc tế đó.

Quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp đăng ký quốc tế theo Thỏa ước La Hay được xác lập trên cơ sở chấp nhận bảo hộ của cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp đối với đăng ký quốc tế đó.

            Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng rộng rãi nhãn hiệu đó và các tiêu chí quy định tại Điều 75 Luật Sở hữu trí tuệ mà không cần thủ tục đăng ký.

            Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng hợp pháp tên thương mại đó tương ứng với khu vực (lãnh thổ) và lĩnh vực kinh doanh mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký.

            Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở đầu tư tài chính, trí tuệ hay bất kỳ cách thức hợp pháp nào để tìm ra, tạo ra hoặc đạt được thông tin và bảo mật thông tin tạo thành bí mật kinh doanh đó mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký.

Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được xác lập trên cơ sở thực tiễn của hoạt động cạnh tranh mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp. 

            b) Nội dung tranh chấp phải nằm trong phạm vi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ

Phạm vi quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác định theo phạm vi bảo hộ được ghi nhận trong Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp, Đăng bạ quốc tế về nhãn hiệu và Đăng bạ quốc tế về kiểu dáng công nghiệp hoặc trong văn bằng bảo hộ, giấy xác nhận đăng ký quốc tế nhãn hiệu, quyết định chấp nhận bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đăng ký quốc tế.

Phạm vi quyền đối với tên thương mại được xác định theo phạm vi bảo hộ tên thương mại, gồm tên thương mại, lĩnh vực kinh doanh và lãnh thổ kinh doanh trong đó tên thương mại được chủ thể mang tên thương mại sử dụng một cách hợp pháp. Việc đăng ký tên gọi của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong thủ tục kinh doanh không được coi là sử dụng tên gọi đó mà chỉ là một điều kiện để việc sử dụng tên gọi đó được coi là hợp pháp.

Phạm vi quyền đối với bí mật kinh doanh được xác định theo phạm vi bảo hộ bí mật kinh doanh, gồm tập hợp các thông tin tạo thành bí mật kinh doanh, được sắp xếp theo một trật tự chính xác và đầy đủ đến mức có thể khai thác được.

            c) Thời hạn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp vẫn còn theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.    

            Thời hạn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được xác định căn cứ vào thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ quy định tại Điều 93 của Luật Sở hữu trí tuệ. Trong trường hợp hiệu lực của văn bằng bảo hộ bị chấm dứt hoặc bị huỷ bỏ hiệu lực thì quyền sở hữu công nghiệp cũng chấm dứt.

            Nếu hết thời hạn bảo hộ hoặc văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp bị chấm dứt hoặc bị huỷ bỏ hiệu lực, thì các quyền của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp không còn được Nhà nước và pháp luật bảo hộ. Toà án chỉ thụ lý đơn khởi kiện để giải quyết nếu hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp xảy ra vào thời điểm văn bằng bảo hộ còn hiệu lực hoặc đối tượng quyền sở hữu
công nghiệp vẫn còn trong thời hạn được bảo hộ.

            Điều 5. Khởi kiện vụ án dân sự về quyền đối với giống cây trồng       

            1. Chủ thể quyền sau đây có quyền khởi kiện vụ án dân sự về quyền đối với giống cây trồng:

            a) Tác giả giống cây trồng;

            b) Tổ chức, cá nhân tranh chấp về đăng ký Bằng bảo hộ giống cây trồng;

            c) Chủ bằng bảo hộ giống cây trồng;

            d) Người thừa kế hợp pháp của tác giả;

            đ) Cá nhân, tổ chức được chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng;

            e) Cá nhân, tổ chức được chuyển nhượng quyền sử dụng giống cây trồng;

            g) Cá nhân, tổ chức được chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

            2. Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự về giống cây trồng  

            a) Quyền đối với giống cây trồng đã được xác lập trên cơ sở Bằng bảo hộ giống cây trồng do cơ quan quản lý Nhà nước về quyền đối với giống cây trồng cấp.

            b) Thời hạn bảo hộ quyền đối với giống cây trồng vẫn còn theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.           

            Điều 6. Về xác định mục đích lợi nhuận trong tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ

            Phương án 1:

            1. Mục đích lợi nhuận của cá nhân, tổ chức trong tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ là mong muốn của cá nhân, tổ chức đó thu được lợi nhuận trong giao dịch liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ giữa các cá nhân, tổ chức đó với nhau.

            2. Tranh chấp do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không phát sinh từ giao dịch giữa cá nhân, tổ chức với nhau không được coi là có mục đích lợi nhuận.

            Ví dụ: Công ty A khởi kiện yêu cầu Công ty B chấm dứt hành vi sử dụng trái phép nhãn hiệu hàng hóa M đã được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa đứng tên công ty A và buộc công ty B bồi thường thiệt hại do hành vi sử dụng trái phép nhãn hiệu hàng hóa M. Trường hợp này, công ty A không có mục đích lợi nhuận nên Tòa án phải xác định đây là tranh chấp về dân sự.

            Phương án 2:

            Mục đích lợi nhuận của cá nhân, tổ chức trong trong tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ là mong muốn của cá nhân, tổ chức đó thu được lợi nhuận mà không phân biệt có thu được hay không thu được lợi nhuận từ hoạt động liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ đó.

            Điều 7. Giám định về sở hữu trí tuệ

Toà án quyết định trưng cầu giám định về sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp đương sự cung cấp kết luận giám định của Giám định viên độc lập sở hữu trí tuệ cho Toà án (kết luận giám định đó được ban hành trước khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện tại Tòa án). Sau khi thụ lý vụ án, nếu đương sự vẫn có yêu cầu hoặc khi xét thấy cần thiết thì Tòa án vẫn ra quyết định trưng cầu giám định theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

            Điều 8. Về quyết định áp dụng các biện pháp dân sự của Toà án

            Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự về quyền sở hữu trí tuệ, Toà án có thể áp dụng một hoặc đồng thời nhiều biện pháp dân sự sau đây:

            1. Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm

            a) Toà án quyết định trong bản án, quyết định về việc buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ chấm dứt hành vi xâm phạm.

            Ví dụ: buộc người có hành vi xâm phạm quyền tác giả chấm dứt việc sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu chấm dứt việc sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng với hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó.

            b) Trong bản án, quyết định, Toà án phải nêu cụ thể các quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm; các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; những việc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải thực hiện và không được thực hiện.

            2. Buộc xin lỗi, cải chính công khai

            a) Toà án quyết định trong bản án, quyết định về việc buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải xin lỗi, cải chính công khai nhằm mục đích bảo vệ quyền nhân thân của tác giả, khôi phục danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng... cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm.

            Ví dụ: Người có hành vi xâm phạm quyền tác giả đã sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm làm cho công chúng hiểu lầm về tác giả gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả. Việc buộc xin lỗi, cải chính công khai nhằm mục đích bảo vệ quyền nhân thân của tác giả quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ (bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm) và khôi phục danh dự, uy tín cho tác giả.

            b) Toà án căn cứ vào tính chất hành vi xâm phạm và mức độ, hậu quả do hành vi đó gây ra để quyết định về nội dung, cách thức xin lỗi, cải chính công khai và chi phí thực hiện. Việc xin lỗi, cải chính công khai có thể được thực hiện trực tiếp tại nơi có địa chỉ chính của người bị thiệt hại hoặc đăng công khai trên báo hàng ngày của cơ quan trung ương, báo địa phương nơi có địa chỉ chính của người bị thiệt hại trong ba số liên tiếp.

Trong trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về nội dung, cách thức xin lỗi, cải chính công khai và chi phí thực hiện việc xin lỗi, cải chính đó mà thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội thì Toà án công nhận sự thỏa thuận của họ.

            3. Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự

            Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự được Toà án quyết định áp dụng đối với người có hành vi vi phạm nghĩa vụ đối với chủ thể quyền sở hữu trí tuệ. Khi áp dụng biện pháp này cần căn cứ vào các quy định tương ứng tại mục 1, mục 2 Chương XV của Bộ luật Dân sự năm 2015.

            Ví dụ: Cá nhân, tổ chức nhận chuyển giao quyền tác giả không trả tiền cho tác giả (bên chuyển nhượng) theo thỏa thuận trong hợp đồng thì phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho tác giả theo quy định của pháp luật dân sự.

            4. Buộc bồi thường thiệt hại

            Người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ mà gây thiệt hại về vật chất, tinh thần cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thì phải bồi thường.

             Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

            5. Buộc tiêu huỷ hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.

            Toà án xem xét quyết định buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện nêu trên mà không phụ thuộc vào việc chủ thể quyền có yêu cầu hay không có yêu cầu.

            Khi quyết định buộc tiêu huỷ hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, Toà án phải quyết định trách nhiệm của người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chịu chi phí cho việc tiêu huỷ đó.

            Điều 9. Áp dụng Điều ước quốc tế để giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ.

1. Điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với bên ký kết nước ngoài, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác, theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Điều ước quốc tế.

2. Điều kiện áp dụng điều ước quốc tế

a) Điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên tại thời điểm xảy ra hành vi, sự kiện là đối tượng
tranh chấp.

b) Quy định của điều ước quốc tế đó về sở hữu trí tuệ khác với quy định của các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về cùng một vấn đề.

c) Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam có quy định giống với quy định của điều ước quốc tế về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của pháp luật Việt Nam.

d) Trường hợp có những vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ không được quy định trong luật Việt Nam thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế về vấn đề đó.

đ) Trường hợp tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ có sự tham gia của cá nhân, tổ chức nước ngoài mà nước đó và nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều là thành viên của nhiều điều ước quốc tế về cùng một vấn đề thì áp dụng điều ước quốc tế có hiệu lực sau.

Trường hợp giữa nước đó và nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định hoặc thỏa thuận khác thì áp dụng theo quy định hoặc thỏa thuận đó.

            Điều 10. Chi phí hợp lý để thuê luật sư

          1. Chi phí hợp lý để thuê luật sư là chi phí thực tế cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ phức tạp của vụ việc; kỹ năng, trình độ của luật sư và lượng thời gian cần thiết để nghiên cứu vụ việc.

2. Mức chi phí bao gồm mức thù lao luật sư và chi phí đi lại, lưu trú cho luật sư.

Phương án 1. Mức thù lao do luật sư thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý dựa trên các căn cứ và phương thức tính thù lao theo quy định của Luật Luật sư. Mức thù lao luật sư được Tòa án chấp nhận tương ứng với tỷ lệ các yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ được Tòa án chấp nhận. Trường hợp Tòa án chấp nhận toàn bộ các yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thì tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải thanh toán toàn bộ thù lao luật sư.

Ví dụ: Ông A là tác giả yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông B là người có hành vi khai thác, sử dụng trái phép tác phẩm của mình phải xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra; đồng thời yêu cầu ông B phải thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư gồm thù lao cho luật sư là năm mươi triệu đồng theo hợp đồng dịch vụ pháp lý, chi phí đi lại cho luật sư là một triệu đồng, chi phí lưu trú cho luật sư là ba triệu đồng (có hóa đơn, chứng từ). Tòa án chấp nhận một phần yêu cầu của ông A buộc ông B phải xin lỗi, cải chính công khai bằng hình thức đăng công khai trên báo hàng ngày của cơ quan trung ương C, báo địa phương D nơi cư trú của ông A trong ba số liên tiếp; bác yêu cầu của ông A về việc buộc ông B phải bồi thường thiệt hại cho ông A. Trường hợp này, chi phí hợp lý để thuê luật sư được Tòa án chấp nhận là hai mươi lăm triệu đồng thù lao luật sư (tương ứng với 50% yêu cầu của ông A được Tòa án chấp nhận), một triệu đồng chi phí đi lại cho luật sư và ba triệu đồng chi phí lưu trú cho luật sư.

Phương án 2. Mức thù lao luật sư được tính trên cơ sở tham chiếu mức thù lao luật sư đối với những vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu luật sư tham gia tố tụng theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật liên quan.

            Điều 11. Hành vi lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

1. Hành vi lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bao gồm hành vi cố ý vượt quá phạm vi hoặc mục tiêu của thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

2. Hành vi cố ý vượt quá phạm vi hoặc mục tiêu của thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bao gồm một trong những hành vi sau:

a) Khởi kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ khi biết rõ không có hành vi xâm phạm xảy ra trong thực tế;

b) Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ khi biết rõ không có hành vi xâm phạm xảy ra trong thực tế;

c) Sử dụng các thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nhằm mục đích thu thập thông tin;

          d) Các hành vi khác theo quy định của pháp luật.

Điều 12. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây:

1. Phải có thiệt hại xảy ra

Thiệt hại do hành vi lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ gây ra là sự tổn thất thực tế về vật chất và tinh thần do hành vi lạm dụng thủ tục bảo vệ trực tiếp gây ra cho tổ chức, cá nhân bị lạm dụng quyền. Được coi là có tổn thất thực tế nếu có đủ các căn cứ sau:

a) Lợi ích về vật chất và tinh thần là có thực và thuộc về chủ thể bị thiệt hại;

b) Chủ thể bị thiệt hại có khả năng đạt được lợi ích vật chất hoặc tinh thần đó;

c) Có sự giảm sút hoặc mất lợi ích của người bị thiệt hại sau khi hành vi lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ xảy ra so với khả năng đạt được lợi ích đó khi không có hành vi lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ;

2. Phải có hành vi lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

3. Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và ngược lại hành vi lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là nguyên nhân gây ra thiệt hại.

Điều 13. Xác định thiệt hại do hành vi lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Thiệt hại do hành vi lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được bồi thường bao gồm:

1. Các tổn thất về tài sản.

Việc xác định các tổn thất về tài sản được thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 16 Nghị quyết này.

2. Giảm sút về thu nhập, lợi nhuận.

Việc xác định mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận được thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 16 Nghị quyết này.

3. Tổn thất về cơ hội kinh doanh.

Việc xác định tổn thất về cơ hội kinh doanh được thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 16 Nghị quyết này.

4. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại; chi phí hợp lý để tham gia vụ kiện.

Chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại bao gồm gồm chi phí cho việc tạm giữ, bảo quản, lưu kho, lưu bãi đối với hàng hóa xâm phạm, chi phí thực hiện các biện pháp khẩn cấp tạm thời, chi phí hợp lý để thuê dịch vụ giám định, ngăn chặn, khắc phục hành vi xâm phạm và chi phí cho việc thông báo, cải chính trên phương tiện thông tin đại chúng liên quan đến hành vi xâm phạm.

Chi phí hợp lý khi tham gia vụ kiện bao gồm chi phí hợp lý để thuê luật sư, các chi phí tố tụng khác mà người bị lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ phải chịu trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án.

5. Tổn thất về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí.

Chủ thể bị thiệt hại có nghĩa vụ chứng minh có thiệt hại về tinh thần, trường hợp chủ thể bị thiệt hại không chứng minh được có thiệt hại về tinh thần, thì Toà án không chấp nhận yêu cầu này của họ.

            Điều 14. Nguyên tắc xác định thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

1. Thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được bồi thường bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần quy định tại khoản 1 Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ.

Thiệt hại về tinh thần phát sinh là do quyền nhân thân của tác giả tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn, tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí bị xâm phạm, tác giả bị tổn hại về danh dự, nhân phẩm, bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm (uy tín), danh tiếng, lòng tin vì bị hiểu nhầm... và cần phải được bồi thường thiệt hại.

2. Thiệt hại về vật chất và tinh thần là sự tổn thất thực tế về vật chất và tinh thần do hành vi xâm phạm trực tiếp gây ra cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ. Chỉ được coi là có tổn thất thực tế nếu có đầy đủ ba căn cứ sau đây:

a) Lợi ích vật chất hoặc tinh thần là có thực và thuộc về người bị thiệt hại.

Lợi ích vật chất hoặc tinh thần là kết quả của quyền sở hữu trí tuệ và người bị thiệt hại là người có quyền hưởng lợi ích vật chất hoặc tinh thần đó.

b) Người bị thiệt hại có khả năng đạt được lợi ích vật chất hoặc tinh thần.

Người bị thiệt hại có thể đạt được lợi ích vật chất hoặc tinh thần đó trong điều kiện nhất định, nếu không có hành vi xâm phạm xảy ra.

c) Có sự giảm sút hoặc mất lợi ích của người bị thiệt hại sau khi hành vi xâm phạm xảy ra so với khả năng đạt được lợi ích đó khi không có hành vi xâm phạm và hành vi là nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm sút, mất lợi ích đó.

Sự giảm sút, mất lợi ích của người bị thiệt hại là kết quả tất yếu của hành vi xâm phạm và ngược lại hành vi xâm phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm sút, mất lợi ích đó.

            Điều 15. Xác định thiệt hại vật chất do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

            1. Khi người bị thiệt hại yêu cầu bồi thường tổn thất về tài sản, thì phải nêu rõ giá trị tính được thành tiền của đối tượng quyền sở hữu trí tuệ tại thời điểm bị xâm phạm và căn cứ xác định giá trị tính được thành tiền của đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đó.

Ví dụ: Nếu yêu cầu bồi thường tổn thất về tài sản do nhãn hiệu bị xâm phạm, thì nêu rõ giá trị của nhãn hiệu đó tại thời điểm bị xâm phạm và căn cứ để xác định giá trị của nhãn hiệu.

2. Khi xác định giảm sút về thu nhập, lợi nhuận của người bị thiệt hại phải xác định được họ có thu nhập, lợi nhuận trước khi xảy ra hành vi xâm phạm hay không, khả năng đạt được lợi nhuận, thu nhập đó khi không có hành vi xâm phạm.

a) Thu nhập, lợi nhuận bao gồm:

a1) Thu nhập, lợi nhuận mà người bị thiệt hại thu được do sử dụng, khai thác trực tiếp đối tượng quyền sở hữu trí tuệ.

Ví dụ: Chủ sở hữu sáng chế sản xuất sản phẩm được bảo hộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 124 của Luật Sở hữu trí tuệ và bán sản phẩm đó thu lợi nhuận.

a2) Thu nhập, lợi nhuận mà người bị thiệt hại thu được do cho thuê đối tượng quyền sở hữu trí tuệ (là bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính).

Ví dụ: Chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh hoặc chương trình máy tính thực hiện quyền tài sản quy định tại điểm e khoản 1 Điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính và được nhận tiền thù lao, các quyền lợi vật chất khác của tổ chức, cá nhân được thuê tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính đó.

a3) Thu nhập, lợi nhuận mà người bị thiệt hại thu được do chuyển giao quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ.

Ví dụ: Chủ sở hữu sáng chế ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng sáng chế cho phép cá nhân, tổ chức khác sử dụng sáng chế và được nhận khoản tiền chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo thỏa thuận.

b) Xác định mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận trên cơ sở thu nhập, lợi nhuận đã xác định được của người bị thiệt hại.

Nếu thu nhập, lợi nhuận của người bị thiệt hại sau khi xảy ra hành vi xâm phạm thấp hơn thu nhập, lợi nhuận trước khi xảy ra hành vi đó, thì khoản chênh lệch đó là thu nhập, lợi nhuận thực tế của người bị thiệt hại bị giảm sút.

Khi xác định thu nhập, lợi nhuận của người bị thiệt hại phải xác định rõ các yếu tố khách quan tác động đến sự tăng hoặc giảm thu nhập, lợi nhuận của người bị thiệt hại không liên quan đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ để bảo đảm xác định thu nhập, lợi nhuận thực tế của người bị thiệt hại bị giảm sút

Trường hợp thu nhập, lợi nhuận của bên bị xâm phạm tuy không giảm sút so với thời điểm trước khi xảy ra hành vi xâm phạm nhưng vẫn bị giảm sút so với thu nhập, lợi nhuận thực tế đáng lẽ họ phải có được nếu không có hành vi xâm phạm thì cũng được coi là thu nhập, lợi nhuận bị giảm sút.

Ví dụ: Công ty A đầu tư dây chuyền công nghệ mới sản xuất thép xây dựng mang nhãn hiệu “TN”. Năm 2018 và năm 2019, Công ty A đều tiêu thụ được 200.000 tấn thép “TN” đạt doanh thu 10 tỷ đồng, lợi nhuận 2 tỷ đồng/năm (100%). Tuy nhiên, trong năm 2019, Công ty B sử dụng trái phép nhãn hiệu “TN” của Công ty A để gắn lên sản phẩm thép của mình và bán ra thị trường 40.000 tấn thép làm cho Công ty A bị mất 20% thị phần, giảm 20% doanh thu, 20% lợi nhuận (bằng 400 triệu đồng). Như vậy, mặc dù lợi nhuận của Công ty A năm 2019 không bị giảm sút so với năm 2018 nhưng phải xác định khoản 400 triệu đồng là lợi nhuận bị giảm sút của Công ty A.

3. Cơ hội kinh doanh là hoàn cảnh thuận lợi, khả năng thực tế để chủ thể quyền sở hữu trí tuệ sử dụng, khai thác trực tiếp, cho người khác thuê, chuyển giao quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, chuyển nhượng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ cho người khác... để thu lợi nhuận.

a) Cơ hội kinh doanh bao gồm:

a1) Khả năng thực tế sử dụng, khai thác trực tiếp đối tượng quyền sở hữu trí tuệ trong kinh doanh.

Việc sử dụng, khai thác trực tiếp đối tượng quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể quyền trong kinh doanh có thể xảy ra trong điều kiện nhất định.

a2) Khả năng thực tế cho người khác thuê đối tượng quyền sở hữu trí tuệ

Chủ thể quyền có thể cho cá nhân, tổ chức thuê đối tượng quyền sở hữu trí tuệ và đã thực hiện việc đàm phán, thỏa thuận với cá nhân, tổ chức về những nội dung chủ yếu để đi đến ký kết hợp đồng thuê đối tượng đó. Hợp đồng sẽ được ký kết và thực hiện trong điều kiện bình thường nếu không có sự xâm phạm từ người thứ ba.

a3) Khả năng thực tế chuyển giao quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, chuyển nhượng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đó cho người khác.

Chủ thể quyền nhận được đơn đặt hàng đã đàm phán, thỏa thuận với đối tác về những nội dung chủ yếu để đi đến ký kết hợp đồng và hợp đồng sẽ được ký kết và được thực hiện trong điều kiện không có sự xâm phạm từ phía người thứ ba.

a4) Cơ hội kinh doanh khác bị mất do hành vi xâm phạm trực tiếp gây ra.

Trường hợp này có thể bao gồm việc mất cơ hội đàm phán với đối tác, mất cơ hội kinh doanh, liên kết trong đầu tư, trong tiếp thị, quảng cáo, xúc tiến thương mại thông qua các cuộc triển lãm, trưng bày quốc tế... do bị chiếm đoạt đối tượng quyền sở hữu trí tuệ.

b) Khi xem xét yêu cầu bồi thường về tổn thất cơ hội kinh doanh, Toà án yêu cầu người bị thiệt hại phải nêu rõ và chứng minh cơ hội kinh doanh bị mất là gì, thuộc trường hợp nào tại điểm a khoản 3 Điều này và giá trị tính được thành tiền đối với trường hợp đó để Toà án xem xét quyết định.

Điều 16. Về căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

1. Khi xác định lợi nhuận mà bị đơn thu được do thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, Tòa án phải xem xét đến các khoản chi phí mà bị đơn đã bỏ ra, một phần lợi nhuận từ các hoạt động khác không liên quan đến hành vi xâm phạm (nếu có) để khấu trừ khoản tiền này trong tổng doanh thu của bị đơn.

Tổng doanh thu của bị đơn được tính trên cơ sở toàn bộ các hoá đơn, chứng từ bán sản phẩm hoặc sử dụng tác phẩm vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của nguyên đơn mà bị đơn đã thực hiện hoặc các tài liệu, chứng cứ khác.

Chỉ được cộng khoản lợi nhuận mà bị đơn thu được do thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ vào tổng thiệt hại vật chất tính được thành tiền của nguyên đơn với điều kiện khoản lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa được tính vào tổng thiệt hại vật chất.

2. Giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ được xác định theo một trong các cách như sau:

a) Dựa trên giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ mà bên chuyển giao (bên nguyên đơn) và bên được chuyển giao (bên bị đơn) có thể đã tự nguyện thỏa thuận nếu ký kết hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đó vào thời điểm xảy ra hành vi xâm phạm;

b) Dựa trên giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ được áp dụng trong lĩnh vực tương ứng được nêu trong các thông lệ chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trước đó.

Ví dụ: Các vụ chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực tương ứng trước đó đã được thanh toán hoặc bảo đảm trước khi xảy ra hành vi xâm phạm, mức phí được nhiều người chấp nhận là hợp lý, được áp dụng thống nhất tại Việt Nam.

3. Khi chủ thể quyền sở hữu trí tuệ đưa ra mức bồi thường thiệt hại vật chất theo các cách tính khác theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ thì phải nêu rõ căn cứ pháp lý đối với cách tính đó.

4. Toà án ấn định mức bồi thường thiệt hại theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 205 của Luật Sở hữu trí tuệ khi nguyên đơn chứng minh được việc xác định mức bồi thường thiệt hại về vật chất không thể thực hiện được theo quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ và yêu cầu Tòa án áp dụng mức bồi thường thiệt hại theo luật định.

Trường hợp bị đơn chứng minh được nguyên đơn không trung thực trong việc chứng minh thiệt hại của họ, viện lý do để được áp dụng mức bồi thường theo luật định vì nếu yêu cầu bồi thường theo quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều 205 của Luật Sở hữu trí tuệ thì mức bồi thường sẽ thấp hơn mức bồi thường theo luật định, và bị đơn chứng minh được mức thiệt hại của nguyên đơn, thì Toà án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn mà có thể chấp nhận yêu cầu của bị đơn để quyết định mức bồi thường thiệt hại.

Khi ấn định mức bồi thường thiệt hại về vật chất, Toà án phải căn cứ vào đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm; tính chất, mức độ của hành vi xâm phạm sau đây:

a) Hoàn cảnh, động cơ xâm phạm (xâm phạm do cố ý, do vô ý, do bị khống chế, hoặc do bị lệ thuộc về vật chất, tinh thần, xâm phạm lần đầu, tái phạm);

b) Cách thực hiện hành vi xâm phạm (xâm phạm riêng lẻ, có tổ chức, tự thực hiện hành vi xâm phạm, mua chuộc, lừa dối, cưỡng ép người khác thực hiện hành vi xâm phạm);

c) Phạm vi lãnh thổ, thời gian, khối lượng, quy mô thực hiện hành vi xâm phạm (trên địa bàn một huyện của một tỉnh, nhiều huyện của nhiều tỉnh khác nhau, thời gian dài hay ngắn, khối lượng lớn hay nhỏ, quy mô thương mại...);

d) Ảnh hưởng, hậu quả của hành vi xâm phạm (ảnh hưởng ở trong nước, quốc tế đối với danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng của chủ thể quyền; hậu quả về vật chất đối với chủ thể quyền).

Nếu trong vụ tranh chấp có nhiều đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm, thì mức bồi thường thiệt hại chung cho tất cả các đối tượng đó cũng không được vượt quá mức một tỷ đồng.

5.

Phương án 1. Cá nhân, pháp nhân là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về tinh thần cho mình thì có quyền yêu cầu Tòa án quyết định bồi thường thiệt hại về tinh thần. Trong trường hợp cá nhân, pháp nhân không chứng minh được có thiệt hại về tinh thần thì Toà án không chấp nhận yêu cầu này của họ.

Toà án căn cứ vào mức độ tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra cho chủ thể quyền trong từng trường hợp cụ thể để quyết định mức bồi thường thiệt hại về tinh thần trong giới hạn từ mười lần đến một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Phương án 2. Cá nhân là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về tinh thần cho mình thì có quyền yêu cầu Tòa án quyết định bồi thường thiệt hại về tinh thần. Trong trường hợp cá nhân không chứng minh được có thiệt hại về tinh thần thì Toà án không chấp nhận yêu cầu này của họ.

Toà án căn cứ vào mức độ tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra cho chủ thể quyền trong từng trường hợp cụ thể để quyết định mức bồi thường thiệt hại về tinh thần trong giới hạn từ mười lần đến một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

6. Trường hợp trong vụ án có nhiều đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm, thì mức bồi thường thiệt hại được xác định riêng cho từng đối tượng đó. Nếu đối với đối tượng này Toà án có thể xác định được mức bồi thường thiệt hại về vật chất theo quy định tại các điểm a và b khoản 1 Điều 205 của Luật Sở hữu trí tuệ và đối với đối tượng kia Toà án không thể xác định được mức bồi thường thiệt hại về vật chất theo quy định tại các điểm a và b khoản 1 Điều 205 của Luật Sở hữu trí tuệ, thì Toà án có thể áp dụng đồng thời các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 205 của Luật sở hữu trí tuệ để xác định mức bồi thường thiệt hại chung.

Điều 17. Các khiếu kiện hành chính liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân

Các khiếu kiện hành chính liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân bao gồm:

1. Khiếu kiện quyết định hoặc thông báo liên quan đến việc xử lý đơn đăng ký xác lập quyền, duy trì, gia hạn, sửa đổi, chấm dứt, hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp, đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp.

2. Khiếu kiện quyết định bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế, thông báo từ chối yêu cầu ra quyết định bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế.

3. Khiếu kiện quyết định bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng, thông báo từ chối yêu cầu ra quyết định bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng.

4. Khiếu kiện hành vi hành chính liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ mà hành vi đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Điều 18. Bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ

1. Người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hành chính về quyền sở hữu trí tuệ có quyền đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại do quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật của cơ quan quản lý hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước về sở hữu trí tuệ gây ra.

2. Khi giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, Tòa án áp dụng quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và pháp luật về tố tụng dân sự để giải quyết.

3. Trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại chưa có đủ căn cứ để giải quyết trong cùng vụ án hành chính thì Tòa án quyết định tách yêu cầu bồi thường thiệt hại để giải quyết bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Việc tách yêu cầu bồi thường thiệt hại không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết yêu cầu khởi kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính trong vụ án hành chính.

Điều 19. Hiệu lực thi hành

Nghị quyết này được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày    tháng    năm 2026 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày     tháng    năm 2026.

Nơi nhận:

- Ủy ban Thường vụ Quốc hội (để giám sát)

 - Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội; 

- Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội;

- Ban Nội chính Trung ương;

- Văn phòng Trung ương Đảng;

- Văn phòng Chủ tịch nước;

- Văn phòng Chính phủ (02 bản);

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Bộ Tư pháp;

- Các TAND và TAQS các cấp;

- Các Thẩm phán TANDTC;

- Các đơn vị thuộc TANDTC;

- Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật, Bộ Tư pháp;

- Cổng TTĐT TANDTC (để đăng tải);

- Lưu: VT, Vụ PC&QLKH TANDTC (P3).

TM. HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
       CHÁNH ÁN


 

 

 

 


Nguyễn Văn Quảng

 

Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng quy định pháp luật giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
CHÍNH SÁCH BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN
Yêu cầu hỗ trợYêu cầu hỗ trợ
Chú thích màu chỉ dẫn
Chú thích màu chỉ dẫn:
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng các màu sắc:
Sửa đổi, bổ sung, đính chính
Thay thế
Hướng dẫn
Bãi bỏ
Bãi bỏ cụm từ
Bình luận
Click vào nội dung được bôi màu để xem chi tiết.
×