• Tổng quan
  • Nội dung
  • Dự thảo PDF
  • Hồ sơ dự án
  • Lược đồ
  • Tải về
Lưu
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Theo dõi VB
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Ghi chú
Báo lỗi
In

Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự: Quy định và hướng dẫn chi tiết về quy trình tố tụng hình sự

Ngày cập nhật: Thứ Bảy, 18/07/2026 10:05 (GMT+7)
Lĩnh vực: Hình sự Nhóm dự thảo: Dự thảo văn bản Trung ương
Lần ban hành: Lần 1 Loại dự thảo: Bộ luật
Hạn gửi góp ý: Đang cập nhật... Link góp ý: Gửi góp ý
Cơ quan chủ trì dự thảo: Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trạng thái:
Chưa thông qua
Ngày cập nhật: 15/07/2026

Phạm vi điều chỉnh

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải Dự thảo Bộ luật

Tải văn bản tiếng Việt (.pdf) Tải Dự thảo Bộ luật PDF

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực:
Chưa thông qua
Tình trạng: Chưa thông qua
QUỐC HỘI
-------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Luật số: /2026/QH16
Hà Nội, ngày tháng năm 2026
BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự.
Phần thứ nhất
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Chương I
PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH, NHIỆM VỤ, HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Bộ luật Tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết
nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử một số thủ tục thi
hành án hình sự; nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cơ quan,
tổ chức, cá nhân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự.
Điều 2. Nhiệm vụ của Bộ luật Tố tụng hình sự
Bộ luật Tố tụng hình sự nhiệm vụ bảo đảm phát hiện chính xác xử
công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm,
không để lọt tội phạm, không làm oan người tội; góp phần bảo vệ công lý,
bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ hội chủ nghĩa, bảo
2
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, nhân, giáo
dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa chống tội
phạm.
Điều 3. Hiệu lực của Bộ luật Tố tụng hình sự
1. Bộ luật Tố tụng hình sự hiệu lực đối với mọi hoạt động tố tụng hình
sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Hoạt động tố tụng hình sự đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh
thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tiến hành theo quy định của
điều ước quốc tế Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam thành viên hoặc
theo nguyên tắc có đi có lại.
Trường hợp người nước ngoài thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn
trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng
hoà hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc tập quán quốc tế thì được giải
quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế đó; trường hợp
điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không tập quán quốc tế thì được
giải quyết bằng con đường ngoại giao.
Điều 4. Giải thích từ ngữ
1. Trong Bộ luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
a) quan thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm quan tiến hành tố
tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
b) Người thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm người tiến hành tố tụng và
người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
c) Người tham gia tố tụng là cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia hoạt động
tố tụng theo quy định của Bộ luật này;
d) Nguồn tin về tội phạm gồm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố của quan, tổ chức, cá nhân, lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin
về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện;
đ) Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;
e) Người thân thích của người tham gia tố tụng, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng người quan hệ với người tham gia tố tụng, người thẩm
3
quyền tiến hành tố tụng gồm vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố chồng, mẹ chồng, bố
vợ, mẹ vợ, bố nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi; ông nội, nội, ông ngoại,
ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột; cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột,
cô ruột, dì ruột, cháu ruột;
g) Đương sự gồm nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự;
h) Tự thú việc người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức
về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát
hiện;
i) Đầu thú việc người phạm tội sau khi bị phát hiện đã tự nguyện ra
trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình;
k) Áp giải việc quan thẩm quyền cưỡng chế người bị giữ trong
trường hợp khẩn cấp, bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo đến địa điểm tiến hành
điều tra, truy tố hoặc xét xử;
l) Dẫn giải việc quan thẩm quyền cưỡng chế người làm chứng,
người bị tố giác hoặc bị kiến nghị khởi tố đến địa điểm tiến hành điều tra, truy
tố, xét xử hoặc người bị hại từ chối giám định;
m) Danh bản bản ghi thông tin tóm tắt về lịch, nhân dạng, ảnh chụp
ba thế, in dấu vân hai ngón tay trỏ của bị can do quan thẩm quyền lập
và lưu giữ;
n) Chỉ bản bản ghi thông tin tóm tắt về lịch in dấu vân tất cả các
ngón tay của bị can do cơ quan có thẩm quyền lập và lưu giữ;
o) Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng việc quan, người thẩm
quyền tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ
luật này quy định đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của
người tham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách
quan, toàn diện của vụ án;
p) Viện kiểm sát có thẩm quyền là Viện kiểm sát có trách nhiệm thực hành
quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ việc, vụ án;
4
q) Tố tụng điện tử phương thức tổ chức thực hiện hoạt động tố
tụng trên môi trường số, trong đó hồ sơ, dữ liệu, chứng cứ, văn bản tố tụng và
các hoạt động của quan, người thẩm quyền tiến hành tố tụng và người
tham gia tố tụng được tạo lập, trao đổi, quản lý, lưu trữ sử dụng bằng
phương tiện điện tử theo hình thức trực tiếp, trực tuyến, bảo đảm tính hợp
pháp, xác thực, toàn vẹn, bảo mật, an ninh thông tin mạng theo quy định của
pháp luật.
2. Trong Bộ luật này, những từ ngữ dưới đây được gọi như sau:
a) quan điều tra Công an tỉnh, thành phố sau đây gọi quan điều
tra cấp tỉnh;
b) quan điều tra quân sự quân khu tương đương sau đây gọi
quan điều tra quân sự cấp quân khu;
c) Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố sau đây gọi Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh;
d) Viện kiểm sát quân sự quân khu tương đương sau đây gọi Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu;
đ) Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố sau đây gọi Tòa án nhân dân cấp
tỉnh;
e) Tòa án quân sự quân khu và tương đương sau đây gọi là Tòa án quân sự
cấp quân khu;
g) Xã, phường, đặc khu sau đây gọi là cấp xã.
Điều 5. Trách nhiệm của quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong
đấu tranh phòng, chống tội phạm
1. Trong phạm vi trách nhiệm của mình, quan nhà nước phải áp dụng
các biện pháp phòng ngừa tội phạm, phối hợp với quan thẩm quyền tiến
hành tố tụng trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
quan nhà nước phải thường xuyên kiểm tra, thanh tra việc thực hiện
chức năng, nhiệm vụ được giao; phát hiện kịp thời hành vi vi phạm pháp luật để
xử thông báo ngay cho quan điều tra, Viện kiểm sát mọi hành vi phạm
tội xảy ra trong quan và trong lĩnh vực quản lý của mình; kiến nghị và gửi tài
5
liệu liên quan cho quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét, khởi tố đối với
người thực hiện hành vi phạm tội.
Thủ trưởng quan nhà nước phải chịu trách nhiệm về việc không thông
báo hoặc cung cấp thông tin sai sự thật về hành vi phạm tội xảy ra trong cơ quan
và trong lĩnh vực quản lý của mình cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát.
2. Tổ chức, nhân quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác, báo tin về tội
phạm; tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm.
3. quan thẩm quyền tiến hành tố tụng trách nhiệm tạo điều kiện
để quan nhà nước, tổ chức nhân tham gia đấu tranh phòng, chống tội
phạm.
4. quan nhà nước, tổ chức nhân trách nhiệm thực hiện quyết
định, yêu cầu tạo điều kiện để quan, người thẩm quyền tiến hành tố
tụng thực hiện nhiệm vụ; trường hợp không thực hiện không do bất
khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì tùy tính chất, mức độ vi
phạm bị xử kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách
nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
5. quan thanh tra, kiểm toán nhà nước các quan, tổ chức khác
trách nhiệm phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc
phát hiện xử tội phạm. Khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì phải
chuyển ngay các tài liệu, đồ vật có liên quan và kiến nghị Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát xem xét, khởi tố vụ án hình sự.
6. Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở hoạt động của cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ.
Điều 6. Phát hiện và khắc phục nguyên nhân, điều kiện phạm tội
1. Trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự, quan, người thẩm
quyền tiến hành tố tụng trách nhiệm phát hiện nguyên nhân điều kiện
phạm tội, yêu cầu, kiến nghị quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp
khắc phục và phòng ngừa.
2. quan, tổ chức hữu quan phải thực hiện yêu cầu, kiến nghị của
quan, người thẩm quyền tiến hành tố tụng; việc trả lời yêu cầu, kiến nghị
6
được thực hiện bằng văn bản trong thời hạn theo quy định của Bộ luật
này.
Điều 7. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản quy phạm pháp
luật
Trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án hình sự, quan, người
thẩm quyền tiến hành tố tụng trách nhiệm phát hiện kiến nghị với các
quan thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản quy
phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,
nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Việc xem xét, trả lời cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng về
kết quả xử văn bản quy phạm pháp luật bị kiến nghị được thực hiện theo
quy định của pháp luật.
Chương II
NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN
Điều 8. Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự
Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ
luật này. Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố,
xét xử ngoài những căn cứ trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định. Đối với
việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
liên quan đến người chưa thành niên thì còn phải thực hiện theo quy định của
Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Điều 9. Tôn trọng bảo vệ quyền con người, quyền lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân
Khi tiến hành tố tụng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình,
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ quyền con
người, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, nhân; thường xuyên kiểm tra
tính hợp pháp sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ
hoặc thay đổi những biện pháp đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không
còn cần thiết.
7
Điều 10. Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật
Tố tụng hình sự được tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng
trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành
phần và địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật.
Mọi pháp nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức
sở hữu và thành phần kinh tế.
Điều 11. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể
Mọi người quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Không ai bị bắt nếu
không quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát,
trừ trường hợp phạm tội quả tang.
Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam
người phải theo quy định của Bộ luật này. Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng
nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng,
sức khỏe của con người.
Điều 12. Bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản
của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân
Mọi người quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh
dự, nhân phẩm, tài sản.
Mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm, tài sản của nhân; xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân đều
bị xử lý theo pháp luật.
Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.
Điều 13. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng
tư, mật nhân, mật gia đình, an toàn mật thư tín, điện thoại,
điện tín, dữ liệu điện tử của cá nhân
Không ai được xâm phạm trái pháp luật chỗ ở, đời sống riêng tư, mật
nhân, mật gia đình, an toàn mật thư tín, điện thoại, điện tín, dữ liệu
điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân.
8
Việc khám xét chỗ ở; khám xét, tạm giữ thu giữ, lưu trữ, bảo quản và
sử dụng thư tín, điện thoại, điện tín, dữ liệu điện tử các hình thức trao đổi
thông tin riêng tư khác phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này.
Điều 14. Suy đoán vô tội
1. Người bị buộc tội được coi không tội cho đến khi được chứng
minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa
án đã hiệu lực pháp luật. Khi không đủ không thể làm sáng tỏ căn cứ để
buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.
2. Khi nghi ngờ về các tình tiết làm căn cứ buộc tội, kết tội hoặc áp
dụng hậu quả pháp lý bất lợi đối với người bị buộc tội mà không thể làm sáng
tỏ theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì phải xử lý theo hướng có
lợi cho họ.
Điều 15. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm
Không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người mà hành vi của
họ đã có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp họ thực hiện
hành vi nguy hiểm khác cho xã hội mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm.
Điều 16. Xác định sự thật của vụ án
Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về quan thẩm quyền tiến
hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là
mình vô tội.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quan thẩm quyền
tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của
vụ án một cách khách quan, toàn diện đầy đủ, làm chứng cứ xác định
tội chứng cứ xác định tội, tình tiết tăng nặng tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự của người bị buộc tội.
Điều 17. Bảo vệ cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
1. quan, người thẩm quyền tiến hành tố tụng được áp dụng các
biện pháp bảo vệ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy
định của pháp luật.
9
2. Nghiêm cấm mọi hành vi can thiệp trái pháp luật, tác động, gây áp
lực, đe dọa, trả thù, trù dập hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm ảnh
hưởng đến việc giải quyết vụ việc, vụ án hình sự.
Điều 18. Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự
Người bị buộc tội quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào
chữa.
quan, người thẩm quyền tiến hành tố tụng trách nhiệm thông
báo, giải thích bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy
đủ quyền bào chữa, quyền lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật
này.
Điều 19. Hoạt động tố tụng điện tử
quan, người thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố
tụng thể thực hiện hoạt động tố tụng điện tử trong quá trình giải quyết vụ
việc, vụ án.
Hoạt động tố tụng điện tử giá trị pháp như hoạt động tố tụng
thông thường.
Điều 20. Thủ tục đối với trường hợp người phạm tội tự nguyện nhận
tội, chấp nhận hình phạt
Trường hợp người bị buộc tội tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt
thì thể áp dụng thủ tục rút gọn được hưởng khoan hồng theo quy định
tại Điều … của Bộ luật Hình sự và Bộ luật này.
Điều 21. Trách nhiệm của quan, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng
Trong quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện quy định của pháp luật phải chịu trách
nhiệm về hành vi, quyết định của mình.
Người vi phạm pháp luật trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp,
bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì tuỳ tính chất, mức
10
độ vi phạm bị xử kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy
định của luật.
Điều 22. Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự
Khi phát hiện hành vi dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình, quan thẩm quyền tiến hành tố tụng trách nhiệm
khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội
phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội.
Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ trình tự, thủ tục do Bộ
luật này quy định.
Điều 23. Bảo đảm phân hóa xử lý khoan hồng trong tố tụng hình sự
quan, người thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện việc phân
hóa xử trách nhiệm hình sự thông qua việc áp dụng các cơ chế xử lý và thủ
tục không khởi tố, miễn trách nhiệm hình sự, tạm hoãn truy cứu trách nhiệm
hình sự, thủ tục điều tra, truy tố, xét xử rút gọn các chế, thủ tục khác
theo quy định của Bộ luật này Bộ luật Hình sự; bảo đảm yêu cầu đấu
tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phục
vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Điều 24. Tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra
quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra phải tuân thủ pháp luật khi tiến hành hoạt động điều tra theo quy định
của Bộ luật này.
Mọi hoạt động điều tra phải tôn trọng sự thật, tiến hành khách quan, toàn
diện đầy đủ; phát hiện nhanh chóng, chính xác mọi hành vi phạm tội, làm rõ
chứng cứ xác định tội chứng cứ xác định tội, tình tiết tăng nặng, tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên nhân, điều kiện phạm tội những
tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án.
Điều 25. Trách nhiệm thực hành quyền công tố kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong tố tụng hình sự
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật
11
nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi
phạm pháp luật đều phải được phát hiện xử kịp thời, nghiêm minh, việc
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp
luật, không để lọt tội phạm người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm
oan người vô tội.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định thẩm quyền của Viện
kiểm sát nhân dân mỗi cấp trong thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong tố tụng hình sự theo quy định của Bộ luật này.
Điều 26. Bảo đảm sự của người thẩm quyền tiến hành tố
tụng, người tham gia tố tụng
Người thẩm quyền tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người dịch
thuật, người giám định, người định giá tài sản, người chứng kiến không được
tham gia tố tụng nếu có lý do cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện
nhiệm vụ.
Điều 27. Thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia
Việc xét xử thẩm của Tòa án Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét
xử theo thủ tục rút gọn do Bộ luật này quy định.
Điều 28. Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp
luật
Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm
cấm quan, tổ chức, nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội
thẩm.
quan, tổ chức, nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội
thẩm dưới bất kỳ hình thức nào thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ
luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy
định của luật.
Điều 29. Tòa án xét xử tập thể
Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo
thủ tục rút gọn do Bộ luật này quy định.
Điều 30. Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai
12
Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, bảo đảm công bằng.
Tòa án xét xử công khai, mọi người đều quyền tham dự phiên tòa, trừ
trường hợp do Bộ luật này quy định. Trường hợp đặc biệt cần giữ mật nhà
nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc để
giữ mật đời theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì Tòa án có thể xét xử
kín nhưng phải tuyên án công khai.
Điều 31. Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm
Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát
viên, người khác thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào
chữa người tham gia tố tụng khác đều quyền bình đẳng trong việc đưa ra
chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm sự thật khách quan của
vụ án.
Tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến Tòa án
để xét xử phải đầy đủ hợp pháp. Phiên tòa xét xử vụ án hình sự phải mặt
đầy đủ những người theo quy định của Bộ luật này, trường hợp vắng mặt phải vì
do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc trường hợp khác do Bộ
luật này quy định. Tòa án trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị
cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ
quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án.
Mọi chứng cứ xác định tội, chứng cứ xác định tội, tình tiết tăng
nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ
luật Hình sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt
hại đối với bị cáo, xử vật chứng những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết
vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa.
Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá
chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
Điều 32. Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm
1. Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm.
Bản án, quyết định thẩm của Tòa án thể bị kháng cáo, kháng nghị
theo quy định của Bộ luật này. Bản án, quyết định thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật.
13
Bản án, quyết định thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được
xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án hiệu lực pháp
luật.
2. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có
vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc tình tiết mới theo quy định của Bộ luật
này thì được xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Điều 33. Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án
1. Bản án, quyết định của Tòa án đã hiệu lực pháp luật phải được
quan, tổ chức, nhân tôn trọng. quan, tổ chức, nhân hữu quan phải
nghiêm chỉnh chấp hành.
2. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình, quan, tổ
chức, nhân trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện thực hiện yêu cầu của
cơ quan, tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án.
Điều 34. Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự
Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự là tiếng Việt. Người tham
gia tố tụng quyền dùng tiếng nói chữ viết của dân tộc mình, trường hợp
này phải có phiên dịch.
Điều 35. Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với
việc giải quyết vụ án hình sự. Trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề
bồi thường thiệt hại, bồi hoàn chưa điều kiện chứng minh không ảnh
hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề dân sự có thể tách ra để giải
quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Điều 36. Bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại trong
hoạt động tố tụng hình sự
1. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm
giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án oan, trái pháp luật quyền
được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự.
Nhà nước trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền
lợi cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm
14
giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án oan, trái pháp luật do cơ quan,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra.
2. Người khác bị thiệt hại do quan, người thẩm quyền tiến hành tố
tụng gây ra có quyền được Nhà nước bồi thường thiệt hại.
Điều 37. Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự
nhân, quan, tổ chức quyền khiếu nại, nhân quyền tố cáo
hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó.
Cơ quan, người có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết khiếu
nại, tố cáo kịp thời, đúng pháp luật; gửi văn bản kết quả giải quyết cho người
khiếu nại, tố cáo, cơ quan, tổ chức khiếu nại và có biện pháp khắc phục.
Trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo do Bộ luật này
quy định.
Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền
khiếu nại, tố cáo để vu khống người khác.
Điều 38. Kiểm tra, giám sát trong tố tụng hình sự
1. quan, người thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thường xuyên
kiểm tra việc tiến hành các hoạt động tố tụng thuộc thẩm quyền; thực hiện kiểm
soát giữa các quan trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm,
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
2. quan nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tổ chức
thành viên của Mặt trận, đại biểu dân cử quyền giám sát hoạt động của
quan, người thẩm quyền tiến hành tố tụng; giám sát việc giải quyết khiếu nại,
tố cáo của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Nếu phát hiện hành vi trái pháp luật của quan, người thẩm quyền
tiến hành tố tụng thì quan nhà nước, đại biểu dân cử quyền yêu cầu, Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền
kiến nghị với quan thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, giải quyết theo
quy định của Bộ luật này. quan thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem
xét, giải quyết và trả lời kiến nghị, yêu cầu đó theo quy định của pháp luật.
15
Chương III
CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG, NGƯỜI
CÓ THẨM QUYỀN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG
Điều 39. Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng
1. Cơ quan tiến hành tố tụng gồm:
a) Cơ quan điều tra;
b) Viện kiểm sát;
c) Tòa án.
2. Người tiến hành tố tụng gồm:
a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ
điều tra;
b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra
viên;
c) Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án,
Thẩm tra viên.
Điều 40. quan người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra
1. Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm:
a) Các cơ quan của Bộ đội biên phòng;
b) Các cơ quan của Hải quan;
c) Các cơ quan của Kiểm lâm;
d) Các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển;
đ) Các cơ quan của Kiểm ngư;
e) Các quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra;
g) Các quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra.
16
Các quan cụ thể được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra quy định tại khoản này được quy định tại Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình
sự.
2. Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm:
a) Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Bộ
đội biên phòng gồm Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Trinh sát; Cục trưởng,
Phó Cục trưởng Cục Phòng, chống ma túy và tội phạm; Đoàn trưởng, Phó Đoàn
trưởng Đoàn Trinh sát; Đoàn trưởng, Phó Đoàn trưởng Đoàn Đặc nhiệm phòng,
chống ma túy và tội phạm; Chỉ huy trưởng, Phó Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ
đội biên phòng; Đồn trưởng, Phó Đồn trưởng Đồn biên phòng; Chỉ huy trưởng,
Phó Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng;
b) Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Hải
quan gồm Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Điều tra chống buôn lậu;
Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục kiểm tra sau thông quan; Chi cục
trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan khu vực; Đội trưởng, Phó Đội
trưởng Hải quan cửa khẩu;
c) Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của
Kiểm lâm gồm Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm; Chi
cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm vùng, Chi cục trưởng, Phó
Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm; Hạt trưởng, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm;
d) Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của lực
lượng Cảnh sát biển gồm lệnh, Phó lệnh Cảnh sát biển; lệnh vùng,
Phó lệnh vùng Cảnh sát biển; Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và
pháp luật; Đoàn trưởng, Phó Đoàn trưởng Đoàn Trinh sát; Đoàn trưởng, Phó
Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy; Hải đoàn trưởng,
Phó Hải đoàn trưởng; Hải đội trưởng, Phó Hải đội trưởng; Đội trưởng, Phó Đội
trưởng Đội nghiệp vụ Cảnh sát biển;
đ) Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của
Kiểm ngư gồm Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản Kiểm ngư; Chi
cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng;
17
e) Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của các
quan khác trong Công an nhân dân gồm Cục trưởng, Phó Cục trưởng, Trưởng
phòng, Phó Trưởng phòng các quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra của Công an nhân dân, Giám thị, Phó Giám thị Trại giam theo
quy định của Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự;
g) Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của các
quan khác trong Quân đội nhân dân gồm Giám thị, Phó Giám thị Trại giam;
Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương;
h) Cán bộ điều tra thuộc các cơ quan quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 41. Nhiệm vụ, quyền hạn trách nhiệm của Thủ trưởng, Phó
Thủ trưởng Cơ quan điều tra
1. Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp tổ chức chỉ đạo việc thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội
phạm, việc khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra;
b) Quyết định phân công hoặc thay đổi Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra,
thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, kiểm tra việc khởi tố, điều tra vụ án
hình sự của Phó Thủ trưởng quan điều tra; quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ
các quyết định không căn cứ trái pháp luật của Phó Thủ trưởng quan
điều tra.
c) Quyết định phân công hoặc thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra;
kiểm tra các hoạt động thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra
vụ án hình sự của Điều tra viên, Cán bộ điều tra; quyết định thay đổi hoặc hủy
bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Điều tra viên.
d) Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra.
Khi vắng mặt, Thủ trưởng quan điều tra ủy quyền cho một Phó Thủ
trưởng quan điều tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng Cơ quan
điều tra. Phó Thủ trưởng chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng về nhiệm vụ được
ủy quyền.
2. Khi tiến hành tố tụng hình sự, Thủ trưởng quan điều tra những
nhiệm vụ, quyền hạn:
18
a) Quyết định tạm đình chỉ, quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyết định khởi tố, không khởi tố, bổ sung
hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án; quyết định khởi tố, bổ sung hoặc thay
đổi quyết định khởi tố bị can; quyết định nhập hoặc tách vụ án; quyết định ủy
thác điều tra;
b) Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp
cưỡng chế, biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt theo quy định của Bộ luật này;
c) Quyết định truy nã, đình nã bị can, khám xét, thu giữ, tạm giữ, xử lý vật
chứng;
d) Quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc giám định lại,
khai quật tử thi, thực nghiệm điều tra, thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người
giám định. Yêu cầu định giá, định giá lại tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá
tài sản.
đ) Trực tiếp kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm tiến hành các
biện pháp điều tra;
e) Kết luận điều tra vụ án;
g) Quyết định tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra, phục hồi điều tra vụ
án, bị can;
h) Quyết định áp dụng, hủy bỏ, đề nghị áp dụng thủ tục rút gọn theo
quy định của Bộ luật này;
i) Ra các lệnh, quyết định tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc
thẩm quyền của Cơ quan điều tra.
3. Khi được phân công tiến hành việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự, Phó
Thủ trưởng quan điều tra những nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản
1 khoản 2 Điều này, trừ quy định tại điểm b khoản 1 Điều này. Phó Thủ
trưởng quan điều tra không được giải quyết khiếu nại, tố cáo về hành vi,
quyết định của mình.
4. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng quan điều tra phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng
quan điều tra không được ủy quyền cho Điều tra viên thực hiện nhiệm vụ,
19
quyền hạn của mình, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 42 của Bộ luật
này.
Điều 42. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên
1. Điều tra viên được phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ
án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp kiểm tra, xác minh lập hồ giải quyết nguồn tin về tội
phạm;
b) Lập hồ sơ vụ án hình sự;
c) Yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; yêu cầu cử, thay đổi
người phiên dịch, người dịch thuật;
d) Triệu tập hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo
tin về tội phạm, người bị tố giác, kiến nghị khởi tố, người đại diện theo pháp luật
của pháp nhân; lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị
bắt, người bị tạm giữ; triệu tập lấy lời khai của người làm chứng, bị hại,
đương sự;
đ) Quyết định áp giải người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị
bắt, bị tạm giữ, bị can; quyết định dẫn giải người làm chứng, người bị tố giác,
người bị kiến nghị khởi tố, bị hại;
e) Thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh hoặc quyết
định bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ, tạm giữ, biên tài sản, phong
tỏa tài khoản, xử lý vật chứng;
g) Tiến hành khám nghiệm hiện trường, khai quật tử thi, khám nghiệm tử
thi, xem xét dấu vết trên thân thể, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực
nghiệm điều tra;
h) Quyết định truy nã, đình bị can; xử vật chứng đối với trường
hợp tại điểm c điểm d khoản 3 Điều 112 của Bộ luật này; trưng cầu giám
định; yêu cầu định giá tài sản;
i) Quyết định áp dụng, hủy bỏ, đề nghị áp dụng thủ tục rút gọn theo quy
định của Bộ luật này;
20
k) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Cơ
quan điều tra theo sự phân công của Thủ trưởng Cơ quan điều tra theo quy định
của Bộ luật này.
2. Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã
hoặc Phó Trưởng Công an cấp được Thủ trưởng quan điều tra cấp tỉnh
phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án về tội ít nghiêm trọng, tội
nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại
khoản 1 Điều này, điểm a, điểm c khoản 1 khoản 2 Điều 41 của Bộ luật này,
trừ quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao quy định chi tiết khoản này.
3. Điều tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật trước Thủ
trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra về hành vi, quyết định của mình.
Điều 43. Nhiệm vụ, quyền hạn trách nhiệm của Cán bộ điều tra
của Cơ quan điều tra
1. Cán bộ điều tra thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây theo sự
phân công của Điều tra viên:
a) Ghi biên bản lấy lời khai, ghi biên bản hỏi cung ghi các biên bản
khác khi Điều tra viên tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm
điều tra vụ án hình sự;
b) Giao, chuyển, gửi các lệnh, quyết định và các văn bản tố tụng khác theo
quy định của Bộ luật này;
c) Giúp Điều tra viên trong việc lập hồ giải quyết nguồn tin về tội
phạm, hồ sơ vụ án và thực hiện hoạt động tố tụng khác.
2. Cán bộ điều tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật trước Thủ
trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên về hành vi của mình.
Điều 44. Nhiệm vụ, quyền hạn trách nhiệm của cấp trưởng, cấp
phó, cán bộ điều tra của các quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan,
Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra
21
1. Cấp trưởng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 40 của Bộ luật này có
những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp chỉ đạo hoạt động thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm,
khởi tố, điều tra vụ án hình sự theo thẩm quyền;
b) Quyết định phân công hoặc thay đổi cấp phó, cán bộ điều tra trong việc
thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự;
c) Kiểm tra hoạt động thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố,
điều tra vụ án hình sự của cấp phó và cán bộ điều tra;
d) Quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không căn cứ trái
pháp luật của cấp phó, cán bộ điều tra;
Khi vắng mặt, cấp trưởng ủy quyền cho một cấp phó được thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của cấp trưởng. Cấp phó chịu trách nhiệm trước cấp trưởng
về nhiệm vụ được ủy quyền. Cấp trưởng, cấp phó không được ủy quyền cho cán
bộ điều tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
2. Khi tiến hành tố tụng hình sự đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong
trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ lịch người phạm tội ràng,
những người quy định tại các điểm a, b, c, d đ khoản 2 Điều 40 của Bộ luật
này có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật từ những người có liên quan để kiểm
tra, xác minh nguồn tin về tội phạm;
b) Quyết định tạm đình chỉ, quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm; quyết định khởi tố, không khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết
định khởi tố vụ án; quyết định khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố
bị can;
c) Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo việc khám nghiệm hiện trường;
d) Quyết định trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản; quyết định
khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến
vụ án;
22
đ) Triệu tập hỏi cung bị can; triệu tập lấy lời khai bị hại, đương sự;
triệu tập lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, kiến
nghị khởi tố; triệu tập lấy lời khai người làm chứng; lấy lời khai người bị giữ
trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ;
e) Quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo
quy định của Bộ luật này;
g) Kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc kết luận điều tra quyết định
đình chỉ điều tra; quyết định tạm đình chỉ điều tra; quyết định phục hồi điều tra.
h) Quyết định áp dụng, hủy bỏ áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định
của Bộ luật này;
3. Khi tiến hành tố tụng hình sự đối với tội phạm nghiêm trọng, rất
nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức
tạp, những người được quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 40 của
Bộ luật này có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật từ những người có liên quan để kiểm
tra, xác minh nguồn tin về tội phạm;
b) Quyết định tạm đình chỉ, quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm; quyết định khởi tố, không khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết
định khởi tố vụ án;
c) Quyết định khám xét, thu giữ, tạm giữ bảo quản vật chứng, tài liệu
liên quan trực tiếp đến vụ án;
d) Triệu tập lấy lời khai người làm chứng, bị hại, đương sự; lấy lời
khai người bị bắt, người bị tạm giữ;
đ) Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo việc khám nghiệm hiện trường;
e) Quyết định trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản;
g) Đối chất, nhận dạng, nhất biết giọng nói;
h) Xử lý vật chứng;
k) Quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật
này.
23
4. Cán bộ điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Lập hồ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lấy lời khai của những
người có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm;
b) Lập hồ sơ vụ án hình sự;
c) Hỏi cung bị can; lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người
bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp,
người bị bắt, người bị tạm giữ, người làm chứng, bị hại, đương sự; đối chất,
nhận dạng, nhận biết giọng nói;
d) Tiến hành khám nghiệm hiện trường; thi hành lệnh khám xét, thu giữ,
tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án.
5. Trong phạm vi trách nhiệm của mình, cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều
tra của các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh
sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải
chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình. Cấp trưởng,
cấp phó không được ủy quyền cho cán bộ điều tra thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn của mình.
Điều 45. Nhiệm vụ, quyền hạn trách nhiệm của cấp trưởng, cấp
phó, cán bộ điều tra của các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội
nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
1. Cấp trưởng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra quy định tại điểm e điểm g khoản 2 Điều 40 của Bộ luật này
những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp chỉ đạo hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự theo thẩm
quyền;
b) Quyết định phân công hoặc thay đổi cấp phó, cán bộ điều tra trong việc
khởi tố, điều tra vụ án hình sự;
c) Kiểm tra hoạt động thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố,
điều tra vụ án hình sự của cấp phó và cán bộ điều tra;
d) Quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không căn cứ trái
pháp luật của cấp phó, cán bộ điều tra.
24
Khi cấp trưởng vắng mặt, một cấp phó được ủy quyền thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn của cấp trưởng và chịu trách nhiệm trước cấp trưởng về nhiệm vụ
được ủy quyền.
2. Khi tiến hành tố tụng hình sự, những người được quy định tại điểm e và
điểm g khoản 2 Điều 40 của Bộ luật này có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật từ những người có liên quan để kiểm
tra, xác minh nguồn tin về tội phạm;
b) Quyết định tạm đình chỉ, quyết định phục hồi việc giải quyết nguồn
tin về tội phạm; quyết định khởi tố, không khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết
định khởi tố vụ án;
c) Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo việc khám ổn nghiệm hiện trường;
d) Quyết định khám xét, thu giữ, tạm giữ bảo quản vật chứng, tài liệu
liên quan trực tiếp đến vụ án;
đ) Triệu tập lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố
giác, người bị kiến nghị khởi tố, người làm chứng, bị hại, đương sự;
e) Quyết định áp dụng, hủy bỏ áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định
của Bộ luật này.
3. Cán bộ điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Lập hồ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lấy lời khai của những
người có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm;
b) Lập hồ sơ vụ án hình sự;
c) Lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người
bị kiến nghị khởi tố, người làm chứng, bị hại, đương sự;
d) Tiến hành khám nghiệm hiện trường; thi hành lệnh khám xét, thu giữ,
tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án;
đ) Giao, gửi các lệnh, quyết định các văn bản tố tụng khác theo quy
định của Bộ luật này.
4. Trong phạm vi trách nhiệm của mình, cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều
tra của các quan của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm
25
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về
hành vi, quyết định của mình. Cấp trưởng, cấp phó không được ủy quyền cho
cán bộ điều tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Điều 46. Nhiệm vụ, quyền hạn trách nhiệm của Viện trưởng, Phó
Viện trưởng Viện kiểm sát
1. Viện trưởng Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp tổ chức chỉ đạo hoạt động thực hành quyền công tố
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự;
b) Quyết định phân công hoặc thay đổi Phó Viện trưởng Viện kiểm sát;
kiểm tra hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng hình sự của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát; quyết định thay đổi
hoặc hủy bỏ quyết định không căn cứ trái pháp luật của Phó Viện trưởng
Viện kiểm sát;
c) Quyết định phân công hoặc thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; kiểm
tra hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
tố tụng hình sự của Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; quyết định thay đổi hoặc hủy
bỏ quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Kiểm sát viên;
d) Quyết định rút, đình chỉ hoặc hủy bỏ quyết định không căn cứ
trái pháp luật của Viện kiểm sát cấp dưới;
đ) Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát.
Khi vắng mặt, Viện trưởng Viện kiểm sát ủy quyền cho một Phó Viện
trưởng Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng chịu
trách nhiệm trước Viện trưởng Viện kiểm sát về nhiệm vụ được ủy quyền.
2. Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
hoạt động tố tụng hình sự, Viện trưởng Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền
hạn:
a) Yêu cầu quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố hoặc
thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can;
26
b) Quyết định tạm đình chỉ, quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyết định khởi tố, không khởi tố, bổ sung
hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án; quyết định khởi tố, bổ sung hoặc thay
đổi quyết định khởi tố bị can; quyết định nhập, tách vụ án;
c) Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp
cưỡng chế, biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; quyết định việc gia hạn kiểm tra
xác minh nguồn tin về tội phạm, gia hạn tạm giữ, gia hạn điều tra, gia hạn
tạm giam, gia hạn truy tố;
d) Quyết định khám xét, thu giữ, tạm giữ, xử lý vật chứng;
đ) Quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc giám định lại,
thực nghiệm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám định. Yêu cầu
định giá, định giá lại tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá tài sản;
e) Yêu cầu Thủ trưởng quan điều tra, cấp trưởng quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thay đổi Điều tra viên, Cán bộ
điều tra;
g) Phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định, lệnh của quan điều
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
h) Quyết định hủy bỏ các quyết định, lệnh không căn cứ trái pháp
luật của quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra;
i) Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm,
khởi tố, điều tra; quyết định chuyển vụ án;
k) Quyết định áp dụng, đình chỉ biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
l) Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn hoặc hủy bỏ quyết định áp dụng thủ
tục rút gọn; quyết định việc thực hiện cam kết nhận tội, nhận hình phạt theo
quy định của Bộ luật này;
m) Quyết định truy tố bị can, trả hồ để điều tra bổ sung hoặc điều tra
lại;
n) Yêu cầu phục hồi điều tra; quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án,
đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can; quyết định hủy bỏ quyết định
27
tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; quyết định phục hồi điều tra
vụ án, phục hồi điều tra đối với bị can, phục hồi vụ án, phục hồi vụ án đối với bị
can;
o) Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án,
quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này;
p) Thực hiện quyền kiến nghị theo quy định của pháp luật;
q) Ban hành quyết định, lệnh và tiến hành các hoạt động tố tụng khác theo
quy định của Bộ luật này.
3. Khi được phân công thực hành quyền công tố kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong tố tụng hình sự, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát những
nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, trừ quy định tại
điểm b khoản 1 Điều này. Phó Viện trưởng Viện kiểm sát không được giải quyết
khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của mình.
4. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình. Viện trưởng Viện kiểm sát có
thể ủy quyền cho Kiểm sát viên thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn của
mình trừ trường hợp quy định tại khoản 1 và điểm e khoản 2 Điều này; phạm
vi ủy quyền do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định.
5. Trường hợp Viện Công tố Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát
nhân dân tối cao giải quyết vụ án thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
thể ủy quyền cho Kiểm sát viên giữ chức vụ Viện trưởng, Phó Viện trưởng
Viện Công tố Kiểm sát xét xử phúc thẩm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây:
a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
b) Quyết định phân công hoặc thay đổi Phó Viện trưởng Viện Công tố và
Kiểm sát xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; kiểm tra hoạt động
thực hành quyền công tố kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Phó Viện
trưởng Viện Công tố Kiểm sát xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên, Kiểm tra
viên;
28
c) Quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không căn cứ trái
pháp luật của Phó Viện trưởng Viện Công tố Kiểm sát xét xử phúc thẩm,
Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.
Điều 47. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên
1. Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm của cơ quan,
người có thẩm quyền;
b) Trực tiếp giải quyết và lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm;
c) Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, áp dụng
biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; kiểm sát việc lập hồ giải quyết
nguồn tin về tội phạm, việc lập hồ vụ án của quan, người thẩm quyền
điều tra; kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; yêu cầu quan, người có
thẩm quyền điều tra tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố hoặc
thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can;
d) Trực tiếp kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi,
đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra, khám xét;
đ) Kiểm sát việc tạm đình chỉ, phục hồi việc giải quyết nguồn tin về tội
phạm; việc tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra, phục hồi điều tra, kết thúc
điều tra;
e) Đề ra yêu cầu điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã, đình nã bị can;
g) Triệu tập hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo
tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người đại diện theo
pháp luật của pháp nhân, người làm chứng, bị hại, đương sự; lấy lời khai người
bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; quyết định thu giữ, tạm giữ, xử lý vật chứng
đối với trường hợp tại điểm c điểm d khoản 3 Điều 112 của Bộ luật này;
quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung, thực nghiệm điều tra;
yêu cầu định giá; quyết định trả hồ để điều tra bổ sung hoặc điều tra lại;
tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;
29
h) Quyết định áp giải người bị bắt, bị can; quyết định dẫn giải người làm
chứng, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại;
i) Hủy bỏ các quyết định, yêu cầu không có căn cứ và trái pháp luật của
Điều tra viên, Cán bộ điều tra;
k) Yêu cầu thay đổi người thẩm quyền tiến hành tố tụng; yêu cầu hoặc
đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; yêu cầu cử, đề nghị thay đổi người phiên
dịch, người dịch thuật;
l) Tiến hành tố tụng tại phiên tòa; công bố cáo trạng hoặc quyết định truy
tố theo thủ tục rút gọn, các quyết định khác của Viện kiểm sát về việc buộc tội
đối với bị cáo; xét hỏi, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, luận tội, tranh luận, phát
biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa, phiên họp;
m) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử của Tòa án và
những người tham gia tố tụng; kiểm sát bản án, quyết định các văn bản tố
tụng khác của Tòa án;
n) Kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án;
o) Thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị theo quy định của pháp luật;
p) Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn hoặc hủy bỏ quyết định áp dụng
thủ tục rút gọn; chủ trì lập biên bản cam kết nhận tội, nhận hình phạt theo
quy định của Bộ luật này;
q) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng khác thuộc thẩm quyền của
Viện kiểm sát theo sự phân công của Viện trưởng Viện kiểm sát.
2. Kiểm sát viên giữ chức vụ Viện trưởng Viện Công tố Kiểm sát xét
xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền giải quyết khiếu nại theo
quy định của Bộ luật này.
3. Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật trước Viện
trưởng Viện kiểm sát, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát về hành vi, quyết định của
mình.
Điều 48. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm tra viên
1. Kiểm tra viên thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây theo sự
phân công của Kiểm sát viên:
30
a) Ghi biên bản lấy lời khai, ghi biên bản hỏi cung ghi các biên bản
khác trong tố tụng hình sự;
b) Giao, chuyển, gửi các lệnh, quyết định và các văn bản tố tụng khác theo
quy định của Bộ luật này;
c) Giúp Kiểm sát viên trong việc lập hồ kiểm sát, hồ giải quyết
nguồn tin về tội phạm và tiến hành hoạt động tố tụng khác.
2. Kiểm tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật trước Viện
trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên về hành vi của mình.
Điều 49. Nhiệm vụ, quyền hạn trách nhiệm của Chánh án, Phó
Chánh án Tòa án
1. Chánh án Tòa án có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp tổ chức việc xét xử vụ án hình sự; quyết định giải quyết tranh
chấp về thẩm quyền xét xử;
b) Quyết định phân công Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm giải
quyết, xét xử vụ án hình sự; quyết định phân công Thư Tòa án tiến hành tố
tụng đối với vụ án hình sự; quyết định phân công Thẩm tra viên thẩm tra hồ sơ
vụ án hình sự;
c) Quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án trước khi mở
phiên tòa;
d) Ra quyết định thi hành án hình sự;
đ) Quyết định hoãn chấp hành án phạt tù;
e) Quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù;
g) Quyết định xoá án tích;
h) Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Khi vắng mặt, Chánh án Tòa án ủy quyền cho một Phó Chánh án Tòa án
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án. Phó Chánh án Tòa án phải chịu
trách nhiệm trước Chánh án Tòa án về nhiệm vụ được ủy quyền.
2. Khi tiến hành việc giải quyết vụ án hình sự, Chánh án Tòa án có những
nhiệm vụ, quyền hạn:
31
a) Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam, xử
vật chứng;
b) Quyết định áp dụng, đình chỉ biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
c) Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn hoặc hủy bỏ quyết định áp dụng thủ
tục rút gọn;
d) Kiến nghị, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án;
đ) Quyết định tiến hành hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của
Tòa án;
e) Tiến hành hoạt động tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này.
3. Khi được phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự, Phó Chánh án
Tòa án những nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 khoản 2 Điều
này, trừ quyết định phân công Phó Chánh án Tòa án quy định tại điểm b
khoản 1 Điều này. Phó Chánh án Tòa án không được giải quyết khiếu nại, tố cáo
về hành vi, quyết định của mình.
4. Chánh án, Phó Chánh án Tòa án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
về hành vi, quyết định của mình. Chánh án, Phó Chánh án Tòa án không được
ủy quyền cho Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trừ trường
hợp quy định tại khoản 5 Điều này.
5. Trường hợp Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao giải quyết vụ án thì
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thể ủy quyền cho Thẩm phán giữ chức vụ
Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây:
a) Trực tiếp tổ chức việc xét xử vụ án hình sự thuộc thẩm quyền;
b) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;
c) Quyết định phân công Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm, Thẩm phán xét
xử vụ án hình sự; quyết định phân công Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đối với
vụ án hình sự; quyết định thay đổi Thẩm phán, Thư Tòa án trước khi mở
phiên tòa.
Điều 50. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán
32
1. Thẩm phán được phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự những
nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa;
b) Tiến hành xét xử vụ án;
c) Tiến hành hoạt động tố tụng biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm
quyền của Hội đồng xét xử;
d) Tiến hành hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự
phân công của Chánh án Tòa án.
2. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa những nhiệm vụ, quyền hạn quy định
tại khoản 1 Điều này và những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp
cưỡng chế, trừ biện pháp tạm giam;
b) Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
c) Quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ
vụ án;
d) Điều hành việc xét xử vụ án, tranh tụng tại phiên tòa;
đ) Quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc giám định lại,
thực nghiệm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám định; yêu cầu
định giá tài sản, định giá lại tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá tài sản;
e) Yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; yêu cầu cử, thay đổi
người phiên dịch, người dịch thuật;
g) Quyết định triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa;
h) Quyết định xử vật chứng đối với trường hợp tại điểm c điểm d
khoản 3 Điều 112 của Bộ luật này;
i) Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn hoặc hủy bỏ quyết định áp dụng
thủ tục rút gọn; quyết định việc thực hiện cam kết nhận tội, chấp nhận hình
phạt và lập biên bản theo quy định của Bộ luật này;
k) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Tòa
án theo sự phân công của Chánh án Tòa án theo quy định của Bộ luật này.
33
3. Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa
án nhân dân tối cao quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam, xử
vật chứng; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân
dân tối cao có quyền giải quyết khiếu nại theo quy định của Bộ luật này.
4. Thẩm phán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết
định của mình.
Điều 51. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Hội thẩm
1. Hội thẩm được phân công xét xử thẩm vụ án hình sự những
nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa;
b) Tiến hành xét xử vụ án;
c) Tiến hành hoạt động tố tụng biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm
quyền của Hội đồng xét xử.
2. Hội thẩm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định
của mình.
Điều 52. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thư ký Tòa án
1. Thư Tòa án được phân công tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự
có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Kiểm tra sự mặt của những người được Tòa án triệu tập; nếu
người vắng mặt thì phải nêu lý do;
b) Phổ biến nội quy phiên tòa;
c) Báo cáo Hội đồng xét xử danh sách những người được triệu tập đến
phiên tòa và những người vắng mặt;
d) Ghi biên bản phiên tòa;
đ) Tiến hành hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự
phân công của Chánh án Tòa án.
2. Thư ký Tòa án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Chánh án
Tòa án về hành vi của mình.
Điều 53. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm tra viên
34
1. Thẩm tra viên được phân công tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự
có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Thẩm tra hồ vụ án bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật theo sự phân công của Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án;
b) Kết luận việc thẩm tra và báo cáo kết quả thẩm tra với Chánh án Tòa án
hoặc Phó Chánh án Tòa án;
c) Thẩm tra viên giúp Chánh án Tòa án thực hiện nhiệm vụ về công tác thi
hành án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhiệm vụ khác theo sự phân công của
Chánh án Tòa án hoặc Phó Chánh án Tòa án.
2. Thẩm tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Chánh án,
Phó Chánh án Tòa án về hành vi của mình.
Điều 54. Các trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người thẩm
quyền tiến hành tố tụng
Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc
bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:
1. Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị
hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;
2. Đã tham gia với cách người bào chữa, người làm chứng, người
giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật trong vụ án
đó;
3. Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm
nhiệm vụ.
Điều 55. Người quyền đề nghị thay đổi người thẩm quyền tiến
hành tố tụng
1. Kiểm sát viên.
2. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân
sự và người đại diện của họ.
3. Người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại,
nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự.
35
Điều 56. Thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra
1. Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị
thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Trường hợp quy định tại Điều 54 của Bộ luật này;
b) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Kiểm sát viên, Kiểm
tra viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm tra viên hoặc Thư ký Tòa án.
2. Việc thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra do Thủ trưởng hoặc Phó
Thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định.
Điều tra viên bị thay đổi Thủ trưởng quan điều tra thuộc một trong
các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì việc điều tra vụ án do Cơ quan
điều tra cấp trên trực tiếp tiến hành.
Điều 57. Thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên
1. Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay
đổi khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Trường hợp quy định tại Điều 54 của Bộ luật này;
b) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Điều tra viên, Cán bộ
điều tra, Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm tra viên hoặc Thư ký Tòa án.
2. Việc thay đổi Kiểm sát viên trước khi mở phiên tòa do Viện trưởng
hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp được phân công giải quyết vụ án
quyết định.
Kiểm sát viên bị thay đổi Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định.
Trường hợp phải thay đổi Kiểm sát viên tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử
ra quyết định hoãn phiên tòa.
Điều 58. Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm
1. Thẩm phán, Hội thẩm phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi khi
thuộc một trong các trường hợp:
a) Trường hợp quy định tại Điều 54 của Bộ luật này;
b) Họ cùng trong một Hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau;
36
c) Đã tham gia xét xử thẩm hoặc phúc thẩm hoặc tiến hành tố tụng vụ
án đó với tư cách là Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên,
Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án.
2. Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm trước khi mở phiên tòa do Chánh
án hoặc Phó Chánh án Tòa án được phân công giải quyết vụ án quyết định.
Thẩm phán bị thay đổi Chánh án Tòa án thì do Chánh án Tòa án trên
một cấp quyết định.
Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa do Hội đồng xét xử
quyết định trước khi bắt đầu xét hỏi bằng cách biểu quyết tại phòng nghị án. Khi
xem xét thay đổi thành viên nào thì thành viên đó được trình bày ý kiến của
mình, Hội đồng quyết định theo đa số.
Trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa thì Hội đồng
xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.
Điều 59. Thay đổi Thư ký Tòa án
1. Thư Tòa án phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc
một trong các trường hợp:
a) Trường hợp quy định tại Điều 54 của Bộ luật này;
b) Đã tiến hành tố tụng vụ án đó với cách Kiểm sát viên, Kiểm tra
viên, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm tra viên, Thư
ký Tòa án.
2. Việc thay đổi Thư Tòa án trước khi mở phiên tòa do Chánh án hoặc
Phó Chánh án Tòa án được phân công giải quyết vụ án quyết định.
Việc thay đổi Thư ký Tòa án tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định.
Trường hợp phải thay đổi Thư ký Tòa án tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử
ra quyết định tạm ngừng phiên tòa.
Chương IV
NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG
Điều 60. Người tham gia tố tụng
1. Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
37
2. Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.
3. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.
4. Người bị bắt.
5. Người bị tạm giữ.
6. Bị can.
7. Bị cáo.
8. Bị hại.
9. Nguyên đơn dân sự.
10. Bị đơn dân sự.
11. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
12. Người làm chứng.
13. Người chứng kiến.
14. Người giám định.
15. Người định giá tài sản.
16. Người phiên dịch, người dịch thuật.
17. Người bào chữa.
18. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.
19. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến
nghị khởi tố.
20. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội, người đại diện
khác theo quy định của Bộ luật này.
Điều 61. Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm; quan, tổ chức đã báo tin về
tội phạm, kiến nghị khởi tố có quyền:
a) Yêu cầu quan thẩm quyền giữ mật việc tố giác, báo tin về tội
phạm, kiến nghị khởi tố, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy
38
tín, tài sản, các quyền lợi ích hợp pháp khác của họ, người thân thích của họ
khi bị đe dọa;
b) Được thông báo kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố;
c) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của quan, người thẩm
quyền tiến hành tố tụng trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố.
2. nhân, quan, tổ chức quy định tại khoản 1 Điều này phải mặt
theo yêu cầu của quan thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm, trình
bày trung thực về những tình tiết mà mình biết về sự việc.
Điều 62. Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố
1. Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền:
a) Được thông báo về hành vi bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố;
b) Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
c) Trình bày lời khai, trình bày ý kiến;
d) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
đ) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan yêu cầu
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
e) Tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
g) Được thông báo kết quả giải quyết tố giác, kiến nghị khởi tố;
h) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của quan, người thẩm
quyền tiến hành tố tụng.
2. Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố phải mặt theo yêu cầu
của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, kiến nghị khởi tố.
Điều 63. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt
1. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp
phạm tội quả tang và người bị bắt theo quyết định truy nã có quyền:
39
a) Được nghe, nhận lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định phê chuẩn lệnh bắt người bị
giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định truy nã;
b) Được biết lý do mình bị giữ, bị bắt;
c) Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
d) Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai
chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;
đ) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan yêu cầu
người có thẩm quyền tố tụng kiểm tra, đánh giá;
g) Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;
h) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của quan, người thẩm
quyền tiến hành tố tụng trong việc giữ người, bắt người.
2. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt có nghĩa vụ chấp
hành lệnh giữ người, lệnh bắt người yêu cầu của quan, người thẩm
quyền giữ người, bắt người theo quy định của Bộ luật này.
Điều 64. Người bị tạm giữ
1. Người bị tạm giữ người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt
trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy hoặc người
phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ.
2. Người bị tạm giữ có quyền:
a) Được biết do mình bị tạm giữ; nhận quyết định tạm giữ, quyết định
gia hạn tạm giữ, quyết định phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ các quyết
định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;
b) Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
c) Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai
chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;
d) Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;
đ) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
40
e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan yêu cầu
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
g) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của quan, người thẩm
quyền tiến hành tố tụng về việc tạm giữ.
3. Người bị tạm giữ nghĩa vụ chấp hành các quy định của Bộ luật này
và Luật thi hành tạm giữ, tạm giam.
Điều 65. Bị can
1. Bị can người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền nghĩa
vụ của bị can pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp
luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này.
2. Bị can có quyền:
a) Được biết lý do mình bị khởi tố;
b) Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
c) Nhận quyết định khởi tố bị can; quyết định thay đổi, bổ sung quyết định
khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định phê
chuẩn quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can; quyết định áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; bản kết luận
điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình
chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố các quyết định tố tụng khác theo
quy định của Bộ luật này;
d) Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai
chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;
đ) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan yêu cầu
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
g) Đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người thẩm
quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên
dịch, người dịch thuật;
h) Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;
41
i) Đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến
việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ
khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu;
k) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của quan, người thẩm
quyền tiến hành tố tụng.
3. Bị can có nghĩa vụ:
a) mặt theo giấy triệu tập của người thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Trường hợp vắng mặt không do bất khả kháng hoặc không do trở ngại
khách quan thì có thể bị áp giải, nếu bỏ trốn thì bị truy nã;
b) Chấp hành quyết định, yêu cầu của quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng.
4. Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng quy định chi tiết trình tự, thủ tục, thời hạn, địa điểm bị can đọc, ghi chép
bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc
bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa khi bị can có yêu cầu quy định
tại điểm i khoản 2 Điều này.
Điều 66. Bị cáo
1. Bị cáo người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử.
Quyền nghĩa vụ của bị cáo pháp nhân được thực hiện thông qua người đại
diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này.
2. Bị cáo có quyền:
a) Nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy
bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; quyết định đình chỉ vụ án; bản
án, quyết định của Tòa án các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ
luật này;
b) Tham gia phiên tòa;
c) Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
d) Đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người thẩm
quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên
42
dịch, người dịch thuật; đề nghị triệu tập người làm chứng, bị hại, người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người giám định, người định giá tài sản,
người tham gia tố tụng khác người thẩm quyền tiến hành tố tụng tham gia
phiên tòa;
đ) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan yêu cầu
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
g) Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;
h) Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai
chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;
i) Đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi người tham gia phiên
tòa nếu được chủ tọa đồng ý; tranh luận tại phiên tòa;
k) Nói lời sau cùng trước khi nghị án;
l) Xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên
bản phiên tòa;
m) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;
n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của quan, người thẩm
quyền tiến hành tố tụng;
o) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
3. Bị cáo có nghĩa vụ:
a) mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Trường hợp vắng mặt không
do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị áp giải; nếu
bỏ trốn thì bị truy nã;
b) Chấp hành quyết định, yêu cầu của Tòa án.
Điều 67. Bị hại
1. Bị hại cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc
quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa
gây ra.
2. Bị hại hoặc người đại diện của họ có quyền:
43
a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
c) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan yêu cầu
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
d) Đề nghị giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật;
đ) Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án;
e) Đề nghị thay đổi người thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám
định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
g) Đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi
thường;
h) Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị
cáo người khác tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa;
i) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
k) Tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này;
l) Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền lợi ích hợp pháp khác của mình,
người thân thích của mình khi bị đe dọa;
m) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;
n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của quan, người thẩm
quyền tiến hành tố tụng;
o) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc
người đại diện của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa.
4. Bị hại có nghĩa vụ:
a) mặt theo giấy triệu tập của người thẩm quyền tiến hành tố tụng;
trường hợp cố ý vắng mặt không do bất khả kháng hoặc không do trở ngại
khách quan thì có thể bị dẫn giải;
44
b) Chấp hành quyết định, yêu cầu của quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng.
5. Trường hợp bị hại chết, mất tích, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự thì người đại diện thực hiện quyền nghĩa vụ của người bị hại quy
định tại Điều này.
quan, tổ chức bị hại sự chia, tách, sáp nhập, hợp nhất thì người
đại diện theo pháp luật hoặc tổ chức, nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ của cơ
quan, tổ chức đó có những quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều này.
Điều 68. Nguyên đơn dân sự
1. Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm
gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.
2. Nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện của họ có quyền:
a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
c) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan yêu cầu
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
d) Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án;
đ) Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật;
e) Đề nghị thay đổi người thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám
định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
g) Đề nghị mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường;
h) Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi
người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của nguyên đơn; xem biên bản phiên tòa;
i) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
k) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của quan, người thẩm
quyền tiến hành tố tụng;
l) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi thường thiệt hại;
m) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
45
3. Nguyên đơn dân sự có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b) Trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến việc bồi thường thiệt
hại;
c) Chấp hành quyết định, yêu cầu của quan, người thẩm quyền tiến
hành tố tụng.
Điều 69. Bị đơn dân sự
1. Bị đơn dân sự nhân, quan, tổ chức pháp luật quy định phải
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
2. Bị đơn dân sự hoặc người đại diện của họ có quyền:
a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b) Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn
dân sự;
c) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
d) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan yêu cầu
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
đ) Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật;
e) Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án có liên quan đến việc
đòi bồi thường thiệt hại;
g) Đề nghị thay đổi người thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám
định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
h) Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi
người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của bị đơn; xem biên bản phiên tòa;
i) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
k) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của quan, người thẩm
quyền tiến hành tố tụng;
l) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi thường thiệt hại;
46
m) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
3. Bị đơn dân sự có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b) Trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến việc bồi thường thiệt
hại;
c) Chấp hành quyết định, yêu cầu của quan, người thẩm quyền tiến
hành tố tụng.
Điều 70. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
1. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhân, cơ quan,
tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự.
2. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện
của họ có quyền:
a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
c) Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật;
d) Tham gia phiên tòa; phát biểu ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi
những người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa;
đ) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan yêu cầu
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
g) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên
quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình;
h) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của quan, người thẩm
quyền tiến hành tố tụng;
i) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
47
b) Trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến quyền nghĩa vụ
của mình;
c) Chấp hành quyết định, yêu cầu của quan, người thẩm quyền tiến
hành tố tụng.
Điều 71. Người làm chứng
1. Người làm chứng người biết được những tình tiết liên quan đến
nguồn tin về tội phạm, về vụ án được quan thẩm quyền tiến hành tố
tụng triệu tập đến làm chứng.
2. Những người sau đây không được làm chứng:
a) Người bào chữa của người bị buộc tội;
b) Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng
nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về vụ án hoặc
không có khả năng khai báo đúng đắn.
3. Người làm chứng có quyền:
a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b) Yêu cầu quan triệu tập bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm, tài sản quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của
mình khi bị đe dọa;
c) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của quan, người thẩm
quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia làm chứng;
d) Được quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại những chi phí khác
theo quy định của pháp luật.
4. Người làm chứng có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Trường hợp cố ý vắng mặt không do bất khả kháng hoặc không do trở
ngại khách quan việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc giải quyết nguồn
tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải;
b) Trình bày trung thực những tình tiết mình biết liên quan đến nguồn
tin về tội phạm, về vụ án và lý do biết được những tình tiết đó.
48
5. Người làm chứng khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo, trốn tránh
việc khai báo không do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách
quan thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
6. quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc hoặc học tập trách
nhiệm tạo điều kiện để họ tham gia tố tụng.
Điều 72. Người chứng kiến
1. Người chứng kiến người được quan thẩm quyền tiến hành tố
tụng yêu cầu chứng kiến việc tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ
luật này.
2. Những người sau đây không được làm người chứng kiến:
a) Người thân thích của người bị buộc tội, người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng;
b) Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng
nhận thức đúng sự việc;
c) Người chưa thành niên;
d) Có lý do khác cho thấy người đó không khách quan.
3. Người chứng kiến có quyền:
a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b) Yêu cầu người thẩm quyền tiến hành tố tụng tuân thủ quy định của
pháp luật, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi
ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;
c) Xem biên bản tố tụng, đưa ra nhận xét về hoạt động tố tụng mình
chứng kiến;
d) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của quan, người thẩm
quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia chứng kiến;
đ) Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí theo quy định của pháp luật.
4. Người chứng kiến có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b) Chứng kiến đầy đủ hoạt động tố tụng được yêu cầu;
49
c) Ký biên bản về hoạt động mà mình chứng kiến;
d) Giữ bí mật về hoạt động điều tra mà mình chứng kiến;
đ) Trình bày trung thực những tình tiết mình chứng kiến theo yêu cầu
của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Điều 73. Người giám định
1. Người giám định người kiến thức chuyên môn về lĩnh vực cần
giám định, được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu, người tham
gia tố tụng yêu cầu giám định theo quy định của pháp luật.
2. Người giám định có quyền:
a) Tìm hiểu tài liệu của vụ án có liên quan đến đối tượng phải giám định;
b) Yêu cầu quan trưng cầu, người tham gia tố tụng yêu cầu giám định
cung cấp tài liệu cần thiết cho việc kết luận;
c) Tham dự vào việc hỏi cung, lấy lời khai và đặt câu hỏi về những vấn đề
có liên quan đến đối tượng giám định;
d) Từ chối thực hiện giám định trong trường hợp thời gian không đủ để
tiến hành giám định, các tài liệu cung cấp không đủ hoặc không có giá trị để kết
luận, nội dung yêu cầu giám định vượt quá phạm vi hiểu biết chuyên môn của
mình;
đ) Ghi riêng ý kiến của mình vào bản kết luận chung nếu không thống
nhất với kết luận chung trong trường hợp giám định do tập thể giám định tiến
hành;
e) Các quyền khác theo quy định của Luật Giám định tư pháp.
3. Người giám định có nghĩa vụ:
a) mặt theo giấy triệu tập của quan thẩm quyền tiến hành tố
tụng;
b) Giữ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện giám định;
c) Các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật Giám định tư pháp.
50
4. Người giám định kết luận gian dối hoặc từ chối kết luận giám định mà
không do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì phải chịu
trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
5. Người giám định phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi
thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị
hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;
b) Đã tham gia với cách người bào chữa, người làm chứng, người
phiên dịch, người dịch thuật, người định giá tài sản trong vụ án đó;
c) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó.
6. Việc thay đổi người giám định do quan trưng cầu giám định quyết
định.
Điều 74. Người định giá tài sản
1. Người định giá tài sản người kiến thức chuyên môn về lĩnh vực
giá, được quan thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng yêu
cầu định giá tài sản theo quy định của pháp luật.
2. Người định giá tài sản có quyền:
a) Tìm hiểu tài liệu của vụ án liên quan đến đối tượng phải định giá;
b) Yêu cầu quan yêu cầu định giá, người tham gia tố tụng yêu cầu định
giá cung cấp tài liệu cần thiết cho việc định giá;
c) Từ chối thực hiện định giá trong trường hợp thời gian không đủ để tiến
hành định giá, các tài liệu cung cấp không đủ hoặc không có giá trị để định giá,
nội dung yêu cầu định giá vượt quá phạm vi hiểu biết chuyên môn của mình;
d) Ghi ý kiến kết luận của mình vào bản kết luận chung nếu không thống
nhất với kết luận của Hội đồng định giá tài sản;
đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
3. Người định giá tài sản có nghĩa vụ:
a) mặt theo giấy triệu tập của quan thẩm quyền tiến hành tố
tụng;
51
b) Giữ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện định giá tài sản;
c) Các nghĩa vụ khác theo quy định của luật.
4. Người định giá tài sản kết luận gian dối hoặc từ chối tham gia định giá
không do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì phải
chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
5. Người định giá tài sản phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi
thuộc một trong các trường hợp:
a) Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị
hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;
b) Đã tham gia với cách người bào chữa, người làm chứng, người
giám định, người phiên dịch, người dịch thuật trong vụ án đó;
c) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó.
6. Việc thay đổi người định giá tài sản do cơ quan yêu cầu định giá tài sản
quyết định.
Điều 75. Người phiên dịch, người dịch thuật
1. Người phiên dịch, người dịch thuật người khả năng phiên dịch,
dịch thuật được quan thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu trong
trường hợp người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt hoặc có tài
liệu tố tụng không thể hiện bằng tiếng Việt.
2. Người phiên dịch, người dịch thuật có quyền:
a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b) Đề nghị quan yêu cầu bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm, tài sản các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích
của mình khi bị đe dọa;
c) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của quan, người thẩm
quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc phiên dịch, dịch thuật;
d) Được quan yêu cầu chi trả thù lao phiên dịch, dịch thuật và các chế
độ khác theo quy định của pháp luật.
3. Người phiên dịch, người dịch thuật có nghĩa vụ:
52
a) mặt theo giấy triệu tập của quan thẩm quyền tiến hành tố
tụng;
b) Phiên dịch, dịch thuật trung thực. Nếu phiên dịch, dịch thuật gian dối
thì người phiên dịch, người dịch thuật phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy
định của Bộ luật Hình sự;
c) Giữ bí mật điều tra mà mình biết được khi phiên dịch, dịch thuật;
d) Phải cam đoan trước cơ quan đã yêu cầu về việc thực hiện nghĩa vụ của
mình.
4. Người phiên dịch, người dịch thuật phải từ chối tham gia tố tụng hoặc
bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị
hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;
b) Đã tham gia với cách người bào chữa, người làm chứng, người
giám định, người định giá tài sản trong vụ án đó;
c) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó.
5. Việc thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật do quan yêu cầu
phiên dịch, dịch thuật quyết định.
6. Những quy định tại Điều này cũng áp dụng đối với người biết được cử
chỉ, hành vi của người câm, người điếc, chữ của người mù.
Điều 76. Trách nhiệm thông báo, giải thích bảo đảm thực hiện
quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng
1. quan, người thẩm quyền tiến hành tố tụng trách nhiệm thông
báo, giải thích bảo đảm thực hiện quyền nghĩa vụ của người tham gia tố
tụng theo quy định của Bộ luật này.
Trường hợp người bị buộc tội, người bị hại thuộc diện được trợ giúp pháp
theo quy định của Luật Trợ giúp pháp thì quan, người thẩm quyền
tiến hành tố tụng trách nhiệm giải thích cho họ quyền được trợ giúp pháp lý;
nếu họ đề nghị được trợ giúp pháp thì quan, người thẩm quyền tiến
hành tố tụng thông báo cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
2. Việc thông báo, giải thích phải ghi vào biên bản.
53
Chương V
BÀO CHỮA, BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BỊ HẠI,
ĐƯƠNG SỰ
Điều 77. Người bào chữa
1. Người bào chữa người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ
quan thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định được cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa.
2. Người bào chữa có thể là:
a) Luật sư;
b) Người đại diện của người bị buộc tội;
c) Bào chữa viên nhân dân;
d) Trợ giúp viên pháp trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối
tượng được trợ giúp pháp lý.
3. Bào chữa viên nhân dân công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, trung
thành với Tổ quốc, phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, đủ sức khỏe
bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị
buộc tội là thành viên của tổ chức mình.
4. Những người sau đây không được bào chữa:
a) Người đã tiến hành tố tụng vụ án đó; người thân thích của người đã
hoặc đang tiến hành tố tụng vụ án đó;
b) Người tham gia vụ án đó với cách người làm chứng, người giám
định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
c) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị kết án chưa
được xoá án tích, người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.
5. Một người bào chữa thể bào chữa cho nhiều người bị buộc tội trong
cùng vụ án nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau.
Nhiều người bào chữa có thể bào chữa cho một người bị buộc tội.
54
Điều 78. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa
1. Người bào chữa có quyền:
a) Gặp, hỏi người bị buộc tội;
b) Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can
nếu người thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi
người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của
người thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người
bị tạm giữ, bị can;
c) mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói
hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;
d) Được quan thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian,
địa điểm lấy lời khai, hỏi cung thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều
tra khác theo quy định của Bộ luật này;
đ) Xem biên bản về hoạt động tố tụng sự tham gia của mình, quyết
định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;
e) Đề nghị thay đổi người thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám
định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay
đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;
g) Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề
nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người thẩm
quyền tiến hành tố tụng;
h) Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
i) Kiểm tra, đánh giá trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên
quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
k) Đề nghị quan thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ,
giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản;
l) Đọc, ghi chép sao chụp những tài liệu trong hồ vụ án liên quan
đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra.
m) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa;
55
n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của quan, người thẩm
quyền tiến hành tố tụng;
o) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo người chưa
thành niên, người nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của
Bộ luật này.
2. Người bào chữa có nghĩa vụ:
a) Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những
tình tiết xác định người bị buộc tội tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự của bị can, bị cáo;
b) Giúp người bị buộc tội về mặt pháp nhằm bảo vệ quyền lợi ích
hợp pháp của họ;
c) Không được từ chối bào chữa cho người bị buộc tội mình đã đảm
nhận bào chữa nếu không do bất khả kháng hoặc không phải do trở ngại
khách quan;
d) Tôn trọng sự thật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục
người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;
đ) mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; trường hợp chỉ định người bào
chữa theo quy định tại khoản 1 Điều 81 của Bộ luật này thì phải có mặt theo yêu
cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát;
e) Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết khi thực hiện bào chữa;
không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ vụ án vào mục
đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
g) Không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mình
biết khi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản và không được
sử dụng thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công
cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
3. Người bào chữa vi phạm pháp luật thì tùy tính chất, mức độ vi phạm
bị hủy bỏ việc đăng bào chữa, bị xử kỷ luật, xử phạt vi phạm hành
56
chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại phải bồi thường
theo quy định của luật.
Điều 79. Thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng
Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can.
Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi
người bị bắt mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ.
Trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc
gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát thẩm quyền quyết định để người bào chữa
tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.
Điều 80. Lựa chọn người bào chữa
1. Người bào chữa do người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân
thích của họ lựa chọn.
2. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa
của người bị bắt, bị tạm giữ thì quan thẩm quyền đang quản người bị
bắt, người bị tạm giữ có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người
đại diện hoặc người thân thích của họ. Trường hợp người bị bắt, người bị tạm
giữ không nêu đích danh người bào chữa thì quan thẩm quyền đang quản
người bị bắt, bị tạm giữ phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người
thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa
của người bị tạm giam thì quan thẩm quyền đang quản người bị tạm
giam trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc
người thân thích của họ. Trường hợp người bị tạm giam không nêu đích danh
người bào chữa thì quan có thẩm quyền đang quản lý người bị tạm giam phải
chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những
người này nhờ người bào chữa.
3. Trường hợp người đại diện hoặc người thân thích của người bị bắt,
người bị tạm giữ, người bị tạm giam đơn yêu cầu nhờ người bào chữa thì cơ
quan thẩm quyền trách nhiệm thông báo ngay cho người bị bắt, người bị
tạm giữ, người bị tạm giam để có ý kiến về việc nhờ người bào chữa.
57
4. Người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ đề nghị
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tổ chức thành viên của Mặt trận cử
bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người bị buộc tội thành viên của tổ
chức mình.
Điều 81. Chỉ định người bào chữa
1. Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện
hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì quan thẩm
quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ:
a) Bị can, bị cáo về tội Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của
khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình;
b) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa;
người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người chưa thành niên;
c) Bị can, bị cáo thuộc trường hợp áp dụng thủ tục điều tra, truy tố, xét
xử vắng mặt;
d) Bị can, bị cáo được áp dụng thủ tục rút gọn trong trường hợp tự
nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt để hưởng khoan hồng.
2. quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị các
tổ chức sau đây cử người bào chữa cho các trường hợp quy định tại khoản 1
Điều này:
a) Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người bào chữa;
b) Trung tâm trợ giúp pháp nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư
bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý;
c) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tổ chức thành viên của Mặt
trận cử bào chữa viên nhân dân bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của
tổ chức mình.
Điều 82. Thay đổi hoặc từ chối người bào chữa
1. Những người sau đây có quyền từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào
chữa:
a) Người bị buộc tội;
58
b) Người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội.
Mọi trường hợp thay đổi hoặc từ chối người bào chữa đều phải có sự đồng
ý của người bị buộc tội được lập biên bản đưa vào hồ vụ án, trừ trường
hợp quy định tại điểm b điểm c khoản 1 Điều 81 của Bộ luật này.
2. Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong
giai đoạn điều tra từ chối người bào chữa do người thân thích của họ nhờ thì
Điều tra viên phải cùng người bào chữa đó trực tiếp gặp người bị bắt, người bị
tạm giữ, người bị tạm giam để xác nhận việc từ chối.
3. Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại khoản 1 Điều 81 của
Bộ luật này, người bị buộc tội người đại diện hoặc người thân thích của họ
vẫn quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa, trừ trường hợp quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 81 của Bộ luật này. Đối với trường hợp quy định
tại điểm d khoản 1 Điều 81 của Bộ luật này thì quyền yêu cầu thay đổi
nhưng không có quyền từ chối người bào chữa.
Trường hợp thay đổi người bào chữa thì việc chỉ định người bào chữa
khác được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này.
Trường hợp từ chối người bào chữa thì quan thẩm quyền tiến hành
tố tụng lập biên bản về việc từ chối người bào chữa của người bị buộc tội hoặc
người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản
1 Điều 81 của Bộ luật này và chấm dứt việc chỉ định người bào chữa.
Điều 83. Thủ tục đăng ký bào chữa
1. Trong mọi trường hợp tham gia tố tụng, người bào chữa phải đăng
bào chữa.
2. Khi đăng ký bào chữa, người bào chữa phải các giấy tờ sau:
a) Luật Thẻ luật kèm theo bản sao giấy yêu cầu luật của
người bị buộc tội hoặc của người đại diện, người thân thích của người bị buộc
tội;
b) Người đại diện của người bị buộc tội Căn cước kèm theo bản sao và
giấy tờ xác nhận của quan thẩm quyền về mối quan hệ của họ với
người bị buộc tội;
59
c) Bào chữa viên nhân dân Căn cước kèm theo bản sao văn bản cử
bào chữa viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tổ chức
thành viên của Mặt trận;
d) Trợ giúp viên pháp lý, luật thực hiện trợ giúp pháp lý văn bản cử
người thực hiện trợ giúp pháp của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp Thẻ
trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực.
3. Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại Điều 81 của Bộ luật
này thì người bào chữa phải có các giấy tờ:
a) Luật Thẻ luật kèm theo bản sao văn bản cử luật của tổ
chức hành nghề luật nơi luật đó hành nghề hoặc văn bản phân công của
Đoàn luật sư đối với luật sư hành nghề là cá nhân;
b) Bào chữa viên nhân dân Căn cước kèm theo bản sao văn bản cử
bào chữa viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tổ chức
thành viên của Mặt trận;
c) Trợ giúp viên pháp lý, luật thực hiện trợ giúp pháp Thẻ trợ
giúp viên pháp hoặc Thẻ luật kèm theo bản sao văn bản cử người thực
hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
4. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ quy định tại khoản 2
hoặc khoản 3 Điều này, quan thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kiểm tra
giấy tờ thấy không thuộc trường hợp từ chối việc đăng ký bào chữa quy định
tại khoản 5 Điều này thì vào sổ đăng bào chữa, gửi ngay văn bản thông báo
người bào chữa cho người đăng bào chữa, sở giam giữ và lưu giấy tờ liên
quan đến việc đăng bào chữa vào hồ vụ án; nếu xét thấy không đủ điều
kiện thì từ chối việc đăng ký bào chữa và phải nêu rõ lý do bằng văn bản.
5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng từ chối việc đăng ký bào chữa
khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 77 của Bộ luật này;
b) Người bị buộc tội thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa từ chối
người bào chữa.
60
6. Văn bản thông báo người bào chữa giá trị sử dụng trong suốt quá
trình tham gia tố tụng, trừ các trường hợp:
a) Người bị buộc tội từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa;
b) Người đại diện hoặc người thân thích của người bị buộc tội quy định tại
điểm b khoản 1 Điều 81 của Bộ luật này từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào
chữa.
7. quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hủy bỏ việc đăng ký bào chữa
thông báo cho người bào chữa, sở giam giữ khi thuộc một trong các
trường hợp:
a) Khi phát hiện người bào chữa thuộc trường hợp quy định tại khoản 4
Điều 77 của Bộ luật này;
b) Vi phạm pháp luật khi tiến hành bào chữa.
Điều 84. Trách nhiệm thông báo cho người bào chữa
1. quan thẩm quyền tiến hành tố tụng phải báo trước một thời gian
hợp lý cho người bào chữa về thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động tố tụng mà
họ có quyền tham gia theo quy định của Bộ luật này.
2. Trường hợp người bào chữa đã được quan thẩm quyền tiến hành
tố tụng báo trước mà không có mặt thì hoạt động tố tụng vẫn được tiến hành, trừ
trường hợp quy định tại Điều 291 của Bộ luật này.
Điều 85. Gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị
tạm giam
1. Để gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam,
người bào chữa phải xuất trình văn bản thông báo người bào chữa, Thẻ luật
hoặc Thẻ trợ giúp viên pháp hoặc Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước
công dân.
2. quan quản người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị
tạm giam phải phổ biến nội quy, quy chế của sở giam giữ yêu cầu người
bào chữa chấp hành nghiêm chỉnh. Trường hợp phát hiện người bào chữa vi
phạm quy định về việc gặp thì phải dừng ngay việc gặp và lập biên bản, báo cáo
người có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
61
Điều 86. Thu thập, giao chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc
bào chữa
1. Người bào chữa thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan
đến việc bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 93 của Bộ luật này.
2. Tùy từng giai đoạn tố tụng, khi thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ vật
liên quan đến việc bào chữa, người bào chữa phải kịp thời giao cho quan
thẩm quyền tiến hành tố tụng để đưa vào hồ sơ vụ án. Việc giao, nhận chứng cứ,
tài liệu, đồ vật phải được lập biên bản theo quy định tại Điều 138 của Bộ luật
này.
3. Trường hợp không thể thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan
đến việc bào chữa thì người bào chữa có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng thu thập.
Điều 87. Đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án
1. Sau khi kết thúc điều tra, nếu có yêu cầu đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu
trong hồ vụ án liên quan đến việc bào chữa thì quan thẩm quyền tiến
hành tố tụng trách nhiệm bố trí thời gian, địa điểm để người bào chữa đọc,
ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án.
2. Sau khi đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu, người bào chữa phải bàn giao
nguyên trạng hồ vụ án cho quan đã cung cấp hồ sơ. Nếu để mất, thất lạc,
hỏng tài liệu, hồ vụ án thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo
quy định của pháp luật.
Điều 88. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác,
người bị kiến nghị khởi tố
1. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị
kiến nghị khởi tố người được người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố nhờ
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
2. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị
kiến nghị khởi tố có thể là:
a) Luật sư;
b) Bào chữa viên nhân dân;
62
c) Người đại diện;
d) Trợ giúp viên pháp lý.
3. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị
kiến nghị khởi tố có quyền:
a) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
b) Kiểm tra, đánh giá trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên
quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
c) mặt khi lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố
nếu được Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên đồng ý thì được hỏi người bị tố giác,
người bị kiến nghị khởi tố. Sau mỗi lần lấy lời khai của người có thẩm quyền kết
thúc thì người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị
kiến nghị khởi tố có quyền hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;
d) mặt khi đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói người bị tố giác,
người bị kiến nghị khởi tố;
d) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của quan, người thẩm
quyền tiến hành tố tụng.
4. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị
kiến nghị khởi tố có nghĩa vụ:
a) Sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần làm sự
thật khách quan của vụ án;
b) Giúp người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố về pháp lý nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
5. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người
bị kiến nghị khởi tố tham gia tố tụng từ khi người bị tố giác, người bị kiến
nghị khởi tố nhận được giấy triệu tập, thông báo làm việc của người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng.
Điều 89. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự
1. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người
được bị hại, đương sự nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
63
2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có thể là:
a) Luật sư;
b) Người đại diện;
c) Bào chữa viên nhân dân;
d) Trợ giúp viên pháp lý.
3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có quyền:
a) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
b) Kiểm tra, đánh giá trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên
quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
c) Yêu cầu giám định, định giá tài sản;
d) mặt khi quan thẩm quyền tiến hành tố tụng lấy lời khai, đối
chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói của người mình bảo vệ; đọc, ghi chép,
sao chụp những tài liệu trong hồ vụ án liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi
của bị hại và đương sự sau khi kết thúc điều tra;
đ) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa; xem biên bản phiên tòa;
e) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của quan, người thẩm
quyền tiến hành tố tụng;
g) Đề nghị thay đổi người thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám
định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
h) Kháng cáo phần bản án, quyết định của Tòa án có liên quan đến quyền
lợi, nghĩa vụ của người mình bảo vệ người chưa thành niên, người
nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.
4. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có nghĩa
vụ:
a) Sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần làm sự
thật khách quan của vụ án;
b) Giúp bị hại, đương sự về pháp nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp của họ.
64
5. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự tham
gia tố tụng từ khi bị hại, đương sự được Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng xác định tư cách người tham gia tố tụng.
Điều 90. Thủ tục đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị
tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự
1. Khi đăng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại,
đương sự phải có các giấy tờ:
a) Luật Thẻ luật kèm theo bản sao và giấy nhờ Luật sư bảo vệ
quyền lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị
hại, đương sự;
b) Bào chữa viên nhân dân thẻ Căn cước kèm theo bản sao văn
bản cử bào chữa viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
các tổ chức thành viên của Mặt trận;
c) Người đại diện của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị
hại, đương sự thẻ Căn cước kèm theo bản sao giấy tờ xác nhận của
quan thẩm quyền về mối quan hệ của họ với người bị tố giác, người bị
kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự.
2. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ quy định tại khoản 1
Điều này, quan thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kiểm tra giấy tờ;
trường hợp bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều này thì vào sổ đăng
bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp, gửi ngay văn bản thông báo người bảo vệ
quyền lợi ích hợp pháp cho người đăng bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp lưu giấy tờ liên quan đến việc đăng bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp vào hồ vụ án, vụ việc; nếu căn cứ từ chối việc đăng bảo vệ
quyền lợi ích hợp pháp thì thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do từ chối
cho người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị
kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự.
3. Văn bản thông báo người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của
người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có giá trị trong suốt quá trình giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, trừ trường hợp người bị
65
tố giác, người bị kiến nghị khởi tố đề nghị thay đổi người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình.
Văn bản thông báo người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại,
đương sự giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng, trừ trường
hợp bị hại, đương sự đề nghị thay đổi người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
Việc đăng bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp trong trường hợp thay
đổi người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố
giác, người bị kiến nghị khởi tố được thực hiện theo quy định tại khoản 1
khoản 2 Điều này.
4. quan thẩm quyền tiến hành tố tụng hủy bỏ việc đăng ký bảo vệ
quyền lợi ích hợp pháp khi người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của
người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự vi phạm pháp
luật.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi hủy bỏ việc đăng ký bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp, quan thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông
báo bằng văn bản nêu lý do hủy bỏ cho người bảo vệ và người được bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp.
Chương VI
CHỨNG MINH VÀ CHỨNG CỨ
Điều 91. Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự
Khi điều tra, truy tố xét xử vụ án hình sự, quan thẩm quyền tiến
hành tố tụng phải chứng minh:
1. hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm những
tình tiết khác của hành vi phạm tội;
2. Ai người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý
hay ý; năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm
tội;
3. Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị
cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;
4. Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;
66
5. Nguyên nhân và điều kiện phạm tội;
6. Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự,
miễn trách nhiệm hình sự, tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, giảm hình
phạt, miễn hình phạt.
Điều 92. Chứng cứ
Chứng cứ những thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ
luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định hay không hành vi
phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội những tình tiết khác ý nghĩa
trong việc giải quyết vụ án.
Điều 93. Nguồn chứng cứ
1. Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn:
a) Vật chứng;
b) Lời khai, lời trình bày;
c) Dữ liệu điện tử;
d) Kết luận giám định, định giá tài sản;
đ) Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;
e) Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác;
g) Các tài liệu, đồ vật khác.
2. Những thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do
Bộ luật này quy định thì không giá trị pháp không được dùng làm căn
cứ để giải quyết vụ án hình sự.
Điều 94. Thu thập chứng cứ
1. Để thu thập chứng cứ, quan thẩm quyền tiến hành tố tụng
quyền tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; yêu
cầu quan, tổ chức, nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện
tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án.
2. Để thu thập chứng cứ, người bào chữa quyền gặp người mình
bào chữa, bị hại, người làm chứng những người khác biết về vụ án để hỏi,
nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị quan, tổ
67
chức, nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào
chữa.
3. Những người tham gia tố tụng khác, quan, tổ chức hoặc bất cứ
nhân nào đều có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày
những vấn đề có liên quan đến vụ án.
4. Khi tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến vụ
án do những người quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này cung cấp, cơ quan
thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản giao nhận kiểm tra, đánh
giá theo quy định của Bộ luật này.
5. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản về hoạt động kiểm tra,
xác minh, điều tra, thu thập, nhận được tài liệu liên quan đến vụ việc, vụ án mà
Kiểm sát viên không trực tiếp kiểm sát theo quy định của Bộ luật này thì
quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
trách nhiệm chuyển biên bản, tài liệu này cho Viện kiểm sát để kiểm sát việc
lập hồ vụ việc, vụ án. Trường hợp do trở ngại khách quan thì thời hạn này có
thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày. Trong thời hạn 03 ngày, Viện kiểm sát
đóng dấu bút lục sao lưu biên bản, tài liệu lưu hồ kiểm sát bàn giao
nguyên trạng tài liệu, biên bản đó cho quan điều tra, quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Việc giao, nhận tài liệu, biên bản
được lập biên bản theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật này.
Điều 95. Vật chứng
Vật chứng vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang
dấu vết tội phạm, vật đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác giá trị
chứng minh tội phạm người phạm tội hoặc ý nghĩa trong việc giải quyết
vụ án.
Điều 96. Bảo quản vật chứng
1. Vật chứng phải được bảo quản nguyên vẹn, không để mất mát, lẫn lộn,
hư hỏng. Việc bảo quản vật chứng được thực hiện như sau:
a) Vật chứng cần được niêm phong thì phải niêm phong ngay sau khi thu
thập. Việc niêm phong, mở niêm phong được lập biên bản đưa vào hồ vụ
68
án. Việc niêm phong, mở niêm phong vật chứng được thực hiện theo quy định
của Chính phủ;
b) Vật chứng tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, chất nổ, chất
cháy, chất độc, chất phóng xạ, khí quân dụng phải được giám định ngay sau
khi thu thập và phải chuyển ngay để bảo quản tại Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín
dụng hoặc cơ quan chuyên trách khác để chờ xử lý. Nếu vật chứng là tiền, vàng,
bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ lưu dấu vết của tội phạm thì tiến hành niêm
phong theo quy định tại điểm a khoản này; vật chứng vi khuẩn nguy hại, bộ
phận thể người, mẫu mô, mẫu máu các mẫu vật khác của thể người
được bảo quản tại cơ quan chuyên trách theo quy định của pháp luật;
c) Vật chứng không thể đưa về quan thẩm quyền tiến hành tố tụng
để bảo quản thì quan thẩm quyền tiến hành tố tụng giao vật chứng đó cho
chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp đồ vật, tài sản hoặc người thân thích của họ
hoặc Ủy ban nhân dân, cơ quan, tổ chức nơi có vật chứng bảo quản;
d) Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì cơ quan có thẩm
quyền trong phạm vi quyền hạn của mình quyết định bán theo quy định của pháp
luật chuyển tiền đến tài khoản tạm giữ của quan thẩm quyền tại Kho
bạc Nhà nước để quản lý;
đ) Vật chứng đưa về quan thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo quản
thì quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân,
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trách nhiệm
bảo quản vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử.
Sau khi bản án, quyết định hiệu lực pháp luật, vật chứng tiếp tục được
bảo quản, lưu giữ tại nơi đang bảo quản; quan thi hành án dân sự thực hiện
các thủ tục kiểm kê, tiếp nhận, niêm phong vật chứng trong giai đoạn thi hành
án xử theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Trường hợp vật
chứng đang được bảo quản tại kho thuê thì quan thi hành án dân sự có trách
nhiệm thanh toán chi phí thuê kho kể từ thời điểm tiếp nhận đến khi tiêu hủy, trả
lại tài sản hoặc giao cho quan tài chính cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã để
sung quỹ nhà nước hoặc xử lý xong theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
3. Người có trách nhiệm bảo quản vật chứng mà để mất mát, hư hỏng, phá
hủy niêm phong, tiêu dùng, sử dụng trái phép, chuyển nhượng, đánh tráo, cất
69
giấu, hủy hoại vật chứng của vụ án thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý
kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.
Trường hợp thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy, làm hư hỏng vật chứng của
vụ án nhằm làm sai lệch hồ vụ án thì phải chịu trách nhiệm hình sự; nếu gây
thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của luật.
Điều 97. Lời khai của người làm chứng
1. Người làm chứng trình bày những mà họ biết nguồn tin về tội phạm,
về vụ án, nhân thân của người bị buộc tội, bị hại, quan hệ giữa họ với người bị
buộc tội, bị hại, người làm chứng khác và trả lời những câu hỏi đặt ra.
2. Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng
trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.
Điều 98. Lời khai của bị hại
1. Bị hại trình bày những tình tiết về nguồn tin về tội phạm, vụ án, quan
hệ giữa họ với người bị buộc tội và trả lời những câu hỏi đặt ra.
2. Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do bị hại trình bày nếu
họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.
Điều 99. Lời khai của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự
1. Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự trình bày những tình tiết liên quan
đến việc bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra.
2. Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do nguyên đơn dân sự,
bị đơn dân sự trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.
Điều 100. Lời khai của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ
án
1. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trình bày những tình
tiết trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ.
2. Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được
tình tiết đó.
70
Điều 101. Lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp,
người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người phạm tội tự thú, đầu thú,
người bị bắt, bị tạm giữ
Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị tố giác, người bị kiến
nghị khởi tố, người phạm tội tự thú, đầu thú, người bị bắt, bị tạm giữ trình bày
những tình tiết liên quan đến việc họ bị nghi thực hiện tội phạm.
Điều 102. Lời khai của người tố giác, báo tin về tội phạm
Người tố giác, báo tin về tội phạm trình bày những tình tiết liên quan đến
việc họ tố giác, báo tin về tội phạm.
Điều 103. Lời khai của người chứng kiến
Người chứng kiến trình bày những tình tiết họ đã chứng kiến trong
hoạt động tố tụng.
Điều 104. Lời khai của bị can, bị cáo
1. Bị can, bị cáo trình bày những tình tiết của vụ án.
2. Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù
hợp với những chứng cứ khác của vụ án.
Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất
để buộc tội, kết tội.
Điều 105. Dữ liệu điện tử
1. Dữ liệu điện tử hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc
dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện
điện tử.
2. Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính,
mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác.
3. Giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức
khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm duy trì
tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu
tố phù hợp khác.
Điều 106. Kết luận giám định
71
1. Kết luận giám định văn bản do nhân hoặc quan, tổ chức giám
định lập để kết luận chuyên môn về những vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám
định.
2. quan, tổ chức, nhân kết luận về vấn đề được trưng cầu, yêu cầu
giám định và phải chịu trách nhiệm về kết luận đó.
Nếu việc giám định do tập thể giám định tiến hành thì tất cả thành viên
đều vào bản kết luận. Trường hợp ý kiến khác nhau thì mỗi người ghi ý
kiến kết luận của mình vào bản kết luận.
3. Trường hợp quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không đồng ý với
kết luận giám định thì phải nêu do, nếu kết luận chưa rõ hoặc chưa đầy đủ
thì quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại theo thủ tục chung quy định
tại Bộ luật này.
4. Kết luận giám định của người được trưng cầu giám định thuộc trường
hợp phải từ chối hoặc thay đổi thì không giá trị pháp lý và không được dùng
làm căn cứ để giải quyết vụ án.
Điều 107. Kết luận định giá tài sản
1. Kết luận định giá tài sản văn bản do Hội đồng định giá tài sản lập để
kết luận về giá của tài sản được yêu cầu.
Hội đồng định giá tài sản kết luận giá của tài sản và phải chịu trách nhiệm
về kết luận đó.
2. Kết luận định giá tài sản phải chữ ký của tất cả thành viên Hội đồng
định giá tài sản. Trường hợp không đồng ý với giá của tài sản do Hội đồng quyết
định thì thành viên của Hội đồng ghi ý kiến kết luận của mình vào bản kết luận.
3. Trường hợp quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không đồng ý với
kết luận định giá tài sản thì phải nêu rõ lý do; nếu kết luận chưa rõ thì quyết định
định giá lại theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
4. Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản vi phạm quy định của
Bộ luật này, quy định khác của pháp luật về định giá thì không có giá trị pháp lý
và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án.
72
Điều 108. Biên bản về hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội
phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
Những tình tiết được ghi trong biên bản về hoạt động kiểm tra, xác minh
nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử được lập theo quy định
của Bộ luật này có thể được coi là chứng cứ.
Điều 109. Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác
Kết quả thực hiện ủy thác pháp hợp tác quốc tế khác do cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài cung cấp thể được coi chứng cứ nếu phù hợp
với chứng cứ khác của vụ án.
Điều 110. Các tài liệu, đồ vật khác trong vụ án
Những tình tiết liên quan đến vụ án ghi trong tài liệu, đồ vật do quan,
tổ chức, nhân cung cấp thể được coi chứng cứ. Trường hợp tài liệu, đồ
vật này đặc điểm quy định tại Điều 95 của Bộ luật này thì được coi vật
chứng.
Điều 111. Thu thập vật chứng
Vật chứng phải được thu thập kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng thực trạng vào
biên bản đưa vào hồ vụ án. Trường hợp vật chứng không thể đưa vào hồ
vụ án thì phải chụp ảnh, thể ghi hình để đưa vào hồ vụ án. Vật chứng
phải được niêm phong, bảo quản theo quy định của pháp luật.
Điều 112. Xử lý vật chứng, tài sản
1. Việc xử vật chứng do quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ giai
đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn
truy tố; do Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình chỉ giai đoạn
chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử. Việc
thi hành quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.
2. Vật chứng được xử lý như sau:
a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành
thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy;
73
b) Vật chứng tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội thì bị tịch thu,
nộp ngân sách nhà nước;
c) Vật chứng không giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và
tiêu hủy.
3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan, người có thẩm quyền
quy định tại khoản 1 Điều này có quyền:
a) Trả lại ngay tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là vật chứng
cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó;
b) Trả lại ngay vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản hợp pháp
nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án;
c) Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản, giảm giá trị
nhanh, chi phí bảo quản lớn thể được bán theo quy định của pháp luật;
trường hợp không còn giá trị sử dụng thì tiêu hủy; trường hợp không bán được
thì giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật;
d) Vật chứng động vật hoang thực vật ngoại lai thì ngay sau khi
kết luận giám định, định giá phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có
thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
4. quan thẩm quyền tiến hành tố tụng thể xử sớm vật
chứng, tài sản trong một số trường hợp để tránh thất thoát, lãng phí, thu hồi
nhanh tài sản, khắc phục kịp thời hậu quả thiệt hại nhưng không làm ảnh
hưởng đến việc chứng minh, giải quyết vụ việc, vụ án.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng, Bộ trưởng Bộ pháp quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành khoản
này.
5. Trường hợp tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải
quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Điều 113. Thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử
74
1. Phương tiện điện tử phải được thu giữ kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng thực
trạng niêm phong ngay sau khi thu giữ. Việc niêm phong, mở niêm phong
được tiến hành theo quy định của pháp luật.
Trường hợp không thể thu giữ phương tiện lưu trữ dữ liệu điện tử thì
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sao lưu dữ liệu điện tử đó vào phương tiện
điện tử bảo quản như đối với vật chứng, đồng thời yêu cầu cơ quan, tổ chức,
nhân liên quan lưu trữ, bảo toàn nguyên vẹn dữ liệu điện tử quan
thẩm quyền tiến hành tố tụng đã sao lưu quan, tổ chức, nhân này phải
chịu trách nhiệm trước pháp luật.
2. Khi thu thập, chặn thu, sao lưu dữ liệu điện tử từ phương tiện điện tử,
mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc trên đường truyền, quan thẩm
quyền tiến hành tố tụng tiến hành phải lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án.
Khi nhận được yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng thì tổ chức cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ Internet, mạng hội,
điện toán đám mây, dịch vụ lưu trữ dữ liệu, nền tảng số hoặc dịch vụ trực
tuyến khác tổ chức, nhân khác tại Việt Nam trách nhiệm thực hiện
trong thời hạn yêu cầu; trường hợp khẩn cấp phải thực hiện ngay theo quy
định của pháp luật.
3. Khi nhận được quyết định trưng cầu giám định của quan thẩm
quyền tiến hành tố tụng thì nhân, tổ chức trách nhiệm thực hiện phục hồi,
tìm kiếm, giám định dữ liệu điện tử.
4. Việc phục hồi, tìm kiếm, giám định dữ liệu điện tử chỉ được thực hiện
trên bản sao; kết quả phục hồi, tìm kiếm, giám định phải chuyển sang dạng
thể đọc, nghe hoặc nhìn được.
5. Phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử được bảo quản như vật chứng theo
quy định của Bộ luật này. Khi xuất trình chứng cứ dữ liệu điện tử phải kèm
theo phương tiện lưu trữ dữ liệu hoặc bản sao dữ liệu điện tử.
6. Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng, Bộ trưởng Bộ pháp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết Điều này.
Điều 114. Kiểm tra, đánh giá chứng cứ
75
1. Mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp,
xác thực liên quan đến vụ án. Việc xác định những chứng cứ thu thập được
phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình sự.
2. Người thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng
cứ đã thu thập được về vụ án.
Chương VII
BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN, BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ
Mục I. BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
Điều 115. Các biện pháp ngăn chặn
1. Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi căn cứ chứng tỏ người bị
buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm
tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
trong phạm vi thẩm quyền của mình thể áp dụng biện pháp giữ người trong
trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm,
giám sát điện tử, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh.
2. Các trường hợp bắt người gồm bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn
cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để
tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ.
Điều 116. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp
1. Khi thuộc một trong các trường hợp khẩn cấp sau đây thì được giữ
người:
a) đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm
quy định tại khoản 2 Điều 14 của Bộ luật Hình sự;
b) Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người mặt tại nơi
xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy xác nhận đúng là người đã thực hiện tội
phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;
c) dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc
trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn
ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
76
2. Những người sau đây quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp
khẩn cấp:
a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng quan điều tra các cấp; Điều tra viên
thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 42 của Bộ luật này;
b) Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng
Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng
Ban Chỉ huy Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục Trinh sát Bộ đội biên phòng,
Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn
trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy tội phạm Bộ đội biên phòng;
Đoàn trưởng Đoàn Trinh sát Bộ đội biên phòng; lệnh vùng lực lượng Cảnh
sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn
trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển,
Đoàn trưởng Đoàn Trinh sát lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục
Kiểm ngư vùng;
c) Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân
bay, bến cảng.
3. Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải ghi họ tên, địa chỉ
của người bị giữ, do, căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 Điều này và các
nội dung quy định tại khoản 2 Điều 139 của Bộ luật này. Việc thi hành lệnh giữ
người trong trường hợp khẩn cấp được thực hiện theo đúng quy định tại khoản
2 Điều 119 của Bộ luật này, trừ trường hợp người chỉ huy tàu bay, tàu biển giữ
người trong trường hợp khẩn cấp khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay,
bến cảng.
4. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp
hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì Cơ quan điều tra, cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay
những người quy định tại điểm a điểm b khoản 2 Điều này phải ra quyết
định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó. Lệnh
bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát có
thẩm quyền kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.
Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, những người quy định tại
điểm c khoản 2 Điều này phải giải ngay người bị giữ kèm theo tài liệu liên quan
77
đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đến quan điều tra nơi sân
bay hoặc bến cảng đầu tiên tàu trở về. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi tiếp nhận
người bị giữ, quan điều tra phải lấy lời khai ngay những người quy định
tại điểm a khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ
trong trường hợp khẩn cấp hoặc trả tự do ngay cho người đó. Lệnh bắt người bị
giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát thẩm quyền
kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.
Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải ghi họ tên, địa
chỉ của người bị giữ, do, căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 Điều này
các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 139 của Bộ luật này.
5. Hồ đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong
trường hợp khẩn cấp gồm:
a) Văn bản đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong
trường hợp khẩn cấp;
b) Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong
trường hợp khẩn cấp, quyết định tạm giữ;
c) Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp;
d) Biên bản ghi lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;
đ) Chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc giữ người trong trường
hợp khẩn cấp.
6. Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ giữ người quy định tại
khoản 1 Điều này. Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên phải trực tiếp gặp, hỏi
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp trước khi xem xét, quyết định phê chuẩn
hoặc quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn
cấp. Biên bản ghi lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp do Kiểm
sát viên lập phải đưa vào hồ sơ vụ việc, vụ án.
Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được hồ đề nghị xét phê chuẩn
lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Viện kiểm sát phải ra quyết
định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Trường hợp Viện kiểm sát
quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì
78
người đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan điều tra đã nhận
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải trả tự do ngay cho người bị giữ.
Điều 117. Bắt người phạm tội quả tang
1. Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội
phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và
giải ngay người bị bắt đến quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân
dân nơi gần nhất. Các quan này phải lập biên bản tiếp nhận giải ngay
người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
2. Khi bắt người phạm tội quả tang thì người nào cũng quyền tước
khí, hung khí của người bị bắt.
3. Trường hợp Công an cấp xã, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận
người phạm tội quả tang thì thu giữ, tạm giữ khí, hung khí bảo quản tài
liệu, đồ vật liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ
hiện trường theo quy định của pháp luật; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay
cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Điều 118. Bắt người đang bị truy nã
1. Đối với người đang bị truy thì bất kỳ người nào cũng quyền bắt
giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân
dân nơi gần nhất. Các quan này phải lập biên bản tiếp nhận giải ngay
người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
2. Khi bắt người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí,
hung khí của người bị bắt.
3. Trường hợp Công an cấp xã, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận
người đang bị truy thì thu giữ, tạm giữ khí, hung khí và bảo quản tài liệu,
đồ vật liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu; giải ngay
người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Điều 119. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam
1. Những người sau đây quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để
tạm giam:
79
a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng quan điều tra các cấp; Điều tra viên
thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 42 của Bộ luật này. Trường hợp
này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi
hành;
b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Viện trưởng,
Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;
c) Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân Chánh án, Phó Chánh án
Tòa án quân sự các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa
Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử.
2. Lệnh bắt, quyết định phê chuẩn lệnh, quyết định bắt phải ghi rõ họ tên,
địa chỉ của người bị bắt; do bắt các nội dung quy định tại khoản 2 Điều
139 của Bộ luật này.
Người thi hành lệnh, quyết định phải đọc lệnh, quyết định; giải thích lệnh,
quyết định, quyền nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt;
giao lệnh, quyết định cho người bị bắt.
Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó trú phải đại diện Ủy ban
nhân dân cấp người khác chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi
người đó làm việc, học tập phải đại diện quan, tổ chức nơi người đó làm
việc, học tập chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng
kiến của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiến hành bắt người.
3. Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp phạm tội quả tang
hoặc bắt người đang bị truy nã.
Điều 120. Những việc cần làm ngay sau khi giữ người trong trường
hợp khẩn cấp, bắt người hoặc nhận người bị giữ, bị bắt
1. Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người hoặc nhận
người bị giữ, bị bắt, quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 12 giờ phải ra
quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt.
2. Sau khi lấy lời khai người bị bắt theo quyết định truy thì quan
điều tra nhận người bị bắt phải thông báo ngay cho quan đã ra quyết định
80
truy đến nhận người bị bắt. Sau khi nhận người bị bắt, quan đã ra quyết
định truy nã phải ra ngay quyết định đình nã.
Trường hợp quan đã ra quyết định truy không thể đến nhận ngay
người bị bắt thì sau khi lấy lời khai, quan điều tra nhận người bị bắt phải ra
ngay quyết định tạm giữ và thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã
biết; nếu đã hết thời hạn tạm giữ mà cơ quan ra quyết định truy nã vẫn chưa đến
nhận thì quan điều tra nhận người bị bắt gia hạn tạm giữ gửi ngay quyết
định gia hạn tạm giữ kèm theo tài liệu liên quan cho Viện kiểm sát thẩm
quyền để xét phê chuẩn.
Trường hợp không thể đến nhận ngay người bị bắt thì cơ quan đã ra quyết
định truy thẩm quyền bắt để tạm giam phải ra ngay lệnh tạm giam và gửi
lệnh tạm giam đã được Viện kiểm sát thẩm quyền phê chuẩn cho quan
điều tra nhận người bị bắt. Sau khi nhận được lệnh tạm giam, quan điều tra
nhận người bị bắt phải giải ngay người đó đến Trại tạm giam nơi gần nhất.
3. Trường hợp người bị bắt nhiều quyết định truy thì quan điều
tra nhận người bị bắt chuyển giao người bị bắt cho cơ quan đã ra quyết định truy
nã nơi gần nhất.
Điều 121. Biên bản về việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, biên
bản bắt người
1. Người thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, thi hành lệnh
hoặc quyết định bắt trong mọi trường hợp đều phải lập biên bản.
Biên bản phải ghi giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm giữ, bắt, nơi lập biên
bản; những việc đã làm, tình hình diễn biến trong khi thi hành lệnh giữ, lệnh
hoặc quyết định bắt, tài liệu, đồ vật bị tạm giữ, tình trạng sức khỏe ý kiến,
khiếu nại của người bị giữ, người bị bắt các nội dung quy định tại Điều 140
của Bộ luật này.
Biên bản được đọc cho người bị giữ, người bị bắt người chứng kiến
nghe. Người bị giữ, người bị bắt, người thi hành lệnh giữ, lệnh hoặc quyết định
bắt người chứng kiến cùng tên vào biên bản, nếu ai ý kiến khác hoặc
không đồng ý với nội dung biên bản thì có quyền ghi vào biên bản và ký tên.
81
Việc tạm giữ tài liệu, đồ vật của người bị giữ, người bị bắt phải được tiến
hành theo quy định của Bộ luật này.
2. Khi giao, nhận người bị giữ, người bị bắt phải lập biên bản.
Ngoài nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, biên bản giao nhận còn
phải ghi việc bàn giao biên bản lấy lời khai, tài liệu, đồ vật đã thu thập được,
tình trạng sức khoẻ của người bị giữ, người bị bắt những tình tiết xảy ra khi
giao nhận.
Điều 122. Thông báo về việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp,
bắt người
Sau khi giữ người, bắt người, người ra lệnh giữ người, lệnh hoặc quyết
định bắt người phải thông báo ngay cho gia đình người bị giữ, bị bắt, Ủy ban
nhân dân cấp nơi người đó trú hoặc quan, tổ chức nơi người đó làm
việc, học tập biết.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận người bị giữ, bị bắt, Cơ quan điều tra
nhận người bị giữ, bị bắt phải thông báo cho gia đình người bị giữ, bị bắt, Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm
việc, học tập biết; trường hợp người bị giữ, người bị bắt là công dân nước ngoài
thì phải thông báo cho quan ngoại giao của Việt Nam để thông báo cho
quan đại diện ngoại giao của nước có công dân bị giữ, bị bắt.
Nếu việc thông báo cản trở truy bắt đối tượng khác hoặc cản trở điều tra
thì sau khi cản trở đó không còn, người ra lệnh giữ người, lệnh hoặc quyết định
bắt người, Cơ quan điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt phải thông báo ngay.
Điều 123. Tạm giữ
1. Tạm giữ thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn
cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú,
đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã.
2. Những người thẩm quyền ra lệnh giữ người quy định tại khoản 2
Điều 116 của Bộ luật này có quyền ra quyết định tạm giữ.
Quyết định tạm giữ phải ghi họ tên, địa chỉ của người bị tạm giữ, lý do
tạm giữ, giờ, ngày bắt đầu và giờ, ngày hết thời hạn tạm giữ và các nội dung quy
82
định tại khoản 2 Điều 139 của Bộ luật này. Quyết định tạm giữ phải giao cho
người bị tạm giữ.
3. Người thi hành quyết định tạm giữ phải thông báo, giải thích quyền và
nghĩa vụ của người bị tạm giữ quy định tại Điều 64 của Bộ luật này.
4. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ, người ra quyết
định tạm giữ phải gửi quyết định tạm giữ kèm theo các tài liệu làm căn cứ tạm
giữ cho Viện kiểm sát thẩm quyền. Nếu xét thấy việc tạm giữ không căn
cứ hoặc không cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm
giữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.
Điều 124. Thời hạn tạm giữ
1. Thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày kể từ khi quan điều tra,
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ,
người bị bắt hoặc áp giải người bị giữ, người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể
từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ người phạm tội tự thú, đầu thú.
2. Trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ thể gia hạn tạm
giữ nhưng không quá 03 ngày. Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ
có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày.
Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát thẩm
quyền phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận hồ đề nghị gia hạn
tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê
chuẩn.
3. Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì Cơ quan điều
tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải trả tự
do ngay cho người bị tạm giữ; trường hợp đã gia hạn tạm giữ thì Viện kiểm sát
phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.
4. Thời gian tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam. Một ngày tạm giữ
được tính bằng một ngày tạm giam.
Điều 125. Tạm giam
1. Tạm giam thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm
trọng, tội rất nghiêm trọng.
83
2. Tạm giam thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng khi
có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp:
a) Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;
b) Không nơi trú ràng hoặc không xác định được lịch của bị
can;
c) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;
d) Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;
đ) hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian
dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của
vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm
chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
3. Tạm giam thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng
nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.
4. Đối với bị can, bị cáo phụ nữ thai hoặc đang nuôi con dưới 36
tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh nặng nơi trú lịch
ràng thì không tạm giam áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường
hợp:
a) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;
b) Tiếp tục phạm tội;
c) hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian
dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của
vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm
chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người
này;
d) Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia đủ căn cứ xác
định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.
5. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 119 của Bộ luật
này quyền ra lệnh, quyết định tạm giam. Lệnh tạm giam của những người
được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 119 của Bộ luật này phải được Viện
kiểm sát thẩm quyền chuẩn trước khi thi hành. Trong thời hạn 03 ngày kể từ
84
ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn hồ liên quan đến
việc tạm giam, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định
không phê chuẩn. Viện kiểm sát phải hoàn trả hồ cho quan điều tra ngay
sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn.
6. quan điều tra phải kiểm tra căn cước của người bị tạm giam
thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam, Ủy ban nhân dân cấp nơi
người bị tạm giam trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam làm việc,
học tập biết.
Điều 126. Việc chăm nom người thân thích bảo quản tài sản của
người bị tạm giữ, tạm giam
1. Trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam người thân thích người
tàn tật, già yếu, nhược điểm về tâm thần không có người chăm sóc thì cơ
quan ra quyết định tạm giữ, lệnh hoặc quyết định tạm giam giao người đó cho
người thân thích khác chăm nom; trường hợp không người thân thích thì
quan ra quyết định tạm giữ, lệnh hoặc quyết định tạm giam giao những người đó
cho Ủy ban nhân dân cấp nơi họ trú chăm nom. Việc chăm sóc, nuôi
dưỡng trẻ em là con của người bị tạm giữ, tạm giam thực hiện theo quy định của
Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú.
2. Trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam nhà hoặc tài sản khác mà
không người bảo quản thì quan ra quyết định tạm giữ, lệnh hoặc quyết
định tạm giam phải áp dụng những biện pháp bảo quản.
3. quan ra quyết định tạm giữ, lệnh hoặc quyết định tạm giam thông
báo cho người bị tạm giữ, tạm giam biết việc chăm nom, chăm sóc người thân
thích và bảo quản tài sản của họ. Việc thông báo được lập văn bản và đưa vào hồ
sơ vụ án.
Điều 127. Bảo lĩnh
1. Bảo lĩnh biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính
chất, mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo,
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.
85
2. quan, tổ chức thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo người của
cơ quan, tổ chức mình. Cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh phải có giấy cam đoan và
có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.
nhân người đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp
hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh thì
thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo người thân thích của họ trong
trường hợp này thì ít nhất phải 02 người. nhân nhận bảo lĩnh phải làm
giấy cam đoan xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp nơi người đó trú
hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.
Trong giấy cam đoan, quan, tổ chức, nhân nhận bảo lĩnh phải cam
đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều
này. quan, tổ chức, nhân nhận bảo lĩnh được thông báo về những tình tiết
của vụ án liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.
3. Bị can, bị cáo được bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan thực hiện các
nghĩa vụ:
a) mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp do bất khả kháng hoặc
do trở ngại khách quan;
b) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;
c) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối,
cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật
của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù
người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm người thân thích của những
người này.
Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản
này thì bị tạm giam.
4. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 119 của Bộ luật
này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyền ra quyết định bảo lĩnh. Quyết định
của những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 119 của Bộ luật này phải
được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
5. Thời hạn bảo lĩnh không được quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử
theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn bảo lĩnh đối với người bị kết án phạt tù
86
không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành
án phạt tù.
6. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh để bị can, bị cáo vi phạm nghĩa
vụ đã cam đoan thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị phạt tiền theo quy định
của pháp luật.
Điều 128. Đặt tiền để bảo đảm
1. Đặt tiền để bảo đảm biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ
tính chất, mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi, nhân thân và tình trạng tài
sản của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định
cho họ hoặc người thân thích của họ đặt tiền để bảo đảm.
2. Bị can, bị cáo được đặt tiền phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa
vụ:
a) mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp do bất khả kháng hoặc
do trở ngại khách quan;
b) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;
c) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối,
cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật
của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù
người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm người thân thích của những
người này.
Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản
này thì bị tạm giam và số tiền đã đặt bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
3. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 119 của Bộ luật
này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định về việc đặt tiền để bảo
đảm. Quyết định của những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 119 của Bộ
luật này phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
4. Thời hạn đặt tiền không quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo
quy định tại Bộ luật này. Thời hạn đặt tiền đối với người bị kết án phạt tù không
quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt
87
tù. Bị can, bị cáo chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ đã cam đoan thì Viện kiểm sát,
Tòa án có trách nhiệm trả lại cho họ số tiền đã đặt.
5. Người thân thích của bị can, bị cáo được quan điều tra, Viện kiểm
sát, Tòa án chấp nhận cho đặt tiền để bảo đảm phải làm giấy cam đoan không để
bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều này, nếu vi phạm
thì số tiền đã đặt bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Khi làm giấy cam đoan,
người này được thông báo về những tình tiết của vụ án liên quan đến bị can,
bị cáo.
6. Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng quy định chi tiết trình tự, thủ tục, mức tiền đặt, việc tạm giữ, hoàn trả,
tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền đã đặt để bảo đảm.
Điều 129. Giám sát điện tử
1. Giám sát điện tử biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ
vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi và nhân thân của bị
can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định áp dụng
biện pháp giám sát điện tử đối với họ.
2. Bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp giám sát điện tử phải làm giấy
cam đoan thực hiện các nghĩa vụ sau:
a) Không đi khỏi phạm vi giám sát, trừ trường hợp quy định tại khoản 5
Điều này;
b) mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp do bất khả kháng
hoặc do trở ngại khách quan;
c) Không bỏ trốn, không tiếp tục phạm tội;
d) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối,
cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ
vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế,
trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm người thân thích
của những người này;
88
đ) Không tháo, phá hủy thiết bị giám sát điện tử hoặc gây rối loạn hoạt
động của thiết bị giám sát điện tử.
3. Những người thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 119 của Bộ
luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyền ra quyết định giám sát điện
tử đối với bị can, bị cáo phải nêu phạm vi giám sát. Quyết định của
những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 119 của Bộ luật này phải
được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
4. Thời hạn giám sát điện tử không quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc
xét xử theo quy định tại Bộ luật này. Thời hạn giám sát điện tử đối với người
bị kết án phạt không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm
người đó đi chấp hành án phạt tù.
5. Người ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử phải gửi
ngay quyết định này cho bị can, bị cáo, người đại diện của họ; thông báo
ngay việc áp dụng biện pháp này cho Ủy ban nhân dân cấp nơi bị can, bị
cáo cư trú và giao bị can, bị cáo cho Ủy ban nhân dân cấp xã đó để thi hành.
Trường hợp bị can, bị cáo do bất khả kháng hoặc do trở ngại
khách quan phải tạm thời đi khỏi phạm vi giám sát thì phải có sự đồng ý của
Ủy ban nhân dân cấp nơi người đó trú phải giấy phép của người
đã ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Giấy phép này phải gửi
cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.
6. Bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản 2 Điều
này thì bị tạm giam. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị can, bị cáo trú phải
báo ngay cho quan đã ra quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử
biết về việc vi phạm để xử lý theo thẩm quyền.
7. Việc hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp giám sát điện tử được thực hiện
theo quy định về hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn của Bộ luật này
và pháp luật khác có liên quan.
8. Chính phủ quy định chi tiết khoản 5 và khoản 6 Điều này.
Điều 130. Cấm đi khỏi nơi cư trú
89
1. Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với bị
can, bị cáo nơi trú, lịch ràng nhằm bảo đảm sự mặt của họ theo
giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.
2. Bị can, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi trú phải làm giấy cam đoan thực
hiện các nghĩa vụ:
a) Không đi khỏi nơi trú nếu không được người đã ra lệnh cấm đi khỏi
nơi trú cho phép, trừ trường hợp do bất khả kháng hoặc do trở ngại
khách quan;
b) mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp do bất khả kháng hoặc
do trở ngại khách quan;
c) Không bỏ trốn, không tiếp tục phạm tội;
d) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối,
cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật
của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù
người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm người thân thích của những
người này.
Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản
này hoặc vi phạm các nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành tạm giữ, tạm
giam cấm đi khỏi nơi trú thuộc trường hợp bị đề nghị thay đổi biện pháp
ngăn chặn thì bị tạm giam.
3. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 119 của Bộ luật
này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Đồn trưởng Đồn biên phòng có quyền ra lệnh
cấm đi khỏi nơi cư trú.
4. Thời hạn cấm đi khỏi nơi trú không quá thời hạn điều tra, truy tố
hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối
với người bị kết án phạt không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời
điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.
5. Người ra lệnh cấm đi khỏi nơi trú phải gửi lệnh cấm đi khỏi nơi
trú cho Trưởng Công an cấp nơi bị can, bị cáo trú, đơn vị quân đội được
giao quản lý, theo dõi bị can, bị cáo, quan khác có liên quan để quản lý, theo
dõi họ.
90
6. Nếu bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan thì Ủy ban nhân dân cấp
nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo phải báo
ngay cho quan đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi trú biết để xử theo thẩm
quyền.
Điều 131. Tạm hoãn xuất cảnh
1. thể tạm hoãn xuất cảnh đối với những người sau đây khi căn cứ
xác định việc xuất cảnh của họ có dấu hiệu bỏ trốn:
a) Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh
đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn
chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ;
b) Bị can, bị cáo.
2. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 119 của Bộ luật
này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyền quyết định tạm hoãn xuất cảnh.
Quyết định tạm hoãn xuất cảnh của những người được quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 119 của Bộ luật này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát
có thẩm quyền trước khi thi hành.
3. Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh không được quá thời hạn giải quyết nguồn
tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật này.
Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn
kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.
Điều 132. Hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn
1. Mọi biện pháp ngăn chặn đang áp dụng phải được hủy bỏ khi thuộc một
trong các trường hợp:
a) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;
b) Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án;
c) Đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can;
d) Tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án;
đ) Tạm đình chỉ điều tra đối với bị can, tạm đình chỉ vụ án đối với bị
can;
91
e) Bị cáo được Tòa án tuyên không có tội, miễn trách nhiệm hình sự hoặc
miễn hình phạt, hình phạt tù nhưng được hưởng án treo hoặc hình phạt cảnh cáo,
phạt tiền, cải tạo không giam giữ.
2. quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp ngăn chặn
khi thấy không còn cần thiết hoặc thể thay thế bằng biện pháp ngăn chặn
khác.
Đối với những biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn trong giai
đoạn điều tra thì việc hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác phải
do Viện kiểm sát quyết định; trong thời hạn 10 ngày trước khi hết thời hạn áp
dụng biện pháp ngăn chặn, trừ biện pháp tạm giữ do Viện kiểm sát phê chuẩn,
quan đã đề nghị áp dụng biện pháp ngặn chặn này phải thông báo cho Viện
kiểm sát để quyết định hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn khác.
Mục II. BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ
Điều 133. Các biện pháp cưỡng chế
1. Để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án,
trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng thể áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải, biên tài sản, phong tỏa tài
khoản.
2. quan, người thẩm quyền tiến hành tố tụng thể yêu cầu tạm
ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử
dụng tài sản trước khi áp dụng biện pháp biên tài sản, phong tỏa tài
khoản.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng quy định chi tiết khoản này.
Điều 134. Áp giải, dẫn giải
1. Áp giải thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp,
người bị buộc tội.
2. Dẫn giải có thể áp dụng đối với:
92
a) Người làm chứng trong trường hợp họ không có mặt theo giấy triệu tập
mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;
b) Người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết
định trưng cầu của quan thẩm quyền tiến hành tố tụng không lý do
bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;
c) Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh
đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ
án, đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không
do trở ngại khách quan.
3. Điều tra viên, cấp trưởng của quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội
đồng xét xử có quyền ra quyết định áp giải, dẫn giải.
4. Quyết định áp giải, quyết định dẫn giải phải ghi rõ họ tên, ngày, tháng,
năm sinh, nơi trú của người bị áp giải, dẫn giải; thời gian, địa điểm người bị
áp giải, dẫn giải phải mặt các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 139 của
Bộ luật này.
5. Người thi hành quyết định áp giải, dẫn giải phải đọc, giải thích quyết
định lập biên bản về việc áp giải, dẫn giải theo quy định tại Điều 140 của Bộ
luật này.
quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân thẩm quyền trách
nhiệm tổ chức thi hành quyết định áp giải, dẫn giải.
6. Không được bắt đầu việc áp giải, dẫn giải người vào ban đêm; không
được áp giải, dẫn giải người già yếu, người bị bệnh nặng xác nhận của
quan y tế.
Điều 135. Kê biên tài sản
1. biên tài sản chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội Bộ luật
Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm
bồi thường thiệt hại.
2. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 119 của Bộ luật
này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra lệnh kê biên tài sản. Lệnh kê biên
93
của những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 119 của Bộ luật này
phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trước khi thi hành.
3. Chỉ biên phần tài sản tương ứng với mức thể bị phạt tiền, bị tịch
thu hoặc phải bồi thường thiệt hại. Tài sản bị biên được giao cho chủ tài sản
hoặc người quản hợp pháp hoặc người thân thích của họ bảo quản. Người
được giao bảo quản hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất
giấu, hủy hoại tài sản bị biên thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định
của Bộ luật Hình sự.
4. Khi tiến hành kê biên tài sản phải có mặt những người:
a) Bị can, bị cáo hoặc người đủ 18 tuổi trở lên trong gia đình hoặc người
đại diện của bị can, bị cáo;
b) Đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản bị kê biên;
c) Người chứng kiến.
Người tiến hành kê biên phải lập biên bản, ghi rõ tên và tình trạng từng tài
sản bị biên. Biên bản được lập theo quy định tại Điều 184 của Bộ luật này,
đọc cho những người mặt nghe cùng tên. Ý kiến, khiếu nại của những
người quy định tại điểm a khoản này liên quan đến việc biên được ghi vào
biên bản, có chữ ký xác nhận của họ và của người tiến hành kê biên.
Biên bản biên được lập thành bốn bản, trong đó một bản được giao
ngay cho người được quy định tại điểm a khoản này sau khi biên xong, một
bản giao ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản bị kê biên, một bản gửi
cho Viện kiểm sát có thẩm quyền và một bản đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 136. Phong tỏa tài khoản
1. Phong tỏa tài khoản chỉ áp dụng đối với người bị buộc tội về tội mà Bộ
luật Hình sự quy định hình phạt tiền, bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi
thường thiệt hại khi căn cứ xác định người đó tài khoản tại tổ chức tín
dụng hoặc Kho bạc Nhà nước. Phong tỏa tài khoản cũng được áp dụng đối với
tài khoản của người khác nếu căn cứ cho rằng số tiền trong tài khoản đó liên
quan đến hành vi phạm tội của người bị buộc tội.
94
2. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 119 của Bộ luật
này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyền ra lệnh phong tỏa tài khoản. Lệnh
phong tỏa tài khoản của những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều
119 của Bộ luật này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền
trước khi thi hành.
3. Chỉ phong tỏa số tiền trong tài khoản tương ứng với mức có thể bị phạt
tiền, bị tịch thu tài sản hoặc bồi thường thiệt hại. Người được giao thực hiện
lệnh phong tỏa, quản tài khoản bị phong tỏa giải tỏa việc phong tỏa tài
khoản thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
4. Khi tiến hành phong tỏa tài khoản, quan tiến hành tố tụng thẩm
quyền phải giao lệnh phong tỏa tài khoản cho tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc
Nhà nước đang quản lý tài khoản của người bị buộc tội hoặc tài khoản của người
khác liên quan đến hành vi phạm tội của người bị buộc tội. Việc giao, nhận
lệnh phong tỏa tài khoản phải được lập thành biên bản theo quy định tại Điều
184 của Bộ luật này.
Ngay sau khi nhận được lệnh phong tỏa tài khoản, tổ chức tín dụng hoặc
Kho bạc Nhà nước đang quản tài khoản của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can,
bị cáo hoặc tài khoản của người khác liên quan đến hành vi phạm tội của
người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo phải thực hiện ngay việc phong tỏa tài
khoản và lập biên bản về việc phong tỏa tài khoản.
Biên bản về việc phong tỏa tài khoản được lập thành năm bản, trong đó
một bản được giao ngay cho người bị buộc tội, một bản giao cho người khác có
liên quan đến người bị buộc tội, một bản gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền,
một bản đưa vào hồ vụ án, một bản lưu tại tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc
Nhà nước.
Điều 137. Hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản
1. Biện pháp biên tài sản, phong tỏa tài khoản đang áp dụng phải được
hủy bỏ khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án;
b) Đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can;
c) Bị cáo được Tòa án tuyên không có tội;
95
d) Bị cáo không bị phạt tiền, tịch thu tài sản và bồi thường thiệt hại.
2. quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp biên tài
sản, phong tỏa tài khoản khi thấy không còn cần thiết.
Đối với biện pháp biên tài sản, phong tỏa tài khoản trong giai đoạn
điều tra, thì việc hủy bỏ hoặc thay thế phải thông báo cho Viện kiểm sát trước
khi quyết định.
Chương VIII
HỒ SƠ VỤ ÁN, VĂN BẢN TỐ TỤNG, THỜI HẠN
VÀ CHI PHÍ TỐ TỤNG
Điều 138. Hồ sơ vụ án
1. Khi tiến hành tố tụng trong giai đoạn khởi tố, điều tra, Cơ quan điều tra,
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lập hồ
sơ vụ án.
2. Hồ sơ vụ án gồm:
a) Lệnh, quyết định, yêu cầu của quan điều tra, quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát;
b) Các biên bản tố tụng do Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát lập;
c) Các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án.
3. Các chứng cứ, tài liệu do Viện kiểm sát, Tòa án thu thập trong giai đoạn
truy tố, xét xử phải đưa vào hồ sơ vụ án.
4. Hồ vụ án phải có thống kê tài liệu kèm theo. Thống kê tài liệu ghi rõ
tên tài liệu, số bút lục đặc điểm của tài liệu (nếu có). Trường hợp có bổ sung
tài liệu vào hồ vụ án thì phải thống tài liệu bổ sung. Hồ vụ án phải
được quản lý, lưu giữ, sử dụng theo quy định của pháp luật.
5. Hồ sơ vụ án được lập bằng văn bản giấy hoặc phương thức điện tử, đối
với những trường hợp lập bằng bản giấy phải được số hóa thành hồ sơ vụ án
điện tử. Hồ vụ án điện tử một duy nhất được chia sẻ, liên thông
dữ liệu giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
96
Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
quy định chi tiết khoản này.
Điều 139. Văn bản tố tụng
1. Văn bản tố tụng gồm lệnh, quyết định, yêu cầu, kết luận điều tra, bản
cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, bản án và các văn bản tố
tụng khác trong hoạt động tố tụng được lập theo mẫu thống nhất.
2. Văn bản tố tụng ghi rõ:
a) Số, ngày, tháng, năm, địa điểm ban hành văn bản tố tụng;
b) Căn cứ ban hành văn bản tố tụng;
c) Nội dung của văn bản tố tụng;
d) Họ tên, chức vụ, chữ của người ban hành văn bản tố tụng đóng
dấu.
3. Chữ của người ban hành văn bản tố tụng chữ trực tiếp hoặc
chữ ký số.
Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
quy định chi tiết khoản này.
Điều 140. Biên bản
1. Khi tiến hành hoạt động tố tụng phải lập biên bản theo mẫu thống nhất.
Biên bản được lập bằng văn bản giấy hoặc phương thức điện tử theo
quy định của pháp luật.
Biên bản ghi địa điểm, giờ, ngày, tháng, năm tiến hành tố tụng, thời
gian bắt đầu thời gian kết thúc, nội dung của hoạt động tố tụng, người
thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc người liên quan đến
hoạt động tố tụng, khiếu nại, yêu cầu hoặc đề nghị của họ.
2. Biên bản phải chữ của những người Bộ luật này quy định.
Những điểm sửa chữa, thêm, bớt, tẩy xóa trong biên bản phải được xác nhận
bằng chữ ký của họ.
97
Trường hợp người tham gia tố tụng không vào biên bản thì người lập
biên bản ghi rõ lý do và mời người chứng kiến ký vào biên bản.
Trường hợp người tham gia tố tụng không biết chữ thì người lập biên bản
đọc biên bản cho họ nghe với sự có mặt của người chứng kiến. Biên bản phải có
điểm chỉ của người tham gia tố tụng và chữ ký của người chứng kiến.
Trường hợp người tham gia tố tụng nhược điểm về tâm thần hoặc thể
chất hoặc vì lý do khác mà không thể ký vào biên bản thì người lập biên bản đọc
biên bản cho họ nghe với sự có mặt của người chứng kiến và những người tham
gia tố tụng khác. Biên bản phải có chữ ký của người chứng kiến.
Điều 141. Tính thời hạn
1. Thời hạn mà Bộ luật này quy định được tính theo giờ, ngày, tháng, năm.
Đêm được tính từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau.
Khi tính thời hạn theo ngày thì thời hạn sẽ hết vào lúc 24 giờ ngày cuối
cùng của thời hạn.
Khi tính thời hạn theo tháng thì thời hạn hết vào ngày trùng của tháng sau;
nếu tháng đó không ngày trùng thì thời hạn hết vào ngày cuối cùng của tháng
đó; nếu thời hạn hết vào ngày nghỉ thì ngày làm việc đầu tiên tiếp theo được tính
là ngày cuối cùng của thời hạn.
Khi tính thời hạn tạm giữ, tạm giam thì thời hạn hết vào ngày kết thúc thời
hạn được ghi trong lệnh, quyết định. Nếu thời hạn được tính bằng tháng thì 01
tháng được tính là 30 ngày.
2. Trường hợp đơn hoặc giấy tờ gửi qua dịch vụ bưu chính thì thời hạn
được tính theo dấu bưu chính nơi gửi. Nếu đơn hoặc giấy tờ gửi qua sở
giam giữ thì thời hạn được tính từ ngày Trưởng Nhà tạm giữ, Trưởng phân trại
thuộc trại tạm giam, Trưởng Buồng tạm giữ thuộc Đồn biên phòng, Giám thị
Trại tạm giam, Giám thị Trại giam nhận đơn hoặc giấy tờ đó.
Điều 142. Chi phí trong tố tụng hình sự
1. Chi phí trong tố tụng hình sự gồm án phí, lệ phí và các chi phí tố tụng.
2. Án phí gồm án phí thẩm, phúc thẩm hình sự, án phí thẩm, phúc
thẩm dân sự trong vụ án hình sự.
98
3. Lệ phí gồm lệ phí cấp bản sao bản án, quyết định, các giấy tờ khác của
quan thẩm quyền tiến hành tố tụng các khoản lệ phí khác mà pháp luật
quy định.
4. Chi phí tố tụng gồm:
a) Chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch, người dịch thuật,
người bào chữa trong trường hợp chỉ định người bào chữa;
b) Chi phí giám định, định giá tài sản;
c) Các khoản chi phí khác theo quy định của pháp luật.
5. Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể về chi phí tố tụng và việc
miễn, giảm chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Điều 143. Trách nhiệm chi trả chi phí tố tụng, lệ phí
1. Chi phí quy định tại điểm a, chi phí định giá tài sản quy định tại điểm b
chi phí quy định tại điểm c khoản 4 Điều 142 của Bộ luật này do các cơ quan,
người đã trưng cầu, yêu cầu, chỉ định chi trả; trường hợp Trung tâm trợ giúp
pháp nhà nước cử người bào chữa thì do Trung tâm này chi trả. Chi phí giám
định tư pháp thực hiện theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp.
2. Án phí do người bị kết án hoặc Nhà nước chịu theo quy định của pháp
luật. Người bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Tòa án. Mức án phí và
căn cứ áp dụng được ghi rõ trong bản án, quyết định của Tòa án.
3. Trường hợp vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại, nếu Tòa án tuyên bố
bị cáo không tội hoặc vụ án bị đình chỉ khi căn cứ quy định tại khoản 2
Điều 161 của Bộ luật này thì bị hại phải trả án phí.
4. Đối với các hoạt động tố tụng do người tham gia tố tụng yêu cầu thì
việc chi trả lệ phí, chi phí theo quy định của pháp luật.
Điều 144. Việc cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết hoặc thông báo văn
bản tố tụng
1. Việc cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết hoặc thông báo văn bản tố tụng
được thực hiện thông qua các phương thức:
a) Cấp, giao, chuyển trực tiếp;
99
b) Cấp, giao, chuyển bằng phương thức điện tử;
c) Gửi qua dịch vụ bưu chính;
d) Niêm yết công khai;
đ) Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, qua nền tảng số, phần
mềm ứng dụng dùng chung triển khai tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, cổng thông
tin hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan tiến hành tố tụng.
2. Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao quy định chi tiết Điều này.
Chương IX.
THỦ TỤC TRONG TRƯỜNG HỢP TẠM HOÃN TRUY CỨU TRÁCH
NHIỆM HÌNH SỰ
Điều 145. Điều kiện áp dụng
1. quan, người thẩm quyền tiến hành tố tụng thể xem xét,
quyết định tạm đình chỉ trong trường hợp tạm hoãn truy cứu trách nhiệm
hình sự nếu người bị tố giác, kiến nghị khởi tố, người bị buộc tội thuộc
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 27a của Bộ luật Hình sự.
2. Việc tạm đình chỉ trong trường hợp tạm hoãn truy cứu trách nhiệm
hình sự chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau:
a) Người được xem xét tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự có đơn
đề nghị;
b) Tự nguyện thừa nhận trách nhiệm đối với hành vi, hậu quả xảy ra;
cam kết hợp tác với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
c) phương án khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại hoặc biện
pháp khắc phục khác kèm theo các tài liệu chứng minh khả năng thực hiện
được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chấp thuận;
d) cam kết bảo đảm thực hiện của tổ chức, nhân liên quan,
nếu có.
100
3. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ
trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao quy định chi tiết Điều này.
Điều 146. Xử trong trường hợp tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình
sự
1. Khi tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin tội phạm, tạm đình chỉ
điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra đối với bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm
đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo theo quy định của Bộ luật này.
2. Trong thời hạn tạm đình chỉ quy định tại Điều 148 của Bộ luật này,
quan thẩm quyền tiến hành tố tụng theo dõi, kiểm tra việc thực hiện
cam kết và xử lý như sau:
a) Trường hợp người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị
buộc tội đã thực hiện đầy đủ phương án khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt
hại các nghĩa vụ khác theo cam kết và đáp ứng điều kiện miễn trách nhiệm
hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự thì ra quyết định không khởi tố vụ
án, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ vụ án theo quy định của
Bộ luật này;
b) Trường hợp hết thời hạn tạm đình chỉ mà người bị tố giác, người bị
kiến nghị khởi tố, người bị buộc tội không khắc phục được toàn bộ hậu quả
hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết hoặc không đáp ứng điều
kiện miễn trách nhiệm hình sự thì ra quyết định phục hồi tiếp tục giải
quyết vụ việc, vụ án theo thủ tục chung.
Mức độ khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại, thái độ hợp tác
hiệu quả kinh tế - hội mang lại được ghi nhận trong hồ vụ án để làm
căn cứ xem xét áp dụng chính sách khoan hồng theo quy định của Bộ luật
Hình sự và Bộ luật này;
c) Trường hợp người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị
buộc tội vi phạm cam kết, bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi khác gây
khó khăn, cản trở việc giải quyết vụ việc, vụ án thì quan thẩm quyền
101
tiến hành tố tụng hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ tiếp tục giải quyết theo
thủ tục chung.
Điều 147. Thẩm quyền, thủ tục quyết định việc tạm đình chỉ trong
trường hợp tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự
Khi đủ điều kiện theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật này thì việc
xem xét, quyết định tạm đình chỉ trong trường hợp tạm hoãn truy cứu trách
nhiệm hình sự được thực hiện như sau:
1. Trong giai đoạn khởi tố, điều tra, quan điều tra văn bản đề
nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét việc áp dụng thủ tục tạm hoãn truy
cứu trách nhiệm hình sự.
Viện kiểm sát xem xét căn cứ áp dụng, tính tự nguyện của việc đề nghị
tạm hoãn, phương án khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại, khả năng
thực hiện cam kết và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Trường hợp Viện kiểm sát đồng ý bằng văn bản thì Cơ quan điều tra ra
quyết định tạm đình chỉ theo quy định của Bộ luật này.
Trường hợp Viện kiểm sát không đồng ý thì quan điều tra tiếp tục
giải quyết theo thủ tục chung quyền kiến nghị Viện kiểm sát cấp trên
trực tiếp. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị, Viện kiểm
sát cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định; quyết định của Viện kiểm sát cấp
trên trực tiếp có hiệu lực thi hành.
2. Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát quyết định tạm đình chỉ trong
trường hợp tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự sau khi xem xét hồ sơ vụ
án, phương án khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại, cam kết của người bị
buộc tội và trao đổi với Cơ quan điều tra.
3. Trong giai đoạn xét xử, Tòa án quyết định tạm đình chỉ trong trường
hợp tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự sau khi xem xét hồ vụ án,
phương án khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại, cam kết của bị cáo và có
ý kiến của Viện kiểm sát.
4. Quyết định tạm đình chỉ trong trường hợp tạm hoãn truy cứu trách
nhiệm hình sự phải nêu rõ:
102
a) Lý do, căn cứ áp dụng;
b) Nội dung cam kết, nghĩa vụ phải thực hiện;
c) Thời hạn thực hiện;
d) Hậu quả pháp trong trường hợp thực hiện hoặc không thực hiện
cam kết.
5. Người bị hại, đương sự người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
quyền khiếu nại quyết định tạm đình chỉ trong trường hợp tạm hoãn truy cứu
trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này.
6. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ
trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao quy định chi tiết Điều này.
Điều 148. Thời hạn tạm đình chỉ trong trường hợp tạm hoãn truy cứu
trách nhiệm hình sự
1. Việc tạm đình chỉ trong trường hợp tạm hoãn truy cứu trách nhiệm
hình sự chỉ được áp dụng một lần đối với một vụ việc, vụ án thời hạn
không quá 02 năm kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ.
Trường hợp đặc biệt do tính chất phức tạp của việc khắc phục hậu quả,
bồi thường thiệt hại hoặc thực hiện nghĩa vụ khác cần thêm thời gian
người được tạm hoãn đã tích cực thực hiện cam kết thì quan điều tra,
Viện kiểm sát, Tòa án có thẩm quyền có thể quyết định gia hạn một lần nhưng
không quá 01 năm; quyết định gia hạn của quan điều tra phải được sự
đồng ý bằng văn bản của Viện kiểm sát.
2. Trong thời hạn tạm đình chỉ, quan thẩm quyền tiến hành tố
tụng trách nhiệm kiểm tra, đánh giá việc thực hiện phương án khắc phục
hậu quả, cam kết của người được tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để
xử lý theo quy định tại Điều 146 của Bộ luật này.
3. Thời gian tạm đình chỉ trong trường hợp tạm hoãn truy cứu trách
nhiệm hình sự không tính vào thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, thời
hạn điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật này.
103
Việc tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thực hiện theo quy
định của Bộ luật Hình sự.
Phần thứ hai
KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
Chương X
KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Điều 149. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự
Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định dấu hiệu tội phạm. Việc xác
định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:
1. Tố giác của cá nhân;
2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;
4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;
5. quan thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu
tội phạm;
6. Người phạm tội tự thú.
Điều 150. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. Tố giác về tội phạm việc nhân phát hiện tố cáo hành vi có dấu
hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.
2. Tin báo về tội phạm thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ
quan, tổ chức, nhân thông báo với quan thẩm quyền hoặc thông tin về
tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng.
3. Kiến nghị khởi tố việc quan nhà nước thẩm quyền kiến nghị
bằng văn bản gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.
4. Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản.
104
5. Người nào cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật thì tuỳ tính chất,
mức độ vi phạm bị xử kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy
cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.
Điều 151. Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận
đầy đủ, giải quyết kịp thời. quan, tổ chức trách nhiệm tiếp nhận không
được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
2. quan, tổ chức trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố gồm:
a) quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố;
b) Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.
3. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:
a) quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố theo thẩm quyền điều tra của mình;
b) quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình;
c) Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
trong trường hợp phát hiện quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt
động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có
dấu hiệu bỏ lọt tội phạm Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng
không được khắc phục.
4. quan thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết cho nhân, cơ quan,
tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Điều 152. Thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố
105
1. Khi quan, tổ chức, nhân trực tiếp tố giác, báo tin về tội phạm,
kiến nghị khởi tố thì quan điều tra, Viện kiểm sát, quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều
151 của Bộ luật này phải lập biên bản tiếp nhận ghi vào sổ tiếp nhận; có thể
ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận.
Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gửi qua dịch vụ
bưu chính, điện thoại, phương tiện thông tin, hoặc qua các hình thức khác thì
ghi vào sổ tiếp nhận, cấp mã số để quản lý, theo dõi.
2. Trường hợp phát hiện tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trách nhiệm chuyển ngay
tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu liên quan đã
tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Viện kiểm sát trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu liên quan đã tiếp nhận cho quan điều
tra có thẩm quyền.
Trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 151 của Bộ luật này thì
trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát yêu cầu, quan thẩm
quyền đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đó
phải chuyển hồ sơ có liên quan cho Viện kiểm sát để xem xét, giải quyết.
3. Công an cấp xã, Đồn Công an trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo
về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh bộ
chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật liên quan
cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
4. Các quan, tổ chức khác sau khi nhận được tố giác, tin báo về tội
phạm thì chuyển ngay cho quan điều tra thẩm quyền. Trường hợp khẩn
cấp thì thể báo tin trực tiếp qua điện thoại hoặc hình thức khác cho Cơ quan
điều tra nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản.
5. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố, quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến
106
hành một số hoạt động điều tra trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc
tiếp nhận đó cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
6. Viện kiểm sát thực hiện truy cập, khai thác dữ liệu về tiếp nhận, cập
nhật, phân loại giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
trên hệ thống quản lý điện tử để kiểm sát.
Điều 153. Thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố
1. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố, quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh ra một trong các
quyết định:
a) Quyết định khởi tố vụ án hình sự;
b) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;
c) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố.
2. Trường hợp vụ việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi
tố nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì
thời hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có thể kéo dài nhưng không
quá 02 tháng. Trường hợp chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh trong thời
hạn quy định tại khoản này thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền có thể
gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng.
Chậm nhất 05 ngày trước khi hết thời hạn kiểm tra, xác minh quy định
tại khoản này, quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra phải văn bản đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền gia hạn
thời hạn kiểm tra, xác minh.
3. Đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố sau khi tiếp
nhận đã về dấu hiệu của tội phạm, đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự thì
quan điều tra thẩm quyền ra ngay quyết định khởi tố vụ án hình sự và
thực hiện trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật này.
107
4. Khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, quan
có thẩm quyền có quyền tiến hành các hoạt động:
a) Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin;
b) Khám nghiệm hiện trường;
c) Khám nghiệm tử thi;
d) Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản.
5. Trình tự, thủ tục, thời hạn Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm, kiến nghị khởi tố được thực hiện theo quy định tại Điều này.
Điều 154. Tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố
1. Hết thời hạn quy định tại Điều 153 của Bộ luật này, quan thẩm
quyền giải quyết quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản nhưng chưa kết
quả; đã yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa kết thúc theo quy định
của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự;
b) Đã yêu cầu quan, tổ chức, nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan
trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án nhưng
chưa có kết quả;
c) Không thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh để quyết định khởi tố hoặc
không khởi tố vụ án vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ
trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thủ trưởng các cơ quan khác
có liên quan quy định chi tiết điểm này.
2. Trong thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, Cơ quan điều tra có
thẩm quyền xem xét ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi đủ điều kiện theo quy định tại Điều 145
của Bộ luật này. Thời hạn tạm đình chỉ được ghi trong quyết định nhưng
không quá thời hạn quy định tại Điều 148 của Bộ luật này.
108
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định tạm đình chỉ việc giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, quan điều tra, cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định tạm
đình chỉ kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát thẩm quyền để kiểm
sát gửi quyết định tạm đình chỉ đó cho quan, tổ chức, nhân đã tố giác,
báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố, trường hợp tạm đình chỉ theo khoản 2
Điều này thì quyết định tạm đình chỉ được gửi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân
có liên quan để theo dõi, thực hiện cam kết trong thời gian tạm đình chỉ.
Trường hợp quyết định tạm đình chỉ không căn cứ thì Viện kiểm sát ra
quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ để tiếp tục giải quyết. Trong thời hạn
24 giờ kể từ khi ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ, Viện kiểm sát
phải gửi quyết định đó cho quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra, quan, tổ chức, nhân đã tố giác, báo tin về
tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố tiếp không quá 01 tháng kể từ ngày Cơ quan điều tra, cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận được quyết định
hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ.
4. Trường hợp tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố thì việc giám định, định giá tài sản tiếp tục được tiến hành cho
đến khi kết quả; việc tương trợ pháp tiếp tục được tiến hành cho đến khi
kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự.
5. quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra trách nhiệm phối hợp với Viện kiểm sát rà soát việc tạm đình
chỉ giải quyết tố giác, tin báo tội phạm kiến nghị khởi tố để đánh giá căn
cứ phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm.
Điều 155. Phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố
1. Khi do tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố không còn, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định phục hồi giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố tiếp không quá 01 tháng kể từ ngày ra quyết định
109
phục hồi không quá 02 tháng kể từ ngày ra quyết định phục hồi đối với các
vụ việc có tính chất phức tạp.
2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định phục hồi giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định phục hồi cho
Viện kiểm sát có thẩm quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội
phạm, kiến nghị khởi tố.
Điều 156. Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố do Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết. Tranh chấp thẩm
quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện kiểm sát
thẩm quyền giải quyết.
2. Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố giữa các Cơ quan điều tra quân sự khu vực thuộc các quân khu khác
nhau do Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi đầu tiên tiếp nhận tố giác, tin
báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố giải quyết.
3. Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố giữa các quan điều tra của Công an nhân dân, Cơ quan điều tra
trong Quân đội nhân dân quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao do
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết.
Điều 157. Giải quyết vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện
quan thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội
phạm thì quyết định việc khởi tố vụ án theo thẩm quyền hoặc chuyển cho
quan điều tra có thẩm quyền giải quyết.
Điều 158. Người phạm tội tự thú, đầu thú
1. Khi người phạm tội đến tự thú, đầu thú, cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải
lập biên bản ghi họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và lời khai của người tự thú,
110
đầu thú. quan, tổ chức tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú trách
nhiệm thông báo ngay cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát.
2. Trường hợp xác định tội phạm do người tự thú, đầu thú thực hiện không
thuộc thẩm quyền điều tra của mình thì Cơ quan điều tra tiếp nhận người tự thú,
đầu thú phải thông báo ngay cho quan điều tra thẩm quyền để tiếp nhận,
giải quyết.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu
thú, quan điều tra thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản cho Viện
kiểm sát có thẩm quyền.
Điều 159. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự
1. quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả vụ việc
dấu hiệu tội phạm, trừ những vụ việc do quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử đang thụ lý, giải
quyết quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.
2. quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra
quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp quy định tại Điều 171 của Bộ
luật này.
3. Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp:
a) Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của
quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
b) Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố;
c) Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu
khởi tố của Hội đồng xét xử.
4. Hội đồng xét xử yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua
việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm.
Điều 160. Quyết định khởi tố vụ án hình sự
1. Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi căn cứ khởi tố, điều,
khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng các nội dung quy định tại khoản 2
Điều 139 của Bộ luật này.
111
2. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự,
Viện kiểm sát phải gửi quyết định đó đến quan điều tra thẩm quyền để
tiến hành điều tra.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự,
quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát thẩm
quyền để kiểm sát việc khởi tố.
Điều 161. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại Điều 180,
khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156, 174, 175 178
của Bộ luật Hình sự khi yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là
người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã
chết.
2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được
đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố
trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi
tố rút yêu cầu, quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố
tụng đối với vụ án.
3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không
có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.
Điều 162. Thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự
1. quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình
sự khi căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội
xảy ra; ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự khi có căn cứ xác
định còn tội phạm khác chưa bị khởi tố.
2. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung
quyết định khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định kèm theo các tài liệu
liên quan đến việc thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự cho
Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi tố.
112
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết
định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát phải gửi cho quan điều tra để tiến
hành điều tra.
Điều 163. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự
Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:
1. Không có sự việc phạm tội;
2. Hành vi không cấu thành tội phạm;
3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách
nhiệm hình sự;
4. Người hành vi phạm tội của họ đã bản án hoặc quyết định đình
chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
6. Tội phạm đã được đại xá;
7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho hội đã chết, trừ trường hợp
cần tái thẩm đối với người khác;
8. Tội phạm quy định tại Điều 180, khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138,
139, 141, 143, 155, 156, 174, 175 178 của Bộ luật Hình sự bị hại hoặc
người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố;
9. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho hội thuộc trường hợp
được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 29 của Bộ luật Hình
sự.
Điều 164. Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ
quyết định khởi tố vụ án hình sự
1. Khi một trong các căn cứ quy định tại Điều 163 của Bộ luật này thì
người quyền khởi tố vụ án ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự; nếu đã
khởi tố thì phải ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự và thông
báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi
tố biết rõ lý do; nếu xét thấy cần xử lý bằng biện pháp khác thì chuyển hồ sơ cho
cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
113
Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định
khởi tố vụ án hình sự các tài liệu liên quan phải gửi cho Viện kiểm sát có
thẩm quyền trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định.
2. quan, tổ chức, nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm có quyền
khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Thẩm quyền thủ tục giải
quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Chương XXXIII của Bộ luật
này.
Điều 165. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành
quyền công tố trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm
1. Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp, gia hạn tạm giữ; phê chuẩn, không phê chuẩn các biện pháp khác hạn
chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết nguồn tin về tội
phạm theo quy định của Bộ luật này.
2. Khi cần thiết, đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh yêu cầu quan
thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm thực hiện.
3. Quyết định gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố; quyết định khởi tố vụ án hình sự.
4. Yêu cầu quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra khởi tố vụ án hình sự.
5. Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong
các trường hợp do Bộ luật này quy định.
6. Hủy bỏ quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết
định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin
về tội phạm các quyết định tố tụng khác trái pháp luật của quan điều tra,
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
7. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành quyền công
tố theo quy định của Bộ luật này nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan
người vô tội.
Điều 166. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc tiếp
nhận và kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm
114
1. Tiếp nhận đầy đủ tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố do
quan, tổ chức, nhân chuyển đến, tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú và
chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết.
2. Kiểm sát việc tiếp nhận, trực tiếp kiểm sát, kiểm sát việc kiểm tra, xác
minh và việc lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm của Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; kiểm sát việc tạm
đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; kiểm sát việc phục hồi giải quyết
nguồn tin về tội phạm.
3. Khi phát hiện việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm không
đầy đủ, vi phạm pháp luật thì yêu cầu quan điều tra, quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện các hoạt động:
a) Tiếp nhận, kiểm tra, xác minh, ra quyết định giải quyết nguồn tin về tội
phạm đầy đủ, đúng pháp luật;
b) Kiểm tra việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm và thông báo
kết quả cho Viện kiểm sát;
c) Cung cấp tài liệu về vi phạm pháp luật trong việc tiếp nhận, giải quyết
nguồn tin về tội phạm;
d) Khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm người vi phạm;
đ) Yêu cầu thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra.
4. Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm.
5. Yêu cầu quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc giải quyết
nguồn tin về tội phạm.
6. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải
quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định của Bộ luật này.
Điều 167. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
1. Khi thực hành quyền công tố trong việc khởi tố vụ án hình sự, Viện
kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn:
115
a) Yêu cầu quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án
hình sự;
b) Hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết
định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự không có căn
cứ và trái pháp luật;
c) Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự trong các
trường hợp do Bộ luật này quy định;
d) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để thực hành quyền công tố trong
việc khởi tố vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật này.
2. Khi kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát có những nhiệm
vụ, quyền hạn:
a) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố của quan điều
tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, bảo đảm
mọi tội phạm được phát hiện đều phải được khởi tố, việc khởi tố vụ án có căn cứ
và đúng pháp luật;
b) Yêu cầu quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc khởi tố vụ án
hình sự;
c) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc khởi tố vụ án
hình sự theo quy định của Bộ luật này.
Điều 168. Trách nhiệm của quan điều tra, quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc thực hiện yêu cầu,
quyết định của Viện kiểm sát trong việc khởi tố
1. quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra phải thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát trong việc
khởi tố.
2. Đối với quyết định quy định tại khoản 1 khoản 6 Điều 165, điểm b
khoản 1 Điều 167 của Bộ luật này, nếu không nhất trí, Cơ quan điều tra, cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra vẫn phải thực hiện
116
nhưng quyền kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn
20 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị của quan điều tra hoặc trong thời
hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị của quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem
xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan đã kiến nghị.
Chương XI
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
Điều 169. Thẩm quyền điều tra
1. quan điều tra của Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ
những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của quan điều tra trong Quân đội
nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
2. quan điều tra trong Quân đội nhân dân điều tra các tội phạm thuộc
thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.
3. quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện
kiểm sát quân sự trung ương điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội
phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV của
Bộ luật Hình sự xảy ra trong hoạt động pháp người phạm tội cán bộ,
công chức thuộc quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, quan thi hành án,
người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp.
4. quan điều tra thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự tội
phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại
nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc
điều tra thuộc thẩm quyền của quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị
can cư trú hoặc bị bắt.
5. Việc phân cấp thẩm quyền điều tra như sau:
a) quan điều tra cấp tỉnh điều tra vụ án hình sự về những tội phạm
thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu
vực;
117
b) quan điều tra quân sự khu vực điều tra vụ án hình sự về những tội
phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự khu vực; quan điều tra
quân sự cấp quân khu điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm
quyền xét xử của Tòa án quân sự cấp quân khu hoặc những vụ án thuộc thẩm
quyền điều tra của quan điều tra cấp khu vực nếu xét thấy cần trực tiếp điều
tra;
c) quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng điều tra
vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao hủy để điều tra lại; vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng, phức tạp liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố, vụ án hình sự về tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều quốc gia nếu xét thấy cần
trực tiếp điều tra.
Điều 170. Thẩm quyền điều tra trong trường hợp vụ án thuộc thẩm
quyền xét xử của Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự
(Dự kiến bổ sung sau khi họp thống nhất với các bộ, ngành liên
quan)
Điều 171. Nhiệm vụ, quyền hạn của các quan của Bộ đội biên
phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và cơ quan
khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra
1. Khi phát hiện hành vi dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực địa bàn
quản của mình thì các quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm,
lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra có nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang,
chứng cứ lịch người phạm tội rõ ràng thì quyết định khởi tố vụ án hình sự,
khởi tố bị can, tiến hành điều tra chuyển hồ vụ án cho Viện kiểm sát
thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình
sự;
b) Đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì quyết
118
định khởi tố vụ án hình sự, tiến hành hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ
vụ án cho quan điều tra thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra
quyết định khởi tố vụ án hình sự.
2. Trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, ngoài các quan điều
tra quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra trong khi làm nhiệm vụ của mình, nếu phát
hiện sự việc dấu hiệu tội phạm thì quyền khởi tố vụ án hình sự, tiến hành
hoạt động điều tra ban đầu chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm
quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.
3. Các quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng
Cảnh sát biển, Kiểm ngư, quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân
dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải thực hiện đúng
nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 39 Điều 40 của Bộ luật này thực
hiện đúng nguyên tắc, trình tự, thủ tục tố tụng đối với hoạt động điều tra do Bộ
luật này quy định. Viện kiểm sát trách nhiệm thực hành quyền công tố
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của các cơ quan này.
4. Thẩm quyền điều tra cụ thể của các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải
quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư cơ quan khác của Công
an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự.
Điều 172. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
1. Yêu cầu quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án
hình sự, khởi tố bị can.
2. Phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ
sung quyết định khởi tố bị can không có căn cứ và trái pháp luật.
3. Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị
can trong các trường hợp do Bộ luật này quy định.
4. Phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, khám
119
xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, áp dụng biện
pháp điều tra tố tụng đặc biệt; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định tố
tụng khác không căn cứ trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật
này; hủy bỏ các quyết định tố tụng không căn cứ trái pháp luật của
quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
Trường hợp không phê chuẩn hoặc hủy bỏ thì trong quyết định không phê chuẩn
hoặc hủy bỏ phải nêu rõ lý do.
5. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp
cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này.
6. Đề ra yêu cầu điều tra yêu cầu quan điều tra, cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để làm tội
phạm, người phạm tội; yêu cầu quan điều tra truy bị can, áp dụng biện
pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
7. Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để kiểm
tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn lệnh, quyết định của quan
điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc
trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà
Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục hoặc
trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi quyết định việc truy tố.
8. Khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người thẩm quyền
trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc
khởi tố, điều tra dấu hiệu tội phạm; yêu cầu quan điều tra khởi tố vụ án
hình sự khi phát hiện hành vi của người thẩm quyền trong việc giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu
hiệu tội phạm.
9. Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam; quyết
định chuyển vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa
bệnh; hủy bỏ quyết định tách, nhập vụ án.
10. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành quyền công
tố theo quy định của Bộ luật này.
120
Điều 173. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát điều
tra vụ án hình sự
1. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra và lập hồ
vụ án của quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra.
2. Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu
cầu, kiến nghị quan, tổ chức, nhân thẩm quyền xử nghiêm minh
người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật.
3. Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra.
4. Yêu cầu quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong việc khởi tố, điều tra khi cần thiết.
5. Khi phát hiện việc điều tra không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì Viện
kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra thực hiện các hoạt động:
a) Tiến hành hoạt động điều tra đúng pháp luật;
b) Kiểm tra việc điều tra và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát;
c) Cung cấp tài liệu liên quan đến hành vi, quyết định tố tụng có vi phạm
pháp luật trong việc điều tra.
6. Kiến nghị, yêu cầu quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong việc khởi tố, điều tra.
7. Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra, xử
nghiêm minh Điều tra viên, Cán bộ điều tra vi phạm pháp luật trong hoạt động
tố tụng, hủy bỏ quyết định trái pháp luật của Điều tra viên.
8. Kiến nghị quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng
ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.
9. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc kiểm sát điều tra vụ án
hình sự theo quy định của Bộ luật này.
121
Điều 174. Trách nhiệm của quan điều tra, quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc thực hiện yêu cầu,
quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra
1. quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra phải thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát trong giai
đoạn điều tra.
2. Đối với quyết định quy định tại khoản 4 khoản 5 Điều 172 của Bộ
luật này nếu không nhất trí, quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra vẫn phải thực hiện nhưng có quyền kiến nghị với
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được
kiến nghị của quan điều tra hoặc trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận
được kiến nghị của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết thông báo kết
quả giải quyết cho cơ quan đã kiến nghị.
Điều 175. Chuyển vụ án để điều tra
1. Viện kiểm sát thẩm quyền quyết định việc chuyển vụ án để điều tra
khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Cơ quan điều tra cùng cấp, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra xét thấy vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra đề
nghị chuyển vụ án;
b) Cơ quan điều tra cấp trên rút vụ án để điều tra;
c) Điều tra viên bị thay đổi là Thủ trưởng Cơ quan điều tra;
d) Viện kiểm sát đã yêu cầu chuyển vụ án quan điều tra, quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không thực hiện.
2. Việc chuyển vụ án ra ngoài phạm vi tỉnh, thành phố hoặc ngoài phạm vi
quân khu do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân
khu quyết định.
3. Thủ tục chuyển vụ án để điều tra theo thẩm quyền:
122
a) Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của Cơ quan điều
tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện
kiểm sát có thẩm quyền phải ra quyết định chuyển vụ án;
b) Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định chuyển vụ án, Viện kiểm
sát phải gửi quyết định đó đến quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra đang điều tra vụ án, quan điều tra
thẩm quyền tiếp tục điều tra vụ án, bị can hoặc người đại diện của bị can, người
bào chữa, bị hại và Viện kiểm sát có thẩm quyền.
4. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định chuyển vụ án,
quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra đang điều tra vụ án trách nhiệm chuyển hồ vụ án cho quan
điều tra có thẩm quyền để tiếp tục điều tra.
5. Thời hạn điều tra được tính tiếp từ ngày Cơ quan điều tra nhận được hồ
vụ án cho đến hết thời hạn điều tra vụ án theo quy định của Bộ luật này.
Trường hợp hết thời hạn điều tra không thể kết thúc việc điều tra thì Viện
kiểm sát thẩm quyền xem xét, quyết định gia hạn điều tra theo thủ tục chung
quy định tại Bộ luật này.
Điều 176. Nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra
1. quan điều tra thể nhập để tiến hành điều tra theo thẩm quyền
trong cùng một vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Bị can phạm nhiều tội;
b) Bị can phạm tội nhiều lần;
c) Nhiều bị can cùng thực hiện một tội phạm hoặc cùng với bị can còn có
những người khác che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm, tiêu thụ tài
sản do bị can phạm tội mà có.
2. quan điều tra chỉ được tách vụ án trong trường hợp cần thiết khi
không thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm nếu việc
tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ
án.
123
3. Quyết định nhập hoặc tách vụ án phải gửi cho Viện kiểm sát thẩm
quyền trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định. Trường hợp không nhất trí
với quyết định nhập hoặc tách vụ án của quan điều tra thì Viện kiểm sát ra
quyết định hủy bỏ và nêu rõ lý do.
Điều 177. Ủy thác điều tra
1. Khi cần thiết, quan điều tra ủy thác cho quan điều tra khác tiến
hành một số hoạt động điều tra. Quyết định ủy thác điều tra phải ghi rõ yêu cầu
gửi cho quan điều tra được ủy thác, Viện kiểm sát thẩm quyền thực
hành quyền công tố, kiểm sát đối với hoạt động điều tra được ủy thác.
2. quan điều tra được ủy thác phải thực hiện đầy đủ những việc được
ủy thác trong thời hạn quan điều tra ủy thác yêu cầu và chịu trách nhiệm
trước pháp luật về kết quả thực hiện ủy thác điều tra. Trường hợp không thực
hiện được việc ủy thác thì phải ngay văn bản nêu do gửi quan điều
tra đã ủy thác.
3. Viện kiểm sát thẩm quyền trách nhiệm thực hành quyền công tố
kiểm sát đối với hoạt động điều tra được ủy thác và phải chuyển ngay kết quả
cho Viện kiểm sát đã ủy thác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
Điều 178. Thời hạn điều tra
1. Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít
nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04
tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ
khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.
2. Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì
chậm nhất 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, quan điều tra phải
văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.
Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:
a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thể được gia hạn điều tra một lần
không quá 02 tháng;
b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần
thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng;
124
c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng thể được gia hạn điều tra hai lần,
mỗi lần không quá 04 tháng;
d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba
lần, mỗi lần không quá 04 tháng.
3. Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã
hết nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra
thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thể gia hạn thêm một lần
không quá 04 tháng.
Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.
4. Trường hợp thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự,
nhập vụ án thì tổng thời hạn điều tra không vượt quá thời hạn quy định tại các
khoản 1, 2 và 3 Điều này.
5. Thẩm quyền gia hạn điều tra của Viện kiểm sát:
a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực,
Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra. Trường hợp vụ án do Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu thực hành quyền
công tố, kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát
quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra;
b) Đối với tội phạm nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực,
Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất lần thứ hai.
Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự
cấp quân khu thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất
và lần thứ hai;
c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực,
Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất; Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ hai.
Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự
cấp quân khu thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát nhân
125
dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất
và lần thứ hai;
d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ
hai; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương gia hạn
điều tra lần thứ ba.
6. Trường hợp vụ án do quan điều tra Bộ Công an, quan điều tra
Bộ Quốc phòng, quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý điều tra
thì việc gia hạn điều tra thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát quân sự trung ương.
Điều 179. Thời hạn tạm giam để điều tra
1. Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội
phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng,
không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng.
2. Trường hợp vụ án nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian
dài hơn cho việc điều tra không căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp
tạm giam thì chậm nhất 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, quan
điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.
Việc gia hạn tạm giam được quy định như sau:
a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần
không quá 01 tháng;
b) Đối với tội phạm nghiêm trọng thể được gia hạn tạm giam một lần
không quá 02 tháng;
c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng thể được gia hạn tạm giam một
lần không quá 03 tháng;
d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thể được gia hạn tạm giam
hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng.
3. Thẩm quyền gia hạn tạm giam của Viện kiểm sát:
126
a) Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự khu vực
quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm
trọng tội phạm rất nghiêm trọng. Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu thực hành quyền công tố,
kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp
quân khu quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm
nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng.
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia
hạn tạm giam lần thứ nhất đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
b) Trường hợp thời hạn gia hạn tạm giam lần thứ nhất quy định tại điểm a
khoản này đã hết chưa thể kết thúc việc điều tra và không có căn cứ để thay
đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu thể gia hạn tạm giam lần thứ hai đối với tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng.
4. Trường hợp vụ án do quan điều tra Bộ Công an, quan điều tra
Bộ Quốc phòng, quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý điều tra
thì việc gia hạn tạm giam thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát quân sự trung ương.
5. Trường hợp cần thiết đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá
04 tháng. Trường hợp thời hạn gia hạn tạm giam quy định tại khoản này đã hết
chưa thể kết thúc việc điều tra không căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ
biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia
hạn thêm một lần nhưng không quá 01 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng,
không quá 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối
với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trường hợp đặc biệt đối với tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia không căn cứ để hủy bỏ
biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định
việc tạm giam cho đến khi kết thúc việc điều tra.
6. Trường hợp cần thiết đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng không
phải tội xâm phạm an ninh quốc gia và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy
bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền
127
gia hạn thêm một lần nhưng không quá 04 tháng; trường hợp đặc biệt không có
căn cứ để hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao quyết định việc tạm giam cho đến khi kết thúc việc điều tra.
7. Trong thời hạn tạm giam, nếu xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm
giam thì quan điều tra phải kịp thời đề nghị Viện kiểm sát hủy bỏ việc tạm
giam để trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét thấy cần thiết thì áp dụng biện
pháp ngăn chặn khác.
Khi đã hết thời hạn tạm giam thì người bị tạm giam phải được trả tự do.
Trường hợp xét thấy cần thiết thì quan thẩm quyền tiến hành tố tụng áp
dụng biện pháp ngăn chặn khác.
Điều 180. Thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại
1. Trường hợp phục hồi điều tra quy định tại Điều 235 của Bộ luật này thì
thời hạn điều tra tiếp không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội
phạm nghiêm trọng không quá 03 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng,
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi có quyết định phục hồi điều tra cho đến
khi kết thúc điều tra.
Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm
nhất 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản
đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.
Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:
a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thể được gia hạn điều tra một lần
không quá 01 tháng;
b) Đối với tội phạm nghiêm trọng tội phạm rất nghiêm trọng thể
được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng;
c) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thể được gia hạn điều tra
một lần không quá 03 tháng.
Thẩm quyền gia hạn điều tra đối với từng loại tội phạm theo quy định tại
khoản 5 Điều 178 của Bộ luật này.
2. Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung
thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 02 tháng; nếu do Tòa án trả lại để yêu
128
cầu điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 01 tháng. Viện kiểm
sát chỉ được trả lại hồ để điều tra bổ sung hai lần. Thẩm phán chủ tọa phiên
tòa chỉ được trả hồ để điều tra bổ sung một lần Hội đồng xét xử chỉ được
trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần.
Thời hạn điều tra bổ sung tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ
án và yêu cầu điều tra bổ sung.
3. Trường hợp vụ án được trả lại để điều tra lại thì thời hạn điều tra và gia
hạn điều tra thực hiện theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này.
Thời hạn điều tra được tính từ khi Cơ quan điều tra nhận hồ sơ và yêu cầu
điều tra lại.
4. Khi phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại, Cơ quan điều tra có
quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo
quy định của Bộ luật này.
Trường hợp căn cứ theo quy định của Bộ luật này cần phải tạm giam
thì thời hạn tạm giam để phục hồi điều tra, điều tra bổ sung không được quá thời
hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung quy định tại khoản 1 khoản 2 Điều
này.
Thời hạn tạm giam và gia hạn tạm giam trong trường hợp vụ án được điều
tra lại thực hiện theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật này.
Điều 181. Giải quyết yêu cầu, đề nghị của người tham gia tố tụng
1. Khi người tham gia tố tụng yêu cầu, đề nghị về những vấn đề liên
quan đến vụ án thì quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát trong phạm vi trách nhiệm của mình giải
quyết yêu cầu, đề nghị đó báo cho họ biết kết quả. Trường hợp không chấp
nhận yêu cầu, đề nghị thì quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra hoặc Viện kiểm sát phải trả lời và nêu rõ lý do.
2. Trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết của Cơ quan điều tra,
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc Viện kiểm
sát thì người tham gia tố tụng quyền khiếu nại. Việc khiếu nại giải quyết
khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Chương XXXIII của Bộ luật này.
129
Điều 182. Sự tham dự của người chứng kiến
Người chứng kiến được triệu tập để chứng kiến hoạt động điều tra trong
các trường hợp do Bộ luật này quy định.
Người chứng kiến trách nhiệm xác nhận nội dung, kết quả công việc
người thẩm quyền tiến hành tố tụng đã tiến hành trong khi mình mặt
và có thể nêu ý kiến cá nhân. Ý kiến này được ghi vào biên bản.
Điều 183. Không được tiết lộ bí mật điều tra
Trường hợp cần giữ mật điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm
sát viên, Kiểm tra viên phải yêu cầu người tham gia tố tụng không được tiết lộ bí
mật điều tra. Yêu cầu này được ghi vào biên bản.
Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, người tham
gia tố tụng tiết lộ mật điều tra thì tùy tính chất, mức độ vi phạm bị xử
kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo
quy định của luật.
Điều 184. Biên bản điều tra
Khi tiến hành hoạt động điều tra, người thẩm quyền tiến hành tố tụng
phải lập biên bản theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật này.
Điều tra viên, Cán bộ điều tra lập biên bản phải đọc biên bản cho người
tham gia tố tụng nghe, giải thích cho họ quyền được bổ sung và nhận xét về biên
bản. Ý kiến bổ sung, nhận xét được ghi vào biên bản; trường hợp không chấp
nhận bổ sung thì ghi do vào biên bản. Người tham gia tố tụng, Điều tra
viên, Cán bộ điều tra cùng ký tên vào biên bản.
Trường hợp Kiểm sát viên, Kiểm tra viên lập biên bản thì biên bản được
thực hiện theo quy định tại Điều này. Biên bản phải được chuyển ngay cho Điều
tra viên để đưa vào hồ sơ vụ án.
Việc lập biên bản trong giai đoạn khởi tố được thực hiện theo quy định tại
Điều này.
Chương XII
KHỞI TỐ BỊ CAN VÀ HỎI CUNG BỊ CAN
Điều 185. Khởi tố bị can
130
1. Khi đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện
hành vi Bộ luật Hình sự quy định tội phạm thì quan điều tra ra quyết
định khởi tố bị can.
2. Quyết định khởi tố bị can ghi thời gian, địa điểm ra quyết định; họ
tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, quốc tịch, dân
tộc, tôn giáo, giới tính, số định danh cá nhân, chỗ ở, nghề nghiệp của bị can; bị
can bị khởi tố về tội gì, theo điều, khoản nào của Bộ luật Hình sự; thời gian, địa
điểm phạm tội và những tình tiết khác của tội phạm.
Trường hợp bị can bị khởi tố về nhiều tội khác nhau thì quyết định khởi tố
bị can phải ghi từng tội danh điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp
dụng.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, quan
điều tra phải gửi quyết định khởi tố tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can
cho Viện kiểm sát thẩm quyền để xét phê chuẩn. Trong thời hạn 03 ngày kể
từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê
chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc yêu cầu bổ sung
chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn gửi ngay cho Cơ
quan điều tra.
Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong
thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu bổ sung, Viện kiểm sát
phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can.
4. Trường hợp phát hiện người đã thực hiện hành vi Bộ luật Hình
sự quy định tội phạm chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều
tra ra quyết định khởi tố bị can hoặc trực tiếp ra quyết định khởi tố bị can nếu đã
yêu cầu nhưng quan điều tra không thực hiện. Trong thời hạn 24 giờ kể từ
khi ra quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải gửi cho Cơ quan điều tra để
tiến hành điều tra.
Sau khi nhận hồ kết luận điều tra nếu Viện kiểm sát phát hiện
người khác đã thực hiện hành vi Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm trong
vụ án chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can và trả hồ sơ
cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung.
131
5. Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can hoặc
quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát, quan điều tra phải giao ngay
quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và giải
thích quyền, nghĩa vụ cho bị can.
Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can,
quan điều tra phải chụp ảnh, lập danh bản, chỉ bản của người bị khởi tố đưa
vào hồ sơ vụ án.
Việc giao, nhận các quyết định nêu trên được lập biên bản theo quy định
tại Điều 140 của Bộ luật này. Việc giao, nhận các quyết định nêu trên được lập
biên bản theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật này.
Điều 186. Thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can
1. quan điều tra, Viện kiểm sát thay đổi quyết định khởi tố bị can khi
thuộc một trong các trường hợp:
a) Khi tiến hành điều tra nếu căn cứ xác định hành vi của bị can không
phạm vào tội đã bị khởi tố;
b) Quyết định khởi tố ghi không đúng họ, tên, tuổi, nhân thân của bị can.
2. quan điều tra, Viện kiểm sát phải bổ sung quyết định khởi tố bị can
nếu căn cứ xác định bị can còn thực hiện hành vi khác Bộ luật Hình sự
quy định là tội phạm.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung
quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định này và tài liệu có
liên quan đến việc thay đổi hoặc bổ sung đó cho Viện kiểm sát có thẩm quyền để
xét phê chuẩn. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thay đổi
hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn
hoặc quyết định hủy bỏ quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị
can hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê
chuẩn và gửi ngay cho Cơ quan điều tra.
Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong
thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu bổ sung, Viện kiểm sát
ra quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết
định khởi tố bị can.
132
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc
bổ sung quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải gửi cho quan điều tra
để tiến hành điều tra.
4. Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết
định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc
bổ sung quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra phải giao
ngay quyết định này cho người đã bị khởi tố.
Việc giao, nhận các quyết định nêu trên được lập biên bản theo quy định
tại Điều 140 của Bộ luật này.
Điều 187. Tạm đình chỉ chức vụ bị can đang đảm nhiệm
Khi xét thấy việc bị can tiếp tục giữ chức vụ gây khó khăn cho việc điều
tra thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra, Viện kiểm sát quyền kiến nghị với quan, tổ chức thẩm quyền
quản bị can tạm đình chỉ chức vụ của bị can. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được kiến nghị, quan, tổ chức này phải trả lời bằng văn bản cho
quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra, Viện kiểm sát đã kiến nghị biết.
Điều 188. Triệu tập bị can
1. Khi triệu tập bị can, Điều tra viên phải gửi giấy triệu tập. Giấy triệu tập
bị can ghi họ tên, chỗ của bị can; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm mặt,
thời gian làm việc, gặp ai trách nhiệm về việc vắng mặt không do bất
khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.
2. Giấy triệu tập bị can được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp nơi bị can
trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi bị can làm việc, học tập. Cơ quan, tổ chức nhận
được giấy triệu tập có trách nhiệm chuyển ngay giấy triệu tập cho bị can.
Khi nhận giấy triệu tập, bị can phải nhận ghi giờ, ngày nhận.
Người chuyển giấy triệu tập phải chuyển phần giấy triệu tập nhận của bị
can cho cơ quan đã triệu tập bị can; nếu bị can không ký nhận thì lập biên bản về
việc đó gửi cho quan triệu tập bị can; nếu bị can vắng mặt thì có thể giao
giấy triệu tập cho người thân thích của bị can đủ năng lực hành vi dân sự để
ký xác nhận và chuyển cho bị can.
133
3. Bị can phải mặt theo giấy triệu tập. Trường hợp vắng mặt không
do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc có biểu hiện trốn tránh thì
Điều tra viên có thể ra quyết định áp giải.
4. Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên thể triệu tập bị can. Việc triệu
tập bị can được tiến hành theo quy định tại Điều này.
Điều 189. Hỏi cung bị can
1. Việc hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi quyết
định khởi tố bị can. thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi
của người đó. Trước khi hỏi cung bị can, Điều tra viên phải thông báo cho
Kiểm sát viên người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung. Khi xét thấy cần
thiết, Kiểm sát viên tham gia việc hỏi cung bị can.
2. Trước khi tiến hành hỏi cung lần đầu, Điều tra viên phải giải thích cho
bị can biết quyền nghĩa vụ theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật này. Việc
này phải ghi vào biên bản.
Trường hợp vụ án có nhiều bị can thì hỏi riêng từng người và không để họ
tiếp xúc với nhau. Có thể cho bị can viết bản tự khai của mình.
3. Không hỏi cung bị can vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn
được nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.
4. Kiểm sát viên hỏi cung bị can trong trường hợp bị can kêu oan, khiếu
nại hoạt động điều tra hoặc căn cứ xác định việc điều tra vi phạm pháp luật
hoặc trong trường hợp khác khi xét thấy cần thiết. Việc Kiểm sát viên hỏi cung
bị can được tiến hành theo quy định tại Điều này.
5. Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên bức cung,
dùng nhục hình đối với bị can thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định
của Bộ luật Hình sự.
6. Việc hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra,
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được ghi
âm hoặc ghi hình có âm thanh.
134
Việc hỏi cung bị can tại địa điểm khác được ghi âm hoặc ghi hình âm
thanh theo yêu cầu của bị can hoặc của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng.
Điều 190. Biên bản hỏi cung bị can
1. Mỗi lần hỏi cung bị can đều phải lập biên bản.
Biên bản hỏi cung bị can được lập theo quy định tại Điều 184 của Bộ luật
này; phải ghi đầy đủ lời trình bày của bị can, các câu hỏi và câu trả lời. Nghiêm
cấm Điều tra viên, Cán bộ điều tra tự mình thêm, bớt hoặc sửa chữa lời khai của
bị can.
2. Sau khi hỏi cung, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải đọc biên bản cho
bị can nghe hoặc để bị can tự đọc. Trường hợp bổ sung, sửa chữa biên bản thì
Điều tra viên, Cán bộ điều tra bị can cùng xác nhận. Nếu biên bản
nhiều trang thì bị can vào từng trang biên bản. Trường hợp bị can viết bản tự
khai thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra bị can cùng xác nhận vào bản tự
khai đó.
3. Trường hợp hỏi cung bị can người phiên dịch thì Điều tra viên, Cán
bộ điều tra phải giải thích quyền nghĩa vụ của người phiên dịch, đồng thời
giải thích cho bị can biết quyền yêu cầu thay đổi người phiên dịch; người phiên
dịch phải ký vào từng trang của biên bản hỏi cung.
Trường hợp hỏi cung bị can có mặt người bào chữa, người đại diện của bị
can thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích cho những người này biết
quyền nghĩa vụ của họ trong khi hỏi cung bị can. Bị can, người bào chữa,
người đại diện cùng ký vào biên bản hỏi cung. Trường hợp người bào chữa được
hỏi bị can thì biên bản phải ghi đầy đủ câu hỏi của người bào chữa và trả lời của
bị can.
4. Trường hợp Kiểm sát viên hỏi cung bị can thì biên bản được thực hiện
theo quy định của Điều này. Biên bản hỏi cung bị can được chuyển ngay cho
Điều tra viên để đưa vào hồ sơ vụ án.
Chương XIII
135
LẤY LỜI KHAI NGƯỜI LÀM CHỨNG, NGƯỜI BỊ HẠI, NGUYÊN ĐƠN
DÂN SỰ, BỊ ĐƠN DÂN SỰ, NGƯỜI CÓ QUYỀN LỢI, NGHĨA VỤ LIÊN
QUAN ĐẾN VỤ ÁN, ĐỐI CHẤT VÀ NHẬN BIẾT GIỌNG NÓI
Điều 191. Triệu tập người làm chứng
1. Khi triệu tập người làm chứng đến lấy lời khai, Điều tra viên phải gửi
giấy triệu tập.
2. Giấy triệu tập người làm chứng ghi họ tên, chỗ ở hoặc nơi làm việc,
học tập của người làm chứng; giờ, ngày, tháng, năm địa điểm mặt; mục
đích nội dung làm việc, thời gian làm việc; gặp ai trách nhiệm về việc
vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.
3. Việc giao giấy triệu tập được thực hiện như sau:
a) Giấy triệu tập được giao trực tiếp cho người làm chứng hoặc thông qua
Ủy ban nhân dân cấp nơi người làm chứng trú hoặc quan, tổ chức nơi
người làm chứng làm việc, học tập. Trong mọi trường hợp, việc giao giấy triệu
tập phải được ký nhận. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người làm chứng cư trú hoặc
quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc, học tập có trách nhiệm tạo điều
kiện cho người làm chứng thực hiện nghĩa vụ;
b) Giấy triệu tập người làm chứng dưới 18 tuổi được giao cho cha, mẹ
hoặc người đại diện khác của họ;
c) Việc giao giấy triệu tập người làm chứng theo ủy thác tư pháp của nước
ngoài được thực hiện theo quy định tại khoản này và Luật Tương trợ tư pháp về
hình sự.
4. Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên thể triệu tập người làm chứng
để lấy lời khai. Việc triệu tập người làm chứng được thực hiện theo quy định tại
Điều này.
Điều 192. Lấy lời khai người làm chứng
1. Việc lấy lời khai người làm chứng được tiến hành tại nơi tiến hành điều
tra, nơi cư trú, nơi làm việc hoặc nơi học tập của người đó.
2. Nếu vụ án nhiều người làm chứng thì phải lấy lời khai riêng từng
người và không để cho họ tiếp xúc, trao đổi với nhau trong thời gian lấy lời khai.
136
3. Trước khi lấy lời khai, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích cho
người làm chứng biết quyền nghĩa vụ của họ theo quy định tại Điều 66 của
Bộ luật này. Việc này phải ghi vào biên bản.
4. Trước khi hỏi về nội dung vụ án, Điều tra viên phải hỏi về mối quan hệ
giữa người làm chứng với bị can, bị hại và những tình tiết khác về nhân thân của
người làm chứng. Điều tra viên yêu cầu người làm chứng trình bày hoặc tự viết
một cách trung thực tự nguyện những gì họ biết về vụ án, sau đó mới đặt câu
hỏi.
5. Trường hợp xét thấy việc lấy lời khai của Điều tra viên không khách
quan hoặc vi phạm pháp luật hoặc xét cần làm chứng cứ, tài liệu để quyết
định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định tố tụng của Cơ quan điều
tra hoặc để quyết định việc truy tố thì Kiểm sát viên thể lấy lời khai người
làm chứng. Việc lấy lời khai người làm chứng được tiến hành theo quy định tại
Điều này.
Điều 193. Biên bản ghi lời khai của người làm chứng
Biên bản ghi lời khai của người làm chứng được lập theo quy định tại
Điều 184 của Bộ luật này.
Việc lấy lời khai của người làm chứng thể ghi âm hoặc ghi hình có âm
thanh.
Điều 194. Triệu tập, lấy lời khai của bị hại, đương sự
Việc triệu tập, lấy lời khai của bị hại, đương sự được thực hiện theo quy
định tại các điều 191, 192 và 193 của Bộ luật này.
Việc lấy lời khai của bị hại, đương sự thể ghi âm hoặc ghi hình có âm
thanh.
Điều 195. Đối chất
1. Trường hợp mâu thuẫn trong lời khai giữa hai người hay nhiều
người đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được
mâu thuẫn thì Điều tra viên tiến hành đối chất. Trước khi tiến hành đối chất,
Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát thẩm quyền để cử Kiểm sát
137
viên kiểm sát việc đối chất. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc đối chất.
Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản đối chất.
2. Nếu người làm chứng hoặc bị hại tham gia thì trước khi đối chất
Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh
khai báo hoặc cố tình khai báo gian dối. Việc này phải ghi vào biên bản.
3. Khi bắt đầu đối chất, Điều tra viên hỏi về mối quan hệ giữa những
người tham gia đối chất, sau đó hỏi họ về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Sau
khi nghe đối chất, Điều tra viên có thể hỏi thêm từng người.
Trong quá trình đối chất, Điều tra viên có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ
vật liên quan; thể để cho những người tham gia đối chất hỏi lẫn nhau; câu
hỏi và trả lời của những người này phải ghi vào biên bản.
Chỉ sau khi những người tham gia đối chất đã khai xong mới được nhắc
lại những lời khai trước đó của họ.
4. Biên bản đối chất được lập theo quy định tại Điều 184 của Bộ luật này.
Việc đối chất có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
5. Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên thể tiến hành đối chất. Việc đối
chất được tiến hành theo quy định tại Điều này.
Điều 196. Nhận dạng
1. Khi cần thiết, Điều tra viên thể đưa người, ảnh hoặc vật cho người
làm chứng, bị hại hoặc bị can nhận dạng.
Số người, ảnh hoặc vật đưa ra để nhận dạng ít nhất phải là ba và bề ngoài
phải tương tự nhau, trừ trường hợp nhận dạng tử thi.
Trước khi tiến hành nhận dạng, Điều tra viên phải thông báo cho Viện
kiểm sát thẩm quyền để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc nhận dạng. Kiểm sát
viên phải mặt để kiểm sát việc nhận dạng. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì
ghi rõ vào biên bản nhận dạng.
2. Những người sau đây phải tham gia việc nhận dạng:
a) Người làm chứng, bị hại hoặc bị can;
b) Người chứng kiến.
138
3. Nếu người làm chứng hoặc bị hại người nhận dạng thì trước khi tiến
hành, Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn
tránh khai báo hoặc cố ý khai báo gian dối. Việc này phải ghi vào biên bản.
4. Điều tra viên phải hỏi trước người nhận dạng về những tình tiết, vết tích
và đặc điểm mà nhờ đó họ có thể nhận dạng được.
Trong quá trình tiến hành nhận dạng, Điều tra viên không được đặt câu
hỏi gợi ý. Sau khi người nhận dạng đã xác nhận một người, một vật hay một ảnh
trong số được đưa ra để nhận dạng thì Điều tra viên yêu cầu họ giải thích họ
đã căn cứ vào các vết tích hoặc đặc điểm xác nhận được người, vật hay
ảnh đó.
5. Biên bản nhận dạng được lập theo quy định tại Điều 184 của Bộ luật
này. Biên bản ghi nhân thân, tình trạng sức khỏe của người nhận dạng và của
những người được đưa ra để nhận dạng; đặc điểm của vật, ảnh được đưa ra để
nhận dạng; các lời khai báo, trình bày của người nhận dạng; điều kiện ánh sáng
khi thực hiện nhận dạng.
Điều 197. Nhận biết giọng nói
1. Khi cần thiết, Điều tra viên thể cho bị hại, người làm chứng hoặc
người bị bắt, bị tạm giữ, bị can nhận biết giọng nói.
Số giọng nói được đưa ra để nhận biết ít nhất phải là ba và phải có âm sắc,
âm lượng tương tự nhau.
Trước khi tiến hành nhận biết giọng nói, Điều tra viên phải thông báo cho
Viện kiểm sát thẩm quyền để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc nhận biết giọng
nói. Kiểm sát viên phải mặt để kiểm sát việc nhận biết giọng nói. Nếu Kiểm
sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản nhận biết giọng nói.
2. Những người sau đây phải tham gia việc nhận biết giọng nói:
a) Giám định viên về âm thanh;
b) Người được yêu cầu nhận biết giọng nói;
c) Người được đưa ra để nhận biết giọng nói, trừ trường hợp việc nhận
biết giọng nói được thực hiện qua phương tiện ghi âm;
d) Người chứng kiến.
139
3. Nếu người làm chứng, bị hại được yêu cầu nhận biết giọng nói thì trước
khi tiến hành, Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ
chối, trốn tránh khai báo hoặc cố ý khai báo gian dối. Việc này phải ghi vào biên
bản.
4. Điều tra viên phải hỏi trước người được yêu cầu nhận biết giọng nói về
những đặc điểm mà nhờ đó họ có thể nhận biết được giọng nói.
Trong quá trình tiến hành nhận biết giọng nói, Điều tra viên không được
đặt câu hỏi gợi ý. Sau khi người được yêu cầu nhận biết giọng nói đã xác nhận
được tiếng nói trong số giọng nói được đưa ra thì Điều tra viên yêu cầu họ giải
thích là họ đã căn cứ vào đặc điểm gì mà xác nhận giọng nói đó.
5. Biên bản nhận biết giọng nói được lập theo quy định tại Điều 184 của
Bộ luật này. Biên bản ghi nhân thân, tình trạng sức khỏe của người được yêu
cầu nhận biết giọng nói và của những người được đưa ra để nhận biết giọng nói;
đặc điểm của giọng nói được đưa ra để nhận biết, lời trình bày của người nhận
biết giọng nói; điều kiện về không gian khi thực hiện nhận biết giọng nói.
Chương XIV
KHÁM XÉT, THU GIỮ, TẠM GIỮ TÀI LIỆU, ĐỒ VẬT
Điều 198. Căn cứ khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm,
phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu
điện tử
1. Việc khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện chỉ
được tiến hành khi căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa
điểm, phương tiện công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do
phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.
Việc khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện cũng được tiến
hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân.
2. Khi căn cứ để nhận định trong thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm,
dữ liệu điện tử công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên
140
quan đến vụ án thì có thể khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu
điện tử.
Điều 199. Thẩm quyền ra lệnh khám xét
1. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 119 và khoản 2
Điều 35 của Bộ luật này quyền ra lệnh khám xét. Lệnh khám xét của những
người được quy định tại khoản 2 Điều 40 điểm a khoản 1 Điều 119 của Bộ
luật này phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
2. Trong trường hợp khẩn cấp, những người thẩm quyền quy định tại
khoản 2 Điều 116 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét. Trong thời hạn 24
giờ kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn
bản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
3. Trước khi tiến hành khám xét, Điều tra viên phải thông báo cho Viện
kiểm sát thẩm quyền về thời gian và địa điểm tiến hành khám xét để cử Kiểm
sát viên kiểm sát việc khám xét, trừ trường hợp khám xét khẩn cấp. Kiểm sát
viên phải mặt để kiểm sát việc khám xét. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi
rõ vào biên bản khám xét.
4. Mọi trường hợp khám xét đều được lập biên bản theo quy định tại Điều
184 của Bộ luật này và đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 200. Khám xét người
1. Khi bắt đầu khám xét người, người thi hành lệnh khám xét phải đọc
lệnh và đưa cho người bị khám xét đọc lệnh đó; giải thích cho người bị khám xét
và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ.
Người tiến hành khám xét phải yêu cầu người bị khám xét đưa ra các tài
liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, nếu họ từ chối hoặc đưa ra không đầy đủ các
tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án thì tiến hành khám xét.
2. Việc khám xét người phải do người cùng giới thực hiện người
khác cùng giới chứng kiến. Việc khám xét không được xâm phạm đến tính
mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị khám xét.
141
3. thể tiến hành khám xét người không cần lệnh trong trường
hợp bắt người hoặc khi căn cứ để khẳng định người mặt tại nơi khám xét
giấu trong người vũ khí, hung khí, chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án.
Điều 201. Khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện
1. Khi khám xét chỗ thì phải mặt người đó hoặc người từ đủ 18 tuổi
trở lên cùng chỗ ở, đại diện Ủy ban nhân dân cấp người chứng kiến;
trường hợp người đó, người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ cố tình vắng mặt,
bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn
thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải đại diện Ủy ban nhân dân
cấp xã nơi khám xét và hai người chứng kiến.
Không được bắt đầu việc khám xét chỗ vào ban đêm, trừ trường hợp
khẩn cấp nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.
2. Khi khám xét nơi làm việc của một người thì phải có mặt người đó, trừ
trường hợp không thể trì hoãn nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.
Việc khám xét nơi làm việc phải đại diện của quan, tổ chức nơi
người đó làm việc chứng kiến. Trong trường hợp không đại diện cơ quan, tổ
chức thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải đại diện Ủy ban nhân
dân cấp xã nơi khám xét và 02 người chứng kiến.
3. Khi khám xét địa điểm phải đại diện Ủy ban nhân dân cấp nơi
khám xét và người chứng kiến.
4. Việc khám xét phương tiện phải mặt chủ sở hữu hoặc người quản lý
phương tiện người chứng kiến. Trường hợp chủ sở hữu hoặc người quản
phương tiện vắng mặt, bỏ trốn hoặc do khác họ không mặt việc
khám xét không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có
hai người chứng kiến.
Khi khám xét phương tiện có thể mời người có chuyên môn liên quan đến
phương tiện tham gia.
5. Khi tiến hành khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện,
những người mặt không được tự ý rời khỏi nơi đang bị khám, không được
liên hệ, trao đổi với nhau hoặc với những người khác cho đến khi khám xét
xong.
142
Điều 202. Thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử
1. Việc thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử do người thẩm
quyền tiến hành tố tụng thực hiện và có thể mời người có chuyên môn liên quan
tham gia. Trường hợp không thể thu giữ được thì phải sao lưu vào phương tiện
lưu trữ và thu giữ như đối với vật chứng.
2. Khi thu giữ các phương tiện điện tử thể thu thiết bị ngoại vi kèm
theo và các tài liệu có liên quan.
Điều 203. Thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại quan,
tổ chức bưu chính, viễn thông
1. Khi cần thiết phải thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại
quan, tổ chức bưu chính, viễn thông thì quan điều tra ra lệnh thu giữ. Lệnh
này phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
2. Trường hợp không thể trì hoãn việc thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện,
bưu phẩm tại quan, tổ chức bưu chính, viễn thông thì Cơ quan điều tra có thể
tiến hành thu giữ nhưng phải ghi do vào biên bản. Sau khi thu giữ phải
thông báo ngay cho bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc thu giữ để
xét phê chuẩn.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn tài
liệu liên quan đến việc thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, Viện kiểm
sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Nếu Viện
kiểm sát quyết định không phê chuẩn thì người đã ra lệnh thu giữ phải trả lại
ngay cho cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông, đồng thời thông báo cho người
có thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm bị thu giữ biết.
3. Người thi hành lệnh phải thông báo cho người phụ trách quan, tổ
chức bưu chính, viễn thông hữu quan trước khi tiến hành thu giữ. Người quản lý
quan, tổ chức bưu chính, viễn thông hữu quan phải tạo điều kiện để người thi
hành lệnh thu giữ hoàn thành nhiệm vụ.
Khi thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, phải có đại diện của cơ
quan, tổ chức bưu chính, viễn thông chứng kiến và ký xác nhận vào biên bản.
143
quan ra lệnh thu giữ phải thông báo cho người có thư tín, điện tín, bưu
kiện, bưu phẩm bị thu giữ biết. Nếu việc thông báo cản trở điều tra thì sau khi
cản trở đó không còn nữa, cơ quan ra lệnh thu giữ phải thông báo ngay.
Điều 204. Tạm giữ tài liệu, đồ vật khi khám xét
1. Khi khám xét, Điều tra viên được tạm giữ đồ vật là vật chứng và tài liệu
liên quan trực tiếp đến vụ án. Đối với đồ vật thuộc loại cấm tàng trữ, lưu
hành thì phải thu giữ chuyển ngay cho quan quản thẩm quyền.
Trường hợp cần thiết phải niêm phong thì tiến hành trước mặt chủ sở hữu đồ vật,
người quản đồ vật, người chứng kiến, đại diện gia đình, đại diện Ủy ban nhân
dân cấp xã nơi khám xét.
2. Việc tạm giữ tài liệu, đồ vật khi tiến hành khám xét được lập biên bản
theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật này. Biên bản tạm giữ được lập thành
bốn bản, trong đó một bản giao cho người chủ tài liệu, đồ vật hoặc người quản
tài liệu, đồ vật, một bản đưa vào hồ sơ vụ án, một bản giao cho Viện kiểm sát
có thẩm quyền và một bản giao cho cơ quan quản lý tài liệu, đồ vật bị tạm giữ.
Điều 205. Trách nhiệm bảo quản phương tiện, tài liệu, đồ vật, dữ liệu
điện tử, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm bị thu giữ, tạm giữ hoặc bị
niêm phong
1. Phương tiện, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, thư tín, điện tín, bưu kiện,
bưu phẩm bị thu giữ, tạm giữ hoặc bị niêm phong phải được bảo quản nguyên
vẹn.
2. Người nào phá hủy niêm phong, tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo,
cất giấu hoặc hủy hoại phương tiện, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, thư tín, điện
tín, bưu kiện, bưu phẩm thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ
luật Hình sự.
Điều 206. Trách nhiệm của người ra lệnh, người thi hành lệnh khám
xét, thu giữ, tạm giữ
Người ra lệnh, người thi hành lệnh khám xét, thu giữ, tạm giữ trái pháp
luật thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách
nhiệm hình sự theo quy định của luật.
144
Chương XV
KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI, XEM
XÉT DẤU VẾT TRÊN THÂN THỂ, THỰC NGHIỆM ĐIỀU TRA
Điều 207. Khám nghiệm hiện trường
1. Điều tra viên chủ trì tiến hành khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện
tội phạm để phát hiện dấu vết của tội phạm, thu giữ vật chứng, tài liệu, đồ vật,
dữ liệu điện tử khác liên quan làm sáng tỏ những tình tiết ý nghĩa đối với
việc giải quyết vụ án.
2. Trước khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, Điều tra viên phải thông
báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền biết về thời gian, địa điểm tiến hành khám
nghiệm để cử Kiểm sát viên kiểm sát khám nghiệm hiện trường. Kiểm sát viên
phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường.
Khi khám nghiệm hiện trường phải người chứng kiến; thể cho bị
can, người bào chữa, bị hại, người làm chứng tham gia và mời người có chuyên
môn tham dự việc khám nghiệm.
3. Khi khám nghiệm hiện trường phải tiến hành chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả
hiện trường, đo đạc, dựng hình; xem xét tại chỗ thu lượm dấu vết của tội
phạm, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án; ghi kết quả khám nghiệm vào
biên bản. Biên bản khám nghiệm hiện trường được lập theo quy định tại Điều
184 của Bộ luật này.
Trường hợp không thể xem xét ngay được thì tài liệu, đồ vật thu giữ phải
được bảo quản, giữ nguyên trạng hoặc niêm phong đưa về nơi tiến hành điều tra.
Điều 208. Khám nghiệm tử thi
1. Việc khám nghiệm tử thi do giám định viên pháp y tiến hành dưới sự
chủ trì của Điều tra viên và phải có người chứng kiến.
Trước khi khám nghiệm tử thi, Điều tra viên phải thông báo cho Viện
kiểm sát thẩm quyền biết về thời gian và địa điểm tiến hành khám nghiệm để
cử Kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm tử thi. Kiểm sát viên phải mặt
để kiểm sát việc khám nghiệm tử thi.
145
2. Giám định viên kỹ thuật hình sự thể được mời tham gia khám
nghiệm tử thi để phát hiện, thu thập dấu vết phục vụ việc giám định.
3. Khi khám nghiệm tử thi phải tiến hành chụp ảnh, tả dấu vết để lại
trên tử thi; chụp ảnh, thu thập, bảo quản mẫu vật phục vụ công tác trưng cầu
giám định; ghi kết quả khám nghiệm vào biên bản. Biên bản khám nghiệm tử
thi được lập theo quy định tại Điều 184 của Bộ luật này.
4. Trường hợp cần khai quật tử thi thì phải quyết định của quan
điều tra thông báo cho người thân thích của người chết biết trước khi tiến
hành. Trường hợp người chết không hoặc không xác định được người thân
thích của họ thì thông báo cho đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi chôn cất tử
thi biết.
Điều 209. Xem xét dấu vết trên thân thể
1. Khi cần thiết, Điều tra viên tiến hành xem xét dấu vết của tội phạm
hoặc các dấu vết khác ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án trên thân thể
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can,
bị hại, người làm chứng. Trong trường hợp cần thiết thì quan điều tra trưng
cầu giám định.
2. Việc xem xét dấu vết trên thân thể phải do người cùng giới tiến hành và
phải người cùng giới chứng kiến. Trường hợp cần thiết thì thể mời bác
tham gia.
Nghiêm cấm xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người bị xem
xét dấu vết trên thân thể.
Khi xem xét dấu vết trên thân thể phải lập biên bản tả dấu vết để lại
trên thân thể; trường hợp cần thiết phải chụp ảnh, trưng cầu giám định. Biên bản
xem xét dấu vết trên thân thể được lập theo quy định tại Điều 184 của Bộ luật
này.
Điều 210. Thực nghiệm điều tra
1. Để kiểm tra, xác minh tài liệu, tình tiết ý nghĩa đối với việc giải
quyết vụ án, quan điều tra thể thực nghiệm điều tra bằng cách dựng lại
hiện trường, diễn lại hành vi, tình huống hoặc những tình tiết khác của một sự
việc nhất định tiến hành các hoạt động thực nghiệm cần thiết. Khi thực
146
nghiệm điều tra phải đo đạc, chụp ảnh, ghi hình, vẽ đồ, ghi kết quả thực
nghiệm điều tra vào biên bản.
Nghiêm cấm việc thực nghiệm điều tra xâm phạm đến tính mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người tham gia thực nghiệm điều tra
người khác.
2. Trước khi tiến hành thực nghiệm điều tra, Điều tra viên phải thông báo
cho Viện kiểm sát thẩm quyền biết về thời gian địa điểm tiến hành thực
nghiệm điều tra. Kiểm sát viên phải mặt để kiểm sát việc thực nghiệm điều
tra. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì phải ghi rõ vào biên bản.
3. Điều tra viên chủ trì tiến hành thực nghiệm điều tra việc thực
nghiệm điều tra phải có người chứng kiến.
Khi tiến hành thực nghiệm điều tra, quan điều tra có thể mời người có
chuyên môn tham gia. Trường hợp cần thiết, người bị tạm giữ, bị can, người bào
chữa, bị hại, người làm chứng có thể tham gia.
4. Trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát tiến hành thực nghiệm điều tra.
Việc thực nghiệm điều tra được tiến hành theo quy định tại Điều này.
Chương XV
GIÁM ĐỊNH VÀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN
Điều 211. Trưng cầu giám định
1. Khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 212 của Bộ luật
này hoặc khi xét thấy cần thiết thì quan thẩm quyền tiến hành tố tụng ra
quyết định trưng cầu giám định.
2. Quyết định trưng cầu giám định có các nội dung:
a) Tên quan trưng cầu giám định; họ tên người thẩm quyền trưng
cầu giám định;
b) Tên tổ chức; họ tên người được trưng cầu giám định;
c) Tên và đặc điểm của đối tượng cần giám định;
d) Tên tài liệu có liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo (nếu có);
đ) Nội dung yêu cầu giám định;
147
e) Ngày, tháng, năm trưng cầu giám định thời hạn trả kết luận giám
định.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định trưng cầu giám định,
quan trưng cầu giám định phải giao hoặc gửi quyết định trưng cầu giám định, hồ
sơ, đối tượng trưng cầu giám định cho tổ chức, cá nhân thực hiện giám định; gửi
quyết định trưng cầu giám định cho Viện kiểm sát thẩm quyền thực hành
quyền công tố và kiểm sát điều tra.
Điều 212. Các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định
Bắt buộc phải trưng cầu giám định khi cần xác định:
1. Tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi sự nghi ngờ về năng
lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị
hại khi sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng đắn về
những tình tiết của vụ án;
2. Tuổi của bị can, bị cáo, bị hại nếu việc đó ý nghĩa đối với việc giải
quyết vụ án không tài liệu để xác định chính xác tuổi của họ hoặc có nghi
ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó;
3. Nguyên nhân chết người;
4. Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao
động;
5. Chất ma tuý, khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất
phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ;
6. Mức độ ô nhiễm môi trường.
Điều 213. Yêu cầu giám định
1. Đương sự hoặc người đại diện của họ quyền đề nghị quan
thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định những vấn đề liên quan đến
quyền lợi ích hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc giám định liên quan đến
việc xác định trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, quan
tiến hành tố tụng phải xem xét, ra quyết định trưng cầu giám định. Trường hợp
không chấp nhận đề nghị thì thông báo cho người đã đề nghị giám định biết
148
bằng văn bản và nêu rõ lý do. Hết thời hạn này hoặc kể từ ngày nhận được thông
báo từ chối trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì
người đề nghị giám định có quyền tự mình yêu cầu giám định.
2. Người yêu cầu giám định các quyền nghĩa vụ theo quy định của
Luật Giám định tư pháp.
Điều 214. Thời hạn giám định
1. Thời hạn giám định đối với trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám
định:
a) Không quá 03 tháng đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 212
của Bộ luật này;
b) Không quá 01 tháng đối với trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản
6 Điều 212 của Bộ luật này;
c) Không quá 09 ngày đối với trường hợp quy định tại các khoản 2, 4 và 5
Điều 212 của Bộ luật này.
2. Thời hạn giám định đối với các trường hợp khác thực hiện theo quy
định của Luật Giám định tư pháp.
3. Trường hợp việc giám định không thể tiến hành trong thời hạn quy định
tại khoản 1 khoản 2 Điều này thì tổ chức, nhân tiến hành giám định phải
kịp thời thông báo bằng văn bản, nêu lý do cho cơ quan trưng cầu, người yêu
cầu giám định.
4. Thời hạn giám định quy định tại Điều này cũng áp dụng đối với trường
hợp giám định bổ sung, giám định lại.
Điều 215. Tiến hành giám định
1. Việc giám định thể tiến hành tại quan giám định hoặc tại nơi tiến
hành điều tra vụ án ngay sau khi có quyết định trưng cầu, yêu cầu giám định.
Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, người yêu cầu giám định có thể
tham dự giám định nhưng phải báo trước cho người giám định biết.
2. Việc giám định do cá nhân hoặc do tập thể thực hiện.
Điều 216. Giám định bổ sung
149
1. Việc giám định bổ sung được tiến hành trong trường hợp:
a) Nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ;
b) Khi phát sinh vấn đề mới cần phải giám định liên quan đến tình tiết của
vụ án đã có kết luận giám định trước đó.
2. Việc giám định bổ sung có thể do tổ chức, cá nhân đã giám định hoặc tổ
chức, cá nhân khác thực hiện.
3. Việc trưng cầu, yêu cầu giám định bổ sung được thực hiện như giám
định lần đầu.
Điều 217. Giám định lại
1. Việc giám định lại được thực hiện khi nghi ngờ kết luận giám định
lần đầu không chính xác. Việc giám định lại phải do người giám định khác thực
hiện.
2. quan trưng cầu giám định tự mình hoặc theo đề nghị của người
tham gia tố tụng quyết định việc trưng cầu giám định lại. Trường hợp người
trưng cầu giám định không chấp nhận yêu cầu giám định lại thì phải thông báo
cho người đề nghị giám định bằng văn bản và nêu rõ lý do.
3. Trường hợp sự khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu kết
luận giám định lại về cùng một nội dung giám định thì việc giám định lại lần thứ
hai do người trưng cầu giám định quyết định. Việc giám định lại lần thứ hai phải
do Hội đồng giám định thực hiện theo quy định của Luật Giám định tư pháp.
Điều 218. Giám định lại trong trường hợp đặc biệt
Trường hợp đặc biệt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc giám định lại sau khi đã có kết luận
của Hội đồng giám định. Việc giám định lại trong trường hợp đặc biệt phải do
Hội đồng mới thực hiện, những người đã tham gia giám định trước đó không
được giám định lại. Kết luận giám định lại trong trường hợp này được sử dụng
để giải quyết vụ án.
Điều 219. Kết luận giám định
150
1. Kết luận giám định phải ghi kết quả giám định đối với những nội
dung đã được trưng cầu, yêu cầu những nội dung khác theo quy định của
Luật Giám định tư pháp.
2. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra kết luận giám định, tổ chức, cá nhân
đã tiến hành giám định phải gửi kết luận giám định cho quan đã trưng cầu,
người yêu cầu giám định.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được kết luận giám định, cơ quan đã
trưng cầu, người yêu cầu giám định phải gửi kết luận giám định cho Viện kiểm
sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
3. Để làm sáng tỏ nội dung kết luận giám định, quan trưng cầu, người
yêu cầu giám định quyền yêu cầu tổ chức, nhân đã tiến hành giám định
giải thích kết luận giám định; hỏi thêm người giám định về những tình tiết cần
thiết.
Điều 220. Quyền của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng
khác đối với kết luận giám định
1. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị trưng cầu giám
định của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác, quan thẩm
quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, ra quyết định trưng cầu giám định.
2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được kết luận giám định thì cơ
quan thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo kết luận giám định cho bị
can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có liên quan.
3. Bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý
kiến của mình về kết luận giám định; đề nghị giám định bổ sung hoặc giám định
lại. Trường hợp họ trình bày trực tiếp thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án
phải lập biên bản.
4. Trường hợp quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không chấp nhận
đề nghị của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác thì phải thông báo
cho người đề nghị bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Điều 221. Yêu cầu định giá tài sản
151
1. Khi cần xác định giá của tài sản để giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng ra văn bản yêu cầu định giá tài sản.
2. Văn bản yêu cầu định giá tài sản có các nội dung:
a) Tên quan yêu cầu định giá; họ tên người thẩm quyền yêu cầu
định giá;
b) Tên Hội đồng định giá tài sản được yêu cầu;
c) Thông tin và đặc điểm của tài sản cần định giá;
d) Tên tài liệu có liên quan (nếu có);
đ) Nội dung yêu cầu định giá tài sản;
e) Ngày, tháng, năm yêu cầu định giá tài sản, thời hạn trả kết luận định giá
tài sản.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra văn bản yêu cầu định giá tài sản, cơ
quan yêu cầu định giá phải giao hoặc gửi văn bản yêu cầu định giá tài sản, hồ sơ,
đối tượng yêu cầu định giá tài sản cho Hội đồng định giá tài sản được yêu cầu;
gửi văn bản yêu cầu định giá tài sản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành
quyền công tố và kiểm sát điều tra.
4. Việc yêu cầu định giá tài sản để giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án
hình sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Điều 222. Thời hạn định giá tài sản
Việc định giá tài sản, trả kết luận định giá tài sản thực hiện theo thời hạn
nêu trong văn bản yêu cầu định giá tài sản. Trường hợp việc định giá tài sản
không thể tiến hành trong thời hạn yêu cầu, Hội đồng định giá tài sản phải kịp
thời thông báo bằng văn bản, nêu do cho quan, người đã yêu cầu định
giá biết.
Điều 223. Tiến hành định giá tài sản
1. Việc định giá tài sản do Hội đồng định giá tài sản tiến hành. Phiên họp
định giá tài sản thể thực hiện tại nơi tài sản được định giá hoặc nơi khác
theo quyết định của Hội đồng định giá tài sản.
152
Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán thể tham dự phiên họp định
giá tài sản nhưng phải báo trước cho Hội đồng định giá tài sản biết; khi được sự
đồng ý của Hội đồng định giá tài sản thì có quyền đưa ra ý kiến.
2. Chính phủ quy định chi tiết việc thành lập hoạt động của Hội đồng
định giá tài sản; trình tự, thủ tục định giá tài sản.
Điều 224. Định giá lại tài sản
1. Trường hợp nghi ngờ kết luận định giá lần đầu, quan thẩm
quyền tiến hành tố tụng tự mình hoặc theo đề nghị của người bị buộc tội, người
tham gia tố tụng khác ra văn bản yêu cầu định giá lại tài sản. Việc định giá lại tài
sản do Hội đồng định giá tài sản cấp trên trực tiếp thực hiện.
2. Trường hợp mâu thuẫn giữa kết luận định giá lần đầu kết luận
định giá lại về giá của tài sản cần định giá, quan thẩm quyền tiến hành tố
tụng ra văn bản yêu cầu định giá lại lần thứ hai. Việc định giá lại lần thứ hai do
Hội đồng định giá tài sản thẩm quyền thực hiện. Kết luận định giá lại trong
trường hợp này được sử dụng để giải quyết vụ án.
Điều 225. Định giá tài sản trong trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc
không còn
Trường hợp tài sản cần định giá bị thất lạc hoặc không còn thì việc định
giá tài sản được thực hiện theo hồ sơ của tài sản trên cơ sở các thông tin, tài liệu
thu thập được về tài sản cần định giá.
Điều 226. Định giá lại tài sản trong trường hợp đặc biệt
Trường hợp đặc biệt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc định giá lại tài sản khi đã có kết luận
định giá lại lần hai của Hội đồng định giá tài sản. Việc định giá lại tài sản trong
trường hợp đặc biệt phải do Hội đồng mới thực hiện. Người đã tham gia định giá
trước đó không được định giá lại. Kết luận định giá lại trong trường hợp này
được sử dụng để giải quyết vụ án.
Điều 227. Kết luận định giá tài sản
1. Kết luận định giá tài sản phải ghi rõ kết luận về giá của tài sản theo nội
dung yêu cầu định giá và các nội dung khác theo quy định của pháp luật.
153
2. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra kết luận định giá tài sản, Hội đồng
định giá tài sản phải gửi kết luận cho cơ quan yêu cầu định giá tài sản, người yêu
cầu định giá tài sản.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được kết luận định giá tài sản,
quan đã yêu cầu, người yêu cầu định giá tài sản phải gửi kết luận định giá tài sản
cho Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
3. Để làm sáng tỏ nội dung kết luận định giá tài sản, cơ quan yêu cầu định
giá tài sản quyền yêu cầu Hội đồng định giá tài sản giải thích kết luận định
giá; hỏi thêm Hội đồng định giá tài sản về những tình tiết cần thiết.
Điều 228. Quyền của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng
khác đối với kết luận định giá tài sản
1. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị định giá tài sản
của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác, quan thẩm quyền
tiến hành tố tụng phải xem xét, ra văn bản yêu cầu định giá tài sản.
2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được kết luận định giá tài sản
thì quan thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo kết luận định giá tài
sản cho bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có liên quan.
3. Bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý
kiến của mình về kết luận định giá; đề nghị định giá lại. Trường hợp họ trình bày
trực tiếp thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải lập biên bản.
4. Trường hợp quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không chấp nhận
đề nghị của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác thì phải thông báo
cho người đề nghị bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Chương XVII
BIỆN PHÁP ĐIỀU TRA TỐ TỤNG ĐẶC BIỆT
Điều 229. Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
Sau khi khởi tố vụ án, trong quá trình điều tra, người thẩm quyền tiến
hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt:
1. Ghi âm, ghi hình bí mật;
154
2. Nghe điện thoại bí mật;
3. Thu thập bí mật dữ liệu điện tử.
Điều 230. Trường hợp áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
Có thể áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt đối với các trường hợp:
1. Tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham
nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền;
2. Tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Điều 231. Thẩm quyền, trách nhiệm quyết định thi hành quyết
định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
1. Thủ trưởng quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng quan điều tra
quân sự cấp quân khu trở lên; Thủ trưởng quan điều tra Viện kiểm sát
nhân dân tối cao tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng
Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu trở lên có quyền ra quyết định áp dụng biện
pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra hình sự khu vực thụ lý, điều tra thì
Thủ trưởng quan điều tra hình sự khu vực đề nghị Thủ trưởng Cơ quan điều
tra quân sự cấp quân khu xem xét, quyết định áp dụng.
2. Quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt ghi rõ thông tin
cần thiết về đối tượng bị áp dụng, tên biện pháp được áp dụng, thời hạn, địa
điểm áp dụng, quan tiến hành biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt các nội
dung quy định tại khoản 2 Điều 139 của Bộ luật này.
3. Quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải được Viện
trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
Thủ trưởng quan điều tra đã ra quyết định áp dụng trách nhiệm
kiểm tra chặt chẽ việc áp dụng biện pháp này, kịp thời đề nghị Viện kiểm sát hủy
bỏ nếu xét thấy không còn cần thiết.
quan chuyên trách trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, Viện
kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật trách nhiệm thi hành quyết
định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
155
4. Thủ trưởng quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền
và người thi hành quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải giữ
bí mật.
Điều 232. Thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
1. Thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt không quá 02
tháng kể từ ngày Viện trưởng Viện kiểm sát phê chuẩn. Trường hợp phức tạp có
thể gia hạn nhưng không quá thời hạn điều tra theo quy định của Bộ luật này.
2. Chậm nhất 10 ngày trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp điều tra
tố tụng đặc biệt, nếu xét thấy cần gia hạn thì Thủ trưởng quan điều tra đã ra
quyết định áp dụng phải văn bản đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê
chuẩn xem xét, quyết định việc gia hạn.
Điều 233. Sử dụng thông tin, tài liệu thu thập được bằng biện pháp
điều tra tố tụng đặc biệt
1. Thông tin, tài liệu thu thập được bằng biện pháp điều tra tố tụng đặc
biệt chỉ được sử dụng vào việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự;
thông tin, tài liệu không liên quan đến vụ án phải tiêu hủy kịp thời.
Nghiêm cấm sử dụng thông tin, tài liệu, chứng cứ thu thập được vào mục
đích khác.
2. Thông tin, tài liệu thu thập được bằng việc áp dụng biện pháp điều tra
tố tụng đặc biệt có thể dùng làm chứng cứ để giải quyết vụ án.
3. quan điều tra trách nhiệm thông báo ngay kết quả việc áp dụng
biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt cho Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn.
Điều 234. Hủy bỏ việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp
điều tra tố tụng đặc biệt phải kịp thời hủy bỏ quyết định đó khi thuộc một trong
các trường hợp:
1. đề nghị bằng văn bản của Thủ trưởng quan điều tra thẩm
quyền;
2. Có vi phạm trong quá trình áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt;
3. Không cần thiết tiếp tục áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
156
Chương XVIII
TẠM ĐÌNH CHỈ ĐIỀU TRA VÀ KẾT THÚC ĐIỀU TRA
Điều 235. Tạm đình chỉ điều tra
1. Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi thuộc một trong
các trường hợp:
a) Khi chưa xác định được bị can hoặc không biết bị can đang đâu
nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án. Trường hợp không biết bị can đang
đâu, Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra;
b) Khi kết luận giám định pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần
hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết thời hạn điều
tra;
c) Khi đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản nhưng chưa có kết
quả hoặc đã yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa kết thúc theo quy
định của Luật Tương trợ pháp về hình sự đã hết thời hạn điều tra. Trong
trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản tiếp tục được tiến hành cho đến
khi kết quả; việc tương trợ pháp tiếp tục được tiến hành cho đến khi kết
thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự;
d) Khi không thể kết thúc điều tra vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch
bệnh nhưng đã hết thời hạn điều tra.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ
trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thủ trưởng các cơ quan khác
có liên quan quy định chi tiết điểm này;
đ) Khi bị can có đủ căn cứ được tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự
theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật này.
2. Trường hợp vụ án nhiều bị can mà lý do tạm đình chỉ điều tra không
liên quan đến tất cả bị can thì có thể tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can.
3. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ điều tra,
quan điều tra phải gửi quyết định này cho Viện kiểm sát thẩm quyền, bị
157
can, người bào chữa hoặc người đại diện của bị can; thông báo cho bị hại, đương
sự và người bảo vệ quyền lợi của họ.
4. Trong thời hạn điều tra, quan điều tra thẩm quyền xem xét ra
quyết định tạm đình chỉ điều tra khi đủ điều kiện theo quy định tại Điều
145 của Bộ luật này. Thời hạn tạm đình chỉ được ghi trong quyết định
nhưng không quá thời hạn quy định tại Điều 148 của Bộ luật này.
Điều 236. Đình chỉ điều tra
1. quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các
trường hợp:
a) một trong các căn cứ quy định tại Điều 145 điểm b khoản 2
Điều 146, khoản 2 Điều 161, Điều 163 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định
tại Điều 16 hoặc Điều 29 của Bộ luật Hình sự hoặc người chưa thành niên được
áp dụng biện pháp xử chuyển hướng theo quy định của Luật pháp người
chưa thành niên;
b) Đã hết thời hạn điều tra vụ án không chứng minh được bị can đã
thực hiện tội phạm.
2. Quyết định đình chỉ điều tra ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định, lý
do căn cứ đình chỉ điều tra, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp
cưỡng chế, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), việc xử vật chứng,
những vấn đề khác có liên quan.
Trường hợp vụ án nhiều bị can căn cứ để đình chỉ điều tra không
liên quan đến tất cả bị can thì có thể đình chỉ điều tra đối với từng bị can.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ điều
tra kèm theo hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, nếu thấy quyết định đình chỉ điều
tra căn cứ thì Viện kiểm sát phải trả lại hồ vụ án cho quan điều tra để
giải quyết theo thẩm quyền; nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra không có căn
cứ thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi
điều tra; nếu thấy đủ căn cứ để truy tố thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và
ra quyết định truy tố theo thời hạn, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật này.
Điều 237. Truy nã bị can
158
1. Khi bị can trốn hoặc không biết bị can đang đâu thì quan điều
tra phải ra quyết định truy nã bị can.
2. Quyết định truy ghi họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của
bị can, đặc điểm để nhận dạng bị can, tội phạm bị can đã bị khởi tố các
nội dung quy định tại khoản 2 Điều 139 của Bộ luật này; kèm theo ảnh bị can
(nếu có).
Quyết định truy bị can được gửi cho Viện kiểm sát thẩm quyền
thông báo công khai để mọi người phát hiện, bắt người bị truy nã.
3. Sau khi bắt được bị can theo quyết định truy nã thì Cơ quan điều tra đã
ra quyết định truy phải ra quyết định đình nã. Quyết định đình được gửi
cho Viện kiểm sát có thẩm quyền và thông báo công khai.
Điều 238. Kết thúc điều tra
1. Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra phải ra bản kết luận điều tra.
2. Việc điều tra kết thúc khi quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề
nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra.
3. Bản kết luận điều tra ghi rõ ngày, tháng, năm; họ tên, chức vụ và chữ ký
của người ra kết luận.
4. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra bản kết luận điều tra, quan
điều tra phải giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản kết luận điều tra
kèm theo quyết định đình chỉ điều tra cùng hồ vụ án cho Viện kiểm sát
thẩm quyền; giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ
điều tra cho bị can hoặc người đại diện của bị can; gửi bản kết luận điều tra đề
nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho người bào chữa; thông báo
cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Điều 239. Kết luận điều tra trong trường hợp đề nghị truy tố
1. Trong trường hợp đề nghị truy tố thì bản kết luận điều tra ghi diễn
biến hành vi phạm tội; chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị can, thủ đoạn,
động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây
ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị
159
can; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật việc xử vật chứng; nguyên nhân
điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội và tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án;
do căn cứ đề nghị truy tố; tội danh, điều, khoản, điểm của Bộ luật Hình sự
được áp dụng; những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án.
Bản kết luận điều tra phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra kết luận; họ tên, chức
vụ và chữ ký của người ra kết luận điều tra.
2. quan điều tra có thể kết luận điều tra đề nghị truy tố bị can khi đã có
đủ căn cứ bảo đảm quyền bào chữa cho bị can theo quy định của Bộ luật này
trong các trường hợp sau:
a) Bị can trốn hoặc không biết bị can đâu việc truy không kết
quả;
b) Bị can đang nước ngoài không thể triệu tập để phục vụ các hoạt
động điều tra.
3. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ban hành kết luận điều tra đề nghị
truy tố đối với bị can quy định tại khoản 2 Điều này, kết luận điều tra phải được
niêm yết nếu không thể giao được cho bị can.
4. Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Điều 240. Kết luận điều tra trong trường hợp đình chỉ điều tra
Trong trường hợp đình chỉ điều tra thì bản kết luận điều tra ghi diễn
biến sự việc, quá trình điều tra, lý do và căn cứ đình chỉ điều tra.
Bản kết luận điều tra phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra kết luận; họ tên, chức
vụ và chữ ký của người ra kết luận điều tra.
Quyết định đình chỉ điều tra ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định, lý do
căn cứ đình chỉ điều tra, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng
chế, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), việc xử vật chứng các vấn
đề khác có liên quan.
Điều 241. Phục hồi điều tra
160
1. Khi có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định tạm
đình chỉ điều tra thì quan điều tra ra quyết định phục hồi điều tra, nếu chưa
hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nếu việc điều tra bị đình chỉ theo quy định tại khoản 5 khoản 6 Điều
163 của Bộ luật này bị can không đồng ý và yêu cầu điều tra lại thì Cơ quan
điều tra hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định phục hồi điều tra.
2. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định phục hồi điều tra, Cơ
quan điều tra phải gửi quyết định này cho Viện kiểm sát thẩm quyền, bị can,
người bào chữa hoặc người đại diện của bị can; thông báo cho bị hại, đương sự
và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Phần thứ ba
TRUY TỐ
Chương XIX
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 242. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành
quyền công tố trong giai đoạn truy tố
1. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp
cưỡng chế; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can.
2. Yêu cầu quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ án
trong trường hợp cần thiết.
3. Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bổ sung
tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ
sung mà xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra.
4. Quyết định khởi tố, quyết định thay đổi, quyết định bổ sung quyết định
khởi tố vụ án, bị can trong trường hợp phát hiện còn có hành vi phạm tội, người
phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi tố, điều tra.
5. Quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để yêu cầu điều tra bổ sung.
161
6. Quyết định tách, nhập vụ án; chuyển vụ án để truy tố theo thẩm quyền,
áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
7. Quyết định gia hạn, không gia hạn thời hạn truy tố, thời hạn áp dụng
các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế.
8. Quyết định truy tố.
9. Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; quyết định đình chỉ, tạm đình
chỉ vụ án đối với bị can; quyết định phục hồi vụ án, quyết định phục hồi vụ án
đối với bị can.
10. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để quyết định việc truy tố theo
quy định của Bộ luật này.
Điều 243. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát trong
giai đoạn truy tố
1. Khi kiểm sát trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền
hạn:
a) Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu
cầu, kiến nghị quan, tổ chức, nhân thẩm quyền xử nghiêm minh
người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật;
b) Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội
phạm và vi phạm pháp luật;
c) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để kiểm sát trong giai đoạn truy tố
theo quy định của Bộ luật này.
2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, kiến nghị quy
định tại điểm a điểm b khoản 1 Điều này, quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền trách nhiệm thông báo việc thực hiện yêu cầu, kiến nghị cho Viện
kiểm sát.
Điều 244. Giao, nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra
1. Khi quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra giao hồ vụ án kèm theo bản kết luận điều tra đề nghị truy
tố và vật chứng (nếu có) thì Viện kiểm sát phải kiểm tra và xử lý như sau:
162
a) Trường hợp tài liệu trong hồ vụ án, vật chứng kèm theo (nếu có) đã
đầy đủ so với bảng tài liệu, vật chứng bản kết luận điều tra đã được giao
cho bị can hoặc kết luận điều tra đã được niêm yết theo quy định tại khoản 3
Điều 239 của Bộ luật này thì nhận hồ sơ vụ án;
b) Trường hợp tài liệu trong hồ vụ án, vật chứng kèm theo (nếu có)
không đủ so với bảng kê tài liệu, vật chứng hoặc bản kết luận điều tra chưa được
giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can hoặc kết luận điều tra chưa
được niêm yết theo quy định tại khoản 3 Điều 239 của Bộ luật này thì chưa
nhận hồ vụ án yêu cầu quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra bổ sung tài liệu, vật chứng; yêu cầu giao bản kết
luận điều tra cho bị can hoặc người đại diện của bị can hoặc yêu cầu niêm yết
bản kết luận điều tra theo quy định tại khoản 3 Điều 239 của Bộ luật này.
2. Việc giao, nhận hồ vụ án bản kết luận điều tra được lập biên bản
theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật này và đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 245. Thẩm quyền truy tố
1. Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định việc truy tố là Viện kiểm sát đã
thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra. Thẩm quyền truy tố của Viện kiểm
sát được xác định theo thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với vụ án.
Trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, Viện kiểm
sát ra ngay quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát thẩm quyền. Việc
chuyển vụ án cho Viện kiểm sát ngoài phạm vi tỉnh, thành phố hoặc ngoài phạm
vi quân khu do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân
khu quyết định.
Đối với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố, kiểm
sát điều tra thì Viện kiểm sát cấp trên quyết định việc truy tố. Chậm nhất 02
tháng trước khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát cấp trên phải thông báo cho Viện
kiểm sát cấp dưới cùng cấp với Tòa án thẩm quyền xét xử thẩm vụ án để
cử Kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án. Ngay sau khi quyết định truy
tố, Viện kiểm sát cấp trên ra quyết định phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới
thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử; sau khi nhận được hồ vụ án kèm
theo bản cáo trạng, Viện kiểm sát cấp dưới có thẩm quyền thực hành quyền công
tố và kiểm sát xét xử theo đúng quy định của Bộ luật này.
163
2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án, Viện
kiểm sát phải thông báo bằng văn bản cho Cơ quan đã kết thúc điều tra vụ án, bị
can hoặc người đại diện của bị can, người bào chữa, bị hại, người tham gia tố
tụng khác.
Việc giao, gửi hồ vụ án kèm theo bản cáo trạng được thực hiện theo
quy định tại khoản 2 Điều 246 của Bộ luật này. Trong trường hợp này, thời hạn
truy tố được tính từ ngày Viện kiểm sát thẩm quyền truy tố nhận được hồ sơ
vụ án.
Điều 246. Thời hạn quyết định việc truy tố
1. Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng tội phạm
nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng kể từ ngày nhận hồ vụ án bản kết luận điều tra, Viện kiểm
sát phải ra một trong các quyết định:
a) Truy tố bị can trước Tòa án;
b) Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung;
c) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối
với bị can.
Trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát thể gia hạn thời hạn
quyết định việc truy tố nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm
trọng tội phạm nghiêm trọng, không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm
trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra một trong các quyết định quy định
tại khoản 1 Điều này, Viện kiểm sát phải thông báo cho bị can, người bào chữa
hoặc người đại diện của bị can, bị hại biết việc trả hồ để điều tra bổ sung;
giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can gửi cho quan điều tra,
người bào chữa bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm
đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can hoặc quyết định tạm
đình chỉ vụ án đối với bị can; niêm yết cáo trạng theo quy định tại khoản 3
Điều 249 của Bộ luật này; thông báo cho bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của họ.
164
Việc giao, nhận các văn bản nêu trên được lập biên bản theo quy định tại
Điều 140 của Bộ luật này và đưa vào hồ sơ vụ án.
Trường hợp vụ án phức tạp thì thời hạn giao bản cáo trạng, quyết định
đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án cho bị can hoặc người đại
diện của bị can có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày.
3. Các quyết định nêu tại khoản 1 Điều này phải được gửi ngay cho Viện
kiểm sát cấp trên. Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền rút, đình chỉ, hủy
bỏ các quyết định đó nếu thấy không căn cứ hoặc trái pháp luật yêu cầu
Viện kiểm sát cấp dưới ra quyết định đúng pháp luật.
Điều 247. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp
cưỡng chế
Sau khi nhận hồ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát có quyền
quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
theo quy định của Bộ luật này.
Thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn truy tố không được
quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 246 của Bộ luật này.
Điều 248. Nhập hoặc tách vụ án trong giai đoạn truy tố
1. Viện kiểm sát quyết định nhập vụ án khi thuộc một trong các trường
hợp:
a) Bị can phạm nhiều tội;
b) Bị can phạm tội nhiều lần;
c) Nhiều bị can cùng thực hiện một tội phạm hoặc cùng với bị can còn có
những người khác che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm, tiêu thụ tài
sản do bị can phạm tội mà có.
2. Viện kiểm sát quyết định tách vụ án khi thuộc một trong các trường hợp
sau đây nếu xét thấy việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật
khách quan, toàn diện và đã có quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can:
a) Bị can bỏ trốn;
b) Bị can mắc bệnh hiểm nghèo;
165
c) Bị can bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
Chương XX
QUYẾT ĐỊNH VIỆC TRUY TỐ BỊ CAN
Điều 249. Quyết định truy tố bị can
1. Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo
trạng.
Bản cáo trạng ghi diễn biến hành vi phạm tội; chứng cứ xác định hành
vi phạm tội của bị can, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ
thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp
ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự, đặc điểm nhân thân của bị can; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc
xử vật chứng; nguyên nhân điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội và tình tiết
khác có ý nghĩa đối với vụ án.
Phần kết luận của bản cáo trạng ghi tội danh điều, khoản, điểm của
Bộ luật Hình sự được áp dụng.
Bản cáo trạng phải ghi ngày, tháng, năm ra cáo trạng; họ tên, chức vụ
và chữ ký của người ra bản cáo trạng.
2. Viện kiểm sát thể quyết định truy tố bị can khi đã đủ căn cứ
bảo đảm quyền bào chữa cho bị can theo quy định của Bộ luật này trong các
trường hợp sau:
a) Bị can trốn hoặc không biết bị can đâu việc truy không kết
quả;
b) Bị can đang nước ngoài không thể triệu tập để phục vụ các hoạt
động nhằm quyết định việc truy tố.
3. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra bản cáo trạng theo quy định tại
khoản 2 Điều này, cáo trạng phải được niêm yết nếu không thể giao được cho bị
can.
166
4. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ
trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Điều 250. Chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng đến Tòa án
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra bản cáo trạng, Viện kiểm sát phải
chuyển hồ vụ án bản cáo trạng đến Tòa án. Trường hợp vụ án phức tạp thì
thời hạn chuyển hồ vụ án bản cáo trạng đến Tòa án thể kéo dài nhưng
không quá 10 ngày.
Trường hợp vụ án bị can bị tạm giam thì trước khi hết thời hạn tạm
giam 07 ngày thì Viện kiểm sát thông báo cho Tòa án biết để xem xét, quyết
định việc tạm giam bị can khi nhận hồ sơ vụ án.
Điều 251. Trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung
1. Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ vụ án, yêu cầu quan điều tra
điều tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Còn thiếu chứng cứ để chứng minh một trong những vấn đề quy định
tại Điều 91 của Bộ luật này mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được;
b) Có căn cứ khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác;
c) người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án
nhưng chưa được khởi tố bị can;
d) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
2. Quyết định trả hồ để yêu cầu điều tra bổ sung phải ghi rõ vấn đề cần
điều tra bổ sung quy định tại khoản 1 Điều này các nội dung quy định tại
khoản 2 Điều 139 của Bộ luật này.
3. quan điều tra trách nhiệm thực hiện đầy đủ yêu cầu nêu trong
quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung của Viện kiểm sát; trường hợp vì lý
do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà không thực hiện được thì phải
nêu rõ lý do bằng văn bản.
Kết thúc điều tra bổ sung, quan điều tra phải bản kết luận điều tra
bổ sung. Bản kết luận điều tra bổ sung phải ghi rõ kết quả điều tra bổ sung, quan
167
điểm giải quyết vụ án. Nếu kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi cơ bản kết luận
điều tra trước đó thì Cơ quan điều tra phải ra bản kết luận điều tra mới thay thế.
Việc chuyển hồ vụ án kèm theo kết luận điều tra bổ sung cho Viện
kiểm sát; việc giao, nhận, gửi thông báo kết quả điều tra bổ sung được thực hiện
theo quy định tại Điều 238 và Điều 244 của Bộ luật này.
Điều 252. Giải quyết yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án
Trường hợp Tòa án quyết định trả hồ sơ vụ án yêu cầu điều tra bổ sung thì
Viện kiểm sát phải xem xét căn cứ của việc yêu cầu điều tra bổ sung giải
quyết như sau:
1. Nếu quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung có căn cứ mà xét thấy
không cần phải trả hồ cho quan điều tra thì Viện kiểm sát trực tiếp tiến
hành một số hoạt động điều tra để bổ sung tài liệu, chứng cứ; trường hợp Viện
kiểm sát không thể tự điều tra bổ sung được thì Viện kiểm sát ra quyết định trả
hồ để điều tra bổ sung chuyển ngay hồ cho quan điều tra để tiến
hành điều tra.
Trường hợp kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi cơ bản nội dung bản cáo
trạng trước đó thì Viện kiểm sát phải ra bản cáo trạng mới thay thế và chuyển hồ
đến Tòa án. Trường hợp kết quả điều tra bổ sung dẫn đến đình chỉ vụ án thì
Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án biết;
2. Nếu quyết định trả hồ yêu cầu điều tra bổ sung không căn cứ thì
Viện kiểm sát văn bản nêu do, giữ nguyên quyết định truy tố và chuyển
lại hồ sơ cho Tòa án.
Điều 253. Tạm đình chỉ vụ án
1. Viện kiểm sát quyết định tạm đình chỉ vụ án trong các trường hợp:
a) Khi kết luận giám định pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần
hoặc bệnh hiểm nghèo thì thể tạm đình chỉ vụ án trước khi hết thời hạn quyết
định việc truy tố;
b) Khi bị can bỏ trốn không biết bị can đang đâu nhưng đã hết
thời hạn quyết định việc truy tố và không thuộc trường hợp quy định tại khoản
2 Điều 249 của Bộ luật này; trong trường hợp này phải yêu cầu quan điều
168
tra truy bị can trước khi tạm đình chỉ vụ án. Việc truy bị can được thực
hiện theo quy định tại Điều 237 của Bộ luật này;
c) Khi đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản nhưng chưa có kết
quả hoặc đã yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa kết thúc theo quy
định của Luật Tương trợ pháp về hình sự đã hết thời hạn quyết định việc
truy tố. Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản tiếp tục được tiến
hành cho đến khi kết quả; việc tương trợ pháp tiếp tục được tiến hành cho
đến khi kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự;
d) Khi không thể tiến hành các hoạt động tố tụng để quyết định việc truy
tố do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh nhưng đã hết thời hạn quyết
định việc truy tố.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ
trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thủ trưởng các cơ quan khác
có liên quan quy định chi tiết điểm này;
đ) Khi bị can có đủ căn cứ được tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự
theo quy định tại Điều … của Bộ luật này.
2. Quyết định tạm đình chỉ vụ án phải ghi rõ lý do, căn cứ tạm đình chỉ vụ
án, các vấn đề khác liên quan các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 139
của Bộ luật này.
Trường hợp vụ án nhiều bị can mà căn cứ để tạm đình chỉ vụ án không
liên quan đến tất cả bị can thì tạm đình chỉ vụ án đối với từng bị can.
3. Trong thời hạn quyết định việc truy tố, Viện kiểm sát thẩm quyền
xem xét ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi có đủ điều kiện theo quy định tại
Điều 145 của Bộ luật này. Thời hạn tạm đình chỉ được ghi trong quyết
định nhưng không quá thời hạn quy định tại Điều 148 của Bộ luật này.
Điều 254. Đình chỉ vụ án
1. Viện kiểm sát quyết định không truy tố ra quyết định đình chỉ vụ án
khi một trong các căn cứ quy định tại Điều 145 điểm b khoản 2 Điều
146, khoản 2 Điều 161, Điều 163 của Bộ luật này hoặc căn cứ quy định tại
Điều 16 hoặc Điều 29 của Bộ luật Hình sự hoặc người chưa thành niên được áp
169
dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa
thành niên.
2. Quyết định đình chỉ vụ án phải ghi do căn cứ đình chỉ vụ án,
việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, xử lý vật chứng, tài liệu,
đồ vật đã tạm giữ (nếu có), các vấn đề khác liên quan các nội dung quy
định tại khoản 2 Điều 139 của Bộ luật này.
Trường hợp vụ án nhiều bị can căn cứ đình chỉ vụ án không liên
quan đến tất cả các bị can thì quyết định đình chỉ vụ án đối với từng bị can.
Điều 255. Phục hồi vụ án
1. Khi do để hủy bỏ quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm
đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định phục hồi vụ án nếu chưa hết thời
hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu vụ án bị đình chỉ theo quy định tại khoản
5 khoản 6 Điều 163 của Bộ luật này mà bị can không đồng ý và yêu cầu phục
hồi vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định phục hồi vụ án. Có thể phục hồi đối với
toàn bộ vụ án hoặc phục hồi vụ án đối với từng bị can.
2. Quyết định phục hồi vụ án phải ghi do căn cứ phục hồi vụ án,
các vấn đề khác liên quan và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 139 của
Bộ luật này.
3. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định, Viện kiểm sát phải
giao quyết định phục hồi vụ án hoặc quyết định phục hồi vụ án đối với bị can
cho bị can hoặc người đại diện của bị can; gửi cho quan đã kết thúc điều tra
vụ án, người bào chữa; thông báo cho bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền
lợi ích hợp pháp của họ.
Việc giao, nhận quyết định phục hồi vụ án, quyết định phục hồi vụ án đối
với bị can được lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án.
4. Thời hạn quyết định việc truy tố khi phục hồi vụ án được tính theo thủ
tục chung quy định tại Bộ luật này kể từ ngày Viện kiểm sát ra quyết định phục
hồi vụ án.
5. Khi phục hồi vụ án, Viện kiểm sát quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này.
170
Trường hợp căn cứ theo quy định của Bộ luật này cần phải tạm giam
thì thời hạn tạm giam để phục hồi vụ án không được quá thời hạn quyết định
việc truy tố.
Phần thứ tư
XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Chương XXI
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 256. Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục
1. Việc xét xử được tiến hành bằng lời nói.
Hội đồng xét xử phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng
cách hỏi, nghe ý kiến của bị cáo, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ,
người làm chứng, người giám định, người khác tham gia phiên tòa được Tòa án
triệu tập; xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập; công bố biên bản, tài
liệu tiến hành hoạt động tố tụng khác để kiểm tra chứng cứ; nghe ý kiến của
Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị
hại, đương sự.
2. Việc xét xử được tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ và thời gian tạm
ngừng phiên tòa.
Điều 257. Tạm ngừng phiên tòa
1. Việc xét xử có thể tạm ngừng khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Cần phải xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật
không thể thực hiện ngay tại phiên tòa thể thực hiện được trong thời hạn
05 ngày, kể từ ngày tạm ngừng phiên tòa;
b) Do tình trạng sức khỏe, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan
người thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng không
thể tiếp tục tham gia phiên tòa nhưng họ có thể tham gia lại phiên tòa trong thời
gian 05 ngày, kể từ ngày tạm ngừng phiên tòa;
c) Vắng mặt Thư ký Tòa án tại phiên tòa.
171
2. Việc tạm ngừng phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa
thông báo cho những người tham gia tố tụng biết. Thời hạn tạm ngừng phiên tòa
không quá 05 ngày kể từ ngày quyết định tạm ngừng phiên tòa. Hết thời hạn tạm
ngừng phiên tòa, việc xét xử vụ án được tiếp tục. Trường hợp không thể tiếp tục
xét xử vụ án thì phải hoãn phiên tòa.
Điều 258. Tòa án xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ
Tòa án tiến hành việc xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ bằng các hoạt
động:
1. Tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án do cơ quan, tổ
chức, cá nhân cung cấp;
2. Yêu cầu quan, tổ chức, nhân cung cấp tài liệu, đồ vật liên quan
đến vụ án;
3. Xem xét tại chỗ vật chứng không thể đưa đến phiên tòa;
4. Xem xét tại chỗ nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan
đến vụ án;
5. Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản ngoài các trường hợp bắt
buộc phải trưng cầu giám định, cần định giá tài sản quy định tại Điều 212
Điều 215 của Bộ luật này; trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại; yêu cầu
định giá lại tài sản;
6. Trường hợp Tòa án đã yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung chứng cứ nhưng
Viện kiểm sát không bổ sung được thì Tòa án thể tiến hành xác minh, thu
thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án.
Điều 259. Tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án
1. Khi quan, tổ chức, nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên
quan đến vụ án thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải tiếp nhận thể hỏi
người đã cung cấp về những vấn đề liên quan đến chứng cứ, tài liệu, đồ vật
đó. Việc tiếp nhận được lập biên bản.
2. Ngay sau khi nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật do cơ quan, tổ chức,
nhân cung cấp thì Tòa án phải chuyển cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời
172
hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật, Viện kiểm sát phải
xem xét và chuyển lại cho Tòa án để đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 260. Thành phần Hội đồng xét xử
1. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm. Trường
hợp vụ án tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử thẩm
thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.
Đối với vụ án bị cáo về tội Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất
của khung hình phạt chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm
hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.
2. Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán.
Điều 261. Quyết định đưa vụ án ra xét xử
1. Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm ghi rõ:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định; tên Tòa án ra quyết định; giờ, ngày,
tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;
b) Xét xử công khai hay xét xử kín;
c) Trường hợp xét xử trực tuyến thì phải nêu rõ về điểm cầu trung tâm
và số lượng điểm cầu thành phần;
d) Họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nghề nghiệp, nơi trú của bị
cáo;
đ) Tội danh điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự Viện kiểm sát
truy tố đối với bị cáo;
e) Họ tên Thẩm phán, Hội thẩm, Thư Tòa án; họ tên Thẩm phán dự
khuyết, Hội thẩm dự khuyết, Thư ký Tòa án dự khuyết (nếu có);
g) Họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại
phiên tòa; họ tên Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có);
h) Họ tên người bào chữa (nếu có);
i) Họ tên người phiên dịch (nếu có);
k) Họ tên những người khác được triệu tập đến phiên tòa;
l) Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa.
173
2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm ghi rõ: các nội dung quy
định tại các điểm a, b, c, g, h, i, k l khoản 1 Điều này; tội danh và hình phạt
Tòa án cấp thẩm đã quyết định; họ tên người kháng cáo, người bị kháng
cáo, người bị kháng nghị; Viện kiểm sát kháng nghị; họ tên Thẩm phán, Thư ký
Tòa án; họ tên Thẩm phán dự khuyết, Thư ký Tòa án dự khuyết (nếu có).
Điều 262. Nội quy phiên tòa
1. Mọi người vào phòng xử án phải mặc trang phục nghiêm túc, chấp hành
việc kiểm tra an ninh và thực hiện đúng hướng dẫn của Thư ký Tòa án.
2. Mọi người trong phòng xử án phải tôn trọng Hội đồng xét xử, giữ gìn
trật tự và tuân theo sự điều hành của chủ tọa phiên tòa.
3. Mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào
phòng xử án khi tuyên án. Bị cáo phải đứng khi Kiểm sát viên công bố cáo
trạng hoặc quyết định truy tố. Người được Tòa án triệu tập đến phiên tòa muốn
trình bày ý kiến phải được chủ tọa phiên tòa đồng ý; người trình bày ý kiến phải
đứng khi trình bày ý kiến, khi được hỏi.
Những người do sức khỏe thể được chủ tọa phiên tòa cho phép
ngồi.
4. Tại phiên tòa, bị cáo đang bị tạm giam chỉ được tiếp xúc với người bào
chữa cho mình. Việc tiếp xúc với những người khác phải được chủ tọa phiên tòa
cho phép.
5. Người dưới 16 tuổi không được vào phòng xử án, trừ trường hợp được
Tòa án triệu tập đến phiên tòa.
Điều 263. Phòng xử án
1. Phòng xử án phải được bố trí thể hiện sự trang nghiêm, an toàn, bảo
đảm sự bình đẳng giữa người thực hành quyền công tố luật sư, người bào
chữa khác.
2. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết Điều này.
Điều 264. Biên bản phiên tòa
1. Biên bản phiên tòa phải ghi giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm mở
phiên tòa mọi diễn biến tại phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc
174
phiên tòa. Cùng với việc ghi biên bản, thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh
về diễn biến phiên tòa.
2. Các câu hỏi, câu trả lời, lời trình bày quyết định tại phiên tòa đều
được ghi vào biên bản.
3. Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải kiểm tra biên
bản và cùng với Thư ký Tòa án ký vào biên bản đó.
4. Sau khi chủ tọa phiên tòa Thư Tòa án ký vào biên bản phiên tòa,
Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự hoặc đại diện của những người đó được
xem biên bản phiên tòa. Nếu người yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào
biên bản phiên tòa thì Thư Tòa án phải ghi sửa đổi, bổ sung đó vào biên bản
phiên tòa. Không được tẩy xóa, sửa chữa trực tiếp phải ghi sửa đổi, bổ sung
tiếp vào cuối biên bản phiên tòa và cùng chủ tọa phiên tòa ký xác nhận; nếu chủ
tọa phiên tòa không chấp nhận yêu cầu thì phải nêu rõ lý do và ghi vào biên bản
phiên tòa.
Điều 265. Biên bản nghị án
1. Khi nghị án phải lập biên bản.
Biên bản nghị án phải được tất cả thành viên Hội đồng xét xử ký tại phòng
nghị án trước khi tuyên án.
2. Biên bản nghị án của Hội đồng xét xử sơ thẩm phải ghi rõ:
a) Giờ, ngày, tháng, năm ra biên bản; tên Tòa án xét xử;
b) Họ tên Thẩm phán, Hội thẩm;
c) Vụ án được đưa ra xét xử;
d) Kết quả biểu quyết của Hội đồng xét xử về từng vấn đề đã thảo luận
quy định tại khoản 3 Điều 326 của Bộ luật này, ý kiến khác (nếu có).
3. Biên bản nghị án của Hội đồng xét xử phúc thẩm phải ghi các điểm
a, c và d khoản 2 Điều này và họ tên các Thẩm phán.
Điều 266. Bản án
1. Tòa án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
175
Bản án phải có chữ ký của tất cả thành viên Hội đồng xét xử.
2. Bản án sơ thẩm phải ghi rõ:
a) Tên Tòa án xét xử thẩm; số ngày thụ vụ án; số của bản án
ngày tuyên án; họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, Kiểm
sát viên; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi trú, nghề nghiệp, trình
độ văn hóa, dân tộc, tiền án, tiền sự của bị cáo; ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm
giam; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi sinh, nơi trú của người đại diện của bị
cáo; họ tên của người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định
giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật và những người khác được Tòa án
triệu tập tham gia phiên tòa; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi trú của bị hại,
đương sự, người đại diện của họ; số, ngày, tháng, năm của quyết định đưa vụ án
ra xét xử; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử;
b) Số, ngày, tháng, năm của bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố; tên
Viện kiểm sát truy tố; hành vi của bị cáo theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố;
tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự và mức hình phạt, hình phạt bổ
sung, biện pháp pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại Viện kiểm sát đề
nghị áp dụng đối với bị cáo; xử lý vật chứng;
c) Ý kiến của người bào chữa, bị hại, đương sự, người khác tham gia
phiên tòa được Tòa án triệu tập;
d) Nhận định của Hội đồng xét xử phải phân tích những chứng cứ xác
định tội, chứng cứ xác định không có tội, xác định bị cáo có tội hay không và
nếu bị cáo tội thì tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của Bộ luật Hình sự và
của văn bản quy phạm pháp luật khác được áp dụng, tình tiết tăng nặng, tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần phải xử như thế nào. Nếu bị cáo không
tội thì bản án phải ghi những căn cứ xác định bị cáo không tội việc
giải quyết khôi phục danh dự, quyền lợi ích hợp pháp của họ theo quy định
của pháp luật;
đ) Phân tích do Hội đồng xét xử không chấp nhận những chứng cứ
buộc tội, chứng cứ gỡ tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào
chữa, bị hại, đương sự người đại diện, người bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp của họ đưa ra;
176
e) Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều
tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử;
g) Quyết định của Hội đồng xét xử về từng vấn đề phải giải quyết trong
vụ án, về án phí quyền kháng cáo đối với bản án. Trường hợp quyết định
phải thi hành ngay thì ghi rõ quyết định đó.
3. Bản án phúc thẩm phải ghi rõ:
a) Tên Tòa án xét xử phúc thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số của bản án và
ngày tuyên án; họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, Kiểm
sát viên; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi trú, nghề nghiệp, trình
độ văn hóa, dân tộc, tiền án, tiền sự của bị cáo kháng cáo, bị kháng cáo, bị
kháng nghị những bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị
kháng nghị nhưng Tòa án cấp phúc thẩm xem xét; ngày bị cáo bị tạm giữ,
tạm giam; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi sinh, nơi trú của người đại diện của
bị cáo; họ tên của người bào chữa, người giám định, người phiên dịch và những
người khác được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa; họ tên, tuổi, nghề nghiệp,
nơi trú, địa chỉ của bị hại, đương sự, người đại diện của họ; tên của Viện
kiểm sát kháng nghị; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm
xét xử;
b) Tóm tắt nội dung vụ án, quyết định trong bản án thẩm; nội dung
kháng cáo, kháng nghị; nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm, những căn cứ
để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị; điểm, khoản, điều
của Bộ luật Hình sự của văn bản quy phạm pháp luật khác Hội đồng xét
xử phúc thẩm căn cứ để giải quyết vụ án;
c) Quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm về từng vấn đề phải giải
quyết trong vụ án do có kháng cáo, kháng nghị, về án phí sơ thẩm, phúc thẩm.
Điều 267. Sửa chữa, bổ sung bản án
1. Không được sửa chữa, bổ sung bản án trừ trường hợp phát hiện lỗi
rõ ràng về chính tả, số liệu do nhầm lẫn hoặc do tính toán sai.
Việc sửa chữa, bổ sung bản án không được làm thay đổi bản chất vụ án
hoặc bất lợi cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
177
Việc sửa chữa, bổ sung bản án được thể hiện bằng văn bản giao ngay
cho những người được quy định tại Điều 262 của Bộ luật này.
2. Việc sửa chữa, bổ sung bản án quy định tại khoản 1 Điều này do Thẩm
phán chủ tọa phiên tòa đã ra bản án, quyết định thực hiện. Trường hợp Thẩm
phán chủ tọa phiên tòa không thể thực hiện được thì việc sửa chữa, bổ sung bản
án do Chánh án Tòa án đã xét xử vụ án đó thực hiện.
Điều 268. Giao, gửi bản án
1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án cấp thẩm phải
giao bản án cho bị cáo, bị hại, Viện kiểm sát cùng cấp, người bào chữa; gửi bản
án cho bị cáo bị xét xử vắng mặt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ
luật này, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, quan điều tra thẩm quyền,
quan thi hành án hình sự thẩm quyền, Trại tạm giam, Trại giam nơi đang
giam giữ bị cáo; thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo
trú hoặc quan, tổ chức nơi bị cáo làm việc, học tập; cấp bản sao bản án
hoặc trích lục bản án về những phần liên quan cho đương sự hoặc người đại
diện của họ.
Trường hợp xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm a hoặc điểm b
khoản 2 Điều 290 của Bộ luật này thì trong thời hạn nêu trên, bản án phải được
niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng hoặc cơ quan, tổ
chức nơi làm việc, học tập cuối cùng của bị cáo.
Tòa án cấp thẩm gửi bản án cho quan thi hành án dân sự thẩm
quyền trong trường hợp bản án thẩm tuyên hình phạt tiền, tịch thu tài sản
và quyết định dân sự theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày ra quyết
định, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi bản án hoặc quyết định phúc thẩm cho
Viện kiểm sát cùng cấp; quan thi hành án hình sự thẩm quyền; quan
điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nơi đã xét xử thẩm; Trại tạm giam, Trại giam
nơi đang giam giữ bị cáo; người đã kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến việc kháng cáo, kháng nghị hoặc người đại diện của họ; quan thi
hành án dân sự có thẩm quyền trong trường hợp bản án phúc thẩm có tuyên hình
phạt tiền, tịch thu tài sản quyết định dân sự; thông báo bằng văn bản cho Ủy
ban nhân dân cấp nơi trú hoặc quan, tổ chức nơi làm việc, học tập của
178
bị cáo. Trường hợp Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự
trung ương xét xử phúc thẩm thì thời hạn này thể kéo dài nhưng không quá
25 ngày.
Điều 269. Phiên dịch tại phiên tòa
1. Trường hợp bị cáo, bị hại, đương sự, người làm chứng không biết tiếng
Việt, người câm, người điếc thì người phiên dịch phải dịch cho họ nghe, hiểu
lời trình bày, các câu hỏi, câu trả lời tại phiên tòa, nội dung quyết định của Hội
đồng xét xử và các vấn đề khác có liên quan đến họ.
2. Người phiên dịch phải dịch lời trình bày, câu hỏi, câu trả lời của những
người quy định tại khoản 1 Điều này ra tiếng Việt cho Hội đồng xét xử và người
khác tham gia phiên tòa cùng nghe.
Điều 270. Kiến nghị sửa chữa thiếu sót, vi phạm trong công tác quản
1. Cùng với việc ra bản án, Tòa án ra kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan
áp dụng biện pháp cần thiết để khắc phục nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội
phạm tại các quan, tổ chức đó. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được
kiến nghị của Tòa án, cơ quan, tổ chức nhận được kiến nghị phải thông báo bằng
văn bản cho Tòa án biết về những biện pháp được áp dụng.
2. Kiến nghị của Tòa án thể được đọc tại phiên tòa cùng với bản án
hoặc chỉ gửi riêng cho cơ quan, tổ chức hữu quan.
Điều 271. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành
quyền công tố trong giai đoạn xét xử
1. Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, Viện kiểm
sát có nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Công bố cáo trạng, công bố quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn,
quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa;
b) Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ;
c) Luận tội, tranh luận, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố; kết
luận về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn; phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về
việc giải quyết vụ án tại phiên tòa;
179
d) Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp oan, sai,
bỏ lọt tội phạm, người phạm tội;
đ) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác khi thực hành quyền công tố
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm theo quy định của Bộ luật này.
2. Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, Viện
kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị;
b) Bổ sung chứng cứ mới;
c) Bổ sung, thay đổi kháng nghị; rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị;
d) Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ;
đ) Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án tại
phiên tòa, phiên họp;
e) Tranh luận với bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại
phiên tòa;
g) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác khi thực hành quyền công tố
trong giai đoạn xét xử phúc thẩm theo quy định của Bộ luật này.
Điều 272. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát xét xử
1. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử vụ án hình sự của
Tòa án.
2. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng; yêu cầu,
kiến nghị quan, tổ chức thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố
tụng vi phạm pháp luật.
3. Kiểm sát bản án, quyết định, văn bản tố tụng khác của Tòa án.
4. Yêu cầu Tòa án cùng cấp, cấp dưới chuyển hồ sơ vụ án hình sự để xem
xét, quyết định việc kháng nghị.
5. Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật nghiêm
trọng về thủ tục tố tụng.
180
6. Kiến nghị, yêu cầu Tòa án, quan, tổ chức, nhân thực hiện hoạt
động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm
trong hoạt động tố tụng.
7. Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội
phạm và vi phạm pháp luật trong hoạt động quản lý.
8. Thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, nhiệm vụ, quyền hạn khác khi
kiểm sát xét xử vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật này.
Chương XXII
XÉT XỬ SƠ THẨM
Mục I. THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN CÁC CẤP
Điều 273. Thẩm quyền xét xử của Tòa án
1. Tòa án nhân dân khu vực xét xử thẩm những vụ án hình sự về tội
phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật
Hình sự quy định đến 20 năm tù.
2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm những vụ án:
a) Vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án
nhân dân khu vực;
b) Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực
nhưng nhiều tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, dư luận
hội đặc biệt quan tâm; vụ án khi xử ảnh hưởng đến chính trị, đối
ngoại; vụ án người phạm tội cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ cấp tỉnh trở lên,
người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc thiểu số.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết điểm này.
3. Tòa án quân sự khu vực xét xử thẩm những vụ án hình sự về tội
phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng tội phạm rất nghiêm trọng, trừ
tội phạm, vụ án:
181
a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;
b) Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;
c) Các tội quy định tại các điều 123, 125, 126, 227, 277, 278, 279, 280,
282, 283, 284, 286, 287, 288, 337, 368, 369, 370, 371, 399 400 của Bộ luật
Hình sự;
d) Các tội phạm được thực hiện ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa hội
chủ nghĩa Việt Nam;
đ) Vụ án hình sự bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có
liên quan đến vụ án ở nước ngoài.
4. Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án:
a) Vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án
quân sự khu vực;
b) Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự khu vực
nhưng nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án
hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm
sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ cấp tỉnh, Trung đoàn trưởng
tương đương trở lên, người chức sắc trong tôn giáo hoặc uy tín cao
trong dân tộc thiểu số.
Điều 274. Thẩm quyền theo lãnh thổ
1. Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được
thực hiện. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc
không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là
Tòa án nơi kết thúc việc điều tra.
2. Bị cáo phạm tội nước ngoài nếu xét xử Việt Nam thì Tòa án nhân
dân nơi trú cuối cùng của bị cáo trong nước xét xử theo thẩm quyền. Nếu
không xác định được nơi trú cuối cùng trong nước của bị cáo thì tùy từng
trường hợp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho một Tòa
án nhân dân khu vực thuộc Tòa án nhân dân thành phố Nội, thành phố Đà
Nẵng hoặc Thành phố Hồ Chí Minh hoặc giao cho Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội, thành phố Đà Nẵng hoặc Thành phố Hồ Chí Minh xét xử.
182
Bị cáo phạm tội nước ngoài nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án
quân sự thì Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử theo quyết định của Chánh án
Tòa án quân sự trung ương.
Điều 275. Thẩm quyền xét xử tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển
của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không
phận hoặc ngoài lãnh hải của Việt Nam
Tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc ngoài lãnh hải của Việt
Nam thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam nơi sân bay hoặc bến
cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký.
Điều 276. Việc xét xử bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền của các
Tòa án khác cấp
Khi bị cáo phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử
của Tòa án cấp trên thì Tòa án cấp trên xét xử toàn bộ vụ án.
Điều 277. Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự
1. Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử:
a) Vụ án hình sự bị cáo quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân,
viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện
hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự
vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân
trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng;
công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội
nhân dân; pháp nhân thuộc Bộ Quốc phòng;
b) Vụ án hình sự bị cáo không thuộc đối tượng quy định tại điểm a
khoản 1 Điều này liên quan đến mật quân sự hoặc gây thiệt hại đến tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của quân nhân tại ngũ, công chức, công
nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn
luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu hoặc gây thiệt hại đến tài sản,
danh dự, uy tín của Quân đội nhân dân hoặc phạm tội trong doanh trại quân đội
hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ.
183
2. Tòa án quân sự thẩm quyền xét xử tất cả tội phạm xảy ra trong địa
bàn thiết quân luật.
Điều 278. Việc xét xử bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền của
Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự
Khi vụ án vừa bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa
án quân sự, vừa bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án
nhân dân thì thẩm quyền xét xử được thực hiện:
1. Trường hợp có thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử những bị cáo và
tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự; Tòa án nhân dân xét xử
những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân;
2. Trường hợp không thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử toàn bộ vụ
án.
Điều 279. Chuyển vụ án trong giai đoạn xét xử
1. Khi vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì Tòa án trả hồ sơ
vụ án cho Viện kiểm sát đã truy tố để chuyển đến Viện kiểm sát có thẩm quyền
truy tố.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận lại hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát đã
truy tố phải ra quyết định chuyển hồ vụ án đến Viện kiểm sát có thẩm quyền
truy tố để giải quyết theo thẩm quyền. Việc chuyển vụ án ra ngoài phạm vi tỉnh,
thành phố hoặc ngoài phạm vi quân khu thực hiện theo quy định tại Điều 239
của Bộ luật này.
Khi xét thấy vụ án vẫn thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án đã trả hồ
thì Viện kiểm sát chuyển lại hồ vụ án đến Tòa án kèm theo văn bản nêu rõ lý
do; nếu Tòa án xét thấy vụ án vẫn không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì
việc giải quyết tranh chấp thẩm quyền xét xử thực hiện theo Điều 275 của Bộ
luật này. Viện kiểm sát phải thực hiện theo quyết định của Tòa án thẩm
quyền.
2. Thời hạn truy tố áp dụng biện pháp ngăn chặn được thực hiện theo
quy định tại Điều 246 và Điều 241 của Bộ luật này.
Điều 280. Giải quyết việc tranh chấp về thẩm quyền xét xử
184
1. Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án nhân
dân khu vực trong cùng một tỉnh, thành phố, giữa các Tòa án quân sự khu vực
trong cùng một quân khu do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa
án quân sự cấp quân khu quyết định.
2. Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án nhân
dân khu vực thuộc các tỉnh, thành phố khác nhau, giữa các Tòa án quân sự khu
vực thuộc các quân khu khác nhau do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi kết thúc việc điều tra quyết định.
3. Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án nhân
dân cấp tỉnh, giữa các Tòa án quân sự cấp quân khu do Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương quyết định.
4. Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa Tòa án nhân dân
và Tòa án quân sự do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định.
Việc chuyển vụ án để xét xử theo thẩm quyền được thực hiện theo quy
định tại Điều 274 của Bộ luật này.
Mục II.
CHUẨN BỊ XÉT XỬ
Điều 281. Nhận hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và thụ lý vụ án
1. Khi Viện kiểm sát giao bản cáo trạng, hồ vụ án vật chứng kèm
theo (nếu có), Tòa án phải kiểm tra và xử lý:
a) Trường hợp tài liệu trong hồ vụ án, vật chứng kèm theo (nếu có) đã
đầy đủ so với bảng tài liệu, vật chứng bản cáo trạng đã được giao cho bị
can hoặc người đại diện của bị can thì nhận hồ sơ vụ án;
b) Trường hợp tài liệu trong hồ vụ án, vật chứng kèm theo (nếu có)
không đủ so với bảng tài liệu, vật chứng hoặc bản cáo trạng chưa được giao
cho bị can hoặc người đại diện của bị can thì chưa nhận hồ sơ vụ án và yêu cầu
Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, vật chứng; yêu cầu giao bản cáo trạng cho bị can
hoặc người đại diện của bị can.
185
2. Việc giao, nhận hồ vụ án bản cáo trạng được lập biên bản theo
quy định tại Điều 140 của Bộ luật này và đưa vào hồ sơ vụ án.
Ngay sau khi nhận được hồ vụ án kèm theo bản cáo trạng thì Tòa án
phải thụ vụ án. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa
án phải phân công Thẩm phán chủ tọa phiên tòa giải quyết vụ án.
Điều 282. Thời hạn chuẩn bị xét xử
1. Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối
với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03
tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày thụ vụ án, Thẩm
phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định:
a) Đưa vụ án ra xét xử;
b) Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung;
c) Tạm đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án.
Đối với vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án thể quyết định gia hạn thời
hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng
tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phải
thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.
2. Đối với vụ án được trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày nhận lại hồ sơ, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra quyết
định đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp phục hồi vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét
xử theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này kể từ ngày Tòa án ra quyết định
phục hồi vụ án.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày quyết định đưa vụ án ra xét xử,
Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp do bất khả kháng hoặc do trở ngại
khách quan thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày.
Điều 283. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp
cưỡng chế
1. Sau khi thụ vụ án, Thẩm phán chủ toạ phiên tòa quyết định việc áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trừ việc áp
186
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó Chánh án Tòa án
quyết định.
2. Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn
bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều 277 của Bộ luật này.
3. Đối với bị cáo đang bị tạm giam đến ngày mở phiên tòa thời hạn
tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử
thì Hội đồng xét xử ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa.
Điều 284. Giải quyết yêu cầu, đề nghị trước khi mở phiên tòa
1. Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải giải quyết
các yêu cầu, đề nghị:
a) Yêu cầu của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng về việc cung cấp, bổ
sung chứng cứ; triệu tập người làm chứng, người thẩm quyền tiến hành tố
tụng, người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa; về việc thay đổi thành viên Hội
đồng xét xử, Thư ký Tòa án;
b) Đề nghị của bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa về
việc thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;
c) Đề nghị của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng về việc xét xử theo
thủ tục rút gọn, xét xử công khai hoặc xét xử kín;
d) Đề nghị của người tham gia tố tụng về việc vắng mặt tại phiên tòa.
2. Nếu xét thấy yêu cầu, đề nghị căn cứ thì Thẩm phán chủ tọa phiên
tòa giải quyết theo thẩm quyền hoặc thông báo cho người thẩm quyền giải
quyết theo quy định của Bộ luật này và thông báo cho người đã yêu cầu, đề nghị
biết; nếu không chấp nhận thì thông báo cho họ bằng văn bản nêu rõ lý do.
Điều 285. Trả hồ sơ để điều tra bổ sung
1. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát
để điều tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đề quy
định tại Điều 91 của Bộ luật này mà không thể bổ sung tại phiên tòa được;
b) căn cứ cho rằng ngoài hành vi Viện kiểm sát đã truy tố, bị can
còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm;
187
c) căn cứ cho rằng còn đồng phạm khác hoặc người khác thực
hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng
chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can;
d) Việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.
2. Trường hợp Viện kiểm sát phát hiện căn cứ trả hồ để điều tra bổ
sung thì Viện kiểm sát có văn bản đề nghị Tòa án trả hồ sơ.
3. Quyết định trả hồ để điều tra bổ sung phải ghi những vấn đề cần
điều tra bổ sung gửi cho Viện kiểm sát kèm theo hồ vụ án trong thời hạn
03 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới việc đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát
ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án biết trong thời hạn 03 ngày
kể từ ngày ra quyết định.
Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới phải thay đổi quyết định truy tố thì
Viện kiểm sát ban hành bản cáo trạng mới thay thế bản cáo trạng trước đó.
Trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được những vấn đề Tòa án
yêu cầu và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
Điều 286. Tạm đình chỉ vụ án
1. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi thuộc
một trong các trường hợp:
a) căn cứ quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 229 của Bộ luật
này;
b) Không biết rõ bị can, bị cáo đang ở đâu mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét
xử; trường hợp này phải yêu cầu quan điều tra ra quyết định truy bị can,
bị cáo trước khi tạm đình chỉ vụ án. Việc truy bị can, bị cáo được thực hiện
theo quy định tại Điều 237 của Bộ luật này;
c) Chờ kết quả xử lý văn bản pháp luật mà Tòa án kiến nghị;
d) Khi bị can, bị cáo đủ căn cứ, điều kiện được tạm hoãn truy cứu
trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật này.
188
2. Trường hợp vụ án nhiều bị can, bị cáo căn cứ để tạm đình chỉ
không liên quan đến tất cả bị can, bị cáo thì thể tạm đình chỉ vụ án đối với
từng bị can, bị cáo.
3. Quyết định tạm đình chỉ vụ án phải ghi rõ lý do tạm đình chỉ và các nội
dung quy định tại khoản 2 Điều 139 của Bộ luật này.
4. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án xem xét ra quyết định tạm
đình chỉ vụ án khi có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật này.
Thời hạn tạm đình chỉ được ghi trong quyết định nhưng không quá thời
hạn quy định tại Điều 148 của Bộ luật này.
Điều 287. Đình chỉ vụ án
1. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án khi thuộc
một trong các trường hợp:
a) một trong các căn cứ quy định tại Điều 145 điểm b khoản 2
Điều 146, khoản 2 Điều 161 hoặc các khoản 3, 4, 5, 6, 7 9 Điều 163 của Bộ
luật này hoặc người chưa thành niên được áp dụng biện pháp xử chuyển
hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên;
b) Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa.
Trường hợp vụ án nhiều bị can, bị cáo căn cứ để đình chỉ vụ án
không liên quan đến tất cả bị can, bị cáo thì có thể đình chỉ vụ án đối với từng bị
can, bị cáo.
2. Quyết định đình chỉ vụ án phải ghi do đình chỉ các nội dung
quy định tại khoản 2 Điều 139 của Bộ luật này.
Điều 288. Phục hồi vụ án
1. Khi do để hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ vụ án hoặc có lý do để
hủy bỏ quyết định đình chỉ vụ án nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự thì Thẩm phán đã ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án
ra quyết định phục hồi vụ án.
Trường hợp Thẩm phán đã ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ
vụ án không thể thực hiện được thì Chánh án ra quyết định phục hồi.
189
2. Trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ đối với từng bị can, bị cáo thì ra
quyết định phục hồi vụ án đối với từng bị can, bị cáo.
3. Quyết định phục hồi vụ án phải ghi do phục hồi vụ án các nội
dung quy định tại khoản 2 Điều 139 của Bộ luật này.
4. Khi phục hồi vụ án, Tòa án quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện
pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này.
Trường hợp căn cứ theo quy định của Bộ luật này cần phải tạm giam
thì thời hạn tạm giam để phục hồi vụ án không được quá thời hạn chuẩn bị xét
xử.
Điều 289. Yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ
1. Khi xét thấy cần bổ sung tài liệu, chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết
vụ án không phải trả hồ để điều tra bổ sung thì Thẩm phán chủ toạ phiên
tòa yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung.
2. Yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ phải bằng văn bản, nêu tài liệu,
chứng cứ cần bổ sung và gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 02 ngày
kể từ ngày ra văn bản yêu cầu.
3. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án, Viện
kiểm sát gửi cho Tòa án tài liệu, chứng cứ được yêu cầu bổ sung. Trường hợp
Viện kiểm sát không bổ sung được tài liệu, chứng cứ thì Tòa án tiến hành xét xử
vụ án.
Điều 290. Viện kiểm sát rút quyết định truy tố
Khi xét thấy một trong các căn cứ quy định tại Điều 163 của Bộ luật
này hoặc căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 của Bộ luật Hình sự thì
Viện kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa đề nghị Tòa án
đình chỉ vụ án.
Điều 291. Việc giao, gửi quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm
1. Quyết định đưa vụ án ra xét xử được giao cho bị cáo hoặc người đại
diện của họ; gửi cho người bào chữa, bị hại, đương sự chậm nhất 10 ngày
trước khi mở phiên tòa.
190
Trường hợp xét xử vắng mặt bị cáo thì quyết định đưa vụ án ra xét xử
được giao cho người bào chữa hoặc người đại diện của bị cáo; quyết định đưa vụ
án ra xét xử còn phải được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo
trú cuối cùng hoặc quan, tổ chức nơi làm việc, học tập cuối cùng của bị
cáo.
2. Quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định phục hồi
vụ án của Tòa án được giao cho bị can, bị cáo, bị hại hoặc người đại diện của
họ và gửi cho người tham gia tố tụng khác trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra
quyết định.
3. Quyết định phân công Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa, quyết định
đưa vụ án ra xét xử, quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ, quyết định
phục hồi vụ án phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 02 ngày kể từ
ngày ra quyết định. Quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ vụ án phải gửi
cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết
định.
4. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp
cưỡng chế được giao cho bị can, bị cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, cơ sở giam giữ
nơi bị can, bị cáo đang bị tạm giam trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định.
Điều 292. Triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa
Căn cứ vào quyết định đưa vụ án ra xét xử, yêu cầu của Kiểm sát viên,
người bào chữa, người tham gia tố tụng khác, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa triệu
tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa.
Mục III.
QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TÒA
Điều 293. Sự mặt của thành viên Hội đồng xét xử Thư Tòa
án
1. Phiên tòa chỉ được tiến hành khi đủ thành viên Hội đồng xét xử
Thư Tòa án. Các thành viên Hội đồng xét xử phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu
cho đến khi kết thúc.
191
2. Trường hợp có Thẩm phán, Hội thẩm không tiếp tục tham gia xét xử vụ
án nhưng Thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết tham gia phiên tòa từ đầu thì
những người này được thay thế làm thành viên Hội đồng xét xử. Trường hợp
Hội đồng xét xử hai Thẩm phán Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không tiếp
tục tham gia xét xử được thì Thẩm phán thành viên Hội đồng xét xử làm chủ
toạ phiên tòa Thẩm phán dự khuyết được bổ sung làm thành viên Hội đồng
xét xử.
3. Trường hợp không có Thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết để thay thế hoặc
phải thay đổi chủ tọa phiên tòa không Thẩm phán để thay thế theo quy
định tại khoản 2 Điều này thì phải hoãn phiên tòa.
4. Trường hợp Thư ký Tòa án bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục tham gia
phiên tòa thì Tòa án vẫn thể xét xử vụ án nếu Thư Tòa án dự khuyết;
nếu không có người thay thế thì tạm ngừng phiên tòa.
Điều 294. Sự có mặt của Kiểm sát viên
1. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải mặt để thực hành quyền
công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa; nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn
phiên tòa. Đối với vụ án tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì có thể có nhiều
Kiểm sát viên. Trường hợp Kiểm sát viên không thể mặt tại phiên tòa thì
Kiểm sát viên dự khuyết mặt tại phiên tòa từ đầu được thay thế để thực hành
quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
2. Trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục thực hành
quyền công tố, kiểm sát xét xử mà không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế
thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa.
Điều 295. Sự có mặt của bị cáo tại phiên tòa
1. Bị cáo phải mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án trong
suốt thời gian xét xử vụ án; nếu vắng mặt không do bất khả kháng hoặc
không do trở ngại khách quan thì bị áp giải; nếu bị cáo vắng mặt vì lý do bất khả
kháng hoặc do trở ngại khách quan thì phải hoãn phiên tòa.
Nếu bị cáo bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo thì Hội đồng xét xử
tạm đình chỉ vụ án cho đến khi bị cáo có kết luận khỏi bệnh hoặc có kết luận đủ
khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi.
192
Nếu bị cáo trốn thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án yêu cầu
quan điều tra truy nã bị cáo.
2. Tòa án chỉ có thể xét xử vắng mặt bị cáo trong các trường hợp:
a) Bị cáo trốn hoặc không biết bị cáo đâu việc truy không kết
quả;
b) Bị cáo đang ở nước ngoài và không thể triệu tập đến phiên tòa;
c) Bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt và được Hội đồng xét xử chấp nhận;
d) Nếu sự vắng mặt của bị cáo không do bất khả kháng hoặc không
do trở ngại khách quan sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc
xét xử.
Điều 296. Sự có mặt của người bào chữa
1. Người bào chữa phải mặt tại phiên tòa để bào chữa cho người
mình đã nhận bào chữa. Người bào chữa có thể gửi trước bản bào chữa cho Tòa
án. Trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất do bất khả kháng
hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị
cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Nếu người bào chữa vắng mặt
không do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan hoặc được
triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử.
2. Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại khoản 1 Điều 81 của
Bộ luật này người bào chữa vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên
tòa, trừ trường hợp bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng
mặt người bào chữa.
Điều 297. Sự có mặt của bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ
1. Nếu bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ vắng mặt thì tùy
trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét
xử.
2. Trường hợp xét thấy sự vắng mặt của bị hại, đương sự chỉ trở ngại cho
việc giải quyết bồi thường thiệt hại thì Hội đồng xét xử thể tách việc bồi
thường để xét xử sau theo quy định của pháp luật.
Điều 298. Sự có mặt của người làm chứng
193
1. Người làm chứng tham gia phiên tòa để làm sáng tỏ những tình tiết của
vụ án. Nếu người làm chứng vắng mặt nhưng trước đó đã có lời khai ở Cơ quan
điều tra thì chủ tọa phiên tòa công bố những lời khai đó. Nếu người làm chứng
về những vấn đề quan trọng của vụ án vắng mặt thì tùy trường hợp, Hội đồng
xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử.
2. Trường hợp người làm chứng được Tòa án triệu tập nhưng cố ý vắng
mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc
vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc xét xử thì Hội đồng xét xử thể quyết
định dẫn giải theo quy định của Bộ luật này.
Điều 299. Sự có mặt của người giám định, người định giá tài sản
1. Người giám định, người định giá tài sản tham gia phiên tòa khi được
Tòa án triệu tập.
2. Nếu người giám định, người định giá tài sản vắng mặt thì tùy trường
hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử.
Điều 300. Sự có mặt của người phiên dịch, người dịch thuật
1. Người phiên dịch, người dịch thuật tham gia phiên tòa khi được Tòa án
triệu tập.
2. Trường hợp người phiên dịch, người dịch thuật vắng mặt không có
người khác thay thế thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.
Điều 301. Sự có mặt của Điều tra viên và những người khác
Trong quá trình xét xử, khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể triệu
tập Điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ
án những người khác đến phiên tòa để trình bày các vấn đề liên quan đến vụ
án.
Điều 302. Hoãn phiên tòa
1. Tòa án hoãn phiên tòa khi thuộc một trong các trường hợp:
a) một trong những căn cứ quy định tại các điều 57, 58, 293, 294, 295,
296, 297, 298, 299 và 300 của Bộ luật này;
b) Cần phải xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật
không thể thực hiện ngay tại phiên tòa;
194
c) Cần tiến hành giám định bổ sung, giám định lại;
d) Cần định giá tài sản, định giá lại tài sản;
đ) Khi bị cáo đủ căn cứ, điều kiện được tạm hoãn truy cứu trách
nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật này.
Trường hợp hoãn phiên tòa thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu.
2. Thời hạn hoãn phiên tòa sơ thẩm không được quá 30 ngày kể từ ngày ra
quyết định hoãn phiên tòa.
3. Trong thời hạn hoãn phiên tòa theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều
này, Tòa án xử lý như sau:
a) Trường hợp bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả thì ra quyết định
đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị cáo theo quy định của Bộ
luật này;
b) Trường hợp bị cáo không khắc phục toàn bộ hậu quả thì Tòa án ra
quyết định tạm đình chỉ vụ án, thời hạn tạm đình chỉ theo quy định tại Điều
148 của Bộ luật này. Khi hết thời hạn tạm đình chỉ, nếu bị cáo vẫn không
khắc phục toàn bộ hậu quả thì Tòa án ra quyết định phục hồi vụ án tiếp
tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
4. Quyết định hoãn phiên tòa có các nội dung chính:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên Tòa án và họ tên Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án;
c) Họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại
phiên tòa;
d) Vụ án được đưa ra xét xử;
đ) Lý do của việc hoãn phiên tòa;
e) Thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa.
5. Quyết định hoãn phiên tòa phải được Thẩm phán chủ tọa phiên tòa
thay mặt Hội đồng xét xử tên. Trường hợp Thẩm phán chủ tọa phiên tòa
vắng mặt hoặc bị thay đổi thì Chánh án Tòa án ra quyết định hoãn phiên tòa.
195
Quyết định hoãn phiên tòa phải được thông báo ngay cho những người
tham gia tố tụng được Tòa án triệu tập theo quyết định đưa vụ án ra xét xử;
gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Điều 303. Giới hạn của việc xét xử
1. Tòa án xét xử những bị cáo những hành vi theo tội danh Viện
kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.
2. Tòa án thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản Viện kiểm
sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn
tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.
3. Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh
Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ để Viện kiểm sát truy tố lại thông
báo do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu
Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án quyền xét xử bị cáo về
tội danh nặng hơn đó.
Điều 304. Việc ra bản án, quyết định của Tòa án
1. Bản án phải được Hội đồng xét xử thảo luận thông qua tại phòng
nghị án.
2. Quyết định về việc thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên,
Thư ký Tòa án, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người
dịch thuật, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, hoãn phiên tòa, bắt tạm giam hoặc
trả tự do cho bị cáo phải được thảo luận, thông qua tại phòng nghị án được
lập văn bản.
3. Quyết định các vấn đề khác được Hội đồng xét xử thảo luận thông
qua tại phòng xử án không phải lập văn bản nhưng phải được ghi vào biên bản
phiên tòa.
Mục IV.
THỦ TỤC BẮT ĐẦU PHIÊN TÒA
Điều 305. Chuẩn bị khai mạc phiên tòa
196
Trước khi khai mạc phiên tòa, Thư Tòa án phải tiến hành các công
việc:
1. Kiểm tra sự mặt của những người được Tòa án triệu tập; nếu
người vắng mặt thì phải nêu lý do;
2. Phổ biến nội quy phiên tòa.
Điều 306. Khai mạc phiên tòa
1. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa
vụ án ra xét xử.
2. Thư Tòa án báo cáo Hội đồng xét xử về sự mặt, vắng mặt của
những người được Tòa án triệu tập và lý do vắng mặt.
3. Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự mặt của những người mặt tại
phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án kiểm tra lịch, phổ biến quyền
nghĩa vụ của họ.
Điều 307. Giải quyết việc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm,
Kiểm sát viên, Thư Tòa án, người giám định, người định giá tài sản,
người phiên dịch, người dịch thuật
Chủ toạ phiên tòa phải hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng
mặt tại phiên tòa xem họ có đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát
viên, Thư Tòa án, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch,
người dịch thuật hay không, do của việc đề nghị thay đổi. Nếu người đề
nghị thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Điều 308. Cam đoan của người phiên dịch, người dịch thuật, người
giám định, người định giá tài sản
Sau khi giải thích quyền nghĩa vụ cho người phiên dịch, người dịch
thuật, người giám định, người định giá tài sản thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu
những người này phải cam đoan làm tròn nhiệm vụ.
Điều 309. Cam đoan của người làm chứng, cách ly người làm chứng
1. Sau khi giải thích quyền nghĩa vụ cho người làm chứng, chủ tọa
phiên tòa yêu cầu người làm chứng phải cam đoan khai trung thực.
197
2. Trước khi người làm chứng được hỏi về vụ án, chủ tọa phiên tòa quyết
định biện pháp để cho những người làm chứng không nghe được lời khai của
nhau hoặc tiếp xúc với những người liên quan. Trường hợp lời khai của bị
cáo người làm chứng ảnh hưởng lẫn nhau thì chủ tọa phiên tòa phải quyết
định cách ly bị cáo với người làm chứng trước khi hỏi người làm chứng.
Điều 310. Giải quyết yêu cầu về xem xét chứng cứ hoãn phiên tòa
khi có người vắng mặt
Chủ tọa phiên tòa phải hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng
mặt tại phiên tòa xem có ai yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu
cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu ra xem xét hay không. Nếu người tham gia
tố tụng vắng mặt hoặc tuy mặt tại phiên tòa nhưng do sức khỏe không
thể tham gia tố tụng thì chủ tọa phiên tòa phải hỏi xem có ai yêu cầu hoãn phiên
tòa hay không; nếu có người yêu cầu thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Mục V.
THỦ TỤC TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA
Điều 311. Công bố bản cáo trạng
Trước khi tiến hành xét hỏi, Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng và trình
bày ý kiến bổ sung (nếu có). Ý kiến bổ sung không được làm xấu đi tình trạng
của bị cáo.
Điều 312. Trình tự xét hỏi
1. Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ những tình tiết về từng sự việc,
từng tội trong vụ án từng người. Chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết
định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý.
2. Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định
để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi.
Người tham gia tố tụng tại phiên tòa quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa
hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ.
198
Người giám định, người định giá tài sản được hỏi về những vấn đề có liên
quan đến việc giám định, định giá tài sản.
3. Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử xem xét vật chứng liên quan trong vụ
án.
Điều 313. Công bố lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố
1. Nếu người được xét hỏi mặt tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử, Kiểm
sát viên không được công bố lời khai của họ trong giai đoạn điều tra, truy tố.
2. Chỉ được công bố những lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố khi
thuộc một trong các trường hợp:
a) Lời khai của người được xét hỏi tại phiên tòa mâu thuẫn với lời khai
của họ trong giai đoạn điều tra, truy tố;
b) Người được xét hỏi không khai tại phiên tòa hoặc không nhớ những lời
khai của mình trong giai đoạn điều tra, truy tố;
c) Người được xét hỏi đề nghị công bố lời khai của họ trong giai đoạn
điều tra, truy tố;
d) Người được xét hỏi vắng mặt hoặc đã chết.
3. Trường hợp đặc biệt cần giữ mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ
tục của dân tộc, giữ mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá
nhân, mật gia đình theo yêu cầu của người tham gia tố tụng hoặc tự xét thấy
cần thiết thì Hội đồng xét xử không công bố tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Điều 314. Hỏi bị cáo
1. Chủ tọa phiên tòa phải quyết định hỏi riêng từng bị cáo. Nếu lời khai
của bị cáo này thể ảnh hưởng đến lời khai của bị cáo khác thì chủ tọa phiên
tòa phải cách ly họ. Bị cáo bị cách ly được thông báo lại nội dung lời khai của bị
cáo trước và có quyền đặt câu hỏi đối với bị cáo đó.
2. Bị cáo trình bày ý kiến về bản cáo trạng những tình tiết của vụ án.
Hội đồng xét xử hỏi thêm về những điểm bị cáo trình bày chưa đầy đủ hoặc
có mâu thuẫn.
Kiểm sát viên hỏi bị cáo về những chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến
việc buộc tội, gỡ tội và những tình tiết khác của vụ án.
199
Người bào chữa hỏi bị cáo về những chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan
đến việc bào chữa và tình tiết khác của vụ án.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự hỏi bị cáo
về những tình tiết liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự.
Những người tham gia tố tụng tại phiên tòa quyền đề nghị chủ toạ
phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết liên quan đến họ.
3. Nếu bị cáo không trả lời các câu hỏi thì Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên,
người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự
tiếp tục hỏi những người khác và xem xét vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ
án.
Khi được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo được đặt câu hỏi với bị cáo
khác về các vấn đề có liên quan đến bị cáo.
Điều 315. Hỏi bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ
Bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ trình bày những tình tiết của
vụ án liên quan đến họ. Sau đó, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào
chữa người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự hỏi thêm
về những điểm mà họ trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn.
Khi được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo có thể hỏi bị hại, đương sự hoặc
người đại diện của họ về các vấn đề có liên quan đến bị cáo.
Điều 316. Hỏi người làm chứng
1. Việc hỏi phải được tiến hành riêng đối với từng người làm chứng
không để cho những người làm chứng khác biết được nội dung xét hỏi đó.
2. Khi hỏi người làm chứng, Hội đồng xét xử phải hỏi rõ về quan hệ giữa
họ với bị cáo các đương sự trong vụ án. Chủ tọa phiên tòa yêu cầu người làm
chứng trình bày những tình tiết của vụ án họ đã biết, sau đó hỏi thêm về
những điểm họ khai chưa đầy đủ hoặc mâu thuẫn. Kiểm sát viên, người
bào chữa, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự thể
hỏi thêm người làm chứng.
Khi được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo thể hỏi người làm chứng về
các vấn đề có liên quan đến bị cáo.
200
3. Sau khi đã trình bày xong, người làm chứng ở lại phòng xử án để có thể
được hỏi thêm.
4. Trường hợp căn cứ xác định người làm chứng, người thân thích của
họ bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh
dự, nhân phẩm thì Hội đồng xét xử phải quyết định biện pháp bảo vệ họ theo
quy định của Bộ luật này và pháp luật khác có liên quan.
5. Trường hợp cần thiết, Tòa án quyết định hỏi người làm chứng qua
mạng máy tính, mạng viễn thông.
Điều 317. Xem xét vật chứng
1. Vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật chứng được đưa ra để xem
xét tại phiên tòa.
Khi cần thiết, Hội đồng xét xử thể cùng với Kiểm sát viên, người bào
chữa, người khác tham gia phiên tòa đến xem xét tại chỗ những vật chứng không
thể đưa đến phiên tòa được. Việc xem xét vật chứng tại chỗ được lập biên bản
theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật này.
2. Kiểm sát viên, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa có quyền
trình bày nhận xét của mình về vật chứng. Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên,
người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có
thể hỏi thêm người tham gia phiên tòa về những vấn đề liên quan đến vật
chứng.
Điều 318. Nghe, xem nội dung được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh
Trường hợp cần kiểm tra chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án
hoặc khi bị cáo tố cáo bị bức cung, dùng nhục hình, Hội đồng xét xử quyết định
việc cho nghe, xem nội dung được ghi âm hoặc ghi hình âm thanh liên quan
tại phiên tòa.
Điều 319. Xem xét tại chỗ
Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử thể cùng với Kiểm sát viên,
người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa đến xem xét nơi đã xảy ra tội
phạm hoặc địa điểm khác liên quan đến vụ án. Kiểm sát viên, người bào
chữa, người khác tham gia phiên tòa quyền trình bày nhận xét của mình về
201
nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến vụ án. Hội đồng xét
xử thể hỏi thêm người tham gia phiên tòa về những vấn đề liên quan đến
nơi đó.
Việc xem xét tại chỗ được lập biên bản theo quy định tại Điều 140 của Bộ
luật này.
Điều 320. Trình bày, công bố báo cáo, tài liệu của cơ quan, tổ chức
Báo cáo, tài liệu của quan, tổ chức về những tình tiết của vụ án do đại
diện cơ quan, tổ chức đó trình bày; trường hợp không có đại diện của cơ quan, tổ
chức tham dự thì Hội đồng xét xử công bố báo cáo, tài liệu tại phiên tòa.
Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa
quyền nhận xét về báo cáo, tài liệu đó hỏi thêm người đại diện của quan,
tổ chức, người khác tham gia phiên tòa về những vấn đề liên quan đến báo cáo,
tài liệu đó.
Điều 321. Hỏi người giám định, người định giá tài sản
1. Hội đồng xét xử tự mình hoặc theo đề nghị của Kiểm sát viên, người
bào chữa, người khác tham gia phiên tòa yêu cầu người giám định, người định
giá tài sản trình bày kết luận của mình về vấn đề được giám định, định giá tài
sản. Khi trình bày, người giám định, người định giá tài sản quyền giải thích
bổ sung về kết luận giám định, định giá tài sản, căn cứ để đưa ra kết luận giám
định, định giá tài sản.
2. Kiểm sát viên, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có mặt tại
phiên tòa quyền nhận xét về kết luận giám định, định giá tài sản, được hỏi
những vấn đề còn chưa hoặc có mâu thuẫn trong kết luận giám định, định giá
tài sản hoặc có mâu thuẫn với những tình tiết khác của vụ án.
3. Trường hợp người giám định, người định giá tài sản không mặt tại
phiên tòa thì chủ tọa phiên tòa công bố kết luận giám định, định giá tài sản.
4. Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử quyết định giám định bổ sung
hoặc giám định lại, định giá lại tài sản.
Điều 322. Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến
hành tố tụng, người tham gia tố tụng trình bày ý kiến
202
Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử tự mình hoặc theo đề nghị của
người tham gia tố tụng yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm
quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trình bày ý kiến để làm
những quyết định, hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử.
Điều 323. Kết thúc việc xét hỏi
Khi xét thấy những tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy đủ thì chủ tọa
phiên tòa hỏi Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người khác tham gia phiên
tòa xem họ yêu cầu xét hỏi vấn đề nữa không. Nếu không yêu cầu xét
hỏi thì kết thúc việc xét hỏi; nếu người yêu cầu và xét thấy yêu cầu đó là cần
thiết thì chủ tọa phiên tòa quyết định tiếp tục việc xét hỏi.
Điều 324. Kiểm sát viên rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội
nhẹ hơn tại phiên tòa
Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên có thể rút một phần hoặc toàn
bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn.
Điều 325. Trình tự phát biểu khi tranh luận
1. Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày luận tội; nếu thấy
không căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết định truy tố đề nghị Tòa án
tuyên bố bị cáo không có tội.
2. Bị cáo trình bày lời bào chữa; người bào chữa trình bày lời bào chữa
cho bị cáo; bị cáo, người đại diện của bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa.
3. Bị hại, đương sự, người đại diện của họ trình bày ý kiến để bảo vệ
quyền lợi ích của mình; nếu người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho
họ thì người này có quyền trình bày, bổ sung ý kiến.
4. Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc
người đại diện của họ trình bày, bổ sung ý kiến sau khi Kiểm sát viên trình bày
luận tội.
Điều 326. Luận tội của Kiểm sát viên
1. Luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ
vật đã được kiểm tra tại phiên tòa ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người
203
bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng
khác tại phiên tòa.
2. Nội dung luận tội phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy
đủ những chứng cứ xác định tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra;
nhân thân vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm,
khoản, điều của Bộ luật Hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử vật chứng, biện pháp pháp;
nguyên nhân, điều kiện phạm tội những tình tiết khác ý nghĩa đối với vụ
án.
3. Đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo
trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ
sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng.
4. Kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.
Điều 327. Tranh luận tại phiên tòa
1. Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày
ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu lập luận của mình để đối đáp với Kiểm sát
viên về những chứng cứ xác định tội, chứng cứ xác định tội; tính chất,
mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm
tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt; trách nhiệm dân sự, xử vật
chứng, biện pháp pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội những tình tiết
khác có ý nghĩa đối với vụ án.
Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác quyền đưa ra đề
nghị của mình.
2. Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến
cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại
phiên tòa.
Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác.
3. Chủ toạ phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, phải tạo
điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, người tham gia tố
204
tụng khác tranh luận, trình bày hết ý kiến nhưng quyền cắt những ý kiến
không liên quan đến vụ án và ý kiến lặp lại.
Chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến của
người bào chữa, người tham gia tố tụng khác những ý kiến đó chưa được
Kiểm sát viên tranh luận.
4. Hội đồng xét xử phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát
viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá
khách quan, toàn diện sự thật của vụ án. Trường hợp không chấp nhận ý kiến
của những người tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải nêu do
được ghi trong bản án.
Điều 328. Trở lại việc xét hỏi
Nếu qua tranh luận thấy còn tình tiết vụ án chưa được hỏi, chưa
được làm sáng tỏ thì Hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc xét hỏi. Xét
hỏi xong phải tiếp tục tranh luận.
Điều 329. Bị cáo nói lời sau cùng
1. Sau khi những người tham gia tranh luận không trình bày gì thêm, chủ
tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc tranh luận.
2. Bị cáo được nói lời sau cùng. Không được đặt câu hỏi khi bị cáo nói lời
sau cùng. Nếu trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới ý
nghĩa quan trọng đối với vụ án thì Hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc
hỏi. Hội đồng xét xử quyền yêu cầu bị cáo không được trình bày những điểm
không liên quan đến vụ án nhưng không được hạn chế thời gian đối với bị cáo.
Điều 330. Xem xét việc rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ
hơn tại phiên tòa
1. Khi Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội
nhẹ hơn thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án.
2. Trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi
nghị án, Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia phiên tòa trình bày ý
kiến về việc rút quyết định truy tố đó.
Mục VI.
205
NGHỊ ÁN VÀ TUYÊN ÁN
Điều 331. Nghị án
1. Chỉ Thẩm phán Hội thẩm mới quyền nghị án. Việc nghị án phải
được tiến hành tại phòng nghị án.
Chủ tọa phiên tòa chủ trì việc nghị án trách nhiệm đưa ra từng vấn đề
của vụ án phải được giải quyết để Hội đồng xét xử thảo luận, quyết định. Chủ
tọa phiên tòa tự mình hoặc phân công một thành viên Hội đồng xét xử ghi biên
bản nghị án. Các thành viên Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề
của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề. Hội thẩm biểu quyết
trước, Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Nếu không có ý kiến nào chiếm đa số thì
phải thảo luận biểu quyết lại từng ý kiến của các thành viên Hội đồng xét xử
đã đưa ra để xác định ý kiến chiếm đa số. Người ý kiến thiểu số quyền
trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án.
2. Việc nghị án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu đã được
thẩm tra tại phiên tòa, trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ của vụ án,
ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác.
3. Các vấn đề của vụ án phải được giải quyết khi nghị án gồm:
a) Vụ án thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc thuộc trường hợp trả hồ
sơ để điều tra bổ sung hay không;
b) Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do quan điều tra, Điều
tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do luật sư, bị can, bị cáo, người
tham gia tố tụng khác cung cấp;
c) hay không căn cứ kết tội bị cáo. Trường hợp đủ căn cứ kết tội thì
phải xác định rõ điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự được áp dụng;
d) Hình phạt, biện pháp pháp áp dụng đối với bị cáo; trách nhiệm bồi
thường thiệt hại; vấn đề dân sự trong vụ án hình sự;
đ) Bị cáo thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt
hay không;
e) Án phí hình sự, án phí dân sự; xử vật chứng; tài sản bị biên, tài
khoản bị phong tỏa;
206
g) Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm
sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử;
h) Kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm.
4. Trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng
xét xử vẫn giải quyết những vấn đề của vụ án theo trình tự quy định tại khoản 1
Điều này. Nếu căn cứ xác định bị cáo không có tội thì Hội đồng xét xử tuyên
bị cáo không tội; nếu thấy việc rút quyết định truy tố không căn cứ thì
quyết định tạm đình chỉ vụ án kiến nghị Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp
hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp.
5. Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp thì Hội đồng xét xử có thể
quyết định kéo dài thời gian nghị án nhưng không quá 07 ngày kể từ ngày kết
thúc tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử phải thông báo cho những người
mặt tại phiên tòa người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa biết giờ,
ngày, tháng, năm và địa điểm tuyên án.
6. Kết thúc việc nghị án, Hội đồng xét xử phải quyết định một trong các
vấn đề:
a) Ra bản án và tuyên án;
b) Trở lại việc xét hỏi tranh luận nếu tình tiết vụ án chưa được xét
hỏi, chưa được làm sáng tỏ;
c) Trả hồ vụ án để Viện kiểm sát điều tra bổ sung; yêu cầu Viện kiểm
sát bổ sung tài liệu, chứng cứ;
d) Tạm đình chỉ vụ án.
Hội đồng xét xử phải thông báo cho những người mặt tại phiên tòa và
người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa về các quyết định tại điểm c
điểm d khoản này.
Điều 332. Tuyên án
Chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của Hội đồng xét xử đọc bản
án. Trường hợp xét xử kín thì chỉ đọc phần quyết định trong bản án. Sau khi đọc
xong có thể giải thích thêm về việc chấp hành bản án và quyền kháng cáo.
Điều 333. Trả tự do cho bị cáo
207
Trong các trường hợp sau đây, Hội đồng xét xử phải tuyên bố trả tự do
ngay tại phiên tòa cho bị cáo đang bị tạm giam, nếu họ không bị tạm giam về
một tội phạm khác:
1. Bị cáo không có tội;
2. Bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự hoặc được miễn hình phạt;
3. Bị cáo bị xử phạt bằng hình phạt không phải là hình phạt tù;
4. Bị cáo bị xử phạt tù nhưng được hưởng án treo;
5. Thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời gian bị cáo đã bị tạm giam.
Điều 334. Bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án
1. Trường hợp bị cáo đang bị tạm giam bị xử phạt nhưng xét thấy
cần tiếp tục tạm giam để bảo đảm thi hành án thì Hội đồng xét xử ra quyết định
tạm giam bị cáo, trừ trường hợp được quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 333
của Bộ luật này.
2. Trường hợp bị cáo không bị tạm giam nhưng bị xử phạt tù thì họ chỉ bị
bắt tạm giam để chấp hành hình phạt khi bản án đã hiệu lực pháp luật. Hội
đồng xét xử thể ra quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay tại phiên tòa nếu
căn cứ cho thấy bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục phạm tội.
3. Thời hạn tạm giam bị cáo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này là
45 ngày kể từ ngày tuyên án.
4. Trường hợp bị cáo bị xử phạt tử hình thì Hội đồng xét xử quyết định
trong bản án việc tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.
Chương XXIII
XÉT XỬ PHÚC THẨM
Mục I. TÍNH CHẤT CỦA XÉT XỬ PHÚC THẨM
VÀ QUYỀN KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ
Điều 335. Tính chất của xét xử phúc thẩm
208
1. Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc
xét lại quyết định thẩm bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa
có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị.
2. Quyết định thẩm bị kháng cáo, kháng nghị quyết định tạm đình
chỉ, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị
cáo, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và quyết định khác của Tòa
án cấp thẩm theo quy định của Bộ luật này, Luật pháp người chưa thành
niên.
Điều 336. Người có quyền kháng cáo
1. Bị cáo, bị hại, người đại diện của họ quyền kháng cáo bản án hoặc
quyết định sơ thẩm.
2. Người bào chữa quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người chưa
thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà mình bào chữa.
3. Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người đại diện của họ quyền
kháng cáo phần bản án hoặc quyết định liên quan đến việc bồi thường thiệt
hại.
4. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện của
họ quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi,
nghĩa vụ của họ.
5. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người
chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền
kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của
người mà mình bảo vệ.
6. Người được Tòa án tuyên không tội quyền kháng cáo về các căn
cứ mà bản án sơ thẩm đã xác định là họ không có tội.
Điều 337. Thủ tục kháng cáo
1. Người kháng cáo phải gửi đơn kháng cáo đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm
hoặc Tòa án cấp phúc thẩm.
Trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, Giám thị Trại tạm giam, Trưởng
Nhà tạm giữ, Trưởng phân trại thuộc trại tạm giam phải bảo đảm cho bị cáo thực
209
hiện quyền kháng cáo, nhận đơn kháng cáo chuyển cho Tòa án cấp thẩm
đã ra bản án, quyết định bị kháng cáo.
Người kháng cáo thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xét xử thẩm
hoặc Tòa án cấp phúc thẩm về việc kháng cáo. Tòa án phải lập biên bản về việc
kháng cáo theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật này.
Tòa án cấp phúc thẩm đã lập biên bản về việc kháng cáo hoặc nhận được
đơn kháng cáo thì phải gửi biên bản hoặc đơn kháng cáo cho Tòa án cấp sơ thẩm
để thực hiện theo quy định chung.
2. Đơn kháng cáo có các nội dung chính:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;
b) Họ tên, địa chỉ của người kháng cáo;
c) Lý do và yêu cầu của người kháng cáo;
d) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.
3. Kèm theo đơn kháng cáo hoặc cùng với việc trình bày trực tiếp
chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung (nếu có) để chứng minh tính căn cứ của
kháng cáo.
Điều 338. Thời hạn kháng cáo
1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên
án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính
từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của
pháp luật.
2. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định thẩm 07 ngày kể từ ngày
người có quyền kháng cáo nhận được quyết định.
3. Ngày kháng cáo được xác định như sau:
a) Trường hợp đơn kháng cáo gửi qua dịch vụ bưu chính thì ngày kháng
cáo là ngày theo dấu bưu chính nơi gửi;
b) Trường hợp đơn kháng cáo gửi qua Giám thị Trại tạm giam, Trưởng
Nhà tạm giữ, Trưởng phân trại thuộc trại tạm giamthì ngày kháng cáo ngày
Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ, Trưởng phân trại thuộc trại tạm
210
giam nhận được đơn. Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ, Trưởng
phân trại thuộc trại tạm giam phải ghi rõ ngày nhận đơn và ký xác nhận vào đơn;
c) Trường hợp người kháng cáo nộp đơn kháng cáo tại Tòa án thì ngày
kháng cáo ngày Tòa án nhận đơn. Trường hợp người kháng cáo trình bày trực
tiếp với Tòa án thì ngày kháng cáo ngày Tòa án lập biên bản về việc kháng
cáo.
Điều 339. Thủ tục tiếp nhận và xử lý kháng cáo
1. Sau khi nhận được đơn kháng cáo hoặc biên bản về việc kháng cáo,
Tòa án cấp thẩm phải vào sổ tiếp nhận và kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng
cáo theo quy định của Bộ luật này.
2. Trường hợp đơn kháng cáo hợp lệ thì Tòa án cấp sơ thẩm thông báo về
việc kháng cáo theo quy định tại Điều 343 của Bộ luật này.
3. Trường hợp đơn kháng cáo hợp lệ nhưng nội dung kháng cáo chưa
thì Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay cho người kháng cáo để làm rõ.
4. Trường hợp nội dung đơn kháng cáo đúng quy định của Bộ luật này
nhưng quá thời hạn kháng cáo thì Tòa án cấp thẩm yêu cầu người kháng cáo
trình bày do và xuất trình chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có) để chứng minh lý
do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng.
5. Trường hợp người làm đơn kháng cáo không quyền kháng cáo thì
trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận đơn, Tòa án trả lại đơn thông báo
bằng văn bản cho người làm đơn, Viện kiểm sát cùng cấp. Văn bản thông báo
phải ghi rõ lý do của việc trả lại đơn.
Việc trả lại đơn có thể bị khiếu nại trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận
được thông báo. Việc giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại
Chương XXXIII của Bộ luật này.
Điều 340. Kháng cáo quá hạn
1. Việc kháng cáo quá hạn được chấp nhận nếu do bất khả kháng
hoặc do trở ngại khách quan mà người kháng cáo không thể thực hiện được việc
kháng cáo trong thời hạn do Bộ luật này quy định.
211
2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn,
Tòa án cấp thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường trình của người kháng
cáo về do kháng cáo quá hạn chứng cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có)
cho Tòa án cấp phúc thẩm.
3. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn
chứng cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có), Tòa án cấp phúc thẩm thành lập
Hội đồng gồm ba Thẩm phán để xem xét kháng cáo quá hạn. Hội đồng xét
kháng cáo quá hạn quyền ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận
kháng cáo quá hạn phải ghi do của việc chấp nhận hoặc không chấp
nhận trong quyết định.
4. Phiên họp xét kháng cáo quá hạn phải có sự tham gia của Kiểm sát viên
Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 03 ngày trước ngày xét đơn kháng cáo
quá hạn, Tòa án cấp phúc thẩm gửi bản sao đơn kháng cáo quá hạn và chứng cứ,
tài liệu kèm theo (nếu có) cho Viện kiểm sát cùng cấp. Kiểm sát viên phát biểu
quan điểm của Viện kiểm sát về việc xét kháng cáo quá hạn.
5. Quyết định của Hội đồng xét kháng cáo quá hạn được gửi cho người
kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp thẩm Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án
cấp phúc thẩm.
Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo quá hạn thì Tòa
án cấp thẩm phải tiến hành các thủ tục do Bộ luật này quy định và gửi hồ sơ
vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm.
Điều 341. Kháng nghị của Viện kiểm sát
1. Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyền
kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ thẩm.
2. Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát có các nội dung chính:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của quyết định kháng
nghị;
b) Tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị;
c) Kháng nghị đối với toàn bộ hay một phần bản án, quyết định sơ thẩm;
d) Lý do, căn cứ kháng nghị và yêu cầu của Viện kiểm sát;
212
đ) Họ tên, chức vụ của người ký quyết định kháng nghị.
Điều 342. Thời hạn kháng nghị
1. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với bản án của
Tòa án cấp thẩm 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp 30 ngày
kể từ ngày Tòa án tuyên án.
2. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định của
Tòa án cấp thẩm 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp 15 ngày
kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Điều 343. Thông báo về việc kháng cáo, gửi quyết định kháng nghị
1. Việc kháng cáo phải được Tòa án cấp thẩm thông báo bằng văn bản
cho Viện kiểm sát cùng cấp những người liên quan đến kháng cáo trong thời
hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo. Thông báo phải nêu rõ yêu cầu
của người kháng cáo.
2. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định kháng nghị, Viện kiểm
sát phải gửi quyết định kháng nghị kèm theo chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung
(nếu có) cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm, gửi quyết định kháng nghị cho bị cáo và
những người liên quan đến kháng nghị. Viện kiểm sát đã kháng nghị phải gửi
quyết định kháng nghị cho Viện kiểm sát khác có thẩm quyền kháng nghị.
3. Người tham gia tố tụng nhận được thông báo về việc kháng cáo, kháng
nghị quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo, kháng
nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm. Ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 344. Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị
Những phần của bản án, quyết định của Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị
thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 368 của Bộ luật
này. Khi có kháng cáo, kháng nghị đối với toàn bộ bản án, quyết định thì toàn bộ
bản án, quyết định chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều
368 của Bộ luật này.
Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, kháng cáo, kháng nghị và chứng
cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có) cho Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn
07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
213
Điều 345. Thụ lý vụ án
1. Ngay sau khi nhận được hồ vụ án kháng cáo, kháng nghị
chứng cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có), Tòa án cấp phúc thẩm phải vào sổ
thụ lý.
2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày thụ vụ án, Chánh án Tòa án cấp
phúc thẩm phân công Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa, phiên họp.
Điều 346. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát
1. Sau khi thụ vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm phải chuyển hồ vụ án
cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 15 ngày đối với Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, 20 ngày đối với Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương kể từ ngày nhận được hồ
vụ án, Viện kiểm sát phải trả lại hồ vụ án cho Tòa án. Trường hợp vụ án
thuộc loại tội đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thì thời hạn này thể kéo dài
nhưng không quá 25 ngày đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm
sát quân sự cấp quân khu, 30 ngày đối với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát quân sự trung ương.
2. Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật
bổ sung trước khi xét xử thì phải chuyển chứng cứ, tài liệu, đồ vật này cho Viện
kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài
liệu, đồ vật bổ sung thì Viện kiểm sát phải trả lại cho Tòa án.
Điều 347. Thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị
1. Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng
cáo quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo, Viện kiểm sát ra quyết định kháng
nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị nhưng không được làm xấu hơn tình
trạng của bị cáo; người kháng cáo rút một phần hoặc toàn bộ kháng cáo; Viện
kiểm sát ra quyết định kháng nghị hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp
quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị.
2. Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên
tòa phải lập văn bản gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm
phải thông báo cho Viện kiểm sát, bị cáo và những người có liên quan đến kháng
cáo, kháng nghị biết về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị. Việc
214
thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa được ghi vào biên bản
phiên tòa.
3. Trường hợp người kháng cáo rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát rút
một phần kháng nghị tại phiên tòa xét thấy không liên quan đến kháng cáo,
kháng nghị khác thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định về việc rút một phần
kháng cáo, kháng nghị quyết định đình chỉ xét xử phần kháng cáo, kháng
nghị đó trong bản án phúc thẩm.
Điều 348. Hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không
có kháng cáo, kháng nghị
Bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa
án không bị kháng cáo, kháng nghị thì hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời
hạn kháng cáo, kháng nghị.
Mục II.
THỦ TỤC XÉT XỬ PHÚC THẨM
Điều 349. Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm
1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án,
quyết định của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị.
2. Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao thẩm quyền xét xử phúc
thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị.
3. Tòa án quân sự cấp quân khu thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án,
quyết định của Tòa án quân sự khu vực bị kháng cáo, kháng nghị.
4. Tòa án quân sự trung ương thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án,
quyết định của Tòa án quân sự cấp quân khu bị kháng cáo, kháng nghị.
Điều 350. Phạm vi xét xử phúc thẩm
Tòa án cấp phúc thẩm xem xét phần nội dung của bản án, quyết định bị
kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết, có thể xem xét các phần khác của
bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị.
Điều 351. Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
215
1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu phải mở phiên
tòa phúc thẩm trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án; trường
hợp xét xử vụ án về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có mức cao nhất của khung
hình phạt đến 20 năm thì thời hạn mở phiên tòa phúc thẩm 90 ngày kể từ
ngày nhận được hồ sơ vụ án.
Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung ương phải
mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ
án.
2. Trong thời hạn 45 ngày đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân
sự cấp quân khu, 75 ngày đối với Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa
án quân sự trung ương kể từ ngày thụ vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa
phải ra một trong các quyết định:
a) Đình chỉ xét xử phúc thẩm;
b) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử,
Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm.
4. Chậm nhất 10 ngày trước khi mở phiên tòa, Tòa án cấp phúc thẩm
phải gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp, người bào
chữa, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người
kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị.
Điều 352. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp
cưỡng chế
1. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền quyết định việc áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế.
Việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó
Chánh án Tòa án; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc
thẩm Tòa án nhân dân tối cao quyết định. Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các
biện pháp ngăn chặn khác, biện pháp cưỡng chế do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa
quyết định.
216
2. Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn
bị xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 351 của Bộ luật này.
Trường hợp còn thời hạn tạm giam bị cáo xét thấy cần phải tiếp tục
tạm giam bị cáo thì Tòa án cấp phúc thẩm sử dụng thời hạn tạm giam theo quyết
định tạm giam của Tòa án cấp thẩm. Trường hợp đã hết thời hạn tạm giam bị
cáo theo quyết định tạm giam của Tòa án cấp sơ thẩm thì Chánh án, Phó Chánh
án Tòa án, Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm
Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định tạm giam mới.
Đối với bị cáo đang bị tạm giam, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để
hoàn thành việc xét xử thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam cho đến khi
kết thúc phiên tòa.
3. Đối với bị cáo đang bị tạm giam bị xử phạt đến ngày kết thúc
phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam
bị cáo để bảo đảm việc thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản 4
khoản 5 Điều 333 của Bộ luật này.
Đối với bị cáo không bị tạm giam nhưng bị xử phạt tù thì Hội đồng xét xử
có thể ra quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay sau khi tuyên án.
Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
Điều 353. Đình chỉ xét xử phúc thẩm
1. Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với vụ án mà
người kháng cáo đã rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát đã rút toàn bộ kháng
nghị. Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm trước khi mở phiên tòa do Thẩm phán chủ
tọa phiên tòa quyết định, tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định. Bản án sơ
thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình
chỉ xét xử phúc thẩm.
2. Trường hợp người kháng cáo rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát rút
một phần kháng nghị trước khi mở phiên tòa xét thấy không liên quan đến
kháng cáo, kháng nghị khác thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định
đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo, kháng nghị đã rút.
3. Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm ghi do đình chỉ các nội
dung theo quy định tại khoản 2 Điều 139 của Bộ luật này.
217
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án cấp phúc thẩm
phải gửi quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm cho Viện kiểm sát cùng cấp, Tòa
án đã xét xử thẩm, người bào chữa, bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người kháng cáo, người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị.
Điều 354. Sự mặt của thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư
ký Tòa án
1. Phiên tòa chỉ được tiến hành khi đủ thành viên Hội đồng xét xử
Thư Tòa án. Các thành viên Hội đồng xét xử phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu
cho đến khi kết thúc phiên tòa.
2. Trường hợp Thẩm phán không tiếp tục tham gia xét xử vụ án nhưng
Thẩm phán dự khuyết tham gia phiên tòa từ đầu thì những người này được
thay thế làm thành viên Hội đồng xét xử. Trường hợp Thẩm phán chủ tọa phiên
tòa không tiếp tục tham gia xét xử được thì Thẩm phán thành viên Hội đồng
xét xử làm chủ toạ phiên tòa Thẩm phán dự khuyết được bổ sung làm thành
viên Hội đồng xét xử.
3. Trường hợp không Thẩm phán dự khuyết hoặc phải thay đổi chủ tọa
phiên tòa mà không có Thẩm phán để thay thế thì phải hoãn phiên tòa.
4. Trường hợp Thư ký Tòa án bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục tham gia
phiên tòa thì Tòa án vẫn thể xét xử vụ án nếu Thư Tòa án dự khuyết;
nếu không có người thay thế thì tạm ngừng phiên tòa.
Điều 355. Sự có mặt của Kiểm sát viên
1. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải mặt để thực hành quyền
công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa, nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn
phiên tòa. Đối với vụ án tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì có thể có nhiều
Kiểm sát viên. Trường hợp Kiểm sát viên không thể mặt tại phiên tòa thì
Kiểm sát viên dự khuyết mặt tại phiên tòa từ đầu được thay thế để thực hành
quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
2. Trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục thực hành
quyền công tố, kiểm sát xét xử mà không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế
thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa.
218
Điều 356. Sự mặt của người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi
ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người kháng cáo, người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị
1. Người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại,
đương sự, người kháng cáo, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng
cáo, kháng nghị được triệu tập đến phiên tòa thì phải mặt tại phiên tòa. Nếu
có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử giải quyết:
a) Trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất do bất khả
kháng hoặc do trở ngại khách quan thì phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị
cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Trường hợp người bào chữa vắng
mặt không do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan hoặc được
triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
Trường hợp phải chỉ định người bào chữa theo quy định tại khoản 1 Điều
81 của Bộ luật này người bào chữa vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa, trừ
trường hợp bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người
bào chữa;
b) Trường hợp người kháng cáo, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến kháng cáo, kháng nghị bị hại, đương sự người đại diện của họ, người
bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự vắng mặt không vì lý do
bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì Hội đồng xét xử vẫn tiến
hành xét xử. Trường hợp những người này vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc
do trở ngại khách quan thì Hội đồng xét xử có thể tiến hành xét xử nhưng không
được ra bản án hoặc quyết định không có lợi cho bị hại, đương sự;
c) Bị cáo kháng cáo hoặc bị kháng cáo, bị kháng nghị nếu vắng mặt vì
do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Hội đồng xét xử có thể vẫn
tiến hành xét xử nhưng không được ra bản án, quyết định không lợi cho bị
cáo. Nếu sự vắng mặt của bị cáo do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách
quan sự vắng mặt đó không gây trở ngại cho việc xét xử thì Hội đồng xét xử
vẫn tiến hành xét xử.
2. Khi xét thấy cần thiết, Tòa án cấp phúc thẩm quyết định triệu tập những
người khác tham gia phiên tòa.
219
Điều 357. Hoãn phiên tòa phúc thẩm
1. Tòa án cấp phúc thẩm chỉ được hoãn phiên tòa khi thuộc một trong các
trường hợp:
a) một trong những căn cứ quy định tại các điều 57, 58, 354, 355
356 của Bộ luật này;
b) Cần phải xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật
không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa.
Trường hợp hoãn phiên tòa thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu.
2. Thời hạn hoãn phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại
khoản 2 Điều 302 của Bộ luật này.
3. Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm phải được chủ tọa phiên tòa thay
mặt Hội đồng xét xử tên. Trường hợp chủ tọa phiên tòa vắng mặt hoặc bị
thay đổi thì Chánh án Tòa án, Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa Tòa Phúc thẩm
Tòa án nhân dân tối cao ký quyết định hoãn phiên tòa.
Quyết định hoãn phiên tòa phải thông báo ngay cho những người tham gia
tố tụng mặt tại phiên tòa; gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp những người
vắng mặt tại phiên tòa trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Điều 358. Bổ sung, xem xét chứng cứ, tài liệu, đồ vật
1. Trước khi xét xử hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát có thể tự
mình hoặc theo yêu cầu của Tòa án bổ sung chứng cứ mới; người đã kháng cáo
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, người bào
chữa, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự cũng
quyền bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật.
2. Chứng cứ cũ, chứng cứ mới, tài liệu, đồ vật mới bổ sung đều phải được
xem xét tại phiên tòa phúc thẩm. Bản án phúc thẩm phải căn cứ vào cả chứng cứ
cũ và chứng cứ mới.
Điều 359. Thủ tục phiên tòa phúc thẩm
1. Thủ tục bắt đầu phiên tòa thủ tục tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm
được tiến hành như phiên tòa thẩm nhưng trước khi xét hỏi, một thành viên
220
của Hội đồng xét xử trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ
thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị.
2. Chủ tọa phiên tòa hỏi người kháng cáo thay đổi, bổ sung, rút kháng
cáo hay không; nếu thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên trình bày ý
kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo.
Chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị
hay không; nếu có thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu bị cáo và những người liên quan
đến kháng nghị trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị.
3. Khi tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên, người khác liên quan đến
kháng cáo, kháng nghị phát biểu ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị;
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.
Điều 360. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án
sơ thẩm
1. Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền:
a) Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị giữ nguyên bản án
thẩm;
b) Sửa bản án sơ thẩm;
c) Hủy bản án thẩm chuyển hồ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử
lại;
d) Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án;
đ) Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm.
2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Điều 361. Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản
án sơ thẩm
Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị giữ
nguyên bản án sơ thẩm khi xét thấy các quyết định của bản án sơ thẩm có căn cứ
và đúng pháp luật.
Điều 362. Sửa bản án sơ thẩm
221
1. Khi căn cứ xác định bản án thẩm đã tuyên không đúng với tính
chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo hoặc tình tiết
mới thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm như sau:
a) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo; không áp
dụng hình phạt bổ sung; không áp dụng biện pháp tư pháp;
b) Áp dụng điều, khoản của Bộ luật Hình sự về tội nhẹ hơn;
c) Giảm hình phạt cho bị cáo;
d) Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật chứng;
đ) Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn;
e) Giữ nguyên hoặc giảm mức hình phạt tù và cho hưởng án treo;
g) Miễn, giảm án phí.
2. Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc bị hại kháng cáo yêu cầu thì
Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể:
a) Tăng hình phạt, áp dụng điều, khoản của Bộ luật Hình sự về tội nặng
hơn; áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng biện pháp tư pháp;
b) Tăng mức bồi thường thiệt hại;
c) Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nặng hơn;
d) Không cho bị cáo hưởng án treo;
đ) Tăng án phí.
Nếu căn cứ thì Hội đồng xét xử vẫn thể giảm hình phạt, áp dụng
điều, khoản của Bộ luật Hình sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác
thuộc loại nhẹ hơn, giữ nguyên mức hình phạt cho hưởng án treo, giảm
mức bồi thường thiệt hại, miễn, giảm án phí.
3. Trường hợp căn cứ, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể sửa bản án sơ
thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều này cho những bị cáo không kháng cáo
hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị.
Điều 363. Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại
1. Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại trong các
trường hợp:
222
a) căn cứ cho rằng cấp thẩm bỏ lọt tội phạm, người phạm tội hoặc
để khởi tố, điều tra về tội nặng hơn tội đã tuyên trong bản án sơ thẩm;
b) Việc điều tra cấp thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể
bổ sung được;
c) vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy
tố.
2. Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án thẩm để xét xử lại cấp
thẩm với thành phần Hội đồng xét xử mới trong các trường hợp:
a) Hội đồng xét xử thẩm không đúng thành phần Bộ luật này quy
định;
b) vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn xét xử
thẩm;
c) Người được Tòa án cấp thẩm tuyên không tội nhưng căn cứ
cho rằng người đó đã phạm tội;
d) Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc áp dụng biện pháp
pháp đối với bị cáo không có căn cứ;
đ) Bản án thẩm sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật
nhưng không thuộc trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án theo quy
định tại Điều 362 của Bộ luật này.
3. Khi hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại, Hội đồng xét xử
phúc thẩm phải ghi rõ lý do của việc hủy bản án sơ thẩm.
4. Khi hủy bản án thẩm để xét xử lại, Hội đồng xét xử phúc thẩm
không quyết định trước những chứng cứ Tòa án cấp thẩm cần phải chấp
nhận hoặc cần phải bác bỏ, cũng như không quyết định trước về điểm, khoản,
điều của Bộ luật Hình sự cần áp dụng và hình phạt đối với bị cáo.
5. Trường hợp hủy bản án thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại mà thời
hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết và xét thấy cần phải tiếp tục tạm giam bị cáo
thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo cho đến
khi Viện kiểm sát hoặc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án.
223
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên hủy bản án sơ thẩm, hồ sơ vụ án
phải được chuyển cho Viện kiểm sát hoặc Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết theo
thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
Điều 364. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án
1. Khi một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 163,
của Bộ luật này thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo
không có tội và đình chỉ vụ án.
2. Khi một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 161, các khoản
3, 4, 5, 6 7 Điều 163 của Bộ luật này thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản
án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.
Điều 365. Điều tra lại hoặc xét xử lại vụ án hình sự
1. Sau khi Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án thẩm để điều tra lại
thì quan điều tra, Viện kiểm sát Tòa án cấp thẩm thẩm quyền tiến
hành điều tra, truy tố, xét xử lại vụ án theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật
này.
2. Sau khi Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại thì
Tòa án cấp thẩm thẩm quyền tiến hành xét xử lại vụ án theo thủ tục chung
quy định tại Bộ luật này.
Điều 366. Thẩm quyền của Hội đồng phúc thẩm đối với quyết định sơ
thẩm
1. Hội đồng phúc thẩm có quyền:
a) Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên quyết định của
Tòa án cấp thẩm khi xét thấy các quyết định của Tòa án cấp thẩm căn
cứ và đúng pháp luật;
b) Sửa quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
c) Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa
án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.
2. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
Điều 367. Thủ tục phúc thẩm đối với quyết định sơ thẩm
224
1. Khi phúc thẩm đối với quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì
Hội đồng xét xử phúc thẩm phải triệu tập người kháng cáo, người bào chữa,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị tham gia phiên họp. Trường hợp họ
vắng mặt thì Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiến hành phiên họp.
2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thụ hồ vụ án, Tòa án phải mở
phiên họp để xem xét quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp, Hội đồng
xét xử phúc thẩm phải mở phiên họp. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra
quyết định thì Tòa án phải chuyển hồ vụ án kèm theo quyết định mở phiên
họp cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được
hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án.
3. Tại phiên họp, một thành viên của Hội đồng xét xử phúc thẩm trình bày
tóm tắt nội dung quyết định thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị và chứng
cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có).
Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải mặt tại phiên họp phát
biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị
trước khi Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định.
Phần thứ năm
MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA
ÁN
Chương XXIV
BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH ĐƯỢC THI HÀNH NGAY VÀ THẨM QUYỀN
RA QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN
Điều 368. Bản án, quyết định của Tòa án được thi hành ngay
Trường hợp bị cáo đang bị tạm giam Tòa án cấp thẩm quyết định
đình chỉ vụ án, tuyên bị cáo không tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình
phạt cho bị cáo, hình phạt không phải hình phạt hoặc phạt nhưng cho
hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm
225
giam thì bản án hoặc quyết định của Tòa án được thi hành ngay, mặc dù vẫn có
thể bị kháng cáo, kháng nghị.
Hình phạt cảnh cáo được thi hành ngay tại phiên tòa.
Điều 369. Thẩm quyền và thủ tục ra quyết định thi hành án
1. Chánh án Tòa án đã xét xử thẩm thẩm quyền ra quyết định thi
hành án hoặc ủy thác cho Chánh án Tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành
án.
2. Thời hạn ra quyết định thi hành án 07 ngày kể từ ngày bản án, quyết
định thẩm hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết
định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác thi hành
của Chánh án Tòa án đã xét xử thẩm thì Chánh án Tòa án được ủy thác phải
ra quyết định thi hành án.
3. Trường hợp người bị kết án phạt đang tại ngoại thì quyết định thi
hành án phạt phải ghi trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết
định, người đó phải mặt tại quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để
thi hành án.
Trường hợp người bị kết án phạt đang tại ngoại bỏ trốn thì Chánh
án Tòa án đã ra quyết định thi hành án yêu cầu quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh nơi người bị kết án phạt tù đang tại ngoại ra quyết định truy nã.
Điều 370. Giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án
1. quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự, Viện kiểm sát,
người bị kết án, bị hại, đương sự liên quan đến việc thi hành án quyền yêu
cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích, sửa chữa những điểm chưa
trong bản án, quyết định để thi hành.
2. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã ra bản án, quyết định trách nhiệm
giải thích, sửa chữa những điểm chưa trong bản án, quyết định của Tòa án.
Trường hợp Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không thể thực hiện được thì việc giải
thích, sửa chữa do Chánh án Tòa án đã ra bản án, quyết định đó thực hiện.
Điều 371. Giải quyết kiến nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án
226
1. Trường hợp quan thi hành án hình sự, quan thi hành án dân sự
kiến nghị về việc xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám
đốc thẩm thì Tòa án có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời trong thời hạn 90 ngày
kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị. Trường hợp vụ án phức tạp thì thời hạn
trả lời thể kéo dài nhưng không quá 120 ngày kể từ ngày nhận được văn bản
kiến nghị.
2. Trường hợp quan thi hành án hình sự, quan thi hành án dân
sự kiến nghị về việc xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục tái
thẩm thì Viện kiểm sát thẩm quyền trách nhiệm trả lời trong thời hạn
nêu tại khoản 1 Điều này.
Chương XXV
MỘT SỐ THỦ TỤC VỀ THI HÀNH ÁN TỬ HÌNH, XÉT THA TÙ
TRƯỚC THỜI HẠN CÓ ĐIỀU KIỆN, XÓA ÁN TÍCH
Điều 372. Thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành
1. Thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành được thực hiện:
a) Sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải được gửi
ngay cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bản án phải được gửi ngay cho
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
b) Sau khi đã xem xét hồ vụ án để quyết định kháng nghị hoặc quyết
định không kháng nghị giám đốc thẩm Tòa án nhân dân tối cao phải chuyển hồ
vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày
nhận được hồ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải trả lại hồ vụ án
cho Tòa án nhân dân tối cao.
Trường hợp căn cứ kháng nghị tái thẩm thì Tòa án nhân dân tối cao
phải chuyển ngay hồ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao để xem xét
kháng nghị theo thủ tục tái thẩm;
c) Trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày nhận được hồ vụ án, Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc quyết định không
kháng nghị giám đốc thẩm, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải
227
quyết định kháng nghị hoặc quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc
tái thẩm;
d) Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người
bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước;
đ) Bản án tử hình được thi hành nếu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không kháng nghị theo thủ tục giám
đốc thẩm hoặc tái thẩm người bị kết án không đơn xin ân giảm lên Chủ
tịch nước.
Trường hợp bản án tử hình bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc
tái thẩm Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm Tòa án nhân dân tối
cao quyết định không chấp nhận kháng nghị giữ nguyên bản án tử hình thì
Tòa án nhân dân tối cao phải thông báo ngay cho người bị kết án biết để họ làm
đơn xin ân giảm hình phạt tử hình;
e) Trường hợp người bị kết án đơn xin ân giảm gửi Chủ tịch nước thì
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
ý kiến trình Chủ tịch nước về việc xét đơn xin ân giảm. Trường hợp Chủ tịch
nước quyết định ân giảm thì Chánh án Tòa án đã xét xử thẩm ra quyết định
chuyển hình phạt tử hình thành chung thân cho người bị kết án. Hết thời hạn
01 năm kể từ ngày nhận được ý kiến của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Chủ tịch nước không quyết
định ân giảm thì quan thẩm quyền thông báo ngay về việc không có quyết
định ân giảm của Chủ tịch nước để Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm tổ chức
việc thi hành bản án tử hình theo quy định.
2. Khi căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự thì
Chánh án Tòa án đã xét xử thẩm không ra quyết định thi hành án tử hình
báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để xem xét chuyển hình phạt tử hình
thành tù chung thân cho người bị kết án.
3. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng quy định chi tiết Điều này.
Điều 373. Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện
228
1. Trại giam; Trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Trại tạm giam thuộc Bộ
Quốc phòng, quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu trách nhiệm lập hồ đề nghị tha trước thời hạn
chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân
khu, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân
đang chấp hành án phạt tù.
Hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn gồm:
a) Đơn xin tha trước thời hạn của phạm nhân kèm theo cam kết không
vi phạm pháp luật, các nghĩa vụ phải chấp hành khi được tha tù trước thời hạn;
b) Bản sao bản án có hiệu lực pháp luật; quyết định thi hành án;
c) Bản sao quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với người bị
kết án về tội phạm nghiêm trọng trở lên;
d) Văn bản, tài liệu thể hiện việc chấp hành xong hình phạt bổ sung
hình phạt tiền, án phí, các nghĩa vụ dân sự;
đ) Tài liệu về cá nhân, hoàn cảnh gia đình của phạm nhân;
e) Kết quả xếp loại chấp hành án phạt quý, 06 tháng, năm; quyết định
khen thưởng hoặc giấy xác nhận của quan có thẩm quyền về việc phạm nhân
lập công (nếu có);
g) Văn bản đề nghị tha tù trước thời hạn của cơ quan lập hồ sơ.
2. Văn bản đề nghị tha trước thời hạn của quan lập hồ gồm các
nội dung chính:
a) Số, ngày, tháng, năm của văn bản;
b) Họ tên, chức vụ, chữ ký của người có thẩm quyền đề nghị;
c) Họ tên, giới tính, năm sinh, nơi trú của phạm nhân; nơi phạm nhân
chấp hành thời gian thử thách;
d) Thời gian đã chấp hành án phạt tù; thời gian chấp hành án phạt còn
lại;
đ) Nhận xét và đề nghị của cơ quan lập hồ sơ.
229
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị tha tù trước
thời hạn, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu
phải ra văn bản thể hiện quan điểm về việc đề nghị tha tù trước thời hạn có điều
kiện của cơ quan đề nghị.
Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu quan lập hồ bổ sung tài liệu thì
trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan lập hồ sơ phải bổ
sung tài liệu và gửi cho Viện kiểm sát, Tòa án.
4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ của quan đề
nghị, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân
khu phải mở phiên họp xét tha trước thời hạn điều kiện; đồng thời thông
báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên tham gia
phiên họp. Trường hợp Tòa án yêu cầu quan lập hồ bổ sung tài liệu thì
trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan lập hồ sơ phải bổ
sung tài liệu và gửi cho Tòa án, Viện kiểm sát.
5. Hội đồng xét tha trước thời hạn điều kiện gồm Chánh án 02
Thẩm phán, do Chánh án làm Chủ tịch Hội đồng.
6. Tại phiên họp, một thành viên của Hội đồng trình bày tóm tắt hồ sơ đề
nghị. Kiểm sát viên trình bày quan điểm của Viện kiểm sát về việc đề nghị xét
tha trước thời hạn có điều kiện của cơ quan đề nghị và việc tuân thủ pháp luật
trong việc xét, quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Đại diện cơ quan đã
lập hồ đề nghị thể trình bày bổ sung để làm việc đề nghị tha trước
thời hạn.
7. Phiên họp xét tha tù trước thời hạn có điều kiện được lập biên bản. Biên
bản ghi ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên họp; thành phần tham gia phiên
họp; nội dung, diễn biến phiên họp quyết định của Hội đồng về việc chấp
nhận hoặc không chấp nhận đề nghị tha trước thời hạn điều kiện đối với
từng phạm nhân.
Sau khi kết thúc phiên họp, Kiểm sát viên xem biên bản phiên họp, yêu
cầu ghi những sửa đổi, bổ sung (nếu có) vào biên bản phiên họp; Chủ tịch Hội
đồng phải kiểm tra biên bản, cùng với thư ký phiên họp ký vào biên bản.
230
8. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định tha trước thời hạn
điều kiện, Tòa án phải gửi quyết định cho phạm nhân, Viện kiểm sát cùng
cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, quan đã lập hồ sơ đề nghị, Tòa án đã ra
quyết định thi hành án, quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cấp quân
khu, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được tha tù trước thời hạn về cư trú, đơn
vị quân đội được giao quản lý người đó, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định
có trụ sở.
9. Ngay sau khi nhận được quyết định tha trước thời hạn điều kiện,
sở giam giữ phải tổ chức công bố quyết định này và thực hiện các thủ tục thi
hành quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Trong thời gian thử thách mà
người được tha trước thời hạn điều kiện không vi phạm các quy định tại
khoản 4 Điều 66 của Bộ luật Hình sự thì khi hết thời gian thử thách, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi
đã quản lý họ có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù.
10. Trường hợp người được tha trước thời hạn vi phạm quy định tại
khoản 4 Điều 66 của Bộ luật Hình sự thì quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh nơi người được tha trước thời hạn về trú, đơn vị quân đội được
giao quản người đó phải lập hồ chuyển đến Viện kiểm sát và Tòa án đã ra
quyết định tha trước thời hạn điều kiện để xem xét, hủy quyết định đã ban
hành và buộc người đó phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành.
Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được hồ đề nghị, Tòa án phải
mở phiên họp để xem xét, quyết định.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định hủy bỏ quyết định tha tù
trước thời hạn điều kiện, Tòa án phải gửi quyết định cho quan, nhân
quy định tại khoản 8 Điều này.
11. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, phạm nhân có quyền khiếu nại đối
với quyết định về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị tha tù trước thời
hạn có điều kiện, quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết kháng nghị, khiếu nại các quyết
định quy định tại khoản này được thực hiện theo quy định tại Chương XXIII và
Chương XXXIII của Bộ luật này.
231
Điều 374. Thủ tục xóa án tích
1. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của người được
đương nhiên xóa án tích và xét thấy có đủ điều kiện quy định tại Điều 70 của Bộ
luật Hình sự thì cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp là họ không có
án tích.
2. Những trường hợp quy định tại Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật Hình sự
thì việc xóa án tích do Tòa án quyết định. Người bị kết án phải đơn gửi Tòa
án đã xét xử thẩm vụ án nhận xét của Ủy ban nhân dân cấp nơi họ
trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được đơn của người bị kết án,
Tòa án đã xét xử thẩm chuyển tài liệu về việc xin xoá án tích cho Viện kiểm
sát cùng cấp. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận tài liệu do Tòa án chuyển
đến, Viện kiểm sát cùng cấp ý kiến bằng văn bản chuyển lại tài liệu cho
Tòa án.
Nếu xét thấy đủ điều kiện thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận tài
liệu do Viện kiểm sát chuyển đến, Chánh án Tòa án đã xét xử thẩm phải ra
quyết định xóa án tích; trường hợp chưa đủ điều kiện thì quyết định bác đơn xin
xóa án tích.
Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày ra quyết định xóa án tích hoặc quyết
định bác đơn xin xóa án tích, Tòa án đã ra quyết định phải gửi quyết định này
cho người bị kết án, Viện kiểm sát cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi họ cư
trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập.
Phần thứ sáu
XÉT LẠI BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT
Chương XXVI
THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM
Điều 375. Tính chất của giám đốc thẩm
Giám đốc thẩm xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã hiệu lực
pháp luật nhưng bị kháng nghị phát hiện vi phạm pháp luật nghiêm trọng
trong việc giải quyết vụ án.
232
Điều 376. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong các căn cứ:
1. Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những
tình tiết khách quan của vụ án;
2. vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử
dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án;
3. Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.
Điều 377. Phát hiện bản án, quyết định đã hiệu lực pháp luật cần
xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Người bị kết án, cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân có quyền phát hiện vi
phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và
thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị.
2. Tòa án quân sự cấp quân khu thực hiện việc kiểm tra bản án, quyết định
đã hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự khu vực để phát hiện vi phạm pháp
luật và kiến nghị Chánh án Tòa án quân sự trung ương xem xét kháng nghị.
3. Khi thực hiện công tác giám đốc việc xét xử, kiểm sát việc xét xử hoặc
qua các nguồn thông tin khác Tòa án, Viện kiểm sát phát hiện vi phạm pháp
luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã hiệu lực pháp luật thì thông báo
ngay bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị.
Điều 378. Những người quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm
1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã
hiệu lực pháp luật của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân
dân cấp tỉnh; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét
thấy cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2. Chánh án Tòa án quân sự trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân
sự trung ương quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết
233
định đã hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự
khu vực.
3. Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định
đã hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực trong phạm vi tỉnh, thành
phố.
Điều 379. Thủ tục thông báo bản án, quyết định của Tòa án đã
hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Khi phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã
hiệu lực pháp luật thì người bị kết án, quan, tổ chức, nhân thông báo
bằng văn bản hoặc trình bày trực tiếp với người có thẩm quyền kháng nghị hoặc
với Tòa án, Viện kiểm sát nơi gần nhất kèm theo chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu
có).
2. Văn bản thông báo có các nội dung chính:
a) Ngày, tháng, năm;
b) Tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo;
c) Bản án, quyết định của Tòa án đã hiệu lực pháp luật bị phát hiện có
vi phạm pháp luật;
d) Nội dung vi phạm pháp luật được phát hiện;
đ) Kiến nghị người có thẩm quyền xem xét kháng nghị.
3. Người thông báo nhân phải tên hoặc điểm chỉ; trường hợp
quan, tổ chức thông báo thì người đại diện theo pháp luật của quan, tổ chức
đó phải ký tên và đóng dấu.
Điều 380. Thủ tục tiếp nhận thông báo bản án, quyết định của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Khi nhận được thông báo bằng văn bản thì Tòa án, Viện kiểm sát phải
vào sổ nhận thông báo.
2. Khi người bị kết án, quan, tổ chức, nhân trình bày trực tiếp về vi
phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì
Tòa án, Viện kiểm sát phải lập biên bản; nếu người thông báo cung cấp chứng
234
cứ, tài liệu, đồ vật thì Tòa án, Viện kiểm sát phải lập biên bản thu giữ. Biên bản
được lập theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật này.
3. Tòa án, Viện kiểm sát đã nhận thông báo, lập biên bản phải gửi ngay
thông báo, biên bản kèm theo chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có) cho người
thẩm quyền kháng nghị và thông báo bằng văn bản cho người bị kết án, cơ quan,
tổ chức, cá nhân đã kiến nghị, đề nghị biết.
Điều 381. Chuyển hồ vụ án để xem xét kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm
1. Trường hợp cần thiết phải nghiên cứu hồ vụ án để xem xét kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì Tòa án, Viện kiểm sát thẩm quyền yêu
cầu bằng văn bản để Tòa án đang quản lý hồ sơ chuyển hồ sơ vụ án.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, Tòa án
đang quản hồ vụ án phải chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án, Viện kiểm sát đã
yêu cầu.
2. Trường hợp Tòa án Viện kiểm sát cùng văn bản yêu cầu thì Tòa
án đang quản hồ vụ án chuyển hồ cho quan yêu cầu trước thông
báo cho cơ quan yêu cầu sau biết.
Điều 382. Tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định bị kháng nghị
giám đốc thẩm
Người ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định
đã hiệu lực pháp luật thì quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án,
quyết định đó.
Quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định bị kháng nghị giám
đốc thẩm phải gửi cho Tòa án, Viện kiểm sát nơi đã xét xử thẩm, phúc thẩm
và cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Điều 383. Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm có các nội dung chính:
1. Số, ngày, tháng, năm của quyết định;
2. Người có thẩm quyền ra quyết định;
3. Số, ngày, tháng, năm của bản án, quyết định bị kháng nghị;
235
4. Nhận xét, phân tích những vi phạm pháp luật, sai lầm của bản án, quyết
định bị kháng nghị;
5. Căn cứ pháp luật để quyết định kháng nghị;
6. Quyết định kháng nghị toàn bộ hay một phần bản án, quyết định;
7. Tên của Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm vụ án;
8. Yêu cầu của người kháng nghị.
Điều 384. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Việc kháng nghị theo hướng không lợi cho người bị kết án chỉ được
tiến hành trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp
luật.
2. Việc kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án có thể được tiến
hành bất cứ lúc nào, cả trong trường hợp người bị kết án đã chết cần minh
oan cho họ.
3. Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với đương sự được
thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
4. Nếu không căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì
người quyền kháng nghị phải trả lời bằng văn bản cho quan, tổ chức,
nhân đã kiến nghị biết rõ lý do của việc không kháng nghị.
Điều 385. Gửi quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
1. Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phải gửi ngay cho Tòa án đã ra
bản án, quyết định đã hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, người bị kết án,
quan thi hành án hình sự, quan thi hành án dân sự thẩm quyền những
người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung kháng nghị.
2. Trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị thì quyết
định kháng nghị kèm theo hồ vụ án phải gửi ngay cho Tòa án có thẩm quyền
giám đốc thẩm.
Trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự
trung ương kháng nghị thì quyết định kháng nghị kèm theo hồ vụ án phải
được gửi ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
236
Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải gửi quyết định kháng nghị kèm
theo hồ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày
nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải gửi lại hồ sơ vụ án cho Tòa án.
3. Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương
kháng nghị thì quyết định kháng nghị kèm theo hồ vụ án phải gửi ngay cho
Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm.
Điều 386. Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị
1. Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm, người kháng
nghị quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị nếu chưa hết thời hạn kháng nghị.
Việc bổ sung, thay đổi kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải bằng quyết định
được gửi theo quy định tại khoản 1 Điều 385 của Bộ luật này. Việc bổ sung,
thay đổi kháng nghị tại phiên tòa được ghi vào biên bản phiên tòa.
2. Trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm, người kháng nghị
quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị. Việc rút kháng nghị trước khi
mở phiên tòa phải bằng quyết định; việc rút kháng nghị tại phiên tòa được ghi
vào biên bản phiên tòa.
3. Trường hợp rút toàn bộ kháng nghị trước khi mở phiên tòa thì Chánh án
Tòa án thẩm quyền giám đốc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc
thẩm. Trường hợp rút toàn bộ kháng nghị tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra
quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm.
Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án gửi quyết định
đình chỉ xét xử giám đốc thẩm cho những người quy định tại khoản 1 Điều 385
của Bộ luật này và Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 387. Thẩm quyền giám đốc thẩm
1. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bằng Hội
đồng xét xử gồm năm Thẩm phán đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa
án quân sự trung ương bị kháng nghị.
2. Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm
đối với bản án, quyết định đã hiệu lực pháp luật quy định tại khoản 1 Điều
237
này nhưng tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm
năm Thẩm phán nhưng không thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định
về việc giải quyết vụ án.
Khi Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám
đốc thẩm thì phải ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia, do Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao làm chủ tọa phiên tòa. Quyết định của Hội đồng toàn
thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải được quá nửa tổng số thành viên
Hội đồng biểu quyết tán thành; nếu không được quá nửa tổng số thành viên của
Hội đồng toàn thể Thẩm phán tán thành thì phải hoãn phiên tòa. Trong thời hạn
30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa thì Hội đồng toàn thể Thẩm
phán phải mở phiên tòa xét xử lại vụ án.
3. Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương giám đốc thẩm đối với
bản án, quyết định đã hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu,
Tòa án quân sự khu vực bị kháng nghị. Khi xét xử giám đốc thẩm thì phải có ít
nhất hai phần ba tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự
trung ương tham gia, do Chánh án Tòa án quân sự trung ương làm chủ tọa phiên
tòa. Quyết định của Ủy ban Thẩm phán phải được quá nửa tổng số thành viên
biểu quyết tán thành; nếu không được quá nửa tổng số thành viên của Ủy ban
Thẩm phán tán thành thì phải hoãn phiên tòa. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày
ra quyết định hoãn phiên tòa thì Ủy ban Thẩm phán phải mở phiên tòa xét xử lại
vụ án.
4. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh giám đốc thẩm đối với
bản án, quyết định đã hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực bị
kháng nghị. Khi xét xử giám đốc thẩm thì phải ít nhất hai phần ba tổng số
thành viên của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh tham gia, do Chánh
án Tòa án nhân dân cấp tỉnh làm chủ tọa phiên tòa. Quyết định của Ủy ban
Thẩm phán phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; nếu
không được quá nửa tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm phán tán thành thì
phải hoãn phiên tòa. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên
tòa thì Ủy ban Thẩm phán phải mở phiên tòa xét xử lại vụ án.
238
5. Bản án, quyết định đã hiệu lực pháp luật bị kháng nghị thuộc thẩm
quyền giám đốc thẩm của các cấp khác nhau thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao giám đốc thẩm toàn bộ vụ án.
Điều 388. Những người tham gia phiên tòa giám đốc thẩm
1. Phiên tòa giám đốc thẩm phải sự tham gia của Kiểm sát viên Viện
kiểm sát cùng cấp.
2. Trường hợp xét thấy cần thiết hoặc căn cứ sửa một phần bản án,
quyết định đã hiệu lực pháp luật, Tòa án phải triệu tập người bị kết án, người
bào chữa những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị
tham gia phiên tòa giám đốc thẩm; nếu họ vắng mặt thì phiên tòa giám đốc thẩm
vẫn được tiến hành.
Điều 389. Chuẩn bị phiên tòa giám đốc thẩm
Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán là thành viên Hội đồng giám
đốc thẩm làm bản thuyết trình về vụ án. Bản thuyết trình tóm tắt nội dung vụ án
và các bản án, quyết định của các cấp Tòa án, nội dung của kháng nghị.
Bản thuyết trình các tài liệu liên quan phải gửi cho các thành viên
Hội đồng giám đốc thẩm chậm nhất 07 ngày trước ngày mở phiên tòa giám
đốc thẩm.
Điều 390. Thời hạn mở phiên tòa giám đốc thẩm
Trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị kèm
theo hồ sơ vụ án, Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải mở phiên tòa.
Điều 391. Thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm
1. Sau khi chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa, một thành viên Hội đồng
giám đốc thẩm trình bày bản thuyết trình về vụ án. Các thành viên khác của Hội
đồng giám đốc thẩm hỏi thêm Thẩm phán thuyết trình về những điểm chưa
trước khi thảo luận phát biểu ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án.
Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên trình bày nội dung
kháng nghị.
239
2. Trường hợp người bị kết án, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến kháng nghị có mặt tại phiên tòa thì những người này được trình
bày ý kiến về những vấn đề mà Hội đồng giám đốc thẩm yêu cầu.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về quyết định kháng
nghị và việc giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm tranh
tụng về những vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án. Chủ tọa phiên tòa
phải tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng trình bày hết ý
kiến, tranh luận dân chủ, bình đẳng trước Tòa án.
3. Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm phát biểu ý kiến của mình
thảo luận. Hội đồng giám đốc thẩm biểu quyết về việc giải quyết vụ án và công
bố quyết định về việc giải quyết vụ án.
Điều 392. Phạm vi giám đốc thẩm
Hội đồng giám đốc thẩm phải xem xét toàn bộ vụ án không chỉ hạn
chế trong nội dung của kháng nghị.
Điều 393. Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm
1. Không chấp nhận kháng nghị giữ nguyên bản án, quyết định đã
hiệu lực pháp luật bị kháng nghị.
2. Hủy bản án, quyết định đã hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án,
quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm b
hủy, sửa không đúng pháp luật.
3. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét
xử lại.
4. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án.
5. Sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
6. Đình chỉ xét xử giám đốc thẩm.
Điều 394. Không chấp nhận kháng nghị giữ nguyên bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị
240
Hội đồng giám đốc thẩm không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản
án, quyết định đã hiệu lực pháp luật bị kháng nghị khi xét thấy bản án, quyết
định đó có căn cứ và đúng pháp luật.
Điều 395. Hủy bản án, quyết định đã hiệu lực pháp luật giữ
nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp thẩm hoặc
Tòa án cấp phúc thẩm bị hủy, sửa không đúng pháp luật
Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định hủy bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp
sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm nhưng bị hủy, sửa không đúng pháp luật.
Điều 396. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra
lại hoặc xét xử lại
Hội đồng giám đốc thẩm hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã
hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại nếu có một trong các căn cứ
quy định tại Điều 376 của Bộ luật này. Nếu hủy để xét xử lại thì tùy trường hợp,
Hội đồng giám đốc thẩm thể quyết định xét xử lại từ cấp thẩm hoặc cấp
phúc thẩm.
Trường hợp xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo thì Hội đồng giám đốc
thẩm ra quyết định tạm giam cho đến khi Viện kiểm sát hoặc Tòa án thụ lý lại vụ
án.
Điều 397. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ
vụ án
Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án, quyết định đã hiệu lực pháp luật
đình chỉ vụ án nếu có một trong các căn cứ quy định tại Điều 163 của Bộ luật
này.
Điều 398. Sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án, quyết định đã hiệu lực pháp luật
khi có đủ các điều kiện:
1. Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã rõ ràng, đầy đủ;
241
2. Việc sửa bản án, quyết định không làm thay đổi bản chất của vụ án,
không làm xấu đi tình trạng của người bị kết án, không gây bất lợi cho bị hại,
đương sự.
Điều 399. Quyết định giám đốc thẩm
1. Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định giám đốc thẩm nhân danh nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Quyết định giám đốc thẩm có các nội dung:
a) Ngày, tháng, năm và địa điểm mở phiên tòa;
b) Họ tên các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm;
c) Họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phiên
tòa;
d) Tên vụ án mà Hội đồng đưa ra xét xử giám đốc thẩm;
đ) Tên, tuổi, địa chỉ của người bị kết án những người khác quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan theo quyết định giám đốc thẩm;
e) Tóm tắt nội dung vụ án, phần quyết định của bản án, quyết định đã
hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;
g) Quyết định kháng nghị, căn cứ kháng nghị;
h) Nhận định của Hội đồng giám đốc thẩm, trong đó phải phân tích những
căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng nghị;
i) Điểm, khoản, điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Hình sự mà Hội
đồng giám đốc thẩm căn cứ để ra quyết định;
k) Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm.
Điều 400. Hiệu lực của quyết định giám đốc thẩm việc gửi quyết
định giám đốc thẩm
1. Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ
ngày ra quyết định.
2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định, Hội đồng giám đốc
thẩm phải gửi quyết định giám đốc thẩm cho người bị kết án, người đã kháng
nghị; Viện kiểm sát cùng cấp; Viện kiểm sát, Tòa án nơi đã xét xử sơ thẩm, phúc
242
thẩm; quan thi hành án hình sự, quan thi hành án dân sự thẩm quyền,
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị hoặc người đại diện
của họ; thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị kết án
cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án làm việc, học tập.
Điều 401. Thời hạn chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại
Nếu Hội đồng giám đốc thẩm quyết định hủy bản án, quyết định đã
hiệu lực pháp luật để điều tra lại thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết
định, hồ vụ án phải được chuyển cho Viện kiểm sát cùng cấp để điều tra lại
theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
Nếu Hội đồng giám đốc thẩm quyết định hủy bản án, quyết định đã
hiệu lực pháp luật để xét xử lại vụ án cấp thẩm hoặc cấp phúc thẩm thì
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định, hồ vụ án phải được chuyển
cho Tòa án thẩm quyền để xét xử lại theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật
này.
Chương XXVII
THỦ TỤC TÁI THẨM
Điều 402. Tính chất của tái thẩm
Tái thẩm xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án
nhưng bị kháng nghị tình tiết mới được phát hiện thể làm thay đổi
bản nội dung của bản án, quyết định Tòa án không biết được khi ra bản án,
quyết định đó.
Điều 403. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo
thủ tục tái thẩm khi có một trong các căn cứ:
1. căn cứ chứng minh lời khai của người làm chứng, kết luận giám
định, kết luận định giá tài sản, lời dịch của người phiên dịch, bản dịch thuật
những điểm quan trọng không đúng sự thật;
243
2. tình tiết Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm do
không biết được kết luận không đúng làm cho bản án, quyết định của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án;
3. Vật chứng, biên bản về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, biên bản hoạt
động tố tụng khác hoặc những chứng cứ, tài liệu, đồ vật khác trong vụ án bị giả
mạo hoặc không đúng sự thật;
4. Những tình tiết khác làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án.
Điều 404. Thông báo và xác minh những tình tiết mới được phát hiện
1. Người bị kết án, quan, tổ chức mọi nhân quyền phát hiện
tình tiết mới của vụ án thông báo kèm theo các tài liệu liên quan cho Viện
kiểm sát hoặc Tòa án. Trường hợp Tòa án nhận được thông báo hoặc tự mình
phát hiện tình tiết mới của vụ án thì phải thông báo ngay bằng văn bản kèm theo
các tài liệu liên quan cho Viện trưởng Viện kiểm sát thẩm quyền kháng nghị
tái thẩm. Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm ra quyết
định xác minh những tình tiết đó.
2. Viện kiểm sát phải xác minh những tình tiết mới; khi xét thấy cần thiết,
Viện trưởng Viện kiểm sát thẩm quyền kháng nghị tái thẩm yêu cầu Cơ quan
điều tra thẩm quyền xác minh tình tiết mới của vụ án chuyển kết quả xác
minh cho Viện kiểm sát.
3. Khi tiến hành xác minh tình tiết mới của vụ án, Viện kiểm sát, Cơ quan
điều tra quyền áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng theo quy định của Bộ
luật này.
Điều 405. Những người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
1. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyền kháng nghị theo
thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã hiệu lực pháp luật của Tòa án
các cấp, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2. Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương quyền kháng nghị
theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa
án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực.
244
3. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo
thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã hiệu lực pháp luật của Tòa án
nhân dân khu vực thuộc phạm vi tỉnh, thành phố.
Điều 406. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
1. Tái thẩm theo hướng không lợi cho người bị kết án chỉ được thực
hiện trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 27 của Bộ
luật Hình sự thời hạn kháng nghị không được quá 01 năm kể từ ngày Viện
kiểm sát nhận được tin báo về tình tiết mới được phát hiện.
2. Tái thẩm theo hướng lợi cho người bị kết án thì không hạn chế về
thời gian được thực hiện cả trong trường hợp người bị kết án đã chết mà cần
minh oan cho họ.
3. Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với đương sự được
thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Điều 407. Thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm
1. Không chấp nhận kháng nghị giữ nguyên bản án, quyết định đã
hiệu lực pháp luật bị kháng nghị.
2. Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã hiệu lực pháp luật để điều tra
lại hoặc xét xử lại.
3. Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ
vụ án.
4. Đình chỉ việc xét xử tái thẩm.
Điều 408. Các thủ tục khác về tái thẩm
Các thủ tục khác về tái thẩm được thực hiện theo các quy định về thủ tục
giám đốc thẩm quy định tại Bộ luật này.
Chương XXVIII
THỦ TỤC XEM XÉT LẠI QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG THẨM
PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
245
Điều 409. Yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1. Khi căn cứ xác định quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết
quan trọng mới thể làm thay đổi bản nội dung quyết định Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không biết được khi ra quyết định đó, nếu
Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu, Ủy ban Pháp luật pháp của Quốc
hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiến nghị, Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao đề nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối phải mở
phiên họp để xem xét lại quyết định đó.
2. Trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu thì Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao trách nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao.
3. Trường hợp Ủy ban Pháp luật pháp của Quốc hội, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiến nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao mở phiên họp xem xét kiến nghị đó.
Trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị thì báo cáo Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao mở phiên họp xem xét đề nghị đó.
Điều 410. Thành phần tham dự phiên họp của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến nghị, đề nghị
1. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải tham dự phiên họp của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến nghị của Ủy ban
Pháp luật pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
2. Đại diện Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội được mời tham dự
phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến
nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội.
3. Trường hợp xét thấy cần thiết, Tòa án nhân dân tối cao thể mời
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham dự phiên họp.
Điều 411. Chuẩn bị mở phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị
246
1. Sau khi nhận được kiến nghị của Ủy ban Pháp luật pháp của
Quốc hội, của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc sau khi Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao văn bản đề nghị xem xét lại quyết định của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện
kiểm sát nhân dân tối cao bản sao văn bản kiến nghị hoặc đề nghị đó kèm theo
hồ vụ án để Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuẩn bị ý kiến phát biểu tại
phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức thẩm định hồ sơ để báo cáo Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định tại phiên họp.
2. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị của Ủy ban
Pháp luật pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao hoặc kể từ ngày Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có văn bản
đề nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải mở phiên họp
xem xét kiến nghị, đề nghị đó thông báo bằng văn bản cho Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao về thời gian, địa điểm mở phiên họp xem xét kiến
nghị, đề nghị.
Điều 412. Thủ tục mở phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị
1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tự mình hoặc phân công một thành
viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trình bày tóm tắt nội dung vụ
án và quá trình giải quyết vụ án.
2. Đại diện Ủy ban Pháp luật pháp của Quốc hội, Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiến nghị, đề
nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
trình bày về các vấn đề sau:
a) Nội dung kiến nghị, đề nghị;
b) Căn cứ kiến nghị, đề nghị;
c) Phân tích chứng cứ cũ và chứng cứ mới bổ sung (nếu có) để làm rõ việc
vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao hoặc những tình tiết quan trọng mới thể làm thay đổi cơ
bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
247
3. Trường hợp xem xét kiến nghị của Ủy ban Pháp luật pháp của
Quốc hội hoặc xem xét đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu ý kiến về tính có căn cứ và hợp
pháp của kiến nghị, đề nghị; nêu rõ quan điểm và lý do nhất trí hoặc không nhất
trí với kiến nghị, đề nghị đó.
4. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thảo luận biểu quyết
theo đa số về việc nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị xem xét lại
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
5. Trường hợp nhất trí với kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của
Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
quyết định về việc mở phiên họp để xem xét lại quyết định của mình.
6. Mọi diễn biến tại phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị các quyết
định được thông qua tại phiên họp được ghi vào biên bản phiên họp và lưu hồ sơ
xem xét kiến nghị, đề nghị.
Điều 413. Thông báo kết quả phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị
Sau khi kết thúc phiên họp, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
gửi văn bản thông báo kết quả phiên họp về việc nhất trí hoặc không nhất trí
kiến nghị, đề nghị cho Ủy ban Pháp luật pháp của Quốc hội, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Văn bản thông báo phải nêu do của việc
nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị đó.
Trường hợp không nhất trí kết quả xem xét kiến nghị, đề nghị của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì Ủy ban Pháp luật pháp của
Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao có quyền báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
Điều 414. Thẩm định hồ vụ án; xác minh, thu thập chứng cứ, tài
liệu, đồ vật
1. Trường hợp yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc có quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhất trí xem xét lại quyết
định của mình thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức việc thẩm định hồ
248
vụ án tổ chức việc xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật trong
trường hợp cần thiết.
2. Việc thẩm định hồ vụ án, xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ
vật phải làm hay không vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc hay
không tình tiết quan trọng mới làm thay đổi bản nội dung quyết định của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Điều 415. Thời hạn mở phiên họp xem xét lại quyết định của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1. Trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhận được yêu cầu của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội hoặc kể từ ngày quyết định của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao nhất trí xem xét lại quyết định của mình, Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải mở phiên họp.
2. Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao văn bản
thông báo về thời gian, địa điểm mở phiên họp xem xét lại quyết định của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao kèm theo hồ vụ án trong trường
hợp có yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Điều 416. Thủ tục và thẩm quyền xem xét lại quyết định của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải tham dự phiên họp
xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và phát
biểu quan điểm về việc hay không vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc
hay không tình tiết mới quan trọng làm thay đổi bản nội dung quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quan điểm về việc
giải quyết vụ án.
2. Sau khi nghe Chánh án Tòa án nhân dân tối cao báo cáo, nghe ý kiến
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của quan, tổ chức, nhân
liên quan tham dự (nếu có), Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
quyết định:
a) Không chấp nhận yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, kiến nghị
của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
249
dân tối cao, đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và giữ nguyên quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
b) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy
bản án, quyết định đã hiệu lực pháp luật vi phạm pháp luật quyết định
về nội dung vụ án;
c) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy
bản án, quyết định đã hiệu lực pháp luật xác định trách nhiệm bồi thường
thiệt hại theo quy định của pháp luật;
d) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy
bản án, quyết định đã hiệu lực pháp luật vi phạm pháp luật để điều tra lại
hoặc xét xử lại.
3. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải
được ít nhất ba phần tổng số thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao biểu quyết tán thành.
Điều 417. Gửi quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao về việc xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao
Sau khi Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ra một trong các
quyết định quy định tại Điều 416 của Bộ luật này, Tòa án nhân dân tối cao gửi
quyết định cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Pháp luật pháp của
Quốc hội, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quan điều tra, Viện kiểm sát
Tòa án đã giải quyết vụ án và những người có liên quan.
Phần thứ bảy
THỦ TỤC ĐẶC BIỆT
Chương XXIX
THỦ TỤC TỐ TỤNG TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ PHÁP
NHÂN
Điều 418. Phạm vi áp dụng
250
Thủ tục tố tụng đối với pháp nhân bị tố giác, báo tin về tội phạm, kiến
nghị khởi tố, bị điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được tiến hành theo quy
định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật này
không trái với quy định của Chương này.
Điều 419. Khởi tố vụ án, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án
hình sự
1. Khi xác định dấu hiệu tội phạm do pháp nhân thực hiện thì cơ quan
thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại các điều
149, 159 và 160 của Bộ luật này.
2. Căn cứ, trình tự, thủ tục thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình
sự được thực hiện theo quy định tại Điều 162 của Bộ luật này.
Điều 420. Khởi tố bị can, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can
đối với pháp nhân
1. Khi đủ căn cứ xác định pháp nhân đã thực hiện hành vi Bộ luật
Hình sự quy định là tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị
can đối với pháp nhân.
2. Quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân ghi thời gian, địa điểm
ra quyết định; họ tên, chức vụ người ra quyết định; tên và địa chỉ của pháp nhân
theo quyết định thành lập của quan thẩm quyền; tội danh, điều khoản của
Bộ luật Hình sự đã áp dụng; thời gian, địa điểm phạm tội và những tình tiết khác
của tội phạm.
Nếu pháp nhân bị khởi tố về nhiều tội khác nhau thì trong quyết định khởi
tố bị can đối với pháp nhân phải ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật
Hình sự đã áp dụng.
3. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục khởi tố bị can, thay đổi, bổ sung quyết
định khởi tố bị can đối với pháp nhân được thực hiện theo quy định tại Điều 185
và 186 của Bộ luật này.
Điều 421. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tham gia tố
tụng
251
1. Mọi hoạt động tố tụng của pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự
được thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Pháp nhân phải cử
bảo đảm cho người đại diện theo pháp luật của mình tham gia đầy đủ các
hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án theo yêu cầu của cơ quan,
người có thẩm quyền.
Trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bị khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử hoặc không thể tham gia tố tụng được thì pháp nhân phải cử
người khác làm người đại diện theo pháp luật của mình tham gia tố tụng. Trường
hợp pháp nhân thay đổi người đại diện thì pháp nhân phải thông báo ngay cho
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Tại thời điểm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử pháp nhân không
người đại diện theo pháp luật hoặc nhiều người cùng đại diện theo pháp
luật thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định một người đại diện cho
pháp nhân tham gia tố tụng.
2. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tham gia tố tụng phải
thông báo cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng họ tên, ngày, tháng, năm
sinh, quốc tịch, dân tộc, tôn giáo, giới tính, nghề nghiệp, chức vụ của mình. Nếu
sự thay đổi những thông tin này thì người đại diện theo pháp luật phải thông
báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Điều 422. Quyền nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của
pháp nhân
1. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có quyền:
a) Được thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm;
b) Được biết lý do pháp nhân mà mình đại diện bị khởi tố;
c) Được thông báo, được giải thích về quyền nghĩa vụ quy định tại
Điều này;
d) Được nhận quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân; quyết định
thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân; quyết định phê
chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân; quyết định phê chuẩn quyết
định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân; quyết định
áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp cưỡng chế; bản kết luận điều tra; quyết định
252
đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo
trạng; quyết định đưa vụ án ra xét xử; bản án, quyết định của Tòa án quyết
định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;
đ) Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai
chống lại pháp nhân mình đại diện hoặc buộc phải thừa nhận pháp nhân mà
mình đại diện có tội;
e) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
g) Đề nghị thay đổi người thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám
định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật theo quy định
của Bộ luật này;
h) Tự bào chữa, nhờ người bào chữa cho pháp nhân;
i) Được đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu đã được số hóa liên
quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào
chữa cho pháp nhân kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu;
k) Tham gia phiên tòa, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi
những người tham gia phiên tòa nếu được chủ tọa đồng ý; tranh luận tại phiên
tòa;
l) Phát biểu ý kiến sau cùng trước khi nghị án;
m) Xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên
bản phiên tòa;
n) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;
o) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của quan, người thẩm
quyền tiến hành tố tụng.
2. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có nghĩa vụ:
a) mặt theo giấy triệu tập của người thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan
thì có thể bị dẫn giải;
b) Chấp hành quyết định, yêu cầu của quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng.
253
Điều 423. Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân
1. quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế sau
đây đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử:
a) Kê biên tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
b) Phong tỏa tài khoản của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của
pháp nhân;
c) Tạm đình chỉ thời hạn hoạt động của pháp nhân liên quan đến hành
vi phạm tội của pháp nhân;
d) Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án.
2. Thời hạn áp dụng các biện pháp cưỡng chế quy định tại khoản 1 Điều
này không được quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử.
Điều 424. Kê biên tài sản
1. biên tài sản áp dụng đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố,
xét xử về tội Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc để bảo đảm bồi
thường thiệt hại.
2. Chỉ biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị tịch thu, phạt tiền
hoặc bồi thường thiệt hại. Tài sản bị kê biên được giao cho người đứng đầu pháp
nhân trách nhiệm bảo quản; nếu để xảy ra việc tiêu dùng, sử dụng trái phép,
chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại tài sản bị biên thì người này
phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
3. Khi kê biên tài sản của pháp nhân phải có mặt những người sau:
a) Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân;
b) Đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi pháp nhân có tài sản bị kê biên;
c) Người chứng kiến.
4. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục biên tài sản được thực hiện theo quy
định tại Điều 135 của Bộ luật này.
Điều 425. Phong tỏa tài khoản
254
1. Phong tỏa tài khoản áp dụng đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc để bảo đảm bồi
thường thiệt hại căn cứ xác định pháp nhân đó có tài khoản tại tổ chức tín
dụng hoặc Kho bạc Nhà nước.
2. Phong tỏa tài khoản cũng được áp dụng đối với tài khoản của cá nhân,
tổ chức khác nếu căn cứ xác định số tiền trong tài khoản đó liên quan đến
hành vi phạm tội của pháp nhân.
3. Chỉ phong tỏa số tiền trong tài khoản tương ứng với mức thể phạt
tiền hoặc bồi thường thiệt hại.
4. Cơ quan có thẩm quyền phong tỏa tài khoản phải giao quyết định phong
tỏa tài khoản cho đại diện tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước đang quản lý
tài khoản của pháp nhân hoặc tài khoản của cá nhân, tổ chức khác liên quan đến
hành vi phạm tội của pháp nhân.
5. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục phong tỏa tài khoản được thực hiện theo
quy định tại Điều 136 của Bộ luật này.
Điều 426. Tạm đình chỉ thời hạn hoạt động của pháp nhân liên
quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân; buộc nộp một khoản tiền để bảo
đảm thi hành án
1. Tạm đình chỉ thời hạn hoạt động của pháp nhân chỉ áp dụng khi
căn cứ xác định hành vi phạm tội của pháp nhân gây thiệt hại hoặc có khả năng
gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của con người, môi trường hoặc trật tự, an
toàn xã hội.
Người thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 119 của Bộ luật này
quyền ra quyết định tạm đình chỉ thời hạn hoạt động của pháp nhân. Quyết
định tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân của những người quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 119 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát thẩm quyền phê
chuẩn trước khi thi hành.
Thời hạn tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân không được quá thời hạn
điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn tạm đình chỉ đối
với pháp nhân bị kết án không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm
pháp nhân chấp hành án.
255
2. Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án áp dụng đối với pháp
nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình
phạt tiền hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại.
Chỉ buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án tương ứng với mức
có thể bị phạt tiền hoặc để bồi thường thiệt hại.
Người thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 119 của Bộ luật này
quyền ra quyết định buộc pháp nhân phải nộp một khoản tiền để bảo đảm thi
hành án. Quyết định buộc pháp nhân phải nộp một khoản tiền để bảo đảm thi
hành án của những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 119 của Bộ luật này
phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục, mức tiền phải nộp để bảo
đảm thi hành án; việc tạm giữ, hoàn trả, nộp ngân sách nhà nước số tiền đã nộp.
Điều 427. Triệu tập người đại diện theo pháp luật của pháp nhân
1. Khi triệu tập người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, người
thẩm quyền tiến hành tố tụng phải gửi giấy triệu tập. Giấy triệu tập ghi rõ họ tên,
chỗ hoặc làm việc của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; giờ, ngày,
tháng, năm, địa điểm có mặt, gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không vì lý
do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.
2. Giấy triệu tập được gửi cho người đại diện theo pháp luật của pháp
nhân hoặc pháp nhân nơi người đó làm việc hoặc Ủy ban nhân dân cấp nơi
người đại diện theo pháp luật của pháp nhân cư trú. Cơ quan, tổ chức nhận được
giấy triệu tập trách nhiệm chuyển ngay giấy triệu tập cho người đại diện theo
pháp luật của pháp nhân.
Khi nhận giấy triệu tập, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phải
nhận ghi rõ ngày, giờ nhận. Người chuyển giấy triệu tập phải chuyển phần
giấy triệu tập nhận của người đại diện cho cơ quan đã triệu tập; nếu người
đại diện không nhận thì phải lập biên bản về việc đó và gửi cho cơ quan triệu
tập; nếu người đại diện vắng mặt thì có thể giao giấy triệu tập cho một người đủ
18 tuổi trở lên trong gia đình để ký xác nhận và chuyển cho người đại diện.
3. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phải mặt theo giấy
triệu tập. Trường hợp vắng mặt không lý do bất khả kháng hoặc không do trở
256
ngại khách quan thì người thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể ra quyết định
dẫn giải.
Điều 428. Những vấn đề cần phải chứng minh khi tiến hành tố tụng
đối với pháp nhân bị buộc tội
1. hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm những
tình tiết khác của hành vi phạm tội thuộc trách nhiệm hình sự của pháp nhân
theo quy định của Bộ luật Hình sự.
2. Lỗi của pháp nhân, lỗi của cá nhân là thành viên của pháp nhân.
3. Tính chất mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội của pháp nhân gây
ra.
4. Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự tình tiết
khác liên quan đến miễn hình phạt.
5. Nguyên nhân và điều kiện phạm tội.
Điều 429. Lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân
1. Việc lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phải do
Điều tra viên, cán bộ điều tra của quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra thực hiện tại nơi tiến hành điều tra, tại trụ sở quan điều
tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc tại trụ
sở của pháp nhân. Trước khi lấy lời khai, Điều tra viên, cán bộ điều tra phải
thông báo cho Kiểm sát viên người bào chữa thời gian, địa điểm lấy lời khai.
Khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên tham gia việc lấy lời khai.
2. Trước khi tiến hành lấy lời khai lần đầu, Điều tra viên, cán bộ điều tra
của quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải giải
thích cho người đại diện theo pháp luật của pháp nhân biết rõ quyền và nghĩa vụ
quy định tại Điều 422 của Bộ luật này phải ghi vào biên bản. thể cho
người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tự viết lời khai của mình.
3. Không được lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân
vào ban đêm.
4. Kiểm sát viên lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân
trong trường hợp người này không thừa nhận hành vi phạm tội của pháp nhân,
257
khiếu nại hoạt động điều tra hoặc căn cứ xác định việc điều tra vi phạm pháp
luật hoặc trong trường hợp khác khi xét thấy cần thiết.
Việc Kiểm sát viên lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp
nhân cũng được tiến hành theo quy định tại Điều này.
5. Việc lấy lời khai của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tại trụ
sở quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
Việc lấy lời khai của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tại các
địa điểm khác được ghi âm hoặc ghi hình âm thanh theo yêu cầu của người
đại diện, của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
6. Biên bản lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được
lập theo quy định tại Điều 184 của Bộ luật này.
Điều 430. Tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án,
đình chỉ bị can, bị cáo
1. quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi đã trưng cầu giám định, yêu
cầu định giá tài sản nhưng chưa kết quả hoặc đã yêu cầu nước ngoài tương
trợ pháp nhưng chưa kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ pháp về
hình sự đã hết thời hạn điều tra. Trong trường hợp này, việc giám định, định
giá tài sản tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả; việc tương trợ tư pháp
tiếp tục được tiến hành cho đến khi kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư
pháp về hình sự.
2. quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định
đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can, bị cáo pháp nhân khi thuộc một trong các
trường hợp:
a) Không có sự việc phạm tội;
b) Hành vi của pháp nhân không cấu thành tội phạm;
c) Hành vi phạm tội của pháp nhân đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ
vụ án có hiệu lực pháp luật;
258
d) Hết thời hạn điều tra không chứng minh được pháp nhân thực hiện
tội phạm;
đ) Hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 431. Thẩm quyền và thủ tục xét xử đối với pháp nhân
1. Tòa án thẩm quyền xét xử vụ án hình sự về các tội phạm do pháp
nhân thực hiện Tòa án nơi pháp nhân thực hiện tội phạm. Trường hợp tội
phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là
Tòa án nơi pháp nhân đó trụ sở chính hoặc nơi chi nhánh của pháp nhân
đó thực hiện tội phạm.
2. Việc xét xử thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với pháp
nhân phạm tội được thực hiện theo thủ tục chung quy định tại Phần thứ
Phần thứ sáu của Bộ luật này. Phiên tòa xét xử đối với pháp nhân phải mặt
người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng
cấp; có mặt bị hại hoặc người đại diện của bị hại.
Điều 432. Thẩm quyền, thủ tục thi hành án đối với pháp nhân
1. Thủ trưởng quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi
hành hình phạt tiền đối với pháp nhân. Trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tiền
được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
2. quan nhà nước thẩm quyền thi hành các hình phạt khác các
biện pháp pháp quy định tại Bộ luật Hình sự đối với pháp nhân theo quy định
của pháp luật.
3. Trường hợp pháp nhân bị kết án thực hiện chia, tách, hợp nhất, sáp
nhập thì pháp nhân kế thừa các quyền nghĩa vụ của pháp nhân bị kết án
trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thi hành án phạt tiền, bồi thường thiệt hại.
Điều 433. Thủ tục đương nhiên xóa án tích đối với pháp nhân
Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của pháp nhân
được đương nhiên xóa án tích xét thấy đủ điều kiện quy định tại Điều 89
của Bộ luật Hình sự thì Chánh án Tòa án đã xét xử thẩm vụ án cấp giấy
chứng nhận pháp nhân đã được xóa án tích.
Chương XXX
259
THỦ TỤC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP BẮT BUỘC CHỮA BỆNH
Điều 434. Điều kiện thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa
bệnh
1. Khi căn cứ cho rằng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho hội
không năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật
Hình sự thì tuỳ từng giai đoạn tố tụng, quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án
phải trưng cầu giám định pháp y tâm thần.
2. Căn cứ kết luận giám định pháp y tâm thần, Viện kiểm sát quyết định
áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra, truy tố; Tòa án
quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn xét xử thi
hành án.
Điều 435. Điều tra đối với người bị nghi về năng lực trách nhiệm hình
sự
1. Đối với vụ án căn cứ cho rằng người thực hiện hành vi nguy
hiểm cho hội không năng lực trách nhiệm hình sự, quan điều tra phải
làm sáng tỏ:
a) Hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra;
b) Tình trạng tâm thần bệnh tâm thần của người có hành vi nguy hiểm
cho xã hội;
c) Người hành vi nguy hiểm cho hội mất khả năng nhận thức
hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình hay không.
2. Khi tiến hành tố tụng, quan điều tra phải bảo đảm người bào
chữa tham gia tố tụng từ khi xác định được người hành vi nguy hiểm cho xã
hội mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả
năng điều khiển hành vi. Người đại diện của người đó thể tham gia tố tụng
trong trường hợp cần thiết.
Điều 436. Áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn
điều tra
1. Khi quan điều tra trưng cầu giám định pháp y tâm thần kết quả
giám định xác định bị can mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng
260
nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì Cơ quan điều tra gửi văn bản đề
nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh cùng kết luận giám định cho Viện
kiểm sát có thẩm quyền để xem xét, quyết định.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của
quan điều tra cùng kết luận giám định, Viện kiểm sát quyết định áp dụng biện
pháp chữa bệnh đối với bị can hoặc yêu cầu quan điều tra trưng cầu giám
định bổ sung, giám định lại nếu thấy chưa đủ căn cứ để quyết định.
2. Trường hợp Viện kiểm sát ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc
chữa bệnh thì quan điều tra phải ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ
điều tra đối với bị can.
Điều 437. Quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố
1. Sau khi nhận được hồ vụ án bản kết luận điều tra, nếu căn cứ
cho rằng bị can không năng lực trách nhiệm hình sự thì Viện kiểm sát trưng
cầu giám định pháp y tâm thần.
2. Căn cứ vào kết luận giám định, Viện kiểm sát thể ra một trong các
quyết định:
a) Tạm đình chỉ vụ án và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
b) Đình chỉ vụ án và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
c) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
d) Truy tố bị can trước Tòa án.
3. Ngoài quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, Viện kiểm sát
có thể giải quyết vấn đề khác liên quan đến vụ án.
Điều 438. Quyết định của Tòa án trong giai đoạn xét xử
1. Sau khi thụ vụ án, nếu căn cứ cho rằng bị can, bị cáo không
năng lực trách nhiệm hình sự thì Tòa án trưng cầu giám định pháp y tâm thần.
2. Căn cứ vào kết luận giám định, Tòa án có thể ra một trong những quyết
định:
a) Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án áp dụng biện pháp bắt
buộc chữa bệnh;
261
b) Trả hồ sơ để điều tra lại hoặc điều tra bổ sung;
c) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt áp dụng biện pháp
bắt buộc chữa bệnh;
d) Đưa vụ án ra xét xử.
3. Ngoài quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, Tòa án có thể
giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vấn đề khác liên quan đến vụ án.
Điều 439. Áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người đang
chấp hành án phạt tù
1. Trường hợp căn cứ cho rằng người đang chấp hành án phạt mắc
bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng
điều khiển hành vi thì Trại giam, Trại tạm giam, quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh đề nghị Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án quân sự cấp quân
khu nơi người bị kết án chấp hành án phạt trưng cầu giám định pháp y tâm
thần.
2. Căn cứ kết luận giám định pháp y tâm thần, Chánh án Tòa án nhân dân
khu vực hoặc Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi người bị kết án đang
chấp hành án phạt ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt áp
dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
Sau khi kết luận khỏi bệnh hoặc có kết luận đủ khả năng nhận thức, đủ
khả năng điều khiển hành vi, người đó phải tiếp tục chấp hành án phạt nếu
không có lý do để miễn chấp hành hình phạt tù.
Điều 440. Khiếu nại, kháng cáo, kháng nghị
1. Việc khiếu nại giải quyết khiếu nại quyết định của Viện kiểm sát về
việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh được thực hiện theo quy định tại
Chương XXXIII của Bộ luật này.
2. Việc kháng cáo, kháng nghị quyết định của Tòa án về việc áp dụng biện
pháp bắt buộc chữa bệnh được thực hiện như đối với quyết định thẩm quy
định tại Bộ luật này.
262
3. Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh có hiệu lực thi hành
cho đến khi quyết định khác thay thế hoặc hủy bỏ quyết định áp dụng biện
pháp bắt buộc chữa bệnh.
Điều 441. Đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh
1. Biện pháp bắt buộc chữa bệnh được thực hiện ở cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh do Viện kiểm sát hoặc Tòa án chỉ định theo quy định của pháp luật.
2. Khi thông báo của thủ trưởng sở khám bệnh, chữa bệnh về việc
người bị bắt buộc chữa bệnh đã khỏi bệnh hoặc đủ khả năng nhận thức, đủ
khả năng điều khiển hành vi thì quan đã đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc
chữa bệnh hoặc Viện kiểm sát, Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp bắt
buộc chữa bệnh trưng cầu giám định pháp y tâm thần về tình trạng bệnh của
người bị bắt buộc chữa bệnh.
Căn cứ kết luận giám định về việc người bị bắt buộc chữa bệnh đã khỏi
bệnh hoặc có đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi, Viện kiểm
sát, Tòa án ra quyết định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
3. Quyết định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh phải được
quan đã đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh hoặc Viện kiểm sát,
Tòa án gửi ngay cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và người đại diện của người b
bắt buộc chữa bệnh.
4. Các hoạt động tố tụng, việc chấp hành hình phạt đã bị tạm đình chỉ
thể được phục hồi theo quy định của Bộ luật này.
Chương XXXI
THỦ TỤC RÚT GỌN
Điều 442. Phạm vi, nguyên tắc áp dụng thủ tục rút gọn
1. Thủ tục rút gọn đối với việc điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử
phúc thẩm được thực hiện theo quy định của Chương này và những quy định
khác của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này.
2. Việc áp dụng thủ tục rút gọn phải bảo đảm xác định đúng sự thật
khách quan, toàn diện, đầy đủ của vụ án; bảo đảm quyền con người, quyền
263
công dân, quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp khác của người tham
gia tố tụng.
Việc nhận tội của người bị buộc tội không thay thế trách nhiệm chứng
minh tội phạm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và không được
coi là chứng cứ duy nhất để kết tội.
3. Trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định tại khoản 2 Điều
443 của Bộ luật này thì việc nhận tội, chấp nhận hình phạt phải được thực
hiện trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với chứng cứ khách quan của vụ án.
Trong vụ án có nhiều bị can, bị cáo thì thủ tục rút gọn được áp dụng
đối với vụ án khi các bị can, bị cáo đều tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình
phạt.
Trường hợp có bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt
nhưng có bị can, bị cáo không nhận tội thì có thể tách vụ án đối với bị can, bị
cáo đã nhận tội để giải quyết theo thủ tục rút gọn nếu việc tách vụ án không
ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án.
Trường hợp không thể tách vụ án thì vụ án được giải quyết theo thủ tục
chung; bị can, bị cáo đã tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt được xem
xét hưởng khoan hồng theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Điều 443. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
1. Thủ tục rút gọn phải được áp dụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét
xử sơ thẩm ngay khi có đủ các điều kiện sau:
a) Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang hoặc người đó tự thú,
đầu thú;
b) Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng;
c) Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng.
2. Thủ tục rút gọn có thể được áp dụng trong giai đoạn điều tra, truy tố,
xét xử sơ thẩm khi có đủ các điều kiện sau:
a) Bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt, biện pháp tư
pháp; tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại để được hưởng
khoan hồng theo quy định của Bộ luật này và Bộ luật Hình sự;
264
b) Có biên bản ghi nhận việc tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt,
biện pháp tư pháp; việc lập biên bản có sự tham gia của người bào chữa theo
quy định của Bộ luật này;
c) Có đầy đủ chứng cứ chứng minh tội phạm; việc nhận tội phù hợp
với các chứng cứ khác của vụ án;
d) Không thuộc trường hợp tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, trừ các tội
phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tội phạm tham nhũng chức vụ;
đ) Không thuộc trường hợp vụ án khi xử lý có ảnh hưởng đến an ninh
quốc gia, chính trị, đối ngoại.
3. Thủ tục rút gọn được áp dụng trong xét xử phúc thẩm khi vụ án chỉ có
kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo, giảm
trách nhiệm dân sự hoặc nội dung khác có lợi cho bị cáo.
Điều 444. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn
1. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi vụ án đủ điều kiện quy định tại
khoản 1 Điều 443 của Bộ luật này, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải
ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.
2. Khi đủ điều kiện quy định khoản 2 Điều 443 của Bộ luật này thì
quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án giải thích cho bị can, bị cáo và người
bào chữa của họ về quyền được áp dụng thủ tục rút gọn, nếu bị can, bị cáo
đồng ý thì Cơ quan điều tra có văn bản đề nghị Viện kiểm sát xem xét ra quyết
định áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra; Viện kiểm sát ra quyết
định áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn truy tố; Tòa án ra quyết định áp
dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm.
3. Thủ tục rút gọn được áp dụng kể từ khi ra quyết định cho đến khi kết
thúc việc xét xử phúc thẩm, trừ trường hợp bị hủy bỏ theo quy định tại Điều 446
của Bộ luật này.
4. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn được giao cho bị can, bị cáo hoặc
người đại diện của họ, gửi cho người bào chữa trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra
quyết định.
265
Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Cơ quan điều tra, Tòa án được gửi
cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định.
5. Trường hợp xét thấy quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của quan
điều tra không đúng pháp luật thì trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được
quyết định, Viện kiểm sát phải ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục
rút gọn và gửi cho Cơ quan điều tra.
6. Trường hợp xét thấy quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Tòa án
không đúng pháp luật thì Viện kiểm sát kiến nghị với Chánh án Tòa án đã ra
quyết định. Chánh án Tòa án phải xem xét, trả lời trong thời hạn 24 giờ kể từ khi
nhận được kiến nghị của Viện kiểm sát.
7. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn theo khoản 1 Điều này thể bị
khiếu nại. Bị can, bị cáo hoặc người đại diện của họ quyền khiếu nại quyết
định áp dụng thủ tục rút gọn; thời hiệu khiếu nại 05 ngày kể từ ngày nhận
được quyết định. Khiếu nại được gửi đến quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa
án đã ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn phải được giải quyết trong thời
hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại.
Điều 445. Biên bản cam kết tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt
1. Trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn theo khoản 2 Điều 443 của Bộ
luật này thì việc lập biên bản được thực hiện như sau:
a) Giai đoạn điều tra, Kiểm sát viên chủ trì, phối hợp với Điều tra viên
lập biên bản với bị can, người bào chữa; sự tham gia của người tham gia
tố tụng khác khi thấy cần thiết;
b) Giai đoạn truy tố, Kiểm sát viên lập biên bản với bị can, người bào
chữa; có sự tham gia của người tham gia tố tụng khác khi thấy cần thiết;
c) Giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán chủ trì lập biên bản với bị
can, bị cáo, người bào chữa, sự tham gia của Kiểm sát viên; người tham
gia tố tụng khác tham gia vào việc lập biên bản khi thấy cần thiết.
2. Biên bản ghi nhận việc tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt
phải nêu rõ:
266
a) Nội dung bị can, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, tội danh, các
tình tiết của vụ án phù hợp với chứng cứ đã thu thập;
b) Việc khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại, thực hiện nghĩa vụ
dân sự và nghĩa vụ khác;
c) Mức hình phạt, biện pháp tư pháp Viện kiểm sát dự kiến đề nghị Tòa
án xem xét áp dụng;
d) Ý kiến của bị can, bị cáo và người bào chữa.
Việc lập biên bản phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
3. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng quy định chi tiết Điều này.
Điều 446. Hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn
1. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 444
của Bộ luật này bị hủy bỏ khi một trong các điều kiện quy định tại điểm b
điểm c khoản 1 Điều 443 của Bộ luật này không còn hoặc vụ án thuộc trường
hợp tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng
thủ tục rút gọn và giải quyết vụ án theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
2. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn quy định tại khoản 2 Điều 444
của Bộ luật này bị hủy bỏ khi một trong các điều kiện quy định tại các khoản
2 Điều 443 của Bộ luật này không còn. Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định
hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn giải quyết vụ án theo thủ tục
chung.
3. Quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn được giao cho
bị can, bị cáo hoặc người đại diện của họ, gửi cho người bào chữa, bị hại và
những người tham gia tố tụng khác có liên quan.
Quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của quan
điều tra, Tòa án phải được gửi cho Viện kiểm sát thẩm quyền. Việc giao,
gửi quyết định được thực hiện trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định.
267
4. Thời hạn tố tụng của vụ án được tính tiếp theo thủ tục chung quy định
tại Bộ luật này kể từ khi quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút
gọn.
Điều 447. Tạm giữ, tạm giam để điều tra, truy tố, xét xử
1. Căn cứ, thẩm quyền thủ tục tạm giữ, tạm giam được thực hiện theo
quy định của Bộ luật này.
2. Đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 443 của Bộ luật này
thì thời hạn tạm giữ không được quá 03 ngày kể từ ngày Cơ quan điều tra nhận
người bị bắt; thời hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra không quá 20 ngày,
trong giai đoạn truy tố không quá 05 ngày, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm không
quá 17 ngày, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm không quá 22 ngày, kể từ ngày ra
quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.
3. Đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 443 của Bộ luật này
thì thời hạn tạm giam đối với bị can, bị cáo không quá thời hạn để điều tra,
truy tố, xét xử theo thủ tục rút gọn quy định Điều 452 và tại khoản 2 các điều
448, 449 và 450 của Bộ luật này.
Điều 448. Điều tra
1. Thời hạn điều tra đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 443
của Bộ luật này là 20 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.
2. Thời hạn điều tra đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 443
của Bộ luật này không quá một phần hai thời hạn điều tra theo quy định tại
Điều 178 của Bộ luật này.
3. Việc điều tra theo thủ tục rút gọn chỉ tiến hành các hoạt động điều
tra cần thiết để làm rõ những vấn đề cần chứng minh của vụ án.
4. Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra ra quyết định đề nghị truy tố.
Quyết định đề nghị truy tố ghi tóm tắt hành vi phạm tội, thủ đoạn, động
cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;
việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; việc
thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật xử vật chứng; đặc điểm nhân thân của bị
can, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; lý do và căn cứ đề
268
nghị truy tố; tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự được áp dụng; ghi
rõ thời gian, địa điểm, họ tên và chữ ký của người ra quyết định.
Đối với trường hợp nêu tại khoản 2 Điều 443 của Bộ luật này, quyết
định đề nghị truy tố còn phải nêu rõ nội dung bị can tự nguyện nhận tội, chấp
nhận hình phạt và kết quả thực hiện cam kết để được hưởng khoan hồng.
5. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định đề nghị truy tố, Cơ quan
điều tra phải giao quyết định đề nghị truy tố cho bị can hoặc người đại diện của
bị can, gửi cho người bào chữa, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ và
chuyển quyết định đề nghị truy tố cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát.
Điều 449. Quyết định truy tố
1. Đối với trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1
Điều 443 của Bộ luật này thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được
quyết định đề nghị truy tố hồ vụ án, Viện kiểm sát ra một trong các quyết
định:
a) Truy tố bị can trước Tòa án bằng quyết định truy tố;
b) Không truy tố bị can và ra quyết định đình chỉ vụ án;
c) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
d) Tạm đình chỉ vụ án;
đ) Đình chỉ vụ án.
2. Đối với trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn quy định tại khoản 2
Điều 443 của Bộ luật này thì tùy từng trường hợp xử lý như sau:
a) Trường hợp đã áp dụng thủ tục rút gọn ở giai đoạn điều tra thì trong
thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đề nghị truy tố thì Viện
kiểm sát ra một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Trường hợp đến giai đoạn truy tố Viện kiểm sát mới xem xét quyết
định áp dụng thủ tục rút gọn thì trong thời hạn không quá một phần hai thời
hạn truy tố quy định tại Điều 246 của Bộ luật này thì Viện kiểm sát ra một
trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Quyết định truy tố ghi tóm tắt hành vi phạm tội, thủ đoạn, động cơ, mục
đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; việc áp
269
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; việc thu giữ,
tạm giữ tài liệu, đồ vật việc xử vật chứng; đặc điểm nhân thân của bị can,
những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nêu rõ lý do và căn cứ
truy tố; tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự được áp dụng; ghi
thời gian, địa điểm, họ tên và chữ ký của người ra quyết định.
Đối với trường hợp nêu tại khoản 2 Điều 443 của Bộ luật này, quyết
định truy tố còn phải nêu nội dung bị can tự nguyện nhận tội, chấp nhận
hình phạt, kết quả thực hiện cam kết để được hưởng khoan hồng hình
phạt đề nghị Tòa án áp dụng.
4. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định truy tố, Viện kiểm sát
phải giao quyết định cho bị can hoặc người đại diện của họ; gửi cho quan
điều tra, người bào chữa, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ và chuyển
quyết định truy tố cùng hồ sơ vụ án cho Tòa án.
Điều 450. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm
1. Đối với trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1
Điều 443 của Bộ luật này thì trong rong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thụ lý vụ
án, Thẩm phán được phân công xét xử ra một trong các quyết định:
a) Đưa vụ án ra xét xử;
b) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
c) Tạm đình chỉ vụ án;
d) Đình chỉ vụ án.
2. Đối với trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn quy định tại khoản 2
Điều 443 của Bộ luật này thì tùy từng trường hợp xử lý như sau:
a) Trường hợp đã áp dụng thủ tục rút gọn giai đoạn truy tố thì trong
thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đề nghị truy tố, Tòa án ra
một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Trường hợp đến giai đoạn chuẩn bị xét xử Tòa án mới xem xét quyết
định áp dụng thủ tục rút gọn thì trong thời hạn không quá một phần hai thời
hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 282 của Bộ luật này, Tòa án ra một
trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này.
270
3. Trường hợp quyết định đưa vụ án ra xét xử thì trong thời hạn 07 ngày
kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án.
4. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa
án cấp thẩm phải gửi quyết định đó cho Viện kiểm sát cùng cấp; giao cho bị
cáo hoặc người đại diện của bị cáo; gửi cho người bào chữa, bị hại, đương sự
hoặc người đại diện của họ.
Điều 451. Phiên tòa xét xử sơ thẩm
1. Phiên tòa xét xử thẩm theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến
hành.
2. Sau phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, Kiểm sát viên công bố quyết định
truy tố.
3. Việc xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa được tiến hành khi thấy cần
thiết nhưng chỉ tập trung vào những chứng cứ, tình tiết của vụ án còn ý
kiến khác nhau hoặc cần được làm rõ. Phiên tòa thẩm không tiến hành
nghị án.
4. Trường hợp vụ án áp dụng thủ tục rút gọn theo khoản 2 Điều 443
của Bộ luật này thì tại phiên tòa, Thẩm phán phải xem xét, đánh giá các nội
dung sau:
a) Tính tự nguyện của việc nhận tội, chấp nhận hình phạt; sự phù hợp
giữa việc nhận tội và chứng cứ của vụ án;
b) Tính hợp pháp, khách quan của biên bản ghi nhận việc tự nguyện
nhận tội, chấp nhận hình phạt;
c) Mức hình phạt, biện pháp tư pháp Viện kiểm sát đề nghị;
d) Những vấn đề khác liên quan đến vụ án khi thấy cần thiết.
5. Trước khi Thẩm phán quyết định áp dụng hình phạt đối với trường
hợp nêu tại khoản 4 Điều này, Kiểm sát viên, người bào chữa phát biểu ý
kiến, bị cáo nói lời sau cùng.
Thẩm phán ra bản án theo quy định tại Điều 260 của Bộ luật này, trong
đó nêu rõ:
271
a) Ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa
(nếu có) về việc tự nguyện nhận tội, nhận hình phạt;
b) Nhận định của Thẩm phán về việc tự nguyện nhận tội, chấp nhận
hình phạt của bị cáo, tính hợp pháp, khách quan của biên bản ghi nhận việc
cam kết và hình phạt do Viện kiểm sát đề nghị;
c) Quyết định của Thẩm phán về tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ
luật Hình sự, mức hình phạt được áp dụng với bị cáo, án phí các vấn đề
khác.
6. Thẩm phán quyết định mức hình phạt theo đề nghị của Viện kiểm
sát; trường hợp cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc hơn mức Viện kiểm sát
đề nghị làm thay đổi căn cứ bị cáo đã chấp nhận theo cam kết thì phải nêu rõ
lý do trong bản án.
7. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết Điều này.
Điều 452. Chuẩn bị xét xử phúc thẩm
1. Việc nhận thụ hồ vụ án được Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện
theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
Sau khi thụ vụ án, Tòa án phải chuyển ngay hồ sơ vụ án cho Viện kiểm
sát cùng cấp. Trong thời hạn 05 ngày Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa
án.
2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân
công xét xử ra một trong các quyết định:
a) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm;
b) Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án.
3. Trường hợp quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì trong thời hạn
07 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án.
4. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa
án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định đó cho Viện kiểm sát cùng cấp, người bào
chữa; giao cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, bị hại, đương sự hoặc
người đại diện của họ.
272
Điều 453. Phiên tòa xét xử phúc thẩm
1. Việc xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến
hành, có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
2. Thẩm phán chỉ xem xét trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị ra
bản án, quyết định trên cơ sở hồ sơ vụ án và kết quả tại phiên tòa.
3. Tòa án triệu tập người tham gia tố tụng liên quan đến kháng cáo,
kháng nghị tham gia phiên tòa khi thấy cần thiết. Trong trường hợp này, việc
xét hỏi, tranh luận được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 451 của Bộ
luật này.
4. Phiên tòa xét xử phúc thẩm không tiến hành nghị án.
5. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết Điều này.
Chương XXXII
XỬ LÝ CÁC HÀNH VI CẢN TRỞ HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Điều 454. Xử người hành vi cản trở hoạt động tố tụng của
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Người bị buộc tội, người tham gia tố tụng khác một trong các hành vi
sau đây thì tuỳ mức độ vi phạm thể bị quan thẩm quyền tiến hành tố
tụng quyết định áp giải, dẫn giải, phạt cảnh cáo, phạt tiền, tạm giữ hành chính,
buộc khắc phục hậu quả hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của
luật:
1. Làm giả, hủy hoại chứng cứ gây trở ngại cho việc giải quyết vụ việc, vụ
án;
2. Khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật;
3. Từ chối khai báo hoặc từ chối cung cấp tài liệu, đồ vật;
4. Người giám định, người định giá tài sản kết luận gian dối hoặc từ chối
kết luận giám định, định giá tài sản mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không
do trở ngại khách quan;
273
5. Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng lực nhằm ngăn cản người làm
chứng ra làm chứng hoặc buộc người khác ra làm chứng gian dối;
6. Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng lực nhằm ngăn cản người bị
hại tham gia tố tụng hoặc buộc người bị hại khai báo gian dối;
7. Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người giám
định, người định giá tài sản thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người giám định,
người định giá tài sản kết luận sai với sự thật khách quan;
8. Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng lực nhằm ngăn cản người
phiên dịch, người dịch thuật thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người phiên dịch,
người dịch thuật dịch gian dối;
9. Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản đại diện cơ
quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia tố tụng;
10. Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người thẩm quyền tiến
hành tố tụng; đe doạ, sử dụng lực hoặc hành vi khác cản trở hoạt động tố
tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
11. Đã được triệu tập vắng mặt không do bất khả kháng hoặc
không do trở ngại khách quan việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho hoạt
động tố tụng;
12. Ngăn cản việc cấp, giao, nhận hoặc thông báo văn bản tố tụng của cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Điều 455. Xử lý người vi phạm nội quy phiên tòa
1. Người vi phạm nội quy phiên tòa thì tùy tính chất, mức độ vi phạm có
thể bị Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định xử phạt hành chính theo quy định
của pháp luật.
2. Chủ tọa phiên tòa quyền ra quyết định buộc người vi phạm rời khỏi
phòng xử án hoặc tạm giữ hành chính. Cơ quan công an có nhiệm vụ bảo vệ trật
tự phiên tòa hoặc người có nhiệm vụ bảo vệ trật tự phiên tòa thi hành quyết định
của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa về việc buộc rời khỏi phòng xử án hoặc tạm
giữ hành chính người gây rối trật tự phiên tòa.
274
3. Trường hợp hành vi của người vi phạm nội quy phiên tòa dấu hiệu
tội phạm thì Tòa án yêu cầu, kiến nghị khởi tố theo quy định của Bộ luật này.
4. Quy định tại Điều này cũng được áp dụng đối với người hành vi vi
phạm tại phiên họp của Tòa án.
Điều 456. Hình thức xử phạt, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử phạt
Hình thức xử phạt, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử phạt đối với các hành
vi cản trở hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện theo quy định của Luật Xử
lý vi phạm hành chính và pháp luật khác có liên quan.
Chương XXXIII
KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Điều 457. Người có quyền khiếu nại
1. quan, tổ chức, nhân quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố
tụng của quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng
quyết định, hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của
mình.
2. Đối với bản án, quyết định thẩm chưa hiệu lực pháp luật, bản án,
quyết định đã hiệu lực pháp luật của Tòa án, cáo trạng hoặc quyết định truy
tố, quyết định áp dụng thủ tục rút gọn, quyết định của Hội đồng xét xử sơ thẩm,
Hội đồng xét xử phúc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm, Hội
đồng xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có
điều kiện nếu khiếu nại, kháng cáo, kháng nghị thì giải quyết theo quy định
tại các chương XXII, XXIII, XXV, XXVI, XXVII và XXXI của Bộ luật này.
Điều 458. Các quyết định, hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại
1. Quyết định tố tụng thể bị khiếu nại các quyết định của Thủ
trưởng, Phó Thủ trưởng quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện
trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm
phán, người thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra được ban hành
theo quy định của Bộ luật này quyết định tố tụng quy định tại chương VII và
chương VIII của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
275
2. Hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại là hành vi được thực hiện trong hoạt
động tố tụng của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng quan điều tra, Điều tra viên,
Cán bộ điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên,
Kiểm tra viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Thẩm tra viên,
người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được thực hiện
theo quy định của Bộ luật này hành vi tố tụng quy định tại chương VII
chương VIII của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Điều 459. Thời hiệu khiếu nại
1. Thời hiệu khiếu nại 15 ngày kể từ ngày người khiếu nại nhận được
hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng người đó cho rằng vi phạm
pháp luật.
2. Trường hợp do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan
người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì
thời gian do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào
thời hiệu khiếu nại.
Điều 460. Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại
1. Người khiếu nại có quyền:
a) Tự mình khiếu nại hoặc thông qua người bào chữa, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người đại diện để khiếu nại;
b) Khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án hình
sự;
c) Rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu
nại;
d) Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại;
đ) Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi
thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
2. Người khiếu nại có nghĩa vụ:
a) Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải
quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc
cung cấp các thông tin, tài liệu đó;
276
b) Chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.
Điều 461. Quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại
1. Người bị khiếu nại có quyền:
a) Được thông báo về nội dung khiếu nại;
b) Đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định, hành vi tố tụng bị
khiếu nại;
c) Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi tố
tụng của mình.
2. Người bị khiếu nại có nghĩa vụ:
a) Giải trình về quyết định, hành vi tố tụng bị khiếu nại; cung cấp các
thông tin, tài liệu liên quan khi quan, tổ chức, nhân thẩm quyền yêu
cầu;
b) Chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại;
c) Bồi thường thiệt hại, bồi hoàn, khắc phục hậu quả do quyết định, hành
vi tố tụng trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật.
Điều 462. Thẩm quyền thời hạn giải quyết khiếu nại quyết định,
hành vi tố tụng trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm
giữ, tạm giam
1. Khiếu nại đối với lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt,
quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam, quyết định tạm giam, quyết định phê chuẩn
việc bắt, quyết định gia hạn tạm giữ, quyết định gia hạn tạm giam khiếu nại
các hành vi thực hiện các lệnh và quyết định đó phải được giải quyết ngay trong
thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được khiếu nại. Trường hợp cần phải có thời gian
để xác minh thêm thì thời hạn giải quyết không được quá 03 ngày kể từ ngày
nhận được khiếu nại.
2. Viện trưởng Viện kiểm sát trách nhiệm giải quyết khiếu nại quyết
định, hành vi tố tụng trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm
giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra, truy tố. quan, người thẩm quyền
trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam phải
chuyển ngay cho Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ
277
án, vụ việc khiếu nại của người bị giữ, người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị
tạm giam trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được khiếu nại.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thủ trưởng, Phó Thủ
trưởng quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra
viên, người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc
giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam do Viện trưởng
Viện kiểm sát giải quyết.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Phó Viện trưởng Viện
kiểm sát trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam do Viện trưởng Viện kiểm sát giải
quyết.
Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Viện trưởng
Viện kiểm sát thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải
quyết khiếu nại, người khiếu nại quyền khiếu nại đến Viện trưởng Viện kiểm
sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại,
Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết. Quyết
định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là quyết định có
hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện kiểm
sát trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại,
Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết. Quyết
định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là quyết định có
hiệu lực pháp luật.
3. Tòa án trách nhiệm giải quyết khiếu nại quyết định bắt, tạm giam
trong giai đoạn xét xử.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Phó Chánh án trong việc
bắt, tạm giam do Chánh án Tòa án xem xét, giải quyết. Nếu không đồng ý với
quyết định giải quyết khiếu nại của Chánh án thì trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu
nại đến Chánh án Tòa án trên một cấp. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận
được khiếu nại, Chánh án Tòa án trên một cấp phải xem xét, giải quyết. Quyết
278
định giải quyết của Chánh án Tòa án trên một cấp là quyết định có hiệu lực pháp
luật.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án trong
việc bắt, tạm giam do Chánh án Tòa án trên một cấp xem xét, giải quyết. Trong
thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án trên một cấp
phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án trên một
cấp là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán giữ chức vụ
Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao trong việc bắt, tạm giam
do Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xem xét, giải quyết. Nếu
không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Chánh tòa Tòa Phúc thẩm
Tòa án nhân dân tối cao thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết
định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải
quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán giữ chức vụ
Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao trong việc bắt, tạm giam do
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 07 ngày
kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải xem xét,
giải quyết. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là quyết
định có hiệu lực pháp luật.
Điều 463. Thẩm quyền thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Điều
tra viên, Cán bộ điều tra, Phó Thủ trưởng và Thủ trưởng Cơ quan điều tra,
người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
1. Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Cán bộ
điều tra, Phó Thủ trưởng quan điều tra trừ khiếu nại về việc giữ người trong
trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam do Thủ trưởng quan điều tra
xem xét, giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu
không đồng ý với quyết định giải quyết của Thủ trưởng quan điều tra thì
trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại,
người khiếu nại quyền khiếu nại đến Viện trưởng Viện kiểm sát thẩm
279
quyền. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng
Viện kiểm sát có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của
Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thủ trưởng quan
điều tra các quyết định tố tụng của quan điều tra đã được Viện kiểm sát
phê chuẩn do Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn
07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết định giải
quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát thẩm quyền thì trong thời hạn 03 ngày
kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền
khiếu nại đến Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm
sát cấp trên trực tiếp là quyết định có hiệu lực pháp luật.
2. Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của cấp phó, cán bộ điều
tra của quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trừ việc
giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ do cấp trưởng quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra xem xét, giải quyết trong thời
hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết định
giải quyết của cấp trưởng thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết
định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện kiểm sát
thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày
nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát phải xem xét, giải quyết. Quyết
định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định hiệu lực pháp
luật.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của cấp trưởng quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện trưởng Viện
kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra xem xét, giải quyết. Trong
thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát
phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát là
quyết định có hiệu lực pháp luật.
Điều 464. Thẩm quyền thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Kiểm
sát viên, Kiểm tra viên, Phó Viện trưởng, Viện trưởng Viện kiểm sát, Phó
280
Viện trưởng Viện trưởng Viện Công tố Kiểm sát xét xử phúc thẩm
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
1. Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Kiểm sát viên, Kiểm
tra viên, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện trưởng Viện kiểm sát xem xét,
giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không
đồng ý với quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát thì trong thời
hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu
nại quyền khiếu nại đến Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem
xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên
trực tiếp là quyết định có hiệu lực pháp luật.
2. Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện
kiểm sát do Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết của Viện trưởng
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là quyết định có hiệu lực pháp luật.
3. Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Phó Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Kiểm tra viên công tác tại Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Kiểm tra viên công tác tại Viện
kiểm sát quân sự trung ương, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương
do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân
sự trung ương xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
khiếu nại. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương quyết định hiệu lực
pháp luật.
Trường hợp khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Kiểm sát
viên, Kiểm tra viên, Phó Viện trưởng Viện Công tố Kiểm sát xét xử phúc
thẩm do Viện trưởng Viện Công tố Kiểm sát xét xử phúc thẩm xem xét, giải
quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý
với quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc
thẩm thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết
khiếu nại, người khiếu nại quyền khiếu nại đến Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện
281
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải
quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định có hiệu lực
pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện Công
tố Kiểm sát xét xử phúc thẩm do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.
Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết
định có hiệu lực pháp luật.
Điều 465. Thẩm quyền thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Thẩm
phán, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên, Phó Chánh án, Chánh án Tòa án, Phó
Chánh tòa, Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao
1. Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Thư
Tòa án, Thẩm tra viên, Phó Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án quân sự
khu vực trước khi mở phiên tòa do Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh
án Tòa án quân sự khu vực giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận
được khiếu nại.
Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân
dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự khu vực thì trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu
nại đến Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân
khu. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án
nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu phải xem xét, giải
quyết. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án
Tòa án quân sự cấp quân khu là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án nhân
dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự khu vực trước khi mở phiên tòa do
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu xem
xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết
định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân
sự cấp quân khu là quyết định có hiệu lực pháp luật.
2. Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Thư
Tòa án, Thẩm tra viên, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự
282
cấp quân khu trước khi mở phiên tòa do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu xem xét, giải quyết trong thời hạn 07
ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết định giải
quyết của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp
quân khu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết
khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương xem xét, giải quyết trong thời hạn 15
ngày. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án
Tòa án quân sự trung ương là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án nhân
dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu do Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương xem xét, giải quyết trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết của Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương là quyết định
có hiệu lực pháp luật.
3. Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao, Thẩm phán, Thư Tòa án, Thẩm tra viên công tác tại Tòa án
nhân dân tối cao, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán, Thư
Tòa án Thẩm tra viên công tác tại Tòa án quân sự trung ương, Phó Chánh án
Tòa án quân sự trung ương do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa
án quân sự trung ương xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán,
Thư Tòa án, Thẩm tra viên, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân
tối cao trước khi mở phiên tòa do Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối
cao xem xét, giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.
Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết của Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa
án nhân dân tối cao thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định
giải quyết khiếu nại, người khiếu nại quyền khiếu nại đến Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày. Quyết định giải
quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là quyết định có hiệu lực pháp luật.
283
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Chánh tòa Tòa Phúc
thẩm Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, giải
quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải
quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Điều 466. Người có quyền tố cáo
nhân quyền tố cáo với quan, người thẩm quyền về hành vi vi
phạm pháp luật của bất kỳ người thẩm quyền tiến hành tố tụng nào gây thiệt
hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của
cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Điều 467. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo
1. Người tố cáo có quyền:
a) Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, người có thẩm quyền;
b) Yêu cầu giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích của mình;
c) Được nhận quyết định giải quyết tố cáo;
d) Yêu cầu quan thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ khi bị đe doạ,
trù dập, trả thù.
2. Người tố cáo có nghĩa vụ:
a) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo, cung cấp thông tin, tài liệu liên
quan đến việc tố cáo;
b) Nêu rõ họ tên, địa chỉ của mình;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu cố ý tố cáo sai sự thật.
Điều 468. Quyền và nghĩa vụ của người bị tố cáo
1. Người bị tố cáo có quyền:
a) Được thông báo về nội dung tố cáo;
b) Đưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo không đúng sự
thật;
c) Được nhận quyết định giải quyết tố cáo;
284
d) Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, được phục hồi
danh dự, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo không đúng gây ra;
đ) Yêu cầu quan, tổ chức, nhân thẩm quyền xử người tố cáo
sai sự thật.
2. Người bị tố cáo có nghĩa vụ:
a) Giải trình về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi
cơ quan, người có thẩm quyền yêu cầu;
b) Chấp hành quyết định giải quyết tố cáo;
c) Bồi thường thiệt hại, bồi hoàn, khắc phục hậu quả do hành vi tố tụng
trái pháp luật của mình gây ra.
Điều 469. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết tố cáo
1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng thuộc quan thẩm quyền tiến hành tố tụng nào thì người đứng đầu cơ
quan đó có thẩm quyền giải quyết.
Trường hợp người bị tố cáo Thủ trưởng quan điều tra, Viện trưởng
Viện kiểm sát thì Thủ trưởng quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp
trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết.
Trường hợp người bị tố cáo là Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh
án Tòa án quân sự khu vực thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án
Tòa án quân sự cấp quân khu có thẩm quyền giải quyết.
Trường hợp người bị tố cáo Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh
án Tòa án quân sự cấp quân khu thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án
Tòa án quân sự trung ương có thẩm quyền giải quyết.
Trường hợp người bị tố cáo Chánh án Tòa án quân sự trung ương thì
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền giải quyết.
Tố cáo hành vi tố tụng của người được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra do Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra
có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
2. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật dấu hiệu tội phạm thì được giải
quyết theo quy định tại Điều 151 của Bộ luật này.
285
3. Thời hạn giải quyết tố cáo không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được tố
cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố cáo có thể kéo dài nhưng
không quá 60 ngày.
4. Tố cáo liên quan đến hành vi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt,
tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra, truy tố phải được Viện trưởng Viện
kiểm sát thẩm quyền xem xét, giải quyết trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận
được tố cáo. Trường hợp phải xác minh thêm thì thời hạn không quá 03 ngày kể
từ ngày nhận được tố cáo.
Điều 470. Trách nhiệm của quan, người thẩm quyền giải quyết
khiếu nại, tố cáo
1. quan, người thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết kịp thời,
đúng pháp luật khiếu nại, tố cáo gửi văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo cho
người đã khiếu nại, tố cáo; xử lý nghiêm minh người vi phạm pháp luật; áp dụng
biện pháp bảo vệ người tố cáo khi yêu cầu, ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra;
bảo đảm kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo được thi hành nghiêm chỉnh và phải
chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết của mình.
2. Người thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo mà không giải quyết,
thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải quyết trái pháp luật thì tùy tính chất,
mức độ vi phạm bị xử kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu
gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại, bồi hoàn theo quy định của luật.
3. quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra, Tòa án trách nhiệm thông báo việc tiếp nhận gửi văn bản
giải quyết khiếu nại, tố cáo cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát
thẩm quyền.
Điều 471. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc
giải quyết khiếu nại, tố cáo
1. Viện kiểm sát thẩm quyền Viện kiểm sát cấp trên kiểm sát việc
giải quyết khiếu nại, tố cáo của quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra, Tòa án.
286
2. Khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, Viện kiểm sát những
nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Yêu cầu quan điều tra, Tòa án, quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra ra quyết định giải quyết khiếu nại, ra văn bản
giải quyết tố cáo theo quy định tại Chương này;
b) Yêu cầu quan điều tra, Tòa án, quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra tự kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của
cấp mình và cấp dưới; thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát;
c) Yêu cầu quan điều tra, Tòa án, quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo cho Viện kiểm sát;
d) Trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Cơ quan điều tra,
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Tòa án cùng
cấp và cấp dưới;
đ) Ban hành kết luận kiểm sát; thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị, yêu
cầu Cơ quan điều tra, Tòa án, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra khắc phục vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.
3. Viện kiểm sát cấp trên có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo của Viện kiểm sát cấp dưới. Viện kiểm sát nhân dân tối cao
thanh tra, kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Viện kiểm sát các cấp.
Chương XXXIV
BẢO VỆ NGƯỜI TỐ GIÁC TỘI PHẠM, NGƯỜI LÀM CHỨNG, BỊ HẠI
VÀ NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG KHÁC
Điều 472. Người được bảo vệ
1. Những người được bảo vệ gồm:
a) Người tố giác tội phạm;
b) Người làm chứng;
c) Bị hại;
287
d) Người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại.
2. Người được bảo vệ có quyền:
a) Đề nghị được bảo vệ;
b) Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ;
c) Được biết về việc áp dụng biện pháp bảo vệ; đề nghị thay đổi, bổ sung,
hủy bỏ biện pháp bảo vệ;
d) Được bồi thường thiệt hại, khôi phục danh dự, bảo đảm các quyền
lợi ích hợp pháp trong thời gian bảo vệ.
3. Người được bảo vệ có nghĩa vụ:
a) Chấp hành nghiêm chỉnh các yêu cầu của cơ quan bảo vệ liên quan đến
việc bảo vệ;
b) Giữ bí mật thông tin bảo vệ;
c) Thông báo kịp thời đến cơ quan có trách nhiệm bảo vệ về những vấn đề
nghi vấn trong thời gian được bảo vệ.
Điều 473. quan, người thẩm quyền quyết định áp dụng biện
pháp bảo vệ
1. Cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ gồm:
a) Cơ quan điều tra của Công an nhân dân;
b) Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân.
2. Người có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ gồm:
a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng quan điều tra của Công an nhân dân,
Điều tra viên thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 42 của Bộ luật này có
thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ
trong các vụ việc, vụ án hình sự do quan mình thụ lý, giải quyết, điều tra
hoặc theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân có thẩm quyền,
đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
b) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân
thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo
vệ trong các vụ việc, vụ án hình sự do quan mình thụ lý, giải quyết, điều tra
288
hoặc theo đề nghị của Viện kiểm sát quân sự, Tòa án quân sự cùng cấp; đề nghị
của Viện kiểm sát quân sự trung ương.
3. Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân các cấp nếu xét thấy cần áp
dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ thì đề nghị quan điều tra
trực tiếp thụ vụ án hình sự ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với
người được bảo vệ. Đề nghị phải được thể hiện bằng văn bản.
quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quan điều tra Viện
kiểm sát quân sự trung ương nếu xét thấy cần áp dụng biện pháp bảo vệ đối với
người được bảo vệ trong vụ việc, vụ án hình sự do quan mình thụ lý, giải
quyết, điều tra thì báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương văn bản đề nghị với Cơ quan Cảnh
sát điều tra, quan An ninh điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra hình sự, Cơ
quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ.
Điều 474. Các biện pháp bảo vệ
1. Khi căn cứ xác định tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân
phẩm của người được bảo vệ bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại do việc cung
cấp chứng cứ, tài liệu, thông tin liên quan đến tội phạm thì quan, người
thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định áp dụng những biện pháp sau đây để
bảo vệ họ:
a) Bố trí lực lượng, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, sử dụng khí,
công cụ hỗ trợ và các phương tiện khác để canh gác, bảo vệ;
b) Hạn chế việc đi lại, tiếp xúc của người được bảo vệ để bảo đảm an toàn
cho họ;
c) Giữ mật yêu cầu người khác giữ mật các thông tin liên quan
đến người được bảo vệ;
d) Di chuyển, giữ mật chỗ ở, nơi làm việc, học tập; thay đổi tung tích,
lý lịch, đặc điểm nhân dạng của người được bảo vệ, nếu được họ đồng ý;
đ) Răn đe, cảnh cáo, hiệu hóa các hành vi xâm hại người được bảo vệ;
ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi xâm hại theo quy định của pháp luật;
e) Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật.
289
2. Việc áp dụng, thay đổi các biện pháp bảo vệ quy định tại khoản 1 Điều
này không được làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của người được
bảo vệ.
Điều 475. Đề nghị, yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo vệ
1. Người được bảo vệ quyền làm văn bản đề nghị, yêu cầu cơ quan có
thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ. Văn bản đề nghị, yêu cầu có các nội dung
chính:
a) Ngày, tháng, năm;
b) Tên, địa chỉ của người đề nghị;
c) Lý do và nội dung đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ;
d) Chữ hoặc điểm chỉ của người đề nghị. Trường hợp đề nghị của
quan, tổ chức thì người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó ký tên và
đóng dấu.
2. Trường hợp khẩn cấp, người được bảo vệ trực tiếp đề nghị quan,
người thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc thông qua phương tiện
thông tin liên lạc nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản đề nghị. quan,
người thẩm quyền nhận được đề nghị, yêu cầu phải lập biên bản đưa vào
hồ sơ bảo vệ.
3. Khi tiến hành tố tụng đối với vụ việc, vụ án, quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhận được đề
nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ trách nhiệm xem xét, đề nghị
quan điều tra cùng cấp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ. Trường
hợp Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Tòa án nhân dân khu vực nhận được đề
nghị, yêu cầu bảo vệ thì đề nghị quan điều tra cấp tỉnh xem xét, quyết định
áp dụng biện pháp bảo vệ.
4. quan điều tra phải kiểm tra căn cứ, tính xác thực của đề nghị, yêu
cầu bảo vệ. Trường hợp xét thấy không cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ thì
phải giải thích rõ lý do cho người đã yêu cầu, đề nghị biết.
Điều 476. Quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ
1. Quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ gồm các nội dung chính:
290
a) Số, ngày, tháng, năm; địa điểm ra quyết định;
b) Chức vụ của người ra quyết định;
c) Căn cứ ra quyết định;
d) Họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được bảo vệ;
đ) Biện pháp bảo vệ và thời gian bắt đầu thực hiện biện pháp bảo vệ.
2. Quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ được gửi cho người yêu cầu bảo
vệ, người được bảo vệ, Viện kiểm sát, Tòa án đã đề nghị áp dụng biện pháp bảo
vệ và cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan đến việc bảo vệ.
3. Sau khi ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ, quan điều tra
thẩm quyền áp dụng phải tổ chức thực hiện ngay biện pháp bảo vệ. Trường hợp
cần thiết thể phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong Công an nhân dân, Quân
đội nhân dân để thực hiện việc bảo vệ.
4. quan điều tra đã ra quyết định áp dụng có thể thay đổi, bổ sung biện
pháp bảo vệ trong quá trình bảo vệ nếu xét thấy cần thiết.
5. Thời gian bảo vệ được tính từ khi áp dụng biện pháp bảo vệ cho đến khi
có quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo vệ.
Điều 477. Chấm dứt việc bảo vệ
1. Khi xét thấy căn cứ xâm hại hoặc đe dọa xâm hại tính mạng, sức khỏe,
tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ không còn, Thủ trưởng
quan điều tra đã quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ phải ra quyết định chấm
dứt áp dụng biện pháp bảo vệ.
2. Quyết định chấm dứt áp dụng các biện pháp bảo vệ phải được gửi cho
người được bảo vệ, quan đã đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ và cơ quan, tổ
chức, đơn vị liên quan đến việc bảo vệ.
Điều 478. Hồ sơ bảo vệ
1. quan điều tra đã ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ phải lập hồ
sơ bảo vệ.
2. Hồ sơ bảo vệ gồm:
291
a) Văn bản đề nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ; biên bản về việc
đề nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ;
b) Kết quả xác minh về hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại tính mạng,
sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ;
c) Tài liệu về hậu quả thiệt hại đã xảy ra (nếu có) việc xử của
quan có thẩm quyền;
d) Văn bản yêu cầu, đề nghị thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ;
đ) Quyết định áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ;
e) Tài liệu phản ánh diễn biến quá trình áp dụng biện pháp bảo vệ;
g) Văn bản yêu cầu, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp bảo vệ;
h) Báo cáo kết quả thực hiện biện pháp bảo vệ;
i) Quyết định chấm dứt biện pháp bảo vệ;
k) Các văn bản, tài liệu khác có liên quan đến việc bảo vệ.
Phần thứ tám
HỢP TÁC QUỐC TẾ
Chương XXXV
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 479. Phạm vi hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
1. Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự việc các quan thẩm
quyền của nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam các quan thẩm
quyền của nước ngoài phối hợp, hỗ trợ nhau để thực hiện hoạt động phục vụ yêu
cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
2. Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự gồm tương trợ pháp về hình
sự; dẫn độ; tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và các hoạt
động hợp tác quốc tế khác được quy định tại Bộ luật này, pháp luật về tương trợ
pháp điều ước quốc tế Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam thành
viên.
3. Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa
hội chủ nghĩa Việt Nam được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà
292
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có
lại, theo quy định của Bộ luật này, pháp luật về tương trợ pháp quy định
khác của pháp luật Việt Nam có liên quan.
Điều 480. Nguyên tắc hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
1. Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự được thực hiện trên nguyên tắc
tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không can thiệp vào
công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng lợi, phù hợp với Hiến pháp,
pháp luật của Việt Nam điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên.
2. Trường hợp Việt Nam chưa ký kết hoặc chưa gia nhập điều ước quốc tế
liên quan thì việc hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự được thực hiện theo
nguyên tắc đi lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp
luật quốc tế và tập quán quốc tế.
Điều 481. quan trung ương trong hợp tác quốc tế về tố tụng hình
sự
1. Bộ Công an quan trung ương của nước Cộng hòa hội chủ
nghĩa Việt Nam trong hoạt động dẫn độ chuyển giao người đang chấp hành
án phạt tù.
2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao quan trung ương của nước Cộng
hòa hội chủ nghĩa Việt Nam trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự và
những hoạt động hợp tác quốc tế khác theo quy định của pháp luật.
Điều 482. Giá trị pháp của tài liệu, đồ vật thu thập được qua hợp
tác quốc tế trong tố tụng hình sự
Tài liệu, đồ vật do quan thẩm quyền của nước ngoài thu thập theo
ủy thác pháp hợp tác quốc tế khác trong tố tụng hình sự của quan có
thẩm quyền của Việt Nam hoặc tài liệu, đồ vật do quan thẩm quyền của
nước ngoài gửi đến Việt Nam để yêu cầu, ủy thác truy cứu trách nhiệm hình sự
thể được coi chứng cứ. Trường hợp tài liệu, đồ vật này đặc điểm quy
định tại Điều 89 của Bộ luật này thì có thể được coi là vật chứng.
Điều 483. Việc tiến hành tố tụng của người thẩm quyền của Việt
Nam ở nước ngoài và người có thẩm quyền của nước ngoài ở Việt Nam
293
Việc tiến hành tố tụng của người thẩm quyền của Việt Nam nước
ngoài người thẩm quyền của nước ngoài Việt Nam được thực hiện theo
quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên hoặc thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại.
Điều 484. Sự mặt của người làm chứng, người giám định, người
đang bị tạm giam, người đang chấp hành án phạt tại Việt Nam nước
ngoài; người làm chứng, người giám định, người đang bị tạm giam, người
đang chấp hành án phạt tù tại nước ngoài ở Việt Nam
1. quan thẩm quyền của Việt Nam thể đề nghị quan thẩm
quyền của nước ngoài cho người làm chứng, người giám định, người đang bị
tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù tại nước được đề nghị có mặt ở Việt
Nam để phục vụ việc giải quyết vụ án hình sự.
2. Theo đề nghị của quan thẩm quyền nước ngoài, cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam thể cho phép người làm chứng, người giám định, người
đang bị tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam có mặt ở nước
đã đề nghị để phục vụ việc giải quyết vụ án hình sự.
Chương XXXVI
MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC QUỐC TẾ
Điều 485. Việc tiếp nhận, chuyển giao tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ
án
Việc tiếp nhận, chuyển giao tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án được thực
hiện theo quy định của điều ước quốc tế Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt
Nam thành viên, quy định của Bộ luật này, pháp luật về tương trợ tư pháp và
quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan.
Điều 486. Xử lý trường hợp từ chối dẫn độ công dân Việt Nam
Theo yêu cầu của quan thẩm quyền của nước ngoài, quan
thẩm quyền của Việt Nam trách nhiệm xem xét để truy cứu trách nhiệm hình
sự hoặc cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với
công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ.
294
Điều 487. Trình tự, thủ tục xem xét, xử yêu cầu truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ
1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định từ chối dẫn độ công
dân Việt Nam, theo yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự của cơ quan có thẩm
quyền của nước ngoài, Tòa án đã ra quyết định từ chối dẫn độ chuyển hồ sơ và
các tài liệu kèm theo của nước ngoài đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao để xem
xét xử lý.
2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, xử yêu cầu của nước ngoài
về truy cứu trách nhiệm hình sự công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ theo quy
định của luật.
3. Việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người bị yêu cầu truy cứu
trách nhiệm hình sự được tiến hành theo quy định của Bộ luật này.
4. quan thẩm quyền của Việt Nam thể yêu cầu quan có thẩm
quyền của nước ngoài cung cấp, bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật để bảo đảm
việc điều tra, truy tố, xét xử có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 488. Điều kiện cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa
án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ
Bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt
Nam bị từ chối dẫn độ thể được thi hành tại Việt Nam khi đủ các điều
kiện:
1. văn bản yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc
thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt
Nam bị từ chối dẫn độ;
2. Hành vi phạm tội công dân Việt Nam bị kết án nước ngoài cũng
cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam;
3. Bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân
Việt Nam đã hiệu lực pháp luật không còn thủ tục tố tụng nào đối với
người đó.
295
Điều 489. Trình tự, thủ tục xem xét yêu cầu thi hành bản án, quyết
định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối
dẫn độ
1. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của quan
thẩm quyền của nước ngoài về việc thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa
án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ, Tòa án nhân dân
khu vực đã ra quyết định từ chối dẫn độ xem xét yêu cầu của nước ngoài.
2. Tòa án có thẩm quyền mở phiên họp bằng Hội đồng gồm ba Thẩm phán
để xem xét yêu cầu thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài
đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ. Phiên họp phải mặt của Kiểm
sát viên Viện kiểm sát cùng cấp, người bị yêu cầu thi hành bản án, quyết định
hình sự của Tòa án nước ngoài, luật sư hoặc người đại diện của họ (nếu có).
3. Sau khi khai mạc phiên họp, một thành viên của Hội đồng trình bày
những vấn đề liên quan đến yêu cầu thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa
án nước ngoài đối với công dân Việt Nam nêu ý kiến về sở pháp của
việc cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công
dân Việt Nam tại Việt Nam.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc cho thi hành
bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam tại
Việt Nam.
Người bị yêu cầu thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước
ngoài, luật sư, người đại diện của người này trình bày ý kiến (nếu có).
Hội đồng thảo luận và quyết định theo đa số việc cho thi hành hoặc không
cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với người bị
yêu cầu.
4. Quyết định cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước
ngoài đối với công dân Việt Nam tại Việt Nam phải ghi rõ thời hạn mà người đó
phải thi hành án phạt tù tại Việt Nam trên cơ sở xem xét, quyết định:
a) Trường hợp thời hạn của hình phạt do nước ngoài đã tuyên phù hợp với
pháp luật Việt Nam thì thời hạn phải thi hành án tại Việt Nam được quyết định
tương ứng với thời hạn đó;
296
b) Trường hợp tính chất hoặc thời hạn của hình phạt do Tòa án nước ngoài
đã tuyên không phù hợp pháp luật Việt Nam thì quyết định chuyển đổi hình phạt
cho phù hợp với pháp luật Việt Nam nhưng không được dài hơn hình phạt đã
tuyên của Tòa án nước ngoài.
5. Chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày ra quyết định cho thi hành hoặc không
cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài, Tòa án nhân dân
khu vực gửi quyết định cho người bị yêu cầu thi hành, Viện kiểm sát nhân dân
cùng cấp, Bộ Công an để thực hiện.
Người bị yêu cầu thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước
ngoài quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp quyền kháng
nghị trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh quyền kháng
nghị trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Tòa án nhân dân khu vực ra quyết định.
Tòa án nhân dân khu vực phải gửi hồ kháng cáo, kháng nghị cho
Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
6. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ xem xét yêu cầu thi
hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài kháng cáo, kháng
nghị, Tòa án nhân dân cấp tỉnh mở phiên họp xem xét quyết định của Tòa án
nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị.
Thủ tục xem xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định của Tòa án
nhân dân khu vực được thực hiện theo quy định tại Điều này.
7. Quyết định thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài
đối với công dân Việt Nam tại Việt Nam có hiệu lực pháp luật gồm:
a) Quyết định của Tòa án nhân dân khu vực không bị kháng cáo, kháng
nghị;
b) Quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
8. Trình tự, thủ tục thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của
Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam tại Việt Nam được thực hiện theo
quy định Bộ luật này và Luật Thi hành án hình sự.
297
9. Khi nhận được thông báo về quyết định đặc xá, đại xá hoặc miễn, giảm
hình phạt của nước ngoài đối với công dân Việt Nam phạm tội nước ngoài bị
Việt Nam từ chối dẫn độ và người đó đang thi hành án tại Việt Nam thì Bộ Công
an gửi ngay thông báo đó cho Tòa án, Viện kiểm sát thẩm quyền xem xét,
quyết định.
Điều 490. Các biện pháp ngăn chặn, căn cứ thẩm quyền áp dụng
biện pháp ngăn chặn
1. Các biện pháp ngăn chặn để bảo đảm cho việc xem xét yêu cầu dẫn độ
hoặc thi hành quyết định dẫn độ gồm bắt, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt
tiền để bảo đảm, tạm hoãn xuất cảnh.
2. Biện pháp ngăn chặn chỉ được áp dụng đối với người bị xem xét yêu
cầu dẫn độ hoặc bị dẫn độ khi có đủ các điều kiện:
a) Tòa án đã quyết định xem xét yêu cầu dẫn độ đối với người đó hoặc
quyết định dẫn độ đối với người đó đã có hiệu lực pháp luật;
b) Có căn cứ cho rằng người bị yêu cầu dẫn độ bỏ trốn hoặc gây khó khăn,
cản trở việc xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc thi hành quyết định dẫn độ.
3. Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án, Phó
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh quyết định việc áp dụng các biện pháp ngăn
chặn quy định tại khoản 1 Điều này. Thẩm phán chủ tọa phiên họp xem xét yêu
cầu dẫn độ quyền quyết định việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú,
biện pháp đặt tiền để bảo đảm sự mặt của người bị yêu cầu dẫn độ tại phiên
họp.
Điều 491. Bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ
1. Việc bắt người bị yêu cầu dẫn độ để tạm giam hoặc thi hành quyết định
dẫn độ được thực hiện theo quy định tại Điều 119 của Bộ luật này.
2. Thời hạn tạm giam để xem xét yêu cầu dẫn độ không quá thời hạn trong
lệnh bắt giam của quan thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ hoặc thời
hạn phải thi hành hoặc còn phải thi hành hình phạt trong bản án, quyết định
hình sự của Tòa án nước yêu cầu dẫn độ.
298
Trường hợp cần thiết, Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án nhân dân cấp tỉnh
thể gửi văn bản yêu cầu quan thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ ra
lệnh, quyết định tạm giam hoặc gia hạn tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ để
bảo đảm việc xem xét yêu cầu dẫn độ; văn bản yêu cầu được gửi thông qua Bộ
Công an.
Điều 492. Cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh
1. Cấm đi khỏi nơi trú biện pháp ngăn chặn thể áp dụng đối với
người bị yêu cầu dẫn độ nơi trú ràng nhằm bảo đảm sự mặt của họ
theo giấy triệu tập của Tòa án.
Việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi trú được thực hiện theo quy
định tại Điều 130 của Bộ luật này.
Thời hạn áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi trú không được quá thời
hạn bảo đảm việc xem xét yêu cầu dẫn độ và thời hạn xem xét kháng cáo, kháng
nghị đối với quyết định dẫn độ hoặc quyết định từ chối dẫn độ theo quy định của
pháp luật về tương trợ tư pháp.
2. Tạm hoãn xuất cảnh biện pháp ngăn chặn thể áp dụng đối với
người bị yêu cầu dẫn độ nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của
Tòa án.
Việc áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh được thực hiện theo quy định
tại Điều 131 của Bộ luật này.
Thời hạn áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh không được quá thời hạn
bảo đảm việc xem xét yêu cầu dẫn độ thời hạn xem xét kháng cáo, kháng
nghị đối với quyết định dẫn độ hoặc quyết định từ chối dẫn độ theo quy định của
pháp luật về tương trợ tư pháp.
Điều 493. Đặt tiền để bảo đảm
1. Đặt tiền để bảo đảm biện pháp ngăn chặn thể áp dụng đối với
người bị yêu cầu dẫn độ căn cứ vào tình trạng tài sản của người đó nhằm bảo
đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Tòa án.
2. Việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm thực hiện theo quy định tại
Điều 128 của Bộ luật này.
299
3. Thời hạn áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm không được quá thời
hạn bảo đảm việc xem xét yêu cầu dẫn độ và thời hạn xem xét kháng cáo, kháng
nghị đối với quyết định dẫn độ hoặc quyết định từ chối dẫn độ theo quy định của
pháp luật về tương trợ tư pháp.
Điều 494. Hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn
1. Khi Tòa án thẩm quyền quyết định từ chối dẫn độ hoặc hết thời hạn
15 ngày kể từ ngày quyết định thi hành quyết định dẫn độ hiệu lực mà nước
yêu cầu dẫn độ không tiếp nhận người bị dẫn độ thì mọi biện pháp ngăn chặn đã
áp dụng đều phải được hủy bỏ.
2. Người thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn quy định tại Điều
490 của Bộ luật này phải kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn do
mình quyết định nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết.
Điều 495. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu
dẫn độ
Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi yêu cầu dẫn độ
của quan thẩm quyền của nước ngoài được thực hiện theo quy định của
điều ước quốc tế Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và pháp
luật về dẫn độ.
Điều 496. Xử lý tài sản do phạm tội mà có
1. quan thẩm quyền của Việt Nam hợp tác với quan thẩm
quyền của nước ngoài trong việc truy tìm, tạm giữ, biên, phong tỏa, tịch thu,
xử tài sản do phạm tội để phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử
thi hành án hình sự.
2. Việc truy tìm, tạm giữ, biên, phong tỏa, tịch thu tài sản do phạm tội
tại Việt Nam được thực hiện theo quy định của Bộ luật này quy định
khác của pháp luật Việt Nam có liên quan.
3. Việc xử tài sản do phạm tội tại Việt Nam thực hiện theo quy
định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
hoặc theo thoả thuận trong từng vụ việc cụ thể giữa quan có thẩm quyền của
Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có liên quan.
300
Điều 497. Phối hợp điều tra, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc
biệt
1. quan thẩm quyền của Việt Nam thể hợp tác với quan
thẩm quyền của nước ngoài trong việc phối hợp điều tra hoặc áp dụng các biện
pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Việc hợp tác phối hợp điều tra hoặc áp dụng các
biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được thực hiện trên sở điều ước quốc tế
Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam thành viên hoặc theo thoả thuận
trong từng vụ việc cụ thể giữa quan có thẩm quyền của Việt Nam và cơ quan
có thẩm quyền của nước ngoài có liên quan.
2. Các hoạt động phối hợp điều tra thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa
hội chủ nghĩa Việt Nam được thực hiện theo quy định của Bộ luật này và quy
định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan.
Phần thứ chín
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 498. Hiệu lực thi hành
1. Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày tháng năm 2028.
2. Bộ luật Tố tụng hình sự số số 101/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung
bởi Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15
Luật số 99/2025/QH15 hết hiệu lực kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực.
Điều 499. Quy định chi tiết
Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao quy
định chi tiết các điều, khoản được giao trong Bộ luật này.
Bộ luật này được Quốc hội nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa XVI, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày tháng năm 2026.
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
Trần Thanh Mẫn

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Hồ sơ dự án

Hồ sơ dự án tổng hợp toàn bộ tài liệu liên quan đến quá trình xây dựng Dự thảo đang xem.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Hồ sơ dự án

Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
CHÍNH SÁCH BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN
Yêu cầu hỗ trợYêu cầu hỗ trợ
Chú thích màu chỉ dẫn
Chú thích màu chỉ dẫn:
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng các màu sắc:
Sửa đổi, bổ sung, đính chính
Thay thế
Hướng dẫn
Bãi bỏ
Bãi bỏ cụm từ
Bình luận
Click vào nội dung được bôi màu để xem chi tiết.
×