Thông tư 63/1998/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện một số quy định về thuế nhằm khuyến khích và bảo đảm hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam quy định tại Nghị định số 10/1998/NĐ-CP

Thuộc tính Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng:Đã biết

THÔNG TƯ

CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 63/1998/TT-BTC NGÀY 13 THÁNG 05 NĂM 1998 HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ THUẾ NHẰM KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO ĐẢM HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM QUY ĐỊNH TẠI NGHỊ ĐỊNH SỐ 10/1998/NĐ-CP

 

- Căn cứ Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 12/11/1996;

- Căn cứ Nghị định số 10/1998/NĐ-CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ về một số biện pháp khuyến khích và bảo đảm hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam;

Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số quy định về thuế nhằm khuyến khích và bảo đảm hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam như sau:

 

A. ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG

 

Các đối tượng được áp dụng quy định về thuế hướng dẫn tại Thông tư này bao gồm:

- Các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

- Các bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác được thành lập trên cơ sở Hiệp định được ký kết giữa Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài. Trường hợp trong Hiệp định có các quy định khác về thuế thì thực hiện theo các quy định của Hiệp định đó.

Các đối tượng nêu trên đây gọi là Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

 

B. BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN LỢI NHÀ ĐẦU TƯ

 

I. THUẾ LỢI TỨC

1. Thuế suất thuế lợi tức:

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được cấp Giấy phép đầu tư trước ngày 23/11/1996 nộp thuế lợi tức theo quy định tại Giấy phép đầu tư. Trường hợp thuế suất thuế lợi tức quy định tại các văn bản mới ban hành của Chính phủ Việt Nam thấp hơn thuế suất thuế lợi tức quy định tại Giấy phép đầu tư thì việc đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư về thuế suất thuế lợi tức được thực hiện như sau:

1.1. Cơ quan cấp giấy phép đầu tư thực hiện điều chỉnh thuế suất thuế lợi tức cho các doanh nghiệp theo quy định mới trong các trường hợp sau:

- Doanh nghiệp thuộc dự án đảm bảo đủ hai điều kiện: dự án thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư và thuộc danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư theo quy định tại Pphụ lục 1 Nghị định 10/1998/NĐ-CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ được áp dụng thuế suất thuế lợi tức ưu đãi trong suốt thời gian hoạt động còn lại của dự án.

- Các doanh nghiệp đầu tư vào các địa bàn mà sau đó các địa bàn này được chuyển thành Khu công nghiệp, Khu chế xuất hoặc khu công nghệ cao được áp dụng các ưu đãi về thuế lợi tức theo quy định tại Nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ.

- Các doanh nghiệp đang trong thời hạn được hưởng thuế suất ưu đãi theo quy định tại Giấy phép đầu tư nhưng thời hạn áp dụng thuế suất ưu đãi theo quy định mới dài hơn so với thời hạn áp dụng quy định tại Giấy phép đầu tư.

- Các doanh nghiệp không thuộc diện được hưởng ưu đãi thuế suất thuế lợi tức theo Giấy phép đầu tư nhưng trong thực tế đảm bảo được các điều kiện được hưởng thuế suất thuế lợi tức ưu đãi theo quy định mới.

1.2. Các doanh nghiệp kể trên chỉ được cơ quan cấp giấy phép đầu tư điều chỉnh thuế suất thuế lợi tức nếu các doanh nghiệp thoả mãn hai điều kiện:

- Doanh nghiệp đang trong thời hạn được hưởng thuế suất thuế lợi tức ưu đãi theo quy định mới.

- Doanh nghiệp đảm bảo đủ điều kiện được hưởng thuế suất thuế lợi tức ưu đãi theo quy định mới.

1.3. Thuế suất thuế lợi tức ưu đãi theo quy định mới thực hiện từ năm tài chính giấy phép điều chỉnh có hiệu lực.

1.4. Trường hợp doanh nghiệp được điều chỉnh thuế suất thuế lợi tức ưu đãi theo quy định mới do đảm bảo điều kiện: Sử dụng lao động hoặc tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm nhưng sau thời điểm điều chỉnh thuế suất thuế lợi tức ưu đãi, doanh nghiệp không thực hiện được điều kiện hưởng thuế suất thuế lợi tức ưu đãi thì thuế suất thuế lợi tức ưu đãi chỉ được áp dụng đối với các năm tài chính doanh nghiệp thực hiện được điều kiện hưởng thuế suất thuế lợi tức ưu đãi. Hàng năm, doanh nghiệp phải báo cáo với cơ quan cấp giấy phép đầu tư và cơ quan thuế quản lý doanh nghiệp về tình hình thực hiện các chỉ tiêu trên và kê khai nộp thuế lợi tức theo thuế suất phù hợp với điều kiện doanh nghiệp đạt được. Cơ quan thuế quản lý doanh nghiệp kiểm tra xác định mức độ thực hiện các chỉ tiêu trên và xác định mức thuế lợi tức phải nộp hàng năm của từng doanh nghiệp.

Ví dụ: Doanh nghiệp A được cấp Giấy phép đầu tư năm 1994 và bắt đầu sản xuất kinh doanh trong năm 1996. Theo Giấy phép đầu tư doanh nghiệp được hưởng thuế suất thuế lợi tức là 20% trong thời gian 5 năm kể từ năm tiếp theo năm được cấp Giấy phép đầu tư.

Gải sử năm 1998 doanh nghiệp xuất khẩu 80% sản phẩm tiêu thụ, theo quy định tại Điều 54 Nghị định số 12/CP thì doanh nghiệp được nộp thuế lợi tức với thuế suất 15%. Năm 1998 doanh nghiệp được cơ quan cấp giấy phép điều chỉnh thuế suất thuế lợi tức là 15%. Thời gian áp dụng thuế suất thuế lợi tức 15% là 12 năm kể từ khi doanh nghiệp bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu từ năm 1998 trở đi, hàng năm doanh nghiệp đều đạt tỷ lệ xuất khẩu 80% thì doanh nghiệp sẽ được nộp thuế lợi tức theo thuế suất 15% đến hết năm 2007 (12 năm kể từ năm 1996). Trường hợp, từ năm 1998 đến năm 2007 có năm doanh nghiệp chỉ đạt tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm từ 50% đến dưới 80% thì năm đó doanh nghiệp kê khai nộp thuế lợi tức theo thuế suất 20%; hoặc có năm doanh nghiệp chỉ đạt tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu 30% chưa đủ điều kiện được áp dụng thuế suất thuế lợi tức ưu đãi thì năm đó doanh nghiệp kê khai nộp thuế lợi tức theo thuế suất 25%.

Trường hợp các quy định về thuế suất thuế lợi tức tại quy định mới bất lợi hơn cho doanh nghiệp thì các doanh nghiệp được tiếp tục áp dụng thuế suất thuế lợi tức đã quy định tại Giấy phép đầu tư.

2. Miễn, giảm thuế lợi tức.

Các doanh nghiệp được hưởng các ưu đãi miễn, giảm thuế lợi tức theo Giấy phép đầu tư. Trường hợp các ưu đãi về miễn, giảm thuế lợi tức quy định tại quy định mới thuận lợi hơn các ưu đãi đã được quy định tại Giấy phép đầu tư thì doanh nghiệp được hưởng ưu đãi theo quy định mới nếu:

- Doanh nghiệp đang trong thời gian được miễn giảm thuế lợi tức theo Giấy phép đã cấp. Đối với các doanh nghiệp Giấy phép đầu tư đã cấp không được miễn, giảm thuế lợi tức thì doanh nghiệp chỉ được miễn giảm thuế lợi tức theo quy định mới nếu trước đó doanh nghiệp kinh doanh chưa có lợi tức.

- Tại thời điểm xin điều chỉnh về thời hạn miễn giảm thuế lợi tức các doanh nghiệp phải có đủ các điều kiện để được hưởng ưu đãi miễn giảm thuế theo quy định mới.

Các ưu đãi miễn, giảm thuế lợi tức theo quy định mới được bắt đầu thực hiện từ năm tài chính giấy phép điều chỉnh có hiệu lực.

3. Thủ tục điều chỉnh thuế suất thuế lợi tức và ưu đãi miễn giảm thuế lợi tức:

Các doanh nghiệp thuộc đối tượng được điều chỉnh thuế suất thuế lợi tức và đối tượng được hưởng ưu đãi miễn giảm thuế theo quy định trên đây phải có công văn gửi cơ quan cấp Giấy phép đầu tư trong đó nêu rõ lý do xin điều chỉnh thuế suất và ưu đãi miễn giảm thuế lợi tức, mức thuế suất xin điều chỉnh và tình hình thực hiện các chỉ tiêu làm căn cứ xin hưởng ưu đãi theo quy định mới của năm trước và năm báo cáo tính đến thời điểm doanh nghiệp xin điều chỉnh. Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư sẽ cấp Giấy phép điều chỉnh cho doanh nghiệp.

Trường hợp trong 3 năm liên tục doanh nghiệp không đảm bảo các điều kiện để được hưởng các ưu đãi về thuế lợi tức và thời hạn miễn giảm thuế lợi tức quy định tại Giấy phép đầu tư (kể cả Giấy phép điều chỉnh), doanh nghiệp phải báo cáo với cơ quan cấp Giấy phép điều chỉnh Giấy phép đầu tư cho phù hợp.

 

II. THUẾ CHUYỂN LỢI NHUẬN RA NƯỚC NGOÀI

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được hưởng các quy định ưu đãi hơn về thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài đối với các khoản lợi nhuận chuyển ra nước ngoài kể từ ngày có quyết định điều chỉnh Giấy phép đầu tư của cơ quan cấp Giấy phép đầu tư.

 

III. THUẾ NHẬP KHẨU:

1. Thủ tục miễn thuế nhập khẩu:

1.1. Đối với các trường hợp được miễn thuế nhập khẩu theo quy định tại điểm 1 Điều 10 Nghị định số 10/1998/NĐ-CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ thì thủ tục miễn thuế nhập khẩu được thực hiện theo Thông tư số 74 TC/TCT ngày 20/10/1997 của Bộ Tài chính.

Trường hợp các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không trực tiếp nhập khẩu vật tư, nguyên liệu để chế tạo máy móc, thiết bị... mà ký hợp đồng gia công, chế tạo máy móc, thiết bị với doanh nghiệp trong nước thì các doanh nghiệp trong nước được miễn thuế nhập khẩu đối với vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để gia công, chế tạo máy móc, thiết bị đó theo đúng quy định của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 4417/KTTH ngày 5/9/1997 của Chính phủ. Thủ tục miễn thuế nhập khẩu như sau:

- Công văn của doanh nghiệp trong nước gửi Bộ Thương mại đề nghị được nhập khẩu hàng miễn thuế để chế tạo máy móc thiết bị theo hợp đồng với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

- Hợp đồng gia công, chế tạo máy móc thiết bị, linh kiện, phụ tùng... ký giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

- Danh mục, số lượng vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để chế tạo, gia công thiết bị máy móc, linh kiện, phụ tùng... cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

- Bản sao giấy phép đầu tư hoặc giấy phép điều chỉnh cấp cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để thành lập hoặc mở rộng quy mô, thay thế, đổi mới công nghệ.

Căn cứ vào hồ sơ trên đây, Bộ Thương mại hoặc cơ quan được Bộ Thương mại uỷ quyền sẽ xét duyệt danh mục mặt hàng nhập khẩu được miễn thuế sau khi có ý kiến đồng ý miễn thuế của Thủ tướng Chính phủ. Trên cơ sở danh mục mặt hàng nhập khẩu miễn thuế được duyệt, Cục Hải quan các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo dõi việc nhập khẩu của các doanh nghiệp.

1.2. Đối với các trường hợp được miễn thuế nhập khẩu một lần trang thiết bị quy định tại điểm 2 Điều 10 Nghị định số 10/1998/NĐ-CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ thì thủ tục miễn thuế nhập khẩu theo quy định tại Thông tư liên Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Thương mại - Tài chính - Tổng cục Du lịch số 11/TT-LB ngày 21/7/1997.

1.3. Đối với các trường hợp được miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu sản xuất quy định tại điểm 3 Điều 10 Nghị định số 10/1998/NĐ-CP:

Các doanh nghiệp có vốn ĐTNN đầu tư vào các dự án thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư và các dự án đầu tư vào vùng núi, vùng sâu, vùng xa quy định tại phụ lục 1 kèm theo Nghị định 10/CP được miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu sản xuất trong 5 năm kể từ năm bắt đầu sản xuất. Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động được miễn thuế nhập khẩu đối với các lô nguyên liệu nhập khẩu theo các tờ khai Hải quan mở từ ngày 7/2/1998 và được giới hạn trong 5 năm kể từ năm doanh nghiệp bắt đầu sản xuất. Thủ tục miễn thuế nhập khẩu đối với các doanh nghiệp này được quy định như sau:

+ Công văn gửi Bộ Thương mại xin nhập khẩu miễn thuế nguyên liệu để sản xuất.

+ Kế hoạch sản xuất trong năm và dự kiến số lượng nguyên liệu nhập khẩu phục vụ sản xuất.

Căn cứ kế hoạch sản xuất hàng năm của doanh nghiệp, Bộ Thương mại cấp danh mục nguyên liệu nhập khẩu miễn thuế phục vụ sản xuất của doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động, danh mục nhập khẩu miễn thuế nguyên liệu năm 1998 không bao gồm số lượng nguyên liệu doanh nghiệp đã nhập khẩu theo các tờ khai mở tại Hải quan trước ngày 7/2/1998.

Căn cứ danh mục nguyên liệu nhập khẩu miễn thuế do Bộ Thương mại cấp, Cục Hải quan tỉnh, thành phố theo dõi việc nhập khẩu của các doanh nghiệp.

1.4. Đối với các trường hợp được miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu sản xuất bán sản phẩm cho doanh nghiệp khác để trực tiếp sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu quy định tại điểm 2 Điều 13 Nghị định số 10/1998/NĐ-CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ:

Khi nhập khẩu vật tư, nguyên liệu để sản xuất sản phẩm bán cho doanh nghiệp khác để sản xuất hàng xuất khẩu, các doanh nghiệp phải nộp đủ thuế nhập khẩu theo quy định. Sau khi doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu đã xuất khẩu sản phẩm, doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu làm thủ tục gửi Bộ Tài chính xin hoàn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất sản phẩm bán cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu. Thủ tục xin hoàn thuế bao gồm:

- Công văn xin hoàn thuế của doanh nghiệp trong đó có tính toán và đề nghị rõ số tiền thuế nhập khẩu nguyên liệu được hoàn.

- Định mức tiêu hao vật tư nguyên liệu để sản xuất sản phẩm.

- Tờ khai Hải quan nhập khẩu và biên lai nộp thuế nhập khẩu của vật tư nguyên liệu sử dụng để sản xuất hàng bán cho các doanh nghiệp khác sản xuất hàng xuất khẩu.

- Hợp đồng bán hàng hoá cho doanh nghiệp khác trong đó ghi rõ hàng hoá đó được sử dụng để sản xuất hàng xuất khẩu.

- Hoá đơn bán hàng của doanh nghiệp cho doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu.

- Tờ khai Hải quan xuất hàng của doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu đã được Hải quan cửa khẩu xác nhận hàng đã thực xuất khẩu (bản sao công chứng).

- Bản kê khai của doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu về số lượng, giá trị bán thành phẩm do doanh nghiệp sản xuất đã được sử dụng để sản xuất sản phẩm đã xuất khẩu. Giám đốc doanh nghiệp sản xuất sản phẩm xuất khẩu phải chịu trách nhiệm về bản kê khai này.

Căn cứ các hồ sơ nêu trên Bộ Tài chính sẽ ra quyết định hoàn thuế nhập khẩu cho doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu.

2. Truy thu thuế nhập khẩu:

Hàng hoá nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được miễn thuế nhập khẩu theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 10/1998/NĐ-CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ nếu sử dụng sai mục đích hoặc nhượng bán tại thị trường Việt Nam sẽ bị truy nộp số thuế nhập khẩu đã được miễn. Thủ tục kê khai, truy nộp thuế nhập khẩu được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 74 TC/TCT ngày 20/10/1997 của Bộ Tài chính.

Đối với trường hợp các doanh nghiệp được miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu 5 năm theo quy định tại điểm 3 Điều 10 Nghị định số 10/1998/NĐ-CP, hàng năm chậm nhất trong quý I doanh nghiệp phải báo cáo tình hình nhập khẩu và sử dụng nguyên liệu đã được miễn thuế với Bộ Thương mại và cơ quan thuế trực tiếp quản lý doanh nghiệp. Đối với số nguyên liệu nhập khẩu miễn thuế doanh nghiệp không sử dụng hết trong phạm vi 5 năm kể từ ngày doanh nghiệp bắt đầu đi vào sản xuất hoặc doanh nghiệp sử dụng sai mục đích sẽ bị truy thu thuế nhập khẩu và xử phạt theo Luật định.

Đối với trường hợp doanh nghiệp trong nước nhập khẩu nguyên liệu, vật tư phục vụ việc sản xuất, gia công máy móc, thiết bị cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, định kỳ 6 tháng một lần và sau khi kết thúc hợp đồng gia công, các doanh nghiệp phải báo cáo về Bộ Tài chính, Bộ Thương mại và cơ quan thuế quản lý doanh nghiệp tình hình nhập khẩu và sử dụng số vật tư được miễn thuế nhập khẩu. Đối với số vật tư nhập khẩu không sử dụng hết nếu được phép tiêu thụ tại Việt Nam các doanh nghiệp phải kê khai, nộp thuế nhập khẩu theo quy định.

Cục thuế các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm kiểm tra và quyết toán tình hình nhập khẩu và sử dụng vật tư, nguyên liệu nhập khẩu miễn thuế của các doanh nghiệp.

3. Thời hạn nộp thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu Bộ Tài chính sẽ có hướng dẫn riêng.

4. Giá tính thuế nhập khẩu:

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi nhập khẩu hàng hoá được tính thuế nhập khẩu theo giá ghi trên hoá đơn hàng hoá nhập khẩu nếu có đủ các điều kiện quy định tại Thông tư số 82/1997/TT/BTC ngày 11/11/1997 của Bộ Tài chính.

Đối với các doanh nghiệp lợi dụng giá tính thuế để gian lận thuế, các doanh nghiệp sẽ bị xử lý theo quy định tại mục D Thông tư số 82/1997/TT/BTC nêu trên.

 

IV. CÁC QUY ĐỊNH KHÁC

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được khấu trừ khi xác định lợi tức chịu thuế đối với các khoản tài trợ cho các hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam. Khoản chi này được xác định thuộc điểm b15 mục I phần II Thông tư số 74 TC/TCT ngày 20/10/1997 của Bộ Tài chính.

Doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được chuyển lỗ của bất kỳ năm tính thuế nào sang các năm tiếp theo và được sử dụng lợi nhuận của các năm tiếp theo để bù đắp nhưng không quá 5 năm kể từ 5 ngay sau năm phát sinh lỗ. Các doanh nghiệp đăng ký việc chuyển lỗ với Cục thuế tỉnh, thành phố trực tiếp quản lý thuế theo quy định tại Thông tư số 74 TC/TCT ngày 20/10/1997 của Bộ Tài chính.

 

C. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

 

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Các nội dung hướng dẫn trước đây khác với nội dung hướng dẫn tại Thông tư này không còn hiệu lực thi hành.

Thuộc tính văn bản
Thông tư 63/1998/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện một số quy định về thuế nhằm khuyến khích và bảo đảm hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam quy định tại Nghị định số 10/1998/NĐ-CP
Cơ quan ban hành: Bộ Tài chính Số công báo: Đang cập nhật
Số hiệu: 63/1998/TT-BTC Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Thông tư Người ký: Phạm Văn Trọng
Ngày ban hành: 13/05/1998 Ngày hết hiệu lực: Đã biết
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực: Đầu tư , Thuế-Phí-Lệ phí , Chính sách
Tóm tắt văn bản
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE MINISTRY OF FINANCE
-------
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom – Happiness
----------
No. 63/1998/TT-BTC
Hanoi, May 13, 1998

 
CIRCULAR
GUIDING THE IMPLEMENTATION OF A NUMBER OF TAX REGULATIONS AIMED AT ENCOURAGING AND ENSURING THE ACTIVITIES OF FOREIGN DIRECT INVESTMENT IN VIETNAM AS STIPULATED IN DECREE No. 10/1998/ND-CP OF JANUARY 23, 1998 OF THE GOVERNMENT
Pursuant to the Law on Foreign Investment in Vietnam of November 12, 1996;
Pursuant to Decree No. 10/1998/ND-CP of January 23, 1998 of the Government on a number of measures to encourage and ensure the activities of foreign direct investment in Vietnam;
The Ministry of Finance hereunder guides the implementation of a number of regulations on tax aimed at encouraging and ensuring the activities of foreign direct investment in Vietnam:
A. OBJECTS OF REGULATION
The objects of application of the regulations on tax as directed in this Circular include:
- Joint venture enterprises, enterprises with 100% foreign capital set up under the Law on Foreign Investment in Vietnam.
- Foreign sides participating in contracts of business cooperation on the basis of contracts under the Law on Foreign Investment in Vietnam.
- Other enterprises with foreign investment established on the basis of the Treaty signed between the Government of the Socialist Republic of Vietnam and the foreign Government. In case the Treaty stipulates otherwise on taxes, the provisions of that Treaty shall be complied with.
The objects mentioned above are called foreign-invested enterprises.
B. MEASURES TO ENSURE THE RIGHTS AND INTERESTS OF INVESTORS
I. PROFIT TAX
1. Rate of profit tax:
Foreign-invested enterprises which are granted investment licenses prior to November 23, 1996 shall pay profit tax as stipulated in the investment licenses. In case the rate of profit tax specified in documents newly promulgated by the Vietnam Government is lower than the rate of profit tax stipulated in the investment license, the ensuring of the rights and interests of the investor with regard to the profit tax rate shall be conducted as follows:
1.1. The agency issuing the investment license shall readjust the rate of profit tax for the enterprises according to the new regulation in the following cases:
- The enterprises under the project shall have to meet these two conditions: The project lies in the list of projects to receive special encouragement in investment and in the list of localities where investment is encouraged according to the stipulations in Appendix 1 of Decree No.10/1998/ND-CP of January 23, 1998 of the Government applicable to preferential profit tax interest rate throughout the remaining operational period of the project.
- The enterprises investing in the localities which later become Industrial Parks, Export Processing Zones or High-Tech Zones shall enjoy preferential profit tax as prescribed in Decree No.36-CP of April 24, 1997 of the Government.
- The enterprises which are in the period of enjoying preferential tax rate as provided for in the investment licenses but the period of application of the preferential tax rate according to the new regulations is longer than the applicable period under the investment license.
- The enterprises which do not come under the category eligible for preferential profit tax rate as stipulated in the investment license but in practice have assured the conditions for enjoying preferential profit tax rate under the new regulation.
1.2. The above-mentioned enterprises shall be eligible for readjustment of profit tax rate by the investment license issuing agency only if they meet the two following conditions:
-They are still in the period covered by the preferential profit tax rate according to the new regulation.
- They are meeting the conditions for enjoyment of preferential profit tax rate under the new regulation.
1.3. The preferential profit tax rate under the new regulation shall apply from the fiscal year when the readjustment permit takes effect.
1.4. In case the enterprise enjoys the readjustment of preferential profit tax rate under the new regulation because it meets the condition on using labor or the export products rate. However, if after the point of time for the readjustment of the profit tax rate it no longer meets the conditions for enjoying such a preference, the preferential profit tax rate shall apply only to the fiscal years when the enterprise meets the conditions for preferential profit tax rate. Each year, the enterprise shall have to report to the investment license agency and the tax managing agency on the implementation of the above criteria and make declarations for profit tax payment according to the tax rate appropriate for the conditions which the enterprise has met. The tax managing agency shall make a check to determine the extent in the realization of the above criteria and determine the level of profit tax which each enterprise shall have to pay each year.
Example: Enterprise A is granted an investment license in 1994 and begins production and business in 1996. Under the terms of the investment license the enterprise shall enjoy a profit tax rate of 20% for five years from the year following the year when it is granted the investment license.
Supposing that in 1998 the enterprise exports 80% of its consumed products. Under the stipulation of Article 54, Decree No.12-CP the enterprise shall have to pay profit tax at the rate of 15%. In 1998 the license issuing agency agrees to readjust the profit tax rate of the enterprise to 15%. The period of application of the profit tax rate of 15% is 12 months from the time the enterprise begins its production and business operations. If from 1998 onward every year the enterprise achieved an export rate of 80% it will continue to pay a profit tax of 15% until the end of 2007 (12 years as from 1996). However, if from 1998 to 2007 in certain years the enterprise achieves an export rate of from only 50% up to less than 80% that year the enterprise shall have to declare its profit tax at the rate of 20%. If in some years, the enterprise achieves only an export rate of 30% which is less than required for the application of the preferential profit tax rate, then in that year the enterprise shall have to declare a profit tax payment of only 25%.
In case the provisions on profit tax rate stipulated in the new regulation is more unfavorable to the enterprise, the enterprise shall be allowed to continue paying profit tax at the rate stipulated in the investment license.
2. Exemption and reduction of profit tax.
Enterprises shall be eligible for the preferential terms concerning the exemption and reduction of profit tax according to the investment licenses. If the preferences stipulated in the new regulation are more favorable than those stipulated in the investment license the enterprise shall be eligible for the preferences under the new regulation on the following conditions:
- The enterprise is in the period of exemption or reduction of profit tax according to the license issued to it. For the enterprises where the licenses do not provide for exemption or reduction of profit tax, they are eligible only for exemption or reduction of profit tax under the new regulation if its earlier business has not brought profit.
- At the point of time when it applies for readjustment of the period of profit tax exemption or reduction, the enterprise must be fully qualified to enjoy such preferences under the new regulation.
The preferences on profit tax exemption or reduction under the new regulation shall begin to take effect from the fiscal year when the permit for readjustment becomes effective.
3. Procedures for the readjustment of profit tax rate and exemption or reduction of profit tax rate:
Enterprises eligible for readjustment of profit tax rate and preferences in the exemption and reduction of profit tax as prescribed above must send an official dispatch to the agency which issues the investment licenses in which they shall have to specify the reason for the application for readjustment of profit tax rate and preferences in the exemption and reduction of profit tax, the tax rate which it applies for and the realization of the criteria as basis for the application for prefential treatment under the new regulation of the previous year and the reporting year up to the time of the application for readjustment. The investment license agency shall issue the readjustment permit to the enterprise.
If for three consecutive years the enterprise does not meet the conditions for the enjoyment of preferences in profit tax and of the period of exemption and reduction of profit tax stipulated in the investment license (including the permit for readjustment), the enterprise shall have to report to the agency which has issued the investment license in order to readjust the investment license to make it conform with the new situation.
II. TAX ON TRANSFERRING PROFIT ABROAD
Foreign invested enterprises are eligible for more preferential terms on the transfer of profit abroad with regard to the profits transferred abroad from the date of the decision to readjust the investment license of the agency which issues the investment license.
III. IMPORT TAX
1. Procedures for exemption of import tax:
1.1. As for the cases where import tax is exempted under Point 1, Article 10 of Decree No.10/1998/ND-CP of January 23, 1998 of the Government, the procedures for exemption of import tax shall comply with Circular No.74-TC/TCT of October 20, 1997 of the Ministry of Finance.
If the foreign invested enterprises do not directly import material, raw materials to manufacture machinery and equipment... but sign subcontracts to manufacture machinery and equipment with enterprises in the country, the latter enterprises shall be exempted from import tax with regard to the materials and raw materials imported to subcontract and manufacture these machinery and equipment as prescribed by the Prime Minister in Official Dispatch No.4417-KTTH of September 5, 1997 of the Government. The procedure for import tax exemption shall be as follows:
- An official dispatch of the enterprise in the country sent to the Ministry of Trade asking to import duty free goods to manufacture machinery and equipment under the contract with the foreign invested enterprise.
- A subcontract to manufacture machinery and equipment, components and parts signed between the enterprise in the country and the foreign invested enterprise.
- The list and quantities of imported materials and raw materials to manufacture and subcontract the equipment, machinery, components and parts for the foreign invested enterprise.
- A copy of the investment license or the readjustment permit granted to the foreign invested enterprise for founding or expansion of the size, or to the change or renewal of technology.
Basing itself on the above dossier, the Ministry of Trade or the agency empowered by the Ministry of Trade shall ratify the list of duty free imports after the Prime Minister agrees to exempt it from tax. On the basis of the list of duty free goods already ratified, the Customs Departments in the provinces and cities directly under the Central Government shall monitor the import activities of the enterprises.
1.2. In cases where the goods are exempted one time from import tax for their equipment as stipulated in Point 2, Article 10 of Decree No.10/1998 ND/CP of January 23, 1998 of the Government, the procedures for import tax exemption shall comply with the regulation in Inter-ministerial Circular between the Ministry of Planning and Investment, the Ministry of Trade, the Ministry of Finance and the General Tourist Corporation No.11/TT-LB of July 21, 1997.
1.3. In cases where tax exemption applies to the import of tax material for production stipulated in Point 3, Article 10 of Decree No.10/1998/ND-CP:
The foreign invested enterprises which invest in projects listed as projects receiving special encouragement in investment or projects of investment in the mountainous areas, deep-lying areas and remote areas defined in Appendix 1 attached to Decree No.10-CP shall be exempted from import tax with regard to materials for production for five years after production begins. The enterprises which are under operation shall be exempted from import tax for the lots of imported raw materials according to the Customs declarations opened from February 7, 1998 for a maximum duration of five years after production begins. The procedures for exemption of import tax for these enterprises are stipulated as follow:
- An official dispatch sent to the Ministry of Trade asking for duty free importation of raw materials for production.
- The production plan for the year and the projected volume of raw materials to be imported to cater for production.
Basing itself on the annual production plan of the enterprise, the Ministry of Trade shall supply to the enterprise the list of duty free import raw materials to cater for production. With regard to the enterprises under operation, the list of duty free raw materials in 1998 does not include the amount of raw materials which the enterprise has imported according to the declarations opened at the Customs Office prior to February 7, 1998.
Basing itself on the list of duty free import raw materials issued by the Ministry of Trade, the Customs Office in the provinces and cities shall monitor the import activities of the enterprises.
1.4. With regard to the exemptions of import tax for raw materials used for the production of semi-finished products for other enterprises with a view to direct production of export products stipulated in Point 2, Article 13 of Decree No.10/1998/ND-CD of January 23, 1998 of the Government:
In importing materials and raw materials to make products for sale to other enterprises for the manufacture of export products, enterprises must pay fully the import tax as prescribed. After the enterprises producing export goods have exported the products, the enterprise importing raw materials has to fill procedures and send an application to the Ministry of Finance for retrieval of import tax for the imported raw materials used to manufacture products to be sold to the enterprises producing export goods. The procedures for retrieval of import tax includes:
- An official dispatch applying for retrieval of tax of the enterprise in which the enterprise shall have to calculate and propose the concrete amount of import tax on raw materials to be retrieved.
- The norm of consumption of materials and raw materials in the manufacture of the products.
- The Customs declaration on import and the receipt of import tax payment for the materials and raw materials used for the production of goods sold to other enterprises for the production of export goods.
- Contracts on the sales of goods to other enterprises with specification of the goods used for the production of export goods.
- Receipts of sales by the enterprise to the enterprise producing export goods.
The Customs declaration on the delivery of goods by the enterprise producing export goods with certification by the Customs service at the border gate that the goods have been exported (notarized copy).
- A declaration of the enterprise producing export goods on the quantity and value of the semi products produced by the enterprise which have been used to produce goods that have been exported. The Director of the enterprise producing export goods shall have to bear responsibility for this declaration.
Basing itself on the above-mentioned dossier the Ministry of Finance shall issue a decision to reimburse the import tax to the enterprise importing raw materials.
2. Back collection of import tax:
Imported goods of foreign invested enterprises are exempted from import tax as provided for in Article 10 of Decree No.10/1998/ND-CP of January 23, 1998 of the Government. If they are used at variance with the declared purposes or reassigned or sold at the Vietnamese market, they shall have to pay the import tax which they are exempted from. The procedures for the declaration and back collection of import tax shall comply with the instructions in Circular No.74-TC/TCT of October 20, 1997 of the Ministry of Finance.
With regard to the enterprises which are exempted from import tax for raw materials over a period of five years as stipulated in Point 3, Article 10 of Decree No.10/1998/ND-CP, in the first quarter of each year at the latest the enterprise shall have to report on the import and use of the duty free raw materials to the Ministry of Trade and the tax agency directly managing the enterprise. For the duty free imported raw materials which the enterprise does not use up within five years from the day when the enterprise begins production or which the enterprise uses at variance with the declared purposes, they shall have to pay retroactive import tax and shall be fined according to law.
In case the enterprise in the country imports raw materials and materials to produce or subcontract the production of machinery and equipment for foreign invested enterprises, every six months and after the subcontract on manufacture expires the enterprise shall have to report to the Ministry of Finance, the Ministry of Trade and the tax agency managing the enterprise on the import and use of the tax-free imported materials. The enterprise shall have to declare and pay import tax as prescribed for the materials which are imported but not used up and are allowed to be consumed in Vietnam.
The Taxation Departments of the provinces and cities shall have to inspect and settle the accounts regarding the import and use of materials and raw materials of the enterprises which are imported tax free.
3. The time for payment of import tax of the raw materials imported for the production of export goods shall be stipulated by the Ministry of Finance in a separate guidance.
4. Price for calculation of import tax:
The foreign-invested enterprises importing goods shall have to pay import tax according to the prices stated on the receipts of imported goods if they meet all the conditions stipulated in Circular No.82/1997/TT/BTC of November 11, 1997 of the Ministry of Finance.
The enterprises which misuse the prices for tax calculation to commit tax fraud shall be dealt with according to the stipulations in Section D of Circular No.82/1997/TT/BTC mentioned above.
IV. OTHER PROVISIONS
Foreign invested enterprises shall enjoy deductions when determining taxable profits for the support funds to the activities of charitable and humanitarian purposes of Vietnamese organizations and individuals. These expenditures shall be determined as belonging to Point b15, Section 1, Part II of Circular No.74 -TC/TCT of October 20, 1997 of the Ministry of Finance.
Joint venture enterprises, enterprises with 100% foreign capital are entitled to carry the losses of any tax year over to the following years and to use profits of the following years to make up for the losses but for not more than 5 years from the year right after the year when they begin to incur losses. The enterprises shall register the transfer of losses with the tax departments of the provinces and cities which directly manage taxes as prescribed in Circular No.74-TC/TCT of October 20, 1997 of the Ministry of Finance.
C. IMPLEMENTATION PROVISIONS
This Circular takes effect on the day of its signing. The earlier guiding instructions which are contrary to those in this Circular shall cease to be effective.
 

 
THE MINISTRY OF FINANCE
VICE MINISTER




Pham Van Trong

 
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.
Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi
1900.6192 hoặc gửi câu hỏi tại đây

Tải ứng dụng LuatVietnam Miễn phí trên

Văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!