Nghị định 90-CP của Chính phủ về việc ban hành Quy định về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng

Thuộc tính Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

NGHị địNH

CủA CHíNH PHủ Số 90-CP NGàY 17-8-1994 BAN HàNH QUY địNH

Về VIệC đềN Bù THIệT HạI KHI NHà NướC THU HồI đấT để

Sử DụNG VàO MụC đíCH QUốC PHòNG, AN NINH,

LợI íCH QUốC GIA, LợI íCH CộNG CộNG

 

 

CHíNH PHủ

 

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;

Căn cứ Luật Đất đai ngày 14 tháng 7 năm 1993;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chính, Trưởng ban Ban Vật giá Chính phủ,

NGHị địNH:

 

Điều 1.-

Ban hành kèm theo Nghị định này Quy định về việc Nhà nước đền bù thiệt hại khi thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng quy định tại Điều 27 Luật Đất đai.

Việc đến bù thiệt hại trong các trường hợp thu hồi đất để sử dụng vào mục đích khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.

 

Điều 2.-

Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước đang sử dụng đất hợp pháp, khi bị Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích nói tại đoạn 1 Điều 1 của Nghị định này thì được Nhà nước đền bù thiệt hại.

Tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (gọi chung là người nước ngoài) và xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất khi bị Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích nói tại đoạn 1 Điều 1 của Nghị định này được xem xét, giải quyết đền bù thiệt hại theo quy định riêng.

 

Điều 3.-

Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thực hiện Nghị định này.

 

Điều 4.- Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Các quy định đền bù đất đai, tài sản khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng ban hành trước đây đều bãi bỏ.

QUY địNH

Về VIệC đềN Bù THIệT HạI KHI NHà NướC THU HồI đấT

để Sử DụNG VàO MụC đíCH QUốC PHòNG, AN NINH,

LợI íCH QUốC GIA, LợI íCH CôNG CộNG

(Ban hành kèm theo Nghị định số 90-CP ngày 17-8-1994 của Chính phủ)

 

CHươNG I
ĐốI TượNG Và PHạM VI áP DụNG

 

Điều 1.-

Quy định này chỉ áp dụng để đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng nói tại Điều 27 Luật Đất đai:

1- Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh nói tại Quy định này là đất được xác định tại khoản 1 Điều 65 của Luật Đất đai.

2- Đất sử dụng vào mục đích công cộng và lợi ích quốc gia là đất dùng để xây dựng đường giao thông, cầu, cống, vỉa hè, hệ thống cấp thoát nước sông, hồ, đê, đập, trường học, bệnh viện, chợ, công viên, vườn hoa, công trình văn hoá, khu vui chơi giải trí công cộng, quảng trường, sân vận động, sân bay, bến cảng, nghĩa trang liệt sĩ, đất dùng vào xây dựng đập hoặc hồ thuỷ điện, đường dây tải điện, các công trình kết cấu hạ tầng, công trình thuỷ lợi, công trình nghiên cứu khoa học, xây dựng công sở (trụ sở cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội) và các công trình khác theo quy định của Chính phủ.

 

Điều 2.-

1- Người được đền bù thiệt hại về đất khi Nhà nước thu hồi đất phải là người được Nhà nước giao đất sử dụng hoặc là người sử dụng đất ổn định trước khi Luật Đất đai có hiệu lực thi hành và có đủ điều kiện được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng từng loại đất theo quy định của các Nghị định do Chính phủ ban hành để thi hành Luật Đất đai.

2- Nếu người bị thu hồi đất không có các giấy tờ hợp pháp trên đây thì phải có giấy tờ chuyển nhượng, hoặc chuyển đổi hoặc thừa kế quyền sử dụng đất được Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xác nhận.

 

Điều 3.-

1- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất hợp pháp mà bị Nhà nước thu hồi đất thì được Nhà nước đến bù thiệt hại về đất và đền bù thiệt hại về tài sản hiện có trên đất.

2- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tạm giao, đất cho thuê, đất đấu thầu, bị Nhà nước thu hồi đất thì tuỳ từng trường hợp cụ thể được đến bù tài sản và trợ cấp vốn.

 

 

Điều 4.-

1- Cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân được Nhà nước giao đất mà được miễn nộp tiền sử dụng đất hoặc đã nộp tiền sử dụng đất thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước, thì khi Nhà nước thu hồi đất các tổ chức này không được đến bù thiệt hại về đất, nhưng được Nhà nước xem xét cấp đất mới.

2- Doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị - xã hội, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, đơn vị kinh tế tập thể, doanh nghiệp tư nhân khi Nhà nước thu hồi đất thì được đến bù thiệt hại về đất nếu đất đang sử dụng là đất được giao đã nộp tiền sử dụng đất mà tiền đó không thuộc nguồn vốn của ngân sách Nhà nước.

Trong trường hợp đất đang sử dụng mà khi được giao không phải nộp tiền sử dụng đất hoặc nộp tiền sử dụng đất bằng nguồn vốn của ngân sách Nhà nước thì không được đến bù thiệt hại về đất.

 

Điều 5.-

Tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (gọi chung là người nước ngoài) và xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất, khi bị Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích nói tại đoạn 1 Điều 1 của Nghị định này được xem xét, giải quyết đền bù thiệt hại theo quy định riêng của Chính phủ Việt Nam.

 

CHươNG II
ĐềN Bù THIệT HạI Về đấT

 

Điều 6.-

Người được Nhà nước giao đất sử dụng vào mục đích nào thì khi Nhà nước thu hồi đất được đền bù bằng cách giao đất có cùng mục đích sử dụng để thay thế hoặc đến bù bằng tiền theo giá đất cùng mục đích sử dụng.

Trường hợp Nhà nước không thể đền bù bằng cách giao đất thay thế hoặc người bị thu hồi đất không yêu cầu đền bù bằng đất thì đền bù bằng tiền theo giá đất cùng hạng hoặc cùng loại của đất bị thu hồi. Giá đất để tính đến bù thiệt hại do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) ban hành theo khung giá đất do Chính phủ quy định.

 

Điều 7.-

Quỹ đất dùng để đền bù thiệt hại gồm:

1- Đất chưa sử dụng.

2- Đất được khai hoang bằng nguồn vốn của ngân sách Nhà nước, đất tạo lập, quỹ đất dùng để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng.

3- Đất thu hồi theo quy định tại Điều 26 của Luật Đất đai.

4- Quỹ đất công ích theo quy định tại Điều 45 của Luật Đất đai.

 

Điều 8.-

Người đang sử dụng đất hợp pháp quy định tại khoản 1 Điều 3 và điểm a, khoản 2, Điều 4 của bản Quy định này; khi bị Nhà nước thu hồi đất, thì được Nhà nước đền bù thiệt hại về đất như sau:

1- Nếu đất thu hồi là đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp thì được đền bù bằng đất cùng loại theo đúng diện tích và hạng đất của đất bị thu hồi.

Trường hợp đất đền bù thuộc hạng thấp hơn hạng đất của đất bị thu hồi, những vẫn thuộc hạng 1, 2, 3 thì phần chênh lệch về hạng đất này không được đền bù thiệt hại.

Trường hợp đất đền bù thuộc đất hạng 4, 5, 6 thì được đền bù thêm phần giá trị chênh lệch về hạng đất đó. Giá trị chênh lệch về hạng đất được tính theo giá đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành theo khung giá đất do Chính phủ quy định.

2- Nếu đất bị thu hồi là đất chuyên dùng, đất ở thì được đền bù bằng đất chuyên dùng, đất ở theo đúng diện tích và loại đất hoặc hàng đất bị thu hồi.

Trường hợp đất đền bù có giá trị thấp hơn thì được đền bù thiệt hại phần chênh lệch giá trị giữa đất chuyên dùng và đất được đền bù.

Đối với đất ở tại đô thị khi Nhà nước thu hồi thì được đến bù chủ yếu bằng nhà ở hoặc bằng tiền.

 

Điều 9.-

Khi thu hồi đất của người sử dụng đất trong các trường hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 3 và khoản 2 Điều 4 của Quy định này, tuỳ từng trường hợp Nhà nước xét hỗ trợ bằng cách giao đất hoặc tiền nhưng mức tối đa không quá 30% diện tích đất hoặc giá trị đất bị thu hồi.

Riêng trường hợp thu hồi đất đấu thầu, đất cho thuê thì được đền bù tương đương giá trị của đất tính theo thời gian sử dụng còn lại.

 

Điều 10.-

Người sử dụng đất bất hợp pháp, khi bị Nhà nước thu hồi, không được đền bù thiệt hại về đất và phải tự chịu mọi chi phí tháo dỡ, giải toả mặt bằng theo yêu cầu của Nhà nước.

 

CHươNG III
ĐềN Bù THIệT HạI Về TàI SảN

 

Điều 11.-

Đối với nhà ở, vật kiến trúc và các công trình gắn liền với đất được đền bù bằng giá trị hiện có của công trình. Giá trị này được xác định bằng tỷ lệ (%) giá trị còn lại của công trình nhân với giá xây dựng mới theo mức giá chuẩn do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành theo quy định của Nhà nước.

Trường hợp giá trị còn lại của nhà và các công trình phụ trợ quá thấp, mức đền bù không đủ xây dựng ngôi nhà ở mới có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương ngôi nhà đã phá dỡ, thì hộ gia đình có thể được đền bù thêm nhưng tổng mức đền bù không vượt quá giá xây dựng mới theo mức giá chuẩn do địa phương ban hành của ngôi nhà cùng tiêu chuẩn kỹ thuật.

Đối với nhà cửa, vật kiến trúc hoặc công trình có thể tháo rời và di chuyển đến chỗ ở mới để lắp đặt được thì chỉ đền bù chi phí tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt lại và chi phí vật tư bị hao hụt, hư hỏng trong quá trình thao dỡ, vận chuyển, lắp đặt. Mức đền bù tối đa không vượit quá 10% mức giá chuẩn của ngôi nhà cùng tiêu chuẩn kỹ thuật do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành và đảm bảo cho mỗi gia đình phải di chuyển chỗ ở được trợ cấp về di chuyển tối thiểu 400.000 đồng.

 

Điều 12.-

1- Đối với việc di chuyển mồ mả, mức tiền đền bù để di chuyển được tính cho toàn bộ chi phí đào, bốc, di chuyển và xây dựng lại theo đúng thực trạng.

2- Việc đền bù di chuyển đối với các di tích lịch sử, nhà thờ, đình, chùa, nghĩa trang liệt sỹ, do Thủ tướng Chính phủ hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho từng trường hợp cụ thể.

 

Điều 13.-

1- Mức đền bù đối với cây hàng năm và vật nuôi trên đất có mặt nước tính bằng giá trị sản lượng thu hoạch một vụ tính theo mức thu hoạch bình quân của 3 vụ trước đó theo giá nông sản, thuỷ sản thực tế ở thị trường địa phương tại thời điểm đền bù.

2- Mức đền bù đối với cây lâu năm được quy định như sau:

a) Nếu cây trồng đang ở thời kỳ xây dựng cơ bản hoặc mới bắt đầu thu hoạch thì đền bù toàn bộ chi phí đầu tư ban đầu, chăm sóc đến thời điểm thu hồi đất.

b) Nếu cây trồng đang ở thời kỳ thu hoạch thì đền bù theo giá trị còn lại của vườn cây. Giá trị còn lại của vườn cây bằng giá trị đầu tư ban đầu cộng chi phí chăm sóc đến vụ thu hoạch đầu tiên trừ phần đã khấu hao. Trong trường hợp không xác định được giá trị còn lại của vườn cây thì mức đền bù tối đa bằng 2 năm sản lượng tính theo sản lượng bình quân của 3 năm trước đó và theo giá của nông sản cùng loại ở thị trường địa phương tại thời điểm đền bù.

c) Nếu là các loại cây lâu năm thu hoạch một lần thì đền bù toàn bộ chi phí đầu tư ban đầu và chi phí chăm sóc tính đến thời điểm thu hồi đất.

d) Nếu là cây lâu năm đến thời hạn thanh lý thì chỉ đến bù chi phí cho việc chặt hạ cho chủ sở hữu vườn cây.

 

CHươNG IV
Tổ CHứC THựC HIệN

 

Điều 14.-

Khi có quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh lập Ban chỉ đạo thu hồi đất để tham mưu cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc đến bù thiệt hại đất và tài sản cho người bị thu hồi đất.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm quyết định phương án đền bù theo đề nghị của Ban chỉ đạo thu hồi đất và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

 

Điều 15.-

Tổ chức, cá nhân có đất bị thu hồi được quyền kê khai diện tích, hạng đất, loại đất, vị trí của đất, số lượng tài sản... hiện có trên đất gửi Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi.

Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn kiểm tra, xác nhận vào từng bản kê khai tổng hợp báo cáo tình hình sử dụng quỹ đất dùng để đền bù thiệt hại tại xã để báo cáo cho Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và gửi cho Ban chỉ đạo thu hồi đất cấp tỉnh.

 

Điều 16.-

Tổ chức được giao đất có nghĩa vụ trực tiếp thực hiện việc đền bù bằng tiền hoặc trả trợ cấp (nếu có) cho người có đất bị thu hồi.

 

Điều 17.-

Người bị thu hồi đất nếu thấy quyết định đền bù thiệt hại của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là không đúng với quy định của Nghị định này thì được quyền khiếu nại. Người khiếu nại phải gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đền bù thiệt hại, quá thời hạn này đơn khiếu nại không được xem xét xử lý.

Trong thời hạn 1 tháng, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải xem xét, quyết định và trả lời cho người khiếu nại. Quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có hiệu lực thi hành.

Thuộc tính văn bản
Nghị định 90-CP của Chính phủ về việc ban hành Quy định về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
Cơ quan ban hành: Chính phủ Số công báo: Đã biết
Số hiệu: 90-CP Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Nghị định Người ký: Võ Văn Kiệt
Ngày ban hành: 17/08/1994 Ngày hết hiệu lực: Đã biết
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực: Đất đai-Nhà ở , Chính sách , An ninh quốc gia
Tóm tắt văn bản
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE GOVERNMENT
-------
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom – Happiness
---------
No: 90-CP
Hanoi, August 17, 1994

 DECREE
STIPULATING THE COMPENSATIONS FOR THE LOSSES CAUSED BY THE RECOVERY OF LAND FOR USE IN NATIONAL DEFENSE, SECURITY WORKS, AND NATIONAL AND PUBLIC INTERESTS
THE GOVERNMENT
Pursuant to the Law on Organization of the Government on the 30th of September, 1992;
Pursuant to the Land Law on the 14th of July, 1993;
At the proposals of the Minister of Finance, the Minister of Construction, the General Director of the General Land Administration, and the Chairman of the Government Pricing Commission.
DECREES:
Article 1.- To promulgate along with this Decree the Regulation on the State's compensations for the losses caused by the recovery of land for use in national defense, security works, and national and public interests stipulated at Article 27 of the Land Law.
The compensations for losses incurred in the recovery of land for use in other purposes is not regulated by this Decree.
Article 2.- An organization, household or individual in the country that is using land lawfully, shall be compensated for losses when the State recovers the land for uses stipulated at Item 1, Article 1 of this Decree.
A foreign organization or individual, an international organization or a Vietnamese having settled abroad (commonly referred to as foreigner), and the enterprise with foreign investment in Vietnam to which the Vietnamese State has rented land, are eligible for consideration for compensations according to separate regulations when the State recovers the land for use in the purposes stipulated at Item 1, Article 1 of this Decree.
Article 3.- The ministers, the heads of ministerial-level agencies, the heads of the agencies attached to the Government and the presidents of the People's Committees of the provinces and cities directly under the Central Government shall have to implement this Decree.
Article 4.- This Decree takes effect as from the date of its signing. The regulations on compensations for losses in land and property when the State recovers the land for use in national defense, security works, and national and public interests published earlier, are now annulled.
 

 
FOR THE GOVERNMENT
PRIME MINISTER




Vo Van Kiet

 
REGULATION
OF THE COMPENSATIONS FOR THE LOSSES WHEN THE STATE RECOVERS LAND FOR USE IN NATIONAL DEFENSE, SECURITY WORKS, AND NATIONAL AND PUBLIC INTERESTS
(Issued along with Decree No. 90-CP on the 17th of August, 1994 of the Government)
Chapter I
OBJECTS AND SCOPES OF APPLICATION
Article 1.- This Regulation is applied only to pay compensations for losses when the State recovers lands for use in national defense, security works, and national and public interests stipulated at Article 27 of the Land Law.
1. The land used in national defense and security stipulated in this Regulation is the land defined at Item 1 of Article 65 of the Land Law.
2. The land used for public and national interests is the land used for the construction of transport routes, bridges and culverts, street pavements, water supply and drainage systems from rivers and lakes, dykes, dams, schools, hospitals, markets, public parks, flower gardens, cultural projects, public entertainment and recreation centers, public squares, stadiums, airports, seaports, cemeteries for fallen heroes, land used in the building of dams or lakes of hydro-electric power plants, power plants, power lines, scientific research projects, public offices (offices of State agencies, political and social organizations), and other construction works as defined by the Government.
Article 2.-
1. The persons eligible for compensations for losses when the State recover land must be those who are allocated land by the State, or who have been permanently using land before the Law becomes effective, and who are qualified for the granting of certificates of land use right by the authorized State agency, according to the land categories defined by the various Decrees of the Government for the implementation of the Land Law.
2. In the absence of the regular papers mentioned above, the person whose land is recovered by the State, must produce assignment or transfer papers, or papers on inheritance of the land use right with proper certification by the People's Committee at various levels.
Article 3.-
1. Households or individuals, who are using land lawfully and are affected by the land recovery decision of the State, shall receive compensation for losses in land and property existing on this land.
2. Households and individuals, who are using temporily allocated land, rented land and land acquired from bidding and are affected by the land recovery decision of the State, shall receive compensations for losses in property or receive capital allowances, depending on each concrete case.
Article 4.-
1. State agencies, political and social organizations and units of the People's Armed Forces which are allocated land and exempted from the land use levy or who have paid this levy derived from the State budget, shall not receive compensations for losses in land, but shall be considered by the State for allocation of new land when their land is recovered by the State.
2. State businesses, businesses of political and social organizations, stock companies, companies with limited liabilities, collective economic units and private businesses, which are affected by the land recovery decision of the State, shall receive compensation for land, if the land in use is an allocated land for which the land use levy has been paid and the payment did not come from the State budget.
If the land is exempted from land use levy when it is allocated, or if this levy is paid by a source from the State budget, it shall receive no compensations for losses in land.
Article 5.- Foreign organizations and individuals, international organizations, Vietnamese having settled abroad (commonly referred to as foreigners) and enterprises with foreign investment in Vietnam who rent land from the Vietnamese State and from which the State recovers land for uses stipulated at Item 1, Article 1 of this Decree, shall be considered and compensated for losses according to separate regulations of the Vietnamese Government.
Chapter II
COMPENSATIONS FOR LOSSES IN LAND
Article 6.- Compensations for losses in land shall be made through the allocation of a new land for the same use as in the first allocation, or the payment of a sum equivalent to the price of land for the same use.
In case the State cannot compensate by allocating another land, or if the person whose land is recovered does not request compensation in land. The price of land which is used to calculate the compensations shall be announced by the People's Committee of the province or city directly under the Central Government (hereafter called provincial People's Committee for short) according to the land price brackets defined by the Government.
Article 7.- The land fund used for compensations for losses comprises:
1. Unused land.
2. Land reclaimed with capital of the State budget, land reclaimed and land fund used to create capital for infrastructure construction.
3. Land recuperated as defined in Article 26 of the Land Law.
4. The public utility land fund as defined at Article 45 of the Land Law.
Article 8.- The person who is using land lawfully as stipulated at Item 1, Article 3, and Point a, Item 2, Article 4 of this Regulation, shall receive compensations as follows, when the land is recovered by the State:
1. If the recovered land is agricultural or forestry land, he shall receive compensation in land of the same category and class, and with the same acreage as the recovered land.
In case the compensated land belongs to a category lower than that of the recovered land but still belongs to Categories 1, 2 and 3, there shall be no compensation for the disparity in the land categories.
If the compensated land belongs to Categories 4,5 and 6, the user shall be compensated for the disparity in land categories. The value of this disparity shall be determined according to the land prices set by the provincial People's Committee in conformity with the land price brackets defined by the Government.
2. If the recovered land is special-use land or residential land, the user shall receive compensation in special use land or residential land, with the same acreage and land category or class as the recovered land.
In case the recovered land compensated land has a lower value, the user shall be compensated for the losses resulting from the disparity of value between the special use land and the compensated land.
For the residential land in urban areas, compensation shall be made chiefly in residential houses or money, when the land is recovered by the State.
Article 9.- In recovering land from users in the cases stipulated at Item 2, Article 3, and Item 2, Article 4 of this Regulation, the State shall consider a support measure by allocating land or money on a case-by-case basis, but the maximum of this support shall not exceed 30% of the land acreage or value of the recovered land.
For the recovery of the land acquired by bidding or the leased land, the user shall receive compensation equivalent to the value of the land in the remaining period of use.
Article 10.- The person, who uses land illegally, shall not receive compensation for losses in land when the State recovers it, and shall have to bear all the cost in dismantling and ground clearing at the request of the State.
Chapter III
COMPENSATIONS FOR LOSSES IN PROPERTY
Article 11.- With regard to residential houses, architectures and other works associated to the land, the user shall receive compensation equivalent to the existing value of the construction. This value is determined by multiplying the percentage (%) of the remaining value of the construction by the price of the new construction at the standard price rate set by the provincial People's Committee according to State regulations.
In case the remaining value of the house and auxiliary installations is too law, and the compensation is not enough to cover the expenditures for the construction of a new house with technical norms equivalent to those of the dismantled house, the family of the land user may be considered for additional compensation, but in any case total compensation must not exceed the price of a new house calculated on the standard price rate set by the locality for a house of the same technical norms.
With regard to the houses, architectures or other installations which can be taken to pieces and moved and re-assembled at the new place, compensation shall cover only the cost of dismantlement, transportation and assembly. Maximum compensation shall not exceed 10% of the standard price of a house of the same technical norms set by the provincial People's Committee. The family shall receive a minimum removal allowance of 400,000 Dong.
Article 12.-
1. With regard to the removal of graves, the compensation shall cover all the expenditures involved in the exhumation, transportation and reconstruction to their original state.
2. Compensation for the removal of historic relics, churches, communal houses, pagodas, cemeteries for fallen heroes shall be decided either by the Prime Minister or the president of the provincial People's Committee on a case-by-case basis.
Article 13.-
1. Compensation for annual plants and the livestock on water surface shall be equal to the value of one harvest calculated on the average of three previous harvests, at the actual price of agricultural and aquacultural products in the local market at the time the compensation is made.
2. Compensation for perennial trees is determined as follows:
a/ If the trees are in the period of capital construction or have just begun to yield, the compensation shall cover all the cost in initial investment and tending up to the time of the land recovery.
b/ If the trees are in the harvesting period, compensation shall be made for the remaining value of the garden. This value is equal to the value of the initial investment plus the cost of tending up to the first harvest, minus the depreciation. In case it is impossible to determine the remaining value of the garden, the maximum compensation shall represent two years of output based on the average of three previous years and at the price rate of agricultural products of the same kind in the local market at the time the compensation is made.
c/ In case of perennial trees which are harvested only once, the compensation shall cover all the expenditures in initial investment and tending up to the time the land is recovered.
d/ In case of perennial trees having reached the stage of liquidation, compensation shall be made to the garden owner only for the cost of cutting.
Chapter IV
ORGANIZING THE IMPLEMENTATION
Article 14.- When a decision to recover land issued by the authorized State agency, the provincial People's Committee shall set up a land recovery Steering Committee to act as adviser to the President of the provincial People's Committee in carrying out the compensation for the losses in land and property to the persons affected by the recovery decision.
The President of the provincial People's Committee shall decide the mode of compensation at the proposal of the Steering Committee and take responsibility for his decision.
Article 15.- The organizations or individuals affected by the decision are entitled to make declarations on the acreage, class, category and location of the land and the amount of properties existing on the land, and send them to the People's Committee of the commune, ward or township where the recovered land is located.
The People's Committee of the commune, ward or township shall check the declarations and certify each of them, draw up a general report on the situation of the use of the land fund to be used for compensation for the losses at its commune, and report it to the People's Committee of the district, town or city directly under the province, and also to the Steering Committee, for the recovery of land at the provincial level.
Article 16.- The organization which is allocated the land has the duty to directly carry out the compensation in cash or pay allowances (if any) to the land user affected by the decision.
Article 17.- If he deems that the decision on compensation for losses taken by the provincial People's Committee does not comply with the provisions of this Decree, the person affected by the decision is entitled to file a complaint. The complaint shall be sent to the provincial People's Committee within 15 days after the complainant receives the decision on compensation for the losses. Past this time limit, the complaint shall not be considered for a settlement.

Within one month after receipt of the complaint, the provincial People's Committee shall consider, decide and answer the complainant. The decision of the provincial People's Committee shall be effective for implementation.

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.

Tải App LuatVietnam miễn phí trên Android tại đây trên IOS tại đây. Xem thêm

Văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!