Nghị định 85/1999/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, và bổ sung việc giao đất làm muối cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài

Thuộc tính Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 85/1999/NĐ/CP NGÀY 28 THÁNG 8 NĂM 1999
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BẢN QUY ĐỊNH
VỀ VIỆC GIAO ĐẤT NÔNG NGHIỆP CHO HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN
SỬ DỤNG ỔN ĐỊNH LÂU DÀI VÀO MỤC ĐÍCH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP,
VÀ BỔ SUNG VIỆC GIAO ĐẤT LÀM MUỐI CHO HỘ GIA ĐÌNH
VÀ CÁ NHÂN SỬ DỤNG ỔN ĐỊNH LÂU DÀI

 

CHÍNH PHỦ

 

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;

Căn cứ Luật Đất đai ngày 14 tháng 7 năm 1993 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 02 tháng 12 năm 1998;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Thủy sản, Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chính,

NGHỊ ĐỊNH:

 

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bản Quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp ban hành kèm theo Nghị định số 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Chính phủ và bổ sung việc giao đất làm muối cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài.

1. Điều 1 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp lao động nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối mà nguồn sống chủ yếu là thu nhập có được từ hoạt động sản xuất đó, được ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận, thì được Nhà nước giao đất trong hạn mức để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và không thu tiền sử dụng đất.

Hộ gia đình, cá nhân đã được giao đất nông nghiệp theo Nghị định số 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Chính phủ, được tiếp tục sử dụng ổn định lâu dài và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Toàn bộ đất nông nghiệp, đất làm muối chưa giao thì giao hết cho hộ gia đình, cá nhân để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối, trừ đất đã giao cho các tổ chức, đất dùng cho nhu cầu công ích của xã".

2. Điều 2 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 2. Đất nông nghiệp giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp bao gồm: đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản. Các loại đất này gồm cả đất làm kinh tế gia đình trước đây, đất vườn, đất xâm canh, đất nương rẫy định canh, đất trống đồi núi trọc, đất hoang hóa được xác định để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản.

Đất làm muối giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào mục đích sản xuất muối bao gồm: đất đồng muối và đất đã được quy hoạch để sản xuất muối.

Đối với những loại đất trên không giao được cho hộ gia đình, cá nhân thì cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu thuê để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối ".

3. Điều 4 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 4.

1. Thời hạn giao đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản và đất làm muối là 20 năm; để trồng cây lâu năm là 50 năm.

Khi hết thời hạn được giao đất, nếu hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu tiếp tục sử dụng và trong quá trình sử dụng chấp hành đúng pháp luật về đất đai thì được nhà nước giao đất đó để tiếp tục sử dụng.

2. Thời hạn giao đất được tính như sau:

a) Đối với đất đã giao cho hộ gia đình, cá nhân từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 trở về trước, được tính thống nhất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993;

b) Đối với đất giao cho hộ gia đình, cá nhân sau ngày 15 tháng 10 năm 1993, thì tính từ ngày giao".

4. Điều 5 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 5. Hạn mức đất của mỗi hộ gia đình ở từng địa phương được quy định như sau:

1. Đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản và đất làm muối:

a) Các tỉnh: Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Sóc Trăng, Cần Thơ, An Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Tiền Giang, Long An, Bến Tre, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh, không quá 3 ha cho mỗi loại đất;

b) Các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương khác, không quá 2 ha cho mỗi loại đất.

2. Đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm:

a) Các xã đồng bằng không quá 10 ha;

b) Các xã trung du, miền núi không quá 30 ha.

3. Đối với đất trống, đồi núi trọc, đất vùng triều, mặt nước eo vịnh đầm phá, đất khai hoang, lấn biển thì hạn mức đất của hộ, cá nhân sử dụng do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định, căn cứ vào quỹ đất của địa phương và khả năng sản xuất của họ, đảm bảo thực hiện chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để sử dụng các loại đất này vào mục đích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.

4. Hộ gia đình sử dụng nhiều loại đất để trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản, làm muối và đất trống đồi núi trọc, đất vùng triều, mặt nước eo vịnh đầm phá, đất khai hoang, lấn biển thì hạn mức sử dụng đất được xác định riêng cho từng loại đất theo quy định tại điểm 1, 2 và 3 của khoản này".

5. Điều 8 được sửa đổi, bổ sung như sau:

'' Điều 8.

1. Căn cứ vào quỹ đất của địa phương, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn cho các đối tượng sau đây thuê đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối:

a) Cán bộ, công chức Nhà nước, công nhân, bộ đội, công an về hưu hoặc nghỉ mất sức đang sinh sống tại địa phương,

b) Hộ gia đình, cá nhân là nông dân đang sinh sống ở địa phương đã sử dụng đủ hạn mức đất nông nghiệp, đất làm muối,

c) Hộ gia đình, cá nhân không phải là nông dân đang sinh sống tại địa phương,

d) Trường hợp các đối tượng quy định tại điểm a, b và c của khoản này không có khả năng thuê đất thì có thể cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở các địa phương khác thuê để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.

2. Thời hạn cho thuê đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, đất làm muối là 20 năm.

3. Tiền thuê đất thu hàng năm hoặc có thể thu trước một số năm nhưng không được quá 5 năm. Tiền thuê đất thu được phải nộp vào ngân sách và chỉ được sử dụng để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của xã, phường, thị trấn''.

6. Điều 12 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 12. Giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

1. Đối với đất nông nghiệp, đất làm muối:

a) Nếu ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có văn bản quy định và chỉ đạo giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, phù hợp với những quy định của Nhà nước tại thời điểm đó, thì cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho họ;

b) Nếu chưa giao đất cho hộ gia đình, cá nhân thì ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn lập phương án đề nghị ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho họ.

Diện tích đất nông nghiệp, đất làm muối sau khi đã trừ đất dành cho nhu cầu công ích, tính bình quân theo nhân khẩu nông nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp của xã, phường, thị trấn để giao cho hộ gia đình, cá nhân do ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định.

2. những địa phương, trong quá trình thực hiện các chính sách đất đai trước đây, ủy ban nhân dân các cấp đã hướng dẫn và chỉ đạo nông dân tự thương lượng điều chỉnh đất cho nhau nay đã ổn định, thì ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh căn cứ vào hiện trạng, xét để giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho họ.

Đối với những hộ gia đình có diện tích đất vượt hạn mức thì thực hiện theo quy định tại khoản 7 Điều 1 của Nghị định này".

7. Điều 13 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 13. Đối với đất vượt hạn mức của hộ gia đình, được giải quyết như sau:

1. Hộ gia đình, đang sử dụng đất nông nghiệp, đất làm muối vượt hạn mức mà là đất được giao hoặc do khai hoang, vỡ hóa và các trường hợp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác trước ngày 01 tháng 01năm 1999 (ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai có hiệu lực), thì được tiếp tục sử dụng và phải nộp thuế bổ sung đối với diện tích đất vượt hạn mức theo quy định của pháp luật.

Thời hạn sử dụng phần diện tích đất vượt hạn mức của hộ gia đình bằng một phần hai thời hạn giao đất đối với từng loại đất theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Nghị định này. Sau thời hạn này thì phải chuyển sang thuê đất.

Đối với diện tích đất vượt hạn mức của hộ gia đình, có sau ngày 01 tháng 01 năm 1999 thì hộ gia đình, cá nhân phải chuyển sang thuê phần diện tích đất vượt hạn mức đó.

2. Đất vượt hạn mức do chiếm dụng trái phép thì tùy trường hợp cụ thể, ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đề nghị ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh xét để thu hồi hoặc phải chuyển sang cho thuê đất".

8. Điều 15 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 15.

1. Đất dành cho nhu cầu công ích của xã, phường, thị trấn do ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn tổ chức quản lý và sử dụng;

2. Việc quản lý và sử dụng đất dành cho nhu cầu công ích của xã, phường, thị trấn được quy định như sau:

a) Để xây dựng hoặc bù lại đất dùng vào xây dựng các công trình công cộng của xã , phường, thị trấn được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép, không sử dụng vào mục đích khác.

b) Trong trường hợp chưa sử dụng vào các mục đích quy định tại điểm a khoản này thì ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn cho hộ gia đình, cá nhân thuê để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối. Tiền thu được nộp vào ngân sách và chỉ được dùng vào nhu cầu công ích của xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật.

3. Thời hạn thuê đất công ích của xã, phường, thị trấn, đối với các trường hợp đã cho thuê trước ngày 01 tháng 01 năm 1999 được thực hiện theo hợp đồng cho thuê đất đã ký kết, các trường hợp cho thuê đất công ích từ sau ngày 01 tháng 01 năm 1999 thì thời hạn thuê đất không quá 5 năm".

 

Điều 2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

 

Điều 3. Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký. Những quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.

Thuộc tính văn bản
Nghị định 85/1999/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, và bổ sung việc giao đất làm muối cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài
Cơ quan ban hành:Chính phủSố công báo: Đã biết
Số hiệu:85/1999/NĐ-CPNgày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản:Nghị địnhNgười ký:Phan Văn Khải
Ngày ban hành:28/08/1999Ngày hết hiệu lực: Đã biết
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực: Đất đai-Nhà ở , Nông nghiệp-Lâm nghiệp
Tóm tắt văn bản
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE GOVERNMENT
-------
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom - Happiness
------------
No: 85/1999/ND-CP
Hanoi, August 28, 1999

 
DECREE
AMENDING AND SUPPLEMENTING A NUMBER OF ARTICLES OF THE REGULATION ON THE ALLOCATION OF AGRICULTURAL LAND TO FAMILY HOUSEHOLDS AND INDIVIDUALS FOR STABLE AND LONG-TERM USE IN AGRICULTURAL PRODUCTION AND ADDING THE ALLOCATION OF SALT-MAKING LAND TO FAMILY HOUSEHOLDS AND INDIVIDUALS FOR STABLE AND LONG-TERM USE
THE GOVERNMENT
Pursuant to the Law on Organization of the Government of September 30, 1992;
Pursuant to the Land Law of July 14, 1993 and the Law of December 2, 1998 amending and supplementing a number of articles of the Land Law;
At the proposals of the Minister of Agriculture and Rural Development, the Minister of Aquatic Products and the General Director of the General Land Administration,
DECREES:
Article 1.- To amend and supplement a number of articles of the Regulation on the allocation of agricultural land to family households and individuals for stable and long-term use in agricultural production issued together with Decree No. 64/CP of September 27, 1993 of the Government and adding the allocation of salt- making land to family households and individuals for stable and long-term use.
1. Article 1 is amended and supplemented as follows:
"Article 1.- Family households and individuals who directly work in agriculture, aquaculture, and salt making and whose main source of living is the income from these production activities as certified by the People’s Committees of the commune, ward or township shall be allocated land by the State within the set quota for stable and long-term use in agriculture, aquaculture and salt making without having to pay for the land use right.
Family households and individuals that have been allocated agricultural land under Decree No. 64/CP of September 27, 1993 of the Government are allowed to continue its stable and long-term use and shall be issued with certificates of land use right.
All agricultural land and salt-making land which have not yet been allocated shall be allocated to family households and individuals for stable and long-term use in agricultural production, aquaculture and salt making, except the land which has been allocated to organizations and land used for public utility needs of the commune."
2. Article 2 is amended and supplemented as follows:
"Article 2.- Agricultural land allocated to family households and individuals for use in agricultural production comprises: agricultural land planted with annual trees, agricultural land planted with perennial trees, and aquacultural land. These also include the land formerly used for the family economy, garden land, private encroachments on public land, land on hilly slopes used by sedentarisers, denuded land and bare hills, waste land set to agricultural production and aquaculture.
Salt-making land allocated to family households and individuals, for use in salt production comprises: land in salt marshes and land that has been planned for salt production.
If they cannot be allocated to family households and individuals such kinds of land shall be leased to organizations, family households and individuals that need them for use in agricultural production, aquaculture and salt making ".
3. Article 4 is amended and supplemented as follows:
"Article 4.-
1. The term of allocation of agricultural land for the planting of annual trees, aquaculture and salt making is 20 years; that for the planting of perennial trees is 50 years.
On expiry of the term of land allocation, if the family households and individuals still need to continue its use and in the process of use have strictly abidden by the land legislation, the State shall allocate that land to them for continued use.
2. The term of land allocation is calculated as follows:
a/ For the land that has been allocated to family households and individuals prior to October 15, 1993, the beginning of the term of allocation is uniformly set at October 15, 1993.
b/ For the land allocated to family households and individuals after October 15, 1993, the term shall begin on the date of the allocation."
4. Article 5 is amended and supplemented as follows:
"Article 5.- The standard quota of land allocation to each family household in each locality is set as follows:
1. For the agricultural land for the planting of annual trees, aquaculture and salt making:
a/ The provinces of Ca Mau, Bac Lieu, Kien Giang, Soc Trang, Can Tho, An Giang, Vinh Long, Tra Vinh, Dong Thap, Tien Giang, Long An, Ben Tre, Tay Ninh, Binh Duong, Binh Phuoc, Dong Nai, Ba Ria-Vung Tau and Ho Chi Minh City, not more than 3 ha for each kind of land;
b/ Other provinces and cities directly under the Central Government, not more than 2 ha for each kind of land.
2. For agricultural land for the planting of perennial trees:
a/ The communes in the plains: not more than 10 ha;
b/ The communes in the midlands and mountain regions: not more than 30 ha;
3. For denuded land, bare hills, tidal land, water surface in bays and tidal pools and reclaimed land on the seashore, the People’s Committees of the provinces and centrally-run cities shall decide on the land quota for use by households and individuals on the basis of the land fund of the locality and their production capacity, with a view to ensuring the implementation of the policy of encouragement, creating favorable conditions for using these kinds of land in agricultural production, aquaculture and salt making.
4. In case of family households using many kinds of land to plant annual and perennial trees, practice aquaculture and produce salt or using denuded land and bare hills, tidal land and water surface in bays and tidal pools and reclaimed land on the seashore, the quota for use of land shall be determined separately for each kind of land according to the stipulations in Points 1, 2 and 3 of this Clause".
5. Article 8 is amended and supplemented as follows:
"Article 8.-
1. Basing itself on the local land fund, the People’s Committee of the commune, ward or township shall lease land to the following objects for agricultural production, aquaculture and salt making:
a/ Officials, State employees, workers, armymen and public security workers who have retired or stopped their public duty for health reasons and who are living in the locality;
b/ Family households and individuals who are peasants living in the locality and who have received their full quota of agricultural land and salt-making land,
c/ Family households and individuals who are not farmers and who are living in the locality;
d/ In case the objects stipulated in Points a, b and c of this Clause are not able to rent land, the land can be leased to organizations, family households and individuals in other localities for use in agricultural production, aquaculture and salt making.
2. The lease term of agricultural land for use in agricultural production, aquaculture and salt making is 20 years.
3. The land rent shall be collected yearly or for a number of years in advance but not more than five years. The rent must be remitted to the budget and can be used only to invest in infrastructural construction in the commune, ward or township."
6. Article 12 is amended and supplemented as follows:
"Article 12.- Land allocation and issue of certificates of land use right:
1. With regard to agricultural and salt making land:
a/ If the People’s Committees of the provinces or cities centrally-run directly have issued documents to stipulate on and direct the allocation of land to family households and individuals for stable and long-term use in conformity with the regulation of the State at that point of time, certificates of land use right shall be issued to them;
b/ If the land has not been allocated to family households and individuals, the People’s Committee of the commune, ward or township shall draw up the plan and propose to the People’s Committee of the district, town or city under the province to allocate the land and issue certificates of land use right to them.
The area of agricultural and salt making land shall be decided by the People’s Committee of the districts, towns and cities under the province for allocation to family households and individuals on the basis of the average land allocation per head of the agricultural, fishery and salt making population after substraction made of the land reserved for public utility needs.
2. In the localities where in the process of implementation of the land policy in the past the People’s Committees of various levels have guided and directed the farmers to negotiate among themselves to regulate the division of land and this situation has now stabilized, the People’s Committees of the districts, towns and cities under the province shall base themselves on the present situation to consider the land allocation and issue certificates of land use right to them.
With regard to the families which have more land than prescribed by the quota the stipulations in Clause 7, Article 1 of this Decree shall be complied with."
7. Article 13 is amended and supplemented as follows:
"Article 13.- For the land exceeding the quota for a family household, the solution is as follows:
1. The family households using agricultural land and salt making land above the quota which are allocated or reclaimed land or otherwise assigned legally by others prior to January 1st, 1999 (effective date of the Law amending and supplementing a number of articles of the Land Law) shall be allowed to continue its use but must pay the supplementary tax for the above-quota land as prescribed by law.
The term for use of the area of the above-quota land by a family household is equal to half of the term of land allocation for each kind of land as stipulated in Clause 3, Article 1 of this Decree. After this term, the household must change to renting land.
For the area of above-quota land which is acquired after January 1st, 1999, the family household and individual must change to renting it.
2. For the land exceeding the quota resulting from illegal occupation, depending on each case, the People’s Committee of the commune, ward, or township shall propose to the People’s Committee of the district, town or city directly under the province to consider for recoveryor to change to land renting.
8. Article 15 is amended and supplemented as follows:
"Article 15.-
1. Land reserved for public utility needs of the commune, ward or township shall be managed and used by the People’s Committee of the commune, ward or township.
2. The management and use of the land reserved for public utility of the commune, ward or township is prescribed as follows:
a/ For building or compensating for the land used in the building of public utility works of the commune, ward or township with permission from the competent State agency, it must not be used for other purposes.
b/ In case the land is not yet used for the purposes stipulated in Point a of this Clause, the People’s Committee of the commune, ward or township shall lease it to family households or individuals for use in agricultural production, aquaculture and salt making. The rent thereof shall be remitted to the budget and can only be used for public utility needs of the commune, ward or township as prescribed by law.
3. The term for the lease of public utility land of the commune, ward or township prior to January 1st, 1999 shall comply with the signed land lease contract; in other cases happening after January 1st, 1999, the term of land lease shall not exceed 5 years."
Article 2.- The Ministers, the heads of ministerial-level agencies, the heads of agencies attached to the Government and the President of the People’s Committees of the provinces and centrally-run cities directly shall have to implement this Decree.
Article 3.- This Decree takes effect 15 days after its signing. All the earlier provisions which are contrary to this Decree are now annulled.
 

 
ON BEHALF OF THE GOVERNMENT
PRIME MINISTER




Phan Van Khai

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
Văn bản tiếng Anh
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.

Tải App LuatVietnam miễn phí trên Android tại đây trên IOS tại đây. Xem thêm

Văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!