Nghị quyết 02/NQ-CP 2022 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường KD năm 2022

Tóm tắt Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

CHÍNH PHỦ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------------

Số: 02/NQ-CP

Hà Nội, ngày 10 tháng 01 năm 2022

 

 

 

NGHỊ QUYẾT

VỀ NHỮNG NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH, NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH QUỐC GIA NĂM 2022

___________

CHÍNH PHỦ

 

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 32/2021/QH15 ngày 12 tháng 11 năm 2021 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

 

QUYẾT NGHỊ:

 

I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH

Từ năm 2014, Chính phủ đã xác định cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hướng tới phát triển bền vững là một trọng tâm cải cách, là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên. Theo đó, hàng năm Chính phủ ban hành Nghị quyết về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia (Nghị quyết số 19/NQ-CP các năm 2014-2018 và Nghị quyết số 02/NQ-CP các năm 2019-2021) với các mục tiêu, giải pháp cụ thể, bám sát các chỉ số xếp hạng của các tổ chức quốc tế có uy tín. Thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP và Nghị quyết số 02/NQ-CP, các Bộ, ngành và địa phương đã nỗ lực tháo gỡ nhiều rào cản, khó khăn vướng mắc, khơi thông nguồn lực trong xã hội nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Nhờ vậy, Việt Nam luôn được coi là một điểm đến đầu tư hấp dẫn và là nền kinh tế năng động, có độ mở lớn và duy trì tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao trên thế giới.

Qua 8 năm nỗ lực cải cách, vị trí của Việt Nam trên các bảng xếp hạng uy tín toàn cầu được nâng lên. Cụ thể là: Năng lực cạnh tranh 4.0 (của Diễn đàn kinh tế thế giới - WEF) xếp thứ 67/141 (năm 2019[1]), tăng 10 bậc so với năm 2018; Đổi mới sáng tạo (của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới - WIPO) giữ thứ hạng tốt, ở vị trí 44/132 (năm 2021); Chính phủ điện tử (của Liên hợp quốc - UN[2]) xếp thứ 86 (năm 2020), tăng 2 bậc so với năm 2018; Phát triển bền vững (của UN) xếp thứ 51/165 năm 2021, tăng 37 bậc so với năm 2016[3] (vị trí 88); An toàn an ninh mạng (của Liên minh Viễn thông quốc tế - ITU) xếp thứ 25/194 (năm 2020), tăng 25 bậc so với năm 2018 (vị trí 50).

Ở một số lĩnh vực cụ thể, các tổ chức quốc tế tiếp tục duy trì đánh giá, xếp hạng trong năm 2021 như Quyền tài sản (của Liên minh quyền tài sản), Cảm nhận tham nhũng (của Tổ chức minh bạch quốc tế), Hiệu quả quản trị nhà nước (của Ngân hàng thế giới - WB). Trong đó, Ngân hàng thế giới đánh giá Hiệu quả quản trị của nước ta năm 2020 có mức độ cải thiện tốt hơn so với các năm trước đó.

Chất lượng môi trường kinh doanh cải thiện tích cực cũng được thể hiện rõ qua kết quả đánh giá Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), tuy mức độ cải thiện là khác nhau giữa các lĩnh vực. Năm 2020, có 58,2% doanh nghiệp đánh giá môi trường kinh doanh cải thiện tốt, cao hơn rõ rệt so với kết quả năm 2017 (tỷ lệ 51,7%); cả 10 lĩnh vực môi trường kinh doanh đề ra tại Nghị quyết số 19/NQ-CP và Nghị quyết số 02/NQ-CP đều có cải thiện, trong đó Thành lập doanh nghiệp, Tiếp cận điện năng được đánh giá có cải thiện tốt nhất.

Kết quả đạt được như trên là nhờ những nỗ lực cải cách của các Bộ, ngành và địa phương nhằm cải thiện chất lượng các yếu tố môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh thuộc lĩnh vực quản lý. Từ năm 2020 đến nay, đại dịch COVID-19 tác động nặng nề tới người dân, doanh nghiệp. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách, giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Những cơ chế, chính sách, giải pháp đã đi vào cuộc sống và được cộng đồng doanh nghiệp, người dân hoan nghênh và đánh giá cao. Thời gian tới, doanh nghiệp càng kỳ vọng nhiều hơn vào sự đồng hành của Chính phủ thông qua các giải pháp cải cách thể chế, quy định và thủ tục hành chính.

Tuy nhiên, cải cách môi trường kinh doanh ở nước ta từ năm 2020 do tác động của đại dịch COVID-19 có xu hướng chững lại. Trên bảng xếp hạng toàn cầu, một số chỉ tiêu cải thiện chưa bền vững và còn không ít chỉ tiêu cụ thể mà chất lượng và thứ hạng của Việt Nam vẫn còn thấp hoặc không được cải thiện, thậm chí giảm bậc. Năm 2021 so với năm 2020, nhiều chỉ số giảm điểm hoặc giảm bậc, như: Đổi mới sáng tạo giảm 2 bậc (từ thứ 42 xuống 44); Phát triển bền vững giảm điểm và giảm bậc (từ thứ 49 xuống 51); Quyền tài sản giảm điểm và giảm bậc (từ thứ 78 xuống 84); Cảm nhận tham nhũng giảm 8 bậc (từ thứ 96 xuống 104).

Việc cải thiện vị trí trên các bảng xếp hạng ngày càng khó khăn và đòi hỏi nỗ lực cao hơn bởi các nền kinh tế khác cũng rất chú trọng cải cách nhằm nâng cao vị thế trên toàn cầu. Mặt khác, có nhiều chỉ số phải nỗ lực liên tục trong một số năm mới có thể cải thiện được, nhất là các chỉ số liên quan tới hạ tầng, nhân lực và các yếu tố môi trường, xã hội. Vì vậy, cần sự vào cuộc mạnh mẽ, quyết liệt và tăng tốc hơn nữa của các Bộ, ngành, địa phương trong cải cách môi trường kinh doanh, cũng như sự chia sẻ và hợp tác từ phía cộng đồng doanh nghiệp, người dân.

Nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu đề ra tại Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022 theo các Nghị quyết của Quốc hội, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh, thích ứng linh hoạt, hiệu quả với bối cảnh dịch COVID-19, Chính phủ ban hành Nghị quyết tiếp nối các Nghị quyết số 02/NQ-CP, Nghị quyết số 19/NQ-CP về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức liên quan tập trung triển khai thực hiện.

II. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu tổng quát

Cải thiện mạnh mẽ môi trường kinh doanh, nâng cao vị trí của nước ta trên các bảng xếp hạng quốc tế về môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh nhằm thích ứng với xu thế phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tăng sức chống chịu của nền kinh tế trong bối cảnh dịch COVID-19; tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp mới thành lập; giảm tỷ lệ doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động; giảm chi phí đầu vào, chi phí không chính thức cho doanh nghiệp và người dân. Đẩy mạnh tháo gỡ khó khăn, vướng mắc do tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19; kịp thời hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh, thích ứng linh hoạt, hiệu quả với dịch bệnh.

Đến năm 2025, phấn đấu thứ hạng năng lực cạnh tranh như sau:

a) Năng lực cạnh tranh 4.0 (của WEF) thuộc Nhóm 50 nước đứng đầu.

b) Phát triển bền vững (của UN) thuộc Nhóm 40 nước đứng đầu.

c) Năng lực Đổi mới sáng tạo (của WIPO) thuộc Nhóm 40 nước đứng đầu.

d) Chính phủ điện tử (của UN) thuộc Nhóm 60 nước đứng đầu.

đ) Quyền tài sản (của Liên minh quyền tài sản) thuộc Nhóm 60 nước đứng đầu.

e) Hiệu quả logistics[4] (của WB) tăng ít nhất 4 bậc.

g) Năng lực cạnh tranh du lịch (của WEF) thuộc Nhóm 50 nước đứng đầu.

h) An toàn an ninh mạng (của ITU) tăng ít nhất 3 bậc.

2. Một số mục tiêu cụ thể năm 2022

a) Cải thiện chất lượng, nâng cao thứ hạng các chỉ số môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh đồng bộ với cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Moody’s, S&P và Fitch.

b) Về cải thiện Năng lực cạnh tranh 4.0 (GCI 4.0) theo xếp hạng của WEF:

- Nâng cao điểm số và duy trì thứ hạng chỉ số Chi phí tuân thủ pháp luật[5] (gọi tắt là B1).

- Nâng xếp hạng chỉ số Kiểm soát tham nhũng[6] (B2) lên 10 bậc.

- Nâng xếp hạng chỉ số Chất lượng quản lý hành chính đất đai[7] (B3) lên ít nhất 1 bậc.

- Nâng xếp hạng nhóm chỉ số Hạ tầng[8] (B4) lên 2-3 bậc.

- Nâng xếp hạng nhóm chỉ số ứng dụng công nghệ thông tin[9] (B5) lên 2-3 bậc.

- Nâng xếp hạng chỉ số Chất lượng đào tạo nghề[10] (B6) lên ít nhất 5 bậc.

- Nâng xếp hạng chỉ số vốn hóa thị trường chứng khoán[11] (B7) lên 2-3 bậc.

- Nâng xếp hạng chỉ số Chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển[12] (B8) lên 2-3 bậc.

- Nâng xếp hạng chỉ số Tăng trưởng về doanh nghiệp đổi mới sáng tạo[13] (B9) lên 2-3 bậc.

- Nâng xếp hạng chỉ số Doanh nghiệp có ý tưởng sáng tạo mới đột phá[14] (B10) lên 2-3 bậc.

- Nâng xếp hạng chỉ số Tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ[15] (B11) lên 2-3 bậc.

c) Về cải thiện Năng lực Đổi mới sáng tạo (GII) theo xếp hạng của WIPO:

- Nâng xếp hạng nhóm chỉ số Hạ tầng công nghệ thông tin[16] (gọi tắt là C1) lên ít nhất 5 bậc.

- Nâng xếp hạng chỉ số Tuyển dụng lao động thâm dụng tri thức[17] (C2) lên ít nhất 5 bậc.

- Nâng xếp hạng chỉ số Hợp tác nghiên cứu nhà trường - doanh nghiệp[18] (C3) lên 2-3 bậc.

- Nâng xếp hạng chỉ số Chất lượng môi trường[19] (C4) lên 10 bậc.

- Nâng xếp hạng chỉ số Công nghệ thông tin và sáng tạo trong mô hình của tổ chức[20] (C5) lên 2-3 bậc.

- Nâng xếp hạng nhóm chỉ số Sáng tạo trực tuyến[21] (C6) lên ít nhất 5 bậc.

- Nâng xếp hạng nhóm chỉ số Giáo dục đại học[22] (C7) lên ít nhất 5 bậc.

- Nâng xếp hạng chỉ số Nhập khẩu dịch vụ ICT[23] (C8) và xuất khẩu dịch vụ ICT[24] (C9) lên ít nhất 5 bậc.

d) Về cải thiện Quyền tài sản (IPRI) theo xếp hạng của Liên minh quyền tài sản:

- Cải thiện xếp hạng chỉ số Độc lập tư pháp[25] (gọi tắt là D1).

- Nâng xếp hạng nhóm chỉ số Quyền tài sản vật chất (D2) lên ít nhất 5 bậc.

- Nâng xếp hạng nhóm chỉ số Quyền sở hữu trí tuệ (D3) lên 2-3 bậc.

đ) Tăng điểm số các chỉ số thuộc Mục tiêu 9 về Công nghiệp, sáng tạo và phát triển bền vững theo xếp hạng Phát triển bền vững của UN.

III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Tiếp tục tăng cường trách nhiệm, tính chủ động của các Bộ được phân công làm đầu mối theo dõi việc cải thiện các bộ chỉ số (tại mục 1, Phụ lục I) và các Bộ, cơ quan được phân công chủ trì, chịu trách nhiệm đối với các nhóm chỉ số, chỉ số thành phần (tại mục 2, Phụ lục I).

a) Các Bộ được phân công làm đầu mối theo dõi việc cải thiện các bộ chỉ số và các Bộ, cơ quan được phân công chủ trì, chịu trách nhiệm đối với các nhóm chỉ số, chỉ số thành phần có trách nhiệm:

- Cập nhật, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp liên quan tại các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; kịp thời đề xuất, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách, giải pháp, nhiệm vụ phát sinh để cải thiện các chỉ số được phân công.

- Chủ động kết nối với các tổ chức quốc tế; tạo lập kênh phối hợp để cung cấp, cập nhật đầy đủ, kịp thời thông tin nhằm đánh giá, xếp hạng khách quan, chính xác.

- Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Chính phủ và các Bộ, cơ quan liên quan xây dựng chế độ báo cáo, theo dõi tình hình, kết quả cải thiện đối với các bộ chỉ số, chỉ số được phân công; cập nhật trên hệ thống thông tin báo cáo của bộ, ngành, kết nối với Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ phục vụ chỉ đạo, điều hành.

b) Các Bộ, cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm cải thiện các yếu tố môi trường kinh doanh (tại Phụ lục II)[26] tiếp tục thực hiện các giải pháp theo hướng giảm số lượng thủ tục, thời gian, chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp, bao gồm: (i) Khởi sự kinh doanh; (ii) Nộp thuế và bảo hiểm xã hội; (iii) Cấp phép xây dựng và các thủ tục liên quan; (iv) Tiếp cận tín dụng; (v) Bảo vệ nhà đầu tư; (vi) Tiếp cận điện năng; (vii) Đăng ký tài sản; (viii) Giao dịch thương mại qua biên giới; (ix) Giải quyết tranh chấp hợp đồng; và (x) Giải quyết phá sản doanh nghiệp.

c) Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành, địa phương liên quan nghiên cứu điều chỉnh chỉ tiêu thống kê công bố trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo để bảo đảm phù hợp với thông lệ quốc tế.

2. Chú trọng thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau đây:

a) Cắt giảm danh mục ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện và cải cách điều kiện kinh doanh.

b) Tập trung dỡ bỏ rào cản đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh do chồng chéo, mâu thuẫn, không hợp lý, khác biệt của các quy định pháp luật.

c) Tiếp tục thúc đẩy cải cách quản lý, kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

d) Đẩy mạnh cải cách về đăng ký đất đai và đổi mới quản lý hành chính đất đai.

đ) Thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chuyển đổi số theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03 tháng 6 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đồng bộ với thực hiện cải cách hành chính.

e) Tăng cường cải cách, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, quy định kinh doanh gắn với đẩy mạnh phân cấp, trao quyền cho địa phương và kiểm tra, giám sát.

g) Đẩy mạnh thực hiện các giải pháp nhằm tạo chuyển biến vững chắc đối với các chỉ tiêu phát triển bền vững.

h) Tiếp tục chú trọng hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh, khắc phục các tác động tiêu cực của dịch bệnh COVID-19.

i) Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.

k) Đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế gắn với thực hiện cải cách trong nước về môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện các nhiệm vụ cụ thể phân công tại Phụ lục III kèm theo Nghị quyết.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

a) Xác định cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh là nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên; trực tiếp chỉ đạo, chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện Nghị quyết này và các Nghị quyết của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

b) Trước ngày 20 tháng 01 năm 2022, xây dựng, ban hành Chương trình, Kế hoạch hành động, văn bản cụ thể triển khai thực hiện Nghị quyết này, trong đó xác định cụ thể mục tiêu, nhiệm vụ, tiến độ thực hiện, dự kiến kết quả đối với từng nhiệm vụ và phân công đơn vị chủ trì thực hiện, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Văn phòng Chính phủ.

c) Thường xuyên kiểm tra, giám sát tiến độ và kết quả thực hiện Chương trình, Kế hoạch thực hiện các Nghị quyết về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; đồng thời công khai các kết quả kiểm tra, giám sát. Phân công đơn vị làm đầu mối thực hiện tham mưu, hướng dẫn, kiểm tra, tổng hợp tình hình cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của bộ, ngành và địa phương.

d) Thường xuyên tổ chức đối thoại, trao đổi với người dân và doanh nghiệp để kịp thời nắm bắt các phản hồi chính sách và giải quyết các khó khăn, vướng mắc. Đảm bảo kỷ luật, kỷ cương đối với cán bộ, công chức trong thực thi công vụ; xử lý nghiêm cán bộ nhũng nhiễu, gây phiền hà cho doanh nghiệp. Tổ chức công tác truyền thông về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh thuộc phạm vi trách nhiệm của mình.

đ) Trước ngày 10 tháng 6 và ngày 10 tháng 12 năm 2022, báo cáo tình hình và kết quả thực hiện Nghị quyết 06 tháng và 01 năm gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương) và Văn phòng Chính phủ để tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và cuối năm.

2. Bộ Nội vụ nghiên cứu lồng ghép một số tiêu chí đánh giá, xếp hạng việc thực thi Nghị quyết vào nội dung khảo sát hàng năm của chỉ số cải cách hành chính và chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS).

3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ và Hội đồng quốc gia về Phát triển bền vững và Nâng cao năng lực cạnh tranh theo dõi, đánh giá về tình hình và kết quả thực hiện Nghị quyết, kịp thời báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các khó khăn, vướng mắc để được giải quyết. Định kỳ hàng năm công khai kết quả theo dõi, đánh giá.

4. Văn phòng Chính phủ ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế, thu thập thông tin báo cáo phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và phát triển bền vững.

5. Các hiệp hội doanh nghiệp, ngành hàng theo dõi, đánh giá độc lập, thường xuyên về tình hình và kết quả thực hiện Nghị quyết. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tiến hành điều tra và công bố thường niên chỉ số PCI; kết hợp, lồng ghép đánh giá kết quả và tác động của Nghị quyết.

6. Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ thực hiện khảo sát, đánh giá và công bố thường niên Báo cáo Chỉ số đánh giá chi phí tuân thủ thủ tục hành chính (APCI).

7. Thông tấn xã Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam và các cơ quan báo chí chủ động hỗ trợ các Bộ, cơ quan, địa phương tổ chức truyền thông, quán triệt, phổ biến Nghị quyết sâu rộng trong các ngành, các cấp và đến người dân, doanh nghiệp; tăng cường sự theo dõi, giám sát của các cơ quan truyền thông, báo chí về kết quả thực hiện Nghị quyết./.

 

Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán Nhà nước;
- Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia;
- Các ngân hàng: Chính sách xã hội, Phát triển Việt Nam;
- Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
- Viện Nghiên cứu QLKTTW (Bộ KHĐT);
- VPCP: BTCN, các PCN; Trợ lý, Thư ký TTg, PTTg; các Vụ, Cục, Công báo, TGĐ Cổng TTĐT;
- Lưu: VT, KSTT (2).NTTL

TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG




Phạm Minh Chính

 

 

 

PHỤ LỤC I

PHÂN CÔNG CÁC BỘ, CƠ QUAN ĐẦU MỐI THEO DÕI, CÁC BỘ, CƠ QUAN CHỦ TRÌ, CHỊU TRÁCH NHIỆM CẢI THIỆN CÁC BỘ CHỈ SỐ, NHÓM CHỈ SỐ, CHỈ SỐ THÀNH PHẦN
(Kèm theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ)

 

1. Các Bộ đầu mối theo dõi việc cải thiện các bộ chỉ số quốc tế

STT

Bộ chỉ số xếp hạng quốc tế

Bộ đầu mối theo dõi

Thời gian

 

1

Năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 (của WEF)

Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Theo thời gian công bố của các tổ chức quốc tế

 

2

Phát triển bền vững (của UN)

 

3

Năng lực Đổi mới sáng tạo (của WIPO)

Bộ Khoa học và Công nghệ

 

4

Chính phủ điện tử (của UN)

Bộ Thông tin và Truyền thông

 

5

An toàn an ninh mạng (của ITU)

 

6

Quyền tài sản (của Liên minh quyền tài sản)

Bộ Tài nguyên và Môi trường

 

7

Hiệu quả logistics (của WB)

Bộ Công Thương

 

8

Năng lực cạnh tranh du lịch (của WEF)

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

 

 

2. Các Bộ, cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm đối với các nhóm chỉ số, chỉ số thành phần

STT

Bộ, cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm

Nhóm chỉ số/ chỉ số thành phần

Thời gian

1

Bộ Tài chính

B7

Hàng năm

2

Bộ Thông tin và Truyền thông

B5, C1, C5, C6, C8 và C9

Hàng năm

3

Bộ Giao thông vận tải

B4

Hàng năm

4

Bộ Tài nguyên và Môi trường

B3, C4 và D2

Hàng năm

5

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

B6 và C2

Hàng năm

6

Bộ Giáo dục và Đào tạo

C3 và C7

Hàng năm

7

Bộ Khoa học và Công nghệ

B8, B9, B10 và D3

Hàng năm

8

Bộ Tư pháp

- B1;

- D1 (Tham mưu cho Chính phủ và trực tiếp thực hiện giải pháp cải thiện chỉ số khi được ủy quyền)

Hàng năm

9

Thanh tra Chính phủ

B2

Hàng năm

10

Ngân hàng Nhà nước

B11

Hàng năm

 

 

 

PHỤ LỤC II

PHÂN CÔNG CÁC BỘ, CƠ QUAN CHỦ TRÌ, CHỊU TRÁCH NHIỆM CẢI THIỆN CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
(Kèm theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ)

 

STT

Chỉ số (theo cách tiếp cận của WB)

Bộ, cơ quan chủ trì

Nhiệm vụ, giải pháp

Thời gian

1

Khởi sự kinh doanh

Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Nghiên cứu, thực hiện theo thẩm quyền, hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành và thực hiện các giải pháp phù hợp nhằm tăng nhanh số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm tỷ lệ doanh nghiệp giải thể, dừng hoạt động. Phấn đấu đạt mục tiêu 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động vào năm 2023.

Thường xuyên

2

Cấp phép xây dựng và các thủ tục liên quan

Bộ Xây dựng

Đẩy mạnh áp dụng dịch vụ công trực tuyến; rút ngắn thời gian ở mỗi bước thủ tục.

Thường xuyên

3

Tiếp cận điện năng

Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Đẩy mạnh áp dụng dịch vụ trực tuyến.

Thường xuyên

4

Tiếp cận tín dụng (trên khía cạnh nâng cao hiệu quả hệ thống thông tin tín dụng và cơ chế an toàn về bảo đảm quyền lợi của người đi vay và người cho vay)

Ngân hàng Nhà nước

Thực hiện hoặc kiến nghị thực hiện các giải pháp về; (i) Cải thiện chiều sâu thông tin tín dụng; và (ii) Hỗ trợ việc cho vay trên cơ sở hoàn thiện các quy định về xử lý đối với tài sản bảo đảm và phá sản doanh nghiệp.

Thường xuyên

5

Đăng ký tài sản

Bộ Tài nguyên và Môi trường

Thực hiện liên thông các thủ tục, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục hành chính.

Thường xuyên

6

Bảo vệ nhà đầu tư

Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Nghiên cứu và kiến nghị sửa đổi các quy định để ngăn chặn xung đột lợi ích và nâng cao hiệu quả quản trị cổ đông.

Thường xuyên

7

Nộp thuế

Bộ Tài chính

Đẩy mạnh áp dụng dịch vụ trực tuyến đầy đủ, thực chất.

Thường xuyên

8

Nộp bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Đẩy mạnh áp dụng dịch vụ trực tuyến.

Thường xuyên

9

Giao dịch thương mại qua biên giới

Bộ Tài chính

- Cải cách, đơn giản hóa thủ tục hải quan.

- Hoàn thiện Cổng thông tin một cửa quốc gia để đảm bảo thực hiện giao dịch trực tuyến đầy đủ trên Cổng và kết nối dữ liệu giữa các Bộ, ngành, cơ quan.

Thường xuyên

10

Giải quyết tranh chấp hợp đồng

Bộ Tư pháp

Tham mưu các giải pháp cụ thể cho Chính phủ và trực tiếp thực hiện (khi được ủy quyền).

Thường xuyên

11

Giải quyết phá sản doanh nghiệp

Bộ Tư pháp

 

 

 

PHỤ LỤC III

PHÂN CÔNG BỘ, NGÀNH, ĐỊA PHƯƠNG THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM
(Kèm theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ)

 

1. Cắt giảm danh mục ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện và cải cách điều kiện kinh doanh

a) Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan:

- Nghiên cứu, rà soát danh mục ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện; kiến nghị các phương án gồm: (i) Thu hẹp phạm vi của một số ngành nghề; (ii) Đưa ngành nghề ra khỏi danh mục nếu có biện pháp quản lý khác hiệu quả hơn; (iii) Đưa các ngành nghề ra khỏi danh mục nếu yêu cầu quản lý thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn, không có mục tiêu quản lý hoặc mục tiêu quản lý không rõ ràng. Hoàn thành trong năm 2023.

- Kiểm soát việc đề nghị bổ sung ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh mới.

b) Các Bộ, ngành: Tiếp tục rà soát, kiến nghị bãi bỏ các điều kiện kinh doanh quy định tại các luật chuyên ngành liên quan. Hoàn thành trong năm 2023.

2. Tập trung dỡ bỏ rào cản đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh do chồng chéo, mâu thuẫn, không hợp lý, khác biệt của các quy định pháp luật

a) Các Bộ, ngành:

- Nghiên cứu, rà soát các luật có liên quan đến đầu tư tạo tài sản, phát triển năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm: Luật Đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Nhà ở, Luật Đấu thầu, Luật Hợp tác xã, các Luật liên quan khác và các điều khoản liên quan trong các Nghị định hướng dẫn thi hành. Trên cơ sở rà soát xác định: (i) Các quy định đã không còn phù hợp với thực tế khách quan; (ii) Các quy định không hợp lý; (iii) Các quy định không rõ ràng, cụ thể; (iv) Các quy định chồng chéo, mâu thuẫn; (v) Các quy định khác nhau về cùng một vấn đề,... và kiến nghị phương án bổ sung, sửa đổi phù hợp.

- Thực hiện tích hợp các văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch, dễ tra cứu, dễ hiểu và dễ tiếp cận của hệ thống pháp luật.

b) Các Bộ: Tài nguyên và Môi trường, Kế hoạch và Đầu tư, Xây dựng theo dõi, đánh giá và nắm bắt kịp thời bất cập trong thực hiện các văn bản pháp luật mới ban hành như Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đầu tư, Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn thi hành để kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hoặc sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền nhằm kịp thời tháo gỡ các bất cập.

3. Tiếp tục thúc đẩy cải cách quản lý, kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

a) Các Bộ: Tài chính, Công Thương, Khoa học và Công nghệ, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giao thông vận tải, Công an, Quốc phòng, Y tế, Thông tin và Truyền thông, Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng, Lao động - Thương binh và Xã hội, Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

- Tiếp tục rà soát, cắt giảm danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu thuộc diện quản lý, kiểm tra chuyên ngành. Đối với các sản phẩm, hàng hóa được cắt giảm, nhà nước quản lý theo nguyên tắc nhà nước quy định tiêu chuẩn an toàn, người sản xuất, kinh doanh tự tuân thủ.

- Nghiên cứu, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định về quản lý, kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại các Luật về quản lý, kiểm tra chuyên ngành theo hướng: (i) cắt giảm danh mục hàng hóa nhóm 2; (ii) Áp dụng đầy đủ nguyên tắc về quản lý rủi ro dựa trên mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp và mức độ rủi ro của hàng hóa; (iii) Thay đổi phương pháp quản lý từ việc kiểm tra từng lô hàng sang kiểm tra theo mặt hàng (trừ hàng hóa thuộc diện kiểm dịch, giống cây trồng).

- Nghiên cứu, kiến nghị xây dựng pháp luật và nâng cao năng lực cho việc áp dụng phương thức kiểm tra tại nguồn và kiểm tra tại khâu lưu thông trên thị trường nội địa.

- Nâng cấp, hoàn thiện và triển khai hiệu quả thủ tục điện từ trên Cổng thông tin một cửa quốc gia.

b) Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan: Nghiên cứu, tổng kết, đánh giá việc thực hiện Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007 và Luật Tiêu chuẩn, Quy chuẩn kỹ thuật số 68/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006; kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định đảm bảo áp dụng đầy đủ nguyên tắc khoa học về quản lý rủi ro theo thông lệ quốc tế.

c) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan: Nghiên cứu, kiến nghị xây dựng trung tâm dữ liệu quản lý rủi ro để thực hiện quản lý, kiểm tra chuyên ngành tập trung, thống nhất trên phạm vi cả nước.

4. Đẩy mạnh cải cách về đăng ký đất đai và đổi mới quản lý hành chính đất đai

a) Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan:

- Nghiên cứu, kiến nghị Chính phủ ban hành Nghị định về hệ thống thông tin đất đai; thúc đẩy thực hiện giao dịch điện tử về đất đai.

- Chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương thực hiện các giải pháp cải cách thủ tục Đăng ký sở hữu và chuyển nhượng tài sản, trong đó chú trọng nhiệm vụ: (i) Tập trung đầu tư xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu đất đai; nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật, lập kế hoạch số hóa và lưu trữ hồ sơ địa chính ở dạng số để đưa vào khai thác sử dụng tại các Văn phòng đăng ký đất đai; (ii) ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

- Triển khai mạnh mẽ việc kết nối liên thông điện tử để trao đổi thông tin dữ liệu đất đai giữa cơ quan đăng ký đất đai và cơ quan thuế trong việc xác định nghĩa vụ tài chính khi người sử dụng đất thực hiện giao dịch về đất đai và tài sản gắn liền với đất.

- Nghiên cứu, ban hành hoặc kiến nghị ban hành cơ chế cụ thể và độc lập để khiếu nại về vấn đề xảy ra tại cơ quan đăng ký đất đai, cơ quan địa chính cũng như cơ quan đo đạc bản đồ.

- Nghiên cứu, ban hành hoặc kiến nghị ban hành quy định cho phép người dân, doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận bản đồ thửa đất. Hoàn thành trong năm 2023.

b) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan:

- Nghiên cứu, kiến nghị các giải pháp khuyến khích và tạo điều kiện tích tụ đất nông nghiệp; phát triển mạnh thị trường quyền sử dụng đất.

- Nghiên cứu, đề xuất thí điểm thành lập Trung tâm giao dịch quyền sử dụng đất nông nghiệp.

5. Thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chuyển đổi số theo “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đồng bộ với thực hiện cải cách hành chính.

Các Bộ, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chuyển đổi số theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03 tháng 6 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đồng bộ với thực hiện cải cách hành chính; nhấn mạnh các giải pháp tăng mức độ sẵn sàng thích ứng với nền sản xuất mới trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong đó, chú trọng thực hiện: (i) Rà soát và nâng cao Hiệu quả triển khai dịch vụ công trực tuyến; (ii) Đẩy mạnh hơn nữa tiến độ thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt và phát triển thương mại điện tử; (iii) ứng dụng công nghệ thông tin để minh bạch hóa quy trình, thủ tục; huy động sự tham gia, đóng góp của doanh nghiệp và người dân vào xây dựng chính quyền; kết nối, chia sẻ, mở dữ liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội.

6. Tăng cường cải cách, cất giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, quy định kinh doanh gắn với đẩy mạnh phân cấp, trao quyền cho địa phương và kiểm tra, giám sát

a) Các Bộ, ngành, địa phương:

- Kiên quyết cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ trên mọi lĩnh vực; trong đó tập trung nghiên cứu giải pháp cải cách thủ tục hành chính đối với các dự án chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng và công nghệ tốt nhất, dự án xanh…; gắn cải cách thủ tục hành chính với xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số.

- Đổi mới thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính theo quy định tại Nghị định số 107/2021/NĐ-CP ngày 06 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ; thực hiện việc số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính tại Bộ phận Một cửa cấp bộ, cấp tỉnh từ ngày 01 tháng 6 năm 2022; tại Bộ phận Một cửa cấp huyện từ ngày 01 tháng 12 năm 2022 theo đúng quy định tại Nghị định số 107/2021/NĐ-CP. Sơ kết mô hình trung tâm phục vụ hành chính công các cấp để có giải pháp phát triển phù hợp.

- Tiếp nhận, xử lý kịp thời, hiệu quả phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp, người dân về những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thực hiện các quy định liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh và công khai kết quả xử lý trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.

- Tiếp tục thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp theo Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2020 của Chính phủ ban hành Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020 - 2025.

b) Văn phòng Chính phủ:

- Chủ trì, đôn đốc, hướng dẫn việc đổi mới thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công phục vụ người dân và doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định số 107/2021/NĐ-CP ngày 06 tháng 12 năm 2021 và Quyết định số 468/QĐ-TTg ngày 27 tháng 3 năm 2021.

- Chủ trì, đôn đốc, hướng dẫn triển khai thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2020 của Chính phủ ban hành Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020 - 2025.

7. Đẩy mạnh thực hiện các giải pháp nhằm tạo chuyển biến vững chắc đối với các chỉ tiêu phát triển bền vững

a) Các Bộ, ngành, địa phương:

- Tập trung chỉ đạo xây dựng và thực hiện chiến lược, kế hoạch trung, dài hạn với mục tiêu rõ ràng, lộ trình cụ thể để tạo chuyển biến vững chắc đối với các chỉ tiêu có tính chất nền tảng nhưng khó cải thiện trong thời gian ngắn như bảo vệ môi trường sinh thái, giảm nghèo đa chiều, phát triển miền núi, vùng sâu, vùng xa,...

- Khuyến khích doanh nghiệp cơ cấu lại sản xuất, kinh doanh hướng tới phát triển bền vững, trong đó chú trọng các yếu tố bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu, tạo cơ hội việc làm cho nhóm đối tượng dễ bị tổn thương.

- Thực hiện các giải pháp truyền thông nâng cao nhận thức toàn xã hội về nội dung và ý nghĩa của phát triển bền vững.

b) Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chủ trì thực hiện các giải pháp nhằm phát triển nhanh cộng đồng doanh nghiệp phát triển bền vững.

8. Tiếp tục chú trọng hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh, khắc phục các tác động tiêu cực của dịch bệnh COVID-19

Các Bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11 tháng 10 năm 2021 của Chính phủ ban hành Quy định tạm thời "Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19"; triển khai thực hiện ngay các giải pháp của Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế.

9. Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo

a) Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan:

- Xây dựng và phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia (NQI), nâng cao năng suất dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.

- Nghiên cứu, xây dựng cơ chế thí điểm sử dụng nguồn vốn từ Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ của doanh nghiệp nhà nước để tài trợ, cho vay, đầu tư, góp vốn đầu tư cho hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo.

b) Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì nghiên cứu, đề xuất các giải pháp phát triển không gian khởi nghiệp sáng tạo trong các trường đại học.

10. Đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế gắn với thực hiện cải cách trong nước về môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

a) Các Bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh các hoạt động hợp tác nghiên cứu, tư vấn và đối thoại chính sách với các tổ chức quốc tế có uy tín nhằm phục vụ thu hút nguồn lực và sự ủng hộ của các đối tác cho mục tiêu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

b) Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thúc đẩy hoạt động hợp tác với Diễn đàn kinh tế thế giới, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và các tổ chức, cơ quan nghiên cứu để tham vấn quốc tế về cải cách môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, trong đó bao gồm đề xuất và triển khai xây dựng các nghiên cứu, đánh giá và khuyến nghị chính sách cho Chính phủ về phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững.

 

------------------------------

[1] Năm 2020 và 2021, do tác động của dịch bệnh COVID-19 nên nhiều tổ chức quốc tế không công bố báo cáo xếp hạng thường niên, trong đó có Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 của Diễn đàn kinh tế thế giới.

[2] Xếp hạng này được Liên hợp quốc công bố 2 năm một lần.

[3] Năm 2016 là năm đầu tiên Liên hợp quốc xếp hạng Phát triển bền vững (SDG) cho toàn cầu.

[4] Theo xếp hạng Hiệu quả logistics gần đây nhất (năm 2018), Việt Nam xếp thứ 39.

[5] Thuộc Trụ cột 1, GCI 4.0 (2019).

[6] Thuộc Trụ cột 1, GCI 4.0 (2019).

[7] Thuộc Trụ cột 1, GCI 4.0 (2019).

[8] Trụ cột 2, GCI 4.0 (2019).

[9] Trụ cột 3, GCI 4.0 (2019).

[10] Thuộc Trụ cột 6, GCI 4.0 (2019).

[11] Thuộc Trụ cột 9, GCI 4.0 (2019).

[12] Thuộc Trụ cột 12, GCI 4.0 (2019).

[13] Thuộc Trụ cột 11, GCI 4.0 (2019).

[14] Thuộc Trụ cột 11, GCI 4.0 (2019).

[15] Thuộc Trụ cột 9, GCI 4.0 (2019).

[16] Thuộc Trụ cột 3 - Cơ sở hạ tầng, GII, (2021).

[17] Thuộc Trụ cột 5 - Trình độ phát triển kinh doanh, GII, (2021).

[18] Thuộc Trụ cột 5 - Trình độ phát triển kinh doanh, GII, (2021).

[19] Thuộc Trụ cột 3 - Cơ sở hạ tầng, GII, (2021).

[20] Thuộc Trụ cột 7 - Sản phẩm sáng tạo, GII, (2021).

[21] Thuộc Trụ cột 7 - Sản phẩm sáng tạo, GII, (2021).

[22] Thuộc Trụ cột 2 - Nguồn nhân lực và nghiên cứu, GII, (2021).

[23] Thuộc Trụ cột 5 - Trình độ phát triển kinh doanh, GII, (2021).

[24] Thuộc Trụ cột 6 - Sản phẩm tri thức và công nghệ, GII, (2021).

[25] Thuộc Nhóm chỉ số Pháp lý và Chính trị, IPRI, (2021).

[26] Ngày 16 tháng 9 năm 2021, Ngân hàng thế giới thông báo dừng công bố báo cáo Doing Business, nguyên nhân không phải do vấn đề về cách tiếp cận, mà do có sự can thiệp dữ liệu từ một số quốc gia. Vì vậy, việc tìm kiếm và thực thi các giải pháp nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh gắn với các yếu tố từ Khởi sự kinh doanh đến Phá sản doanh nghiệp vẫn là những giải pháp chính sách phù hợp và hữu ích, cần tiếp tục duy trì.

Thuộc tính văn bản
Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2022
Cơ quan ban hành: Chính phủ Số công báo: Đã biết
Số hiệu: 02/NQ-CP Ngày đăng công báo: Đã biết
Loại văn bản: Nghị quyết Người ký: Phạm Minh Chính
Ngày ban hành: 10/01/2022 Ngày hết hiệu lực: Đang cập nhật
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực: Chính sách
Tóm tắt văn bản
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE GOVERNMENT

 

THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence - Freedom - Happiness

No. 02/NQ-CP

 

Hanoi, January 10, 2022

 

RESOLUTION

On major tasks and solutions to improve the business environment and heighten the national competitiveness
in 2022
[1]

 

THE GOVERNMENT

Pursuant to the June 19, 2015 Law on Organization of the Government;

Pursuant to the National Assembly’s Resolution No. 32/2021/QH15 of November 12, 2021, on the 2022 socio-economic development plan;

At the proposal of the Minister of Planning and Investment,

 

RESOLVES:

I. ASSESSMENT OF SITUATION

Since 2014, the Government has determined that the improvement of the business environment, heightening of competitiveness and promotion of innovation toward sustainable development constitute the focus of reform and a regular important task. Thereby, the Government has annually promulgated resolutions on the improvement of the business environment and heightening of the national competitiveness (Resolutions No. 19/NQ-CP for 2014-2018 and Resolutions No. 02/NQ-CP for 2019-2021) with specific objectives and solutions, sticking to the ranking indexes of prestigious international organizations. In furtherance of Resolutions No. 19/NQ-CP and Resolutions No. 02/NQ-CP, ministries, sectors and localities have endeavored to remove hurdles and difficulties, unclogging social resources so as to attract domestic and foreign investment. As a result, Vietnam has always been considered an attractive investment destination and a dynamic economy with great openness and high growth rates in the group of high world ranking.

Through 8 years of formidable reform, Vietnam has managed to raise its position on various global rankings. Specifically, the country was ranked 67th out of 141 rivals in the Global Competitiveness 4.0 (of the World Economic Forum - WEF) in 2019[2], 10 grades higher than 2018; regarding the Global Innovation Index (of the World Intellectual Property Organization - WIPO), Vietnam maintained a good position, ranked 44 out of 132 competitors in 2021; as per the E-Government Development Index (of the United Nations - UN[3]), it was ranked 86th in 2020, 2 grades  higher its position in 2018; in the Sustainable Development Index (of UN), Vietnam jumped 37 grades from the position of 88th in 2016[4]  to 51st out of 165 countries and territories in 2021; as for the Global Cybersecurity Index (of the International Telecommunications Union - ITU), it was ranked 25th out of 194 countries and territories in 2020, jumping  25 grades over its 50th place in 2018.

In a number of specific domains, international organizations have continued the evaluation and ranking in 2021 such as the International Property Rights Index (of the Property Rights Alliance), Corruption Perceptions Index (of the Transparency International), Worldwide Governance Indicators (of the World Bank - WB); particularly, the World Bank evaluated that Vietnam’s governance performance in 2020 was better than previous years’ results.

The positive improvement of the business environment quality has also been clearly demonstrated through the results of the Provincial Competitiveness Index (PCI), though the degree of improvement differs among fields. In 2020, 58.2% of enterprises evaluated that the business environment was improved, a percentage markedly higher than the 2017’s result (51.7%); all 10 fields of the business environment stated in Resolution No. 19/NQ-CP and Resolution No. 02/NQ-CP have been improved, of which the fields of Starting a Business and Getting Electricity have been assessed with best improvement.

The above-said results have been attributed to great reform efforts of ministries, sectors and localities, aiming to qualitatively improve elements of the business environment and competitiveness in the fields under their respective management. From 2020 until now, the COVID-19 pandemic has exerted great impacts on people and enterprises. The Government and Prime Minister have promulgated many mechanisms, policies and solutions, aiming to remove difficulties and support enterprises and people. Such mechanisms, policies and solutions have been put into practice and appreciated by the business community and people. In the coming time, enterprises will have higher expectations of the Government’s company through the reform of institutions, regulations and administrative procedures.

However, since 2020, the reform of the business environment has tended to stand still due to the Covid-19 pandemic. The improvement in some indexes on the global rankings remains unsustainable while Vietnam’s performance or rank in not a few specific indexes has remained poor or unimproved and even dropped. In 2021, Vietnam’s score or rank in many indexes reduced as compared to that in 2020, for example, the country’s rank in the Innovation Index dropped by 2 grades (from 42nd to 44th); its Sustainable Development Index’s and International Property Rights Index’s score and position both reduced (from the 49th to 51st and from 78th to 84th, respectively); while its rank in the Corruption Perceptions Index dropped 8 grades (from 96th to 104th).

The improvement of the rank in international rankings becomes more difficult and requires greater efforts as other economies have also attached importance to reform for higher global position. Besides, many indexes can only be improved with continuous efforts in several years, especially those relating to infrastructure, human resources and environmental and social elements. Therefore, it requires stronger, more resolute and accelerated involvement of ministries, sectors and localities in the reform of the business environment as well as the sharing and cooperation of the enterprise community and people.

To achieve the objectives set in the 2021-2025 five-year socio-economic development plan and the 2022 socio-economic development plan under the National Assembly’s resolutions and, at the same time, to support enterprises to restore and develop production and business and flexibly and effectively adapt to the situation amidst the Covid-19 pandemic, the Government promulgates the Resolution following Resolutions No. 02/NQ-CP and Resolutions No. 19/NQ-CP on improving the business environment and heightening the national competitiveness and requests ministries, sectors, localities and relevant agencies as well as organizations to concentrate efforts on the implementation thereof.

II. OBJECTIVES

1. General objectives

To vigorously improve the business environment, raising the country’s position in international rankings on business environment and competitiveness in order to adapt to the development trend of the Fourth Industrial Revolution and to enhance the resilience of the economy amidst the Covid-19 pandemic; to quickly increase the number of new enterprises; to lower the rate of dissolved or operation-suspended enterprises; to reduce input costs and unofficial costs for enterprises and people. To step up the removal of difficulties and problems due to negative impacts of the Covid-19 pandemic; and to promptly assist people and enterprises for them to restore production and business and effectively and flexibly adapt to the epidemic.

By 2025, the country’s ranks in competitiveness indexes will be as follows:

a/ The Global Competitiveness 4.0 (of the WEF): among 50 leading countries.

b/ The Sustainable Development Index (of the UN): among 40 leading countries.

c/ The Global Innovation Index (of WIPO): among 40 leading countries.

d/ The E-Government Development Index (of the UN): among 60 leading countries.

dd/ The International Property Rights Index (of the Property Rights Alliance): among 60 leading countries.

e/ The Logistics Performance Index[5] (of WB): up by at least 4 grades.

g/ The Travel and Tourism Competitiveness Index (of WEF):  among 50 leading countries.

h/ The International Cybersecurity Index (of ITU): Up by at least 3 grades.

2. A number of specific objectives in 2022

a/ To improve performance and raise the ranks in business environment and competitiveness indexes in synchrony with improving national credit ratings of Moody’s, S&P and Fitch.

b/ Regarding improvement of the rank on the WEF’s Global Competitiveness 4.0 (GCI 4.0) index:

- To increase the score and maintain the rank in the Burden of Government Regulation indicator[6] (B1).

- To raise the rank in the Incident of Corruption indicator[7] (B2) by 10 grades.

- To raise the rank in the Quality of Land Administration indicator[8]  (B3) by at least 1 grade.

- To raise the rank in the group of Infrastructure indicators[9] (B4) by 2-3 grades.

- To raise the rank in the group of ICT Adoption indicators [10] (B5) by 2-3 grades.

- To raise the rank in group of Quality of Vocational Training indicators[11] (B6) by at least 5 grades.

- To raise the rank in the Market Capitalization indicator[12] (B7) by 2-3 grades.

- To raise the rank in the R&D Expenditures indicator[13] (B8) by 2-3 grades.

- To raise the rank in the Growth of Innovative Companies indicator[14] (B9) by 2-3 grades.

- To raise the rank in the Companies Embracing Disruptive Ideas indicator[15] (B10) by 2-3 grades.

- To raise the rank in the Financing SMEs indicator[16] (B11) by 2-3 grades.

c/ Regarding improvement of position in the WIPO’s Global Innovation Index (GII):

- To raise the rank in the group of Information and Communication Technologies (ICTs) indicators[17] (C1) by at least 5 grades.

- To raise the rank in the Knowledge-Intensive Employment indicator[18](C2) by at least 5 grades.

- To raise the rank in the University-Industry R&D Collaboration indicator[19] (C3) by 2-3 grades.

- To raise the rank in the Environmental Performance indicator [20] (C4) by 10 grades.

- To raise the rank in the group of ICTs and Organizational Model Creation indicator[21] (C5) by 2-3 grades.

- To raise the rank in the group of Online Creativity indicators[22] (C6) by at least 5 grades.

- To raise the rank in the group of Tertiary Education indicators [23] (C7) by at least 5 grades.

- To raise the rank in the ICT Services Imports [24] (C8) and ICT Services Exports[25] (C9) indicators by at least 5 grades.

d/ Regarding improvement of the position in the Property Rights Alliance’ International Property Rights Index (IPRI):

- To improve the rank in the Judicial Independence indicator[26] (D1).

- To raise the rank in the Physical Property Right Sub-index (D2) by at least 5 grades.

- To raise the rank in the Intellectual Property Right Sub-index (D3) by 2-3 grades.

dd/ To increase scores in indicators of the UN Sustainable Development Ranking’s Goal 9 - Industry, Innovation and Sustainable Development.

III. MAJOR TASKS AND SOLUTIONS

1. To further enhance the accountability and sense of initiative of ministries assigned to act as the focal point in overseeing improvement of sets of indicators  (specified in Item 1, Appendix I) and ministries and sectors assigned to assume prime responsibility for the groups of indicators and sub-indicators (specified in Item 2, Appendix I).

a/ Ministries assigned to act as the focal point in overseeing improvement of sets of indicators  and ministries and sectors assigned to assume prime responsibility for the groups of indicators and sub-indicators shall:

- Update, guide, urge, and examine the implementation of relevant tasks and solutions at ministries, sectors and provincial-level People’s Committees; make timely recommendations and reports to the Government and Prime Minister for the latter to remove difficulties and bottlenecks on mechanisms, policies and solutions and arising tasks for improvement of indicators under their management.

- Take the initiative in connecting with international organizations; create coordination channels for providing and updating information in a prompt and adequate manner so as to ensure objective and accurate assessment and ranking.

- Assume prime responsibility for, and coordinate with the Ministry of Planning and Investment, the Government Office and related ministries and agencies in, formulating the reporting regime, monitoring the situation and results of improvement in the indicator sets and indicators as assigned; update such information on their reporting information systems and connect them with the Government’s reporting information system in service of direction and administration work.

b/ Ministries and agencies assuming prime responsibility for improving the business environment elements (specified in Appendix II)[27] shall continue applying solutions toward reducing the number of procedures, time, expenses and risks for enterprises, including: (i) Starting a business; (ii) Paying taxes and social insurance premiums; (iii) Dealing with construction permits and relevant procedures; (iv) Getting credit; (v) Protecting investors; (vi) Getting electricity; (vii) Registering property; (viii) Trading across border; (ix) Enforcing contracts; and (x) Resolving insolvency.

c/ The Ministry of Education and Training shall assume prime responsibility for, and coordinate with the Ministry of Labor, Invalids and Social Affairs, the Ministry of Finance and related ministries, sectors and localities in, studying the adjustment of statistical indicators in the education-training sector in order to ensure the conformity with international practices.

2. To attach importance to the implementation of following key tasks and solutions:

a/ Shortening the list of conditional investment and business lines and reforming business conditions.

b/ Concentrating on removing obstacles for investment and business activities due to overlap, contradiction, irrationality and disparity in legal provisions.

c/ Further boosting the reform of management and specialized inspection of imported and exported goods.

d/ Stepping up the reform of land registration and the renewal of land administration.

dd/ Implementing digital transformation tasks and solutions under the Prime Minister’s Decision No. 749/QD-TTg of June 3, 2020, approving the National Digital Transformation Program to 2025, with orientations toward 2030, simultaneously with administrative reform.

e/ Intensifying the reform, reducing and simplifying administrative procedures and business regulations in association with decentralization and power delegation to localities in parallel with inspection and oversight.

g/ Stepping up the application of solutions, aiming to create steady improvement of sustainable development goals.

h/ Further attaching importance to supporting people and enterprises to restore production and business and address negative impacts of the Covid-19 pandemic.

i/ Developing the innovative eco-system, supporting and encouraging innovative startups.

k/ Stepping up international cooperation activities in association with domestic reform related to business environment and raising national competitiveness.

Ministries, sectors, localities, and related agencies and organizations shall perform the specific tasks assigned in Appendix III to this Resolution.

III. ORGANIZATION OF IMPLEMENTATION

1. Ministers, heads of ministerial-level agencies and government-attached agencies and chairpersons of provincial-level People’s Committees shall:

a/ Determine the improvement of business environment and the heightening of competitiveness to be the priority central task; personally direct and be answerable to the Government and the Prime Minister for the results of implementation of this Resolution and other resolutions of the Government on improvement of the business environment and heightening of the national competitiveness.

b/ Before January 20, 2022, formulate and promulgate action programs and plans, specific documents on implementation of this Resolution, determining specific objectives, tasks and implementation schedules, projected results for every task and assigning units to take charge of implementation, then send them to the Ministry of Planning and Investment and the Government Office.

c/ Regularly inspect and oversee the progress and results of implementation of programs and plans on implementation of resolutions on improvement of the business environment and heightening of the national competitiveness; at the same time disclose inspection and oversight results; appoint units to act as the focal points in advising on, guiding, inspecting and synthesizing the situation on improvement of the business environment and heightening of the competitiveness by ministries, sectors and localities.

d/ Regularly organize dialogues and talks with people and enterprises in order to promptly grasp the policy feedback and settle difficulties and problems; ensure the official-duty disciplines on cadres and civil servants; severely handle cadres harassing and causing problems to enterprises; organize communications activities on improvement of the business environment and heightening of the competitiveness within the scope of their responsibility.

dd/ Before June 10 and December 10, 2022, send biannual and annual reports on the situation and results of implementation of this Resolution to the Ministry of Planning and Investment (the Central Institute for Economic Management) and the Government Office for the latter to sum up and report to the Government and Prime Minister at the Government’s regular June and year-end meetings.

2. The Ministry of Home Affairs shall study the incorporation of a number of indicators on assessment and ranking of the implementation of this Resolution into contents of annual surveys on administrative reform index and satisfaction index of public administrative service (SIPAS).

3. The Ministry of Planning and Investment shall assume the prime responsibility for, and coordinate with the Government Office and the National Council for Sustainable Development and Improvement of Competitiveness in, monitoring and assessing the situation and results of implementation of this Resolution, promptly report to the Government and the Prime Minister on difficulties and problems for settlement; annually publicize the monitoring and assessment results.

4. The Government Office shall apply information technology to design and collection of information in service of the direction and administration of the improvement of the business environment, heightening of the national competitiveness and sustainable development.

5. Business and trade associations shall monitor and conduct independent and regular assessment of the situation and results of implementation of this Resolution. The Vietnam Chamber of Commerce and Industry shall conduct surveys and annually publicize PCI indexes; and coordinate and incorporate the evaluation of results and impacts of this Resolution.

6. The Prime Minister’s Advisory Council for Reform of Administrative Procedures shall conduct surveys, assess and annually promulgate the Report on Administrative Procedure Cost Index (APCI).

7. The Vietnam News Agency, Voice of Vietnam, Vietnam Television and press agencies shall take the initiative in supporting ministries, agencies and localities in organizing public communication and dissemination of this Resolution widely among sectors and authorities and to people and enterprises; and intensify the monitoring and supervision of media and press agencies on the results of implementation of this Resolution.-

On behalf of the Government
Prime Minister
PHAM MINH CHINH

* The appendices to this Resolution are not translated.


[1] Công Báo Nos 141-142 (24/01/2022)

[2] In 2020 and 2021, due to impacts of Covid-19 pandemic, many international organizations did not promulgate annual ranking reports, including the Report on 4.0 Global Competitiveness of the World Economic Forum.

[3] This ranking table is promulgated once in every two years by the United Nations.

[4] 2016 was the first year the United Nations made the Global Sustainable Development (SDG) Ranking.

[5] Vietnam was ranked 39th in the latest Logistics Performance Index (2018). 

[6] Pillar 1, GCI 4.0 (2019)

[7] Pillar 1, GCI 4.0 (2019)

[8] Pillar 1, GCI 4.0 (2019)

[9] Pillar 2, GCI 4.0 (2019)

[10] Pillar 3, GCI 4.0 (2019)

[11] Pillar 6, GCI 4.0 (2010)

[12] Pillar 9, GCI 4.0 (2019)

[13] Pillar 12, GCI 4.0 (2019)

[14] Pillar 11, GCI 4.0 (2019)

[15] Pillar 11, GCI 4.0 (2019)

[16] Pillar 9, GCI 4.0 (2019)

[17] Pillar 3- Infrastructure, GII, (2021)

[18] Pillar 5- Business sophistication, GII (2021)

[19] Pillar 5- Business sophistication, GII (2021)

[20] Pillar 3- Infrastructure, GII (2021)

[21] Pillar 7, Creative Products, GII (2021)

[22] Pillar 7- Creative Products, GII, (2021)

[23] Pillar 2- Human Capital and Research, GII, (2021)

[24] Pillar 5- Business Sophistication, GII, (2021)

[25] Pillar 6- Knowledge and Technology Output, GII, (2021)

[26] The Legal and Political Sub-Index, IPRI, (2021)

[27] On September 16, 2021, the World Bank notified to stop promulgating the Doing Business report, not due to the question of approach, but to datum intervention from a number of countries. Hence, the search for and enforcement of solutions to heighten the quality of business environment linking with elements from Starting a Business to Resolving Insolvency remain appropriate and useful policy solutions which should be further maintained.

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem bản dịch TTXVN. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Văn bản này chưa có chỉ dẫn thay đổi
Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi
1900.6192 hoặc gửi câu hỏi tại đây

Tải ứng dụng LuatVietnam Miễn phí trên

Văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!