• Tổng quan
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung hợp nhất 

    Tính năng này chỉ có tại LuatVietnam.vn. Nội dung hợp nhất tổng hợp lại tất cả các quy định còn hiệu lực của văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính... trên một trang. Việc hợp nhất văn bản gốc và những văn bản, Thông tư, Nghị định hướng dẫn khác không làm thay đổi thứ tự điều khoản, nội dung.

    Khách hàng chỉ cần xem Nội dung hợp nhất là có thể nắm bắt toàn bộ quy định hiện hành đang áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

    =>> Xem hướng dẫn chi tiết cách sử dụng Nội dung hợp nhất

  • Tải về
Lưu
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Theo dõi VB
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Ghi chú
Báo lỗi
In

Báo cáo 172/BC-BPC Hà Nội 2026 khảo sát chấp hành pháp luật thi hành án hình sự

Ngày cập nhật: Chủ Nhật, 11/10/2026 20:50 (GMT+7)
Cơ quan ban hành: Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội
Số công báo:
Số công báo là mã số ấn phẩm được đăng chính thức trên ấn phẩm thông tin của Nhà nước. Mã số này do Chính phủ thống nhất quản lý.
Đang cập nhật
Số hiệu: 172/BC-BPC Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Báo cáo Người ký: Duy Hoàng Dương
Trích yếu: Kết quả khảo sát việc chấp hành pháp luật về thi hành án hình sự, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; chính sách hỗ trợ và điều kiện cơ sở vật chất tại một số đơn vị thuộc Công an thành phố Hà Nội
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
30/09/2026
Ngày hết hiệu lực:
Ngày hết hiệu lực là ngày, tháng, năm văn bản chính thức không còn hiệu lực (áp dụng).
Đang cập nhật
Ngày áp dụng:
Ngày áp dụng là ngày, tháng, năm văn bản chính thức có hiệu lực (áp dụng).
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Lĩnh vực: Tư pháp-Hộ tịch Chính sách

TÓM TẮT BÁO CÁO 172/BC-BPC

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải Báo cáo 172/BC-BPC

Tải văn bản tiếng Việt (.pdf) Báo cáo 172/BC-BPC PDF (Bản có dấu đỏ)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
HĐND
THÀNH
PHỐ
HÀ
NỘI
BAN
PHÁP
CHẾ
Số:172
/BC-BPC
CỘNG
HOÀ
XÃ
HỘI
CHỦ
NGHĨA
VIỆT
NAM
Độc
lập
-
Tự
do
-
Hạnh
phúc
Hà
Nội,
ngày
30
tháng
9
năm
2026
BÁO
CÁО
Kết
quả
khảo
sát
việc
chấp
hành
pháp
luật
về
thi
hành
án
hình
sự,
thi
hành
tạm
giữ,
tạm
giam
và
cấm
đi
khỏi
nơi
cư
trú;
chính
sách
hỗ
trợ
và
điều
kiện
cơ
sở
vật
chất
tại
một
số
đơn
vị
thuộc
Công
an
thành
phố
Hà
Nội
Thực
hiện
Chương
trình
công
tác
năm
2026,
Ban
Pháp
chế
HĐND
Thành
phố
đã
ban
hành
Kế
hoạch
số
157/KH-BPC
ngày
11/9/2026
của
Ban
Pháp
chế
HĐND
Thành
phố
về
khảo
sát
việc
chấp
hành
pháp
luật
về
thi
hành
án
hình
sự,
thi
hành
tạm
giữ,
tạm
giam
và
cấm
đi
khỏi
nơi
cư
trú;
chính
sách
hỗ
trợ
và
điều
kiện
cơ
sở
vật
chất
tại
một
số
đơn
vị
thuộc
Công
an
thành
phố
Hà
Nội.
Ban
Pháp
chế
đã
tiến
hành
khảo
sát
trực
tiếp
tại
Trại
tạm
giam
số
1,
Trại
tạm
giam
số
2,
Công
an
xã
An
Khánh
và
nghiên
cứu
báo
cáo
của
Công
an
xã
Mỹ
Đức,
Công
an
xã
Quang
Minh,
Công
an
phường
Thanh
Xuân.
Ban
Pháp
chế
HĐND
Thành
phố
báo
cáo
kết
quả
khảo
sát
cụ
thể
như
sau:
I.
KHÁI
QUÁT
TÌNH
HÌNH
Thời
gian
khảo
sát
là
giai
đoạn
có
nhiều
thay
đổi
lớn
về
tổ
chức
bộ
máy
và
pháp
luật
liên
quan
trực
tiếp
đến
công
tác
thi
hành
án
hình
sự,
thi
hành
tạm
giữ,
tạm
giam
và
cẩm
đi
khỏi
nơi
cư
trú.
Luật
Thi
hành
án
hình
sự
năm
2025
và
Luật
Thi
hành
tạm
giữ,
tạm
giam
và
cấm
đi
khỏi
nơi
cự
trú
năm
2025
có
hiệu
lực
từ
ngày
01/7/2026;
đồng
thời
việc
tổ
chức
chính
quyền
địa
phương
hai
cấp,
không
tổ
chức
Công
an
cấp
huyện
làm
tăng
nhiệm
vụ
trực
tiếp
cho
Công
an
cấp
xã.
Khối
lượng
công
việc
của
hệ
lực
lượng
tăng
cao.
Theo
báo
cáo
của
Công
an
Thành
phố,
số
đối
tượng
bị
bắt,
tạm
giữ,
tạm
giam
đưa
vào
các
cơ
sở
giam
giữ
trong
kỳ
tăng
40,3%
so
với
cùng
kỳ
năm
2025;
đến
cuối
kỳ
khảo
sát
các
cơ
sở
giam
giữ
thuộc
Công
an
Thành
phổ
đang
quản
lý
11.223
người.
Công
an
Thành
phố
đồng
thời
quản
lý
số
lượng
lớn
người
chấp
hành
án
hình
sự
tại
cộng
đồng
(10.389
người).
Tại
Trại
tạm
giam
số
1,
thời
điểm
ngày
01/9/2026
đang
quản
lý
6.371
người,
trong
dó
5.936
người
tại
Trụ
sở
chính
và
435
người
tại
các
Phân
trại
tạm
giam.
Trại
tạm
giam
số
2
đến
ngày
31/8/2026
đang
quản
lý
4.852
người;
riêng
tháng
8/2026
quản
lý
5.641
lượt
đối
tượng,
tăng
39,7%
so
với
cùng
kỳ
năm
2025.
So
với
nhu
cầu
thực
tế
và
quy
mô
được
Bộ
Công
an
phê
duyệt
theo
Quyết
định
số
6122/QĐ-BCA-C11
ngày
16/7/2025
thì
Công
an
Thành
phố
đang
thiếu
4.406
chỗ
giam
giữ,
trong
đó
Trại
tạm
giam
số
1
thiếu
2.879
chỗ,
Trại
tạm
giam
số
2
thiếu
1.527
chỗ.
SAO Y; Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND TP Hà Nội
Giờ ký: 30/09/2026 17:18:16
2
Tình
hình
trên
tạo
áp
lực
lớn
đối
với
công
tác
phân
loại,
bố
trí
giam
giữ,
quản
giáo,
canh
gác,
y
tế,
hậu
cần,
cơ
sở
vật
chất;
đồng
thời
đặt
ra
yêu
cầu
cao
hơn
đổi
với
công
tác
quản
lý,
giám
sát
người
chấp
hành
án
tại
cộng
đồng
và
người
bị
áp
dụng
biện
pháp
cấm
đi
khỏi
nơi
cư
trú.
II.
KẾT
QUẢ
KHẢO
SÁT
1.
Công
tác
lãnh
đạo,
chỉ
đạo
và
triển
khai
thực
hiện
pháp
luật
Công
an
Thành
phố
đã
chủ
động
tham
mưu
UBND
Thành
phố,
triển
khai
các
luật,
nghị
định,
thông
tư
và
văn
bản
hướng
dẫn
mới
nhất
là
Luật
số
127/2025/QH15,
Luật
số
128/2025/QH15;
xây
dựng
các
chương
trình,
kế
hoạch,
đặc
biệt
là
7
quy
trình
nghiệp
vụ
để
quy
định
rõ
người,
rõ
việc,
rõ
tiến
độ,
rõ
trách
nhiệm;
tổ
chức
quán
triệt,
tập
huấn,
kiểm
tra,
hướng
dẫn
đối
với
các
cơ
sở
giam
giữ
và
Công
an
cấp
xã.
Công
tác
kiểm
tra
được
quan
tâm.
Công
an
Thành
phố
đã
tổ
chức
kiểm
tra
đột
xuất
công
tác
quản
lý
tạm
giữ,
tạm
giam
tại
9
Phân
trại
tạm
giam;
kiểm
tra
công
tác
thi
hành
án
hình
sự
tại
cộng
đồng
và
tái
hòa
nhập
cộng
đồng
tại
05
Công
an
xã,
phường
để
kịp
thời
phát
hiện,
chấn
chỉnh
tổn
tại,
thiểu
sót.
Qua
khảo
sát
cho
thấy
các
đơn
vị
đã
có
nhiều
cố
gắng
trong
việc
chuyển
đổi
quy
trình,
hồ
sơ,
số
sách
và
phân
công
nhiệm
vụ
khi
các
quy
định
pháp
luật
mới
có
hiệu
lực
từ
ngày
01/7/2026;
cơ
bản
bảo
đảm
hoạt
động
không
bị
gián
đoạn
trong
quá
trình
sắp
xếp
tổ
chức
bộ
máy
và
thực
hiện
các
quy
định
mới.
2.
Công
tác
quản
lý,
thi
hành
tạm
giữ,
tạm
giam
và
thi
hành
án
phạt
tù
Các
Trại
tạm
giam
đã
cơ
bản
thực
hiện
việc
tiếp
nhận,
phân
loại,
bố
trí
giam
giữ;
quản
lý
hồ
sơ,
thời
hạn;
thực
hiện
chế
độ
ăn,
ở,
mặc,
chăm
sóc
y
tế,
thăm
gặp,
nhận
quà,
sinh
hoạt
văn
hóa,
giáo
dục
và
các
chế
độ
đối
với
người
bị
tạm
giữ,
người
bị
tạm
giam,
phạm
nhân
theo
quy
định.
Trong
kỳ,
PC10,
Trại
tạm
giam
số
1
và
Trại
tạm
giam
số
2
đã
phục
vụ
18
lượt
kiểm
sát
trực
tiếp
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
Thành
phố
(PC10:
01
lượt,
Trại
tạm
giam
số
1:
04
lượt;
Trại
tạm
giam
số
2:
13
lượt);
qua
kiểm
sát
ban
hành
16
kết
luận
(còn
02
kết
luận
đang
dự
thảo).
Các
đơn
vị
đã
tổ
chức
quán
triệt,
phân
công
trách
nhiệm,
rà
soát
và
khắc
phục
các
tồn
tại,
thiếu
sót;
đến
thời
điểm
báo
cáo
không
còn
kiến
nghị
chưa
thực
hiện
hoặc
đang
thực
hiện,
không
phát
sinh
kháng
nghị.
Công
an
Thành
phố
đã
chỉ
đạo
các
đơn
vị
rút
kinh
nghiệm,
xác
định
trách
nhiệm
của
từng
bộ
phận
và
tăng
cường
tự
kiểm
tra
nhằm
phòng
ngừa
vi
phạm.
Về
giải
quyết
khiếu
nại,
tố
cáo:
theo
báo
cáo,
Trại
tạm
giam
số
1
và
Trại
tạm
giam
số
2
không
nhận
được
đơn
thư
khiểu
nại,
tổ
cáo
trong
công
tác
quản
lý,
thi
hành
tạm
giữ,
tạm
giam
và
thi
hành
án
hình
sự
trong
kỳ
khảo
sát.
Để
nghị
tiếp
tục
duy
trì
việc
tiếp
nhận,
phân
loại,
xử
lý
và
theo
dõi
đơn
thư
theo
đúng
thẩm
quyền,
bảo
đảm
quyền
khiểu
nại,
tố
cáo
của
người
bị
tạm
giữ,
người
bị
tạm
giam,
phạm
nhân
và
các
tô
chức,
cá
nhân
có
liên
quan.
Trại
tạm
giam
số
2
trong
kỳ
không
xảy
ra
trường
hợp
đối
tượng
giam
giữ
trốn
hoặc
chết
do
tự
sát;
công
tác
quản
lý,
giáo
dục,
phòng
ngừa
vi
phạm
được
3
tăng
cường.
Trong
điều
kiện
lưu
lượng
giam
giữ
cao,
đơn
vị
đã
duy
trì
an
ninh,
an
toàn
cơ
sở
giam
giữ
và
chủ
động
phát
hiện,
ngăn
chặn
một
số
trường
hợp
có
nguy
cơ
tự
sát.
Trại
tạm
giam
số
1
đã
xảy
ra
01
trường
hợp
người
bị
tạm
giam
tự
sát
trong
quá
trình
giám
định
tâm
thần
ngày
10/02/2026
và
01
trường
hợp
người
bị
tạm
giữ
bỏ
trốn
trong
quá
trình
điều
trị
tại
Bệnh
viện
đa
khoa
Sóc
Sơn
ngày
30/3/2026,
sau
đó
đã
bắt
lại
vào
ngày
01/4/2026.
Đây
là
các
vụ
việc
cần
được
nghiêm
túc
đánh
giá
về
nguyên
nhân,
trách
nhiệm
và
giải
pháp
phòng
ngừa.
Thông
qua
tự
kiểm
tra,
Trại
tạm
giam
số
1
còn
phát
hiện
07
cán
bộ
quản
giáo
phụ
trách
trực
tiếp
buồng
giam
để
can,
phạm
nhận
cất
giấu
đồ
vật
cấm
là
thuốc
lá,
thuốc
lào;
trong
đó
06
cán
bộ
bị
xử
lý
kỷ
luật
bằng
hình
thức
khiển
trách,
01
cán
bộ
bị
đánh
giá,
xếp
loại
không
hoàn
thành
nhiệm
vụ.
3.
Công
tác
thi
hành
án
hình
sự
tại
cộng
đồng
và
thi
hành
biện
pháp
cấm
đi
khỏi
nơi
cư
trú
Đối
với
Công
an
4
xã,
phường
được
khảo
sát,
trong
kỳ
tiếp
nhận
mới
79
đối
tượng
quản
lý,
giám
sát,
giáo
dục
trên
địa
bàn;
tổng
số
đối
tượng
trong
diện
quản
lý
tại
thời
điểm
báo
cáo
là
458
đối
tượng,
trong
đó:
Án
treo:
434;
cải
tạo
không
giam
giữ:
16;
hoãn/tạm
hoãn
chấp
hành
án
phạt
tù:
07;
cấm
đảm
nhiệm
chức
vụ,
cấm
hành
nghề
hoặc
làm
chức
vụ
nhất
định:
01
trường
hợp.
Công
an
các
xã,
phường
được
khảo
sát
đã
chủ
động
quán
triệt,
triển
khai
các
văn
bản
mới,
làm
tốt
vai
trò
tham
mưu
với
UBND
cấp
xã,
đồng
thời
chủ
động
tiếp
nhận
hồ
sơ,
triệu
tập
người
chấp
hành
án,
phổ
biến
quyền,
nghĩa
vụ;
phân
công
cán
bộ
quản
lý,
giám
sát,
giáo
dục;
duy
trì
kiểm
danh,
kiểm
diện,
nhận
xét
định
kỳ
và
phối
hợp
với
chính
quyền,
Mặt
trận
Tổ
quốc,
các
đoàn
thể,
tổ
dân
phố,
gia
đình
trong
quản
lý,
giáo
dục
đối
tượng.
Công
an
xã
Mỹ
Đức,
Công
an
xã
Quang
Minh
đã
bố
trí
cán
bộ
thực
hiện
công
tác
thi
hành
án
hình
sự
và
cấm
đi
khỏi
nơi
cư
trú;
duy
trì
hồ
sơ,
kiểm
danh,
kiểm
diện
và
phối
hợp
với
lực
lượng
tham
gia
bảo
vệ
an
ninh,
trật
tự
ở
cơ
sở.
Tuy
nhiên
Công
an
xã
Mỹ
Đức
hiện
chỉ
có
01
cán
bộ
kiêm
nhiệm
lĩnh
vực
này,
đồng
thời
phải
thực
hiện
nhiều
nhiệm
vụ
khác
nên
việc
quản
lý,
giám
sát
có
thời
điểm
chưa
thực
sự
sâu
sát;
cán
bộ
chưa
được
đào
tạo
chuyên
sâu
về
lĩnh
vực
thi
hành
án
hình
sự.
Tại
Công
an
xã
An
Khánh,
việc
tiếp
nhận,
quản
lý
người
chấp
hành
án
cơ
bản
được
thực
hiện
tốt.
Tuy
nhiên
đơn
vị
phản
ánh
còn
tình
trạng
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
chuyển
lệnh
cấm
đi
khỏi
nơi
cư
trú,
hồ
sơ
và
tài
liệu
có
thời
điểm
chưa
kịp
thời;
số
cán
bộ
làm
nhiệm
vụ
còn
mỏng,
kiêm
nhiệm;
việc
phối
hợp
với
một
số
đoàn
thể,
thôn,
tổ
dân
phố
có
lúc
còn
hình
thức.
Dữ
liệu
giữa
hồ
sơ
giấy
và
dữ
liệu
điện
tử
có
trường
hợp
chưa
đồng
nhất;
việc
cập
nhật
thông
tin
biến
động
của
đối
tượng
chưa
thường
xuyên,
một
số
cán
bộ
còn
lúng
túng
khi
khai
thác
phần
mềm.
Công
an
phường
Thanh
Xuân
đã
chủ
động
triển
khai
nhiệm
vụ
mới
về
thi
hành
biện
pháp
cẩm
đi
khỏi
nơi
cư
trú;
lập
hỗ
sơ,
thực
hiện
kiểm
tra,
giám
sát
và
4
phối
hợp
với
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng.
Tuy
nhiên,
khối
lượng
công
việc
tại
địa
bàn
đông
dân
lớn;
người
chấp
hành
án
thường
xuyên
đi
làm
ăn
xa,
thay
đổi
nơi
cư
trú
gây
khó
khăn
trong
quản
lý,
xác
minh
và
trao
đổi
thông
tin
giữa
các
địa
phương.
Đối
với
04
Công
an
xã,
phường
được
khảo
sát,
từ
01/01/2026
đến
31/8/2026,
có
04
đối
tượng
vi
phạm
nghĩa
vụ,
bỏ
đi
khỏi
nơi
cư
trú,
tái
phạm
tội,
phạm
tội
mới,
cụ
thể:
Công
an
phường
Thanh
Xuân:
02
trường
hợp,
Công
an
xã
Mỹ
Đức
và
Công
an
xã
Quang
Minh
mỗi
nơi
01
trường
hợp.
4.
Việc
thực
hiện
chế
độ,
chính
sách
hỗ
trợ
Việc
triển
khai
Nghị
quyết
số
02/2026/NQ-HĐND
và
Nghị
quyết
số
80/2025/NQ-HĐND
được
thực
hiện
kịp
thời,
đúng
đối
tượng;
qua
báo
cáo
của
các
đơn
vị
không
phát
sinh
trường
hợp
chậm,
thiếu
chế
độ.
Chính
sách
hỗ
trợ
đã
có
tác
động
tích
cực,
góp
phần
động
viên
cán
bộ,
chiến
sĩ
thực
hiện
nhiệm
vụ
có
tính
chất
đặc
thù,
áp
lực
cao;
nhất
là
lực
lượng
trực
tiếp
làm
công
tác
quản
lý
giam
giữ
và
Công
an
cấp
xã
trong
điều
kiện
khối
lượng
nhiệm
vụ
tăng.
5.
Cơ
sở
vật
chất,
trang
thiết
bị
và
chuyển
đổi
số
Công
an
Thành
phố
đã
quan
tâm
bố
trí
kinh
phí
sửa
chữa,
cải
tạo
cơ
sở
giam
giữ,
nâng
cấp
hệ
thống
kiểm
soát
an
ninh,
camera,
trang
thiết
bị;
đồng
thời
triển
khai
các
dự
án
đầu
tư
xây
dựng,
mở
rộng
Trại
tạm
giam
số
1
và
Trại
tạm
giam
số
2.
Tuy
nhiên,
nhu
cầu
thực
tế
còn
rất
lớn.
Tại
Trại
tạm
giam
số
1,
tổng
số
chỗ
giam
giữ
đã
xây
dựng
là
3.221
chỗ,
còn
thiếu
2.879
chỗ
so
với
nhu
cầu
và
quy
mô
được
phê
duyệt,
nhiều
công
trình
được
xây
dựng
từ
lâu,
một
số
hạng
mục
xuống
cấp;
một
số
camera,
màn
hình
hiển
thị
chất
lượng
thấp,
lỗi
đường
truyền
ảnh
hưởng
đến
việc
giám
sát
tập
trung.
Số
lượng
người
mắc
bệnh
hiểm
nghèo,
bệnh
truyền
nhiễm,
bệnh
tâm
thần,
nghiện
ma
túy
phải
điều
trị
ngày
càng
tăng
trong
khi
nhân
lực
và
trang
thiết
bị
y
tế
còn
hạn
chế.
Tại
Trại
tạm
giam
số
2,
tổng
số
chỗ
giam
giữ
đã
xây
dựng
là
3.123
chỗ,
còn
thiếu
1.527
chỗ
so
với
nhu
cầu
và
quy
mô
được
phê
duyệt;
127
camera
có
chất
lượng
kém.
Một
số
Phân
trại
được
tiếp
nhận
từ
cơ
sở
cũ,
cơ
sở
vật
chất
và
hệ
thống
kỹ
thuật
chưa
đồng
bộ.
Ở
Công
an
cấp
xã,
điều
kiện
cơ
sở
vật
chất
chưa
đồng
đều.
Công
an
phường
Thanh
Xuân,
Công
an
xã
An
Khánh
hiện
mới
bố
trí
01
máy
tính
và
01
máy
in
sử
dụng
chung,
chưa
có
máy
scan,
thiết
bị
lưu
trữ
và
phương
tiện
kiểm
tra
chuyên
dụng;
nhu
cầu
bỗ
sung
tủ
hồ
sơ
chuyên
dụng
và
điều
kiện
bảo
đảm
an
toàn,
bảo
mật
hỗ
sơ
còn
lớn.
Qua
khảo
sát
cho
thấy
điều
kiện
cơ
sở
vật
chất
giữa
các
đơn
vị
chưa
đồng
đều
và
chưa
tương
xứng
với
khối
lượng
nhiệm
vụ
tăng
thêm.
Đối
với
hai
Trại
tạm
giam,
tỉnh
trạng
thiếu
chỗ
giam
giữ,
một
số
hạng
mục
xuống
cấp,
camera
chất
lượng
thấp,
hạ
tầng
truyền
dẫn
và
trang
thiết
bị
y
tế
còn
hạn
chế
đang
tạo
áp
lực
trực
tiếp
đối
với
công
tác
phân
loại,
quản
lý,
giám
sát
và
bảo
đảm
an
ninh,
an
toàn.
5
Đối
với
Công
an
cấp
xã,
cần
quan
tâm
bổ
sung
máy
tính,
máy
scan,
thiết
bị
lưu
trữ,
tủ
hồ
sơ
chuyên
dụng
và
điều
kiện
bảo
mật
để
thực
hiện
các
nhiệm
vụ
mới
được
phân
cấp.
III.
TỒN
TẠI,
HẠN
CHẾ
1.
Công
tác
quản
lý
giam
giữ
vẫn
còn
để
xảy
ra
vụ
việc
ảnh
hưởng
đến
an
ninh,
an
toàn
cần
nghiêm
túc
rút
kinh
nghiệm.
(1).
Việc
xảy
ra
trường
hợp
người
bị
tạm
giam
tự
sát
trong
thời
gian
giám
định
tâm
thần
và
người
bị
tạm
giữ
bỏ
trốn
trong
quá
trình
điều
trị
tại
bệnh
viện
cho
thấy
vẫn
còn
sơ
hở
trong
tổ
chức
canh
gác,
giám
sát
và
quản
lý
đối
tượng
khi
đưa
ra
ngoài
cơ
sở
giam
giữ.
Qua
báo
cáo
của
Trại
tạm
giam
số
1,
nguyên
nhân
chủ
quan
được
xác
định
có
việc
một
số
cán
bộ
thiếu
tinh
thần
trách
nhiệm,
chủ
quan,
lơ
là,
mất
cảnh
giác,
chưa
thực
hiện
đầy
dủ
quy
trình
nghiệp
vụ;
việc
nắm
tình
hình,
diễn
biến
tâm
lý
đối
tượng
có
thời
điểm
chưa
kịp
thời.
Một
số
cấp
ủy,
chỉ
huy
chưa
sâu
sát
trong
kiểm
tra,
đôn
đốc
cán
bộ
thực
hiện
nhiệm
vụ.
(2).
Việc
07
cán
bộ
quản
giáo
để
can,
phạm
nhân
cất
giấu
đồ
vật
cấm
cho
thấy
công
tác
kiểm
tra
buồng
giam,
kiểm
soát
vật
cấm
và
quản
lý
cán
bộ
ở
một
số
vị
trí
chưa
bảo
đảm
yêu
cầu.
2.
Một
số
nội
dung
nghiệp
vụ,
hồ
sơ
còn
hạn
chế
(1).
Qua
kiểm
sát,
kiểm
tra
còn
phát
hiện
một
số
thiếu
sót
về
hồ
sơ,
số
sách,
nhận
xét
quá
trình
chấp
hành
nội
quy;
việc
lựa
chọn
một
số
phạm
nhân
tham
gia
Ban
tự
quản
chưa
bảo
đảm
đầy
đủ
điều
kiện;
việc
bàn
giao
giữa
cán
bộ
quản
giáo
có
thời
điểm
chưa
chặt
chẽ.
(2).
Tại
Công
an
cấp
xã,
việc
ghi
chép,
cập
nhật
hồ
sơ,
dữ
liệu
có
nơi
chưa
đầy
đủ,
chưa
kịp
thời;
kỹ
năng
thực
hiện
các
quy
trình
mới
của
một
bộ
phận
cán
bộ
chưa
đồng
đều.
Bên
cạnh
kết
quả
đã
khắc
phục
các
kiến
nghị
của
Viện
kiểm
sát,
cần
tiếp
tục
theo
dõi
việc
duy
trì
kết
quả
khắc
phục
sau
kiểm
sát,
tránh
để
tái
diễn
các
thiếu
sốt
đã
được
chỉ
ra;
đồng
thời
tăng
cường
tự
kiểm
tra,
kiểm
tra
chéo
hồ
sơ
và
trách
nhiệm
của
người
dứng
đầu.
Việc
không
phát
sinh
khiếu
nại,
tố
cáo
trong
kỳ
là
tín
hiệu
tích
cực,
nhưng
vẫn
cần
duy
trì
đầy
đủ
cơ
chế
tiếp
nhận,
giải
quyết,
lưu
trữ
và
kiểm
soát
thời
hạn
giải
quyết
theo
quy
định.
3.
Việc
phối
hợp
giữa
các
cơ
quan
có
thời
điểm
chưa
kịp
thời
(1).
Một
số
lệnh
cấm
đi
khỏi
nơi
cư
trú
được
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
chuyển
đến
Công
an
cấp
xã
chậm;
cá
biệt
khi
Công
an
cấp
xã
tiếp
nhận
thì
thời
hạn
ghi
trong
lệnh
đã
hết
hoặc
gần
hết.
(2).
Một
số
bản
án,
quyết
định
và
tài
liệu
liên
quan
đến
đưa
người
bị
kết
án
đi
chấp
hành
án
còn
sai
sót
hoặc
chuyền
chậm,
ảnh
hưởng
tiển
độ
hoàn
thiện
hồ
sơ.
(3).
Cơ
chế
phối
hợp
giữa
cơ
sở
giam
giữ
và
bệnh
viện
trong
quản
lý
người
bị
tạm
giữ,
tạm
giam,
phạm
nhân
điều
trị
ngoài
cơ
sở
giam
giữ
chưa
thật
6
sự
đồng
bộ;
nhiều
cơ
sở
y
tế
chưa
có
khu
vực
điều
trị
riêng,
làm
tăng
nguy
cơ
mất
an
ninh,
an
toàn.
4.
Nhân
lực
và
điều
kiện
bảo
đảm
nhiệm
vụ
chưa
đáp
ứng
đầy
đủ
yêu
cầu
(1).
Khối
lượng
công
việc
tăng
nhanh
nhưng
biên
chế
tại
một
số
đơn
vị
còn
hạn
chế.
Ở
Công
an
cấp
xã,
cán
bộ
thực
hiện
công
tác
thi
hành
án
hình
sự
phần
lớn
kiêm
nhiệm
nhiều
lĩnh
vực
khác
nên
việc
quản
lý,
gặp
gỡ,
giáo
dục
từng
trường
hợp
có
thời
điểm
chưa
sâu
sát.
(2).
Nhân
lực
y
tế
tại
các
cơ
sở
giam
giữ
còn
hạn
chế
trong
khi
số
người
mắc
bệnh
nặng,
bệnh
truyền
nhiễm,
bệnh
tâm
thần
và
nghiện
ma
túy
có
chiều
hướng
tăng.
(3).
Cơ
sở
vật
chất
tại
các
Trại,
Phân
trại
còn
thiếu,
xuống
cấp;
hệ
thống
camera
và
hạ
tầng
truyền
dẫn
chưa
đồng
bộ.
Trang
thiết
bị
phục
vụ
quản
lý
hồ
sơ,
số
hóa
và
kiểm
tra
tại
Công
an
cấp
xã
còn
thiếu.
5.
Chuyển
đổi
số
và
quản
lý
dữ
liệu
còn
bất
cập
(1).
Việc
kết
nối,
cập
nhật
và
khai
thác
dữ
liệu
giữa
Công
an
Thành
phố,
cơ
sở
giam
giữ
và
Công
an
cấp
xã
chưa
thực
sự
đồng
bộ.
Một
số
thông
tin
giữa
hồ
sơ
giấy
và
hệ
thống
diện
tử
chưa
thống
nhất;
dữ
liệu
chưa
được
cập
nhật
kịp
thời
khi
đối
tượng
thay
đổi
nơi
cư
trú,
nơi
làm
việc.
(2).
Một
số
lĩnh
vực
vẫn
phải
tổng
hợp
báo
cảo
thủ
công,
chưa
có
phần
mềm
quản
lý
thống
nhất,
làm
tăng
thời
gian
xử
lý
và
nguy
cơ
sai
lệch
số
liệu.
IV.
NGUYÊN
NHÂN
VÀ
TRÁCH
NHIỆM
1.
Nguyên
nhân
khách
quan
(1).
Khối
lượng
người
bị
tạm
giữ,
tạm
giam
và
người
chấp
hành
án
tại
cộng
đồng
tăng
cao;
tính
chất
đối
tượng
ngày
càng
đa
dạng,
phức
tạp.
(2).
Các
quy
dịnh
mới
của
pháp
luật
mới
có
hiệu
lực
từ
ngày
01/7/2026,
đồng
thời
với
việc
triển
khai
mô
hình
chính
quyền
địa
phương
hai
cấp
và
sắp
xếp
tổ
chức
Công
an
địa
phương,
làm
phát
sinh
nhiều
nhiệm
vụ
mới
trong
thời
gian
ngắn.
(3).
Một
số
cơ
sở
giam
giữ
được
xây
dựng
từ
lâu,
quy
mô
và
công
năng
không
còn
đáp
ứng
lưu
lượng
thực
tế;
kinh
phí
đầu
tư
các
dự
án
lớn
cần
nhiều
thời
gian
triển
khai.
(4).
Người
chấp
hành
án
tại
cộng
đồng
thường
xuyên
thay
đổi
nơi
cư
trú,
nơi
làm
việc,
đi
làm
ăn
xa;
dịa
bàn
các
xã,
phường
sau
sắp
xếp
rộng,
dân
số
đông,
gây
khó
khăn
cho
công
tác
quản
lý.
2.
Nguyên
nhân
chủ
quan
(1).
Một
bộ
phận
cán
bộ
chưa
thực
sự
nêu
cao
tinh
thần
trách
nhiệm,
còn
chủ
quan,
lơ
là,
mất
cảnh
giác;
kỹ
năng
xử
lý
tình
huống
và
nắm
bắt
diễn
biến
tur
tưởng,
tâm
lý
của
đối
tượng
có
lúc
còn
hạn
chế.
7
(2).
Công
tác
kiểm
tra,
đôn
đốc
của
một
số
cấp
ủy,
chỉ
huy
có
thời
điểm
chưa
sâu
sát;
việc
kiểm
tra
ở
một
số
nơi
còn
hình
thức,
chưa
kịp
thời
phát
hiện
và
ngăn
ngừa
nguy
cơ.
(3).
Việc
tập
huấn,
hướng
dẫn
một
số
nghiệp
vụ
mới
chưa
đáp
ứng
đầy
đủ
yêu
cầu;
năng
lực
ứng
dụng
công
nghệ
thông
tin
của
cán
bộ
chưa
đồng
đều.
(4).
Công
tác
phối
hợp,
trao
đổi
thông
tin
giữa
một
số
ca
cơ
quan,
đơn
vị
chưa
thường
xuyên,
kịp
thời;
chất
lượng
cập
nhật,
đối
chiếu
và
tổng
hợp
số
liệu
chưa
chặt
chẽ.
3.
Về
trách
nhiệm
(1).
Đối
với
các
vụ
việc
mất
an
ninh,
an
toàn
đã
xảy
ra
tại
Trại
tạm
giam
số
1,
trách
nhiệm
trực
tiếp
trước
hết
thuộc
cán
bộ
được
phân
công
thực
hiện
nhiệm
vụ
canh
gác,
quản
lý,
giám
sát
nhưng
chưa
thực
hiện
đầy
đủ
quy
trình,
thiếu
cảnh
giác;
đồng
thời
có
trách
nhiệm
của
cấp
chỉ
huy
trực
tiếp
trong
công
tác
kiểm
tra,
độn
đốc,
quản
lý
cán
bộ.
Những
nội
dung
này
cần
tiếp
tục
được
xem
xét
cụ
thể
trên
cơ
sở
kết
luận
kiểm
tra,
xử
lý
của
cơ
quan
có
thẩm
quyền.
(2).
Đối
với
những
hạn
chế
về
hồ
sơ,
sổ
sách,
cập
nhật
dữ
liệu,
trách
nhiệm
thuộc
cán
bộ
trực
tiếp
được
phân
công
và
lãnh
đạo
đơn
vị
trong
việc
tổ
chức
kiểm
tra,
hướng
dẫn,
chuẩn
hóa
nghiệp
vụ.
(3).
Đối
với
việc
chuyển
chậm
lệnh,
bản
án,
quyết
định
và
tài
liệu
liên
quan,
cần
xác
định
rõ
trách
nhiệm
của
cơ
quan
ban
hành,
chuyễn
giao
và
tiếp
nhận
hồ
sơ
tại
từng
vụ
việc
để
có
giải
pháp
khắc
phục.
(4).
Đối
với
các
bất
cập
về
cơ
sở
vật
chất,
trang
thiết
bị
và
phần
mềm,
ngoài
trách
nhiệm
chủ
động
tham
mưu,
sử
dụng
hiệu
quả
nguồn
lực
của
từng
đơn
vị
còn
có
trách
nhiệm
của
Công
an
Thành
phố
và
các
cơ
quan
có
liên
quan
trong
việc
bố
trí
nguồn
lực,
triển
khai
các
dự
án
và
chuẩn
hóa
hệ
thống
quản
lý.
V.
KIÉN
NGHỊ
Trên
cơ
sở
tổng
hợp
báo
cáo
của
Công
an
Thành
phố,
báo
cáo
của
các
phòng
chức
năng
và
Công
an
các
xã,
phường,
Ban
Pháp
chế
HĐND
Thành
phổ
có
một
số
kiến
nghị
như
sau:
1.
Đối
với
các
cơ
quan
Trung
ương
(1).
Đề
nghị
có
hướng
dẫn
cụ
cụ
thể
về
điểm
b
Khoản
2
Điều
14
của
Luật
Thi
hành
tạm
giữ
tạm
giam
và
cấm
đi
khỏi
nơi
cư
trú
về
thu
thập
sinh
trắc
học;
điểm
c
Khoản
1
Điều
15
Luật
Thi
hành
tạm
giữ
tạm
giam
và
cấm
đi
khỏi
nơi
cư
trú
về
tài
liệu
về
kết
quả
sinh
trắc
học
đối
với
người
bị
tạm
giữ,
người
bị
tạm
giam,
đồng
thời
trang
cấp
thiết
bị
để
triển
khai
thực
hiện
theo
quy
dịnh.
(2).
Nghiên
cứu
ban
hành
đầy
đủ,
đồng
bộ
các
nghị
định,
thông
tư,
quy
trình
nghiệp
vụ,
biều
mẫu,
số
sách
hướng
dẫn
thực
hiện
Luật
thi
hành
án
hình
sự
năm
2025
(Luật
số
127/2025/QH15)
nhất
là
các
nhiệm
vụ
được
phân
cấp
cho
Công
an
cấp
xã.
8
(3).
Tiếp
tục
quan
tâm,
tạo
điều
kiện
về
bộ
máy,
biên
chế
của
các
cơ
quan
tư
pháp
Thành
phố
Hà
Nội,
trong
đó
có
Công
an
Thành
phố
nhằm
đáp
ứng
việc
thực
hiện
nhiệm
vụ
của
các
cơ
quan
đơn
vị.
2.
Đối
với
UBND
Thành
phố
(1).
Hiện
Trụ
sở
Trại
tạm
giam
số
1
đang
đặt
tại
phường
Xuân
Phương,
Hà
Nội,
theo
quy
hoạch
Hà
Nội
100
năm,
đây
sẽ
là
vùng
lõi
của
Thủ
đô,
do
đó
về
lâu
dài
đề
nghị
UBND
Thành
phố
chỉ
đạo
Công
an
Thành
phố
phối
hợp
với
Sở
Xây
dựng
nghiên
cứu
rà
soát,
nghiên
cứu
bổ
trí
địa
điểm
xây
dựng
mới
Trụ
sở
làm
việc
của
Trại
tạm
giam
số
1
đảm
bảo
quy
mô,
diện
tích
và
phù
hợp
với
cảnh
quan,
công
trình
dự
án
khác
và
quy
hoạch
100
năm
của
Thủ
đô.
(2).
Chỉ
đạo
Sở
Xây
dựng,
UBND
xã
Thường
Tín
phối
hợp
với
Công
an
Thành
phố
xác
định
rõ
mốc
giới
Trụ
sở
Trại
tạm
giam
số
2
với
dự
án
sân
vận
động
Olympic
và
đường
vành
đai
4
để
phục
vụ
sửa
chữa,
nâng
cấp
cơ
sở
vật
chất
của
Trại
tạm
giam
số
2.
(3).
Chỉ
đạo
Sở
Y
tế
phối
hợp
với
Công
an
Thành
phố
xây
dựng
quy
chế
phối
hợp
giữa
cơ
sở
giam
giữ
và
các
bệnh
viện
trên
địa
bàn
trong
việc
tiếp
nhận,
bổ
trí
buồng
bệnh,
điều
trị,
quản
lý,
giám
sát
và
bảo
đảm
an
ninh,
an
toàn
đối
với
người
bị
tạm
giữ,
tạm
giam.
(4).
Chỉ
đạo
Sở
Tài
chính
bố
trí
nguồn
lực
đẩy
nhanh
các
dự
án
xây
dựng,
mở
rộng,
sửa
chữa
Trại
tạm
giam
số
1,
Trại
tạm
giam
sổ
2
và
các
phân
trại
tạm
giam;
ưu
tiên
các
hạng
mục
trực
tiếp
liên
quan
đến
an
ninh,
an
toàn,
y
tế,
phòng
cháy
chữa
cháy
và
hệ
thống
camera
giám
sát
đồng
thời:
-
Bố
trí
kinh
phí
đào
tạo,
bồi
dưỡng
ngoại
ngữ
cho
cán
bộ,
chiến
sĩ
trực
tiếp
làm
công
tác
quản
lý,
giam
giữ
người
nước
ngoài
tại
Trại
tạm
giam
và
Cơ
sở
lưu
trú,
ưu
tiên
các
ngoại
ngữ
thường
xuyên
phát
sinh
trong
thực
tề.
Qua
đó,
nâng
cao
khả
năng
giao
tiếp,
hướng
dẫn,
giải
thích
quyền
và
nghĩa
vụ,
thực
hiện
chế
độ,
chính
sách
và
xử
lý
các
tình
huống
phát
sinh
đối
với
người
nước
ngoài,
khắc
phục
khó
khăn
do
bất
đồng
ngôn
ngữ;
-
Nghiên
cứu
đề
xuất
bổ
sung,
nâng
mức
các
chính
sách
cho
số
phụ
nữ
có
thai,
đang
nuôi
con
dưới
36
tháng
tuổi
đang
bị
tạm
giữ,
tạm
giam
và
thi
hành
án
tại
các
Trại
tạm
giam
thuộc
Công
an
Thành
phố
và
bổ
sung
áp
dụng
mức
hỗ
trợ
cho
các
cháu
dưới
36
tháng
tuổi
đang
ở
cùng
mẹ
tại
các
Trại
tạm
giam
thuộc
Công
an
Thành
phố
theo
mức
các
cháu
được
hưởng
khối
Bảo
trợ
xã
hội
của
Thành
phố.
(5).
Chỉ
đạo
Công
an
Thành
phố
phối
hợp
với
các
cơ
quan
liên
quan
đầy
mạnh
chuyển
đổi
số,
xây
dựng
các
phần
mềm
quản
lý
thi
hành
án
hình
sự
tại
cộng
đồng,
hỗ
trợ
tư
pháp,
quản
lý
kho
vật
chứng,
đồ
vật,
tài
liệu;
số
hóa
hồ
sơ
và
nghiên
cứu
ứng
dụng
AI,
camera
thông
minh,
sinh
trắc
học
trong
quản
lý,
giám
sát.
(6).
Chỉ
đạo
các
cơ
quan,
đơn
vị
và
Công
an
Thành
phố
quan
tâm
đầu
tư
trang
thiết
bị
cho
Công
an
cấp
xã,
nhất
là
máy
tính,
máy
scan,
tủ
bảo
mật,
thiết
bị
lưu
trữ
và
hạ
tầng
kết
nối
dữ
liệu
phục
vụ
nhiệm
vụ
mới
được
phân
cấp.
9
Đồng
thời,
đề
nghị
rà
soát,
xác
định
danh
mục
và
thứ
tự
ưu
tiên
đầu
tư
cơ
sở
vật
chất
theo
từng
đơn
vị,
găn
với
quy
mô
quản
lý
thực
tế
và
yêu
cầu
nhiệm
vụ
sau
sắp
xếp;
ưu
tiên
khắc
phục
tình
trạng
thiếu
chỗ
giam
giữ,
camera
chất
lượng
kém,
hạ
tầng
truyền
dẫn
chưa
đồng
bộ,
trang
thiết
bị
y
tế
còn
thiếu
và
điều
kiện
làm
việc,
lưu
trữ
hồ
sơ
tại
Công
an
cấp
xã.
3.
Đối
với
Công
an
thành
phố
Hà
Nội
(1).
Tiếp
tục
chỉ
đạo
rà
soát,
khắc
phục
triệt
để
những
tồn
tại,
thiếu
sót
đã
được
cơ
quan
kiểm
sát,
kiểm
tra
và
Đoàn
khảo
sát
chỉ
ra;
xác
định
rõ
trách
nhiệm
tập
thể,
cá
nhân
đối
với
những
vụ
việc
mất
an
ninh,
an
toàn
và
vi
phạm
quy
trình
nghiệp
vụ,
không
để
lặp
lại.
Tiếp
tục
theo
dõi
riêng
kết
quả
thực
hiện
từng
kết
luận,
kiến
nghị
của
Viện
kiểm
sát;
định
kỳ
kiểm
tra
việc
duy
trì
kết
quả
khắc
phục,
tổng
hợp
các
dạng
thiếu
sót
thường
gặp
để
hướng
dẫn
chung
trong
toàn
lực
lượng.
Thực
hiện
đầy
đủ
việc
tiếp
nhận,
phân
loại,
giải
quyết
khiếu
nại,
tố
cáo
và
phản
ánh,
kiến
nghị
thuộc
thẩm
quyền;
bảo
đảm
đúng
trình
tự,
thời
hạn
và
lưu
trữ
hồ
sơ
theo
quy
định.
(2).
Chỉ
đạo
thực
hiện
nghiêm
quy
định
tiếp
nhận,
phân
loại
và
tổ
chức
giam
giữ;
tăng
cường
quản
lý
nhóm
đối
tượng
đặc
thù
(người
bị
kết
án
tử
hình,
người
nước
ngoài);
kiểm
soát
chặt
chẽ
về
thời
hạn
giam
giữ,
công
tác
trích
xuất;
thực
hiện
đúng
quy
định
về
thỉ
hành
án
phạt
tù,
giáo
dục,
giảm
án
và
chuần
bị
tái
hòa
nhập
cộng
đồng.
(3).
Tăng
cường
kiểm
tra
đột
xuất
công
tác
canh
gác,
quản
giáo,
kiểm
soát
vật
cấm,
quản
lý
đối
tượng
điều
trị
tại
bệnh
viện;
chú
trọng
kiểm
tra
trách
nhiệm
của
người
đứng
đầu
và
chỉ
huy
trực
tiếp.
(4).
Tăng
cường
tập
huấn
chuyên
sâu
cho
Công
an
cấp
xã
về
Luật
Thi
hành
án
hình
sự,
Luật
Thi
hành
tạm
giữ,
tạm
giam
và
cấm
đi
khỏi
nơi
cư
trú
và
các
quy
trình,
biểu
mẫu
mới;
chú
trọng
kỹ
năng
quản
lý
người
thường
xuyên
di
biến
động.,
xử
lý
vi
phạm
và
sử
dụng
phần
mềm
quản
lý.
(5).
Đầy
nhanh
xây
dựng,
nâng
cấp
hạ
tầng
và
số
hóa:
Nghiên
cứu
đề
xuất
UBND
Thành
phố
khảo
sát
mở
rộng
trụ
sở
Phòng
Cảnh
sát
thi
hành
án
hình
sự
và
hỗ
trợ
tư
pháp
tại
số
46
Lưu
Quang
Vũ,
Yên
Hòa,
Hà
Nội
để
đáp
ứng
yêu
cầu
công
việc;
sửa
chữa,
nâng
cấp,
mở
rộng
quy
mô,
diện
tích
kho
vật
chứng
của
CATP
tại
số
5
Ngọc
Hồi
đảm
bảm
yêu
cầu
thực
tế
và
an
ninh,
an
toàn
vật
chứng;
sửa
chữa,
nâng
cấp
trụ
sở
Công
an
huyện
Thanh
Trì
(cũ)
số
81
Cổ
Điển,
xã
Thanh
Trì,
Hà
Nội
để
làm
kho
vật
chứng
mới.
Tiếp
tục
rà
soát
tổng
thể
nhu
cầu
đầu
tư,
sửa
chữa
theo
thứ
tự
ưu
tiên,
trước
hết
đối
với
các
hạng
mục
trực
tiếp
liên
quan
đến
an
ninh,
an
toàn,
y
tế,
phòng
cháy,
chữa
cháy,
hệ
thống
camera
và
hạ
tầng
số;
đồng
thời
xác
định
rõ
tiến
độ
các
dự
án
mở
rộng
Trại
tạm
giam
sô
1,
Trại
tạm
giam
sô
2
và
việc
cải
tạo
các
Phân
trại,
tránh
đầu
tư
dàn
trải,
bảo
đảm
khai
thác
hiệu
quả
sau
đầu
tư.
10
-
Phối
hợp
với
Sở
Xây
dựng
nghiên
cứu,
đề
xuất
và
báo
cáo
cấp
có
thẩm
quyền
về
vị
trí
của
Trại
tạm
giam
số
1
để
phù
hợp
với
Quy
hoạch
tổng
thể
Thủ
đô.
Đồng
thời
khẩn
trương
phối
hợp
với
Sở
Tài
chính
để
đảm
bảo
kinh
phí
trước
mắt
phục
vụ
công
tác
sửa
chữa,
cải
tạo
các
hạng
mục
ưu
tiên:
sảnh
khu
nhà
hành
chính,
mở
rộng
phòng
xét
xử
trực
tuyển,
hệ
thống
thoát
nước
khu
nhà
ở
và
bếp
ăn
can,
phạm
nhân...
tại
Trại
tạm
giam
01.
2
-
Phối
hợp
chặt
chẽ
với
các
sở
ngành
Thành
phố,
UBND
xã
Thường
Tín
trong
việc
thực
hiện
dự
án
mở
rộng,
xây
dựng
mới
khu
giam
Trại
tạm
giam
số
để
đáp
ứng
công
tác
quản
lý
giam
giữ
so
với
yêu
cầu,
thực
trạng
hiện;
sửa
chữa,
cải
tạo,
nâng
cấp
và
từng
bước
đầu
tư
xây
dựng
đồng
bộ
04
Phân
trại
tạm
giam
thuộc
Trại
tạm
giam
số
2.
-
Thực
hiện
chuyển
đổi
số,
số
hóa
hồ
sơ
giam
giữ,
ứng
dụng
hệ
thống
phần
mềm
quản
lý
tạm
giữ,
tạm
giam,
phần
mềm
căng
tin,
đăng
ký
thăm
gặp
phục
vụ
thuận
tiện
cho
người
dân
và
quản
lý
minh
bạch;
phối
hợp
vận
hành
thử
nghiệm
hệ
thống
AI
camera
kiểm
soát
an
ninh;
kết
nối
dữ
liệu
giữa
PC10,
cơ
sở
giam
giữ
và
Công
an
cấp
xã;
hạn
chế
tối
đa
việc
tổng
hợp
thủ
công.
(6).
Chủ
động
phối
hợp
ngành
Y
tế
xây
dựng
cơ
chế
phối
hợp
cụ
thể
trong
tiếp
nhận,
điều
trị
và
bảo
đảm
an
ninh,
an
toàn
đối
với
người
bị
tạm
giữ,
tạm
giam,
phạm
nhân
điều
trị
tại
bệnh
viện;
nghiên
cứu
bố
trí
khu
vực
điều
trị
phù
hợp
đối
với
trường
hợp
có
nguy
cơ
cao.
(7).
Tiếp
tục
tổ
chức
thực
hiện
đầy
đủ
Nghị
quyết
số
02/2026/NQ-HĐND
và
Nghị
quyết
số
80/2025/NQ-HĐND;
định
kỳ
đánh
giá
tác
động
của
chính
sách,
bảo
đảm
kinh
phí
được
sử
dụng
đúng
đối
tượng,
đúng
mục
đích,
công
khai,
minh
bạch.
4.
Đối
với
Trại
tạm
giam
số
1
(1).
Thực
hiện
nghiêm
quy
định
tiếp
nhận,
phân
loại
và
tổ
chức
giam
giữ;
tăng
cường
quản
lý
nhóm
đối
tượng
đặc
thù
(người
bị
kết
án
tử
hình,
người
nước
ngoài);
kiểm
soát
chặt
chẽ
về
thời
hạn
giam
giữ,
công
tác
trích
xuất;
thực
hiện
đúng
quy
định
về
thi
hành
án
phạt
tù,
giáo
dục,
giảm
án
và
chuẩn
bị
tái
hòa
nhập
cộng
đồng.
(2).
Tăng
cường
quản
lý
cán
bộ,
kiểm
tra
việc
chấp
hành
quy
trình
quản
giáo,
canh
gác;
kiên
quyết
xử
lý
các
trường
hợp
để
xảy
ra
vật
cấm,
thiếu
trách
nhiệm,
lơ
là,
mất
cảnh
giác.
(3).
Rà
soát
phương
án
quản
lý,
canh
gác
người
bị
tạm
giữ,
tạm
giam
khi
khám
chữa
bệnh,
giám
định
tâm
thần
ngoài
cơ
sở
giam
giữ,
xác
định
cụ
thể
trách
nhiệm
từng
vị
trí,
từng
ca
trực.
(4).
Khắc
phục
đầy
đủ
các
nội
dung
liên
quan
đến
bàn
giao
giữa
cán
bộ
quản
giáo,
nhận
xét
quá
trình
chấp
hành
nội
quy,
lựa
chọn
phạm
nhân
tham
gia
Ban
tự
quản
và
lưu
trữ
hồ
sơ
thăm
gặp.
(5).
Phối
hợp
với
các
phòng
chức
năng
thuộc
CATP
đẩy
nhanh
đề
xuất
sửa
chữa,
nâng
cấp
hệ
thống
camera,
đường
truyển
và
Trung
tâm
kiểm
soát
an
ninh;
phối
hợp
triển
khai
dự
án
mở
rộng
khu
giam
giữ
theo
quy
mô
đã
được
phê
duyệt.
11
5.
Đối
với
Trại
tạm
giam
số
2
(1).
Thực
hiện
nghiêm
quy
định
tiếp
nhận,
phân
loại
và
tổ
chức
giam
giữ;
tăng
cường
quản
lý
nhóm
đối
tượng
đặc
thù
(người
bị
kết
án
tử
hình,
biểu
hiện
thần
kinh
không
bình
thường);
kiểm
soát
chặt
chẽ
về
thời
hạn
giam
giữ,
công
tác
trích
xuất;
thực
hiện
đúng
quy
định
về
thi
hành
án
phạt
tù,
giáo
dục,
giảm
án
và
chuẩn
bị
tái
hòa
nhập
cộng
đồng.
(2).
Tiếp
tục
duy
trì
các
biện
pháp
bảo
đảm
an
ninh,
an
toàn,
phòng
ngừa
trốn,
tự
sát,
tự
thương
và
vi
phạm
nội
quy
trong
điều
kiện
số
lượng
người
giam
giữ
cao.
(3).
Phối
hợp
với
các
phòng
chức
năng
đẩy
nhanh
dự
án
mở
rộng
Trại,
từng
bước
khắc
phục
tình
trạng
thiếu
1.527
chỗ
giam
giữ;
ưu
tiên
sửa
chữa
các
Phân
trại
xuống
cấp.
(4).
Rà
soát,
thay
thế
số
camera
chất
lượng
kém;
bổ
sung
trang
thiết
bị
y
tế,
phương
tiện
chuyên
dụng
và
điều
kiện
bảo
đảm
tại
kho
vật
chứng.
6.
Đối
với
Công
an
xã
Mỹ
Đức,
An
Khánh,
Quang
Minh
và
Công
an
phường
Thanh
Xuân
(1).
Bố
trí
cán
bộ
có
năng
lực,
ổn
định
để
theo
dõi
công
tác
thi
hành
án
hình
sự
và
cấm
đi
khỏi
nơi
cư
trú;
hạn
chế
thay
đổi,
kiêm
nhiệm
quá
nhiều
nhiệm
vụ
ảnh
hưởng
đến
chất
lượng
quản
lý.
(2).
Rà
soát
toàn
bộ
hồ
sơ,
số
sách
và
dữ
liệu
điện
tử;
bảo
đảm
thông
tin
“dúng,
đủ,
sạch,
sống”,
kịp
thời
cập
nhật
các
trường
hợp
thay
đổi
nơi
cư
trú,
nơi
làm
việc.
(3).
Tăng
cường
gặp
gỡ,
kiểm
tra,
giám
sát
người
chấp
hành
án;
phát
huy
vai
trò
của
Mặt
trận
Tổ
quốc,
đoàn
thể,
tổ
dân
phố,
gia
đình
và
lực
lượng
tham
gia
bảo
vệ
an
ninh,
trật
tự
ở
cơ
sở.
(4).
Đối
với
những
trường
hợp
đi
làm
ăn
xa,
thường
xuyên
thay
đổi
nơi
cư
trú,
phải
chủ
động
phối
hợp
Công
an
nơi
đối
tượng
đến
cư
trú,
làm
việc,
không
để
hình
thành
khoảng
trống
trong
quản
lý.
Trên
đây
lắ
báo
cáo
của
Ban
Pháp
chế
HĐND
Thành
phố
về
kết
quả
khảo
sát
việc
chấp
hành
pháp
luật
về
thi
hành
án
hình
sự,
thi
hành
tạm
giữ,
tạm
giam
và
cấm
đi
khỏi
nơi
cư
trú;
chính
sách
hỗ
trợ
và
điều
kiện
cơ
sở
vật
chất
tại
một
số
đơn
vị
thuộc
Công
an
thành
phố
Hà
Nội../.
Nơi
nhận:
-
Thường
trực
Thành
ủy
(để
báo
cáo);
Thường
trực
HĐND
Thành
phố;
-
UBND
Thành
phố;
Ban
Nội
chính
Thành
ủy;
-
Công
an
Thành
phố;
-
Viện
Kiểm
sát
nhân
dân
Thành
phố;
-
Các
đơn
vị
được
khảo
sát;
-
Lưu:
VT,
BРС.
TM.
BAN
PHÁP
CHẾ
THÀNH
HÂN
DA
RƯƠNG
BAN
Duy
Hoàng
Dương

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Báo cáo 172/BC-BPC của Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội kết quả khảo sát việc chấp hành pháp luật về thi hành án hình sự, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; chính sách hỗ trợ và điều kiện cơ sở vật chất tại một số đơn vị thuộc Công an thành phố Hà Nội

văn bản tiếng việt

downloadBáo cáo 172/BC-BPC (Bản PDF)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

văn bản TIẾNG ANH

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

  • Văn bản cùng chủ đề

văn bản cùng lĩnh vực

văn bản mới nhất

CHÍNH SÁCH BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN
Yêu cầu hỗ trợYêu cầu hỗ trợ
Chú thích màu chỉ dẫn
Chú thích màu chỉ dẫn:
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng các màu sắc:
Sửa đổi, bổ sung, đính chính
Thay thế
Hướng dẫn
Bãi bỏ
Bãi bỏ cụm từ
Bình luận
Click vào nội dung được bôi màu để xem chi tiết.
×