• Tổng quan
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung hợp nhất 

    Tính năng này chỉ có tại LuatVietnam.vn. Nội dung hợp nhất tổng hợp lại tất cả các quy định còn hiệu lực của văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính... trên một trang. Việc hợp nhất văn bản gốc và những văn bản, Thông tư, Nghị định hướng dẫn khác không làm thay đổi thứ tự điều khoản, nội dung.

    Khách hàng chỉ cần xem Nội dung hợp nhất là có thể nắm bắt toàn bộ quy định hiện hành đang áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

    =>> Xem hướng dẫn chi tiết cách sử dụng Nội dung hợp nhất

  • Tải về
Lưu
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Theo dõi VB
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Ghi chú
Báo lỗi
In

Thông báo 245/TB-VPCP 2026 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại cuộc họp về tình hình thực hiện nhiệm vụ từ đầu năm 2026 đến nay, phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới của Bộ Tư pháp

Ngày cập nhật: Thứ Năm, 14/05/2026 11:07 (GMT+7)
Cơ quan ban hành: Văn phòng Chính phủ
Số công báo:
Số công báo là mã số ấn phẩm được đăng chính thức trên ấn phẩm thông tin của Nhà nước. Mã số này do Chính phủ thống nhất quản lý.
Đang cập nhật
Số hiệu: 245/TB-VPCP Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Thông báo Người ký: Nguyễn Văn Thắng
Trích yếu: Về kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại cuộc họp về tình hình thực hiện nhiệm vụ từ đầu năm 2026 đến nay, phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới của Bộ Tư pháp
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
12/05/2026
Ngày hết hiệu lực:
Ngày hết hiệu lực là ngày, tháng, năm văn bản chính thức không còn hiệu lực (áp dụng).
Đang cập nhật
Ngày áp dụng:
Ngày áp dụng là ngày, tháng, năm văn bản chính thức có hiệu lực (áp dụng).
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Lĩnh vực: Tư pháp-Hộ tịch

TÓM TẮT THÔNG BÁO 245/TB-VPCP

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải Thông báo 245/TB-VPCP

Tải văn bản tiếng Việt (.pdf) Thông báo 245/TB-VPCP PDF (Bản có dấu đỏ)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
VĂN
PHÒNG CHÍNH
PHỦ
_______________
Số: 245/TB-VPCP
CỘNG
HOÀ XÃ
HỘI
CHỦ
NGHĨA
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
___________________________________________________
Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2026
THÔNG BÁO
Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng
tại cuộc họp về tình hình thực hiện nhiệm vụ từ đầu năm 2026 đến nay,
phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới của Bộ Tư pháp
____________
Ngày 11 tháng 5 năm 2026, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng
đã chủ trì cuộc họp về tình hình thực hiện nhiệm vụ từ đầu năm 2026 đến nay,
phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới của Bộ Tư pháp. Tham dự
cuộc họp có Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc, Phó Thủ tướng
Chính phủ Lê Tiến Châu, tập thể lãnh đạo Bộ Tư pháp, đại diện Lãnh đạo các Bộ, cơ
quan: Tài chính, Nội vụ, Công an, Ngoại giao, Khoa học và Công nghệ và Văn phòng
Chính phủ. Sau khi nghe báo cáo của Bộ Tư pháp, ý kiến của các Bộ, cơ quan dự họp và
ý kiến của các đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng
kết luận như sau:
I. Kết quả đạt được
Ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực, cố gắng của Bộ Tư pháp trong công tác tham
mưu, giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo về công tác xây dựng
pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật và các lĩnh vực công tác khác thuộc phạm vi
quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Trong 04 tháng đầu năm 2026, Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực triển khai
nhiệm vụ được giao và đạt nhiều kết quả nổi bật: (i) Tham mưu cấp có thẩm quyền
nhiều đề án lớn về hoàn thiện thể chế, pháp luật; (ii) Công tác xây dựng và tổ chức
thi hành pháp luật được triển khai đồng bộ, bám sát tinh thần Nghị quyết số 66-
NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp
ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; (iii) Tham mưu Chính phủ
trình Quốc hội thông qua 07 dự án luật, nghị quyết tại Kỳ họp thứ nhất, trong đó có
những dự án luật, nghị quyết lớn với những chính sách chưa có tiền lệ; (iv) Chủ
động tham mưu nhiều giải pháp để khắc phục tình trạng chậm ban hành văn bản quy
định chi tiết; công tác thẩm định, kiểm tra, rà soát văn bản được tăng cường, kịp
thời phát hiện, xử lý các “điểm nghẽn” về thể chế; (v) Trong thời gian rất ngắn đã
tổng hợp, tham mưu Thủ tướng Chính phủ về phương án phân cấp, cắt giảm, đơn
giản hóa thủ tục hành chính (TTHC), điều kiện kinh doanh (ĐKKD) của các Bộ,
ngành và là một trong 03 Bộ, ngành hoàn thành vượt các chỉ tiêu cải cách TTHC,
ĐKKD, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo yêu cầu của Thường trực
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; (vi) Công tác thi hành án dân sự (THADS), thu
hồi tài sản tham nhũng, kinh tế; công tác hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp, pháp
luật quốc tế, chuyển đổi số, nghiên cứu khoa học đạt nhiều kết quả tích cực…
2
II. Khó khăn, thách thức, tồn tại, hạn chế
1. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tư pháp thời gian qua còn một số hạn
chế như: (i) Chất lượng, tiến độ xây dựng, thẩm định một số văn bản quy phạm pháp
luật (VBQPPL) còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu; (ii) Một số nhiệm vụ Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ giao chưa hoàn thành đúng hạn; (iii) Công tác phối hợp với các Bộ, cơ
quan có lúc chưa chặt chẽ; (iv) Biên chế trong lĩnh vực kiểm soát TTHC và THADS còn
thiếu so với yêu cầu; (v) Việc ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo trong
công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật còn hạn chế…
2. Một số yêu cầu đặt ra: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của
Đảng tiếp tục xác định thể chế là một trong ba đột phá chiến lược. Với yêu cầu nêu trên,
Bộ Tư pháp đứng trước những yêu cầu rất lớn: (i) Đưa “thể chế” thực sự trở thành động
lực thúc đẩy sự phát triển; (ii) Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy xây dựng và tổ chức thi
hành pháp luật trước đòi hỏi chuyển đổi số mạnh mẽ và quản trị dữ liệu thông minh; (iii)
Khả năng quản trị rủi ro pháp lý quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu
rộng; (iv) Tăng cường kỷ luật, kỷ cương và nâng cao năng lực, mối quan hệ phối hợp
của các Bộ, ngành, địa phương trong tổ chức thực thi chính sách, pháp luật…
III. Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới
Từ nay đến cuối năm 2026, Bộ Tư pháp được giao chủ trì, phối hợp với các Bộ,
ngành, địa phương thực hiện với nhiều nhiệm vụ quan trọng, phức tạp. Tập thể Lãnh
đạo Bộ và toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của Bộ Tư pháp cần
tiếp tục đoàn kết, nỗ lực, cố gắng, quyết tâm cao hơn nữa để tập trung thực hiện hiệu
quả các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ,
trong đó tập trung thực hiện hiệu quả một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau đây:
1. Xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, toàn diện; Ban Thường vụ Đảng
ủy Bộ chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy chế, đổi mới lề lối làm việc
nhằm tạo bước chuyển căn bản trong chất lượng hiệu quả hoạt động của Bộ, tăng
cường đề cao trách nhiệm người đứng đầu.
2. Về công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật:
Nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách và lâu dài của Bộ Tư pháp là cần bám sát mục tiêu,
yêu cầu tăng trưởng hai con số dựa trên cải cách mạnh mẽ thể chế theo chỉ đạo của
đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và yêu cầu tại Kết luận số 18-KL/TW
Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng, hoàn thiện thể chế
phù hợp để xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa; chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ “tiền kiểm”
sang “hậu kiểm”, khẩn trương tháo gỡ căn bản các rào cản, điểm nghẽn về thể chế, cơ
chế, chính sách. Trên tinh thần đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Tư pháp:
a) Nghiên cứu, thể chế hóa kịp thời Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các nghị
quyết, kết luận, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về
công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, trong đó tăng cường kiểm soát, phòng,
3
chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cơ chế “xin - cho” trong công tác xây dựng
pháp luật, không để tình trạng Luật chờ văn bản hướng dẫn thi hành như thời gian qua.
b) Tập trung xây dựng Đề án Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
trong kỷ nguyên mới với tầm nhìn đến năm 2045, báo cáo Ban Thường vụ Đảng ủy
Chính phủ trước ngày 15 tháng 10 năm 2026.
c) Khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi toàn diện Luật Ban hành VBQPPL phù hợp
với chủ trương của Đảng về tái cấu trúc hệ thống pháp luật theo hướng mỗi chủ thể
chỉ ban hành một hình thức VBQPPL, đơn giản hóa, rút ngắn quy trình ban hành văn
bản, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, bảo đảm thời hạn trình
Quốc hội tại Kỳ họp thứ hai, tháng 10 năm 2026.
d) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ xây dựng Kế hoạch của Chính
phủ triển khai thực hiện Kết luận của Bộ Chính trị về Đề án Định hướng lập pháp
nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, trình Chính phủ trong tháng 5 năm 2026. Thường xuyên
rà soát tiến độ soạn thảo, trình các dự án luật tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI,
trong đó lưu ý bảo đảm tiến độ trình Quốc hội sửa đổi một số dự án luật quan trọng
như: Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đất đai, Luật
Điện lực…; phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ ngay từ khi đăng ký vào Chương
trình lập pháp; kiểm soát chặt chẽ việc các Bộ, cơ quan ngang Bộ đề xuất điều chỉnh,
bổ sung hoặc rút dự án luật khỏi Chương trình lập pháp năm 2026.
d) Nâng cao chất lượng công tác thẩm định theo hướng thực chất, độc lập, khách
quan, chuyên sâu, tham vấn ý kiến chuyên gia, nhà khoa học, các hiệp hội, ngành
nghề, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp, tăng cường ứng dụng công nghệ trong
công tác thẩm định. Báo cáo thẩm định phải bảo đảm nội dung đầy đủ, chặt chẽ;
khẳng định rõ hồ sơ dự án, dự thảo VBQPPL đủ hoặc chưa đủ điều kiện trình Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ; kiên quyết không trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
các hồ sơ chưa đủ điều kiện, không đúng thẩm quyền, chưa được giải trình, tiếp thu
đầy đủ hoặc hồ sơ không có các dự thảo văn bản quy định chi tiết kèm theo.
đ) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ rà soát kỹ quy định liên quan
đến nhiệm vụ, thẩm quyền của các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong các Nghị định hiện hành,
không để xảy ra tình trạng giao thoa, chồng chéo, trùng lặp về nhiệm vụ, thẩm quyền
của các Bộ, cơ quan, bảo đảm nguyên tắc một việc chỉ giao một cơ quan thực hiện.
e) Theo dõi, tổng hợp tình hình xử lý các văn bản quy định chi tiết nợ đọng theo
yêu cầu tại Mục 2 của Công điện số 36/CĐ-TTg ngày 25 tháng 4 năm 2026 về việc
tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết luật,
pháp lệnh, nghị quyết, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 20 tháng 5 năm 2026,
trong đó nêu rõ những Bộ, cơ quan ngang Bộ còn để chậm nợ văn bản, nguyên nhân
chậm, nợ của từng văn bản, trách nhiệm của các cơ quan và đề xuất giải pháp xử lý.
g) Rà soát, tham mưu giải pháp, phương án, lộ trình xử lý các VBQPPL sẽ hết
hiệu lực từ ngày 01 tháng 3 năm 2027 trên cơ sở định hướng của Bộ Chính trị tại Kết
luận số 09-KL/TW ngày 10 tháng 3 năm 2026 và quy định của Luật Tổ chức Chính
phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương; Nghị quyết số 190/2025/QH15 của Quốc
4
hội về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, Nghị
quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc
do quy định của pháp luật, bảo đảm không gây vướng mắc, gián đoạn trong quá trình
thực hiện, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15 tháng 6 năm 2026. Tổng rà
soát cơ chế đặc thù áp dụng cho các địa phương, nghiên cứu thống nhất các cơ chế
đặc thù theo hướng phân cấp, phân quyền, rõ ràng, minh bạch, các địa phương đáp
ứng các nguyên tắc, tiêu chí, điều kiện sẽ được trao quyền áp dụng các cơ chế chính
sách phù hợp.
h) Tiếp tục thực hiện tốt vai trò Cơ quan Thường trực của các Ban Chỉ đạo về rà
soát VBQPPL, trong đó tập trung nguồn lực triển khai tổng rà soát VBQPPL theo
Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Kế hoạch của Ban Chỉ đạo tổng rà
soát hệ thống VBQPPL; khẩn trương tổ chức thẩm định kết quả rà soát của các Bộ,
cơ quan, địa phương. Các đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo toàn diện các
Bộ, cơ quan ngang Bộ về việc hoàn thiện kết quả rà soát trong lĩnh vực được phân
công phụ trách. Trên cơ sở tổng hợp kết quả rà soát của các Bộ, cơ quan, địa phương
và ý kiến chỉ đạo của các Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp tổng hợp, hoàn thiện
báo cáo, trình Chính phủ trước ngày 31 tháng 7 năm 2026 để bảo đảm tiến độ trình
cấp có thẩm quyền theo quy định.
i) Nghiên cứu, xây dựng Đề án “Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức
thi hành pháp luật giai đoạn 2026 - 2031”, trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30
tháng 6 năm 2026 và Đề án “Chỉ số đánh giá hiệu quả thi hành VBQPPL”, trình Thủ
tướng Chính phủ trong tháng 12 năm 2026.
3. Về công tác cải cách hành chính, kiểm soát TTHC:
a) Đẩy mạnh cải cách hành chính, kiểm soát TTHC và chuyển đổi số toàn diện
trong Bộ Tư pháp và toàn ngành. Hoàn thành việc xây dựng, kết nối, đồng bộ dữ liệu
của các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành ngành Tư pháp về Trung
tâm dữ liệu quốc gia, khắc phục các lỗi kỹ thuật của hệ thống đăng ký, quản lý Hộ
tịch điện tử, hoàn thành trong tháng 5 năm 2026.
b) Chuẩn hóa, làm sạch, cập nhật dữ liệu thuộc phạm vi quản lý, gửi Bộ Công
an tổng hợp báo cáo hằng tháng. Đẩy mạnh số hóa dữ liệu hồ sơ; nâng tỷ lệ cung cấp
dịch vụ công trực tuyến toàn trình. Công bố danh mục cơ sở dữ liệu được khai thác,
sử dụng thay thế giấy tờ trong thành phần hồ sơ TTHC; rà soát, tái cấu trúc các TTHC
để khai thác, tái sử dụng dữ liệu, không yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp
thông tin đã có, hoàn thành trong tháng 6 năm 2026.
c) Tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm soát và tổ chức thực hiện rà soát, cắt
giảm, phân cấp, đơn giản hóa TTHC, ĐKKD theo đúng chỉ đạo tại Kết luận số 18-
KL/TW; kiểm soát chặt chẽ, kiên quyết không để phát sinh thêm TTHC, ngành nghề
đầu tư kinh doanh có điều kiện, ĐKKD sau khi cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa.
d) Hoàn thiện Đề án thí điểm thực hiện đánh giá, chấm điểm (KPI) về công tác xây
dựng pháp luật, bảo đảm yêu cầu công khai, minh bạch tình hình xây dựng, trình
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ dự án, dự thảo VBQPPL của các Bộ, cơ quan ngang
5
Bộ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 31 tháng 5 năm 2026. Nghiên cứu, xây
dựng Đề án thí điểm thực hiện đánh giá, chấm điểm (KPI) về công tác cải cách TTHC
của các Bộ, cơ quan, địa phương; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 6 năm 2026.
4. Về công tác THADS, thi hành án hành chính và quản lý nhà nước trong các
lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp:
a) Nâng cao hiệu quả công tác THADS, việc chấp hành pháp luật tố tụng hành
chính và THAHC, đặc biệt là thu hồi tài sản tham nhũng, kinh tế nhằm giải phóng
nguồn lực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và bảo đảm thượng tôn pháp luật.
b) Tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong các
lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp; đẩy nhanh xây dựng, hoàn thành, nâng
cấp các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành (như: Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp
luật; Nền tảng số Pháp luật Việt Nam; Nền tảng số THADS; Cơ sở dữ liệu hộ tịch
điện tử; Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm; Cơ sở dữ liệu trợ giúp pháp lý; Cơ sở
dữ liệu công chứng…), tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.
5. Về công tác pháp luật quốc tế:
a) Tiếp tục nâng cao năng lực, hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề pháp lý quốc
tế phát sinh nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà
nước Việt Nam; thay đổi cách tiếp cận từ “thích ứng” sang “chủ động kiến tạo” và
“quản trị rủi ro pháp lý quốc gia”; từng bước hình thành đội ngũ luật sư công chất lượng
cao, có bản lĩnh chính trị và vững vàng về chuyên môn; hỗ trợ Bộ, ngành, địa phương
theo yêu cầu nhằm phòng ngừa và giảm thiểu khả năng phát sinh tranh chấp đầu tư
quốc tế; tập trung phát huy vai trò Cơ quan đại diện pháp lý của Chính phủ nhằm bảo
vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; tổng hợp tình hình thực tiễn, bài học kinh nghiệm trong
công tác giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế gửi các Bộ, ngành, địa phương làm cơ sở
cho việc rà soát, phòng ngừa phát sinh tranh chấp, nhất là trong những lĩnh vực thường
phát sinh tranh chấp hoặc tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tranh chấp.
b) Khẩn trương trình Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Nghị
quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng
ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế để bảo đảm đầy đủ cơ sở pháp lý triển
khai thi hành hiệu quả Nghị quyết này.
6. Về công tác xây dựng ngành:
a) Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nhân sự và đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao làm công tác pháp chế, tham mưu xây dựng pháp luật. Nghiên cứu chính
sách đào tạo, luân chuyển, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Bộ Tư pháp đến các Bộ,
ngành, địa phương để nâng cao năng lực và kinh nghiệm thực tiễn.
b) Hoàn thiện Đề án xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật và Đề án ứng dụng
trí tuệ nhân tạo trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát VBQPPL, trình Thủ tướng
Chính phủ trong tháng 5 năm 2026.
IV. Về các đề xuất, kiến nghị của Bộ Tư pháp
1. Cơ bản thống nhất về nguyên tắc với các đề xuất, kiến nghị của Bộ Tư pháp.
Phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu trực tiếp chỉ đạo và phối hợp với
các Phó Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo xử lý theo lĩnh vực được Thủ tướng Chính phủ
6
phân công. Các Bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được
giao nghiên cứu nội dung kiến nghị của Bộ Tư pháp để phối hợp xử lý và chủ động
thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phù hợp, hiệu quả theo thẩm quyền; kịp thời báo
cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền những vấn đề vượt thẩm quyền.
2. Về công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật:
a) Các Bộ, ngành, địa phương tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây
dựng, ban hành văn bản; thực hiện nghiêm quy định của Luật Ban hành VBQPPL;
chú trọng nâng cao chất lượng hồ sơ chính sách, dự án, dự thảo VBQPPL, chất lượng
công tác tự kiểm tra văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành; tập trung
xử lý dứt điểm tình trạng chậm ban hành, nợ đọng văn bản quy định chi tiết; phối hợp
chặt chẽ với Bộ Tư pháp trong quá trình thực hiện tổng rà soát VBQPPL.
b) Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ nghiên cứu việc
nâng cấp Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh kiến nghị về VBQPPL. Tiến hành
sơ kết, tổng kết việc thực hiện tiếp nhận, xử lý phản ánh kiến nghị về VBQPPL trên Hệ
thống thông tin; đánh giá sự cần thiết mở rộng phạm vi nội dung thông tin tiếp nhận bảo
đảm khả thi, phù hợp; báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo quy định.
c) Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương nghiên cứu xây
dựng mô hình soạn thảo VBQPPL tập trung, chuyên nghiệp; từng bước hình thành
đội ngũ làm công tác xây dựng pháp luật chuyên nghiệp, trình Thủ tướng Chính phủ
trước ngày 20 tháng 9 năm 2026.
d) VPCP khẩn trương tiếp thu ý kiến của Lãnh đạo Chính phủ, các bộ, ngành,
địa phương, hoàn thiện hồ sơ dự thảo Nghị định ban hành Quy chế làm việc của Chính
phủ; phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp trong quá trình thẩm định, chỉnh lý, hoàn
thiện hồ sơ dự thảo Nghị định, trình Chính phủ ban hành trong tháng 5 năm 2026.
3. Về công tác kiểm soát TTHC, cải cách TTHC:
a) Bộ Tư pháp tổ chức nghiên cứu, xây dựng dự án Luật về kiểm soát TTHC
theo nhiệm vụ được giao tại Đề án định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa
XVI; cân nhắc đề xuất của Bộ Tài chính về việc xây dựng Bộ quy chuẩn/tiêu chuẩn
về kiểm soát TTHC để các Bộ, ngành, địa phương thống nhất thực hiện.
b) Về đề xuất áp dụng chế độ hỗ trợ hằng tháng cho công chức làm công tác
kiểm soát TTHC: Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ và các
cơ quan liên quan, tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong quá trình Bộ
Nội vụ hoàn thiện Đề án tổng thể cải cách tiền lương để báo cáo Bộ Chính trị, trong
đó tiếp tục đề xuất cơ chế, chính sách đặc thù cho cán bộ, công chức xây dựng pháp
luật, bao gồm cả cán bộ, công chức làm công tác kiểm soát TTHC, bảo đảm phù hợp,
đúng đối tượng.
4. Về công tác THADS, THAHC:
a) Thống nhất giao Bộ Tư pháp nghiên cứu, xây dựng Chỉ thị về tăng cường công
tác THADS thay thế Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 06 tháng 02 năm 2017 của Thủ tướng
Chính phủ để bảo đảm phù hợp với tổ chức các bộ, ngành sau sắp xếp, tinh gọn bộ máy
và mô hình cơ quan THADS một cấp tại địa phương, trình Thủ tướng Chính phủ trong
tháng 9 năm 2026.
7
b) Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương nghiên cứu kỹ,
tham mưu về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về thi hành án vụ Vạn
Thịnh phát, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 5 năm 2026.
5. Về công tác quản lý nhà nước về nhân quyền: Giao Bộ Công an chủ trì, phối
hợp Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ và các cơ quan liên quan trình Thủ tướng Chính phủ
phương án chuyển nhiệm vụ quản lý nhà nước về nhân quyền và Thường trực Ban
Chỉ đạo nhân quyền của Chính phủ sang Bộ Tư pháp. Giao Bộ Tư pháp bổ sung chức
năng, nhiệm vụ nêu trên vào Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp.
6. Về đề xuất bổ sung biên chế cho Bộ Tư pháp, nhất là công chức làm công tác cải
cách TTHC, kiểm soát TTHC và THADS: Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Nội vụ rà soát,
đề xuất số lượng biên chế cần bổ sung phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và
tính chất, yêu cầu nhiệm vụ giai đoạn mới. Giao Bộ Nội vụ trong quá trình tham mưu,
đề xuất biên chế do Chính phủ quản lý giai đoạn 2026 - 2031 tổng hợp số biên chế cần
bổ sung của Bộ Tư pháp, trên cơ sở điều tiết biên chế của các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
bảo đảm không thay đổi tổng biên chế được Bộ Chính trị giao Chính phủ quản lý.
7. Đề nghị các địa phương quan tâm bố trí đủ cán bộ, công chức làm công tác tư
pháp, hộ tịch cấp xã để thực hiện tốt nhiệm vụ tư pháp, hộ tịch của địa phương.
Văn phòng Chính phủ thông báo để Bộ Tư pháp và các Bộ, cơ quan liên quan
biết, tập trung triển khai thực hiện./.
Nơi nhận
:
- TTgCP, các PTTgCP (để b/c);
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ;
- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;
- VPCP: BTCN, các PCN,
Trợ lý, Thư ký TTgCP và các PTTgCP,
Các Vụ, Cục;
- Lưu: VT, PL (2).
VĐ
KT.
BỘ
TRƯỞNG,
CHỦ
NHIỆM
PHÓ CHỦ NHIỆM
Nguyễn Văn Thắng

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Thông báo 245/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại cuộc họp về tình hình thực hiện nhiệm vụ từ đầu năm 2026 đến nay, phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới của Bộ Tư pháp

văn bản tiếng việt

downloadThông báo 245/TB-VPCP (Bản PDF)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

văn bản TIẾNG ANH

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

  • Văn bản liên quan Thông báo 245/TB-VPCP
  • Văn bản cùng chủ đề

văn bản cùng lĩnh vực

văn bản mới nhất

CHÍNH SÁCH BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN
Yêu cầu hỗ trợYêu cầu hỗ trợ
Chú thích màu chỉ dẫn
Chú thích màu chỉ dẫn:
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng các màu sắc:
Sửa đổi, bổ sung, đính chính
Thay thế
Hướng dẫn
Bãi bỏ
Bãi bỏ cụm từ
Bình luận
Click vào nội dung được bôi màu để xem chi tiết.
×