Quyết định 285/TCHQ-QĐ của Tổng cục Hải quan về việc ban hành quy chế xác định giá tính thuế hàng hoá xuất nhập khẩu

Thuộc tính Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng:Đã biết

QUYẾT ĐỊNH

CỦA TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC HẢI QUAN SỐ 285/TCHQ-QĐ
NGÀY 20 THÁNG 11 NĂM 1997 BAN HÀNH QUY CHẾ XÁC ĐỊNH GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU

 

TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC HẢI QUAN

 

- Căn cứ Pháp lệnh hải quan ngày 20-2-1990;

- Căn cứ Điều 7 của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được Quốc hội công bố ngày 4-1-1992;

- Căn cứ Điều 7 Nghị định số 54/CP ngày 28-8-1993 của Chính phủ;

- Căn cứ Quyết định 918-TC/QĐ/TCT ngày 11 tháng 11 năm 1997 của Bộ trưởng Bộ Tài chính;

- Căn cứ Thông tư 82/1997/TT/BTC ngày 11 tháng 11 năm 1997 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện áp dụng giá tính thuế nhập khẩu;

- Xét đề nghị của Cục trưởng Cục kiểm tra thu thuế xuất nhập khẩu

QUYẾT ĐỊNH

 

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế xác định giá tính thuế hàng hoá xuất nhập khẩu.

 

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 1997.

 

Điều 3. Quyết đinh này thay thế Quyết định 192/TCHQ/KTTT ngày 15-5-1995 của Tổng cục Hải quan; Công văn hướng dẫn số 3670/TCHQ-KTTT ngày 14-11-1996 của Tổng cục Hải quan và những quy định trước đây của Tổng cục Hải quan trái với Quyết định này.

 

Điều 4. Các ông Cục trưởng Cục Kiểm tra thu thuế XNK, Thủ trưởng các đơn vị thuộc cơ quan tổng cục, cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

 

 

 

 

QUY CHẾ
XÁC ĐỊNH GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU
(Ban hành kèm theo Quyết định số 285 TCHQ-QĐ
ngày 20 tháng 11 năm 1997 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan)

A. ÁP GIÁ TÍNH THUẾ:

Về nguyên tắc việc áp giá tính thuế phải được tiến hành nhanh chóng, thuận tiện và tuân thủ triệt để các quy định về quản lý giá tính thuế, tránh gây ách tắc trong việc giải phóng hàng.

Cụ thể việc áp giá tính thuế đối với từng trường hợp như sau:

 

I. ĐỐI VỚI HÀNG NHẬP KHẨU:

1. Tại nơi làm thủ tục hải quan, cán bộ tính thuế phải kiểm tra hồ sơ chứng từ đầy đủ của lô hàng, đặc biệt kiểm tra tính hợp lệ của hợp đồng, hoá đơn và các chứng từ thanh toán theo quy định. Có đầy đủ các bảng giá tính thuế nhập khẩu tối thiểu đã được quy định (các bảng giá của Bộ Tài chính ban hành và bảng giá do Tổng cục Hải quan thống nhất ý kiến với Bộ Tài chính ban hành) và phải công khai hoá các bảng giá đó tại nơi làm thủ tục.

2. Căn cứ vào kết quả kiểm hoá hàng nhập khẩu thực tế và các tài liệu có liên quan, cán bộ tính thuế kiểm tra lại theo các nội dung: Tên hàng chi tiết, ký mã hiệu, chất lượng, xuất xứ, quy cách, số lượng, trọng lượng, đơn giá ghi trên hợp đồng... sau đó căn cứ vào các bảng giá tính thuế nhập khẩu tối thiểu hiện hành tại thời điểm nhập khẩu để xác định giá tính thuế, cụ thể:

a. Đối với những mặt hàng nhập khẩu thuộc danh mục mặt hàng Nhà nước quản lý giá tính thuế theo quy định tại Quyết định 918-TC/QĐ/TCT ngày 11 tháng 11 năm 1997 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì:

- Nếu có giá ghi trên hợp đồng phù hợp với các chứng từ hợp lệ có liên quan đến việc mua bán hàng và bằng hoặc cao hơn giá mua tối thiểu quy định tại các bảng giá hiện hành thì giá tính thuế hàng nhập khẩu là giá ghi trên hợp đồng mua bán ngoại thương (giá CiF).

- Nếu có giá ghi trên hợp đồng ngoại thương thấp hơn so với bảng giá tối thiểu quy định hoặc nhập khẩu theo phương thức khác không phải là mua bán thì giá tính thuế nhập khẩu áp dụng theo mức giá tối thiểu quy định tại bảng giá tính thuế nhập khẩu tối thiểu hiện hành.

b. Đối với những mặt hàng nhập khẩu không thuộc danh mục mặt hàng Nhà nước quản lý giá tính thuế:

- Nếu có đủ điều kiện như quy định tại điểm I mục C Thông tư 82/1997/TT/BTC ngày 11 tháng 11 năm 1997 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện áp dụng giá tính thuế nhập khẩu thì được áp giá tính thuế theo giá ghi trên hợp đồng ngoại thương (giá CiF).

- Nếu không đủ điều kiện xác định giá tính thuế theo giá ghi trên hợp đồng ngoại thương như quy định tại điểm I mục C Thông tư số 82/1997/TT/BTC ngày 11 tháng 11 năm 1997 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện áp dụng giá tính thuế nhập khẩu hoặc nhập khẩu theo phương thức khác, không phải là mua bán, không thanh toán qua ngân hàng thì áp theo bảng giá tính thuế nhập khẩu tối thiểu hiện hành.

c. Trường hợp các mặt hàng phải áp giá tính thuế theo bảng giá tối thiểu (mặt hàng Nhà nước quản lý giá hoặc mặt hàng không đủ điều kiện áp giá theo hợp đồng) nhưng chưa có giá tại bảng giá tối thiểu của Bộ Tài chính hoặc Tổng cục Hải quan ban hành thì cán bộ tính thuế tại nơi làm thủ tục hải quan tiến hành tính thuế theo giá tự kê khai của doanh nghiệp (giá CiF) đối với mặt hàng mới phát sinh, đồng thời lập báo cáo giá theo mẫu 2 để báo cáo phòng giá hoặc phòng KTTT của Cục Hải quan địa phương, sau đó Cục Hải quan địa phương phải tập hợp và lập báo cáo giá theo mẫu 2 có đề xuất giá tính thuế (như quy định tại điểm II mục B của văn bản này) gửi Tổng cục Hải quan để Tổng cục Hải quan xem xét và chỉ đạo áp dụng.

d. Đối với doanh nghiệp, đơn vị được quyền tự kê khai giá tính thuế nhập khẩu phải cam đoan và hoàn toàn chịu trách nhiệm về bảo đảm tính trung thực, chính xác của giá kê khai; trường hợp nếu phát hiện có hành vi man khai sẽ bị truy thu đủ thuế nhập khẩu và tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt từ 2 đến 5 lần số thuế gian lận.

g. Trường hợp các mặt hàng nhập khẩu có hợp đồng mua bán ngoại thương hợp pháp, hợp lệ đủ điều kiện tính theo giá ghi trên hợp đồng như quy định tại Quyết định 918-TC/QĐ/TCT ngày 11 tháng 11 năm 1997 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Thông tư 82/1997/TT/BTC ngày 11 tháng 11 năm 1997 của Bộ Tài chính nhưng giá mua bán ghi trên hợp đồng ngoại thương (giá CiF) là quá thấp, quá bất hợp lý thì Cục Hải quan địa phương báo cáo xin ý kiến Tổng cục Hải quan và Bộ Tài chính để có ý kiến chỉ đạo cụ thể từng trường hợp.

3. Khi áp giá tính thuế phải ghi rõ là "giá tính thuế theo hợp đồng" hay áp theo bảng giá tính thuế nhập khẩu tối thiểu hiện hành và phải ghi rõ là áp giá theo bảng giá nào (ghi trên mục giá của tờ khai hải quan).

4. Những trường hợp áp giá theo hợp đồng thì Cục Hải quan tỉnh, thành phố phải thống kê ghi rõ tên hàng chi tiết, tên công ty nhập hàng, số tờ khai, giá FOB hay giá CiF, số hợp đồng, đánh giá các trường hợp áp giá tính thuế theo giá ghi trên hợp đồng ngoại thương và định kỳ 10 ngày 1 lần báo cáo về Tổng cục Hải quan và Bộ Tài chính (theo mẫu 1) để xem xét và chỉ đạo việc xác định giá tính thuế. (Lập báo cáo riêng các trường hợp nhập khẩu nêu tại mục II Thông tư 82/1997/TT/BTC ngày 11 tháng 11 năm 1997 của Bộ Tài chính).

5. Giá tính thuế đối với hàng nhập khẩu đã qua sử dụng được phép nhập khẩu bằng 70% (bảy mươi phần trăm) giá hàng mới cùng chủng loại. Những mặt hàng trên thực tế không có giá hàng mới cùng chủng loại thì căn cứ theo loại hàng mới tương đương để tính.

 

II. ĐỐI VỚI TRƯỜNG HỢP CÁC MẶT HÀNG THUỘC DANH MỤC NHÓM MẶT HÀNG NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ GIÁ TÍNH THUẾ DO CÁC ĐỐI TƯỢNG QUY ĐỊNH TẠI ĐIỂM A THÔNG TƯ 82/1997/TT/BTC NGÀY 11 THÁNG 11 NĂM 1997 CỦA
BỘ TÀI CHÍNH NHẬP KHẨU LÀM NGUYÊN LIỆU VẬT TƯ
TRỰC TIẾP ĐƯA VÀO SẢN XUẤT, LẮP RÁP:

 

1. Trên cơ sở nghiên cứu kỹ nội dung các quy định áp dụng đối với loại hình nhập khẩu này tại Quyết định 918-TC/QĐ/TCT ngày 11 tháng 11 năm 1997 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Thông tư 82/1997/TT/BTC ngày 11 tháng 11 năm 1997 của Bộ Tài chính và bộ hồ sơ đăng ký làm thủ tục nhập khẩu lô hàng, Cục Hải quan địa phương kiểm tra nếu đủ các điều kiện theo quy định tại điểm II mục C của Thông tư 82/1997/TT/BTC ngày 11 tháng 11 năm 1997 của Bộ Tài chính thì áp giá tính thuế theo giá ghi trên hợp đồng ngoại thương (giá CiF) và có ý kiến phê duyệt vào tờ khai hải quan: đồng ý cho áp giá tính thuế theo giá ghi trên hợp đồng ngoại thương.

Khi thực hiện điểm này, Cục Hải quan địa phương cần lưu ý:

a. Về việc xác nhận dây chuyền công nghệ sản xuất sản phẩm như sau:

- Đối với đơn vị sản xuất trong nước phải có bản xác nhận của Bộ Chủ quản hoặc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố về việc: Đơn vị có dây chuyền công nghệ sản xuất, lắp ráp, có đủ năng lực để sản xuất sản phẩm theo quy định. Sử dụng nguyên vật liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất sản phẩm.

- Đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư phải có bản xác nhận của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoặc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường về việc phải có dây chuyền công nghệ sản xuất, lắp ráp, thiết bị hoàn chỉnh và phải đảm bảo đủ điều kiện kỹ thuật, chức năng sản xuất kinh doanh phù hợp với giấy phép đầu tư để sản xuất sản phẩm, sử dụng nguyên liệu, vật tư nhập khẩu đó.

b. Phải có bản xác nhận của cơ quan thuế quản lý trực tiếp về việc đơn vị, doanh nghiệp nhập khẩu và uỷ thác nhập khẩu thực hiện đúng chế độ sổ sách kế toán, hoá đơn chứng từ.

3. Nếu lô hàng không đủ điều kiện áp giá tính thuế theo giá ghi trên hợp đồng theo quy định tại điểm II của Thông tư 82/1997/TT/BTC ngày 11 tháng 11 năm 1997 của Bộ Tài chính thì Cục Hải quan địa phương căn cứ các nguyên tắc quản lý giá tính thuế để áp giá tính thuế theo bảng giá tối thiểu hiện hành.

4. Các trường hợp cung cấp vật tư nguyên liệu nhập khẩu giữa các doanh nghiệp trong nước có hạch toán kinh tế độc lập (kể cả đơn vị trong cùng một Tổng công ty hoặc Liên hợp...) với nhau không được coi là "trực tiếp đưa vào sản xuất".

5. Đối với phần nguyên liệu, vật tư nhập khẩu thuộc danh mục mặt hàng Nhà nước quản lý giá tính thuế đã được tính thuế theo giá ghi trên hợp đồng (giá CiF) thấp hơn giá tính thuế tối thiểu quy định, nếu không đưa vào sản xuất trực tiếp mà bán chuyển nhượng lại cho các doanh nghiệp hoặc đơn vị, tổ chức khác thì sau 2 ngày chuyển nhượng, mua bán, đơn vị, doanh nghiệp phải khai báo với cơ quan hải quan nơi làm thủ tục nhập khẩu lô hàng và cơ quan thuế địa phương quản lý doanh nghiệp được biết. Cục Hải quan địa phương trên cơ sở khai báo của đơn vị nhập khẩu và xác nhận của cục thuế địa phương tiến hành tính lại thuế phần nguyên liệu chuyển nhượng theo quy định về giá tính thuế tại thời điểm chuyển nhượng và ra thông báo thuế bổ sung.

6. Để quản lý các tờ khai hải quan đăng ký nhập khẩu theo loại hình này, phòng KTTT của các Cục Hải quan địa phương phải lập sổ theo dõi đầy đủ các chỉ tiêu sau:

+ Tên đơn vị nhập khẩu

+ Số hợp đồng nhập khẩu

+ Số đăng ký tờ khai hải quan

+ Ngày mở tờ khai hải quan

+ Số lượng hàng nhập khẩu

+ Số lượng hàng đã đưa vào sản xuất

+ Số lượng hàng còn lại (chưa đem vào sản xuất)

+ Số lượng hàng chuyển nhượng (không trực tiếp đưa vào sản xuất)

và cứ 3 tháng một lần, Cục Hải quan địa phương yêu cầu đơn vị nhập khẩu làm việc trực tiếp với Cục Hải quan địa phương để tính toán cụ thể lượng hàng hoá nhập khẩu theo hình thức này nhưng chưa đưa vào sản xuất hoặc không trực tiếp đưa vào sản xuất.

 

III. ĐỐI VỚI HÀNG HOÁ NHẬP KHẨU CỦA CÁC XÍ NGHIỆP
CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ NGUYÊN VẬT LIỆU
NHẬP KHẨU ĐỂ SẢN XUẤT HÀNG XUẤT KHẨU:

 

1. Đối với hàng nhập khẩu của các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được miễn thuế theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam:

a. Đối với hàng nhập khẩu không được miễn thuế theo quy định, thì việc xác định giá tính thuế để tính thuế phải thực hiện theo các quy định hiện hành hướng dẫn về việc xác định giá tính thuế như quy định tại điểm I, II mục A văn bản này.

b. Đối với những mặt hàng là nguyên liệu, bộ phận rời, phụ tùng và vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu mà khi nhập khẩu phải nộp thuế nhập khẩu, khi xuất khẩu được hoàn thuế tương ứng với số nguyên vật liệu cấu thành thành phẩm xuất khẩu thì tính thuế theo giá ghi trên hợp đồng ngoại thương. Phần nguyên liệu còn lại, nếu không sản xuất thành thành phẩm xuất khẩu và được phép nhập khẩu phải nộp thuế thì phải xác định lại giá tính thuế theo các quy định hướng dẫn về việc áp giá tính thuế tại văn bản này.

c. Để tránh việc lợi dụng của chủ hàng hạ giá thấp để tiêu thụ nội địa hoặc nâng giá cao để nâng giá trị vốn góp, Cục Hải quan các tỉnh, thành phố phải theo dõi những trường hợp cụ thể, tập hợp và báo cáo về Tổng cục Hải quan những trường hợp này để có biện pháp xử lý nhưng không làm ảnh hưởng đến việc giải phóng hàng.

2. Đối với hàng nhập khẩu thuộc loại hình là nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu (của các loại hình không phải là góp vốn đầu tư): khi xuất khẩu thành phẩm được hoàn thuế tương ứng với tỷ lệ thành phẩm thì việc xác định giá tính thuế cũng được thực hiện như trường hợp điểm 1 (b) nêu tại mục này.

3. Đối với hàng là vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để gia công cho nước ngoài:

- Thực hiện theo Công văn số 663/TCHQ-KTTT ngày 28-2-1997 của Tổng cục Hải quan: không phải tính thuế trong tờ khai hải quan, chỉ kiểm tra hàng và nhanh chóng giải phóng hàng.

- Trường hợp nguyên vật liệu gia công còn dư thừa hoặc nhập khẩu nguyên, vật liệu để gia công cho nước ngoài, nhưng không xuất khẩu sản phẩm nếu được phép nhập khẩu phải tính thuế theo quy định thì phải xác định giá tính thuế theo các quy định hướng dẫn về việc áp giá tính thuế tại văn bản này và thời điểm để xác định giá tính thuế là thời điểm mà lý do miễn thuế thay đổi.

 

IV. ĐỐI VỚI HÀNG XUẤT KHẨU:

Nếu có hợp đồng mua bán ngoại thương hợp pháp hợp lệ như quy định tại điểm I mục C của Thông tư 82/1997/TT/BTC ngày 11 tháng 11 năm 1997 của Bộ Tài chính và có giá ghi trên hợp đồng phù hợp với các chứng từ hợp lệ có liên quan thì được áp giá tính thuế theo giá ghi trên hợp đồng ngoại thương (giá FOB không bao gồm phí vận tải (F) và phí bảo hiểm (I).

 

B. XÂY DỰNG GIÁ:

I. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẢI XÂY DỰNG GIÁ TÍNH THUẾ:

 

- Các mặt hàng Nhà nước quản lý giá tính thuế nhưng là loại hàng mới phát sinh chưa được quy định giá tính thuế tại bảng giá ban hành kèm theo Quyết định 918-TC/QĐ/TCT ngày 11 tháng 11 năm 1997 của Bộ trưởng Bộ Tài chính;

- Mặt hàng không thuộc diện Nhà nước quản lý giá tính thuế, không đủ điều kiện áp giá tính thuế theo giá ghi trên hợp đồng như quy định tại Điều 2 Quyết định 918-TC/QĐ/TCT ngày 11 tháng 11 năm 1997 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hoặc hàng hoá nhập khẩu theo phương thức khác không phải là mua bán nhưng chưa được quy định giá tại bảng giá tính thuế nhập khẩu tối thiểu do Tổng cục Hải quan phối hợp với Bộ Tài chính ban hành.

 

II. QUY TRÌNH XÂY DỰNG GIÁ

 

- Cán bộ tính thuế tại nơi làm thủ tục hải quan khi tiến hành tính thuế theo giá tự khai của doanh nghiệp (giá CIF) đối với lô hàng có mặt hàng mới phát sinh (là các mặt hàng chưa được quy định giá tối thiểu tại các bảng giá tính thuế nhập khẩu tối thiểu hiện hành) thì đồng thời lập báo cáo giá theo mẫu 2 và báo cáo về phòng KTTT hoặc phòng Giá của Cục Hải quan địa phương ngay trong ngày tính thuế.

- Phòng KTTT hoặc phòng giá phải tập hợp và lập bảng báo cáo giá (theo mẫu 2) có đề xuất giá tính thuế báo cáo Lãnh đạo Cục Hải quan địa phương và trong vòng 2 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai của lô hàng nhập khẩu có mặt hàng mới phát sinh phải Fax báo cáo về Tổng cục Hải quan, đồng thời phải gửi theo đường công văn về Tổng cục Hải quan và Bộ Tài chính. Cục Hải quan các tỉnh, thành phố không được ra quyết định xây dựng giá tính thuế.

Trong bảng báo cáo giá - mẫu 2 yêu cầu phải ghi rõ vào các cột, mục, mục ghi chú, phải ghi rõ đề xuất giá dựa vào yếu tố điều tra nào, hàng có lưu mẫu hay không. Cục Hải quan địa phương phải chịu trách nhiệm trước Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan về mức giá đề xuất và cơ sở đề xuất đưa ra.

- Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được bảng báo cáo giá của Cục Hải quan địa phương, Tổng cục Hải quan có ý kiến chỉ đạo mức giá cụ thể để áp dụng thống nhất ở tất cả các Cục Hải quan địa phương. Tổng cục Hải quan thống nhất ý kiến với Bộ Tài chính để tập hợp ban hành quyết định sửa đổi, bổ sung bảng giá tối thiểu.

- Trường hợp Cục Hải quan địa phương phát hiện thấy giá quy định trong các bảng giá tối thiểu có những điểm bất hợp lý thì Cục Hải quan kịp thời báo cáo Tổng cục Hải quan và Bộ Tài chính để điều chỉnh kịp thời.

 

 

C. GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI

 

- Khi đơn vị nhập khẩu có đơn khiếu nại về việc áp giá, xây dựng giá cao, bất hợp lý so với giá CiF trung bình thực tế tại cửa khẩu, Cục Hải quan tỉnh, thành phố nơi làm thủ tục hải quan xem xét đơn trình bày:

+ Nếu giá bất hợp lý do cán bộ tính thuế áp sai giá trong bảng giá tối thiểu thì Cục Hải quan tỉnh, thành phố kiểm tra lại và có công văn trả lời cho đơn vị và đồng thời điều chỉnh áp đúng bảng giá.

+ Nếu khiếu nại giá tính thuế cao bất hợp lý nhưng giá này đã có trong các bảng giá tối thiểu, thì Cục Hải quan tỉnh, thành phố chuyển hồ sơ khiếu nại về Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính để xem xét trả lời. - Khi Tổng cục Hải quan có ý kiến trả lời bằng văn bản gửi đơn vị nhập khẩu và đồng gửi Cục Hải quan tỉnh, thành phố nơi làm thủ tục, thì Cục Hải quan tỉnh, thành phố nghiên cứu nội dung công văn tiến hành giải quyết nhanh chóng thuận tiện theo đúng tinh thần công văn chỉ đạo. Trường hợp trả lời của Tổng cục Hải quan chưa rõ thì phải báo cáo ngay về Tổng cục Hải quan. Trong vòng 7 ngày kể từ ngày nhận được công văn trả lời giải quyết khiếu nại của Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan tỉnh, thành phố phải giải quyết xong việc khiếu nại của chủ hàng. - Trong trường hợp đơn vị nhập khẩu vẫn chưa thoả mãn với cách giải quyết của Tổng cục Hải quan thì có thể khiếu nại đến Bộ Tài chính, ý kiến của Bộ trưởng Bộ Tài chính là ý kiến cuối cùng.

 

C. XỬ LÝ VI PHẠM

 

Đối với doanh nghiệp nhập khẩu nếu bị phát hiện có sự vi phạm các quy định tại Quyết định 918-TC/QĐ/TCT ngày 11 tháng 11 năm 1997 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Thông tư 82/1997/TT/BTC ngày 11 tháng 11 năm 1997 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện áp dụng giá tính thuế nhập khẩu thì ngoài việc truy thu đủ thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) sẽ bị xử phạt về hành vi trốn thuế theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành và theo các quy định tại Nghị định số 22/CP ngày 17-4-1996 của Chính phủ về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, Thông tư số 45 TC/TCT ngày 1-8-1996 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 22/CP nêu trên.

Trường hợp tái vi phạm (từ lần thứ hai trở lên) thì Cục Hải quan địa phương không cho phép đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp tiếp tục được thực hiện theo chế độ quy định tại Thông tư 82/1997/TT/BTC ngày 11 tháng 11 năm 1997 của Bộ Tài chính.

Trong quá trình thực hiện có vướng mắc cần phản ánh kịp thời về Tổng cục Hải quan để nghiên cứu xem xét sửa đổi bổ sung cho phù hợp.

 

 

 

 

 

 

 


TỔNG CỤC HẢI QUAN

 

CỘNG HOÀ Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Cục Hải quan.....

 

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:..............

 

Tỉnh/Thành phố... ngày... tháng... năm...

MẪU 1

BÁO CÁO TÌNH HÌNH THỰC HIỆN ÁP GIÁ TÍNH THUẾ THEO HỢP ĐỒNG
(TỪ NGÀY.../.../ĐẾN NGÀY.../.../...)

Số

Mặt hàng (Tên, Tên

Tên đơn vị

Số, ngày

Số, ngày đăng ký TK

Số lượng

Giá hợp đồng

Nhận xét và kiến nghị

TT

đơn vị Model, Xuất xứ...)

nhập khẩu

hợp đồng

Số

Ngày

 

 

của Cục Hải quan

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nơi gửi:

Cục trưởng Cục Hải quan

- Bộ Tài chính

(Ký tên đóng dấu)

- Tổng cục Hải quan

 

- Lưu

 

 

TỔNG CỤC HẢI QUAN

 

CỘNG HOÀ Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Cục Hải quan.....

 

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:..............

 

Tỉnh/Thành phố... ngày... tháng... năm...

MẪU 2

Báo cáo Giá tính thuế hàng xuất khẩu, nhập khẩu
(Đối với những mặt hàng chưa được quy định giá tối thiểu)

Số

Mặt hàng

Tên đơn vị

Số, ngày

Số, ngày đăng ký TK

Số

Giá

Giá

Ghi chú

TT

(Tên, Model, Xuất xứ...)

xuất nhập khẩu

hợp đồng

Số

Ngày

lượng

hợp đồng

đề xuất

(theo phương pháp nào có lưu mẫu hay không)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nơi gửi:

Hải quan cửa khẩu

Cục trưởng Cục Hải quan

- Bộ Tài chính

(Nơi được phép đăng ký tờ khai)

(Ký tên đóng dấu)

- Tổng cục Hải quan

Ký, ghi rõ họ tên

 

- Lưu

 

 

 

(Chú ý: Cột "Số, ngày đăng ký tờ khai phải ghi rõ loại hình xuất nhập khẩu, ví dụ: xuất khẩu, nhập khẩu kinh doanh, đầu tư...).

Thuộc tính văn bản
Quyết định 285/TCHQ-QĐ của Tổng cục Hải quan về việc ban hành quy chế xác định giá tính thuế hàng hoá xuất nhập khẩu
Cơ quan ban hành: Tổng cục Hải quan Số công báo: Đang cập nhật
Số hiệu: 285/TCHQ-QĐ Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Quyết định Người ký: Nguyễn Văn Cầm
Ngày ban hành: 20/11/1997 Ngày hết hiệu lực: Đã biết
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực: Thuế-Phí-Lệ phí , Xuất nhập khẩu , Hải quan
Tóm tắt văn bản
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE GENERAL DEPARTMENT OF CUSTOMS
---------
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom – Happiness
--------------
No. 285-TCHQ/QD
Hanoi, November 20, 1997

 
DECISION
PROMULGATING THE REGULATION ON DETERMINING PRICES FOR CALCULATION OF IMPORT-EXPORT TAXES
THE GENERAL DIRECTOR OF THE GENERAL DEPARTMENT OF CUSTOMS
-Pursuant to the Ordinance on Customs of February 20, 1990;
-Pursuant to Article 7 of the Law on Import-Export Taxes promulgated on January 4, 1992;
-Pursuant to Article 7 of Decree No.54-CP of August 28, 1993 of the Government;
-Pursuant to Decision No.918-TC/QD/TCT of November 11, 1997 of the Minister of Finance;
-Pursuant to Circular No.82/1997/TT/BTC of November 11, 1997 of the Ministry of Finance guiding the application of prices for calculation of import-export taxes;
-At the proposal of the Head of the Department for Inspection of Import-Export Tax Collection,
DECIDES:
Article 1.- To issue together with this Decision the Regulation on Determining Prices for Calculation of Import-Export Taxes.
Article 2.- This Decision takes effect from December 01, 1997.
Article 3.- This Decision shall replace Decision No.192/TCHQ/KTTT of May 15, 1995 of the General Department of Customs; guiding Official Dispatch No.3670/TCHQ-KTTT of November 14, 1996 of the General Department of Customs and the earlier provisions of the General Department of Customs which are contrary to this Decision.
Article 4.- The head of the Department for Inspection of Import-Export Tax Collection, the heads of the units attached to the General Department, the Directors of the provincial/municipal Customs Departments shall have to implement this Decision.
 

 
FOR THE GENERAL DIRECTOR OF THE GENERAL DEPARTMENT OF CUSTOMSDEPUTY GENERAL DIRECTOR




Nguyen Van Cam

 
REGULATION
ON DETERMINING PRICES FOR CALCULATION OF IMPORT-EXPORT TAXES
(issued together with Decision No.285-TCHQ-QD of November 20, 1997 of the General Director of the General Department of Customs)
A.- USE OF PRICES FOR TAX CALCULATION:
In principle, the application of prices for tax calculation must be carried out quickly, conveniently and in strict compliance with the regulations on the control of the tax calculation prices, thus avoiding obstruction to the release of goods.The use of prices for tax calculation to specific cases is detailed as follows:
I.- FOR IMPORT GOODS:
1. At the place for filling customs procedures, the tax officer shall have to examine all the dossiers of the lot of goods, particularly the validity of the contract, receipts and payment vouchers as prescribed. Invoices for the calculation of minimum import tax (issued by the Ministry of Finance and by the General Department of Customs after consulting the Ministry of Finance) and make public such invoices at the place for filling customs procedures.
2. Basing him/herself on the results of examination of the goods actually imported and the related documents, the tax officer shall re-examine the following contents: Specific names of the commodities, their symbols and codes, their quality, origin, specifications, volume, weight and unit prices written in the contract..., then determine the tax calculation price on the basis of the minimum import price calculation index effective at the time of the import of goods. More concretely:
a/ With regard to import goods on the list of commodities with tax calculation prices controlled by the State as prescribed in Decision No.918-TC/QD/TCT of November 11, 1997 of the Minister of Finance:
- If the contractual prices conform with the valid papers related to the sale and purchase of goods and are equivalent to or higher than the minimum purchase prices provided for in the current price indice, the prices for import tax calculation shall be the prices stated in the sale and purchase contract (CIF prices).- If the contractual prices are lower than the prices defined in the minimum price index or if the goods are imported in a mode other than the mode of sale and purchase, the prices for import tax calculation shall be the minimum prices provided for in the current minimum import tax calculation price index.
b/ For import goods outside the list of commodities with tax calculation prices controlled by the State:- If they meet conditions prescribed in Point I, Section C of Circular No.82/1997/TT/BTC of November 11, 1997 of the Ministry of Finance guiding the use of prices for import tax calculation, the prices stated in the foreign trade contracts (CIF prices) shall apply.
- If they fail to meet conditions for the use of prices stated in the foreign trade contracts as prescribed in Point I, Section C, Circular No.82/1997/TT/BTC of November 11, 1997 of the Ministry of Finance guiding the use of prices for import tax calculation or if they are imported in a mode other than the mode of sale and purchase without payment through a bank, the current minimum import tax calculation price index shall apply.
c/ In case the tax calculation must be based on the prices provided for in the minimum price index (for goods with prices controlled by the State or goods which are not eligible for the use of the contractual prices) but such prices are not available in the minimum price index issued by the Ministry of Finance or the General Department of Customs, the tax officer at the place for filling customs procedures shall calculate the tax on the basis of the prices (CIF prices) declared by the concerned enterprise for the newly-made commodities, and at the same time make a price report to be submitted to the price bureau or the tax collection inspection bureau of the local customs department which shall later make a sum-up price report attached with its proposal on the prices for tax calculation (as defined in Point II, Section B of this document) and send it to the General Department of Customs for consideration and direction.
d/ For the enterprises and units entitled to make a self-declaration on prices for import tax calculation, they shall have to make commitments and take full responsibility for the veracity and accuracy of the declared prices; if a false declaration is detected, the concerned enterprise shall not only have to pay import tax arrears but depending on the seriousness of its violation, also be fined from two to five times the evaded tax amount.
e/ In case the imported goods are accompanied with lawful and valid sale and purchase contracts and eligible for tax calculation according to contractual prices as provided for in Decision No.918-TC/QD/TCT of November 11, 1997 of the Minister of Finance and Circular No.82/1997/TT/BTC of November 11, 1997 of the Ministry of Finance, but the selling and buying prices (CIF prices) written in the foreign trade contracts are two low or too absurd, the local customs department shall report to the General Department of Customs and the Ministry of Finance for direction on each specific case.
3. In the use of the prices for tax calculation, it is necessary to state clearly that they are "contractual prices" or minimum prices provided for in the current minimum import tax calculation price index and clearly indicate which price index is used (in the price column of the customs declaration).
4. If contractual prices are used, the provincial/municipal customs department shall have to write the goods' specific names, the names of the companies importing them, the serial numbers of the declaration papers, the FOB or CIF prices and the serial numbers of the contracts; consider cases of using contractual prices for tax calculation and once every ten days report them to the General Department of Customs and the Ministry of Finance for considering and directing the determination of tax calculation prices (separate reports are required for specific cases of import as mentioned in Section II, Circular No.82/1997/TT/BTC of November 11, 1997 of the Ministry of Finance).
5. Prices for the calculation of tax on used import goods shall be equivalent to 70% (seventy per cent) of the prices of brand-new goods of the same type. If the prices of the brand-new goods of the same type are not available, the prices of brand-new goods of the equivalent type shall serve as basis for tax calculation.
II.- FOR GOODS ON THE LIST OF COMMODITIES WITH TAX CALCULATION PRICES CONTROLLED BY THE STATE, IMPORTED BY SUBJECTS DEFINED IN SECTION A, CIRCULAR No.82/1997/TT/BTC OF NOVEMBER 11, 1997 OF THE MINISTRY OF FINANCE FOR USE AS MATERIALS AND RAW MATERIALS TO BE PUT DIRECTLY INTO PRODUCTION OR ASSEMBLY:
1. On the basis of a thorough study of the provisions applicable to the above-said form of import defined in Decision No.918-TC/QD/TCT of November 11, 1997 of the Minister of Finance and Circular No.82/1997/TT/BTC of November 11, 1997 of the Ministry of Finance and the dossier registered for completion of procedures for the import of the lot of goods, the local customs department shall conduct a check and if it deems that all conditions prescribed in Point II, Section C of Circular No.82/1997/TT/BTC of November 11, 1997 of the Ministry of Finance are met, the contractual prices (CIF prices) shall comply with its approval written on the customs declaration.
In implementing these provisions, the local customs department should pay attention to the following:
a/ Regarding the certification of technological lines for the manufacture of products:
- A domestic production unit must obtain certification from the parent ministry or the provincial/municipal People's Committee that it has the necessary technological line for production and assembly, is fully able of making products as prescribed and uses the imported materials and raw materials for the production thereof.
- An enterprise with foreign investment ital must obtain certification from the Ministry of Planning and Investment or the Ministry of Science, Technology and Environment that it has the technological line for production and assembly and complete equipment, meets the prescribed technical conditions, performs the production and business functions in conformity with its investment license and uses the imported materials and raw materials for production and assembly of the products.
b/ The enterprise or unit engaged in the import or consigned import activities must obtain from the tax agency directly managing it the certification that it has strictly observed the regulations on accounting books, vouchers and receipts.
3. If a lot of goods is not qualified for the use of the contractual prices as prescribed in Point II, Circular No.82/1997/TT/BTC of November 11, 1997 of the Ministry of Finance, the local customs department shall base itself on the principles of controlling the tax calculation prices to apply the current minimum price index to tax calculation.
4. The supply of imported materials and raw materials by a domestic independent business cost-accounting enterprise to another (including units of the same corporation or union...) shall not be considered "direct input into production".
5. With regard to the imported materials and raw materials on the list of commodities with tax calculation prices controlled by the State, which have been taxed according to the contractual prices (CIF prices) that are lower than the prescribed minimum prices, if they are not directly put into production but sold or transferred to other enterprises, units or organizations, within two days after such sale or transfer, the concerned units or enterprises shall have to declare to the customs agency of the locality where the procedures for the import of the lot of goods has been completed. The local customs department shall, on the basis of the declaration made by the importing unit and certification by the local tax department, re-calculate the tax for the transferred materials in accordance with the regulations on the tax calculation prices at the time of transfer and then issue a notice on the additional tax amount.
6. In order to manage customs declarations for import registration in this form, the tax collection inspection bureau of the local customs department shall have to open a monitor book which must include the following details:
+ The name of the importing unit
+ The serial number of the import contract
+ The registration number of the customs declaration
+ The opening date of the customs declaration
+ The import volume
+ The volume of goods that have been put into production
+ The remaining volume of goods (that have not yet been put into production)
+ The volume of goods transferred (not directly put into production)
Once every three months, the local customs department shall request the importing unit to discuss directly with it on a detailed calculation of the volume of goods imported in this form, which have not yet been put into production or not been directly put into production.
III.- REGARDING GOODS IMPORTED BY ENTERPRISES WITH FOREIGN INVESTMENT ITAL AND RAW MATERIALS AND MATERIALS IMPORTED FOR THE PRODUCTION OF GOODS FOR EXPORT:
1. With regard to goods imported by enterprises with foreign investment ital, which are not exempt from import tax under the Law on Foreign Investment in Vietnam:
a/ With regard to import goods which are not exempt from tax as prescribed, the determination of tax calculation prices shall comply with the current regulations guiding the determination of tax calculation prices as provided for in Points I and II, Section A of this document.
b/ With regard to goods which are raw materials, spare parts, accessories and materials imported for the production of export goods, which, when being imported, are subject to the import tax, and when being exported are eligible for the reimbursement of the tax amount corresponding the volume of materials and raw materials used for the production of the export products, the tax shall be calculated according to the prices stated in the foreign trade contract. The remaining raw materials, if not being used for the production of export goods and subject to the tax payment when imported the tax calculation prices shall be re-determined according to the guidances on the application of tax calculation prices provided for in this document.
c/ To avoid the possibility that the goods owner may lower the goods' prices to sell them within the country or increase the goods' prices to raise the value of his/her ital contributions, the provincial/municipal customs department shall have to monitor specific cases, summarize and report them to the General Department of Customs for handling measures, which, however, must not affect the release of goods.
2. With regard to raw materials imported for the production of goods for export (by enterprises without investment ital contributions): if being exported in the form of finished products and eligible for the reimbursement of the tax amount corresponding to the volume of finished products, the determination of tax calculation prices shall also comply with the provisions of Point I(b), this Section.
3. With regard to materials and raw materials imported for the processing of goods for foreign countries:
- The provisions of Official Dispatch No.663/TCHQ-KTTT of February 28, 1997 of the General Department of Customs shall apply: the tax calculation in the customs declaration is not required, and the goods shall be examined and quickly released.
- In case the materials and raw materials imported for the processing of goods for foreign countries have not been used up or the finished products therefrom have not been exported, if they have been subject to import tax payment, the prices for tax calculation shall be determined in accordance with guidances provided for in this document and the time for determination shall be the time when the reason for tax exemption changes.
IV.- FOR EXPORT GOODS:
In case a foreign trade contract is lawful and valid as prescribed in Point I, Section C, Circular No.82/1997/TT/BTC of November 11, 1997 of the Ministry of Finance and the prices written thereon conform with the relevant valid documents, the tax calculation prices shall be the prices stated in the foreign trade contract (FOB prices, excluding the freight "F" and insurance premium "I")
B.- SETTING PRICES:
I.- CASES WHERE TAX CALCULATION PRICES MUST BE SET:
- For newly-made goods with tax calculation prices controlled by the State but such prices are not available in the price index promulgated together with Decision No.918-TC/QD/TCT of November 11, 1997 of the Minister of Finance;
- For goods with tax calculation prices not controlled by the State, which are not qualified for the application of the contractual prices for tax calculation as prescribed in Article 2, Decision No.918-TC/QD/TCT of November 11, 1997 of the Minister of Finance, or goods imported in a mode other than the mode of sale and purchase for which the tax calculation prices have not yet been specified in the minimum import tax calculation price index promulgated jointly by the General Department of Customs and the Ministry of Finance.
II.- PRICE SETTING PROCESS:
- When calculating tax according to prices (CIF prices) declared by the enterprise itself for the lot of the newly-made goods (the minimum prices of which have not been provided for in the current minimum import tax calculation price index), the tax officer at the place for filling customs procedures shall make a price report and send it to the tax collection inspection bureau or the price bureau of the local customs department on the same day of tax calculation.
- The tax collection inspection bureau or the price bureau shall have to make a summary price report attached with its proposals on the tax calculation prices and send it to the leadership of the local customs department and within two days from the date of the registration of the import declaration on the lot of the newly-made goods, shall have to report by fax to the General Department of Customs and at the same time send an official dispatch to the General Department of Customs and the Ministry of Finance. The provincial/municipal customs departments shall not be allowed to issue decisions on the setting of tax calculation prices.
In the price report all columns, sections and notes must clearly state the grounds for making price proposals and for keeping the goods' samples or not. The local customs department shall have to take responsibility before the General Department of Customs for the proposed prices as well as the grounds for making such proposal.
- Within 15 days after receiving the price reports from the local customs departments, the General Department of Customs shall have to decide the concrete levels of prices to be uniformly applied by the customs departments in all localities. The General Department of Customs shall consult the Ministry of Finance to gather the price reports and issue a decision on the amendment and supplement to the minimum price index.
- In case the local customs department discover that the prices prescribed in the minimum price index are not reasonable, it shall report in time to the General Department of Customs and the Ministry of Finance for prompt adjustment.
C.- SETTLEMENT OF COMPLAINTS:
- In case an importing unit complains about the application or the setting of high prices or unreasonable prices as compared with the average CIF prices applicable at the border gate, the customs department of the province or city where the customs procedures have been completed shall consider the complaint and proceeds as follows:
+ If the prices are unreasonable since the tax officer has improperly applied the prices in the minimum price index, the provincial/municipal customs department shall re-examine such application, reply in writing to the complainant and at the same time apply the prescribed prices.
+ If the complaint is about the unreasonably high tax calculation prices which have been, however, specified in the minimum price index, the provincial/municipal customs department shall transfer the complaint dossier to the General Department of Customs and the Ministry of Finance for consideration and reply.
- After the General Department of Customs has sent a written reply to the importing unit and the customs department of the province or city where the customs procedures have been completed, the latter shall study such official dispatch and settle the case quickly and conveniently in the spirit of the directions in the official dispatch. In case the reply from the General Department of Customs remains unclear, the local customs department must immediately report it to the General Department of Customs. Within 7 days after receiving the official dispatch giving reply on the settlement of the complaint from the General Department of Customs, the provincial/municipal customs department shall have to settle the goods owner's claim.
- If the importing unit does not satisfy with the settlement by the General Department of Customs, it may lodge its complaint to the Ministry of Finance, and the opinions of the Minister of Finance shall be final.
D.- HANDLING OF VIOLATIONS:
An importing enterprise, if detected to be violating the provisions of Decision No.918-TC/QD/TCT of November 11, 1997 of the Minister of Finance and Circular No.82/1997/TT/BTC of November 11, 1997 of the Ministry of Finance guiding the application of import tax calculation prices, shall, besides having to pay the import tax and special consumption tax (if any) arrears but also be sanctioned for tax evasion in accordance with the provisions of the current Law on Import and Export Taxes, the Law on Special Consumption Tax, Decree No.22-CP of April 17, 1996 of the Government on sanctions against administrative violations in the field of taxation, and Circular No.45-TC/TCT of August 1st, 1996 of the Ministry of Finance guiding the implementation of Decree No.22-CP.
For a repeat violation (from the second time onwards), the local customs department shall not allow the concerned unit, organization or enterprise to continue the application of the regulations provided for in Circular No.82/1997/TT/BTC of November 11, 1997 of the Ministry of Finance.
In the course of implementation, any arising problem must be promptly reported to the General Department of Customs for study, consideration and appropriate amendment and supplement.
 

 
FOR THE GENERAL DIRECTOR OF THE GENERAL DEPARTMENT OF CUSTOMSDEPUTY GENERAL DIRECTOR




Nguyen Van Cam

 
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.
Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi
1900.6192 hoặc gửi câu hỏi tại đây

Tải ứng dụng LuatVietnam Miễn phí trên

Văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!