• Tổng quan
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung hợp nhất 

    Tính năng này chỉ có tại LuatVietnam.vn. Nội dung hợp nhất tổng hợp lại tất cả các quy định còn hiệu lực của văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính... trên một trang. Việc hợp nhất văn bản gốc và những văn bản, Thông tư, Nghị định hướng dẫn khác không làm thay đổi thứ tự điều khoản, nội dung.

    Khách hàng chỉ cần xem Nội dung hợp nhất là có thể nắm bắt toàn bộ quy định hiện hành đang áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

    =>> Xem hướng dẫn chi tiết cách sử dụng Nội dung hợp nhất

  • Tải về
Lưu
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Theo dõi VB
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Ghi chú
Báo lỗi
In

Nghị định 243/2026/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 57/2025/NĐ-CP và Nghị định 58/2025/NĐ-CP về mua bán điện trực tiếp và phát triển năng lượng tái tạo

Ngày cập nhật: Thứ Bảy, 27/06/2026 20:28 (GMT+7)
Cơ quan ban hành: Chính phủ
Số công báo:
Số công báo là mã số ấn phẩm được đăng chính thức trên ấn phẩm thông tin của Nhà nước. Mã số này do Chính phủ thống nhất quản lý.
Đang cập nhật
Số hiệu: 243/2026/NĐ-CP Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Nghị định Người ký: Phạm Gia Túc
Trích yếu: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 57/2025/NĐ-CP ngày 03/03/2025 của Chính phủ quy định cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và khách hàng sử dụng điện lớn và Nghị định 58/2025/NĐ-CP ngày 03/03/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
26/06/2026
Ngày hết hiệu lực:
Ngày hết hiệu lực là ngày, tháng, năm văn bản chính thức không còn hiệu lực (áp dụng).
Đang cập nhật
Áp dụng:
Ngày áp dụng là ngày, tháng, năm văn bản chính thức có hiệu lực (áp dụng).
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Lĩnh vực: Công nghiệp Điện lực

TÓM TẮT NGHỊ ĐỊNH 243/2026/NĐ-CP

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải Nghị định 243/2026/NĐ-CP

Tải văn bản tiếng Việt (.pdf) Nghị định 243/2026/NĐ-CP PDF (Bản có dấu đỏ)

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng hiệu lực: Đã biết

CHÍNH PHỦ
__________

Số: 243/2026/NĐ-CP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

______________________

Hà Nội, ngày 26 tháng 6 năm 2026

 

 

NGHỊ ĐỊNH

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 57/2025/NĐ-CP ngày 03
tháng 3 năm 2025 của Chính phủ quy định cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa
đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và khách hàng sử dụng điện lớn và
Nghị định số 58/2025/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2025 của Chính phủ quy
định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo,
điện năng lượng mới

 

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15;

Căn cứ Luật Điện lực số 61/2024/QH15;

Căn cứ Nghị quyết số 253/2025/QH15 của Quốc hội về các cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công Thương;

Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 57/2025/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2025 của Chính phủ quy định cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và khách hàng sử dụng điện lớn (Nghị định số 57/2025/NĐ-CP) và Nghị định số 58/2025/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới (Nghị định số 58/2025/NĐ-CP).

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 57/2025/NĐ-CP

1. Sửa đổi, bổ sung Điều 1 như sau:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm.”.

2. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 2 như sau:

a) Bổ sung điểm c vào sau điểm b khoản 1 Điều này như sau:

“c) Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm.”;

b) Sửa đổi, bổ sung điểm b và điểm c khoản 2 Điều này như sau:

“b) Khách hàng sử dụng điện lớn phục vụ mục đích sản xuất hoặc khách hàng sử dụng điện lớn để sử dụng cho hoạt động của các trung tâm dữ liệu hoặc khách hàng sử dụng điện lớn để sử dụng cho trạm, trụ sạc điện, tủ đổi pin xe điện phục vụ mục đích kinh doanh dịch vụ sạc điện cho phương tiện giao thông sử dụng điện mua điện từ Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực và các đơn vị bán lẻ điện đấu nối cấp điện áp từ 22 kV trở lên;

c) Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do).”.

3. Sửa đổi khoản 3, khoản 5, khoản 6, khoản 11, khoản 17 và bổ sung khoản 21, khoản 22, khoản 23 vào sau khoản 20 Điều 3 như sau:

“3. Điện mặt trời mái nhà là điện được sản xuất từ các tấm quang điện theo nguyên lý biến đổi từ quang năng thành điện năng, được lắp đặt trên mái của công trình xây dựng là nhà hoặc có kết cấu dạng nhà, kết nối với thiết bị điện và phục vụ cho hoạt động phát điện.

5. Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo là đơn vị điện lực sở hữu nhà máy điện hoặc nguồn điện năng lượng tái tạo quy định tại khoản 14 Điều 4 Luật Điện lực số 61/2024/QH15.

6. Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm là đơn vị điện lực được cấp giấy phép hoạt động điện lực trong lĩnh vực bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm này.

11. Lưới điện kết nối riêng là lưới điện được đầu tư, lắp đặt, xây dựng và vận hành để bán điện trực tiếp cho khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm, bao gồm:

a) Hệ thống đường dây tải điện trên không hoặc cáp điện ngầm, máy biến áp và trang thiết bị phụ trợ được liên kết với nhau để truyền dẫn điện;

b) Lưới điện kết nối nguồn điện mặt trời mái nhà đến điểm nhận điện của bên mua điện.

17. Sản lượng điện dư là:

a) Phần sản lượng điện của đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, bao gồm sản lượng điện từ nguồn điện năng lượng tái tạo và sản lượng điện từ hệ thống lưu trữ điện (nếu có) phát vào lưới điện quốc gia, lưới điện của các mô hình khu, cụm khi không bán hết cho khách hàng sử dụng điện lớn thông qua lưới điện kết nối riêng;

b) Phần sản lượng điện của đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, bao gồm sản lượng điện từ nguồn điện năng lượng tái tạo và sản lượng điện từ hệ thống lưu trữ điện (nếu có) phát vào lưới điện quốc gia khi không bán hết cho đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm thông qua lưới điện kết nối riêng;

c) Phần sản lượng điện của đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trong trường hợp đơn vị này đầu tư nguồn điện năng lượng tái tạo bán điện cho khách hàng sử dụng điện lớn theo cơ chế mua bán điện trực tiếp thông qua lưới điện kết nối riêng), bao gồm sản lượng điện từ nguồn điện năng lượng tái tạo và sản lượng điện từ hệ thống lưu trữ điện (nếu có) phát vào lưới điện quốc gia khi không bán hết cho các khách hàng sử dụng điện lớn tại các mô hình khu, cụm này; được xác định là sản lượng đo đếm tại điểm giao, nhận điện giữa đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm và Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực theo chiều phát lên lưới điện quốc gia cho mỗi chu kỳ thanh toán.

21. Mô hình khu, cụm là khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, cụm công nghiệp, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khu đô thị, khu thương mại tự do.

22. Thiết bị bật tắt phát ngược (tên tiếng Anh là Zero-Export) là một thiết bị có chức năng điều khiển được thiết kế để cho phép (chế độ tắt chống phát ngược) hoặc ngăn chặn (chế độ bật chống phát ngược) phát công suất hữu công lên lưới điện theo cơ chế bật hoặc tắt. Thiết bị này có thể được tích hợp trong bộ chuyển đổi nghịch lưu (Inverter) hoặc được tích hợp trong thiết bị giám sát, điều khiển hoặc là một thiết bị độc lập.

23. Trung tâm dữ liệu là cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin toàn diện được thiết kế đặc biệt để lưu trữ, xử lý và phân tích dữ liệu quy mô lớn, phức tạp bao gồm máy chủ, thiết bị lưu trữ, mạng lưới kết nối thông tin, các hệ thống phụ trợ, phần mềm bảo đảm khả năng hoạt động liên tục và an toàn cho các ứng dụng và dịch vụ số quy mô lớn.”.

4. Sửa đổi, bổ sung Điều 4 như sau:

Điều 4. Các cơ chế mua bán điện trực tiếp

Mua bán điện trực tiếp là hoạt động mua bán điện được thực hiện giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm thực hiện thông qua các hình thức sau:

1. Mua bán điện trực tiếp thông qua lưới điện kết nối riêng là hoạt động giao kết hợp đồng mua bán điện và giao nhận điện năng trực tiếp qua lưới điện kết nối riêng giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm theo quy định tại Chương II Nghị định này, bao gồm:

a) Hoạt động mua bán điện giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và khách hàng sử dụng điện lớn;

b) Hoạt động mua bán điện giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm;

c) Hoạt động mua bán điện giữa đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm và khách hàng sử dụng điện lớn trong trường hợp đơn vị bán lẻ điện đầu tư nguồn điện năng lượng tái tạo để bán điện trực tiếp cho khách hàng sử dụng điện lớn.

2. Mua bán điện trực tiếp thông qua lưới điện quốc gia là hoạt động giao kết hợp đồng mua bán điện và giao nhận điện năng giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) và các đơn vị có liên quan theo quy định tại Chương III Nghị định này, bao gồm:

a) Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo bán toàn bộ điện năng sản xuất trên thị trường điện giao ngay của thị trường bán buôn điện cạnh tranh;

b) Khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) ký hợp đồng kỳ hạn điện với đơn vị phát điện năng lượng tái tạo;

c) Khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) ký hợp đồng mua bán điện với Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực. 3. Khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm thực hiện mua bán điện trực tiếp theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này được ký hợp đồng mua bán điện với Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực để mua điện năng đáp ứng nhu cầu sử dụng điện phù hợp với quy định của pháp luật khác có liên quan.”

5. Sửa đổi, bổ sung Điều 5 như sau:

a) Sửa đổi tên Điều 5 như sau:

Điều 5. Các yêu cầu chung đối với đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm”;

b) Bổ sung cụm từ “đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trong trường hợp đơn vị này đầu tư nguồn điện năng lượng tái tạo bán điện cho khách hàng sử dụng điện lớn theo cơ chế mua bán điện trực tiếp thông qua lưới điện kết nối riêng)” vào sau cụm từ “khách hàng sử dụng điện lớn” tại khoản 1 Điều 5.

c) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 5 như sau:

“2. Khách hàng sử dụng điện lớn có trách nhiệm thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này và các quy định sau:

a) Tại thời điểm bắt đầu tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp (năm N):

Đối với khách hàng sử dụng điện lớn đã sử dụng điện từ 12 tháng trở lên: tổng sản lượng điện tiêu thụ bình quân tháng trong 12 tháng gần nhất (xác định căn cứ trên tổng sản lượng điện mua từ một Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực, Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm) không thấp hơn mức sản lượng tiêu thụ điện của khách hàng sử dụng điện lớn tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp do Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định.

Đối với khách hàng sử dụng điện lớn có thời gian sử dụng điện dưới 12 tháng: Sản lượng điện đăng ký tính theo sản lượng tiêu thụ điện dự kiến hằng tháng mua từ một Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực, Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm không thấp hơn mức sản lượng tiêu thụ điện của khách hàng sử dụng điện lớn tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp do Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định.

b) Tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp năm N+1:

Đối với khách hàng sử dụng điện lớn tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp dưới 12 tháng (tính tới ngày 01 tháng 11 năm N): được tiếp tục tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp năm N+1.

Đối với khách hàng sử dụng điện lớn đã tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp từ 12 tháng trở lên (tính tới ngày 01 tháng 11 năm N): phải có sản lượng tiêu thụ điện bình quân tháng từ tháng 11 năm N-1 đến hết tháng 10 năm N (xác định căn cứ trên tổng sản lượng điện mua từ một Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực, Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm) không thấp hơn mức sản lượng tiêu thụ điện của khách hàng sử dụng điện lớn tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp do Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định.”.

d) Bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 5 như sau:

“3. Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm có trách nhiệm thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này và các quy định sau:

a) Tại thời điểm bắt đầu tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp (năm N):

Đối với đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm đã mua điện từ 12 tháng trở lên: tổng sản lượng điện mua bình quân tháng trong 12 tháng gần nhất (xác định căn cứ trên tổng sản lượng điện mua từ một Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực) không thấp hơn mức sản lượng tiêu thụ điện của khách hàng sử dụng điện lớn tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp do Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định.

Đối với đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm có thời gian mua điện dưới 12 tháng: Sản lượng điện đăng ký tính theo sản lượng tiêu thụ điện dự kiến hằng tháng mua từ một Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực không thấp hơn mức sản lượng tiêu thụ điện của khách hàng sử dụng điện lớn tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp do Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định.

b) Tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp năm N+1:

Đối với đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp dưới 12 tháng (tính tới ngày 01 tháng 11 năm N): được tiếp tục tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp năm N+1.

Đối với đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm đã tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp từ 12 tháng trở lên (tính tới ngày 01 tháng 11 năm N): phải có sản lượng điện mua bình quân tháng từ tháng 11 năm N-1 đến hết tháng 10 năm N (xác định căn cứ trên tổng sản lượng điện mua từ một Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực, đơn vị phát điện năng lượng tái tạo) không thấp hơn mức sản lượng tiêu thụ điện của khách hàng sử dụng điện lớn tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp do Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định.”.

6. Sửa đổi, bổ sung Điều 6 như sau:

a) Bổ sung cụm từ “đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm” vào sau cụm từ “khách hàng sử dụng điện lớn” tại đoạn mở đầu của khoản 1 và điểm a khoản 1 Điều 6;

b) Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 1 Điều 6 như sau:

“b) Giá điện tại hợp đồng mua bán điện do bên bán điện và bên mua điện đàm phán, thỏa thuận.”;

c) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 6 như sau:

“2. Trừ trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này, sản lượng điện dư và giá mua bán sản lượng điện dư giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trong trường hợp đơn vị này đầu tư nguồn điện năng lượng tái tạo bán điện cho khách hàng sử dụng điện lớn theo cơ chế mua bán điện trực tiếp thông qua lưới điện kết nối riêng) và Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá mức giá tối đa của khung giá phát điện loại hình tương ứng.”;

d) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 6 như sau:

“3. Sản lượng điện dư của đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trong trường hợp đơn vị này đầu tư nguồn điện mặt trời mái nhà bán điện cho khách hàng sử dụng điện lớn theo cơ chế mua bán điện trực tiếp thông qua lưới điện kết nối riêng) đầu tư, lắp đặt nguồn điện mặt trời mái nhà bán cho Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực không quá 50% sản lượng điện thực phát. Giá mua bán sản lượng điện dư là giá điện năng thị trường điện bình quân của năm trước liền kề do đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện công bố nhưng không cao hơn mức giá tối đa của khung giá phát điện của loại hình điện mặt trời mặt đất tương ứng.”;

đ) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 6 như sau:

“4. Trường hợp đơn vị phát điện năng lượng tái tạo đầu tư, lắp đặt nguồn điện mặt trời mái nhà bán điện trực tiếp cho khách hàng sử dụng điện lớn nằm trong các mô hình khu, cụm và bán sản lượng điện dư cho đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm, phần sản lượng điện dư và giá mua bán sản lượng điện dư do hai bên đàm phán, thỏa thuận.”.

7. Bổ sung điểm đ vào sau điểm d khoản 1 Điều 7 như sau:

“đ) Đầu tư, trang bị thiết bị đo đếm, thiết bị bật tắt phát ngược (nếu có), phương tiện thu thập, giám sát và điều khiển.”.

8. Bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 7 như sau:

“3. Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo đầu tư, lắp đặt nguồn điện mặt trời mái nhà bán điện trực tiếp cho khách hàng sử dụng điện lớn không phải thực hiện thủ tục đăng ký phát triển nguồn điện mặt trời mái nhà.”.

9. Bổ sung Điều 8a vào sau Điều 8 như sau:

“Điều 8a. Trách nhiệm của Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm

1. Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm có trách nhiệm tuân thủ quy định tại Điều 63 Luật Điện lực và các quy định sau đây:

a) Tạo điều kiện thuận lợi để khách hàng sử dụng điện lớn trong các mô hình khu, cụm, đơn vị phát điện năng lượng tái tạo đầu tư, lắp đặt bán điện trực tiếp thông qua lưới điện kết nối riêng cho khách hàng sử dụng điện lớn trong các mô hình khu, cụm tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp theo quy định pháp luật;

b) Tuân thủ các quy định về điều độ, vận hành hệ thống điện quốc gia, hệ thống truyền tải điện, phân phối điện và đo đếm điện năng do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành;

c) Chịu trách nhiệm quản lý, theo dõi, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện mua bán điện trực tiếp trong khu vực quản lý bảo đảm tuân thủ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn điện; tuân thủ quy định về bảo vệ công trình điện lực và an toàn trong lĩnh vực điện lực. Trường hợp phát hiện vi phạm, thông báo đến cơ quan có thẩm quyền để kiểm tra, xử lý theo quy định;

d) Thỏa thuận, thống nhất để sửa đổi hợp đồng mua bán điện hiện hữu với Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực để mua điện năng đáp ứng nhu cầu sử dụng điện của các khách hàng sử dụng điện trong các mô hình khu, cụm này.

2. Trường hợp khách hàng sử dụng điện lớn tại các mô hình khu, cụm có văn bản thông báo gửi đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm về việc mua điện trực tiếp thông qua lưới điện kết nối riêng từ đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, trong thời hạn 07 ngày, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm có trách nhiệm thỏa thuận, thống nhất với khách hàng sử dụng điện lớn về:

a) Sửa đổi hợp đồng mua bán điện hiện hữu;

b) Chi phí sử dụng lưới điện hằng tháng trong phạm vi các mô hình khu, cụm căn cứ sản lượng điện thực tế mua hằng tháng thông qua hợp đồng mua bán điện trực tiếp của khách hàng sử dụng điện lớn và mức chênh lệch giữa giá bán điện cho đơn vị bán lẻ điện và giá bán lẻ điện cho khách hàng sử dụng điện lớn theo quy định về thực hiện giá bán điện hiện hành;

c) Phương án đấu nối từ nguồn điện năng lượng tái tạo của đơn vị phát điện năng lượng tái tạo.

3. Trường hợp đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm mua điện trực tiếp từ đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, đơn vị bán lẻ điện này có trách nhiệm thỏa thuận và thực hiện phân bổ sản lượng điện từ nguồn điện năng lượng tái tạo cho khách hàng sử dụng điện lớn tại các mô hình khu, cụm này có nhu cầu mua điện từ nguồn điện năng lượng tái tạo. Việc phân bổ sản lượng điện phải bảo đảm tổng sản lượng điện phân bổ không vượt quá sản lượng điện đơn vị bán lẻ điện này mua từ đơn vị phát điện năng lượng tái tạo.

4. Ngoài các trách nhiệm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm đầu tư nguồn điện năng lượng tái tạo bán điện cho khách hàng sử dụng điện lớn theo cơ chế mua bán điện trực tiếp thông qua lưới điện kết nối riêng thực hiện trách nhiệm của đơn vị phát điện năng lượng tái tạo quy định tại Điều 7 Nghị định này.”.

10. Sửa đổi, bổ sung Điều 14 như sau:

a) Thay thế cụm từ “hoặc Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm được ủy quyền” thành “đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do)” tại khoản 1 và đoạn mở đầu khoản 2 Điều này;

b) Thay thế cụm từ “(hoặc đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm)” thành “đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do)” tại đoạn mở đầu khoản 3 và điểm a khoản 3 Điều này;

c) Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 3 Điều này như sau:

“b) Phần sản lượng tiêu thụ điện của khách hàng sử dụng điện lớn chênh lệch so với sản lượng điện mua từ đơn vị phát điện năng lượng tái tạo quy đổi về điểm giao nhận được thanh toán bằng giá bán lẻ điện áp dụng cho nhóm khách hàng tương ứng về đối tượng, mục đích sử dụng, cấp điện áp và thời gian sử dụng điện trong ngày theo Quy định về giá bán điện do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành. Phần sản lượng điện tiêu thụ của đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) chênh lệch so với sản lượng điện mua từ đơn vị phát điện năng lượng tái tạo được thanh toán theo giá bán buôn điện theo quy định về giá bán điện do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành.”.

11. Thay thế cụm từ “hoặc Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm được ủy quyền” thành “đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do)” tại Điều 15.

12. Sửa đổi, bổ sung Điều 16 như sau:

a) Thay thế cụm từ “hoặc Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm được ủy quyền” thành “đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do)” tại Điều 16;

b) Sửa đổi, bổ sung định nghĩa về QKH(i), QKHhe(i), Qm(i) tại Điều 16 như sau:

“QKH(i): Sản lượng tiêu thụ thực tế của Khách hàng sử dụng điện lớn hoặc sản lượng mua điện của Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) trong chu kỳ i (kWh);

QKHhc(i): Điện năng tiêu thụ hiệu chỉnh của Khách hàng sử dụng điện lớn hoặc sản lượng mua điện của Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) trong chu kỳ giao dịch i (kWh), được xác định như sau:

QKHhe(i) = MIN (QKH(i); Qm(i))

Trong đó Qm(i) là sản lượng thực phát của đơn vị phát điện năng lượng tái tạo quy đổi về điểm giao nhận điện của khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do), được xác định như sau:”;

13. Sửa đổi, bổ sung Điều 17 như sau:

a) Thay thế cụm từ “hoặc Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm được ủy quyền” thành “đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do)” tại Điều 17;

b) Bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 17 như sau:

“5. Trường hợp đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) giao kết hợp đồng kỳ hạn điện với đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và bán điện cho khách hàng sử dụng điện lớn tại các mô hình này:

a) Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm này có trách nhiệm thỏa thuận và thực hiện phân bổ sản lượng điện từ nguồn điện năng lượng tái tạo (quy đổi tại điểm giao nhận) cho khách hàng sử dụng điện lớn tại các mô hình khu, cụm này có nhu cầu mua điện từ nguồn điện năng lượng tái tạo; b) Việc phân bổ sản lượng điện quy định tại điểm a khoản này phải bảo đảm tổng sản lượng điện phân bổ không vượt quá sản lượng điện năng mà Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo đã thỏa thuận tại hợp đồng kỳ hạn điện với Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm này.”.

14. Thay thế cụm từ “hoặc Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm được ủy quyền” thành “đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do)” tại Điều 18. 15. Sửa đổi, bổ sung Điều 19 như sau:

a) Bổ sung cụm từ “đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do)” vào sau cụm từ “Khách hàng sử dụng điện lớn” tại điểm b, điểm c và điểm d khoản 2 Điều này;

b) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 19 như sau:

“4. Trước ngày 20 tháng 3 năm N, gửi Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện thông tin về chi phí sử dụng dịch vụ hệ thống điện trên một đơn vị điện năng (CDPPAdv) và chi phí thanh toán bù trừ chênh lệch trên một đơn vị điện năng (PCL) trong 05 năm gần nhất để công bố trên trang thông tin điện tử thị trường điện”.

16. Sửa đổi, bổ sung Điều 20 như sau:

a) Bổ sung cụm từ “đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do)” vào sau cụm từ “Khách hàng sử dụng điện lớn” tại khoản 1, khoản 3 và khoản 4 Điều này;

b) Sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều này như sau:

“6. Trước ngày 15 tháng 11 của năm N, trên cơ sở danh sách khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) không đủ điều kiện tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp năm N+1 do Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực gửi, Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện tổng hợp danh sách, báo cáo Bộ Công Thương.”;

c) Sửa đổi, bổ sung khoản 7 Điều này như sau:

“7. Trước ngày 30 tháng 11 năm N, công bố danh sách khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) không đủ điều kiện tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp thông qua lưới điện quốc gia năm N+1.”.

17. Sửa đổi, bổ sung Điều 21 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều này như sau:

“4. Ký kết Hợp đồng mua bán điện trên thị trường điện với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (hoặc đơn vị được ủy quyền); ký kết hợp đồng kỳ hạn điện với khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do).”;

b) Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều này như sau:

“5. Thống nhất tỷ lệ phần trăm (%) sản lượng điện đơn vị phát điện năng lượng tái tạo phân bổ cho khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) theo nguyên tắc quy định tại Điều 26 Nghị định này.”.

18. Sửa đổi, bổ sung Điều 22 như sau:

a) Thay thế cụm từ “(hoặc Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm được ủy quyền)” thành “đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do)” tại khoản 1, khoản 2 Điều này;

b) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều này như sau:

“3. Trước ngày 10 tháng 11 của năm N, rà soát và lập danh sách khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) (trong phạm vi quản lý) không đủ điều kiện tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp năm N+1, gửi Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện.”;

c) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều này như sau:

“4. Trước ngày 15 tháng 11 năm N, báo cáo Tập đoàn Điện lực Việt Nam tỷ lệ tổn thất điện năng trên lưới điện phân phối tại cấp điện áp từ 22 kV đến dưới 110 kV và từ 110 kV trở lên năm N-2 của Tổng công ty Điện lực.”;

d) Bổ sung cụm từ “đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do)” vào sau cụm từ “Khách hàng sử dụng điện lớn” tại khoản 5 Điều này.

19. Sửa đổi, bổ sung Điều 23 như sau:

Điều 23. Trách nhiệm của Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cum (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do)

1. Trường hợp đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) mua điện trực tiếp từ Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, đơn vị bán lẻ điện có trách nhiệm:

a) Đàm phán, giao kết hợp đồng kỳ hạn điện với Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, trong đó thỏa thuận, thống nhất tỷ lệ sản lượng điện năng lượng tái tạo phân bổ theo nguyên tắc quy định tại Điều 26 Nghị định này;

b) Thỏa thuận, thống nhất sửa đổi hợp đồng mua bán điện hiện hữu với Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực bảo đảm nhu cầu sử dụng điện từ nguồn điện năng lượng tái tạo của các khách hàng sử dụng điện lớn và nhu cầu sử dụng điện của các khách hàng còn lại trong các mô hình khu, cụm này;

c) Thỏa thuận và thực hiện phân bổ sản lượng điện từ nguồn điện năng lượng tái tạo cho khách hàng sử dụng điện lớn tại các mô hình khu, cụm này có nhu cầu mua điện từ nguồn điện năng lượng tái tạo. Việc phân bổ sản lượng điện phải bảo đảm tổng sản lượng điện phân bổ không vượt quá sản lượng điện đơn vị bán lẻ điện này mua từ đơn vị phát điện năng lượng tái tạo.

2. Trường hợp nhận ủy quyền của khách hàng sử dụng điện lớn để tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) có trách nhiệm:

a) Đàm phán, giao kết hợp đồng kỳ hạn điện với Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, hợp đồng mua bán điện với Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực theo quy định tại Nghị định này;

b) Thoả thuận, thống nhất sửa đổi hợp đồng mua bán điện hiện hữu với khách hàng sử dụng điện lớn trong phạm vi các khu, cụm trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị và các tài liệu có liên quan theo quy định pháp luật để bảo đảm cung cấp sản lượng điện theo nhu cầu của khách hàng sử dụng điện lớn này; thỏa thuận, thống nhất chi phí sử dụng lưới điện hằng tháng cho khách hàng sử dụng điện lớn này căn cứ sản lượng điện tiêu thụ thực tế hằng tháng của khách hàng sử dụng điện lớn và mức chênh lệch giữa giá bán điện cho đơn vị bán lẻ điện và giá bán lẻ điện cho khách hàng sử dụng điện lớn theo quy định về thực hiện giá bán điện hiện hành; thỏa thuận, thống nhất với khách hàng sử dụng điện lớn về chi phí phát sinh (nếu có) từ các hợp đồng kỳ hạn điện ký với đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, hợp đồng mua bán điện với Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực;

c) Thỏa thuận, sửa đổi hợp đồng mua bán điện hiện hữu với Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực bảo đảm nhu cầu sử dụng điện của các khách hàng còn lại trong các mô hình khu, cụm này.

3. Trường hợp khách hàng sử dụng điện lớn trong mô hình khu, cụm có văn bản thông báo về việc ký kết hợp đồng mua bán điện trực tiếp với đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và đề nghị phối hợp thực hiện cơ chế mua bán điện trực tiếp, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, đơn vị bán lẻ điện trong các mô hình khu, cụm này có trách nhiệm:

a) Thỏa thuận thống nhất với khách hàng sử dụng điện lớn về việc chấm dứt hợp đồng mua bán điện đã ký giữa hai bên;

b) Thỏa thuận, thống nhất sửa đổi hợp đồng mua bán điện hiện hữu với Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực bảo đảm nhu cầu sử dụng điện của các khách hàng còn lại trong các mô hình khu, cụm này;

c) Thỏa thuận, thống nhất chi phí sử dụng lưới điện hằng tháng trong phạm vi các mô hình khu, cụm căn cứ sản lượng điện thực tế mua hằng tháng thông qua hợp đồng mua bán điện trực tiếp của khách hàng sử dụng điện lớn và mức chênh lệch giữa giá bán điện cho đơn vị bán lẻ điện và giá bán lẻ điện cho khách hàng sử dụng điện lớn theo quy định về thực hiện giá bán điện hiện hành.

4. Trong quá trình tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp, trường hợp các thông tin theo quy định tại Điều 26 Nghị định này thay đổi, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện, Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực.

5. Cung cấp thông tin về tình hình thực hiện, các vấn đề phát sinh, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.”.

20. Sửa đổi, bổ sung Điều 24 như sau: a) Bỏ cụm từ “hoặc Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm được ủy quyền” tại khoản 1 Điều này. b) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều này như sau:

“3. Khách hàng sử dụng điện lớn trong các mô hình khu, cụm mua bán điện với Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực có trách nhiệm thực hiện quy định tại khoản 2 Điều này và các quy định sau: a) Thống nhất với đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) để sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng mua bán điện hiện hữu bảo đảm cung cấp sản lượng điện theo nhu cầu của khách hàng sử dụng điện lớn quy định tại Điều 23 Nghị định này;

b) Thống nhất với đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm về: chi phí sử dụng lưới điện trong phạm vi các mô hình khu, cụm, chi phí phát sinh (nếu có) từ các hợp đồng kỳ hạn điện ký với đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và hợp đồng mua bán điện với Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực quy định tại Nghị định này.";

c) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều này như sau:

"4. Trong quá trình tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp, trường hợp các thông tin theo quy định tại Điều 26 Nghị định này thay đổi, khách hàng sử dụng điện lớn có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện, Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực.”. 21. Bổ sung cụm từ “đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm” vào sau cụm từ “Khách hàng sử dụng điện lớn” tại Điều 25.

22. Sửa đổi, bổ sung Điều 26 như sau:

Điều 26. Trình tự tham gia mua bán điện trực tiếp thông qua lưới điện quốc gia

1. Đơn vị đại diện và phương thức nộp hồ sơ

a) Khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) và đơn vị phát điện năng lượng tái tạo thống nhất, ủy quyền cho một đơn vị đại diện theo quy định của pháp luật để gửi hồ sơ đăng ký tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp về Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện;

b) Hồ sơ đăng ký được gửi qua Cổng Dịch vụ trực tuyến của Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện hoặc qua dịch vụ bưu chính.

2. Bộ hợp đồng khi tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp thông qua lưới điện quốc gia thực hiện theo quy định tại Điều 4 Nghị định này. Thời điểm bộ hợp đồng mua bán điện trực tiếp được xác định có hiệu lực theo thỏa thuận của các bên; thời điểm áp dụng cơ chế mua bán điện trực tiếp tính từ thời điểm Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện công bố chính thức việc các bên tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp.

3. Hồ sơ đăng ký tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp thông qua lưới điện quốc gia Đơn vị đại diện gửi hồ sơ đăng ký tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp đến Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện, bao gồm các tài liệu sau:

a) Văn bản đề nghị tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp;

b) Bản sao đầy đủ bộ hợp đồng quy định tại khoản 2 Điều này;

c) Thông tin của đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện trong phạm vi mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do), bao gồm: địa điểm, quy mô công suất, phụ tải, cơ sở hạ tầng đo đếm và kết nối phục vụ tham gia thị trường điện;

d) Hồ sơ đăng ký tham gia thị trường bán buôn điện cạnh tranh của đơn vị phát điện năng lượng tái tạo theo Quy định vận hành thị trường bán buôn điện cạnh tranh do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành;

đ) Văn bản thống nhất tỷ lệ sản lượng điện đơn vị phát điện năng lượng tái tạo phân bồ cho khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) không vượt quá 100% đối với trường hợp 01 đơn vị phát điện năng lượng tái tạo ký hợp đồng kỳ hạn điện với 01 Khách hàng sử dụng điện lớn hoặc 01 đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do). Trường hợp 01 đơn vị phát điện năng lượng tái tạo ký hợp đồng kỳ hạn điện với nhiều khách hàng sử dụng điện lớn, nhiều đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) thì tổng các tỷ lệ sản lượng điện đơn vị phát điện năng lượng tái tạo phân bồ cho khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) không vượt quá 100%;

e) Văn bản hoàn thành các điều kiện kỹ thuật, trang bị cơ sở hạ tầng đo đếm và công nghệ thông tin theo quy định;

g) Văn bản thỏa thuận thống nhất với Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực về trách nhiệm lắp đặt công tơ đo đếm của khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) mua bán điện trực tiếp đáp ứng các điều kiện kỹ thuật theo quy định;

h) Trường hợp khách hàng sử dụng điện lớn trong các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) chấm dứt hợp đồng với đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm này để mua điện trực tiếp của đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và của Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực: bao gồm các văn bản thỏa thuận thống nhất về dự kiến chấm dứt hợp đồng mua bán điện đã ký giữa khách hàng sử dụng điện lớn trong các mô hình khu, cụm với đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm này, văn bản thoả thuận, thống nhất về chi phí sử dụng lưới điện trong phạm vi các mô hình khu, cụm;

i) Trường hợp khách hàng sử dụng điện lớn ủy quyền cho đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp: bao gồm văn bản thỏa thuận thống nhất về sửa đổi hợp đồng mua bán điện hiện hữu với khách hàng sử dụng điện lớn; hợp đồng mua bán điện hiện hữu sửa đổi giữa đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm này với Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực; văn bản thỏa thuận, thống nhất về chi phí sử dụng lưới điện trong phạm vi các mô hình khu, cụm; văn bản thỏa thuận, thống nhất về chi phí phát sinh (nếu có) từ các hợp đồng kỳ hạn điện ký với đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và hợp đồng mua bán điện với Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực;

k) Trường hợp đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) mua điện trực tiếp từ Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo: bao gồm hợp đồng mua bán điện hiện hữu sửa đổi với Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực (để bảo đảm nhu cầu sử dụng điện từ nguồn điện năng lượng tái tạo của các khách hàng sử dụng điện lớn và nhu cầu sử dụng điện của các khách hàng còn lại trong các mô hình khu, cụm này); văn bản thỏa thuận, thực hiện phân bổ sản lượng điện từ nguồn điện năng lượng tái tạo cho khách hàng sử dụng điện lớn tại các mô hình khu, cụm này có nhu cầu mua điện từ nguồn điện năng lượng tái tạo.

4. Tiếp nhận và xử lý hồ sơ Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp theo quy định tại khoản 2 và 3 Điều này, Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện có trách nhiệm:

a) Kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ đăng ký tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp;

b) Rà soát tính đáp ứng tỷ lệ sản lượng điện đơn vị phát điện năng lượng tái tạo phân bổ cho khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do). Trường hợp chưa đáp ứng, Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện có văn bản hướng dẫn đơn vị đại diện gửi hồ sơ đăng ký tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp thống nhất tỷ lệ sản lượng điện đơn vị phát điện năng lượng tái tạo phân bổ cho khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) theo nguyên tắc quy định tại điểm đ khoản 3 Điều này;

c) Trường hợp hồ sơ đăng ký tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp đầy đủ, hợp lệ, Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện thực hiện kiểm tra, tổng hợp thông tin, báo cáo Bộ Công Thương và có văn bản thông báo thời điểm chính thức tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp và gửi Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực, đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, khách hàng sử dụng điện lớn và đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do).

5. Trong thời gian từ khi nộp hồ sơ đến trước thời điểm Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện công bố chính thức việc tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp thông qua lưới điện quốc gia, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực và đơn vị có liên quan có trách nhiệm phối hợp bảo đảm đo đếm, giao nhận và thanh toán điện năng liên tục, không gián đoạn cho đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) theo cơ chế giao dịch hiện hành, phù hợp với pháp luật về điện lực và quy định vận hành thị trường điện.”.

23. Sửa đổi, bổ sung Điều 27 như sau:

Điều 27. Tạm ngừng, chấm dứt, khôi phục tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp

1. Tạm ngừng tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp

a) Tạm ngừng việc tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp đối với khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do), đơn vị phát điện năng lượng tái tạo trong các trường hợp: một trong các hợp đồng của cơ chế mua bán điện trực tiếp bị tạm ngừng hoặc hết hiệu lực, gây ảnh hưởng đến lợi ích của các bên liên quan; có hành vi lợi dụng cơ chế, chính sách để trục lợi; khách hàng sử dụng điện lớn đã tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp năm N nhưng không đáp ứng điều kiện về việc tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp trong năm N+1 theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định này; đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) đã tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp năm N nhưng không đáp ứng điều kiện về việc tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp trong năm N+1 theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định này;

b) Thanh toán trong trường hợp tạm ngừng tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp: khách hàng sử dụng điện lớn thanh toán theo biểu giá bán lẻ điện do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành; đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) thanh toán theo biểu giá điện hiện hành; trường hợp hợp đồng kỳ hạn điện với khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) bị tạm ngừng hoặc hết hiệu lực: Giá mua điện cho đơn vị phát điện năng lượng tái tạo được xác định bằng giá điện năng thị trường điện bình quân của năm trước liền kề do Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện công bố và không vượt quá mức giá tối đa của khung giá phát điện loại hình tương ứng do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành.

2. Trường hợp tạm ngừng thị trường điện giao ngay

a) Giá điện năng thanh toán cho đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và giá tham chiếu trong hợp đồng kỳ hạn điện được xác định bằng giá thị trường điện trong các chu kỳ của ngày tương ứng trong tuần gần nhất mà thị trường điện giao ngay còn vận hành;

b) Các hợp đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này tiếp tục thực hiện theo các thỏa thuận đã ký.

3. Chấm dứt tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp

a) Các bên chấm dứt tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp khi có một trong các trường hợp sau: Tự nguyện chấm dứt theo yêu cầu của các bên tham gia; có hành vi lợi dụng cơ chế, chính sách để trục lợi và hậu quả gây ra không thể khắc phục. Trường hợp chấm dứt tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp, các khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do), Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực có trách nhiệm đàm phán, ký kết hợp đồng mua bán điện theo quy định hiện hành;

b) Trong thời hạn 12 tháng kể từ thời điểm khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) chấm dứt tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp, Tập đoàn Điện lực Việt Nam và đơn vị phát điện năng lượng tái tạo tiếp tục thực hiện Hợp đồng mua bán điện trên thị trường giao ngay và có trách nhiệm hoàn thành đàm phán, ký kết hợp đồng mua bán điện theo quy định hiện hành, bảo đảm cung cấp điện ổn định của hệ thống điện, không gián đoạn vận hành, huy động nguồn điện năng lượng tái tạo. Giá mua điện trong thời gian này được xác định bằng giá điện năng thị trường điện bình quân của năm trước liền kề do Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện công bố và không vượt quá mức giá tối đa của khung giá phát điện loại hình tương ứng do Bộ Công Thương ban hành.

4. Khôi phục tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp

a) Các bên khôi phục tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp khi có một trong các trường hợp sau: khôi phục thị trường điện giao ngay, các hành vi vi phạm đã được khắc phục và được cơ quan có thẩm quyền ra quyết định về việc khôi phục tham gia cơ chế;

b) Trường hợp khôi phục tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp, các đơn vị có trách nhiệm tiếp tục thực hiện các thỏa thuận tại các hợp đồng mua bán điện đã ký kết.

5. Thẩm quyền trong việc tạm dừng, chấm dứt, khôi phục tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp

a) Bộ trưởng Bộ Công Thương có ý kiến đối với việc tạm ngừng và khôi phục tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp của Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, Khách hàng sử dụng điện lớn, Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) trên cơ sở báo cáo, kiến nghị của Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện hoặc các cơ quan, tổ chức liên quan khác;

b) Bộ trưởng Bộ Công Thương quyết định chấm dứt tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp của Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, Khách hàng sử dụng điện lớn, Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) sau khi lấy ý kiến bằng văn bản của các cơ quan có liên quan”.

24. Sửa đổi, bổ sung Điều 28 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại điểm a khoản 1 Điều này như sau: “Đối tượng báo cáo: Khách hàng sử dụng điện lớn, Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm tham gia mua bán điện trực tiếp thông qua lưới điện kết nối riêng;

Cơ quan nhận báo cáo: Bộ Công Thương, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực (chỉ nhận báo cáo của Khách hàng sử dụng điện lớn, Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm trong địa bàn quản lý);”;

b) Bổ sung điểm a1 vào sau điểm a khoản 1 Điều này như sau:

“a1) Báo cáo kết quả mua bán điện trực tiếp thông qua Lưới điện kết nối riêng tháng M-1 theo Mẫu số 05 Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định này như sau: 

Tên báo cáo: Báo cáo kết quả mua bán điện trực tiếp của tháng trước liền kề;

Nội dung báo cáo: Tổng số Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, Khách hàng sử dụng điện lớn, Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp; các thông tin về chủ thể hợp đồng (bên mua, bên bán); sản lượng điện năng mua bán trong tháng; chi phí mua điện trực tiếp trong tháng; cấp điện áp đấu nối của nguồn điện mặt trời mái nhà; các khó khăn, vướng mắc, kiến nghị giải pháp (nếu có);

Đối tượng báo cáo: Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực;

Cơ quan nhận báo cáo: Bộ Công Thương;

Phương thức gửi báo cáo: Qua thư điện tử hoặc qua dịch vụ bưu chính;

Thời hạn gửi báo cáo: Trước ngày 20 tháng M; Tần suất gửi báo cáo: Hằng tháng.”;

c) Sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại điểm b khoản 1 Điều này như sau:

“Đối tượng báo cáo: Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực, Khách hàng sử dụng điện lớn, Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm tham gia mua bán điện trực tiếp thông qua lưới điện kết nối riêng;

Cơ quan nhận báo cáo: Bộ Công Thương (chỉ nhận báo cáo của Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực), Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố (chỉ nhận báo cáo của Khách hàng sử dụng điện lớn, Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm trong địa bàn quản lý);

Thời hạn gửi báo cáo: Trước ngày 15 tháng 12 năm N;”;

d) Sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại điểm a khoản 2 Điều này như sau:

“Nội dung báo cáo: Tổng số Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, Khách hàng sử dụng điện lớn, Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp; các thông tin về chủ thể hợp đồng (bên mua, bên bán); sản lượng điện năng mua bán trong tháng; chi phí mua điện trực tiếp trong tháng; các khó khăn, vướng mắc, kiến nghị giải pháp (nếu có);

Đối tượng báo cáo: Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện, Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực, Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do);

Cơ quan nhận báo cáo: Bộ Công Thương (chỉ nhận báo cáo của Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện, Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực), Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố (chỉ nhận báo cáo của Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) trên địa bàn quản lý);”;

đ) Sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại điểm b khoản 2 Điều này như sau:

“Nội dung báo cáo: Tổng số Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, Khách hàng sử dụng điện lớn, Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp; các thông tin về Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, Khách hàng sử dụng điện lớn, Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do); sản lượng điện năng mua bán trong năm; chi phí mua điện trực tiếp trong năm; các khó khăn, vướng mắc, kiến nghị giải pháp (nếu có);

Đối tượng báo cáo: Tập đoàn Điện lực Việt Nam; Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện, Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực, Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do);

Cơ quan nhận báo cáo: Bộ Công Thương (chỉ nhận báo cáo của Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện, Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực), Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố (chỉ nhận báo cáo của Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) trên địa bàn quản lý);

Thời hạn gửi báo cáo: Trước ngày 15 tháng 12 năm N;”.

25. Bổ sung cụm từ “đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do)” vào sau cụm từ “khách hàng sử dụng điện lớn” tại tên Mục 2 Chương 3.

26. Thay thế cụm từ “hoặc đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm được ủy quyền” thành cụm từ “đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do)” tại tên Mục 3 Chương 3.

27. Thay thế Phụ lục IV và Mẫu số 01, Mẫu số 02, Mẫu số 03, Mẫu số 04 Phụ lục V và bổ sung Mẫu số 1A vào sau Mẫu số 01 Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định số 57/2025/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2025 của Chính phủ quy định cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và khách hàng sử dụng điện lớn.

28. Bãi bỏ khoản 3 Điều 31.

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2025/NĐ-CP

1. Sửa đổi, bổ sung Điều 3 như sau:

“Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Bên bán điện dư là tổ chức, cá nhân sở hữu nguồn điện tự sản xuất, tự tiêu thụ hoặc tổ chức, cá nhân tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân nêu trên theo quy định của pháp luật.

2. Bên mua điện dư là đơn vị điện lực thuộc một trong các đối tượng sau:

a) Công ty con của Tổng công ty Điện lực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam;

b) Đơn vị trực thuộc Tổng công ty Điện lực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam;

c) Đơn vị sở hữu lưới điện riêng theo quy định tại khoản 7 Điều này.

3. Đấu nối với hệ thống điện quốc gia là đấu nối điện được xác định như sau:

a) Đấu nối điện trực tiếp giữa phụ tải điện hoặc nguồn điện của tổ chức, cá nhân với hệ thống điện quốc gia (sau đây gọi là đấu nối trực tiếp với hệ thống điện quốc gia);

b) Đấu nối điện giữa phụ tải điện hoặc nguồn điện của tổ chức, cá nhân với lưới điện của Đơn vị sở hữu lưới điện riêng và lưới điện của Đơn vị sở hữu lưới điện riêng đấu nối trực tiếp với hệ thống điện quốc gia (sau đây gọi là đấu nối với hệ thống điện quốc gia thông qua lưới điện của Đơn vị sở hữu lưới điện riêng).

4. Điện mặt trời mái nhà là điện được sản xuất từ các tấm quang điện theo nguyên lý biến đổi từ quang năng thành điện năng, được lắp đặt trên mái của công trình xây dựng là nhà hoặc có kết cấu dạng nhà, kết nối với thiết bị điện và phục vụ cho hoạt động phát điện.

5. Sản lượng điện dư là sản lượng điện được sản xuất từ nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới theo hình thức tự sản xuất, tự tiêu thụ nhưng không sử dụng hết cho phụ tải và phát vào lưới điện thuộc sở hữu của Bên mua điện dư.

6. Thiết bị bật tắt phát ngược (tên tiếng Anh là Zero-Export) là một thiết bị có chức năng điều khiển được thiết kế để cho phép (chế độ tắt chống phát ngược) hoặc ngăn chặn (chế độ bật chống phát ngược) phát công suất hữu công lên lưới điện theo cơ chế bật hoặc tắt. Thiết bị này có thể được tích hợp trong bộ chuyển đổi nghịch lưu (Inverter) hoặc được tích hợp trong thiết bị giám sát, điều khiển hoặc là một thiết bị độc lập.

7. Đơn vị sở hữu lưới điện riêng là đơn vị điện lực được cấp giấy phép hoạt động điện lực trong lĩnh vực phân phối điện hoặc bán lẻ điện có quyền sở hữu hoặc có quyền sử dụng hợp pháp đối với lưới điện mà nguồn điện tự sản xuất, tự tiêu thụ có đấu nối với hệ thống điện quốc gia thông qua lưới điện này.

8. Mô hình khu, cụm là các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, cụm công nghiệp, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khu đô thị, khu thương mại tự do có hoạt động phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ.”.

2. Sửa đổi, bổ sung khoản 2, khoản 3 Điều 7 như sau:

“2. Chế độ báo cáo:

a) Chủ sở hữu nhà máy điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới thuộc dự án do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận hoặc quyết định chủ trương đầu tư báo cáo số liệu quy định tại khoản 1 Điều này về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước ngày 10 tháng 12 hằng năm; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo về Bộ Công Thương trước ngày 15 tháng 12 hằng năm; số liệu báo cáo phải bảo đảm tính liên tục về thời gian giữa các kỳ báo cáo;

b) Chủ sở hữu nhà máy điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới thuộc dự án do Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận hoặc quyết định chủ trương đầu tư báo cáo số liệu quy định tại khoản 1 Điều này về Bộ Công Thương trước ngày 10 tháng 12 hằng năm; số liệu báo cáo phải bảo đảm tính liên tục về thời gian giữa các kỳ báo cáo;

c) Báo cáo số liệu quy định tại điểm a, điểm b khoản này được gửi dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định pháp luật về giao dịch điện tử hoặc bằng văn bản giấy.

3. Sử dụng, khai thác số liệu:

Bộ Công Thương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổng hợp, lưu giữ số liệu do chủ sở hữu nhà máy điện báo cáo theo khoản 1 và khoản 2 Điều này phục vụ cho đánh giá tiềm năng phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới; cung cấp dữ liệu cho công tác điều tra cơ bản quy định tại Điều 21 Luật Điện lực; phục vụ công tác tính toán, dự báo nguồn điện, vận hành hệ thống điện và mục đích khác theo quy định pháp luật.”.

3. Sửa đổi, bổ sung Điều 9 như sau:

“Điều 9. Dự án đầu tư điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ theo quy định tại khoản 19 Điều 24 Luật Đầu tư

Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư đối với các dự án điện năng lượng tái tạo, dự án điện năng lượng mới có đề nghị Nhà nước giao khu vực biển nhưng không thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 3 Điều 25 Luật Đầu tư.”.

4. Sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Điều 10 như sau:

a) Sửa đổi tên Điều 10 như sau:

“Điều 10. Quy định chung về phát triển điện tự sản xuất, tự tiêu thụ”.

b) Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 10 như sau:

“ 5. Yêu cầu vận hành đối với nguồn điện tự sản xuất, tự tiêu thụ có đấu nối với hệ thống điện quốc gia:

a) Nguồn điện tự sản xuất, tự tiêu thụ được vận hành bảo đảm an toàn hệ thống điện quốc gia, được huy động bình đẳng như các nguồn điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới khác có cùng loại hình;

b) Đối với nguồn điện đấu nối với hệ thống điện quốc gia tại cấp điện áp từ trung áp trở lên và có bán sản lượng điện dư vào hệ thống điện quốc gia, tổ chức, cá nhân phát triển nguồn điện có trách nhiệm trang bị thiết bị, phương tiện kết nối với hệ thống thu thập, giám sát, điều khiển của cấp điều độ có quyền điều khiển theo yêu cầu kỹ thuật do Tập đoàn Điện lực Việt Nam công bố công khai trên trang thông tin điện tử và thỏa thuận với Bên mua điện dư việc trang bị công tơ đo đếm điện hai chiều theo quy định;

c) Đối với nguồn điện đấu nối với hệ thống điện quốc gia tại cấp điện áp từ trung áp trở lên và không bán sản lượng điện dư, tổ chức, cá nhân phát triển nguồn điện có trách nhiệm trang bị thiết bị bật tắt phát ngược vào hệ thống điện quốc gia. Thiết bị bật tắt phát ngược được vận hành thường xuyên ở chế độ tắt (cho phép phát công suất hữu công lên lưới) và được bật (không phát công suất hữu công lên lưới) theo yêu cầu của cấp điều độ có quyền điều khiển trong trường hợp cần thiết để bảo đảm an toàn hệ thống điện;

d) Đối với nguồn điện đấu nối với hệ thống điện quốc gia tại cấp điện áp hạ áp, tổ chức, cá nhân phát triển nguồn điện không phải trang bị thiết bị, phương tiện quy định tại điểm b, điểm c khoản này. Trường hợp có bán sản lượng điện dư, tổ chức, cá nhân thỏa thuận với Bên mua điện dư việc trang bị công tơ đo đếm điện hai chiều theo quy định;

đ) Trường hợp nguồn điện đấu nối với hệ thống điện quốc gia thông qua lưới điện của Đơn vị sở hữu lưới điện riêng không có đơn vị điều độ, yêu cầu vận hành chỉ giới hạn trong phạm vi bảo đảm an toàn lưới điện do Đơn vị sở hữu lưới điện riêng quản lý;

e) Cấp điện áp đấu nối nguồn điện với hệ thống điện quốc gia được xác định tại điểm đấu nối giữa phụ tải điện hoặc nguồn điện của tổ chức, cá nhân với hệ thống điện quốc gia trong trường hợp đấu nối trực tiếp với hệ thống điện quốc gia; hoặc được xác định tại điểm đấu nối có cấp điện áp cao nhất giữa phụ tải điện, nguồn điện, lưới điện của tổ chức, cá nhân với lưới điện của Đơn vị sở hữu lưới điện riêng trong trường hợp đấu nối với hệ thống điện quốc gia thông qua lưới điện của Đơn vị sở hữu lưới điện riêng;

g) Tổ chức, cá nhân quy định tại điểm b, điểm c, điểm d, điểm đ khoản này phải tuân thủ lệnh điều độ, điều khiển của các cấp điều độ có quyền điều khiển;

h) Trường hợp xảy ra tình huống đe dọa đến khả năng bảo đảm cung cấp điện, Cấp điều độ có quyền điều khiển quyết định việc huy động hoặc ngừng, giảm công suất phát lên lưới từ các nguồn điện đấu nối với hệ thống điện quốc gia tại cấp điện áp từ trung áp trở lên để bảo đảm an toàn, an ninh cung cấp điện.”.

5. Sửa đổi, bổ sung Điều 11 như sau:

Điều 11. Công suất phát triển nguồn điện tự sản xuất, tự tiêu thụ

1. Quy mô công suất phát triển nguồn điện tự sản xuất, tự tiêu thụ thực hiện theo quy hoạch phát triển điện lực, kế hoạch thực hiện quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện trong quy hoạch tỉnh, trừ công suất của nguồn điện quy định tại điểm a, điểm b khoản 5 Điều 10 Luật Điện lực.

2. Tổ chức, cá nhân phát triển nguồn điện tự sản xuất, tự tiêu thụ có trách nhiệm tính toán, xác định quy mô công suất lắp đặt theo quy định tại khoản 3 Điều này và phù hợp với nhu cầu phụ tải điện của mình. Khuyến khích tổ chức, cá nhân lắp đặt hệ thống lưu trữ điện phù hợp với quy mô công suất nguồn điện và nhu cầu phụ tải điện.

3. Công suất lắp đặt nguồn điện tự sản xuất, tự tiêu thụ của tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 2 Điều này không được vượt quá công suất Pmax được tính toán theo công thức như sau:

a) Đối với tổ chức, cá nhân sử dụng công tơ đo đếm 01 pha:

Pmax = Udđmax x Idđmax x kc

Trong đó:

Udđmax là điện áp danh định lớn nhất của công tơ đo đếm (được ghi tại nhãn công tơ đo đếm);

Idđmax là dòng điện danh định lớn nhất của công tơ đo đếm (được ghi tại nhãn công tơ đo đếm);

kc là hệ số nhân được tính toán theo công thức sau:

kc = kI x kU

Trong đó:

kI là hệ số biến dòng đo lường, bằng tỷ số giữa dòng điện sơ cấp danh định (I1dđ) của thiết bị biến dòng đo lường và dòng điện thứ cấp danh định (I 2 dđ) của thiết bị biến dòng đo lường, được tính toán theo công thức sau: kI = I1dđ/I2dđ. Trường hợp không lắp đặt thiết bị biến dòng đo lường thì kI = 1;

kU là hệ số biến áp đo lường, bằng tỷ số giữa điện áp sơ cấp danh định (U1dđ) của thiết bị biến áp đo lường và điện áp thứ cấp danh định (U2dđ) của thiết bị biến áp đo lường, được tính toán theo công thức sau: kU = U1dđ/ U2dđ. Trường hợp không lắp đặt thiết bị biến áp đo lường thì kU = 1;

b) Đối với tổ chức, cá nhân sử dụng công tơ đo đếm 03 pha:

Trong đó:

Udđmax là điện áp danh định lớn nhất của công tơ đo đếm (được ghi tại nhãn công tơ đo đếm);

Idđmax là dòng điện danh định lớn nhất của công tơ đo đếm (được ghi tại nhãn công tơ đo đếm);

kc là hệ số nhân được tính toán theo công thức sau:

kc = kI x kU

Trong đó:

kI là hệ số biến dòng đo lường, bằng tỷ số giữa dòng điện sơ cấp danh định (I1dđ) của thiết bị biến dòng đo lường và dòng điện thứ cấp danh định (I2dđ) của thiết bị biến dòng đo lường, được tính toán theo công thức sau: kI = I1dđ/I2dđ. Trường hợp không lắp đặt thiết bị biến dòng đo lường thì kI = 1;

kU là hệ số biến áp đo lường, bằng tỷ số giữa điện áp sơ cấp danh định (U1dđ) của thiết bị biến áp đo lường và điện áp thứ cấp danh định (U2dđ) của thiết bị biến áp đo lường, được tính toán theo công thức sau: kU = U1dđ/U2dđ. Trường hợp không lắp đặt thiết bị biến áp đo lường thì kU = 1;

c) Trường hợp phát triển nguồn điện tự sản xuất, tự tiêu thụ không đấu nối với hệ thống điện quốc gia, tổ chức, cá nhân tự tính toán,xác định công suất lắp đặt phù hợp với nhu cầu phụ tải điện của mình.

6. Sửa đổi, bổ sung một số khoản, điểm của Điều 12 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 như sau:

“a) Trừ nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ, trước khi đầu tư xây dựng, lắp đặt nguồn điện, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ gửi thông báo tới Ủy ban nhân dân cấp tỉnh các thông tin về: Tên tổ chức, cá nhân; loại hình nguồn điện, quy mô công suất; mục đích, địa điểm, thời điểm bắt đầu thực hiện, thời điểm hoàn thành việc lắp đặt nguồn điện, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổng hợp, hằng năm báo cáo Bộ Công Thương;”;

b) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:

“2. Đối với nguồn điện có đấu nối với hệ thống điện quốc gia và không bán sản lượng điện dư, tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển nguồn điện thực hiện quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều này và quy định sau:

b) Trường hợp đã có điểm đấu nối với hệ thống điện quốc gia để phục vụ mua bán điện, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho Đơn vị quản lý lưới điện về các nội dung thay đổi dự kiến (nếu có) liên quan đến Thỏa thuận đấu nối, Hợp đồng mua bán điện đã ký kết và đề nghị sửa đổi, bổ sung trước khi đầu tư xây dựng, lắp đặt nguồn điện. Đơn vị quản lý lưới điện có trách nhiệm xem xét, hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện sửa đổi, bổ sung Thỏa thuận đấu nối, Hợp đồng mua bán điện theo quy định của pháp luật về điện lực trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo. Trường hợp phát sinh vướng mắc trong quá trình thực hiện mà vượt thẩm quyền giải quyết, các bên báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để được hướng dẫn theo quy định.

Trường hợp chưa có điểm đấu nối với hệ thống điện quốc gia, tổ chức, cá nhân thực hiện Thỏa thuận đấu nối với Đơn vị quản lý lưới điện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công Thương về hệ thống truyền tải điện, phân phối điện và đo đếm điện năng;

c) Tùy theo quy mô công suất phát triển và cấp điện áp đấu nối, tổ chức, cá nhân phải thực hiện yêu cầu kỹ thuật, điều khiển, giám sát, bảo vệ theo quy định tại Nghị định này và quy định của Bộ trưởng Bộ Công Thương về hệ thống truyền tải điện, phân phối điện và đo đếm điện năng.”;

c) Sửa đổi, bổ sung đoạn mở đầu của khoản 3 như sau:

“3. Đối với nguồn điện có bán sản lượng điện dư vào hệ thống điện quốc gia, tổ chức, cá nhân thực hiện theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 1; điểm b, điểm c khoản 2 Điều này và quy định sau:”;

d) Bổ sung điểm d vào sau điểm c khoản 4 như sau:

“d) Hợp đồng mua bán sản lượng điện dư do các bên thỏa thuận ký kết, bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật về điện lực và pháp luật có liên quan.”

7. Sửa đổi, bổ sung Điều 13 như sau:

“Điều 13. Quy định chung

1. Công trình xây dựng là nhà hoặc có kết cấu dạng nhà bảo đảm tuân thủ quy định về an toàn điện, phòng cháy và chữa cháy được lắp đặt nguồn điện mặt trời trên mái nhà theo hình thức tự sản xuất, tự tiêu thụ.

2. Hộ gia đình sử dụng nhà ở riêng lẻ lắp đặt nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ đấu nối với hệ thống điện quốc gia tại cấp điện áp hạ áp và có bán sản lượng điện dư được miễn hoặc không phải điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh.

3. Công trình xây dựng là nhà hoặc có kết cấu dạng nhà bảo đảm tuân thủ quy định về an toàn điện, phòng cháy và chữa cháy được lắp đặt nguồn điện mặt trời trên bề mặt bao che công trình theo hình thức tự sản xuất, tự tiêu thụ và được áp dụng quy định tại Nghị định này giống như nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ.

4. Nguồn điện mặt trời tự sản xuất, tự tiêu thụ lắp đặt trên công trình sử dụng đất kết hợp đa mục đích theo quy định pháp luật về đất đai được bán sản lượng điện dư theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Nghị định này và được áp dụng quy định khác tại Nghị định này giống như nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ.

5. Công suất phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ theo quy định tại Nghị định này được xác định theo công suất tại bộ chuyển đổi nghịch lưu (inverter).”.

8. Sửa đổi, bổ sung Điều 14 như sau:

“Điều 14. Cơ chế mua bán sản lượng điện dư

1. Nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ được bán sản lượng điện dư theo quy định tại Nghị định này gồm:

a) Nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ của hộ gia đình sử dụng nhà ở riêng lẻ;

b) Nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ đấu nối với hệ thống điện quốc gia tại cấp điện áp hạ áp;

c) Nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ lắp đặt tại khu vực miền núi, biên giới, hải đảo có lưới điện nhưng chưa đấu nối, liên kết với hệ thống điện quốc gia;

d) Nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ lắp đặt tại công trình là tài sản công. Việc mua bán sản lượng điện dư của nguồn điện này phải bảo đảm tuân thủ quy định tại Nghị định này, quy định pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, quy định pháp luật khác có liên quan và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Bên bán điện dư;

đ) Nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ khác có đấu nối với hệ thống điện quốc gia và thuộc quy mô công suất phát triển trong quy hoạch phát triển điện lực, kế hoạch thực hiện quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện trong quy hoạch tỉnh.

2. Sản lượng điện dư được mua bán giữa Bên mua điện dư và Bên bán điện dư bao gồm sản lượng điện dư của nguồn điện mặt trời mái nhà và sản lượng điện từ hệ thống lưu trữ điện được tích điện từ nguồn điện mặt trời mái nhà (nếu có). Sản lượng điện dư được xác định tại đầu ra của bộ chuyển đổi nghịch lưu (inverter) và được mua bán theo quy định sau:

a) Sản lượng điện dư được mua bán theo thỏa thuận giữa hai bên nhưng không vượt quá 50% sản lượng điện phát tại đầu ra của nguồn điện mặt trời mái nhà theo cường độ bức xạ;

b) Từ ngày Nghị định này có hiệu lực đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2030, hai bên được thỏa thuận để mua bán sản lượng điện dư với tỷ lệ cao hơn 50% sản lượng điện phát tại đầu ra của nguồn điện mặt trời mái nhà theo cường độ bức xạ trong trường hợp lưới điện tại khu vực đấu nối bảo đảm khả năng tiếp nhận, việc mua bán sản lượng điện dư đáp ứng điều kiện vận hành an toàn lưới điện và phương thức vận hành hệ thống điện theo quy định;

c) Đối với khu vực miền núi, biên giới, hải đảo chưa được cấp điện từ hệ thống điện quốc gia thì không giới hạn sản lượng điện dư được mua bán. Sản lượng điện dư được thanh toán là toàn bộ điện năng phát lên lưới điện của Bên mua điện dư được đo đếm tại công tơ. Kể từ thời điểm khu vực này được cấp điện từ hệ thống điện quốc gia, việc mua bán sản lượng điện dư thực hiện theo quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này tùy theo thời điểm áp dụng.

3. Sản lượng điện phát tại đầu ra của nguồn điện mặt trời mái nhà theo cường độ bức xạ hằng tháng được tính toán như sau:

Ai = PVout(i) x P

Trong đó:

Ai là sản lượng điện phát tại đầu ra của nguồn điện mặt trời mái nhà theo cường độ bức xạ trong tháng thứ i, đơn vị là kWh;

PVout(i) là hệ số đặc trưng thể hiện lượng điện năng trung bình phát ra trên 01 kWp của nguồn điện mặt trời mái nhà trong tháng thứ i tại từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị là kWh/kWp. Hệ số PVout lý thuyết của 12 tháng trong năm tại từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Tập đoàn Điện lực Việt Nam công bố công khai sau khi có ý kiến của Bộ Công Thương;

P là tổng công suất định mức của các tấm quang điện lắp đặt thực tế của nguồn điện mặt trời mái nhà, đơn vị là kWp.

4. Việc thanh toán tiền mua bán sản lượng điện dư hằng tháng giữa Bên mua điện dư và Bên bán điện dư được thực hiện theo quy định sau:

a) Trường hợp sản lượng điện dư thực tế phát vào lưới điện của Bên mua điện dư lớn hơn sản lượng điện dư theo thỏa thuận thì sản lượng điện dư được thanh toán bằng sản lượng điện dư theo thỏa thuận, đơn vị tính là kWh;

b) Trường hợp sản lượng điện dư thực tế phát vào lưới điện của Bên mua điện dư nhỏ hơn sản lượng điện dư theo thỏa thuận thì sản lượng điện dư được thanh toán là toàn bộ điện năng phát lên lưới điện của Bên mua điện dư được đo đếm tại công tơ, đơn vị tính là kWh;

c) Sản lượng điện dư theo thỏa thuận được xác định như sau:

Att = k x Ai

Trong đó:

Att là sản lượng điện dư theo thỏa thuận, đơn vị là kWh;

k là tỷ lệ phần trăm được hai bên thỏa thuận theo quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 2 Điều này;

Ai là sản lượng điện phát tại đầu ra của nguồn điện mặt trời mái nhà theo cường độ bức xạ được tính toán theo quy định tại khoản 3 Điều này.

5. Giá mua bán sản lượng điện dư là giá điện năng thị trường điện bình quân trong năm trước liền kề do đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện công bố, được tính bằng đơn vị Đồng Việt Nam/kWh. Trường hợp giá điện năng thị trường điện bình quân của năm trước liền kề cao hơn mức giá tối đa của khung giá phát điện loại hình điện mặt trời mặt đất không có pin lưu trữ tương ứng theo miền áp dụng, giá mua bán sản lượng điện dư được xác định bằng mức giá tối đa (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng) của khung giá phát điện đó.

6. Tổ chức, cá nhân bán sản lượng điện dư phải thực hiện thủ tục cấp giấy phép hoạt động điện lực, trừ trường hợp được miễn giấy phép hoạt động điện lực theo quy định.”.

9. Sửa đổi, bổ sung Điều 15 như sau:

“Điều 15. Thông báo phát triển nguồn điện

1. Tổ chức, cá nhân lắp đặt nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ có công suất từ 100 kW trở lên và không đấu nối với hệ thống điện quốc gia có trách nhiệm gửi thông báo tới Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lắp đặt nguồn điện các thông tin về: Tên tổ chức, cá nhân; quy mô công suất; địa điểm, thời điểm bắt đầu thực hiện, thời điểm hoàn thành và đưa nguồn điện vào sử dụng. Thông tin được gửi dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định pháp luật về giao dịch điện tử hoặc gửi thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng định danh quốc gia. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổng hợp, hằng năm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

2. Tổ chức, cá nhân lắp đặt nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ đấu nối với hệ thống điện quốc gia tại cấp điện áp hạ áp có trách nhiệm gửi Thông báo theo Mẫu số 01 tại Phụ lục kèm theo Nghị định này đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lắp đặt nguồn điện. Trường hợp tổ chức, cá nhân lắp đặt nguồn điện có công suất nhỏ hơn 01 kW tính theo công suất của bộ chuyển đổi nghịch lưu (inverter) thì không bắt buộc thực hiện quy định tại khoản này.

3. Tổ chức, cá nhân lắp đặt nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ đấu nối với hệ thống điện quốc gia tại cấp điện áp từ trung áp trở lên và không đăng ký bán sản lượng điện dư có trách nhiệm gửi Thông báo theo Mẫu số 02 tại Phụ lục kèm theo Nghị định này đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

4. Việc gửi, tiếp nhận, xử lý Thông báo theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này được thực hiện như sau:

a) Tổ chức, cá nhân gửi Thông báo trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng định danh quốc gia trước ngày bắt đầu lắp đặt nguồn điện ít nhất 10 ngày làm việc, trừ trường hợp tổ chức, cá nhân thực hiện gửi Thông báo theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực của người có thẩm quyền. Trường hợp gửi Thông báo trực tiếp tại Bộ phận Một cửa của cơ quan tiếp nhận, tổ chức, cá nhân đề nghị người tiếp nhận hướng dẫn, hỗ trợ gửi Thông báo trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng định danh quốc gia;

b) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Thông báo, cơ quan tiếp nhận có trách nhiệm gửi bản sao điện tử của Thông báo thông qua Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính hoặc thông qua môi trường điện tử phù hợp đến cơ quan, đơn vị quản lý nhà nước tại địa phương về xây dựng, phòng cháy và chữa cháy, bảo vệ môi trường, Đơn vị quản lý lưới điện để theo dõi, hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện theo quy định và đăng tải Thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của cơ quan mình;

c) Trường hợp tổ chức, cá nhân gửi Thông báo theo quy định tại khoản 2 Điều này đăng ký bán sản lượng điện dư, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm gửi bản sao điện tử của Thông báo thông qua Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính hoặc thông qua môi trường điện tử phù hợp đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để quản lý theo quy định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Thông báo.

5. Trường hợp việc lắp đặt nguồn điện có khả năng gây quá tải trạm biến áp, lưới điện hạ áp, lưới điện phân phối tại khu vực đăng ký phát triển, Đơn vị quản lý lưới điện gửi ý kiến phản hồi dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định pháp luật về giao dịch điện tử hoặc thông qua Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính hoặc thông qua môi trường điện tử phù hợp cho cơ quan tiếp nhận Thông báo trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Thông báo để cơ quan này thông tin tới tổ chức, cá nhân tạm dừng việc lắp đặt, vận hành nguồn điện.

6. Sau 10 ngày làm việc kể từ ngày gửi Thông báo mà không nhận được ý kiến phản hồi từ cơ quan tiếp nhận, tổ chức, cá nhân được phép lắp đặt nguồn điện mặt trời theo nội dung đã thông báo và quy định pháp luật có liên quan.”.

10. Sửa đổi, bổ sung Điều 16 như sau:

“Điều 16. Đối tượng đăng ký phát triển, thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký phát triển nguồn điện mặt trời mái nhà

1. Đối tượng đăng ký phát triển nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ gồm:

a) Tổ chức, cá nhân phát triển nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ đấu nối với hệ thống điện quốc gia tại cấp điện áp từ trung áp trở lên và có bán sản lượng điện dư;

b) Tổ chức, cá nhân phát triển nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ đấu nối với hệ thống điện quốc gia không thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản này có nhu cầu cấp Giấy chứng nhận đăng ký phát triển.

2. Đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này chỉ được lắp đặt nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký phát triển, trừ trường hợp đối tượng thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký phát triển theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực của người có thẩm quyền.

3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký phát triển cho đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này.

4. Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký phát triển:

a) Có đủ hồ sơ đăng ký phát triển theo quy định tại Điều 17 Nghị định này;

b) Công suất của nguồn điện đăng ký phát triển đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định này;

c) Có ý kiến của Đơn vị quản lý lưới điện xác nhận việc lắp đặt nguồn điện không gây quá tải trạm biến áp, lưới điện hạ áp, lưới điện phân phối tại khu vực đăng ký phát triển.”.

11. Sửa đổi, bổ sung Điều 17 như sau:

“Điều 17. Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký phát triển

1. Thành phần hồ sơ đăng ký phát triển nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ gồm:

a) Giấy đăng ký theo Mẫu số 03 tại Phụ lục kèm theo Nghị định này;

b) Sơ đồ lắp đặt, đấu nối nguồn điện với phụ tải điện và với lưới điện;

c) Văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy của công trình dự kiến lắp đặt nguồn điện trong trường hợp công trình đã đưa vào sử dụng hoặc văn bản thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy của công trình trong trường hợp công trình được xây dựng mới có thiết kế để lắp đặt nguồn điện.

Công trình dự kiến lắp đặt nguồn điện không thuộc diện thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy thì không phải nộp thành phần hồ sơ quy định tại điểm này.

2. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

3. Hình thức nộp hồ sơ:

a) Hồ sơ được nộp trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng định danh quốc gia. Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp tại Bộ phận Một cửa của cơ quan tiếp nhận hồ sơ, tổ chức, cá nhân đề nghị người tiếp nhận hướng dẫn, hỗ trợ nộp hồ sơ trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng định danh quốc gia;

b) Tài liệu nộp trên môi trường điện tử là bản sao điện tử từ bản chính.

4. Số lượng hồ sơ: 01 bộ.”

12. Sửa đổi, bổ sung Điều 18 như sau:

“Điều 18. Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký phát triển

1. Trường hợp hồ sơ không đầy đủ hoặc không hợp lệ theo quy định hoặc công suất của nguồn điện đăng ký phát triển không đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định này, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi thông báo dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định pháp luật về giao dịch điện tử hoặc gửi thông báo trên Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng định danh quốc gia theo mã hồ sơ tiếp nhận nêu rõ lý do và trả toàn bộ hồ sơ để tổ chức, cá nhân điều chỉnh, bổ sung và nộp lại hồ sơ theo quy định.

2. Trường hợp hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, việc xử lý hồ sơ được thực hiện như sau:

a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tiếp nhận và gửi bản sao điện tử của hồ sơ thông qua Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính hoặc thông qua môi trường điện tử phù hợp đến Đơn vị quản lý lưới điện đề nghị cho ý kiến về các nội dung sau: Xác nhận việc lắp đặt nguồn điện có hoặc không gây quá tải trạm biến áp, lưới điện hạ áp, lưới điện phân phối tại khu vực đăng ký phát triển; đánh giá mức độ ảnh hưởng đến chất lượng điện năng đối với lưới điện phân phối; yêu cầu đối với tổ chức, cá nhân khi triển khai lắp đặt nguồn điện để bảo đảm vận hành an toàn, ổn định hệ thống điện; các nội dung khác có liên quan (nếu có);

b) Đơn vị quản lý lưới điện có trách nhiệm trả lời bằng văn bản điện tử thông qua Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính hoặc thông qua môi trường điện tử phù hợp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thời hạn tối đa 03 ngày làm việc;

c) Đơn vị quản lý lưới điện được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lấy ý kiến là đơn vị điện lực đang quản lý trạm biến áp, lưới điện thuộc hệ thống quốc gia tại điểm đấu nối trong trường hợp nguồn điện đấu nối trực tiếp với hệ thống điện quốc gia hoặc Đơn vị sở hữu lưới điện riêng trong trường hợp nguồn điện đấu nối với hệ thống điện quốc gia thông qua lưới điện của Đơn vị sở hữu lưới điện riêng, đơn vị này có trách nhiệm phối hợp với đơn vị điện lực quản lý lưới điện quốc gia (nếu cần thiết) để bảo đảm có ý kiến đầy đủ theo các nội dung quy định tại điểm a khoản này.

3. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận đăng ký phát triển theo Mẫu số 04 tại Phụ lục kèm theo Nghị định này. Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thông báo dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định pháp luật về giao dịch điện tử hoặc thông báo trên Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng định danh quốc gia theo mã hồ sơ tiếp nhận và nêu rõ lý do.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm gửi bản sao điện tử của Giấy chứng nhận đăng ký phát triển kèm theo hồ sơ đăng ký đến cơ quan, đơn vị quản lý nhà nước tại địa phương về xây dựng, phòng cháy và chữa cháy, bảo vệ môi trường, Đơn vị quản lý lưới điện để theo dõi, hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện theo quy định.

4. Trong quá trình giải quyết, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xác định thời điểm tiếp nhận hồ sơ gồm ngày, giờ, phút và giải quyết hồ sơ theo thứ tự tiếp nhận.”.

13. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 19 như sau:

“3. Trường hợp Giấy chứng nhận đăng ký phát triển bị mất, hư hỏng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp bản sao từ sổ gốc theo quy định cho tổ chức, cá nhân có yêu cầu.”.

14. Sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 2 Điều 20 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung đoạn mở đầu của khoản 1 như sau:

“1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký phát triển trong các trường hợp sau:”;

b) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:

“2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký phát triển trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này; cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền khác ban hành quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký phát triển theo quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.”.

15. Sửa đổi, bổ sung Điều 21 như sau:

“Điều 21. Hoạt động đầu tư, xây dựng, lắp đặt nguồn điện

1. Đối với hộ gia đình sử dụng nhà ở riêng lẻ: Thực hiện thiết kế, lắp đặt nguồn điện theo sơ đồ lắp đặt, đấu nối nguồn điện; công suất nguồn điện lắp đặt theo Thông báo hoặc theo Giấy chứng nhận đăng ký phát triển được cấp; sử dụng, trang bị thiết bị theo quy định tại Nghị định này.

2. Đối với tổ chức, cá nhân không phải hộ gia đình sử dụng nhà ở riêng lẻ: Thực hiện thiết kế, lắp đặt nguồn điện theo sơ đồ lắp đặt, đấu nối nguồn điện; công suất lắp đặt theo Thông báo hoặc theo Giấy chứng nhận đăng ký phát triển được cấp; sử dụng, trang bị thiết bị theo quy định tại Nghị định này. Trường hợp bán sản lượng điện dư, tổ chức, cá nhân phải thực hiện thêm quy định có liên quan của pháp luật về đầu tư và điện lực.

3. Tổ chức, cá nhân được đề nghị cơ quan quản lý nhà nước hướng dẫn thực hiện theo quy định pháp luật chuyên ngành. Trường hợp có đấu nối với hệ thống điện quốc gia, tổ chức, cá nhân đề nghị đơn vị điện lực quản lý lưới điện hướng dẫn công tác lắp đặt, đấu nối kỹ thuật điện nhằm bảo đảm an toàn điện trong quá trình vận hành. Cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị điện lực có trách nhiệm hướng dẫn trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Thông báo hoặc Giấy chứng nhận đăng ký phát triển nguồn điện của tổ chức, cá nhân.”

16. Sửa đổi, bổ sung Điều 23 như sau:

“Điều 23. Nghiệm thu đầu tư xây dựng, lắp đặt nguồn điện

1. Đối với hộ gia đình sử dụng nhà ở riêng lẻ: Thực hiện công tác an toàn điện, an toàn xây dựng, yêu cầu về phòng cháy và chữa cháy trước khi đưa nguồn điện vào khai thác, sử dụng.

2. Đối với tổ chức, cá nhân không phải hộ gia đình sử dụng nhà ở riêng lẻ:

a) Tổ chức, cá nhân thực hiện nghiệm thu đầu tư xây dựng theo quy định pháp luật về xây dựng, điện lực, phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường trước khi đưa nguồn điện vào khai thác, sử dụng; bảo đảm chất lượng điện năng theo quy định pháp luật về điện lực;

b) Trường hợp bán sản lượng điện dư vào hệ thống điện quốc gia, tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục cấp giấy phép hoạt động điện lực, trừ trường hợp được miễn giấy phép hoạt động điện lực theo quy định.

3. Việc nghiệm thu thiết bị giám sát, điều khiển, kết nối thông tin được thực hiện theo quy trình do Tập đoàn Điện lực Việt Nam công bố công khai trên trang thông tin điện tử và theo quy định sau:

a) Đối với nguồn điện đấu nối trực tiếp với hệ thống điện quốc gia tại cấp điện áp từ trung áp trở lên và có bán sản lượng điện dư, cấp điều độ có quyền điều khiển phối hợp nghiệm thu hệ thống thiết bị giám sát, điều khiển tại chỗ, kết nối thông tin với hệ thống thu thập, giám sát, điều khiển của mình; Bên mua điện dư phối hợp nghiệm thu thiết bị đo đếm, đồng thời kết nối với hệ thống thu thập dữ liệu đo đếm từ xa của mình (nếu có);

b) Đối với nguồn điện đấu nối trực tiếp với hệ thống điện quốc gia tại cấp điện áp từ trung áp trở lên và không bán sản lượng điện dư, đơn vị điện lực phối hợp nghiệm thu hệ thống thiết bị bật tắt phát ngược vào hệ thống điện quốc gia;

c) Đối với nguồn điện đấu nối trực tiếp với hệ thống điện quốc gia tại cấp điện áp hạ áp và có bán sản lượng điện dư, Bên mua điện dư phối hợp nghiệm thu thiết bị đo đếm, đồng thời kết nối với hệ thống thu thập dữ liệu đo đếm từ xa của mình (nếu có);

d) Đối với nguồn điện đấu nối với hệ thống điện quốc gia thông qua lưới điện của Đơn vị sở hữu lưới điện riêng thì Đơn vị sở hữu lưới điện riêng phối hợp nghiệm thu theo yêu cầu vận hành, đấu nối đã thỏa thuận với tổ chức, cá nhân phát triển nguồn điện;

đ) Trường hợp Nhà nước chưa ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với thiết bị giám sát, điều khiển, đo đếm, kết nối thông tin quy định tại điểm a, điểm b, điểm c khoản này thì được áp dụng tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài hoặc tiêu chuẩn cơ sở theo quy định pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật;

e) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của tổ chức, cá nhân, đơn vị điện lực có trách nhiệm tổ chức phối hợp nghiệm thu nội dung quy định tại điểm a, điểm b, điểm c, điểm d khoản này.”.

17. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 24 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:

“1. Sau khi hoàn thành lắp đặt nguồn điện, tổ chức, cá nhân gửi hồ sơ đề nghị bán sản lượng điện dư gồm:

a) Văn bản đề nghị bán điện;

b) Tài liệu kỹ thuật, chứng nhận xuất xứ hàng hóa (CO), chứng nhận chất lượng (CQ) của các thiết bị gồm tấm quang điện, bộ chuyển đổi nghịch lưu, pin lưu trữ (nếu có lắp đặt pin lưu trữ) và các thiết bị cấu thành khác;

c) Bản sao Thông báo hoặc Giấy chứng nhận đăng ký phát triển nguồn điện.”;

b) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:

“2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định tại khoản 1 Điều này, Bên mua điện dư có trách nhiệm phối hợp với Bên bán điện dư kiểm tra hiện trạng kỹ thuật, lắp đặt công tơ đo đếm sản lượng điện, chốt chỉ số công tơ và ký hợp đồng mua bán điện.”;

c) Bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 như sau:

“5. Hồ sơ đề nghị bán sản lượng điện dư, hợp đồng mua bán điện được tạo lập bằng thông điệp dữ liệu theo quy định pháp luật về giao dịch điện tử hoặc bằng văn bản giấy. Tài liệu trên môi trường điện tử là bản sao điện tử từ bản chính, tài liệu bằng văn bản giấy là bản chính hoặc bản sao. Bên bán điện dư chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ và hiệu lực pháp lý của các tài liệu trong hồ sơ đề nghị bán sản lượng điện dư làm căn cứ ký hợp đồng mua bán điện.”.

18. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 26 như sau:

“a) Có đề án triển khai hoạt động khảo sát phục vụ phát triển dự án điện gió ngoài khơi rõ ràng, phù hợp, khả thi. Quy mô công suất và khu vực biển đề xuất khảo sát phải phù hợp với quy hoạch phát triển điện lực hoặc kế hoạch thực hiện quy hoạch phát triển điện lực được phê duyệt.

Đề án khảo sát phải bao gồm các nội dung chính sau: Thông tin về đơn vị thực hiện, khu vực biển đề xuất khảo sát và đánh giá sự phù hợp với các quy hoạch liên quan; Kế hoạch và phương án thực hiện các nội dung khảo sát quy định tại khoản 1 Điều 27 Nghị định này; dự kiến kinh phí và phương án huy động vốn; thông tin các nhà thầu dự kiến tham gia khảo sát; các nội dung khác liên quan đến vị trí khu vực biển cụ thể;”.

19. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 27 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 3 như sau:

“b) Đơn vị khảo sát được sử dụng kết quả đã được nghiên cứu, khảo sát để phát triển dự án do mình làm chủ đầu tư hoặc để liên danh, liên kết phát triển dự án theo quy định pháp luật.”

b) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 như sau:

“4. Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được Bộ Nông nghiệp và Môi trường giao thực hiện nhiệm vụ khảo sát theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 27 Luật Điện lực có trách nhiệm xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá khảo sát trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, ban hành. Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng và cơ quan liên quan phê duyệt, công bố định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá khảo sát.”

c) Sửa đổi, bổ sung khoản 5 như sau:

“5. Bộ Công Thương phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng và công bố định mức diện tích sử dụng khu vực biển để khảo sát và để đầu tư, xây dựng dự án điện gió ngoài khơi phù hợp với công nghệ điện gió từng thời kỳ và điều kiện khu vực biển cụ thể.”.

20. Sửa đổi, bổ sung đoạn mở đầu của khoản 1 Điều 28 như sau:

“1. Nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật Đầu tư thực hiện, tham gia thực hiện đầu tư, tham gia đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư dự án điện gió ngoài khơi phải đáp ứng các điều kiện sau:”.

21. Sửa đổi, bổ sung Điều 34 như sau:

“Điều 34. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

1. Tổ chức triển khai thực hiện, kiểm tra việc thi hành Nghị định này tại địa phương; được phân cấp cho cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh theo quy định pháp luật để thực hiện các quy định tại Nghị định này.

2. Chỉ đạo cơ quan, đơn vị chuyên môn hướng dẫn thực hiện, kiểm tra việc tuân thủ quy định về an toàn, điện lực, xây dựng, phòng cháy và chữa cháy, bảo vệ môi trường trong quá trình lắp đặt, vận hành nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ; xử lý vi phạm theo quy định pháp luật. Trường hợp cần thiết, ban hành văn bản hướng dẫn để tổ chức, cá nhân áp dụng thống nhất tại địa phương.

3. Chỉ đạo việc rà soát, cập nhật và công bố trên cổng thông tin điện tử các thông tin sau:

a) Tổng công suất điện mặt trời mái nhà được phân bổ theo quy hoạch phát triển điện lực, kế hoạch thực hiện quy hoạch phát triển điện lực;

b) Tổng công suất nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký phát triển ngay sau khi có sự thay đổi;

c) Tổng công suất nguồn điện mặt trời mái nhà chưa phát triển ngay sau khi có sự thay đổi;

d) Giấy chứng nhận đăng ký phát triển đã cấp cho tổ chức, cá nhân.

4. Báo cáo Bộ Công Thương về tình hình phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ tại địa phương trước ngày 15 tháng 12 hằng năm theo Mẫu số 06 tại Phụ lục kèm theo Nghị định này; thông tin, số liệu báo cáo phải bảo đảm tính liên tục về thời gian giữa các kỳ báo cáo.

5. Căn cứ quy mô công suất phát triển được phân bổ trong quy hoạch phát triển điện lực, quyết định việc phân bổ, giới hạn công suất phát triển điện mặt trời mái nhà tại các mô hình khu, cụm tại địa phương trên cơ sở đánh giá nhu cầu phát triển và báo cáo của đơn vị quản lý, chủ đầu tư mô hình khu, cụm để bảo đảm an toàn lưới điện và chất lượng điện năng trong khu vực phát triển.

6. Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số để thực hiện tiếp nhận, xử lý thủ tục hành chính, quản lý Thông báo, hồ sơ đăng ký và Giấy chứng nhận đăng ký phát triển nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ trên môi trường điện tử; xây dựng biểu mẫu điện tử tương tác thực hiện thủ tục thông báo và đăng ký phát triển để tổ chức, cá nhân khai báo thông tin trực tuyến trên môi trường điện tử và xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ về nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ tại địa phương.”.

22. Bổ sung Điều 34a vào sau Điều 34 như sau:

“Điều 34a. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã

1. Tổ chức triển khai thực hiện, kiểm tra việc thi hành Nghị định này tại địa phương; xử lý vi phạm theo quy định pháp luật.

2. Báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về tình hình phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ tại địa phương trước ngày 10 tháng 12 hằng năm theo Mẫu số 07 tại Phụ lục kèm theo Nghị định này; thông tin, số liệu báo cáo phải bảo đảm tính liên tục về thời gian giữa các kỳ báo cáo.

3. Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số để thực hiện tiếp nhận, xử lý, quản lý Thông báo phát triển nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ trên môi trường điện tử.”.

23. Sửa đổi, bổ sung khoản 7 Điều 35 như sau:

“7. Xây dựng, công bố yêu cầu kỹ thuật về thiết bị, phương tiện kết nối với hệ thống thu thập, giám sát, điều khiển của cấp điều độ có quyền điều khiển theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 10 Nghị định này; xây dựng, công bố quy trình nghiệm thu thiết bị giám sát, điều khiển, kết nối thông tin theo quy định tại khoản 3 Điều 23 Nghị định này. Trước ngày 15 tháng 12 hằng năm, công bố hệ số PVout quy định tại khoản 3 Điều 14 Nghị định này để phục vụ tính toán sản lượng điện phát tại đầu ra của nguồn điện mặt trời mái nhà cho năm tiếp theo.”.

24. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 36 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung điểm c, điểm d khoản 2 như sau:

“c) Theo dõi nguồn điện có đấu nối với hệ thống điện quốc gia, bảo đảm tuyệt đối an toàn trong vận hành đối với lưới điện thuộc phạm vi quản lý. Chịu trách nhiệm theo dõi vận hành công tơ điện tử, hệ thống kết nối với hệ thống thu thập dữ liệu từ xa của nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ có đấu nối với hệ thống điện quốc gia. Trường hợp có bất thường trong sử dụng điện của khách hàng, thông báo đến cơ quan có thẩm quyền để kiểm tra, xử lý theo quy định;

d) Thường xuyên theo dõi, tổng hợp, đánh giá các nguồn điện phát sản lượng điện dư vào hệ thống điện quốc gia để bảo đảm vận hành an toàn lưới điện thuộc phạm vi quản lý. Trường hợp việc phát triển nguồn điện có khả năng gây quá tải trạm biến áp, lưới điện hạ áp, lưới điện phân phối tại khu vực đăng ký phát triển, phải kịp thời báo cáo cơ quan có thẩm quyền để có biện pháp xử lý;”;

b) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:

“3. Có quyền từ chối mua sản lượng điện dư của tổ chức, cá nhân phát triển nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ trong trường hợp việc mua điện gây ra quá tải lưới điện hạ áp, trung áp tại khu vực.”.

25. Sửa đổi, bổ sung một số điểm của khoản 2 Điều 37 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung điểm a như sau:

“a) Tuân thủ các quy định tại Nghị định này, thực hiện yêu cầu đấu nối, vận hành của Đơn vị quản lý lưới điện để bảo đảm an toàn lưới điện. Sau khi hoàn thành xây dựng, lắp đặt và đưa vào vận hành nguồn điện, tổ chức, cá nhân phải gửi thông tin đến cơ quan tiếp nhận Thông báo hoặc cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký phát triển;”;

b) Sửa đổi, bổ sung điểm d như sau:

“d) Trang bị thiết bị, phương tiện theo quy định tại Nghị định này, bảo đảm vận hành an toàn, ổn định, chịu trách nhiệm về an toàn, an ninh thông tin theo quy định của pháp luật;”;

c) Sửa đổi, bổ sung điểm g như sau:

“g) Có nghĩa vụ phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đơn vị điện lực tuân thủ quy mô công suất được phân bổ tại địa phương theo quy hoạch phát triển điện lực, kế hoạch thực hiện quy hoạch phát triển điện lực khi phát triển nguồn điện;”.

26. Sửa đổi, bổ sung Điều 38 như sau:

“Điều 38. Trách nhiệm của đơn vị quản lý, chủ đầu tư mô hình khu, cụm và Đơn vị sở hữu lưới điện riêng

1. Thực hiện phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới theo quy định tại Nghị định này và quy định pháp luật có liên quan.

2. Thực hiện phát triển nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ như sau:

a) Không cản trở, tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân phát triển nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ trong khu vực quản lý theo quy định pháp luật;

b) Phối hợp với cơ quan có thẩm quyền, đơn vị điện lực đánh giá nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ có phát sản lượng điện dư vào lưới điện để bảo đảm vận hành an toàn hệ thống điện quốc gia và lưới điện thuộc phạm vi quản lý;

c) Theo dõi, kiểm tra, đánh giá hoạt động phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ trong khu vực quản lý. Trường hợp cần thiết, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để phân bổ, giới hạn công suất phát triển nhằm bảo đảm an toàn lưới điện và chất lượng điện năng trong khu vực quản lý;

d) Hỗ trợ, tư vấn tổ chức, cá nhân để kiểm tra ban đầu khi đấu nối, trong quá trình lắp đặt và trong quá trình vận hành nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ có đấu nối với hệ thống điện quốc gia;

đ) Chịu trách nhiệm quản lý, theo dõi, hướng dẫn và kiểm tra tổ chức, cá nhân thực hiện phát triển nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ theo quy định tại Nghị định này thuộc phạm vi lưới điện quản lý. Trường hợp phát hiện vi phạm, thông báo đến cơ quan có thẩm quyền để kiểm tra, xử lý theo quy định.”.

27. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 39 như sau:

“1. Tổ chức, cá nhân đang bán điện cho đơn vị điện lực từ nguồn điện mặt trời mái nhà lắp đặt trước ngày 01 tháng 01 năm 2021 được phát triển thêm nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ nhưng không được làm tăng quy mô công suất của nguồn điện mặt trời mái nhà lắp đặt trước ngày 01 tháng 01 năm 2021 theo hợp đồng mua bán điện đã ký kết với đơn vị điện lực.”.

28. Thay thế Phụ lục kèm theo Nghị định số 58/2025/NĐ-CP bằng Phụ lục III kèm theo Nghị định này.

29. Bãi bỏ điểm a khoản 2 Điều 12, khoản 6 Điều 29 và Điều 22.

Điều 3. Điều khoản chuyển tiếp

1. Đối với các hợp đồng mua bán điện đã ký kết trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực và phù hợp quy định, các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán điện đã ký đến hết thời hạn hợp đồng hoặc đàm phán, thống nhất sửa đổi hợp đồng mua bán điện theo quy định tại Nghị định này.

2. Tổ chức, cá nhân được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoặc đã gửi Thông báo phát triển nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ theo quy định tại Nghị định số 135/2024/NĐ-CP hoặc Nghị định số 58/2025/NĐ-CP trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo nội dung của Giấy chứng nhận đã được cấp hoặc Thông báo đã gửi; trường hợp điều chỉnh, bổ sung Giấy chứng nhận hoặc gửi lại Thông báo thì thực hiện theo quy định tại Nghị định này.

3. Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký phát triển nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ được tiếp nhận trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành được tiếp tục xử lý theo quy định tại Nghị định số 58/2025/NĐ-CP.

4. Hợp đồng mua bán sản lượng điện dư đã được ký kết và có hiệu lực trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo hợp đồng đã được ký kết hoặc hai bên thỏa thuận điều chỉnh nội dung hợp đồng đã ký kết theo quy định tại Nghị định này.

5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ thời điểm Nghị định này có hiệu lực, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm tính toán Chi phí thanh toán bù trừ chênh lệch trên một đơn vị điện năng, Chi phí thanh toán bù trừ chênh lệch năm 2026 theo quy định tại Nghị định này.

6. Hồ sơ tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp đã và đang triển khai trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành được tiếp tục xử lý theo quy định tại Nghị định số 57/2025/NĐ-CP.

7. Đối với hồ sơ đề nghị giao khu vực biển để khảo sát, thực hiện dự án điện gió ngoài khơi đã tiếp nhận trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành hoặc trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa công bố định mức diện tích sử dụng khu vực biển để khảo sát và để đầu tư, xây dựng dự án điện gió ngoài khơi, cơ quan có thẩm quyền giao khu vực biển áp dụng quy định về diện tích khu vực biển để khảo sát, thực hiện dự án điện gió ngoài khơi tại khoản 5 Điều 27 Nghị định số 58/2025/NĐ-CP trước khi được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định này để thẩm định hồ sơ và quyết định giao khu vực biển.

Điều 4. Điều khoản thi hành

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 26 tháng 6 năm 2026.

 

Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;

- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;

- Các bộ, cơ quan ngang bộ;

- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;

- Văn phòng Tổng Bí thư;

- Văn phòng Chủ tịch nước;

- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;

- Văn phòng Quốc hội;

- Tòa án nhân dân tối cao;

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Kiểm toán nhà nước;

- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

- Cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội;

- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, các Vụ, Cục, Công báo;

- Lưu: VT, CN (2b).

TM. CHÍNH PHỦ

KT. THỦ TƯỚNG

PHÓ THỦ TƯỚNG

 

 

 

Phạm Gia Túc

 

LuatVietnam đang cập nhật nội dung bản Word của văn bản…

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Nghị định 243/2026/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 57/2025/NĐ-CP và Nghị định 58/2025/NĐ-CP về mua bán điện trực tiếp và phát triển năng lượng tái tạo

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

văn bản cùng lĩnh vực

văn bản mới nhất

CHÍNH SÁCH BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN
Yêu cầu hỗ trợYêu cầu hỗ trợ
Chú thích màu chỉ dẫn
Chú thích màu chỉ dẫn:
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng các màu sắc:
Sửa đổi, bổ sung, đính chính
Thay thế
Hướng dẫn
Bãi bỏ
Bãi bỏ cụm từ
Bình luận
Click vào nội dung được bôi màu để xem chi tiết.
×