Quyết định 01/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn từ nay đến năm 2010

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung MIX

    - Tổng hợp lại tất cả các quy định pháp luật còn hiệu lực áp dụng từ văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính…

    - Khách hàng chỉ cần xem Nội dung MIX, có thể nắm bắt toàn bộ quy định pháp luật hiện hành còn áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

  • Tải về
Mục lục
Tìm từ trong trang
Tải văn bản
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
Lưu
Theo dõi hiệu lực VB

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký phần mềm.

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản LuatVietnam và đăng ký sử dụng Phần mềm tra cứu văn bản.

Báo lỗi
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

QUYẾT ĐỊNH

CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 01/1998/QĐ-TTG
NGÀY 05 THÁNG 01 NĂM 1998 VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT QUY HOẠCH
TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - Xà HỘI VÙNG ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG GIAI ĐOẠN TỪ NAY TỚI NĂM 2010

 

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

 

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;

Xét đề nghị của Chủ tịch Hội đồng thẩm định nhà nước về các dự án đầu tư tại công văn số 6921/HĐTĐ ngày 31 tháng 10 năm 1997,

QUYẾT ĐỊNH:

 

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long gồm 12 tỉnh (Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bến Tre, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau) với những nội dung chính như sau:

 

I. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU:

 

1. Về kinh tế:

- Phấn đấu tăng GDP bình quân đầu người từ nay đến năm 2000 bằng 1,5 lần và đến năm 2010 bằng 3,54 lần so với năm 1994.

- Phát triển kinh tế đối ngoại phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân từ nay tới năm 2010 đạt 18%/năm; Kim ngạch xuất khẩu đạt 1.490 triệu USD vào năm 2000, và 8.600 triệu USD năm 2010.

- Thực hiện tỷ lệ tích lũy đầu tư từ nội bộ nền kinh tế đạt 11,6% GDP thời kỳ từ nay tới năm 2000; và đạt 15,5% GDP thời kỳ 2001 - 2010.

- Phấn đấu đổi mới công nghệ và thiết bị, tốc độ đổi mới 15%/năm đối với các thiết bị và công nghệ hiện có; trang bị công nghệ tiên tiến cho các cơ sở mới; tạo ra sản phẩm công nông nghiệp và dịch vụ có sức cạnh tranh trên thị trường.

2. Về xã hội:

- Tạo việc làm, thu hẹp diện lao động thiếu việc làm, phấn đấu tăng tỷ lệ lao động công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đạt 50% lao động của vùng; đến năm 2005 cơ bản xóa được tình trạng hộ đói; đến năm 2000 điện khí hoá nông thôn 100%, số hộ nông dân được dùng điện là 90% và 100% số dân nông thôn được cấp nước sạch, hơn 90% số dân có nhà ở kiên cố và bán kiên cố.

- Phấn đấu phổ cập giáo dục tiểu học cho trẻ em vào năm 2000, phổ cập phổ thông trung học cơ sở ở các thành phố, thị xã vào năm 2010; đa dạng hóa các hình thức đào tạo chuyên nghiệp và dạy nghề, đưa tỷ lệ lao động kỹ thuật đạt 30% vào năm 2010.

- Củng cố phát triển mạng lưới y tế, chú trọng công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân; bảo đảm tốt các nhu cầu cơ bản cho người dân, chú trọng cải thiện điều kiện sống cho vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo. Xây dựng xã hội công bằng văn minh; xây dựng văn hóa cộng đồng lành mạnh, xóa bỏ các tệ nạn xã hội.

- PHấn đấu phát triển kinh tế - xã hội gắn liền với cải thiện môi trường sinh thái và phát triển bền vững.

3. Về an ninh quốc phòng.

Bảo đảm kỷ cương, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, xây dựng kinh tế phải gắn chặt với củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh chính trị, giữ gìn chủ quyền quốc gia.

 

II. NHỮNG NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU:

 

1. Về phát triển ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy hải sản:

- Về nông nghiệp: Phấn đấu nhịp độ tăng trưởng ngành nông nghiệp đạt 5%/năm giai đoạn từ nay tới năm 2010.

Phấn đấu tăng sản lượng thóc có chất lượng cao, đặc sản, đến năm 2010 xuất khẩu đạt 3,5 - 4 triệu tấn gạo/ năm.

Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đưa tỷ trọng chăn nuôi từ 20% hiện nay lên 37% vào năm 2010 phát triển chăn nuôi thành ngành sản xuất chính; xây dựng nền nông nghiệp sinh thái phát triển bền vững; tăng tỷ suất hàng hóa nông sản, mở rộng thị trường góp phần phục vụ xuất khẩu. Phát triển nông nghiệp nhằm tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Chuyển đổi cây trồng, coi trọng thâm canh phát triển sản phẩm cây lúa, nghiên cứu chuyển đổi mùa vụ một số loại cây trồng để phòng tránh thiên tai, lũ lụt. Chú trọng sử dụng quỹ đất và cơ cấu quỹ đất thay đổi theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, các vùng cây chuyên canh có năng suất cao, bảo đảm chất lượng; đến năm 2010 đất nông nghiệp đạt từ 3,5 - 4 triệu ha. Tập trung khai thác vùng Đồng Tháp Mười, Tây Sông Hậu và bán đảo Cà Mau.

- Về lâm nghiệp: thực hiện công tác trồng cây, gây rừng nhằm khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái, hình thành tuyến phòng thủ dọc biển Đông. Trồng mới và bảo vệ rừng phòng hộ vùng Bẩy Núi, giữ vững diện tích cây tràm, ổn định diện tích dừa nước, bảo vệ rừng ngập mặn. Đẩy mạnh trồng cây phân tán, kết hợp chặt giữa phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi và nuôi trồng thủy sản. Từng bước thực hiện giao đất, giao và khoán rừng để kết hợp làm vườn và sản xuất lâm, ngư kết hợp giữa nuôi tôm và trồng rừng.

- Về thủy, hải sản: phát huy thế mạnh của vùng có bờ biển dài, ngư trường rộng và nhân dân có kinh nghiệm nuôi trồng và đánh bắt thủy, hải sản. Tăng cường năng lực cho ngành kinh tế quan trọng, đóng góp 50% gía trị xuất khẩu thủy, hải sản của cả nước. Đầu tư trang bị hiện đại cho các phương tiện để từng bước đẩy mạnh việc đánh bắt xa bờ.

 

Phát triển nuôi trồng thủy sản có giá trị cao: tôm, cua và các loại đặc sản có giá trị xuất khẩu cao. Khuyến khích các mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện của vùng này để góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống nhân dân.

2. Về phát triển ngành công nghiệp:

- Phấn đấu nhịp độ tăng trưởng công nghiệp bình quân thời kỳ từ nay đến năm 2000 đạt 13%/năm; và thời kỳ 2001 - 2010 đạt 14%/năm.

Chú trọng phát triển công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm để đến năm 2010 tỷ trọng ngành công nghiệp đạt trên 60%. Phát triển các ngành may mặc, dệt, da giầy, cơ khí điện tử, vật liệu xây dựng, hóa chất, chế biến thức ăn gia súc... tạo ra những sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật công nghệ cao đủ sức cạnh tranh trên thị trường.

- Từng bước đổi mới nhằm tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng.

- Đẩy mạnh thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài. Chuẩn bị điều kiện để đầu tư cho các khu công nghiệp khi có điều kiện: Trà Nóc, Nam Hưng Phú, Vị Thanh, Bến Lức, Đức Hòa, Cầu Ván, Gò Đen, Lương Hòa, Cần Đước, Năm Căn, Cà Mau, Bạc Liêu, Đại Ngãi, Đài An, thị xã Trà Vinh, Bắc Mỹ Thuận, Bình Minh, Bắc Cổ Chiên, Diều Gà, Tân Quy Tây, Trần Quốc Toản, Mỹ Trà, Sông Hậu, Kiền Lương, Ba Hòn, Hòn Chông, Rạch Giá, Tắc Cẩu, Bến Nhất, Phú Quốc, Vàm Cống, Châu Đốc, Bẩy Núi, Châu Thành (Tiền Giang), Cai Lậỵ, Gò Công Đông. Từng bước xây dựng các khu công nghiệp theo phương châm làm dứt điểm từng khu, không giàn trải, để đạt hiệu quả kinh tế cao.

- Tập trung phát triển các ngành công nghiệp có khả năng tận dụng nguồn lao động tại chỗ, và có khả năng bố trí phân tán với những nhà máy có quy mô vừa và nhỏ với công nghệ tiên tiến nhằm giải quyết việc làm và góp phần công nghiệp hóa nông thôn.

3. Về phát triển các ngành thương mại và dịch vụ:

- Phấn đấu nhịp độ tăng trưởng bình quân thời kỳ từ nay tới năm 2000 đạt 11%/năm và thời kỳ 2001 - 2010 đạt 13%/năm.

Phát triển ngành thương mại và các ngành dịch vụ phải thúc đẩy sự phát triển các ngành kinh tế tòan vùng nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đề ra.

- Hình thành các trung tâm thương mại , siêu thị, mạng lưới chợ.... tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh. Từ nay đến 2010 xây dựng trung tâm thương mại vùng tại Cần Thơ là đầu mối cho các hoạt động thương mại liên vùng. Đồng thời tiến hành xây dựng một số trung tâm thương mại thuộc tỉnh như: Tân An, Cao Lãnh, Mỹ Tho, Long Xuyên, Rạch Gía, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Bến Tre, Cà Mau, Bạc Liêu, Hà Tiên, Châu Đốc, Tân Châu và Mộc Hóa...nhằm cung cấp các thông tin thương mại tổ chức và quản lý xuất nhập khẩu, lưu thông hàng hóa phục vụ sản xuất và đời sống dân cư.

- Chuyển dịch cơ cấu ngành dịch vụ theo hướng ưu tiên du lịch dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông, chuyển giao công nghệ, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia họat động dịch vụ.

- Khai thác lợi thế về vị trí địa lý để phát triển nhanh các ngành du lịch, miệt vườn, sinh thái, gắn kết với thành phố Hồ Chí Minh, vùng kinh tế trọng điểm và các tuyến du lịch liên vùng: Tây Nguyên, Đông Nam Bộ để thu hút khách. Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, khai thác gắn với tôn tạo, bảo tồn thiên nhiên, duy trì phát triển tài nguyên du lịch, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

4. Về kết cấu hạ tầng cơ sở:

Phát triển mạng lưới giao thông: đường thủy, đường bộ, hàng không theo quy hoạch. Chú trọng mạng lưới giao thông nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, tạo điều kiện phát triển cho các vùng khó khăn, căn cứ kháng chiến cũ, hải đảo.

Nâng cấp cảng biển và các cảng nằm dọc sông Tiền, sông Hậu, thường xuyên nạo vét luồng lạch, đặc biêt là luồng cửa Định An, cửa Tiền, cửa Trần Đề.

Nâng cấp các quốc lộ của vùng, hoàn chỉnh hệ thống giao thông các tỉnh. Gắn giao thông với hòan chỉnh hệ thống thủy lợi , cầu cống và các công trình phục vụ thoát lũ, phòng chống bão lụt. Đi đôi với việc chống nhiễm mặn, thau chua, cần xem trọng việc giữ ngọt.

Xây dựng sân bay Trà Nóc trở thành sân bay Trung tâm của đồng bằng sông Cửu Long, quản lý và bảo quản các sân bay khác để khi cần thiết đưa vào sử dụng.

Nâng cấp và xây dựng mới hệ thống cấp, thoát nước các khu đô thị, các khu công nghiệp, chú trọng giải quyết nhu cầu nước sạch của dân cư nông thôn.

Xây dựng mới kết hợp với nâng cấp hệ thống các trường học, bệnh viện, nhà văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu dân sinh.

Về bưu chính viễn thông: hiện đại hóa bưu chính viễn thông theo hướng tự động hóa, số hoá, đồng bộ hóa mạng lưới thông tin liên lạc phù hợp với yêu cầu thông tin trong nước và giao lưu quốc tế.

Về mạng lưới điện: đầu tư xây dựng mới, kết hợp với cải tạo mở rộng nhà máy nhiệt điện Trà Nóc, hoàn chỉnh mạng đường dây 220 KV, và 110 KV, mở rộng các trạm biến áp hiện có, xây dựng các trạm phân phối nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và đời sống. Coi trọng mục tiêu điện khí hóa nông thôn và phục vụ công nghiệp hóa.

Về mạng lưới đô thị và không gian hành lang lãnh thổ: xây dựng mới kết hợp với cải tạo nhằm hình thành mạng lưới đô thị các cấp, phấn đấu đưa tỉ lệ đô thị hóa vùng này đến năm 2000 đạt 19%; và đến 2010 đạt 30%. Phát triển 3 khu vực đô thị: khu tứ giác trung tâm (thành phố Cần Thơ, Long Xuyên, Vĩnh Long và Cao lãnh); tổ chức không gian hành lang Đông - Nam (thành phố Mỹ Tho, Tân An, Thủ Thừa, Bến Lức...) và hành lang đô thị Tây - Bắc ven Vịnh Tây. Chú trọng tổ chức phát triển các điểm dân cư khu vực nông thôn, đặc biệt là đô thị hóa nông thôn; tạo điều kiện phát triển cho vùng biên giới,vùng ven biển hải đảo, vùng ngập lũ, khắc phục tình trạng chênh lệch giữa các vùng.

5. Về văn hóa, giáo dục, y tế và xã hội:

- Phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả của hệ thống giáo dục và đào tạo để nâng cao dân trí, đáp ứng nguồn nhân lực cho nhu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa vùng và cả nước.

- Cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới cở sở; củng cố và phát triển hệ thống các bệnh viện đa khoa phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chống dịch, khám chữa bệnh cho nhân dân, thực hiện có hiệu qủa chương trình dân số, kế hoạch hóa gia đình. Từng bước xã hội hóa công tác y tế phục vụ chống các bệnh nhiễm khuẩn, phổ biến dinh dưỡng hợp lý, cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường sống và lao động.

Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác văn hóa, truyền thanh, truyền hình, thể dục thể thao đạt trình độ tiên tiến xứng đáng với vai trò là nguồn động lực phát triển. Nghiên cứu vận dụng khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại hóa nền tảng và động lực cho kinh tế - xã hội của vùng phát triển. Lồng ghép có hiệu quả các chương trình quốc gia và các chương trình mục tiêu, thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc còn nhiều khó khăn.

 

III. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU:

 

Để thực hiện quy hoạch, cần phải có hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm huy động được mọi nguồn lực trong và ngòai nước phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trên địa bàn từng tỉnh, ủy ban nhân dân phải cụ thể hóa phương hướng phát triển kinh tế - xã hôi của quy hoạch bằng các kế hoạch dài hạn trung hạn, ngắn hạn, bằng các chương trình và dự án đầu tư cụ thể nhằm điều hành và quản lý phát triển theo định hướng đã đề ra.

Về thu hút đầu tư, huy động vốn, phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ và môi trường, mở rộng thị trường phuc vụ sản xuất và dân sinh phải được các địa phương các bộ, ngành liên quan đề xuất với Chính phủ thông qua các chính sách và giải pháp nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội.

Ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, thực hiện đầu tư tập trung nhằm đạt hiệu quả thiết thực, tạo động lực phát triển cho vùng.

Thực hiện chính sách khuyến khích kinh tế cao đối với những ngành, tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường và hướng về xuất khẩu.

Trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt, các tỉnh trong vùng phải rà soát lại quy hoạch tổng thể của từng địa phương, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế để sắp xếp thứ tự ưu tiên hợp lý thể hiện bằng các kế hoạch hàng năm và dự án cụ thể.

 

Điều 2. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và y ban nhân dân các tỉnh, trong vùng đồng bằng sông Cửu Long có trách nhiệm tổ chức, kiểm tra, theo dõi thực hiện Quy hoạch một cách chặt chẽ, xây dựng kế hoạch 5 năm, hàng năm và các chương trình, dự án phù hợp với quy hoạch.

Các Bộ, ngành trung ương có trách nhiệm phối hợp giúp đỡ các tỉnh, thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long trong qúa trình soát xét, tổ chức thực hiện các dự án đề ra, đảm bảo sự thống nhất giữa quy hoạch từng tỉnh, với quy hoạch vùng và cả nước.

Trong quá trình thực hiện Quy hoạch Bộ Kế hoạch và Đầu tư kết hợp với các Bộ, ngành có liên quan và y ban nhân dân các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long tiến hành tổng kết đánh giá, rút kinh nghiệm để có bổ sung điều chỉnh kịp thời.

 

Điều 3. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký. Chủ tịch y ban nhân dân các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long và các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

 

thuộc tính Quyết định 01/1998/QĐ-TTg

Quyết định 01/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn từ nay đến năm 2010
Cơ quan ban hành: Thủ tướng Chính phủSố công báo:Đang cập nhật
Số hiệu:01/1998/QĐ-TTgNgày đăng công báo:Đang cập nhật
Loại văn bản:Quyết địnhNgười ký:Phan Văn Khải
Ngày ban hành:05/01/1998Ngày hết hiệu lực:Đang cập nhật
Áp dụng:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản để xem Ngày áp dụng. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Tình trạng hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Lĩnh vực:Chính sách
TÓM TẮT VĂN BẢN

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

tải Quyết định 01/1998/QĐ-TTg

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tình trạng hiệu lực: Đã biết

THE PRIME MINISTER OF GOVERNMENT
-----
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom – Happiness
----------
No. 01/1998/QD-TTg
Hanoi, January 05, 1998
 
DECISION
RATIFYING THE MASTER PLAN FOR SOCIO-ECONOMIC DEVELOPMENT OF THE MEKONG RIVER DELTA REGION FROM NOW TILL THE YEAR 2010
THE PRIME MINISTER
Pursuant to the Law on Organization of the Government of September 30, 1992;
At the proposal of the Chairman of the State Council for Evaluation of Investment Projects at Official Dispatch No.6921-HDBT of October 31, 1997,
DECIDES:
Article 1.- To ratify the master plan for socio-economic development of the Mekong river delta region encompassing 12 provinces (Long An, Tien Giang, Dong Thap, Vinh Long, Tra Vinh, Can Tho, Soc Trang, Ben Tre, An Giang, Kien Giang, Bac Lieu and Ca Mau) with the following principal contents:
I. THE MAJOR DEVELOPMENT OBJECTIVES:
1. On the economic plane:
- To strive to increase the per-capita GDP by 1.5 times from now to the year 2000 and 3.54 times by the year 2010 as compared with 1994.
- To develop the external economy, striving to achieve an average annual growth rate of 18% for the period from now to the year 2010; to achieve an export value of 1,490 million USD by the year 2000 and 8,600 million USD by the year 2010.
- To attain a domestic accumulation rate of 11.6% of the GDP for the period from now to the year 2000 and 15.5% for the 2001-2010 period.
- To strive to renew the technologies and equipment with an annual renewal rate of 15% for the existing equipment and technologies; to equip new establishments with advanced technologies; to turn out industrial and agricultural products and services with high competitiveness on the market.
2. On the social plane:
- To create jobs, to reduce the unemloyment rate, to strive to increase the rate of industrial, construction and service labor to 50% of the total work force of the region; to basically eliminate hunger by the year 2005; by the year 2000, to complete the rural electrification, to supply electricity to 90% of the peasant households and clean water to 100% of the rural population, more than 90% of population to live in solid or half-solid houses.
- To strive to achieve the universalization of the primary education for children by the year 2000 and junior-high school education in cities and provincial towns by the year 2010; to diversify the forms of professional and vocational training so as to raise the percentage of technical laborers to 30% by the year 2010.
- To consolidate and develop the medical network, to pay attention to the primary health-care for the people; to well meet the essential needs of the people, to attach importance to improving the living conditions of the people in deep-lying, remote and border areas and islands. To build an equitable and civilized society; to build a healthy community culture and to get rid of social evils.
- To combine the socio-economic development with the improvement of ecological environment and sustainable development.
3. On the plane of national security and defense:
To keep up the social discipline, order and safety, to closely combine the economic development with the consolidation of national defense, the maintenance of political security and national sovereignty.
II. THE MAJOR DEVELOPMENT TASKS:
1. Regarding the development of agriculture, forestry and fishery:
- Regarding agriculture: To strive to achieve an annual agricultural growth rate of 5% for the period from now to the year 2010.
To strive to increase the output of high-quality and speciality paddy, so as to be able to annually export 3.5-4 million tons of rice by the year 2010.
To restructure the agriculture, raising the husbandry ratio of from 20% at present to 37% by the year 2010, and developing husbandry into a main production line; to build an agriculture with the sustainable ecological development; to increase the ratio of commercial farm products, to expand the market in service of export. To develop agriculture in order to create sources of materials for the processing industry. To restructure the cultivation, attaching importance to intensive rice farming and development of rice plant products, to study the possible alteration of several crops so as to avoid natural calamities and floods. To pay attention to the use of land fund and alterable land fund along the direction of diversifying products and building areas for specialized cultivation of high-yield and quality crops; to achieve a total agricultural land area of 3.5 to 4 million hectares. To concentrate on the exploitation of Dong Thap Muoi (Plain of Reeds) and western Hau river regions as well as Ca Mau peninsula.
- Regarding forestry: to step up the tree planting and afforestation so as to restore and protect the ecological environment, to form a protective line along the East Sea coast. To plant and protect the protective forests in Bay Nui region, to maintain the cajuput acreage, to stabilize the nipa acreage, to protect forests submerged by saline water. To step up the planting of scattered trees, to closely combine the development of agriculture, forestry, irrigation with aquaculture. To step by step assign land, assign and contract forests to households so as to combine horticulture with forestry and fishery, shrimp farming with afforestation.
- Regarding the aquatic and marine resources: to bring into full play the advantages of a region endowed with a long sea coast, large fishing grounds and local people having experiences in aquaculture and fishing. To raise the capability of such an important economic sector that contributes 50% of the gross export value of aquatic and marine products of the whole country. To equip the fishing boats with modern facilities so as to gradually develop off-shore fishing.
To develop the farming of aquatic products of high value: shrimps, crabs and special products of high export value. To encourage the production models suitable to the conditions of the region, so as to contribute to the economic restructure, meeting the requirements of production and people's life.
2. Regarding the industrial development:
- To strive to achieve an average annual industrial growth rate of 13% for the period from now to the year 2000 and 14% for the 2001-2010 period.
To attach importance to the development of food and foodstuff processing industry so as to increase the industrial proportion in the economic structure up to above 60% by the year 2010. To develop the apparel, textile, leather and shoe making, electronic engineering, construction materials, chemicals, animal feed processing industries... to manufacture products with high technical and technological contents, being capable of competing on the market.
- To undertake a gradual renovation conducive to the economic restructure in the region.
- To step up the mobilization of foreign and domestic investment. To prepare necessary conditions for the investment in the following industrial zones: Tra Noc, Nam Hung Phu, Vi Thanh, Ben Luc, Duc Hoa, Cau Van, Go Den, Luong Hoa, Can Duoc, Nam Can, Ca Mau, Bac Lieu, Dai Ngai, Dai An, Tra Vinh provincial township, North My Thuan, Binh Minh, North Co Chien, Dieu Ga, Western Tan Quy, Tran Quoc Toan, My Tra, Song Hau, Kien Luong, Ba Hon, Hon Chong, Rach Gia, Tac Cau, Ben Nhat, Phu Quoc, Vam Cong, Chau Doc, Bay Nui, Chau Thanh (Tien Giang province), Cai Lay, Eastern Go Cong. To step by step build the industrial zones under the guidelines of completing zone by zone and avoiding scattered investment so as to ensure high economic efficiency.
- To concentrate on the development of those industries capable of intensively employing the labor force available in the region and spreading their medium- and small-scale plants equipped with advanced technologies to scattered locations, so as to create more jobs and contribute to the rural industrialization.
3. Regarding the trade and service development:
- To strive to achieve an average annual growth rate of 11% for the period from now to the year 2000 and 13% for the 2001-2010 period.
The development of commerce and services must help promote the development of other economic sectors in the whole region, so as to achieve the set socio-economic objectives.
- To build trade centers, department stores, network of markets... thus creating a favorable environment for production and business. For the period from now to the year 2010, to build the region's trade center in Can Tho province acting as a hub for inter-regional trade activities. At the same time, to build a number of provincial trade centers in Tan An, Cao Lanh, My Tho, Long Xuyen, Rach Gia, Soc Trang, Tra Vinh, Vinh Long, Ben Tre, Ca Mau, Bac Lieu, Ha Tien, Chau Doc, Tan Chau and Moc Hoa, to provide commercial information on organization and management of export and import, circulation of goods in service of the production and people's life.
- To restructure the service sectors along the direction of giving priority to tourism as well as financial, banking, telecommunications and technological transfer services, encouraging all economic sectors to take part in service activities.
- To make full use of the region's geographical advantages in order to quickly develop garden and ecological tourism in tourist links with Ho Chi Minh City and key economic zones and inter-regional tourist lines such as the Central Highlands and the Eastern South Vietnam to attract tourists. To develop infrastructure and the material and technical bases in a synchronous manner, to combine the exploitation with the renovation, the preservation of nature, the maintenance and development of tourist resources and the promotion of the national cultural identity.
4. Regarding the development of infrastructure:
To develop the communication network: waterways, land roads and airways as planned. To attach importance to the communication networks in rural, deep-lying, remote and border areas, to create favorable conditions for the development of areas meeting with difficulties, former resistance bases, islands.
To upgrade sea ports and river ports situated along Tien and Hau rivers, regularly dredge navigation routes, especially those in Dinh An, Tien and Tran De estuaries.
To upgrade the national highways' sections in the region, to improve the intra-provincial communication systems. To combine communication with the improvement of the irrigation, bridge and drainage systems and works in service of flood drainage, storm and flood prevention and fight. Together with the prevention of saline water infiltration and washing away saline water from soil, it is necessary to keep land conditioned by fresh water.
To build Tra Noc airport into the central airport of the Mekong river delta region, to manage and maintain other airports for use when necessary.
To upgrade or newly build water supply and drainage systems in urban areas, industrial zones, to satisfy clean water demand of the rural population.
To combine the construction with the upgrading of systems of schools, hospitals and cultural houses to meet the needs of the people.
Regarding post and telecommunications: To modernize the post and telecommunications sector with automatic and digital equipment, to synchronize the information and communications network commensurate with the domestic information and international communications demand.
Regarding the electricity grid: To invest in the construction of new projects in combination with the renovation and expansion of Tra Noc thermo-electric power plant, to improve the networks of 220 KV and 110 KV transmission lines, to expand the existing transformer stations, to build distribution stations to meet the requirements of production development and life. To attach importance to the rural electrification in service of industrialization.
Regarding the urban networks and territorial corrider space: To combine the construction with the renovation in order to formulate urban networks of various grades, to strive to raise the urbanization rate in the region to 19% by the year 2000 and 30% by the year 2010. To develop 3 urban centers: the quadrilateral center (Can Tho, Long Xuyen, Vinh Long and Cao Lanh cities); the East-South corridor space (My Tho, Tan An, Thu Thua, Ben Luc cities...) and the West-North urban corridor along Vinh Tay (West Gulf). To attach importance to the organization and development of population quarters in rural areas, especially the rural urbanization; to create conditions for the development of border areas, coastal areas, islands and flood-prone areas, and narrow the gaps between the areas.
5. Regarding culture, education, healthcare and social welfare:
- To develop and raise the quality and efficiency of the education and training system so as to elevate the people's intellectual level and develop human resources to meet the requirements of the regional as well as national industrialization and modernization.
- To renovate and upgrade the existing medical establishments and build new ones; to consolidate and develop the system of general hospitals in service of the primary healthcare, the epidemic prevention and fight and the medical examination and treatment for people, to efficiently carry out the population control and family planning program. To step by step socialize the healthcare in service of the fight against septic diseases, the universalization of rational nutrition and the improvement of the hygienic conditions for the living and working environments.
To continue improving and raising the efficiency of radio and television broadcasting, cultural, sports and physical training activities. To conduct research and apply advanced and modern sciences and technologies as the foundation and driving force for the socio-economic development in the region. To efficiently integrate the national programs and target programs, to achieve the objective of hunger eradication and poverty alleviation, especially in deep-lying areas, remote areas and areas inhabited by people of ethnic minorities and meeting with numerous difficulties.
III. MAJOR SOLUTIONS:
To implement the master plan, there should be a series of synchronous measures so as to mobilize resources inside and outside the country for the socio-economic development of the Mekong delta region. The People's Committee of each province shall have to concretize the socio-economic development orientations set forth in the master plan into long-term, medium-term and short-term plans, specific programs and investment projects, aimed at controlling and managing the development process along the set orientations.
The concerned localities, ministries and branches shall have to propose to the Government for approval policies and solutions regarding the investment attraction, capital mobilization, human resource development, application of scientific, technological and environmental protection measures, market expansion in service of production and people's life in order to achieve the socio-economic objectives.
Priority shall be given to the construction of technical infrastructure and intensive investment in order to achieve practical efficiency and create motive forces for the development of the region.
To adopt a policy of high economic incentives towards those sectors that turn out products of high competitiveness on the market and products for export.
On the basis of the ratified planning, the provinces in the region shall have to revise their own master plans, programs and plans for socio-economic development so as to arrange them in a proper priority order through annual plans and specific projects.
Article 2.- The ministries, the ministerial-level agencies, the agencies attached to the Government and the People's Committees of provinces in the Mekong river delta region shall have to organize and oversee the implementation of the master plan and work out five-year and annual plans, programs and projects in conformity with the master plan.
The ministries and branches at the central level shall have to coordinate with and support the provinces in the Mekong river delta region in revising and organizing the implementation of the set projects with a view to ensuring the consistency between the planning of each province and the planning of the region and the whole country.
In the course of implementation of the planning, the Ministry of Planning and Investment shall coordinate with the concerned ministries and branches and the People's Committees of the Mekong delta provinces in making review, evaluation and drawing experience so as to devise timely adjustments and supplements.
Article 3.- This Decision takes effect 15 after its signing. The presidents of the People's Committees of the provinces in the Mekong river delta region and the concerned ministers, the heads of the ministerial-level agencies and the heads of the agencies attached to the Government shall have to implement this Decision.
 

 
THE PRIME MINISTER OF GOVERNMENT  




Phan Van Khai
 

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Văn bản này chưa có chỉ dẫn thay đổi
văn bản TIẾNG ANH
Bản dịch tham khảo
download Decision 01/1998/QD-TTg DOC (Word)
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao để tải file.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi

19006192

Theo dõi LuatVietnam trên YouTube

TẠI ĐÂY

văn bản cùng lĩnh vực

Vui lòng đợi