Thông tư 6-TM/XNK của Bộ Thương mại về việc hướng dẫn bổ sung thi hành Quyết định số 78-TTg ngày 28-02-1994 của Thủ tướng Chính phủ

Thuộc tính Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

THÔNG TƯ

CỦA BỘ THƯƠNG MẠI SỐ 6-TM/XNK NGÀY 16-5-1994
HƯỚNG DẪN BỔ SUNG THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH SỐ 78-TTG NGÀY 28-2-1994

CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Tiếp theo thông tư số 4-TM/XNK ngày 4-4-1994 của Bộ Thương mại;

Căn cứ ý kiến của Thủ tướng Chính phủ (tại văn bản số 2448-KTTH ngày 6-5-1994);

Sau khi thống nhất ý kiến với Tổng cục Hải quan, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Thương mại điều chỉnh và giải thích một số điểm trong Quyết định số 238 -TM/XNK ngày 24-3-1994 và thông tư số 4-TM/XNK ngày 4-4-1994 như sau:

PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG VẤN ĐỀ THUỘC QUYẾT ĐỊNH SỐ 238-TM/XNK
A. ĐIỀU CHỈNH VĂN BẢN
I. Mặt hàng cấm xuất khẩu: Tại điểm I/5 có "Song nguyên liệu" , nay bổ sung "mây nguyên liệu".
II. Mặt hàng cấm nhập khẩu:
Ngoài những mặt hàng đã nêu trong Quyết định số 238-TM/XNK, nay bổ sung thêm:
1. Việc nhập khẩu xe hai bánh gắn máy có dung tích xylanh từ 175 phân khối trở lên vẫn được áp dụng theo các quy định tại Quyết định số 258-TTg ngày 29-5-1993 của Thủ tướng Chính phủ.
2. Thủ tướng Chính phủ đã quyết định không cho nhập khẩu ô-tô tay lái nghịch (các văn bản số 3648-KTTH ngày 23-7-1993, số 4915-KTTH ngày 30-9-1993 và 2415-KTTH ngày 5-5-1994).
3. Đối với các nhóm, mặt hàng đã qua sử dụng thuộc diện điều chỉnh của văn bản số 250-KTTH ngày 19-1-1994 của Văn phòng Chính phủ thì phải tuân theo các quy định trong văn bản đó.
B. GIẢI THÍCH VĂN BẢN
1. Tại điểm II/1 có "vật liệu nổ": Trừ Coalimex là đầu mối duy nhất được giao nhập khẩu 4.200 tấn. Trường hợp này, Thủ tướng không cần phải có văn bản trực tiếp giao nhiệm vụ cho Coalimex, chỉ cần văn bản của Bộ Thương mại. Các trường hợp khác, phải có văn bản của Thủ tướng trực tiếp giao nhiệm vụ cho doanh nghiệp, theo đó, Bộ Thương mại sẽ có văn bản hướng dẫn Phòng giấy phép.
Cả hai trường hợp trên, Phòng giấy phép đều phải có căn cứ vào văn bản của Bộ Thương mại để cấp giấy phép nhập khẩu theo Quy định số 297-TMDL/XNK ngày 9-4-1992.
2. Tại điểm II/6 có "thuốc lá điếu": Trường hợp nhập khẩu của các doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh cửa hàng miễn thuế thì căn cứ vào văn bản cho phép của Bộ Thương mại, Phòng giấy phép cấp giấy phép nhập khẩu theo Quy định số 297-TMDL/XNK ngày 9-4-1992. Trường hợp chuyển khẩu hoặc tạm nhập để tái xuất thì căn cứ văn bản cho phép của Thủ tướng Chính phủ và văn bản hướng dẫn thực hiện của Bộ Thương mại.
3. Tại điểm II/7 có "hàng tiêu dùng đã qua sử dụng": Được hiểu là tất cả các loại hàng tiêu dùng, không phải chỉ là các loại hàng ghi trong dấu ngoặc đơn.
4. Tại điểm II/7 có "tài sản di chuyển" và tại điểm II/8 có "xe và phương tiện tự hành đặc chủng có phạm vi lưu hành hẹp": Hai vấn đề này Bộ Thương mại cùng Tổng cục Hải quan sẽ bàn với các bộ hữu quan như quy định tại Quyết định số 238-TM/XNK ngày 24-3-1994 và sẽ có hướng dẫn sau. Trong khi chờ hướng dẫn các phòng giấy phép không được cấp giấy phép nhập khẩu chuyến cho bất kỳ doanh nghiệp nào nếu không có văn bản cho phép của Bộ Thương mại.
5. Tại điểm II/7 có "phụ tùng cũ": Được hiểu là bao gồm cả linh kiện cũ.
6. Đối với những nhóm, mặt hàng trước đây được chủ động nhập khẩu theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh nhưng từ ngày 1-4-1994 lại thuộc diện cấm nhập khẩu, sẽ được xử lý theo công văn số 241-TCHQ/GQ ngày 28-3-1994 của Tổng cục Hải quan và biên bản làm việc giữa Bộ Thương mại và Tổng cục Hải quan hướng dẫn thi hành quyết định 238-TM/XNK ngày 24-3-1994 và Thông tư số 4-TM/XNK ngày 4-4-1994.
Các trường hợp vượt quá phạm vi điều chỉnh của công văn 241-TCHQ/GQ ngày 28-3-1994, Phòng Giấy phép chỉ cấp giấy phép mới hoặc gia hạn giấy phép cũ khi được Bộ Thương mại chấp thuận bằng văn bản.
PHẦN THỨ  HAI
NHỮNG VẤN ĐỀ THUỘC THÔNG TƯ SỐ 4-TM/XNK
A. ĐIỀU CHỈNH VĂN BẢN:
I. Về danh mục số 3:
1. Về xe hai bánh gắn máy "nguyên chiếc và linh kiện":
1.1. Xe máy mới, nguyên chiếc:
Thực hiện chủ trương của Chính phủ về việc gom đầu mối nhập khẩu xe máy nguyên chiếc, Bộ Thương mại quy định:
a) Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (dưới đây gọi tắt là tỉnh) và mỗi Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan khác thuộc Chính phủ, mỗi cơ quan Trung ương của đoàn thể có doanh nghiệp xuất nhập khẩu (dưới đây gọi tắt là Bộ) được Bộ Thương mại chỉ định một doanh nghiệp nhập khẩu xe máy mới nguyên chiếc.
Riêng đối với thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, các Bộ Giao thông vận tải, Thương mại ... (là các trung tâm thương mại, ngành vận tải, ngành chuyên kinh doanh), được chỉ định thêm một số doanh nghiệp.
Với quy định trên, năm 1994, trong cả nước sẽ có gần 100 doanh nghiệp được nhập khẩu xe máy nguyên chiếc. Việc lựa chọn doanh nghiệp làm đầu mối dựa vào các điều kiện sau đây:
- Có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu ngành hàng hoặc chuyên doanh ô-tô, xe máy.
- Có kim ngạch xuất khẩu năm 1993 cao so với các doanh nghiệp có giấy phép, ngành hàng cùng loại của Bộ, tỉnh (trừ kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng Nhà nước tập trung ở đầu mối).
- Trong kinh doanh xuất nhập khẩu (năm 1992, 1993) không vi phạm quy định, chế độ của Nhà nước.
- Có hồ sơ gửi tới Bộ Thương mại theo hướng dẫn tại mục 2, điểm I, khoản B, phần thứ nhất, Thông tư số 4-TM/XNK.
b) Bộ Thương mại sẽ chọn trong số các doanh nghiệp thuộc loại trên để chỉ định 14-15 doanh nghiệp làm nòng cốt trong từng khu vực và trong khối các Bộ.
Các doanh nghiệp được chỉ định làm nòng cốt phải đạt thêm các điều kiện sau đây:
- Có kinh nghiệm nhập khẩu nhiều năm, có khách hàng cung cấp ổn định, nhập khẩu số lượng lớn.
- Trong năm 1992, 1993 trực tiếp nhập khẩu hết số lượng được Bộ Thương mại giao (Không uỷ thác doanh nghiệp khác, ngược lại được các doanh nghiệp khác tín nhiệm uỷ thác)
1.2. Linh kiện dạng CKD để lắp ráp xe máy:
a) Tính đến nay Bộ Thương mại đã nhận được gần 60 bộ hồ sơ đăng ký nhập linh kiện dạng CKD để lắp ráp xe máy. Các cơ sở này đã có khả năng lắp ráp số lượng xe máy gấp 4 lần kế hoạch định hướng năm 1994. Bộ Thương mại sẽ tiến hành kiểm tra để xác định tính đúng đắn giữa hồ sơ và thực tế để việc giao số lượng nhập khẩu được hợp lý.
Để đỡ lãng phí công suất dây chuyền lắp ráp, Bộ Thương mại yêu cầu các doanh nghiệp khác (ngoài số doanh nghiệp đã có hồ sơ) không đầu tư xây dựng thêm cơ sở lắp ráp xe máy.
b) Trước mắt, Bộ Thương mại sẽ giao số lượng nhập khẩu linh kiện cho những doanh nghiệp có đủ điều kiện, hồ sơ theo quy định trong Thông tư số 4-TM/XNK và đã có lắp ráp sản phẩm từ năm 1993 về trước. Đối với trường hợp cơ sở lắp ráp đã có giấy chứng nhận của Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng, tuy năm 1993 chưa lắp ráp, nhưng đã được kiểm tra, sẵn sàng đi vào sản xuất cũng được xem xét giao nhập khẩu linh kiện.
Các cơ sở lắp ráp khác đã có hồ sơ gửi tới Bộ Thương mại sẽ được Bộ Thương mại xem xét sau khi kiểm tra tại chỗ theo quy hoạch và cơ chế quản lý sản phẩm thống nhất giữa Bộ Công nghiệp nặng, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường và Bộ Thương mại.
1.3. Các doanh nghiệp được giao nhập khẩu xe máy nguyên chiếc và linh kiện, một tháng trước khi văn bản giao nhập khẩu hết hiệu lực, phải gửi Bộ Thương mại báo cáo về tình hình thực hiện. Căn cứ vào báo cáo và kết hợp kiểm tra tại chỗ, Bộ Thương mại sẽ có biện pháp điều chỉnh phù hợp, kể cả việc chuyển toàn bộ hoặc phần chưa thực hiện cho doanh nghiệp khác.
2
2.1. Ô-tô dưới 12 chỗ ngồi, nguyên chiếc (loại mới):
Trước mắt, Bộ Thương mại giao cho chín doanh nghiệp được nhập khẩu theo nguyên tắc: Bộ Thương mại không giao trước số lượng, khi nào doanh nghiệp xuất trình L/C, Bộ Thương mại sẽ cấp giấy phép nhập khẩu theo số lượng ghi trong L/C. Trường hợp nhập số lượng lớn (trên 50 chiếc/chuyến) thì trước khi ký hợp đồng, mở L/C, doanh nghiệp phải xin phép Bộ Thương mại.
2.2. Linh kiện ô-tô dạng CKD:
Trước mắt giao cho các doanh nghiệp được thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhập khẩu.
3. Việc nhập khẩu ô-tô, xe máy nguyên chiếc, trong trường hợp đặc biệc khác với các quy định trên sẽ được Bộ Thương mại xem xét giải quyết từng trường hợp cụ thể.
II. Chỉ được tái xuất những mặt hàng nhập khẩu thuộc danh mục số 3 khi có văn bản chấp thuận của Bộ Thương mại, thuộc danh mục số 4 khi có văn bản chấp thuận của cơ quan quản lý chuyên ngành.
III. Về việc nhập khẩu hàng hoá ngoài 4 danh mục nêu trong Quyết định số 238-TM/XNK và Thông tư số 4-TM/XNK.
1. Tư liệu sản xuất bao gồm máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, phụ tùng, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu.
1.1. Doanh nghiệp không được nhập khẩu hàng đã qua sử dụng: phụ tùng, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu.
1.2. Nếu doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu ngành hàng, nhập khẩu các loại máy móc, phương tiện vận tải, kể cả loại đã qua sử dụng (trừ loại thuộc diện điều chỉnh của quyết định số 238-TM/XNK) có đơn giá từ 10.000 USD trở xuống, thì Phòng giấy phép chịu trách nhiệm xem xét và cấp giấy phép nhập khẩu.
1.3. Nếu doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu ngành hành, nhập khẩu thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải, kể cả loại đã qua sử dụng, có đơn giá trên 10.000 USD thì Phòng giấy phép chỉ cấp giấy phép nhập khẩu khi có văn bản chấp thuận của Bộ Thương mại.
Đối với một số loại hàng có khi là tư liệu sản xuất, có khi là tư liệu tiêu dùng (ví dụ mì chính, dầu shortening), chỉ được coi là tư liệu sản xuất khi doanh nghiệp có văn bản gửi đến Phòng giấy phép chứng minh rằng toàn bộ số hàng nhập khẩu đó đều đưa vào sản xuất.
2. Hàng hoá không phải là tư liệu sản xuất: (khái niệm này thay cho các khái niệm: "hàng tiêu dùng", "hàng tiêu dùng thiết yếu", "đồ gia dụng").
2.1. Khi xem xét cấp giấy phép xuất nhập khẩu chuyến, Phòng giấy phép căn cứ các giấy tờ sau đây của doanh nghiệp.
- Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu ngành hàng.
- Giấy yêu cầu nhập khẩu có xác nhận của Ngân hàng về số dư ngoại tệ tại thời điểm doanh nghiệp đề nghị nhập khẩu.
Trong văn bản đề nghị doanh nghiệp cần nêu rõ: tên hàng nhập khẩu, số lượng, trị giá, thị trường nhập khẩu, phương thức thanh toán, đồng tiền thanh toán; có xác nhận của Ngân hàng về số dư ngoại tệ từ nguồn thu xuất khẩu để thanh toán lô hàng nhập khẩu ghi trong văn bản đề nghị. Bộ Thương mại xét giải quyết từng trường hợp cụ thể, đặc biệt, nếu doanh nghiệp có số dư từ các nguồn thu khác.
Nhằm thực hiện được quy định này, mọi hình thức thanh toán theo các hợp đồng mua bán ngoại thương phải thực hiện theo quy định và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.
2.2. Riêng trường hợp đã có văn bản cho phép của Bộ hoặc đã có giấy báo giao hàng trước ngày Phòng Giấy phép nhận được văn bản này, doanh nghiệp không phải lấy giấy phép của ngân hàng xác nhận số dư ngoại tệ thu được từ xuất khẩu, vẫn được cấp giấy phép nhập khẩu chuyến, nhưng chậm nhất là ngày 30-6-1994 hàng phải về đến cửa khẩu Việt Nam.
3. Việc nhập khẩu các loại thực phẩm (như rượu, bia và đồ uống khác, rau quả tươi hoặc đã chế biến), tạp phẩm (như hàng may và hàng dệt, mũ, giầy, dép, đồ gốm, sứ, thuỷ tinh, mỹ phẩm) vẫn phải được Bộ Thương mại chấp thuận bằng văn bản.
Đối với các doanh nghiệp đã nhập khẩu theo Quyết định số 405-TM/XNK ngày 13-4-1993 nếu đã có giấy báo giao hàng thì được cấp giấy phép nhập khẩu nhưng hàng phải về không quá ngày 30-6-1994 (đây là thời hạn cuối cùng áp dụng theo Quyết định số 405-TM/XNK).
B. GIẢI THÍCH VĂN BẢN:
I. Đối với các mặt hàng trước đây được chủ động nhập theo yêu cầu sản xuất, kinh doanh nhưng nay lại thuộc danh mục số 3, danh mục số 4 thì được giải quyết như sau:
Nếu doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu ngành hàng, đã có giấy báo giao hàng hoặc đã có vận tải đơn, hoặc đã mở L/C trước ngày Phòng Giấy phép nhận được văn bản này thì vẫn được Phòng Giấy phép cấp giấy phép nhập khẩu nốt số lượng đó nhưng chậm nhất là ngày 30-6-1994 hàng phải về đến cửa khẩu Việt Nam.
II. Về cấp giấy phép chuyến và thủ tục hải quan:
1. Đối với hàng nhập khẩu: Phòng Giấy phép cấp giấy phép nhập khẩu chuyến đối với tất cả các mặt hàng nhập khẩu.
2. Đối với hàng xuất khẩu: Bộ Thương mại thống nhất với Tổng cục Hải quan từ ngày 1-7-1994 bỏ chế độ cấp giấy phép xuất khẩu chuyến.
- Trừ xuất khẩu các mặt hàng thuộc các danh mục 1, 2, 3, 4.
- Trừ các trường hợp đặc biệt như hàng đổi hàng, hàng tái xuất, hàng tạm nhập để tái xuất, hàng tạm xuất để tái nhập, hàng quá cảnh, hàng dự hội chợ, triển lãm, hàng gia công, hàng của các doanh nghiệp được thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Từ nay đến hết tháng 6 là thời kỳ chuẩn bị (xem điểm 5 dưới đây) nên các Phòng Giấy phép vẫn cấp giấy phép xuất khẩu chuyến như thường lệ.
3. Khi đến Hải quan làm thủ tục, doanh nghiệp cần có hồ sơ gồm:
a) Đối với các mặt hàng thuộc diện Bộ Thương mại có cấp giấy phép chuyến: trong bộ hồ sơ theo quy định hiện hành của Tổng cục Hải quan, ngoài các chứng từ khác, chỉ cần giấy phép do Phòng Giấy phép xuất nhập khẩu cấp (không cần văn bản cho phép của Bộ Thương mại).
b) Đối với các mặt hành thuộc diện Bộ Thương mại không cấp giấy phép chuyến: trong bộ hồ sơ theo quy định hiện hành của Tổng cục Hải quan, ngoài các chứng từ khác, sẽ không có giấy phép do Phòng Giấy phép cấp, thay vào đó là giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu (loại 7 chữ số) hoặc văn bản khác của Bộ Thương mại cho phép kinh doanh xuất nhập khẩu.
Kể từ khi thực hiện chế độ mới này, khi đến Hải quan làm thủ tục lần đầu tiên, doanh nghiệp cần nộp bản photocopy có công chứng giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu hoặc văn bản của Bộ Thương mại cho phép kinh doanh xuất nhập khẩu; các lần sau chỉ cần xuất trình giấy phép này.
4. Đối với các mặt hàng thuộc diện Bộ Thương mại không cấp giấy phép chuyến (nêu tại điểm 3b trên): doanh nghiệp phải làm thêm một tờ khai hải quan. Hải quan thu tờ khai thêm này để định kỳ, mỗi tuần một lần, gửi về Phòng giấy phép xuất nhập khẩu gần nhất. Riêng ở Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ: Phòng Giấy phép xuất nhập khẩu sẽ trực tiếp đến Hải quan tỉnh, thành phố kể trên để nhận các tờ khai này, mỗi tuần một lần. Ngày gửi, ngày giao tờ khai do Hải quan ấn định và thông báo cho Phòng giấy phép xuất nhập khẩu biết để tiếp nhận. Phòng giấy phép cần chủ động bàn bạc và thống nhất chương trình làm việc với Hải quan khu vực.
5. Thời điểm thực hiện việc bỏ giấy phép chuyến đối với một số mặt hành xuất khẩu:
Trước khi áp dụng trong cả nước, sẽ làm thí điểm để rút kinh nghiệm. Trước mắt, Bộ Thương mại và Tổng cục Hải quan thống nhất chọn Hải quan Hà Nội, Hải quan Hải phòng và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ. Các doanh nghiệp trực thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng thực hiện việc thí điểm này.
Tiến độ thời gian thực hiện như sau:
- Từ ngày 21-4-1994 (sau khi kết thúc các cuộc tập huấn) đến ngày 15-5-1994 là thời gian chuẩn bị làm thí điểm.
- Từ ngày 16-5-1994 đến ngày 15-6-1994 là thời gian làm thí điểm.
- Từ ngày 16-6-1994 đến ngày 30-6-1994 là thời gian chuẩn bị áp dụng rộng rãi.
- Từ ngày 1-7-1994 áp dụng trong cả nước.
Các quy định điều chỉnh tại Thông tư này thay thế cho các quy định tương ứng tại Quyết định số 238-TM/XNK ngày 24-3-1994 và Thông tư số 4-TM/XNK ngày 4-4-1994 của Bộ Thương mại.
Trong quá trình thực hiện Quyết định số 238-TM/XNK, Thông tư số 4-TM/XNK và văn bản này, yêu cầu Phòng Giấy phép và doanh nghiệp xuất nhập khẩu thường xuyên báo cáo diễn biến tình hình với Bộ Thương mại để Bộ có biện pháp điều chỉnh, xử lý thích hợp, kịp thời.
Thuộc tính văn bản
Thông tư 6-TM/XNK của Bộ Thương mại về việc hướng dẫn bổ sung thi hành Quyết định số 78-TTg ngày 28-02-1994 của Thủ tướng Chính phủ
Cơ quan ban hành: Bộ Thương mại Số công báo: Đã biết
Số hiệu: 6-TM/XNK Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Thông tư Người ký: Tạ Cả
Ngày ban hành: 16/05/1994 Ngày hết hiệu lực: Đã biết
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực: Xuất nhập khẩu
Tóm tắt văn bản
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

THôNG Tư

CủA Bộ THươNG MạI Số 6-TM/XNK NGàY 16-5-1994 HướNG DẫN
Bổ SUNG THI HàNH QUYếT địNH Số 78-TTG NGàY 28-2-1994

CủA THủ TướNG CHíNH PHủ

 

Tiếp theo thông tư số 4-TM/XNK ngày 4-4-1994 của Bộ Thương mại;

Căn cứ ý kiến của Thủ tướng Chính phủ (tại văn bản số 2448-KTTH ngày 6-5-1994);

Sau khi thống nhất ý kiến với Tổng cục Hải quan, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Thương mại điều chỉnh và giải thích một số điểm trong Quyết định số 238 -TM/XNK ngày 24-3-1994 và thông tư số 4-TM/XNK ngày 4-4-1994 như sau:

 

PHầN THứ NHấT
NHữNG VấN đề THUộC QUYếT địNH Số 238-TM/XNK

 

A. ĐIềU CHỉNH VăN BảN

 

I. Mặt hàng cấm xuất khẩu: Tại điểm I/5 có "Song nguyên liệu" , nay bổ sung "mây nguyên liệu".

II. Mặt hàng cấm nhập khẩu:

Ngoài những mặt hàng đã nêu trong Quyết định số 238-TM/XNK, nay bổ sung thêm:

1. Việc nhập khẩu xe hai bánh gắn máy có dung tích xylanh từ 175 phân khối trở lên vẫn được áp dụng theo các quy định tại Quyết định số 258-TTg ngày 29-5-1993 của Thủ tướng Chính phủ.

2. Thủ tướng Chính phủ đã quyết định không cho nhập khẩu ô-tô tay lái nghịch (các văn bản số 3648-KTTH ngày 23-7-1993, số 4915-KTTH ngày 30-9-1993 và 2415-KTTH ngày 5-5-1994).

3. Đối với các nhóm, mặt hàng đã qua sử dụng thuộc diện điều chỉnh của văn bản số 250-KTTH ngày 19-1-1994 của Văn phòng Chính phủ thì phải tuân theo các quy định trong văn bản đó.

 

B. GIảI THíCH VăN BảN

 

1. Tại điểm II/1 có "vật liệu nổ": Trừ Coalimex là đầu mối duy nhất được giao nhập khẩu 4.200 tấn. Trường hợp này, Thủ tướng không cần phải có văn bản trực tiếp giao nhiệm vụ cho Coalimex, chỉ cần văn bản của Bộ Thương mại. Các trường hợp khác, phải có văn bản của Thủ tướng trực tiếp giao nhiệm vụ cho doanh nghiệp, theo đó, Bộ Thương mại sẽ có văn bản hướng dẫn Phòng giấy phép.

Cả hai trường hợp trên, Phòng giấy phép đều phải có căn cứ vào văn bản của Bộ Thương mại để cấp giấy phép nhập khẩu theo Quy định số 297-TMDL/XNK ngày 9-4-1992.

2. Tại điểm II/6 có "thuốc lá điếu": Trường hợp nhập khẩu của các doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh cửa hàng miễn thuế thì căn cứ vào văn bản cho phép của Bộ Thương mại, Phòng giấy phép cấp giấy phép nhập khẩu theo Quy định số 297-TMDL/XNK ngày 9-4-1992. Trường hợp chuyển khẩu hoặc tạm nhập để tái xuất thì căn cứ văn bản cho phép của Thủ tướng Chính phủ và văn bản hướng dẫn thực hiện của Bộ Thương mại.

3. Tại điểm II/7 có "hàng tiêu dùng đã qua sử dụng": Được hiểu là tất cả các loại hàng tiêu dùng, không phải chỉ là các loại hàng ghi trong dấu ngoặc đơn.

4. Tại điểm II/7 có "tài sản di chuyển" và tại điểm II/8 có "xe và phương tiện tự hành đặc chủng có phạm vi lưu hành hẹp": Hai vấn đề này Bộ Thương mại cùng Tổng cục Hải quan sẽ bàn với các bộ hữu quan như quy định tại Quyết định số 238-TM/XNK ngày 24-3-1994 và sẽ có hướng dẫn sau. Trong khi chờ hướng dẫn các phòng giấy phép không được cấp giấy phép nhập khẩu chuyến cho bất kỳ doanh nghiệp nào nếu không có văn bản cho phép của Bộ Thương mại.

5. Tại điểm II/7 có "phụ tùng cũ": Được hiểu là bao gồm cả linh kiện cũ.

6. Đối với những nhóm, mặt hàng trước đây được chủ động nhập khẩu theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh nhưng từ ngày 1-4-1994 lại thuộc diện cấm nhập khẩu, sẽ được xử lý theo công văn số 241-TCHQ/GQ ngày 28-3-1994 của Tổng cục Hải quan và biên bản làm việc giữa Bộ Thương mại và Tổng cục Hải quan hướng dẫn thi hành quyết định 238-TM/XNK ngày 24-3-1994 và Thông tư số 4-TM/XNK ngày 4-4-1994.

Các trường hợp vượt quá phạm vi điều chỉnh của công văn 241-TCHQ/GQ ngày 28-3-1994, Phòng Giấy phép chỉ cấp giấy phép mới hoặc gia hạn giấy phép cũ khi được Bộ Thương mại chấp thuận bằng văn bản.

 

PHầN THứ HAI
NHữNG VấN đề THUộC THôNG Tư Số 4-TM/XNK

 

A. ĐIềU CHỉNH VăN BảN:

 

I. Về danh mục số 3:

1. Về xe hai bánh gắn máy "nguyên chiếc và linh kiện":

1.1. Xe máy mới, nguyên chiếc:

Thực hiện chủ trương của Chính phủ về việc gom đầu mối nhập khẩu xe máy nguyên chiếc, Bộ Thương mại quy định:

a) Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (dưới đây gọi tắt là tỉnh) và mỗi Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan khác thuộc Chính phủ, mỗi cơ quan Trung ương của đoàn thể có doanh nghiệp xuất nhập khẩu (dưới đây gọi tắt là Bộ) được Bộ Thương mại chỉ định một doanh nghiệp nhập khẩu xe máy mới nguyên chiếc.

Riêng đối với thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, các Bộ Giao thông vận tải, Thương mại ... (là các trung tâm thương mại, ngành vận tải, ngành chuyên kinh doanh), được chỉ định thêm một số doanh nghiệp.

Với quy định trên, năm 1994, trong cả nước sẽ có gần 100 doanh nghiệp được nhập khẩu xe máy nguyên chiếc. Việc lựa chọn doanh nghiệp làm đầu mối dựa vào các điều kiện sau đây:

- Có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu ngành hàng hoặc chuyên doanh ô-tô, xe máy.

- Có kim ngạch xuất khẩu năm 1993 cao so với các doanh nghiệp có giấy phép, ngành hàng cùng loại của Bộ, tỉnh (trừ kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng Nhà nước tập trung ở đầu mối).

- Trong kinh doanh xuất nhập khẩu (năm 1992, 1993) không vi phạm quy định, chế độ của Nhà nước.

- Có hồ sơ gửi tới Bộ Thương mại theo hướng dẫn tại mục 2, điểm I, khoản B, phần thứ nhất, Thông tư số 4-TM/XNK.

b) Bộ Thương mại sẽ chọn trong số các doanh nghiệp thuộc loại trên để chỉ định 14-15 doanh nghiệp làm nòng cốt trong từng khu vực và trong khối các Bộ.

Các doanh nghiệp được chỉ định làm nòng cốt phải đạt thêm các điều kiện sau đây:

- Có kinh nghiệm nhập khẩu nhiều năm, có khách hàng cung cấp ổn định, nhập khẩu số lượng lớn.

- Trong năm 1992, 1993 trực tiếp nhập khẩu hết số lượng được Bộ Thương mại giao (Không uỷ thác doanh nghiệp khác, ngược lại được các doanh nghiệp khác tín nhiệm uỷ thác)

1.2. Linh kiện dạng CKD để lắp ráp xe máy:

a) Tính đến nay Bộ Thương mại đã nhận được gần 60 bộ hồ sơ đăng ký nhập linh kiện dạng CKD để lắp ráp xe máy. Các cơ sở này đã có khả năng lắp ráp số lượng xe máy gấp 4 lần kế hoạch định hướng năm 1994. Bộ Thương mại sẽ tiến hành kiểm tra để xác định tính đúng đắn giữa hồ sơ và thực tế để việc giao số lượng nhập khẩu được hợp lý.

Để đỡ lãng phí công suất dây chuyền lắp ráp, Bộ Thương mại yêu cầu các doanh nghiệp khác (ngoài số doanh nghiệp đã có hồ sơ) không đầu tư xây dựng thêm cơ sở lắp ráp xe máy.

b) Trước mắt, Bộ Thương mại sẽ giao số lượng nhập khẩu linh kiện cho những doanh nghiệp có đủ điều kiện, hồ sơ theo quy định trong Thông tư số 4-TM/XNK và đã có lắp ráp sản phẩm từ năm 1993 về trước. Đối với trường hợp cơ sở lắp ráp đã có giấy chứng nhận của Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng, tuy năm 1993 chưa lắp ráp, nhưng đã được kiểm tra, sẵn sàng đi vào sản xuất cũng được xem xét giao nhập khẩu linh kiện.

Các cơ sở lắp ráp khác đã có hồ sơ gửi tới Bộ Thương mại sẽ được Bộ Thương mại xem xét sau khi kiểm tra tại chỗ theo quy hoạch và cơ chế quản lý sản phẩm thống nhất giữa Bộ Công nghiệp nặng, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường và Bộ Thương mại.

1.3. Các doanh nghiệp được giao nhập khẩu xe máy nguyên chiếc và linh kiện, một tháng trước khi văn bản giao nhập khẩu hết hiệu lực, phải gửi Bộ Thương mại báo cáo về tình hình thực hiện. Căn cứ vào báo cáo và kết hợp kiểm tra tại chỗ, Bộ Thương mại sẽ có biện pháp điều chỉnh phù hợp, kể cả việc chuyển toàn bộ hoặc phần chưa thực hiện cho doanh nghiệp khác.

2.1. Ô-tô dưới 12 chỗ ngồi, nguyên chiếc (loại mới):

Trước mắt, Bộ Thương mại giao cho chín doanh nghiệp được nhập khẩu theo nguyên tắc: Bộ Thương mại không giao trước số lượng, khi nào doanh nghiệp xuất trình L/C, Bộ Thương mại sẽ cấp giấy phép nhập khẩu theo số lượng ghi trong L/C. Trường hợp nhập số lượng lớn (trên 50 chiếc/chuyến) thì trước khi ký hợp đồng, mở L/C, doanh nghiệp phải xin phép Bộ Thương mại.

2.2. Linh kiện ô-tô dạng CKD:

Trước mắt giao cho các doanh nghiệp được thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhập khẩu.

3. Việc nhập khẩu ô-tô, xe máy nguyên chiếc, trong trường hợp đặc biệc khác với các quy định trên sẽ được Bộ Thương mại xem xét giải quyết từng trường hợp cụ thể.

II. Chỉ được tái xuất những mặt hàng nhập khẩu thuộc danh mục số 3 khi có văn bản chấp thuận của Bộ Thương mại, thuộc danh mục số 4 khi có văn bản chấp thuận của cơ quan quản lý chuyên ngành.

III. Về việc nhập khẩu hàng hoá ngoài 4 danh mục nêu trong Quyết định số 238-TM/XNK và Thông tư số 4-TM/XNK.

1. Tư liệu sản xuất bao gồm máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, phụ tùng, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu.

1.1. Doanh nghiệp không được nhập khẩu hàng đã qua sử dụng: phụ tùng, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu.

1.2. Nếu doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu ngành hàng, nhập khẩu các loại máy móc, phương tiện vận tải, kể cả loại đã qua sử dụng (trừ loại thuộc diện điều chỉnh của quyết định số 238-TM/XNK) có đơn giá từ 10.000 USD trở xuống, thì Phòng giấy phép chịu trách nhiệm xem xét và cấp giấy phép nhập khẩu.

1.3. Nếu doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu ngành hành, nhập khẩu thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải, kể cả loại đã qua sử dụng, có đơn giá trên 10.000 USD thì Phòng giấy phép chỉ cấp giấy phép nhập khẩu khi có văn bản chấp thuận của Bộ Thương mại.

Đối với một số loại hàng có khi là tư liệu sản xuất, có khi là tư liệu tiêu dùng (ví dụ mì chính, dầu shortening), chỉ được coi là tư liệu sản xuất khi doanh nghiệp có văn bản gửi đến Phòng giấy phép chứng minh rằng toàn bộ số hàng nhập khẩu đó đều đưa vào sản xuất.

2. Hàng hoá không phải là tư liệu sản xuất: (khái niệm này thay cho các khái niệm: "hàng tiêu dùng", "hàng tiêu dùng thiết yếu", "đồ gia dụng").

2.1. Khi xem xét cấp giấy phép xuất nhập khẩu chuyến, Phòng giấy phép căn cứ các giấy tờ sau đây của doanh nghiệp.

- Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu ngành hàng.

- Giấy yêu cầu nhập khẩu có xác nhận của Ngân hàng về số dư ngoại tệ tại thời điểm doanh nghiệp đề nghị nhập khẩu.

Trong văn bản đề nghị doanh nghiệp cần nêu rõ: tên hàng nhập khẩu, số lượng, trị giá, thị trường nhập khẩu, phương thức thanh toán, đồng tiền thanh toán; có xác nhận của Ngân hàng về số dư ngoại tệ từ nguồn thu xuất khẩu để thanh toán lô hàng nhập khẩu ghi trong văn bản đề nghị. Bộ Thương mại xét giải quyết từng trường hợp cụ thể, đặc biệt, nếu doanh nghiệp có số dư từ các nguồn thu khác.

Nhằm thực hiện được quy định này, mọi hình thức thanh toán theo các hợp đồng mua bán ngoại thương phải thực hiện theo quy định và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.

2.2. Riêng trường hợp đã có văn bản cho phép của Bộ hoặc đã có giấy báo giao hàng trước ngày Phòng Giấy phép nhận được văn bản này, doanh nghiệp không phải lấy giấy phép của ngân hàng xác nhận số dư ngoại tệ thu được từ xuất khẩu, vẫn được cấp giấy phép nhập khẩu chuyến, nhưng chậm nhất là ngày 30-6-1994 hàng phải về đến cửa khẩu Việt Nam.

3. Việc nhập khẩu các loại thực phẩm (như rượu, bia và đồ uống khác, rau quả tươi hoặc đã chế biến), tạp phẩm (như hàng may và hàng dệt, mũ, giầy, dép, đồ gốm, sứ, thuỷ tinh, mỹ phẩm) vẫn phải được Bộ Thương mại chấp thuận bằng văn bản.

Đối với các doanh nghiệp đã nhập khẩu theo Quyết định số 405-TM/XNK ngày 13-4-1993 nếu đã có giấy báo giao hàng thì được cấp giấy phép nhập khẩu nhưng hàng phải về không quá ngày 30-6-1994 (đây là thời hạn cuối cùng áp dụng theo Quyết định số 405-TM/XNK).

 

B. GIảI THíCH VăN BảN:

 

I. Đối với các mặt hàng trước đây được chủ động nhập theo yêu cầu sản xuất, kinh doanh nhưng nay lại thuộc danh mục số 3, danh mục số 4 thì được giải quyết như sau:

Nếu doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu ngành hàng, đã có giấy báo giao hàng hoặc đã có vận tải đơn, hoặc đã mở L/C trước ngày Phòng Giấy phép nhận được văn bản này thì vẫn được Phòng Giấy phép cấp giấy phép nhập khẩu nốt số lượng đó nhưng chậm nhất là ngày 30-6-1994 hàng phải về đến cửa khẩu Việt Nam.

II. Về cấp giấy phép chuyến và thủ tục hải quan:

1. Đối với hàng nhập khẩu: Phòng Giấy phép cấp giấy phép nhập khẩu chuyến đối với tất cả các mặt hàng nhập khẩu.

2. Đối với hàng xuất khẩu: Bộ Thương mại thống nhất với Tổng cục Hải quan từ ngày 1-7-1994 bỏ chế độ cấp giấy phép xuất khẩu chuyến.

- Trừ xuất khẩu các mặt hàng thuộc các danh mục 1, 2, 3, 4.

- Trừ các trường hợp đặc biệt như hàng đổi hàng, hàng tái xuất, hàng tạm nhập để tái xuất, hàng tạm xuất để tái nhập, hàng quá cảnh, hàng dự hội chợ, triển lãm, hàng gia công, hàng của các doanh nghiệp được thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Từ nay đến hết tháng 6 là thời kỳ chuẩn bị (xem điểm 5 dưới đây) nên các Phòng Giấy phép vẫn cấp giấy phép xuất khẩu chuyến như thường lệ.

3. Khi đến Hải quan làm thủ tục, doanh nghiệp cần có hồ sơ gồm:

a) Đối với các mặt hàng thuộc diện Bộ Thương mại có cấp giấy phép chuyến: trong bộ hồ sơ theo quy định hiện hành của Tổng cục Hải quan, ngoài các chứng từ khác, chỉ cần giấy phép do Phòng Giấy phép xuất nhập khẩu cấp (không cần văn bản cho phép của Bộ Thương mại).

b) Đối với các mặt hành thuộc diện Bộ Thương mại không cấp giấy phép chuyến: trong bộ hồ sơ theo quy định hiện hành của Tổng cục Hải quan, ngoài các chứng từ khác, sẽ không có giấy phép do Phòng Giấy phép cấp, thay vào đó là giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu (loại 7 chữ số) hoặc văn bản khác của Bộ Thương mại cho phép kinh doanh xuất nhập khẩu.

Kể từ khi thực hiện chế độ mới này, khi đến Hải quan làm thủ tục lần đầu tiên, doanh nghiệp cần nộp bản photocopy có công chứng giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu hoặc văn bản của Bộ Thương mại cho phép kinh doanh xuất nhập khẩu; các lần sau chỉ cần xuất trình giấy phép này.

4. Đối với các mặt hàng thuộc diện Bộ Thương mại không cấp giấy phép chuyến (nêu tại điểm 3b trên): doanh nghiệp phải làm thêm một tờ khai hải quan. Hải quan thu tờ khai thêm này để định kỳ, mỗi tuần một lần, gửi về Phòng giấy phép xuất nhập khẩu gần nhất. Riêng ở Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ: Phòng Giấy phép xuất nhập khẩu sẽ trực tiếp đến Hải quan tỉnh, thành phố kể trên để nhận các tờ khai này, mỗi tuần một lần. Ngày gửi, ngày giao tờ khai do Hải quan ấn định và thông báo cho Phòng giấy phép xuất nhập khẩu biết để tiếp nhận. Phòng giấy phép cần chủ động bàn bạc và thống nhất chương trình làm việc với Hải quan khu vực.

5. Thời điểm thực hiện việc bỏ giấy phép chuyến đối với một số mặt hành xuất khẩu:

Trước khi áp dụng trong cả nước, sẽ làm thí điểm để rút kinh nghiệm. Trước mắt, Bộ Thương mại và Tổng cục Hải quan thống nhất chọn Hải quan Hà Nội, Hải quan Hải phòng và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ. Các doanh nghiệp trực thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng thực hiện việc thí điểm này.

Tiến độ thời gian thực hiện như sau:

- Từ ngày 21-4-1994 (sau khi kết thúc các cuộc tập huấn) đến ngày 15-5-1994 là thời gian chuẩn bị làm thí điểm.

- Từ ngày 16-5-1994 đến ngày 15-6-1994 là thời gian làm thí điểm.

- Từ ngày 16-6-1994 đến ngày 30-6-1994 là thời gian chuẩn bị áp dụng rộng rãi.

- Từ ngày 1-7-1994 áp dụng trong cả nước.

Các quy định điều chỉnh tại Thông tư này thay thế cho các quy định tương ứng tại Quyết định số 238-TM/XNK ngày 24-3-1994 và Thông tư số 4-TM/XNK ngày 4-4-1994 của Bộ Thương mại.

Trong quá trình thực hiện Quyết định số 238-TM/XNK, Thông tư số 4-TM/XNK và văn bản này, yêu cầu Phòng Giấy phép và doanh nghiệp xuất nhập khẩu thường xuyên báo cáo diễn biến tình hình với Bộ Thương mại để Bộ có biện pháp điều chỉnh, xử lý thích hợp, kịp thời.

 

 

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE MINISTRY OF TRADE
-------
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom – Happiness
---------
No: 6-TM/XNK
Hanoi, May 16, 1994

 
CIRCULAR
AS ADDITIONAL GUIDANCE TO THE IMPLEMENTATION OF DECISION No. 78-TTg ON THE 28TH OF FEBRUARY, 1994 OF THE PRIME MINISTER
As follow-up to Circular No. 4-TM/XNK on the 4th of April, 1994 of the Ministry of Trade;
Pursuant to the opinion of the Prime Minister (in Document No. 2448-KTTH on the 6th of May, 1994);
After having reached agreement with the General Customs Office, with the State Bank, the Ministry of Trade;
Provides the following readjustments and explanations to some points mentioned in Decision No. 238-TM/XNK on 24th of March, 1994 and in Circular No. 4-TM/XNK on the 4th of April, 1994;
Part One
QUESTIONS PERTAINING TO DECISION NO. 238-TM/XNK
A. READJUSTMENT OF DOCUMENT:
I. COMMODITIES BANNED FROM EXPORT:
"Wicker as raw material" is added to "rattan as raw material" in Point I/5.
II. COMMODITIES BANNED FROM IMPORT:
Besides commodities mentioned in Decision No.238-TM/XNK, the following is added:
1. The importation of two-wheel motor vehicles with 175 cm3 cylinder capacity and more shall continue to apply according to Decision No.258-TTg on the 29th May, 1993 of the Prime Minister.
2. The Prime Minister has decided not to allow the importation of left-drive automobiles (Documents No.3648-KTTH on the 23rd of July, 1993, No.4915-KTTH on the 30th of September, 1993, and No.2415-KTTH on the 5th of May, 1994).
3. For different groups of used commodities pertaining to the readjustment under Document No.250-KTTH on the 19th of January 1994 of the Office of the Government, they must observe the regulations contained in the said document.
B. EXPLANATION OF DOCUMENT:
1. Point II/1 containing "explosive material":
Coalimex alone is allowed to import 4,200 tons. In this case, the Prime Minister has no need to issue document assigning the task to Coalimex. The document of the Ministry of Trade is sufficient. For other cases, there should be documents of the Prime Minister directly assigning the task to the business and according to it, the Ministry of Trade shall issue documents as guidance to the Permit Bureau. For these two cases, the Permit Bureau must rely on the documents of the Ministry of Trade to issue import licenses as prescribed in Regulation No.297-TMDL/XNK on the 9th of April, 1992.
2. Point II/6 mentions "cigarette": in case the importation by businesses has business license for duty-free shops, then, relying on the permit from the Ministry of Trade, the Permit Bureau shall issue import license as prescribed in Regulation No.297-TMDL/XNK on the 9th of April, 1992. In case of transit or temporary import for re-exportation, it should rely on the permit of the Prime Minister and the guidance to implementation issued by the Ministry of Trade.
3. Point II/7 mentions "used commodities": this should be understood as all sorts of consumer goods, not just the commodities put in brackets.
4. Point II/7 mentions "moving property" and Point II/8 mentions "vehicle and special purpose self-propelling means of narrow circulation scope": the Ministry of Trade and the General Customs Office shall have these two problems discusses with the concerned ministries as prescribed in Decision No. 238-TM/XNK on the 24th of March, 1994 and shall provide guidance later. Pending the guidance, the Permit Bureau shall not issue separate import license to any business unless there is a written permit from the Ministry of Trade.
5. Point II/7 mentions "used spare parts": it should be understood to include used components.
6. For those groups and commodities which were previously allowed for import according to the need of production and business but belong to the category of banned imports as from the 1st of April, 1994, they shall be resolved according to Note No. 241-TCHQ/GQ on the 28th of March, 1994 of the General Customs Office and the minutes of the meeting between the Ministry of Trade and the General Customs Office as guidance to the implementation of Decision No. 238-TM/XNK on the 24th of March, 1994 and Circular No. 4-TM/XNK on the 4th of April, 1994.
For the cases beyond the readjustment jurisdiction of Note No. 241-TCHQ/GQ on 28th of March, 1994, the Permit Bureau shall be allowed to issue a new permit or to extend the old permit but only if it is accepted in writing by the Ministry of Trade.
Part Two
QUESTIONS PERTAINING TO CIRCULAR NO. 4-TM/XNK
A. AMENDMENTS TO DOCUMENT:
I. OF LIST NO.3:
1. Of two-wheel motor cycles (whole piece and in detached parts):
1.1 New motor cycles, whole piece:
In implementation of the Government policy concerning the concentration of importation of whole-piece motor cycles, the Ministry of Trade prescribes as follows:
a) Each province, each city directly under the Central Government (hereafter called province), each ministry, each ministerial level agency, each other agency of the Government, each central office of mass organizations, engaged in import-export operations (hereafter called Ministry) shall by appointment of the Ministry of Trade have a business for importation of whole-piece new motor cycles.
For Ho Chi Minh City, Ha Noi, the Ministry of Communication and Transport, and the Ministry of Trade... (which are commercial centers, the specialized transport service and trading service), a number of other businesses are appointed to do the job.
With the above provision, the entire country will have in 1994 nearly 100 businesses allowed to import whole-piece motor cycles. The selection of the import business is based on the following conditions:
- Holder of commodity import-export license or specializing in dealing with automobiles and motor cycles.
- Having a higher export turnover in 1993 than those businesses having the same license or the same business lines of the Ministry and province (except export turnover of commodities under the unique control of the State).
- Having not violated State regulations and policies in the export import business in 1992 and 1993.
- Having sent its dossier to the Ministry of Trade according to the guidance in Item 2, Point I, Section B, Part One, of Circular No.4-TM/XNK.
b) The Ministry of Trade shall choose among the above businesses to appoint 14-15 businesses as hard core in each region and in the specialized services of the ministries.
The businesses designated as hard core must in addition meet the following conditions:
- They must have long years of import experience, stable source of supply and large quantities of imports.
- They must have in the years of 1992 and 1993 achieved by themselves all the import quota assigned by the Ministry of Trade (not through other businesses but delegated by other businesses out of their trust).
1.2. Parts in CKD form for the assembly of motor cycles:
a) So far the Ministry of Trade has received nearly 60 dossiers asking to import parts in CKD form for the assembly of motor cycles. These establishments can assemble a quantity of motor cycles 4 times as many as under the 1994 plan. The Ministry of Trade shall check the dossiers before assigning a reasonable quantity for import. In order not to waste the capacity of the assembly line, the Ministry of Trade requests other businesses (besides those having sent their dossiers) not to invest more on the assembly of motor cycles;
b) In the immediate future, the Ministry of Trade shall assign the quantity of parts for import to those businesses having met the conditions filed in dossiers as prescribed in Circular No.4-TM/XNK and having engaged in assembly before 1993. For those assembly establishments which had obtained Certificate from the General Department of Standard-Measure-Quality and which, though not engaged in assembly in 1993 but are ready to produce and have already gone through control, they shall also be considered for licences to import components of motor cycles.
Other assembly establishments having had their dossiers sent to the Ministry of Trade will be considered by the Ministry after a control on the spot is made according to the plan and mechanism of product management agreed between the Ministry of Heavy Industry, the Ministry of Science, Technology and Environment and the Ministry of Trade.
1.3. One month before the expiry of the import license, the businesses licensed to import must sent their report to the Ministry of Trade, based on the report and on the on-site control, the Ministry of Trade shall take appropriate measures for readjustment, including the switch of the whole or the unimplemented part of the license to another business.
2.1. Automobiles of less than 12 seats, whole piece (new series):
In the immediate future, the Ministry of Trade shall assign their import to nine businesses on this principle: the Ministry of Trade shall not assign the quantity in advance, when the business produces its L/C, the Ministry of Trade shall issue the import license according to the quantity listed in the L/C. In case of the importation of a great quantity (more than 50 cars per shipment), the business must ask for permission from the Ministry of Trade before the signing of contract and opening of L/C.
2.2. Auto parts in CKD form:
The importation is first assigned to businesses set up according to the Law on Foreign Investment in Vietnam.
3. The importation of whole piece automobiles and motor cycles in special cases outside the above regulations, shall be considered by the Ministry of Trade on a case-by-case basis.
II. RE-EXPORTATION OF IMPORTED COMMODITIES IN LIST NO.3 IS ALLOWED ONLY WHEN THERE IS PERMISSION FROM THE MINISTRY OF TRADE, IN LIST NO.4 WHEN THERE IS PERMISSION FROM THE SPECIALIZED MANAGEMENT OFFICE.
III. ON THE IMPORTATION OF COMMODITIES OUTSIDE THE 4 LISTS MENTIONED IN DECISION NO.238-TM/XNK AND CIRCULAR NO.4-TM/XNK.
1. Production means comprising machinery, equipment, transport means, spare parts, raw materials, fuel and materials.
1.1. The businesses are not allowed to import used commodities including spare parts, raw materials, fuel and materials.
1.2. If the businesses have their import and export licenses for commodities, machinery and transport means including used ones (except those subject to readjustment under Decision No. 238-TM/XNK) with the unit price of less than 10,000 USD, the Permit Bureau shall consider it and issue the import license.
1.3 If the businesses have their import and export licenses for commodities, machinery, transport means including used ones with the unit price exceeding 10,000 USD, the Permit Bureau shall issue the import license only after receiving a written permission from the Ministry of Trade.
For a number of commodities which are considered now as production means, now as consumption means (e.g. monosodium glutamate, shortening oil), they can be considered as production means only when the business sent a written guarantee to the Permit Bureau proving that the whole of these imported commodities is meant for production.
2. Commodities which are not production means: this concept is to be substituted to various other concepts, such as "consumer goods", "essential consumer goods", "household utensils".
2.1. When considering the issuance of consignment import-export permit, the Permit Bureau shall rely on the following documents of the businesses:
- The import-export business license for a given line.
- The import request with certification by the Bank of the foreign currency surplus at the time the import request is made.
In its request, the business must clearly specify: the name of the imported commodity, quantity, value, import market, mode of payment, payment currency, with certification by the Bank of the foreign currency surplus from the export income to pay for the lot of imported commodities described in the request. The Ministry of Trade shall consider these requests on a case-by-case basis especially if the business has surplus from other income sources. For the implementation of this regulation, all forms of payment according to foreign trade contracts should be implemented according to the regulations and guidance from the State Bank.
2.2. In case the permit has been got from the Ministry or the delivery announcement is received before the day the Permit Bureau receives this document, the business shall not have to ask for certification by the Bank of the foreign currency surplus from the export and shall be issued with the consignment import license on condition the goods must have reached the Vietnam border gate by the 30th of June, 1994 at the latest.
3. The importation of different kinds of foodstuff (like alcohol, beer and other beverages, fresh or processed vegetables), groceries (like garments and knitted articles, hats, shoes, sandals, chinaware, porcelain, glassware, cosmetics) must always get a written permit from the Ministry of Trade.
For the businesses which had imported according to Decision No.405-TM/XNK on the 13th of April, 1993, if the delivery announcement is available, they are entitled to an import license but the commodities should arrive not later than the 30th of June, 1994. This is the deadline according to Decision No. 405-TM/XNK.
B. EXPLANATION OF DOCUMENT:
I. FOR THOSE COMMODITIES WHICH IN THE PAST HAD BEEN IMPORTED AT THE REQUIREMENTS OF PRODUCTION AND BUSINESS BUT WHICH NOW BELONG TO LIST NO.3, LIST NO.4, THEY SHALL BE SETTLED AS FOLLOWS:
If the business has got the license for import and export of such commodities, has received the delivery announcement or the bill of lading, or had the L/C open before the day the Permit Bureau receives this document, it shall be issued a permit by the Permit Bureau for the importation of the remaining quantity, but the commodity must arrive at the Vietnam border gate by the 30th of June, 1994, at the latest.
II. ON ISSUANCE OF CONSIGNMENT PERMIT AND CUSTOMS PROCEDURES:
1. For import commodities: the Permit Bureau shall issue the consignment import permit to all import commodities.
2. For export commodities: the Ministry of Trade, in agreement with the General Customs Office, shall stop issuing consignment export permit as from the 1st of July, 1994.
- Except for the exportation of commodities pertaining to the Lists No 1,2,3,4.
- Except for special cases like bartered commodities, re-exported commodities, commodities temporarily imported for re-exportation, commodities temporarily exported for re-importation, transit commodities, commodities for exhibition and fair, processed commodities, commodities of businesses set up according to the Law on Foreign Investment in Vietnam.
From now to the end of June is the preparatory period (see Point 5 below), therefore the Permit Bureau shall continue issuing consignment export permits as usual.
3. When filling in the procedures at the Customs Office, the businesses should have their dossiers submitted comprising:
a) For those commodities in the categories not eligible for consignment permit from the Ministry of Trade: in the dossiers made according to the present regulations of the General Customs Office, apart from other documents, there needs only a permit issued by the Permit Bureau for import and export (permission from the Ministry of Trade is not necessary).
b) For those commodities in the categories not eligible for consignment permit from the Ministry of Trade: in the dossiers made according to the present regulations of the General Customs Office, there will be no permit issued by the Permit Bureau and in its place there will be the permit for import-export business (series of 7 figures) or another document from the Ministry of Trade allowing import-export business.
From the moment when this new system takes effect, when it comes to the Customs Office to fill in its procedures for the first time, the business must submit a certified copy of the import-export permit or a document from the Ministry of Trade allowing import-export business; there needs only to produce this permit in the subsequent times.
4. For those commodities in the categories not eligible for consignment permit from the Ministry of Trade (mentioned in Point 3b above): the business has to make an additional customs declaration. The Customs collects this additional declaration which shall be sent periodically once a week to the nearest Bureau of Export-Import Permits. In Hanoi, Haiphong, Da Nang, Nha Trang, Ho Chi Minh City and Can Tho specifically: the Bureau of Import-Export Permits shall directly travel to the Customs of the above-mentioned provinces and cities to collect these declarations once a week. The date of sending and delivery of declarations is to be fixed by the Customs and notified to the Bureau of Export-Import Permits so that it may collect them. The Permit Bureau should discuss and agree with the regional Customs Service on the working program.
5. Time for the abolition of consignment permits to some export commodities:
Before its application in the entire country, experimentation shall be made to draw experience. In the immediate future, the Ministry of Trade and the General Customs Office have agreed to choose the Hanoi Customs, the Haiphong Customs and the import-export businesses of the Ministry of Light Industry, the businesses managed by the Hanoi People's Committee and the Haiphong People's Committee, to carry out this experimentation.
The time for implementation is as follows:
- From April 21, 1994 (after the end of the training courses) to May 15, 1994 is the time to prepare for the experimentation.
- From May 16, 1994 to June 15, 1994 is the time for the experimentation itself.
- From June 16, 1994 to June 30, 1994 is the time to prepare for a wide application.
- From July 1st, 1994 onwards, application to the entire country.
- The provisions of amendments contained in this Circular replace the corresponding provisions in Decision No.238-TM/XNK of March 24, 1994 and Circular No.4-TM/XNK of April 4, 1994 of the Ministry of Trade.
In the process of implementation of Decision No.238-TM/XNK, Circular No.4-TM/XNK and this document, the Permit Bureau and the import-export businesses shall have to regularly report the situation to the Ministry of Trade so that it could take timely and appropriate measurers for readjustments.
 

 
FOR THE MINISTER OF TRADE
VICE MINISTER




Ta Ca

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.

Tải App LuatVietnam miễn phí trên Android tại đây trên IOS tại đây. Xem thêm

Văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!