Quyết định 269-TM/QLTT của Bộ Thương mại về việc ban hành bản Quy định về quản lý và sử dụng biển hiệu Quản lý thị trường, thẻ kiểm tra thị trường và vũ khí quân dụng trong lực lượng quản lý thị trường

Thuộc tính Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

QUYẾT ĐỊNH

CỦA BỘ THƯƠNG MẠI SỐ 269-TM/QLTT NGÀY 30-3-1995 VỀ VIỆC BAN HÀNH BẢN QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG BIỂN HIỆU QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG, THẺ KIỂM TRA THỊ TRƯỜNG VÀ VŨ KHÍ QUÂN DỤNG TRONG LỰC LƯỢNG

QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG.

BỘ TRƯỞNG BỘ THƯƠNG MẠI

Căn cứ Nghị định số 95-CP ngày 4-12-1993 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Thương mại;

Căn cứ Nghị định số 10-CP ngày 23-1-1995 của Chính phủ về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Quản lý thị trường;

Căn cứ Nghị định số 175-CP ngày 11-12-1964, số 94-HĐBT ngày 2-7-1984 của Chính phủ và các quy định hiện hành của Nhà nước về quản lý và sử dụng vũ khí, vật liệu nổ;

Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Quản lý thị trường,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1.- Nay ban hành kèm theo Quyết định này bản Quy định về quản lý và sử dụng biển hiệu Quản lý thị trường, thẻ kiểm tra thị trường và vũ khí quân dụng trong lực lượng kiểm tra, kiểm soát thị trường.
Điều 2.- Bản Quy định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Các quy định trước đây trái với Quy định này đều bãi bỏ.
Điều 3.- Chánh Văn phòng Bộ, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Tài chính kế toán, Giám đốc Sở Thương mại và Thủ trưởng cơ quan Quản lý thị trường các cấp chịu trách nhiệm tổ chức thi hành Quyết định này.

QUY ĐỊNH

VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG BIỂN HIỆU QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG, THẺ KIỂM TRA THỊ TRƯỜNG VÀ VŨ KHÍ QUÂN DỤNG TRONG LỰC LƯỢNG KIỂM TRA, KIỂM SOÁT THỊ TRƯỜNG.
(Ban hành kèm theo Quyết định số 269-TM/QLTT ngày 30-3-1995của Bộ Thương mại)

I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1.- Biển hiệu Quản lý thị trường, thẻ kiểm tra thị trường và vũ khí quân dụng trang bị cho lực lượng kiểm tra, kiểm soát thị trường chỉ được sử dụng trong khi thi hành công vụ.
Điều 2.- Công chức Quản lý thị trường khi được cấp biển hiệu Quản lý thị trường, thẻ kiểm tra thị trường và được giao trách nhiệm quản lý và sử dụng vũ khí quân dụng và các trang bị khác phải tuyệt đối tuân thủ pháp luật và các quy định của Nhà nước, của Bộ Thương mại.
Điều 3.- Nghiêm cấm việc sử dụng trái mục đích đã quy định (như cho mượn, dùng thẻ và vũ khí hăm doạ người khác, mua bán, đối chác, dùng vũ khí săn bắn, hoặc gây tiếng nổ thay pháo vui chơi trong dịp tết, lễ...).
Người vi phạm, tuỳ theo mức độ sai phạm mà xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; đồng thời phải bồi thường thiệt hại về vật chất của hanh động đã gây ra cho đương sự.
nhayMục I Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 269/TM-QLTT ngày 30/03/1995 được thay thế bởi Mục I Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 0808/2001/QĐ-BTM ngày 31/7/2001 theo quy định tại Điều 2.nhay
II. QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG BIỂN HIỆU QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG, THẺ KIỂM TRA THỊ TRƯỜNG.
Điều 4.- Công chức Quản lý thị trường đến cơ quan làm việc, đi công tác, hội họp hoặc thi hành nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường phải mặc trang phục và đeo biển hiệu Quản lý thị trường. Khi tiến hành kiểm tra hoạt động của đơn vị hoặc cá nhân kinh doanh thương mại và dịch vụ trên thị trường phải xuất trình thẻ kiểm tra cùng các giấy tờ cần thiết khác (lệnh kiểm tra...) với đơn vị và cá nhân bị kiểm tra.
Điều 5.- Biển hiệu Quản lý thị trường cấp cho tất cả công chức làm công tác Quản lý thị tường ở Trung ương và địa phương. Riêng thẻ kiểm tra thị trường chỉ cấp cho công chức được giao nhiệm vụ trực tiếp kiểm tra, kiểm soát thị trường nếu có đủ các điều kiện dưới đây:
1. Là cán bộ, nhân viên trong biên chế Nhà nước được xếp lương vào ngạch kiểm soát viên thị trường và đủ tiêu chuẩn quy định của Nhà nước;
Trừ những người bị đình chỉ công tác, đang trong thời gian thi hành kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
2. Được phân công làm nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường.
Điều 6.- Biển hiệu Quản lý thị trường, thẻ kiểm tra thị trường (theo mẫu đã ban hành kèm theo Nghị định số 10-CP ngày 23-1-1995 của Chính phủ) Bộ trưởng Bộ Thương mại uỷ quyền cho Cục trưởng Cục Quản lý thị trường phát hành thống nhất trong cả nước như sau:
1. Cục Quản lý thị trường căn cứ vào mẫu Chính phủ đã quy định để in và thay mặt Bộ xét duyệt, cấp phát cho công chức làm công tác Quản lý thị trường ở Trung ương và địa phương. Báo cáo kết quả cấp phát với lãnh đạo Bộ.
2. Thủ tục xin cấp biển hiệu và thẻ kiểm tra:
- Cá nhân làm bản tự khai sơ yếu lý lịch có dán ảnh (theo mẫu) và 4 ảnh mầu cỡ 4 x 6 gửi cho Chi cục.
- Chi cục Quản lý thị trường các tỉnh, thành phố tổng hợp thành danh sách trích ngang (theo mẫu). Chi cục quản lý sơ yếu lý lịch của công chức, còn danh sách trích ngang và 4 ảnh kèm công văn xin cấp thẻ kiểm tra thị trường và biển hiệu gửi về Cục Quản lý thị trường.
Trong vòng 30 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ, Cục Quản lý thị tường sẽ xem xét cấp thẻ kiểm tra và biển hiệu Quản lý thị trường theo danh sách công chức mà Chi cục Quản lý thị trường địa phương đã đề nghị.
Điều 7.- Khi làm thủ tục cấp biển hiệu và thẻ kiểm tra, các chữ ghi trên biển hiệu Quản lý thị trường phải bằng chữ in và các chữ ghi trên thẻ kiểm tra phải được đánh máy; không được viết tay, tẩy xoá hoặc sửa chữa.
Cục Quản lý thị trường phải mở sổ sách theo dõi việc cấp biển hiệu và thẻ kiểm tra; sổ này phải được quản lý và lưu giữ chặt chẽ.
Điều 8.- Chỉ những công chức đã được cấp thẻ kiểm tra mới được quyền kiểm tra việc chấp hành pháp luật về kinh doanh thương mại và dịch vụ trên thị trường và được xử lý các vi phạm theo thẩm quyền mà luật pháp đã quy định.
Trước khi cấp thẻ kiểm tra thị trường cho công chức ở đơn vị mình, Chi cục Quản lý thị trường phải phổ biến quán triệt quy chế quản lý và sử dụng thẻ kiểm tra đến từng người; phải thu hồi thẻ kiểm tra cũ trước khi cấp cái mới.
Thẻ kiểm tra quy định thời hạn sử dụng trong 2 năm, khi chuyển công tác khác, nghỉ hưu hoặc bị thi hành kỷ luật thì Cục phải thu hồi thẻ kiểm tra, báo cáo về Cục và lưu giữ, bảo quản chặt chẽ để xuất trình Chi cục kiểm tra.
Điều 9.- Thẻ kiểm tra và biển hiệu phải được giữ gìn cẩn thận. Trong quá trình sử dụng nếu bị rách nát được đổi thẻ hoặc biển hiệu mới nhưng phải thu hồi cái cũ. Trường hợp thẻ kiểm tra bị mất thì phải có đơn trình bày lý do mất và báo ngay với Thủ trưởng đơn vị và cơ quan Công an sở tại biết để tìm lại, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tránh bị lợi dụng. Sau một tháng nếu không tìm lại được thẻ kiểm tra bị mất, Chi cục Quản lý thị trường tỉnh, thành phố làm hồ sơ gửi về Cục xin xét cấp thẻ khác. Trường hợp biển hiệu bi mất thì Chi cục có công văn kèm đơn trình bày của công chức gửi về Cục Quản lý thị trường xin cấp biển hiệu mới.
nhayMục II Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 269/TM-QLTT ngày 30/03/1995 được thay thế bởi Mục II Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 0808/2001/QĐ-BTM ngày 31/7/2001 theo quy định tại Điều 2.nhay
III. QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VŨ KHÍ QUÂN DỤNG.
Điều 10.- Vũ khí quân dụng Nhà nước trang bị cho lực lượng kiểm tra, kiểm soát thị trường gồm súng AK, súng ngắn, roi điện, bình xịt, mặt nạ, máy bộ đàm nhằm mục đích để tự vệ trong khi thi hành công vụ.
Bộ giao cho Cục Quản lý thị trường thay mặt Bộ liên hệ với Bộ Quốc phòng để có kế hoạch trang bị các vũ khí quân dụng nói trên cho lực lượng kiểm tra, kiểm soát thị trường trong cả nước, liên hệ với Bộ Nội vụ để hướng dẫn việc cấp giấy phép sử dụng cho các vũ khí quân dụng đã được trang cấp.
Điều 11.- Sau khi tiếp nhận vũ khí quân dụng (bất kể từ nguồn nào) chậm nhất là 10 ngày, Chi cục Quản lý thị trường phải đến Công an tỉnh, thành phố làm thủ tục kê khai xin giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng đã được cấp.
Chi cục Quản lý thị trường phải mở sổ sách theo dõi từng loại và chỉ sau khi được cấp giấy phép sử dụng mới giao cho cá nhân sử dụng theo đúng các quy định tại Điều 12 của bản Quy định này.
Trường hợp vũ khí còn để trong kho thì phải phân công người có trách nhiệm bảo quản. Kho tàng để vũ khí quân dụng có đầy đủ các thiết bị bảo vệ an toàn.
Điều 12.- Việc quản lý và sử dụng vũ khí quân dụng phải tuân thủ các quy định hiện hành của Nhà nước, cụ thể là:
1. Sau khi tiếp nhận vũ khí quân dụng, đơn vị phải tổ chức học tập quán triệt các quy định của Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ về sử dụng, quản lý, bảo quản, vận chuyển vũ khí và sử dụng thành thạo vũ khí quân dụng đã được trang bị.
2. Vũ khí quân dụng phải để tập trung tại cơ quan. Khi đi công tác cần thiết phải mang theo vũ khí thì Thủ trưởng cơ quan phải cấp giấy chứng nhận và người được giao sử dụng vũ khí phải mang theo các giấy tờ cần thiết như công lệnh, giấy phép sử dụng vũ khí của Công an tỉnh, thành phố cấp, thẻ kiểm tra và các giấy tờ khác để xuất trình khi các lực lượng có thẩm quyền yêu kiểm tra việc sử dụng vũ khí.
3. Vũ khí phải luôn luôn giữ bên người, súng ngắn không được để trong cặp công tác, trong ba lô, túi xách hoặc buộc sau xe đạp, xe máy.
4. Không sử dụng vũ khí tuỳ tiện, trái quy định và mục đích trang bị.
5. Thường xuyên lau chùi sạch sẽ, kiểm tra an toàn, bảo quản cẩn thận; kiểm tra kỹ trước khi sử dụng.
Người được giao bảo quản và sử dụng vũ khí hoàn toàn chịu trách nhiệm cá nhân nếu để xảy ra mất mát, hư hỏng, cháy nổ, thất lạc. Trường hợp bị mất vũ khí, phải có đơn trình báo cho Thủ trưởng cơ quan của mình và cơ quan Công an (nơi cấp giấy phép sử dụng) về lý do mất vũ khí; nếu bị mất trên đường đi công tác thì phải báo cho Công an nơi gần nhất để có biện pháp truy tìm, thu hồi lại vũ khí đã bị mất.
6. Thủ trưởng đơn vị phải thường xuyên kiểm tra việc bảo quản, sử dụng và chấp hành quy chế sử dụng vũ khí quân dụng của đơn vị mình. Định kỳ (6 tháng và hết năm) báo cáo tình hình vũ khí quân dụng bằng văn bản với cơ quan Công an tỉnh, thành phố.
7. Khi chuyển công tác khác, nghỉ hưu, bị thi hành kỷ luật thì người được giao bảo quản và sử dụng vũ khí của đơn vị phải giao nộp lại vũ khí cùng giấy phép sử dụng vũ khí và các giấy tờ đã cấp cho cơ quan; việc giao nhận vũ khí phải chu đáo cẩn thận và làm thành biên bản giao nhận.
Điều 13.- Quy định về nổ súng khi cần thiết (trích phần II, Điều 1 Nghị định số 95-HĐBT ngày 2-7-1984 của Hội đồng Bộ trưởng - nay là Chính phủ):
"Trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, người được giao sử dụng vũ khí chỉ được nổ súng vào các đối tượng nói dưới đây khi đã có lệnh bắn cảnh cáo mà đối tượng không tuân lệnh, trừ trường hợp thật đặc biệt cấp bách không có biện pháp nào khác để ngăn chặn ngay đối tượng đang thực hiện hành vi gây hậu quả nghiêm trọng hoặc thực hiện quyền tự vệ chính đáng theo luật định:
1. Những kẻ đang dùng vũ lực gây bạo loạn, đang phá hoại hoặc đang hành hung cán bộ, chiến sĩ bảo vệ, đang tấn công đối tượng hoặc mục tiêu bảo vệ.
2. Những kẻ đang phá hoại trại giam, cướp phạm nhân; những kẻ đang nổi loạn, cướp vũ khí, phá hoại trại giam hoặc dùng vũ lực uy hiếp tính mạng cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ quản lý, canh gác, dẫn giải tội phạm; những kẻ phạm tội nguy hiểm đang bị giam giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang có lệnh bắt giữ mà chạy trốn.
3. Những kẻ không tuân lệnh của cán bộ, chiến sĩ đang thi hành nhiệm vụ tuần tra, canh gác, khám, lại dùng vũ lực chống lại, uy hiếp nghiêm trọng tính mạng cán bộ thừa hành nhiệm vụ hoặc tính mạng nhân dân.
4. Bọn lưu manh côn đồ đang giết người, hiếp dâm, gây rối trật tự nghiêm trọng, đang dùng vũ lực cướp phá tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc tài sản công dân.
5. Những người điều khiển phương tiện không tuân lệnh, cố tình chạy trốn khi người điều khiển giao thông vận tải ra lệnh và đã biết rõ phương tiện đó có vũ khí hoặc tài liệu phản động, có tài liệu bí mật quốc gia, có tài sản đặc biệt quý giá của Nhà nước; hoặc có bọn phạm tội, có bọn lưu manh côn đồ đang sử dụng phương tiện để chạy trốn thì được phép bắn hỏng phương tiện để bắt giữ đối tượng.
Phải xử lý hết sức thận trọng khi trên phương tiện hoặc xung quanh có nhân dân.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 14.- Chi cục Quản lý thị trường tỉnh, thành phố khi về Cục (hoặc đại diện của Cục tại thành phố Hồ Chí Minh) nhận biển hiệu Quản lý thị trường, thẻ kiểm tra thị trường phải nộp chi phí làm biển hiệu và thẻ kiểm tra cho Cục. Chi phí này lấy từ nguồn kinh phí tài chính cấp cho đơn vị hoạt động.
Điều 15.-  Kinh phí mua sắm vũ khí quân dụng cho lực lượng kiểm tra, kiểm soát thị trường do ngân sách Nhà nước đài thọ.
Mức trang bị vũ khí, giải quyết mua sắm áp dụng theo Thông tư liên Bộ Tài chính - Ban Chỉ đạo Quản lý thị trường Trung ương số 206- TT/LB ngày 23-6-1993.
Điều 16.- Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc thì phản ánh về Bộ để xem xét giải quyết.
Thuộc tính văn bản
Quyết định 269-TM/QLTT của Bộ Thương mại về việc ban hành bản Quy định về quản lý và sử dụng biển hiệu Quản lý thị trường, thẻ kiểm tra thị trường và vũ khí quân dụng trong lực lượng quản lý thị trường
Cơ quan ban hành: Bộ Thương mại Số công báo: Đang cập nhật
Số hiệu: 269-TM/QLTT Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Quyết định Người ký: Cao Sĩ Kiêm; Trương Đình Tuyển
Ngày ban hành: 30/03/1995 Ngày hết hiệu lực: Đang cập nhật
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực: Thương mại-Quảng cáo
Tóm tắt văn bản
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

QUYẾT ĐỊNH

CỦA BỘ THƯƠNG MẠI SỐ 269-TM/QLTT NGÀY 30-3-1995 VỀ VIỆC BAN HÀNH BẢN QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG BIỂN HIỆU QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG, THẺ KIỂM TRA THỊ TRƯỜNG VÀ VŨ KHÍ QUÂN DỤNG TRONG LỰC LƯỢNG
QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG.

 

BỘ TRƯỞNG BỘ THƯƠNG MẠI

 

Căn cứ Nghị định số 95-CP ngày 4-12-1993 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Thương mại;

Căn cứ Nghị định số 10-CP ngày 23-1-1995 của Chính phủ về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Quản lý thị trường;

Căn cứ Nghị định số 175-CP ngày 11-12-1964, số 94-HĐBT ngày 2-7-1984 của Chính phủ và các quy định hiện hành của Nhà nước về quản lý và sử dụng vũ khí, vật liệu nổ;

Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Quản lý thị trường,

QUYẾT ĐỊNH:

 

Điều 1.- Nay ban hành kèm theo Quyết định này bản Quy định về quản lý và sử dụng biển hiệu Quản lý thị trường, thẻ kiểm tra thị trường và vũ khí quân dụng trong lực lượng kiểm tra, kiểm soát thị trường.

 

Điều 2.- Bản Quy định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Các quy định trước đây trái với Quy định này đều bãi bỏ.

 

Điều 3.- Chánh Văn phòng Bộ, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Tài chính kế toán, Giám đốc Sở Thương mại và Thủ trưởng cơ quan Quản lý thị trường các cấp chịu trách nhiệm tổ chức thi hành Quyết định này.

 

QUY ĐỊNH

VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG BIỂN HIỆU QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG, THẺ KIỂM TRA THỊ TRƯỜNG VÀ VŨ KHÍ QUÂN DỤNG TRONG LỰC LƯỢNG KIỂM TRA,
KIỂM SOÁT THỊ TRƯỜNG.

(Ban hành kèm theo Quyết định số 269-TM/QLTT ngày 30-3-1995
của Bộ Thương mại)

 

I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

Điều 1.- Biển hiệu Quản lý thị trường, thẻ kiểm tra thị trường và vũ khí quân dụng trang bị cho lực lượng kiểm tra, kiểm soát thị trường chỉ được sử dụng trong khi thi hành công vụ.

 

Điều 2.- Công chức Quản lý thị trường khi được cấp biển hiệu Quản lý thị trường, thẻ kiểm tra thị trường và được giao trách nhiệm quản lý và sử dụng vũ khí quân dụng và các trang bị khác phải tuyệt đối tuân thủ pháp luật và các quy định của Nhà nước, của Bộ Thương mại.

 

Điều 3.- Nghiêm cấm việc sử dụng trái mục đích đã quy định (như cho mượn, dùng thẻ và vũ khí hăm doạ người khác, mua bán, đối chác, dùng vũ khí săn bắn, hoặc gây tiếng nổ thay pháo vui chơi trong dịp tết, lễ...).

Người vi phạm, tuỳ theo mức độ sai phạm mà xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; đồng thời phải bồi thường thiệt hại về vật chất của hanh động đã gây ra cho đương sự.

 

II. QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG BIỂN HIỆU QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG, THẺ KIỂM TRA THỊ TRƯỜNG.

 

Điều 4.- Công chức Quản lý thị trường đến cơ quan làm việc, đi công tác, hội họp hoặc thi hành nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường phải mặc trang phục và đeo biển hiệu Quản lý thị trường. Khi tiến hành kiểm tra hoạt động của đơn vị hoặc cá nhân kinh doanh thương mại và dịch vụ trên thị trường phải xuất trình thẻ kiểm tra cùng các giấy tờ cần thiết khác (lệnh kiểm tra...) với đơn vị và cá nhân bị kiểm tra.

 

Điều 5.- Biển hiệu Quản lý thị trường cấp cho tất cả công chức làm công tác Quản lý thị tường ở Trung ương và địa phương. Riêng thẻ kiểm tra thị trường chỉ cấp cho công chức được giao nhiệm vụ trực tiếp kiểm tra, kiểm soát thị trường nếu có đủ các điều kiện dưới đây:

1. Là cán bộ, nhân viên trong biên chế Nhà nước được xếp lương vào ngạch kiểm soát viên thị trường và đủ tiêu chuẩn quy định của Nhà nước;

Trừ những người bị đình chỉ công tác, đang trong thời gian thi hành kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Được phân công làm nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường.

 

Điều 6.- Biển hiệu Quản lý thị trường, thẻ kiểm tra thị trường (theo mẫu đã ban hành kèm theo Nghị định số 10-CP ngày 23-1-1995 của Chính phủ) Bộ trưởng Bộ Thương mại uỷ quyền cho Cục trưởng Cục Quản lý thị trường phát hành thống nhất trong cả nước như sau:

1. Cục Quản lý thị trường căn cứ vào mẫu Chính phủ đã quy định để in và thay mặt Bộ xét duyệt, cấp phát cho công chức làm công tác Quản lý thị trường ở Trung ương và địa phương. Báo cáo kết quả cấp phát với lãnh đạo Bộ.

2. Thủ tục xin cấp biển hiệu và thẻ kiểm tra:

- Cá nhân làm bản tự khai sơ yếu lý lịch có dán ảnh (theo mẫu) và 4 ảnh mầu cỡ 4 x 6 gửi cho Chi cục.

- Chi cục Quản lý thị trường các tỉnh, thành phố tổng hợp thành danh sách trích ngang (theo mẫu). Chi cục quản lý sơ yếu lý lịch của công chức, còn danh sách trích ngang và 4 ảnh kèm công văn xin cấp thẻ kiểm tra thị trường và biển hiệu gửi về Cục Quản lý thị trường.

Trong vòng 30 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ, Cục Quản lý thị tường sẽ xem xét cấp thẻ kiểm tra và biển hiệu Quản lý thị trường theo danh sách công chức mà Chi cục Quản lý thị trường địa phương đã đề nghị.

 

Điều 7.- Khi làm thủ tục cấp biển hiệu và thẻ kiểm tra, các chữ ghi trên biển hiệu Quản lý thị trường phải bằng chữ in và các chữ ghi trên thẻ kiểm tra phải được đánh máy; không được viết tay, tẩy xoá hoặc sửa chữa.

Cục Quản lý thị trường phải mở sổ sách theo dõi việc cấp biển hiệu và thẻ kiểm tra; sổ này phải được quản lý và lưu giữ chặt chẽ.

 

Điều 8.- Chỉ những công chức đã được cấp thẻ kiểm tra mới được quyền kiểm tra việc chấp hành pháp luật về kinh doanh thương mại và dịch vụ trên thị trường và được xử lý các vi phạm theo thẩm quyền mà luật pháp đã quy định.

Trước khi cấp thẻ kiểm tra thị trường cho công chức ở đơn vị mình, Chi cục Quản lý thị trường phải phổ biến quán triệt quy chế quản lý và sử dụng thẻ kiểm tra đến từng người; phải thu hồi thẻ kiểm tra cũ trước khi cấp cái mới.

Thẻ kiểm tra quy định thời hạn sử dụng trong 2 năm, khi chuyển công tác khác, nghỉ hưu hoặc bị thi hành kỷ luật thì Cục phải thu hồi thẻ kiểm tra, báo cáo về Cục và lưu giữ, bảo quản chặt chẽ để xuất trình Chi cục kiểm tra.

 

Điều 9.- Thẻ kiểm tra và biển hiệu phải được giữ gìn cẩn thận. Trong quá trình sử dụng nếu bị rách nát được đổi thẻ hoặc biển hiệu mới nhưng phải thu hồi cái cũ. Trường hợp thẻ kiểm tra bị mất thì phải có đơn trình bày lý do mất và báo ngay với Thủ trưởng đơn vị và cơ quan Công an sở tại biết để tìm lại, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tránh bị lợi dụng. Sau một tháng nếu không tìm lại được thẻ kiểm tra bị mất, Chi cục Quản lý thị trường tỉnh, thành phố làm hồ sơ gửi về Cục xin xét cấp thẻ khác. Trường hợp biển hiệu bi mất thì Chi cục có công văn kèm đơn trình bày của công chức gửi về Cục Quản lý thị trường xin cấp biển hiệu mới.

 

III. QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VŨ KHÍ QUÂN DỤNG.

Điều 10.- Vũ khí quân dụng Nhà nước trang bị cho lực lượng kiểm tra, kiểm soát thị trường gồm súng AK, súng ngắn, roi điện, bình xịt, mặt nạ, máy bộ đàm nhằm mục đích để tự vệ trong khi thi hành công vụ.

Bộ giao cho Cục Quản lý thị trường thay mặt Bộ liên hệ với Bộ Quốc phòng để có kế hoạch trang bị các vũ khí quân dụng nói trên cho lực lượng kiểm tra, kiểm soát thị trường trong cả nước, liên hệ với Bộ Nội vụ để hướng dẫn việc cấp giấy phép sử dụng cho các vũ khí quân dụng đã được trang cấp.

 

Điều 11.- Sau khi tiếp nhận vũ khí quân dụng (bất kể từ nguồn nào) chậm nhất là 10 ngày, Chi cục Quản lý thị trường phải đến Công an tỉnh, thành phố làm thủ tục kê khai xin giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng đã được cấp.

Chi cục Quản lý thị trường phải mở sổ sách theo dõi từng loại và chỉ sau khi được cấp giấy phép sử dụng mới giao cho cá nhân sử dụng theo đúng các quy định tại Điều 12 của bản Quy định này.

Trường hợp vũ khí còn để trong kho thì phải phân công người có trách nhiệm bảo quản. Kho tàng để vũ khí quân dụng có đầy đủ các thiết bị bảo vệ an toàn.

 

Điều 12.- Việc quản lý và sử dụng vũ khí quân dụng phải tuân thủ các quy định hiện hành của Nhà nước, cụ thể là:

1. Sau khi tiếp nhận vũ khí quân dụng, đơn vị phải tổ chức học tập quán triệt các quy định của Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ về sử dụng, quản lý, bảo quản, vận chuyển vũ khí và sử dụng thành thạo vũ khí quân dụng đã được trang bị.

2. Vũ khí quân dụng phải để tập trung tại cơ quan. Khi đi công tác cần thiết phải mang theo vũ khí thì Thủ trưởng cơ quan phải cấp giấy chứng nhận và người được giao sử dụng vũ khí phải mang theo các giấy tờ cần thiết như công lệnh, giấy phép sử dụng vũ khí của Công an tỉnh, thành phố cấp, thẻ kiểm tra và các giấy tờ khác để xuất trình khi các lực lượng có thẩm quyền yêu kiểm tra việc sử dụng vũ khí.

3. Vũ khí phải luôn luôn giữ bên người, súng ngắn không được để trong cặp công tác, trong ba lô, túi xách hoặc buộc sau xe đạp, xe máy.

4. Không sử dụng vũ khí tuỳ tiện, trái quy định và mục đích trang bị.

5. Thường xuyên lau chùi sạch sẽ, kiểm tra an toàn, bảo quản cẩn thận; kiểm tra kỹ trước khi sử dụng.

Người được giao bảo quản và sử dụng vũ khí hoàn toàn chịu trách nhiệm cá nhân nếu để xảy ra mất mát, hư hỏng, cháy nổ, thất lạc. Trường hợp bị mất vũ khí, phải có đơn trình báo cho Thủ trưởng cơ quan của mình và cơ quan Công an (nơi cấp giấy phép sử dụng) về lý do mất vũ khí; nếu bị mất trên đường đi công tác thì phải báo cho Công an nơi gần nhất để có biện pháp truy tìm, thu hồi lại vũ khí đã bị mất.

6. Thủ trưởng đơn vị phải thường xuyên kiểm tra việc bảo quản, sử dụng và chấp hành quy chế sử dụng vũ khí quân dụng của đơn vị mình. Định kỳ (6 tháng và hết năm) báo cáo tình hình vũ khí quân dụng bằng văn bản với cơ quan Công an tỉnh, thành phố.

7. Khi chuyển công tác khác, nghỉ hưu, bị thi hành kỷ luật thì người được giao bảo quản và sử dụng vũ khí của đơn vị phải giao nộp lại vũ khí cùng giấy phép sử dụng vũ khí và các giấy tờ đã cấp cho cơ quan; việc giao nhận vũ khí phải chu đáo cẩn thận và làm thành biên bản giao nhận.

 

Điều 13.- Quy định về nổ súng khi cần thiết (trích phần II, Điều 1 Nghị định số 95-HĐBT ngày 2-7-1984 của Hội đồng Bộ trưởng - nay là Chính phủ):

"Trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, người được giao sử dụng vũ khí chỉ được nổ súng vào các đối tượng nói dưới đây khi đã có lệnh bắn cảnh cáo mà đối tượng không tuân lệnh, trừ trường hợp thật đặc biệt cấp bách không có biện pháp nào khác để ngăn chặn ngay đối tượng đang thực hiện hành vi gây hậu quả nghiêm trọng hoặc thực hiện quyền tự vệ chính đáng theo luật định:

1. Những kẻ đang dùng vũ lực gây bạo loạn, đang phá hoại hoặc đang hành hung cán bộ, chiến sĩ bảo vệ, đang tấn công đối tượng hoặc mục tiêu bảo vệ.

2. Những kẻ đang phá hoại trại giam, cướp phạm nhân; những kẻ đang nổi loạn, cướp vũ khí, phá hoại trại giam hoặc dùng vũ lực uy hiếp tính mạng cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ quản lý, canh gác, dẫn giải tội phạm; những kẻ phạm tội nguy hiểm đang bị giam giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang có lệnh bắt giữ mà chạy trốn.

3. Những kẻ không tuân lệnh của cán bộ, chiến sĩ đang thi hành nhiệm vụ tuần tra, canh gác, khám, lại dùng vũ lực chống lại, uy hiếp nghiêm trọng tính mạng cán bộ thừa hành nhiệm vụ hoặc tính mạng nhân dân.

4. Bọn lưu manh côn đồ đang giết người, hiếp dâm, gây rối trật tự nghiêm trọng, đang dùng vũ lực cướp phá tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc tài sản công dân.

5. Những người điều khiển phương tiện không tuân lệnh, cố tình chạy trốn khi người điều khiển giao thông vận tải ra lệnh và đã biết rõ phương tiện đó có vũ khí hoặc tài liệu phản động, có tài liệu bí mật quốc gia, có tài sản đặc biệt quý giá của Nhà nước; hoặc có bọn phạm tội, có bọn lưu manh côn đồ đang sử dụng phương tiện để chạy trốn thì được phép bắn hỏng phương tiện để bắt giữ đối tượng.

Phải xử lý hết sức thận trọng khi trên phương tiện hoặc xung quanh có nhân dân.

 

II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

 

Điều 14.- Chi cục Quản lý thị trường tỉnh, thành phố khi về Cục (hoặc đại diện của Cục tại thành phố Hồ Chí Minh) nhận biển hiệu Quản lý thị trường, thẻ kiểm tra thị trường phải nộp chi phí làm biển hiệu và thẻ kiểm tra cho Cục. Chi phí này lấy từ nguồn kinh phí tài chính cấp cho đơn vị hoạt động.

 

Điều 15.- Kinh phí mua sắm vũ khí quân dụng cho lực lượng kiểm tra, kiểm soát thị trường do ngân sách Nhà nước đài thọ.

Mức trang bị vũ khí, giải quyết mua sắm áp dụng theo Thông tư liên Bộ Tài chính - Ban Chỉ đạo Quản lý thị trường Trung ương số 206- TT/LB ngày 23-6-1993.

 

Điều 16.- Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc thì phản ánh về Bộ để xem xét giải quyết.

 

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE MINISTRY OF TRADE
-------
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom – Happiness
--------
No: 269-TM/QLTT
Hanoi, March 30, 1995

 
DECISION
TO ISSUE THE REGULATIONS ON THE MANAGEMENT AND USE OF THE MARKET MANAGEMENT BADGES, MARKET CONTROL CARDS, AND MILITARY WEAPONS BY THE MARKET MANAGEMENT FORCE
THE MINISTER OF TRADE
Pursuant to Decree No.95-CP on the 4th of December 1993 of the Government on the function, tasks and powers of the Ministry of Trade;
Pursuant to Decree No.10-CP on the 23rd of January 1995 of the Government on the organization, tasks and powers of the Market Management Force;
Pursuant to Decree No.175-CP on the 11th of December 1964 and Decree No.94-HDBT on the 2nd of July 1984 of the Council of Ministers (now the Government) and other current State regulations on the management and use of weapons and explosives;
At the proposal of the Director of the Market Management Department,
DECIDES :
Article 1.- To issue, together with this Decision, the Regulations on the Management and Use of the Market Management Badges, Market Control Cards, and Military Weapons by Market Control and Supervision Force.
Article 2.- These Regulations take effect from the date of their signing. All stipulations made earlier which are contrary to these Regulations are now annulled.
Article 3.- The Head of the Ministerial Office, the Directors of the Statute Department and the Finance - Accounting Department, the Director of the Trade Service, and the Heads of the Market Management Offices at various levels shall have to organize the implementation of this Decision.
 

 
FOR THE MINISTER OF TRADE
VICE MINISTER




Truong Dinh Tuyen

 
REGULATIONS
ON THE MANAGEMENT AND USE OF THE MARKET MANAGEMENT BADGES, MARKET CONTROL CARDS AND MILITARY WEAPONS BY THE MARKET CONTROL AND SUPERVISION FORCE
(issued together with Decision No.269/TM-QLTT on the 30th of March 1995 of the Ministry of Trade)
I. GENERAL PROVISIONS :
Article 1.- The Market Management badges, market control cards and military weapons supplied to the market control and supervision force can be used only when it is on duty.
Article 2.- The public employees of the Market Management Force who are supplied with the Market Management badges and market control cards and assigned the task of managing and using military weapons and other equipment, must strictly observe law and other regulations of the State and of the Ministry of Trade.
Article 3.- The use of these equipments for purposes other than prescribed (such as lending them to others, using the card and weapon to intimidate others, buying, selling or exchanging them, using the weapons for hunting, or causing explosions as substitutes for firecrackers during festive occasions) is strictly prohibited.
The offender is liable to administrative fine or examined for penal liability, depending on the seriousness of the offence; at the same time, he/she must compensate for the material losses caused to the persons concerned.
II. REGULATIONS ON THE MANAGEMENT AND USE OF THE MARKET MANAGEMENT BADGES AND MARKET CONTROL CARDS.
Article 4.- The public employees of the Market Management Force, who go to work or on mission, attend a meeting, or perform the task of controlling and supervising the market, must wear the uniform and badge of the Market Management Force. When inspecting a unit or individual engaged in trade or service activities on the market, they must present the controller's card and other necessary papers (control order) to the unit or individual concerned.
Article 5.- The Market Management badge is issued to all public employees working in the Market Management Force at the central and local levels. The market control card is issued only to those public employees who are assigned the task of directly controlling and supervising the market with the following conditions :
1. They are officials and members of the staff employed by the State, are on the payroll of market controllers, and are fully qualified under State regulation.
Not entitled to the card are those who are suspended from their work, who are being disciplined, or who are being examined for penal liability.
2. They are assigned the task of controlling and supervising the market.
Article 6.- The Ministry of Trade empowers the Director of the Market Management Department to issue the Market Management badge and the market control card (according to the models issued together with Decree No.10-CP on the 23rd of January 1995 of the Government) on a national scale as follows :
1. The Market Management Department shall have the badges made and the cards printed according to the models defined by the Government, and on behalf of the Ministry, shall consider the applications and issue these badges and cards to those public employees working in the Market Management Force at the central and local levels, and report the results of the issue to the Ministry's leadership.
2. Procedure of applying for the badges and control cards :
- Interested applicants send in a C.V. with a portrait and four 4x6cm color photographs to the local Market Management Office.
- The Market Management Offices of the provinces and cities shall draw up the lists of the applicants, keep back the C.V. of the applicants, and send the lists with the 4 photographs of each applicant enclosed in an official dispatch proposing the issue of market control cards and badges to the Market Management Department.
With 30 days after receipt of the duly made dossiers, the Market Management Department shall consider whether or not to issue market control cards and Market Management badges to the public employees proposed by the local Market Management Office.
Article 7.- When issuing the Market Management badges and control cards, the Market Management Department must see to it that all the letters on the Market Management badge are printed and the letters on the market control cards are typed, and not written by hand, erased, or corrected.
The Market Management Department must keep a record on the issue of badges and control cards, and carefully manage and preserve it.
Article 8.- Only those public employees who have been issued control cards can inspect the observance of law on trade and service activities on the market and handle violations within their power as stipulated by law.
Before issuing market control cards to public employees in its unit, the local Market Management Office must make known to each of them the regulations on the management and use of control cards, and must retrieve the old cards before issuing new cards to them.
The control cards are valid for 2 years. When members of the Market Management Force are transferred to other work, retire, or are disciplined, the local Market Management Office must withdraw their cards, report it to the Department, carefully keep the cards, and produce them upon request by the Department.
Article 9.- The control cards and badges must be kept carefully. If the cards or badges are worn out by use, they can be replaced with new ones, but the old ones must be retrieved. In case a member of the Market Management Force loses his/her card, he/she must send an application explaining the reason of the loss, report it immediately to the Head of the unit and the local police station for help in its recovery, at the same time to announce over the mass media to prevent its misuse. If the lost card cannot be found within one month, then the Market Management Office of the province or city concerned must send a dossier to the Department requesting the issue of another card. In case a badge is lost, the local Market Management Office must send an official dispatch enclosed with an application of the public employee concerned to the Market Management Department explaining the circumstances of the loss and requesting the issue of another badge.
III. REGULATIONS ON THE MANAGEMENT AND USE OF MILITARY WEAPONS
Article 10.- The military weapons supplied by the State to the Market Management Force include AK rifles, pistols, electric rods, gas sprayers, masks and walkie-talkies for self-defence while on mission.
The Ministry empowers the Market Management Department to work with the Ministry of Defence to supply the above-mentioned military weapons to the market control and supervision force in the whole country, and to contact the Ministry of the Interior for guidance on the granting of licenses for the use of the military weapons supplied.
Article 11.- Within 10 days at the latest after receiving the military weapons (from whatever source), the local Market Management Office must apply to the provincial or municipal police station for the granting of licenses for the use of the military weapons supplied.
The local Market Management Office must keep a record of each kind of weapons supplied, and only after receiving a license for the use of a weapon can it hand the weapon over to a member of its force for use as stipulated at Article 12 of these Regulations.
In case the weapons are still kept in storage, the Office must assign persons to protect them, and furnish the storage with all the necessary safety equipment.
Article 12.- The management and use of military weapons must comply with the current regulations of the State, namely:
1. After receiving military weapons, the unit must organize a course to study the regulations of the Government, the Ministry of Defence and the Ministry of the Interior on the use, management, maintenance and transport of weapons, and the skilful use of military weapons equipped.
2. All military weapons must be kept at the office building. When it is necessary for market controllers to bring along weapons on a mission, the Head of the Office must issue a certificate, and the weapon user must bring along the necessary papers : mission certificate, the license issued by the provincial or municipal police for use of weapons, control card, and other papers to produce to the authorized persons upon request.
3. Users must always keep their weapons with them and not to leave pistols in their rucksack or handbag, or tie them to their bicycles or motorbikes.
4. Never use weapons carelessly, at variance with the stipulations, or the purpose defined.
5. Regularly clean the weapons, check their safety, keep them in good condition, and check them carefully before use.
Those who are given weapons for keeping and using must bear full responsibility for any loss, damage, or accidental explosion. In case he/she loses his/her weapon, he/she must send an application to the Head of his/her Office and the police station (which issued the license for use of weapon) explaining the reason of the loss; if he/she loses it on the way to carry out an assignment, he/she must report it to the nearest police station asking for help to recover it.
6. The Head of the Unit must regularly inspect the maintenance and use of military weapons and the observance of the regulations on the use of military weapons at his unit. At regular intervals (every 6 months and at year-ends), he must send a report in writing on the state of military weapons at his unit to the provincial or municipal police office.
7. When they are transferred to other work, retire or are disciplined, the members of the unit, who are given weapons for maintenance and use, must return the weapons, licenses and other related papers to their unit. The transfer of weapons must be made carefully and registered.
Article 13.- Regulations for firing a gun when necessary (excerpts from Part II, Article 1, of Decree No.94-HDBT on the 2nd of July 1984 of the Council of Ministers, now the Government) :
"While performing the task of defending political security and social order and safety, those persons equipped with weapons can open fire on the following persons only after they have already fired a warning shot and the persons concerned fail to obey, except in special urgent cases in which there is no other measure to immediately stop the person concerned from acts that are likely to cause serious consequences, or when the weapon user exercises their legitimate right to self-defence as stipulated by law:
1. Those who are resorting to violence to cause unrest, who carry out acts of sabotage, who manhandle officers or soldiers on guard, or who attack the persons or targets being defended.
2. Those who are undermining prisons to release prisoners; who are rioting, robbing weapons, destroying prisons, or using force to threaten the officers and soldiers who are performing the task of controlling, guarding or escorting prisoners; the dangerous criminals who are being detained, escorted or wanted for arrest, but who attempt to es e.
3. Those who disobey order from the officers and men who are patrolling or keeping guard by using force to resist them, seriously threatening the life of the officers on duty, or the life of other people.
4. The robbers and hooligans who are committing murder or rape, causing serious disorder, or who are using force to rob or destroy socialist property or the property of citizens.
5. Those vehicle and motorbike drivers who disobey and deliberately speed up after the traffic controllers have already ordered them to stop, knowing clearly that they are carrying weapons or reactionary documents, documents containing national secrets, or property of special value of the State; or that they are carrying criminals, robbers or hooligans on the way to es e. The traffic controllers can open fire to put the means of transport out of action in order to arrest the persons concerned.
The officers and men on duty must be cautions when there are other people in the means of transport or around".
IV. ORGANIZING IMPLEMENTATION OF THE REGULATIONS:
Article 14.- The Market Management Offices of the provinces and cities must pay for the cost of making the Market Management badges and control cards to the Market Management Department when they receive these badges and cards from the Department (or from the Department's representative in Ho Chi Minh City). This expenditure shall be deducted from the budget allocations supplied to the unit for its operation.
Article 15.- The expenditure for the purchase of military weapons for the market control and supervision force shall be funded by the State budget.
The equipment and purchase of weapons shall be made in accordance with Circular No.206-TT/LB on the 23rd of June 1993 of the Ministry of Finance and the Central Steering Committee for Market Management.
Article 16.- If any problem arises in the process of implementing these Regulations, the Market Management Department should report it to the Ministry for consideration and settlement.
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem Nội dung MIX.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Tải App LuatVietnam miễn phí trên Android tại đây trên IOS tại đây. Xem thêm

Văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!