Thông tư 50/2000/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng phí, lệ phí cảng vụ đường thuỷ nội địa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung MIX

    - Tổng hợp lại tất cả các quy định pháp luật còn hiệu lực áp dụng từ văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính…

    - Khách hàng chỉ cần xem Nội dung MIX, có thể nắm bắt toàn bộ quy định pháp luật hiện hành còn áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

  • Tải về
Mục lục
Tìm từ trong trang
Tải văn bản
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng Anh
Công báo Tiếng Anh
Lưu
Theo dõi hiệu lực VB

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký phần mềm.

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản LuatVietnam và đăng ký sử dụng Phần mềm tra cứu văn bản.

Báo lỗi
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

THÔNG TƯ

CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 50/2000/TT-BTC NGÀY 02 THÁNG 6 NĂM 2000 HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG PHÍ, LỆ PHÍ
CẢNG VỤ ĐƯỜNG THUỶ NỘI ĐỊA.

 

- Căn cứ Nghị định số 40/CP ngày 5/7/1996 của Chính phủ về đảm bảo trật tự, an toàn giao thông đường thuỷ nội địa và Nghị định số 77/1998/NĐ-CP ngày 26/9/1998 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 40/CP ngày 5/7/1996 của Chính phủ.

- Căn cứ Nghị định 87/CP ngày 19/12/1996 và Nghị định số 51/1998/NĐ-CP ngày 18/7/1998 của Chính phủ qui định chi tiết việc phân cấp quản lý, lập, chấp hành và quyết toán ngân sách Nhà nước.

- Căn cứ Nghị định số 04/1999/NĐ-CP ngày 30/1/1999 của Chính phủ về phí, lệ phí thuộc ngân sách Nhà nước.

- Căn cứ Quyết định số: 142/1999/QĐ/BTC ngày 19/11/1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành mức thu phí, lệ phí cảng vụ đường thuỷ nội địa.

Sau khi thống nhất với Bộ Giao thông Vận tải; Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý sử dụng phí, lệ phí cảng vụ đường thuỷ nội địa như sau:

1. Tiền thu phí, lệ phí cảng vụ đường thuỷ nội địa là nguồn thu của ngân sách nhà nước. Đối tượng, mức thu, tổ chức thu phí, lệ phí cảng vụ đường thuỷ nội địa thực hiện theo Quyết định số 142/1999/QĐ/BTC ngày 19/11/1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành mức thu phí, lệ phí cảng vụ đường thuỷ nội địa.

Đơn vị tổ chức thu phí, lệ phí cảng vụ đường thuỷ nội địa được sử dụng tối đa 80% số phí, lệ phí thu được để chi cho hoạt động cảng vụ theo dự toán được cơ quan có thẩm quyền duyệt theo chế độ chi tiêu tài chính hiện hành; Số thu còn lại (20%) phải nộp Ngân sách Nhà nước.

2. Nội dung chi phí, lệ phí:

Số thu phí, lệ phí của Cảng vụ đường thuỷ nội địa được sử dụng tại đơn vị theo dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt bao gồm các nội dung sau:

a. Chi thường xuyên bảo đảm hoạt động của bộ máy tổ chức Cảng vụ:

Chi cho hoạt động của bộ máy cảng vụ được xác định trên cơ sở định mức chi quản lý Nhà nước hiện hành theo biên chế được Bộ Giao thông Vận tải giao để chi: Lương và các khoản phụ cấp lương theo Nghị định số 25/CP ngày 23/5/1993 của Chính phủ "Qui định tạm thời chế độ tiền lương mới của công chức, viên chức hành chính sự nghiệp và lực lượng vũ trang", thông tin tuyên truyền, bảo hộ lao động, trang bị đồng phục, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, bồi dưỡng độc hại làm việc ngoài giờ.

b. Chi đặc thù, gồm :

- Chi mua nhiên liệu phục vụ trực tiếp cho hoạt động nghiệp vụ của cảng vụ.

- Chi mua sắm, sửa chữa lớn phương tiện, thiết bị chuyên dùng phục vụ việc thu phí, lệ phí.

- Chi cho công tác tìm kiếm cứu nạn tàu và người trong khu vực trách nhiệm.

- Chi thuê trụ sở (nếu có).

- Chi mua biên lai, ấn chỉ ...

c. Trích quĩ khen thưởng và quĩ phúc lợi cho công nhân viên chức thực hiện việc thu, nộp phí, cảng vụ đường thuỷ nội địa. Mức trích quĩ khen thưởng, quĩ phúc lợi tối đa không quá 3 tháng lương thực hiện.

3. Lập và chấp hành dự toán thu chi phí, lệ phí cảng vụ đường thuỷ nội địa.

Trên cơ sở thông báo số kiểm tra về dự toán thu chi ngân sách hàng năm của Bộ Giao thông Vận tải và định hướng phát triển của ngành; Cục Đường sông Việt nam thông báo số kiểm tra dự toán thu chi phí lệ phí cảng vụ cho các Cảng vụ đường thuỷ nội địa khu vực.

Trên cơ sở giao số kiểm tra về dự toán thu chi ngân sách, số lượng, trọng tải phương tiện ra vào cảng đường thuỷ nội địa; Căn cứ vào nội dung chi qui định tại mục 2 của Thông tư này và chế độ chi tiêu tài chính hiện hành, cơ quan thu phí cảng vụ đường thuỷ nội địa lập dự toán thu chi phí, lệ phí cảng vụ đường thuỷ nội địa chi tiết theo mục lục NSNN gửi Cục Đường sông Việt nam để tổng hợp báo cáo Bộ Giao thông Vận tải. Bộ Giao thông Vận tải tổng hợp dự toán thu chi phí, lệ phí cảng vụ đường thuỷ nội địa vào dự toán thu chi ngân sách của Bộ Giao thông Vận tải và gửi Bộ Tài chính để tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ giao dự toán thu chi phí, lệ phí cảng vụ đường thuỷ nội địa cùng với giao dự toán thu chi ngân sách hàng năm của Bộ Giao thông Vận tải.

Căn cứ vào số giao dự toán thu, chi phí cảng vụ đường thuỷ nội địa, Bộ Giao thông Vận tải (Cục Đường sông Việt nam) giao dự toán thu chi phí, lệ phí cảng vụ đường thuỷ nội địa cho các đơn vị trực thuộc đồng gửi Bộ Tài chính; Kho bạc Nhà nước và cơ quan thuế sở tại. Thông báo giao dự toán phải chi tiết theo mục thu, chi theo mục lục ngân sách nhà nước, phù hợp với tổng mức thu, chi của Nhà nước giao cho Bộ Giao thông Vận tải. Bộ Tài chính có trách nhiệm xem xét, nếu dự toán thu chi phí, lệ phí cảng vụ thông báo cho các đơn vị không phù hợp với dự toán thu, chi đã được giao thì Bộ Tài chính đề nghị điều chỉnh lại cho phù hợp.

Trên cơ sở dự toán thu chi cả năm được giao, các Cảng vụ đường thuỷ nội địa lập dự toán thu chi phí, lệ phí cảng vụ đường thuỷ nội địa theo quí, có chi tiết theo các mục thu, chi của mục lục ngân sách nhà nước gửi Cục Đường sông việt nam và Kho bạc Nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch. Cục Đường sông Việt nam tổng hợp dự toán thu chi ngân sách quí, gửi Bộ Giao thông Vận tải và Bộ Tài chính.

Kho bạc nhà nước căn cứ vào số thu về phí, lệ phí; dự toán chi được cấp có thẩm quyền phê duyệt, lệnh chuẩn chi của thủ trưởng đơn vị và các hồ sơ chứng từ hợp pháp, hợp lệ theo qui định hiện hành cấp tạm ứng hoặc thanh toán cho đơn vị theo qui định tại Thông tư số 40/1998/TT-BTC ngày 31/3/1998 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chế độ quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc nhà nước và các qui định tại Thông tư này. Các Cảng vụ đường thuỷ nội địa định kỳ phải nộp 20% số tiền thu phí, lệ phí cảng vụ đường thuỷ nội địa vào ngân sách nhà nước theo Chương 021A, Loại 09, Khoản 04, Mục 032, Tiểu mục 15 của Mục lục NSNN.

Đơn vị tổ chức thu phải mở tài khoản thu phí tại Kho bạc nơi giao dịch; Định kỳ từ 7 đến 10 ngày số phí, lệ phí thu được của hoạt động cảng vụ đường thuỷ nội địa phải nộp vào tài khoản thu tại Kho bạc Nhà nước.

4. Điều hoà phí, lệ phí cảng vụ đường thuỷ nội địa.

Trường hợp số thu phí, lệ phí cảng vụ đường thuỷ nội địa của đơn vị để lại chi theo tỷ lệ qui định thấp hơn số chi được cấp có thẩm quyền duyệt thì Cục Đường sông Việt nam được điều hoà từ đơn vị có số thu cao sang đơn vị có thu thấp trong phạm vi 80% số thu toàn bộ khối cảng vụ đường thuỷ nội địa để bảo đảm hoạt động, cụ thể như sau:

Căn cứ vào số thu phí, lệ phí cảng vụ đường thuỷ nội địa gửi tại Kho bạc nhà nước định kỳ cuối tháng, cuối quí. Sau khi trừ đi dự toán chi được cấp có thẩm quyền duyệt, số còn lại đơn vị nộp vào tài khoản của Cục Đường sông Việt nam để điều hoà cho các đơn vị trực thuộc có số thu thấp hơn số chi theo dự toán chi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Cục Đường sông Việt nam được mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước để thực hiện việc điều hoà này.

Các đơn vị cảng vụ chi theo dự toán được duyệt, nếu dự toán thu không đạt thì dự toán chi sẽ giảm tương ứng.

5. Quyết toán thu chi phí, lệ phí cảng vụ đường thuỷ nội địa.

Cuối quí, cuối năm đơn vị tổ chức thu phí, lệ phí cảng vụ đường thuỷ nội địa có trách nhiệm quyết toán toàn bộ số thu chi phí, lệ phí cảng vụ (bao gồm cả số phí, lệ phí được điều hoà) theo chế độ kế toán qui định đối với đơn vị hành chính sự nghiệp.

Trường hợp số phí, lệ phí cảng vụ đường thuỷ nội địa được để lại chi (bao gồm phí, lệ phí để lại đơn vị cảng vụ và tài khoản phí, lệ phí mở tại Cục Đường sông Việt nam), nếu cuối năm sử dụng không hết thì đơn vị phải nộp tiếp vào ngân sách nhà nước.

6. Bộ Giao thông Vận tải (Cục Đường sông Việt Nam) có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính tổ chức kiểm tra định kỳ (hoặc đột xuất) các đơn vị tổ chức thu để đảm bảo việc thu đúng chế độ, chi tiêu đúng mục đích, có hiệu quả và xử lý kịp thời các sai phạm (nếu có).

7. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2000; Các qui định khác về sử dụng phí cảng vụ đường thuỷ nội địa trái với thông tư này đều bãi bỏ.

Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị các cơ quan phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để nghiên cứu giải quyết.

thuộc tính Thông tư 50/2000/TT-BTC

Thông tư 50/2000/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng phí, lệ phí cảng vụ đường thuỷ nội địa
Cơ quan ban hành: Bộ Tài chínhSố công báo:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Số công báo. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Số hiệu:50/2000/TT-BTCNgày đăng công báo:Đang cập nhật
Loại văn bản:Thông tưNgười ký:Nguyễn Thị Kim Ngân
Ngày ban hành:02/06/2000Ngày hết hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Ngày hết hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Áp dụng:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản để xem Ngày áp dụng. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Tình trạng hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Lĩnh vực:Thuế-Phí-Lệ phí , Giao thông
TÓM TẮT VĂN BẢN

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

tải Thông tư 50/2000/TT-BTC

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
ban dich TTXVN

THE MINISTRY OF FINANCE
-------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom - Happiness
----------

No: 50/2000/TT-BTC

Hanoi, June 02, 2000

 

CIRCULAR

 

GUIDING THE REGIME OF MANAGEMENT AND USE OF PORT SERVICE CHARGES AND FEES ON INLAND WATERWAYS

Pursuant to the Government’s Decree No. 40/CP of July 5, 1996 on ensuring traffic order and security on inland waterways and Decree No. 77/1998/ND-CP of September 26,1998 amending and supplementing a number of articles of the Government’s Decree No. 40/CP of July 5, 1996;
Pursuant to the Government’s Decree 87/CP of December 19, 1996 and Decree No. 51/1998/ND-CP of July 18, 1998 detailing the assignment of responsibilities in managing, establishing, executing and settling the State budget;
Pursuant to the Government’s Decree No. 04/1999/ND-CP of January 30, 1999 on charges and fees remitted to the State Budget;
Pursuant to the Finance’s Minister Decision No. 142/1999/QD/BTC of November 19, 1999 promulgating inland waterway port service charge and fee levels;
After consulting the Ministry of Communications and Transport, the Ministry of Finance provides the following guidance on the management and use of port service charges and fees on inland waterways:

1. The port service charges and fees on inland waterways constitute a source of revenues of the State budget. The payers, levels and organization of the collection of port service charges and fees on inland waterways shall comply with the Finance’s Minister Decision No. 142/1999/QD/BTC of November 19, 1999 promulgating inland waterway port service charge and fee levels.

The unit that organizes the collection of port service charges and fees on inland waterways is allowed to use at most 80% of the collected charge and fee amount to spend on port operations according to the draft expenditures approved by the competent agency and in conformity with the current financial expenditures and revenues regime; the remainder (20%) must be remitted into the State budget.

2. Contents of spending charges and fees:

The charges and fees collected by the port service on inland waterways are allowed to be used at the unit according to the estimates approved by the competent authority. They comprise:

a/ Regular expenses to ensure the operation of the organizational apparatus of the port service:

The expenditures for the operation of the port apparatus shall be determined on the basis of the current State management expenditure according to the pay role assigned by the Ministry of Communications and Transport, including: wages and allowances based on wages under the Government’s Decree No.25/CP of May 23, 1993 on provisional stipulations on the new regime of wages of public servants and employees at administrative and non-business as well as armed forces; units expenses on information and propaganda, labor protection, uniform, professional and specialization fostering, and allowances for noxious and overtime work.

b/ Special expenditures include:

- Expenditures on purchase of fuel in direct service of professional activities of the port service.

- Expenditures on purchase and major repairs of specialized means and equipment in service of the collection of charges and fees.

- Expenditures on search and rescue operation for shipwrecks and victims thereof within the area of responsibility.

- Expenditures on hiring of office (if any);

- Expenditures on purchase of receipts, prints...

c/ Deductions from reward and welfare funds for public servants and employees in charge of the collection and remittance of port service charges on inland waterways. The maximum deduction level of the reward and welfare funds shall not exceed the actual three-month wages.

3. Elaborating and implementing annual budget revenue and expenditure estimates of port service on inland waterways.

On the basis of the notice on control figures for the annual draft budget revenues and expenditures of the Ministry of Communications and Transport and the orientation for development of the branch, the Vietnam Inland Waterway Bureau shall announce the control figures for the draft revenues and expenditures of port service charges and fees to the port services on inland waterways in different areas.

On the basis of the assignment of control figures for the draft budget revenues and expenditures, the quantity and loads of the means of transport entering and leaving the ports on inland waterways, as well as the content of expenditures prescribed at Clause 2 of this Circular and the current financial spending regime, the agency in charge of collection of port service charges on inland waterways shall draw up the estimates of collection of port service charges and fees on inland waterways according to the table of contents of the State Budget and send them to the Vietnam Inland Waterway Bureau for integration into a report to the Ministry of Communications and Transport. The Ministry of Communications and Transport shall integrate the draft revenues and expenditures of port service charges and fees on inland waterways into the draft budget revenues and expenditures of port service on inland waterways of the Ministry of Communications and Transport and send it to the Ministry of Finance for integration and submission to the Prime Minister, proposing the assignment of the draft revenues and expenditures of port service charges and fees on inland waterways together with the assignment of the annual draft budget revenues and expenditures of the Ministry of Communications and Transport.

Basing itself on the assignment of the draft revenues and expenditures of port service charges on inland waterways, the Ministry of Communications and Transport (Vietnam Inland Waterway Bureau) shall assign the draft revenues and expenditures of port service charges and fees on inland waterways to the attached units and, to the Ministry of Finance, the State Treasury and the local tax office. The notice on assignment of the draft must list in detail all the items of revenues and expenditures according to the table of contents of the State budget, in conformity with the total revenues and expenditures assigned by the State to the Ministry of Communications and Transport. The Ministry of Finance shall have to examine the draft. If the draft revenues and expenditures of port service charges and fees notified to the units do not correspond with the draft revenues and expenditures already assigned, the Ministry of Finance shall propose that they be readjusted accordingly.

On the basis of the assigned draft revenues and expenditures for the whole year, the port services on inland waterways shall draw up the draft revenues and expenditures of the port services on inland waterways every quarter and detail them according to the items of revenues and expenditures of the State budget table of contents sent to the Vietnam Inland Waterway Bureau and the State Treasury where the unit opens its transaction account. The Vietnam Inland Waterway Bureau shall integrate the draft budget revenues and expenditures in each quarter and send it to the Ministry of Communications and Transport and the Ministry of Finance.

Basing itself on the revenues of charges and fees and on the draft expenditures approved by the competent level, the spending approval order of the head of the unit and the other lawful and valid dossiers and papers the State Treasury shall make advance allocation or payment to the unit according to Circular No.40/1998/TT-BTC of March 31, 1998 of the Ministry of Finance guiding the regime of management, allocation and payment of the State budget expenditures through the State Treasury and the stipulations in this Circular. The port services on inland waterways must periodically remit 20% of the revenues on charges and fees of the port services of inland waterways into the State budget according to Chapter 021A, Serie 09, Clause 04, Item 032, Sub item 15 of the State Budget Table of Contents.

The unit organizing the collection must open a charges collection account at the Treasury where the transaction is conducted; Periodically from 7 to 10 days the charges and fees collected from the port service on inland waterways must be remitted to the revenue account at the State Treasury.

4. Regulating charges and fees of port service on inland waterways.

In case the revenues of charges and fees of port service on inland waterways of the unit left over for expenditures at the prescribed rate is lower than the rate ratified by the competent level, the Inland Waterway Bureau Department is allowed to regulate the revenue from the unit having a higher revenue to a unit with a lower revenue within 80% of the total revenues of the port services in the inland waterways group in order to ensure the operation. More concretely:

The regulation shall be based on the revenues from port service charges and fees on inland waterways periodically deposited at the State Treasury at the end of each month and each quarter. After deduction of the draft expenditures ratified by the competent level, the remainder shall be remitted by the unit to the account of the Vietnam Inland Waterway Bureau in order to regulate for the attached units with revenue lower than expenditures according to the draft expenditures already approved by the competent level.

The Vietnam Inland Waterway Bureau is allowed to open its account at the State Treasury to carry out this regulation.

The port service units shall make expenditure according to the approved; if the revenue falls short of the draft, the draft expenditures shall be reduced correspondingly.

5. Final account settlement on revenues and expenditures of port service charges and fees on inland waterways.

At the end of each quarter and each year, the unit organizing the collection of charges and fees of the port service on inland waterways shall have to make the final account settlement of all the revenues and expenditures of port service charges and fees (including the regulated charges and fees) according to the regime of accountancy prescribed for the administrative and non-business units.

In case the port service charges and fees on inland waterways left over for expenditures (including charges and fees left at the port service unit and the charge and fee account opened at the Vietnam Inland Waterway Bureau) are not used up at the year end, the unit must continue to remit them to the State budget.

6. The Ministry of Communications and Transport (Vietnam Inland Waterway Bureau) shall have to coordinate with the Ministry of Finance in organizing regular (or unnotified) inspection of the units organizing the collection in order to ensure that the collection complies with the regime, the expenditures are made for the right purpose and effectively and all violations (if any) are handled in time.

7. This Circular takes effect on of January 1st, 2000. Other stipulations on the use of inland waterways port service charges, which are contrary to this Circular, are now annulled.

In the process of implementation, if any difficulty arises, the agencies should report it in time to the Ministry of Finance for study and settlement.

 

 

 

 

FOR THE MINISTER OF FINANCE
VICE MINISTER




Nguyen Thi Kim Ngan

 

 
 

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem bản dịch TTXVN.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.
văn bản TIẾNG ANH
Công báo tiếng Anh
download Circular 50/2000/TT-BTC PDF
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao để tải file.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi

19006192

Theo dõi LuatVietnam trên YouTube

TẠI ĐÂY

văn bản cùng lĩnh vực

Vui lòng đợi