Nghị định 65-CP của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý các hoạt động trong lĩnh vực đá quý

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung MIX

    - Tổng hợp lại tất cả các quy định pháp luật còn hiệu lực áp dụng từ văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính…

    - Khách hàng chỉ cần xem Nội dung MIX, có thể nắm bắt toàn bộ quy định pháp luật hiện hành còn áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

  • Tải về
Mục lục
Mục lục
Tìm từ trong trang
So sánh văn bản cũ/mới

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký phần mềm.

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản LuatVietnam và đăng ký sử dụng Phần mềm tra cứu văn bản.

Tải văn bản
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
Lưu
Theo dõi hiệu lực VB

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký phần mềm.

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản LuatVietnam và đăng ký sử dụng Phần mềm tra cứu văn bản.

Báo lỗi
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 65-CP NGÀY 13-10-1995 BAN HÀNH QUY CHẾ QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC ĐÁ QUÝ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngàgy 30 tháng 9 năm 1992;

Căn cứ Luật Doanh nghiệp Nhà nước ngày 20 tháng 4 năm 1995;

Căn cứ Pháp lệnh về Tài nguyên khoáng sản ngày 28 tháng 7 năm 1989;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và ý kiến của lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương có liên quan,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1
Ban hành kèm theo Nghị định này Quy chế Quản lý các hoạt động trong lĩnh vực đá quý.
Điều 2
1- Nghị định này thay thế Nghị định số 67-CP ngày 7-10-1993 của Chính phủ ban hành Quy chế Quản lý các hoạt động điều tra địa chất, khai thác mỏ, chế tác và buôn bán đá quý.
2- Khoản b Điều 3 của Điều lệ Quản lý ngoại hối ban hành kèm theo Nghị định số 161-HĐBT ngày 18-10-1988 của Hội đồng bộ trưởng (nay là chính phủ) được sửa lại: "Các kim loại quý (vàng, bạc và kim loai thuộc nhóm bạch kim) khi chuyển ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài chuyển vào Việt Nam". Quy định đá quý (kim cương, nhóm ruby và saphia) là ngoại hối bị bãi bỏ.
Điều 3
Bộ trưởng các Bộ Công nghiệp nặng, Tài chính, Nội vụ, Thương mại, Tổng cục trưởng Tổng cục hải quan ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Quy chế ban hành kèm theo Nghị định này.
Điều 4
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày ban hành. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
QUY CHẾ 
QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC ĐÁ QUÝ
(Ban hành kèm theo Nghị định số 65-CP ngày 13-10-1995)
CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1
Đá quý nói trong Quy chế này là các loại khoáng chất tự nhiên có phẩm chất ngọc. Theo giá trị thương mại, đá quý được chia làm 2 nhóm:
- Nhóm 1: Gồm kim cương, ruby, saphia và êmơrốt
- Nhóm 2: Gồm các loại đá quý khác.
Điều 2
Mọi hoạt động khảo sát, thăm dò, khai thác, gia công chế tác đá quý; làm hàng trang sức, mỹ nghệ bằng đá quý; buôn bán và xuất khẩu, nhập khẩu đá quý (sau đây gọi là các hoạt động trong lĩnh vực đá quý) trên lãnh thổ Việt Nam đều phải tuân theo các quy định của Quy chế này và các quy định khác có liên quan của pháp luật.
Điều 3
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với các hoạt động trong lĩnh vực đá quý theo nhiệm vụ và quyền hạn của mình.
Điều 4
Uỷ ban Nhân dân các cấp thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với tài nguyên đá quý và các hoạt động trong lĩnh vực đá quý theo quy chế này và các quy định khác có liên quan của pháp luật; có trách nhiệm bảo vệ các khu vực có đá quý chưa giao cho các đơn vị quản lý; phối hợp với các đơn vị được giao mỏ bảo vệ các vùmg mỏ đang thăm dò, khai thác; ngăn chặn hoạt động khai thác và mua bán đá quý trái phép ở địa phương.
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi có tài nguyên đá quý được lập quỹ hỗ trợ bảo vệ tài nguyên đá quý. Các đơn vị khai thác đá quý trích nộp 1% (một phần trăm) doanh thu từ đá quý khai thác được cho Uỷ ban nhân dân tỉnh để lập quỹ đó.
Ngoài cân đối chung ngân sách hàng năm được duyệt, Nhà nước để lại cho ngân sách tỉnh 50% (năm mươi phần trăm) số thu từ khoản thuế đánh vào giá trị sản phẩm đá quý khai thác được của các đơn vị khai thác và 50% (năm mươi phần trăm) số thu của tổng công ty theo quy định tại Điều 16 của quy chế này để tỉnh đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở, xây dựng các công trình y tế, giáo dục và văn hoá ở các địa phương có mỏ.
Điều 5
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức kinh tế, cá nhân Việt Nam đầu tư vào lĩnh vực đá quý theo quy chế này và các quy định khác có liên quan của pháp luật.
Các tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài được phép đầu tư vào lĩnh vực đá quý theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các quy định khác có liên quan của pháp luật.
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các Viện nghiên cứu, Trường đại học, đơn vị kinh tế và cá nhân trong nước đầu tư nghiên cứu, sản xuất thiết bị khai thác, chế tác đá quý; xây dựng cơ sở nghiên cứu về đá quý; đào tạo cán bộ ngọc học và công nhân kỹ thuật gia công chế tác; ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật nhằm nâng cao giá trị đá quý của Việt Nam, theo nội dung Nghị định số 35-HĐBT ngày 28-1-1992 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) về công tác quản lý khoa học và công nghệ.
Điều 6
Nhà nước thừa nhận quyền sở hữu hợp pháp của các tổ chức, cá nhân có đá quý dưới dạng nguyên liệu thô, sản phẩm đã gia công chế tác.
Nhà nước bảo hộ quyền lợi hợp pháp của mọi tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực đá quý theo quy định của Quy chế này và các quy định khác có liên quan của pháp luật.
Điều 7
Tổng công ty đá quý và vàng Việt Nam (sau đây gọi là Tổng công ty) là doanh nghiệp Nhà nước, được thành lập để làm nòng cốt trong việc xây dựng và phát triển ngành công nghiệp đá quý và sản xuất hàng trang sức ở Việt Nam.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức, hoạt động của Tổng công ty được quy định tại Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Tổng công ty do Chính phủ phê chuẩn.
CHƯƠNG II
ĐIỀU TRA ĐỊA CHẤT, KHẢO SÁT, THĂM DÒ MỎ ĐÁ QUÝ
Điều 8
Bộ Công nghiệp nặng tổ chức thực hiện nghiên cứu, điều tra địa chất đá quý, đánh giá tiềm năng đá quý trong quá trình nghiên cứu điều tra cơ bản về địa chất và khoáng sản, bằng kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp.
Trên cơ sở kết quả điều tra cơ bản về tài nguyên đá quý do Bộ Công nghiệp nặng thực hiện, Thủ tướng Chính phủ xét giao cho Tổng công ty những vùng có triển vọng đá quý thuộc nhóm 1 để Tổng công ty tổ chức khảo sát, thăm dò và khai thác.
Tổng công ty tổ chức khảo sát, tìm kiếm đá quý trong các vùng mỏ được giao, theo các quy định của pháp luật, bằng kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp. Công tác thăm dò mỏ do Tổng công ty thực hiện bằng vốn đầu tư của Tổng công ty.
Việc điều tra, khảo sát, thăm dò và khai thác đá quý thuộc nhóm 2 được thực hiện theo các quy định hiện hành đối với khoáng sản rắn.
Điều 9
Tài liệu địa chất, mẫu vật đá quý thu thập trong quá trình điều tra nghiên cứu, khảo sát, thăm dò địa chất phải được bảo quản đúng theo quy định của pháp luật.
CHƯƠNG III
KHAI THÁC ĐÁ QUÝ
Điều 10
Tổng công ty được giao nhiệm vụ tổ chức khai thác các mỏ đá quý thuộc nhóm 1 và tận thu các khoáng sản khác đi kèm; bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, môi sinh trong quá trình khai thác.
Các tích tụ đá quý quy mô nhỏ, phân tán, không tập trung thành mỏ, tổ chức khai thác quy mô công nghiệp hoặc bán thầu không có hiệu quả, được khoanh định ranh giới và giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh sở tại quản lý, tổ chức cho nhân dân địa phương khai thác. Việc khai thác phải bảo đảm an toàn, trật tự, an ninh xã hội và bảo vệ môi trường, môi sinh.
Điều 11
Các tổ chức kinh tế, cá nhân Việt Nam (sau đây gọi là đơn vị), muốn khai thác đá quý thuộc nhóm 1 trong các vùng mỏ đã giao cho Tổng công ty, phải thông qua đấu thầu và ký hợp đồng khai thác phân chia sản phẩm với Tổng công ty; chịu sự kiểm tra, giám sát của Tổng công ty trong quá trình khai thác.
Các tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài muốn khai thác đá quý thuộc nhóm 1 phải liên doanh với Tổng công ty theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và phải được phép của Thủ tướng Chính phủ.
Điều 12
Hợp đồng khai thác phân chia sản phẩn được thoả thuận và ký kết giữa Tổng công ty và đơn vị trúng thầu, phải tuân theo các quy định của pháp luật về hoạt động khoáng sản, gồm những nội dung chính sau đây:
1- Năng lực pháp lý của tổ chức, cá nhân tham gia ký hợp đồng;
2- Đối tượng của hợp đồng;
3- Thời hạn hợp đồng;
4- Điều kiện chấm dứt hợp đồng trước thời hạn hoặc kéo dài thời hạn của hợp đồng;
5- Quyền nghĩa vụ của các bên ký kết hợp đồng;
6- Điều kiện chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ của các bên ký kết hợp đồng;
7- Trách nhiệm bảo vệ môi trường và trật tự, an toàn xã hội trong khi tiến hành khai thác;
8- Thể thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng.
Ngoài ra, các bên ký kết được thoả thuận các điều kiện khác trong hợp đồng, nhưng không trái với Quy chế này và pháp luật hiện hành.
Điều 13
Đối tượng đấu thầu là lô đất chứa đá quý nằm trong diện tích đã có đề án khai thác do Tổng công ty lập và được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền duyệt, cấp đất khai thác theo quy định của Luật đất đai. Diện tích các lô đất đấu thầu do Hội đồng đấu thầu xác định. Nghiêm cấm việc lợi dụng đấu thầu chỉ để buôn bán thầu nhằm thu lợi từ chênh lệch giá.
Điều 14
Giá đặt thầu là mức giá tối thiểu được chào giá cho mỗi lô đất chứa đá quý, xác định theo một đơn giá thống nhất cho tất cả các lô trong mỗi khu mỏ và được công bố công khai.
Đơn giá đặt thầu được cấu thành bởi các yếu tố: Chi phí điều tra địa chất, khảo sát, thăm dò mỏ; chi phí sử dụng kết cấu hạ tầng phục vụ cho công việc khai thác trong vùng mỏ; tiền thuê đất, thuế tài nguyên khoáng sản tối thiểu và tiền phục hồi môi trường, tiền đền bù hoa màu và các khoản đền bù khác do đơn vị khai thác trả.
Điều 15

Hội đồng Đấu thầu do Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty ký quyết định thành lập riêng cho từng vùng mỏ đá quý, có thành phần gồm: Đại diện Tổng công ty làm Chủ tịch Hội đồng, đại diện Uỷ ban nhân dân tỉnh có mỏ, đại diện Bộ Công nghiệp nặng và đại diện Bộ Tài chính.
Hội đồng đấu thầu có nhiệm vụ xét duyệt giá đặt thầu do Tổng công ty đề xuất, tiếp nhận hồ sơ dự thầu, mở thầu, công bố kết quả đấu thầu và đơn vị trúng thầu.
Quy chế đấu thầu mỏ đá quý do Tổng công ty lập, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng phê duyệt.
Điều 16
Đơn vị trúng đấu thầu chịu mọi chi phí khai thác, bảo vệ nội bộ khu vực khai thác của mình. Giá trị sản phẩm thu được trong quá trình khai thác, sau khi nộp các khoản thuế (trừ thuế tài nguyên đã nộp trước trong giá mua thầu) và các khoản phí khác, được phân chia theo tỷ lệ: Đơn vị khai thác: 85% (tám mươi lăm phần trăm ), tổng công ty: 15% ( mười lăm phần trăm).
Nhưng viên đá quý có giá bán đạt từ 1 tỷ đồng 1 viên trở lên, thì tỷ lệ phân chia là: Đơn vị khai thác 75% (bẩy mươi lăm phần trăm), Tổng công ty: 25% (hai mươi lăm phần trăm).
Điều 17

Tiền thu từ đấu thầu và thu theo hợp đồng khai thác phân chia sản phẩm được ghi thành khoản thu riêng trong các khoản thu của Tổng công ty.
Bộ Tài chính ban hành chế độ thu, nộp ngân sách Nhà nước các nguồn thu của Tổng công ty sau khi có ý kiến Thủ tướng Chính phủ.
Điều 18
Sản phẩm đá quý do các đơn vị trúng thầu khai thác phải được nghiệm thu, phân loại, định giá. Loại giá trị từ 100 (một trăm) triệu đồng một viên trở lên, sau khi đánh giá được niêm phong, bảo quản ở tổng công ty để bán đấu giá. Loại giá trị dưới 100 (một trăm) triệu đồng một viên giao cho đơn vị khai thác hoặc Tổng công ty quản lý, tiêu thụ.
Điều 19
Tổng công ty có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật khai thác nhằm tận thu tối đa khoáng sản, bảo vệ môi trường, an toàn lao động; kiểm tra, giám sát quá trình hoạt động khai thác của các đơn vị khai thác.
Việc nghiệm thu, phân loại, định giá sản phẩm trong quá trình khai thác do Ban nghiệm thu thực hiện. Ban Nghiệm thu do Tổng công ty thành lập, có thành phần gồm đại diện cho Tổng công ty và đại diện cho đơn vị khai thác, với số người tham gia của các bên ngang nhau, mỗi bên không ít hơn 2 người.
Điều 20
Đơn vị khai thác có quyền chuyển quyền khai thác cho tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ của đơn vị đã ký kết với Tổng công ty. Trường hợp Nhà nước thu hồi hoặc trưng dụng mỏ vì lý do an ninh, quốc phòng, đơn vị khai thác được đền bù theo pháp luật hiện hành.
CHƯƠNG IV
GIA CÔNG CHẾ TÁC VÀ MUA BÁN ĐÁ QUÍ
Điều 21
Mọi tổ chức kinh tế, cá nhân Việt Nam muốn gia công chế tác, buôn bán đá quý và làm hàng trang sức, mỹ nghệ bằng đá quý phải thành lập cơ sở sản xuất - kinh doanh, đăng ký hoạt động theo pháp luật.
Điều 22
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho mọi tổ chức, cá nhân thực hiện việc mua, bán đá quý (nguyên liệu thô và đã gia công chế tác) tại các trung tâm đá quý và hàng trang sức của Tổng công ty. Ngoài ra, đá quý chỉ được mua, bán tại trụ sở doanh nghiệp và cửa hàng có giấy phép kinh doanh đá quý, chợ đá quý ở các vùng mỏ do chính quyền địa phương quản lý có sự tham gia của Tổng công ty.
Tổng công ty tổ chức định kỳ các phiên bán đấu giá đá quý trong nước và quốc tế theo quy định của pháp luật.
Nhà nước khuyến khích xuất khẩu đá quý đã gia công chế tác, hàng trang sức gắn đá quý và nhập khẩu các loại nguyên liệu đá quý để gia công chế tác nhằm mục đích tái xuất khẩu.
Điều 23

Việc xuất khẩu đá quý có giá trị từ 100 (một trăm) triệu đồng trở lên phải có hợp đồng mua bán và hoá đơn bán hàng lập theo mẫu của Bộ Thương mại và Bộ Tài chính, dưới 100 (một trăm) triệu đồng chỉ cần xuất trình hoá đơn bán hàng với Hải quan cửa khẩu. Thuế xuất khẩu do các đơn vi bán hàng nộp theo hợp đồng và hoá đơn bán hàng. Việc nhập khẩu nguyên liệu đá quý để gia công chế tác và tái xuất khẩu không giới hạn về số lượng, phải chấp hành theo quy dịnh của pháp luật về nhập khẩu hàng hoá.
Bộ Thương mại phối hợp với Tổng cục Hải quan và các cơ quan Nhà nước có liên quan khác ban hành quy định việc quản lý thị trường và xuất khẩu, nhập khẩu đá quý sau khi có ý kiến của Thủ tướng Chính phủ.
Bộ Tài chính ban hành mẫu biểu hợp đồng và hoá đơn mua bán trong kinh doanh đá quý theo thẩm quyền của mình.
CHƯƠNG V
XỬ LÝ VI PHẠM VÀ KHEN THƯỞNG
Điều 24
Mọi hoạt động khảo sát, thăm dò đá quý không tuân theo quy định của Quy chế này và những quy dịnh khác có liên quan của pháp luật; việc vi phạm các quy định hiện hành của pháp luật về bảo mật tài liệu địa chất đá quý phải bị xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật.
Điều 25
Việc khai thác, gia công chế tác, mua bán và xuất khẩu, nhập khẩu đá quý không tuân theo các quy định của Quy chế này và những quy định khác có liên quan của pháp luật, thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Trong mọi trường hợp, số đá quý buôn lậu, đào đãi trái phép đều bị tịch thu và nộp vào Kho bạc Nhà nước.
Cá nhân, tổ chức có công phát hiện, tố giác và ngăn chặn kịp thời các hoạt động khai thác trái phép và buôn lậu đá quý được khen thưởng theo quy định chung.
Điều 26
Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định của Quy định của Quy chế này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
CHƯƠNG VI
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 27
Quy chế này có hiệu lực từ ngày ban hành. Mọi quy định trước đây trái với Quy chế này đều bãi bỏ.
Điều 28
Chậm nhất sau 60 ngày, kể từ khi ban hành, các Bộ, ngành có liên quan có trách nhiệm ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Quy chế này.

thuộc tính Nghị định 65-CP

Nghị định 65-CP của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý các hoạt động trong lĩnh vực đá quý
Cơ quan ban hành: Chính phủSố công báo:Đang cập nhật
Số hiệu:65-CPNgày đăng công báo:Đang cập nhật
Loại văn bản:Nghị địnhNgười ký:Võ Văn Kiệt
Ngày ban hành:13/10/1995Ngày hết hiệu lực:Đang cập nhật
Áp dụng:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản để xem Ngày áp dụng. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Tình trạng hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Lĩnh vực:Tài nguyên-Môi trường
TÓM TẮT VĂN BẢN

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

tải Nghị định 65-CP

Tình trạng hiệu lực: Đã biết

CHÍNH PHỦ
_________

Số: 65-CP

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_________

Hà Nội, ngày 13 tháng 10 năm 1995

 

NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 65-CP NGÀY 13-10-1995 BAN HÀNH QUY CHẾ QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC ĐÁ QUÝ

__________

CHÍNH PHỦ

 

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngàgy 30 tháng 9 năm 1992;

Căn cứ Luật Doanh nghiệp Nhà nước ngày 20 tháng 4 năm 1995;

Căn cứ Pháp lệnh về Tài nguyên khoáng sản ngày 28 tháng 7 năm 1989;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và ý kiến của lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương có liên quan,

NGHỊ ĐỊNH:

 

Điều 1. Ban hành kèm theo Nghị định này Quy chế Quản lý các hoạt động trong lĩnh vực đá quý.

Điều 2.

1- Nghị định này thay thế Nghị định số 67-CP ngày 7-10-1993 của Chính phủ ban hành Quy chế Quản lý các hoạt động điều tra địa chất, khai thác mỏ, chế tác và buôn bán đá quý.

2- Khoản b Điều 3 của Điều lệ Quản lý ngoại hối ban hành kèm theo Nghị định số 161-HĐBT ngày 18-10-1988 của Hội đồng bộ trưởng (nay là chính phủ) được sửa lại: "Các kim loại quý (vàng, bạc và kim loai thuộc nhóm bạch kim) khi chuyển ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài chuyển vào Việt Nam". Quy định đá quý (kim cương, nhóm ruby và saphia) là ngoại hối bị bãi bỏ.

Điều 3. Bộ trưởng các Bộ Công nghiệp nặng, Tài chính, Nội vụ, Thương mại, Tổng cục trưởng Tổng cục hải quan ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Quy chế ban hành kèm theo Nghị định này.

Điều 4.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày ban hành. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

 

 

Võ Văn Kiệt

(Đã ký)

 

QUY CHẾ
QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC ĐÁ QUÝ
(Ban hành kèm theo Nghị định số 65-CP ngày 13-10-1995)

 

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1.

Đá quý nói trong Quy chế này là các loại khoáng chất tự nhiên có phẩm chất ngọc. Theo giá trị thương mại, đá quý được chia làm 2 nhóm:

- Nhóm 1: Gồm kim cương, ruby, saphia và êmơrốt

- Nhóm 2: Gồm các loại đá quý khác.

Điều 2. Mọi hoạt động khảo sát, thăm dò, khai thác, gia công chế tác đá quý; làm hàng trang sức, mỹ nghệ bằng đá quý; buôn bán và xuất khẩu, nhập khẩu đá quý (sau đây gọi là các hoạt động trong lĩnh vực đá quý) trên lãnh thổ Việt Nam đều phải tuân theo các quy định của Quy chế này và các quy định khác có liên quan của pháp luật.

Điều 3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với các hoạt động trong lĩnh vực đá quý theo nhiệm vụ và quyền hạn của mình.

Điều 4.

Uỷ ban Nhân dân các cấp thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với tài nguyên đá quý và các hoạt động trong lĩnh vực đá quý theo quy chế này và các quy định khác có liên quan của pháp luật; có trách nhiệm bảo vệ các khu vực có đá quý chưa giao cho các đơn vị quản lý; phối hợp với các đơn vị được giao mỏ bảo vệ các vùmg mỏ đang thăm dò, khai thác; ngăn chặn hoạt động khai thác và mua bán đá quý trái phép ở địa phương.

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi có tài nguyên đá quý được lập quỹ hỗ trợ bảo vệ tài nguyên đá quý. Các đơn vị khai thác đá quý trích nộp 1% (một phần trăm) doanh thu từ đá quý khai thác được cho Uỷ ban nhân dân tỉnh để lập quỹ đó.

Ngoài cân đối chung ngân sách hàng năm được duyệt, Nhà nước để lại cho ngân sách tỉnh 50% (năm mươi phần trăm) số thu từ khoản thuế đánh vào giá trị sản phẩm đá quý khai thác được của các đơn vị khai thác và 50% (năm mươi phần trăm) số thu của tổng công ty theo quy định tại Điều 16 của quy chế này để tỉnh đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở, xây dựng các công trình y tế, giáo dục và văn hoá ở các địa phương có mỏ.

Điều 5.

Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức kinh tế, cá nhân Việt Nam đầu tư vào lĩnh vực đá quý theo quy chế này và các quy định khác có liên quan của pháp luật.

Các tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài được phép đầu tư vào lĩnh vực đá quý theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các quy định khác có liên quan của pháp luật.

Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các Viện nghiên cứu, Trường đại học, đơn vị kinh tế và cá nhân trong nước đầu tư nghiên cứu, sản xuất thiết bị khai thác, chế tác đá quý; xây dựng cơ sở nghiên cứu về đá quý; đào tạo cán bộ ngọc học và công nhân kỹ thuật gia công chế tác; ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật nhằm nâng cao giá trị đá quý của Việt Nam, theo nội dung Nghị định số 35-HĐBT ngày 28-1-1992 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) về công tác quản lý khoa học và công nghệ.

Điều 6.

Nhà nước thừa nhận quyền sở hữu hợp pháp của các tổ chức, cá nhân có đá quý dưới dạng nguyên liệu thô, sản phẩm đã gia công chế tác.

Nhà nước bảo hộ quyền lợi hợp pháp của mọi tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực đá quý theo quy định của Quy chế này và các quy định khác có liên quan của pháp luật.

Điều 7.

Tổng công ty đá quý và vàng Việt Nam (sau đây gọi là Tổng công ty) là doanh nghiệp Nhà nước, được thành lập để làm nòng cốt trong việc xây dựng và phát triển ngành công nghiệp đá quý và sản xuất hàng trang sức ở Việt Nam.

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức, hoạt động của Tổng công ty được quy định tại Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Tổng công ty do Chính phủ phê chuẩn.

Chương 2:

ĐIỀU TRA ĐỊA CHẤT, KHẢO SÁT, THĂM DÒ MỎ ĐÁ QUÝ

 

Điều 8.

Bộ Công nghiệp nặng tổ chức thực hiện nghiên cứu, điều tra địa chất đá quý, đánh giá tiềm năng đá quý trong quá trình nghiên cứu điều tra cơ bản về địa chất và khoáng sản, bằng kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp.

Trên cơ sở kết quả điều tra cơ bản về tài nguyên đá quý do Bộ Công nghiệp nặng thực hiện, Thủ tướng Chính phủ xét giao cho Tổng công ty những vùng có triển vọng đá quý thuộc nhóm 1 để Tổng công ty tổ chức khảo sát, thăm dò và khai thác.

Tổng công ty tổ chức khảo sát, tìm kiếm đá quý trong các vùng mỏ được giao, theo các quy định của pháp luật, bằng kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp. Công tác thăm dò mỏ do Tổng công ty thực hiện bằng vốn đầu tư của Tổng công ty.

Việc điều tra, khảo sát, thăm dò và khai thác đá quý thuộc nhóm 2 được thực hiện theo các quy định hiện hành đối với khoáng sản rắn.

Điều 9.

Tài liệu địa chất, mẫu vật đá quý thu thập trong quá trình điều tra nghiên cứu, khảo sát, thăm dò địa chất phải được bảo quản đúng theo quy định của pháp luật.

Chương 3:

KHAI THÁC ĐÁ QUÝ

 

Điều 10.

Tổng công ty được giao nhiệm vụ tổ chức khai thác các mỏ đá quý thuộc nhóm 1 và tận thu các khoáng sản khác đi kèm; bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, môi sinh trong quá trình khai thác.

Các tích tụ đá quý quy mô nhỏ, phân tán, không tập trung thành mỏ, tổ chức khai thác quy mô công nghiệp hoặc bán thầu không có hiệu quả, được khoanh định ranh giới và giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh sở tại quản lý, tổ chức cho nhân dân địa phương khai thác. Việc khai thác phải bảo đảm an toàn, trật tự, an ninh xã hội và bảo vệ môi trường, môi sinh.

Điều 11.

Các tổ chức kinh tế, cá nhân Việt Nam (sau đây gọi là đơn vị), muốn khai thác đá quý thuộc nhóm 1 trong các vùng mỏ đã giao cho Tổng công ty, phải thông qua đấu thầu và ký hợp đồng khai thác phân chia sản phẩm với Tổng công ty; chịu sự kiểm tra, giám sát của Tổng công ty trong quá trình khai thác.

Các tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài muốn khai thác đá quý thuộc nhóm 1 phải liên doanh với Tổng công ty theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và phải được phép của Thủ tướng Chính phủ.

Điều 12

Hợp đồng khai thác phân chia sản phẩn được thoả thuận và ký kết giữa Tổng công ty và đơn vị trúng thầu, phải tuân theo các quy định của pháp luật về hoạt động khoáng sản, gồm những nội dung chính sau đây:

1- Năng lực pháp lý của tổ chức, cá nhân tham gia ký hợp đồng;

2- Đối tượng của hợp đồng;

3- Thời hạn hợp đồng;

4- Điều kiện chấm dứt hợp đồng trước thời hạn hoặc kéo dài thời hạn của hợp đồng;

5- Quyền nghĩa vụ của các bên ký kết hợp đồng;

6- Điều kiện chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ của các bên ký kết hợp đồng;

7- Trách nhiệm bảo vệ môi trường và trật tự, an toàn xã hội trong khi tiến hành khai thác;

8- Thể thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng.

Ngoài ra, các bên ký kết được thoả thuận các điều kiện khác trong hợp đồng, nhưng không trái với Quy chế này và pháp luật hiện hành.

Điều 13. Đối tượng đấu thầu là lô đất chứa đá quý nằm trong diện tích đã có đề án khai thác do Tổng công ty lập và được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền duyệt, cấp đất khai thác theo quy định của Luật đất đai. Diện tích các lô đất đấu thầu do Hội đồng đấu thầu xác định. Nghiêm cấm việc lợi dụng đấu thầu chỉ để buôn bán thầu nhằm thu lợi từ chênh lệch giá.

Điều 14.

Giá đặt thầu là mức giá tối thiểu được chào giá cho mỗi lô đất chứa đá quý, xác định theo một đơn giá thống nhất cho tất cả các lô trong mỗi khu mỏ và được công bố công khai.

Đơn giá đặt thầu được cấu thành bởi các yếu tố: Chi phí điều tra địa chất, khảo sát, thăm dò mỏ; chi phí sử dụng kết cấu hạ tầng phục vụ cho công việc khai thác trong vùng mỏ; tiền thuê đất, thuế tài nguyên khoáng sản tối thiểu và tiền phục hồi môi trường, tiền đền bù hoa màu và các khoản đền bù khác do đơn vị khai thác trả.

Điều 15.

Hội đồng Đấu thầu do Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty ký quyết định thành lập riêng cho từng vùng mỏ đá quý, có thành phần gồm: Đại diện Tổng công ty làm Chủ tịch Hội đồng, đại diện Uỷ ban nhân dân tỉnh có mỏ, đại diện Bộ Công nghiệp nặng và đại diện Bộ Tài chính.

Hội đồng đấu thầu có nhiệm vụ xét duyệt giá đặt thầu do Tổng công ty đề xuất, tiếp nhận hồ sơ dự thầu, mở thầu, công bố kết quả đấu thầu và đơn vị trúng thầu.

Quy chế đấu thầu mỏ đá quý do Tổng công ty lập, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng phê duyệt.

Điều 16.

Đơn vị trúng đấu thầu chịu mọi chi phí khai thác, bảo vệ nội bộ khu vực khai thác của mình. Giá trị sản phẩm thu được trong quá trình khai thác, sau khi nộp các khoản thuế (trừ thuế tài nguyên đã nộp trước trong giá mua thầu) và các khoản phí khác, được phân chia theo tỷ lệ: Đơn vị khai thác: 85% (tám mươi lăm phần trăm ), tổng công ty: 15% ( mười lăm phần trăm).

Nhưng viên đá quý có giá bán đạt từ 1 tỷ đồng 1 viên trở lên, thì tỷ lệ phân chia là: Đơn vị khai thác 75% (bẩy mươi lăm phần trăm), Tổng công ty: 25% (hai mươi lăm phần trăm).

Điều 17.

Tiền thu từ đấu thầu và thu theo hợp đồng khai thác phân chia sản phẩm được ghi thành khoản thu riêng trong các khoản thu của Tổng công ty.

Bộ Tài chính ban hành chế độ thu, nộp ngân sách Nhà nước các nguồn thu của Tổng công ty sau khi có ý kiến Thủ tướng Chính phủ.

Điều 18. Sản phẩm đá quý do các đơn vị trúng thầu khai thác phải được nghiệm thu, phân loại, định giá. Loại giá trị từ 100 (một trăm) triệu đồng một viên trở lên, sau khi đánh giá được niêm phong, bảo quản ở tổng công ty để bán đấu giá. Loại giá trị dưới 100 (một trăm) triệu đồng một viên giao cho đơn vị khai thác hoặc Tổng công ty quản lý, tiêu thụ.

Điều 19.

Tổng công ty có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật khai thác nhằm tận thu tối đa khoáng sản, bảo vệ môi trường, an toàn lao động; kiểm tra, giám sát quá trình hoạt động khai thác của các đơn vị khai thác.

Việc nghiệm thu, phân loại, định giá sản phẩm trong quá trình khai thác do Ban nghiệm thu thực hiện. Ban Nghiệm thu do Tổng công ty thành lập, có thành phần gồm đại diện cho Tổng công ty và đại diện cho đơn vị khai thác, với số người tham gia của các bên ngang nhau, mỗi bên không ít hơn 2 người.

Điều 20. Đơn vị khai thác có quyền chuyển quyền khai thác cho tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ của đơn vị đã ký kết với Tổng công ty. Trường hợp Nhà nước thu hồi hoặc trưng dụng mỏ vì lý do an ninh, quốc phòng, đơn vị khai thác được đền bù theo pháp luật hiện hành.

Chương 4:

GIA CÔNG CHẾ TÁC VÀ MUA BÁN ĐÁ QUÍ

 

Điều 21. Mọi tổ chức kinh tế, cá nhân Việt Nam muốn gia công chế tác, buôn bán đá quý và làm hàng trang sức, mỹ nghệ bằng đá quý phải thành lập cơ sở sản xuất - kinh doanh, đăng ký hoạt động theo pháp luật.

Điều 22.

Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho mọi tổ chức, cá nhân thực hiện việc mua, bán đá quý (nguyên liệu thô và đã gia công chế tác) tại các trung tâm đá quý và hàng trang sức của Tổng công ty. Ngoài ra, đá quý chỉ được mua, bán tại trụ sở doanh nghiệp và cửa hàng có giấy phép kinh doanh đá quý, chợ đá quý ở các vùng mỏ do chính quyền địa phương quản lý có sự tham gia của Tổng công ty.

Tổng công ty tổ chức định kỳ các phiên bán đấu giá đá quý trong nước và quốc tế theo quy định của pháp luật.

Nhà nước khuyến khích xuất khẩu đá quý đã gia công chế tác, hàng trang sức gắn đá quý và nhập khẩu các loại nguyên liệu đá quý để gia công chế tác nhằm mục đích tái xuất khẩu.

Điều 23.

Việc xuất khẩu đá quý có giá trị từ 100 (một trăm) triệu đồng trở lên phải có hợp đồng mua bán và hoá đơn bán hàng lập theo mẫu của Bộ Thương mại và Bộ Tài chính, dưới 100 (một trăm) triệu đồng chỉ cần xuất trình hoá đơn bán hàng với Hải quan cửa khẩu. Thuế xuất khẩu do các đơn vi bán hàng nộp theo hợp đồng và hoá đơn bán hàng. Việc nhập khẩu nguyên liệu đá quý để gia công chế tác và tái xuất khẩu không giới hạn về số lượng, phải chấp hành theo quy dịnh của pháp luật về nhập khẩu hàng hoá.

Bộ Thương mại phối hợp với Tổng cục Hải quan và các cơ quan Nhà nước có liên quan khác ban hành quy định việc quản lý thị trường và xuất khẩu, nhập khẩu đá quý sau khi có ý kiến của Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Tài chính ban hành mẫu biểu hợp đồng và hoá đơn mua bán trong kinh doanh đá quý theo thẩm quyền của mình.

Chương 5:

XỬ LÝ VI PHẠM VÀ KHEN THƯỞNG

 

Điều 24. Mọi hoạt động khảo sát, thăm dò đá quý không tuân theo quy định của Quy chế này và những quy dịnh khác có liên quan của pháp luật; việc vi phạm các quy định hiện hành của pháp luật về bảo mật tài liệu địa chất đá quý phải bị xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật.

Điều 25.

Việc khai thác, gia công chế tác, mua bán và xuất khẩu, nhập khẩu đá quý không tuân theo các quy định của Quy chế này và những quy định khác có liên quan của pháp luật, thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Trong mọi trường hợp, số đá quý buôn lậu, đào đãi trái phép đều bị tịch thu và nộp vào Kho bạc Nhà nước.

Cá nhân, tổ chức có công phát hiện, tố giác và ngăn chặn kịp thời các hoạt động khai thác trái phép và buôn lậu đá quý được khen thưởng theo quy định chung.

Điều 26. Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định của Quy định của Quy chế này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Chương 6:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

 

Điều 27. Quy chế này có hiệu lực từ ngày ban hành. Mọi quy định trước đây trái với Quy chế này đều bãi bỏ.

Điều 28. Chậm nhất sau 60 ngày, kể từ khi ban hành, các Bộ, ngành có liên quan có trách nhiệm ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Quy chế này.

 

 

 

Tình trạng hiệu lực: Đã biết

THE GOVERNMENT
-------
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom - Happiness
---------
No: 65-CP
Hanoi, October 13, 1995
 
DECREE
PROMULGATING THE REGULATION ON THE MANAGEMENT OF ACTIVITIES IN GEM BUSINESS
THE GOVERNMENT
Pursuant to the Law on Organization of the Government of September 30, 1992;
Pursuant to the Law on State Enterprises of April 20, 1995;
Pursuant to the Ordinance on Mineral Resources of July 28, 1989;
At the proposals of the Minister of Heavy Industry, the Minister of Finance, the Minister of the Interior, the Governor of the State Bank, and on the suggestion of the leadership of the concerned ministries, branches and localities,
DECREES:
Article 1.- To issue together with this Decree the "Regulation on the Management of Activities in Gem Business".
Article 2.-
1. This Decree replaces Decree No.67-CP of October 7, 1993 of the Government promulgating the "Regulation on the Management of Activities in Geological Survey, Mining, Fashioning and Trading in Gems".
2. Item b, Article 3 of the Regulation on the Management of Foreign Exchange issued together with Decree No.161-HDBT of October 18, 1988 by the Council of Ministers (now the Government) is changed into the following: "Precious metals (gold, silver and metals belonging to the platinum group) when transferred from Vietnam abroad or from abroad to Vietnam". The stipulation that gems (diamond, ruby and sapphire) are foreign exchange is now annulled .
Article 3.- The Minister of Heavy Industry , the Minister of Finance , the Minister of the Interior , the Minister of Trade, the General Director of the General Customs Department shall issue documents to guide the implementation of the Regulation promulgated together with this Decree.
Article 4.- This Decree takes effect on the date of its promulgation. The earlier regulations which are contrary to this Decree are now annulled .
The Ministers, the Heads of the ministerial-level agencies, the Heads of the agencies attached to the Government, and the Presidents of the People's Committees of the provinces and cities directly under the Central Government shall have to implement this Decree.
 

 
ON BEHALF OF THE GOVERNMENT
PRIME MINISTER




Vo Van Kiet
 
REGULATION
ON THE MANAGEMENT OF ACTIVITIES IN GEM BUSINESS
(issued together with Decree No.65-CP of October 13, 1995)
Chapter I
GENERAL PROVISIONS
Article 1.- Precious stones referred to in this Regulation are natural minerals having gem quality. Depending on their commercial value, precious stones are divided into two groups:
- Group 1: diamond, ruby, sapphire and emerald.
- Group 2: other precious stones.
Article 2.- All activities in survey, exploration, exploitation, manufacture and fashioning of precious stones; making jewelry and art articles; trading, exporting and importing precious stones (hereunder referred to as activities in gem business) on Vietnamese territory must abide by the provisions of this Regulation and related stipulations of law.
Article 3.- The Ministries, the ministerial-level Agencies and the Agencies attached to the Government shall perform their State management function with regard to the activities in gem business according to their tasks and powers.
Article 4.- The People's Committees at various levels shall perform their State management functions with regard to the precious stone resources and the activities in gem business according to this Regulation and other related stipulations of law; they have the responsibility to protect the areas of precious stones which are not yet assigned to the management of any unit; they shall have to coordinate with the assigned units to protect the mine areas under exploration or exploitation, to prevent the illegal activities of exploitation and trading of precious stones in the localities.
The People's Committee of the province where precious stones are located is entitled to set up a fund to support the protection of the precious stone resource. The precious stone exploiting units shall deduct 1% (one per cent) of the revenue from the precious stones exploited for the Provincial People's Committee to set up this fund.
Aside from the general annual budget balance already approved, the State shall devote 50% (fifty per cent) of the revenue deriving from the tax imposed on the value of the precious stones exploited by the exploiting units, and 50% (fifty per cent) of the revenue of the Corporation as stipulated in Article 16 of this Regulation for the province to invest in infrastructure development, the construction of medical, educational and cultural projects in the mining locality .
Article 5.- The State encourages and creates favorable conditions for the Vietnamese organizations and individuals to invest in the gem business according to this Regulation and related stipulations of law.
Foreign economic organizations and individuals are allowed to invest in the gem business under the Law on Foreign Investment in Vietnam and other related stipulations of law.
The State encourages and creates conditions for the research institutes, universities, economic units and individuals in the country to invest in research and production of equipment for the exploitation and fashioning of precious stones; in the training of gemmologists and technical workers in gem fashioning; in the application of scientific- technical advances with a view to raising the value of Vietnam's gems in compliance with Resolution No.35-HDBT of January 28, 1992 of the Council of Ministers (now the Government) on the management of science and technology.
Article 6.- The State recognizes the lawful ownership of precious stones in the form of raw material or fashioned products by organizations and individuals .
The State protects the lawful interests of all organizations and individuals operating in the gem business as provided for by this Regulation and related stipulations of law.
Article 7.- The Vietnam Gem and Gold Corporation (hereafter referred to as Corporation) is a State enterprise set up to serve as the core in the building and development of the gem industry and the manufacture of jewelry in Vietnam .
The function, tasks, powers, organization and activities of the Corporation shall be defined in the Statute on Organization and Activities of the Corporations ratified by the Government.
Chapter II
GEOLOGICAL INVESTIGATION, SURVEY AND EXPLORATION OF GEM MINES
Article 8.- The Ministry of Heavy Industry shall organize the research and geological investigation of precious stones, and evaluation of gem reserves in the process of basic geological and mineral research and investigation with State allocated funds.
On the basis of the results of the basic investigation on precious stones by the Ministry of Heavy Industry, the Prime Minister shall consider and assign to the Corporation areas with potentials in gems of Group 1 so that the Corporation might organize the survey, exploration and exploitation.
The Corporation shall organize the survey and search for precious stones in the mining areas assigned to it, under the provisions of and with funds allocated by the State budget. The mine prospection shall be conducted by the Corporation with its own investment funds.
The investigation, survey, prospection and exploitation of precious stones of Group 2 shall be conducted as currently stipulated for hard minerals.
Article 9.- The geological documents and samples of precious stones collected in the process of geological investigation, research and prospection must be preserved according to prescriptions of law.
CHAPTER III
EXPLOITATION OF PRECIOUS STONES
Article 10.- The Corporation is assigned the task of organizing the exploitation of mines of gems of Group 1 and fully collecting the accompanying minerals; protecting and making rational use of the resources, protecting the environment and the ecology in the process of exploitation .
The gem deposits of small scale which lie scattered and do not form a concentrated mine and where exploitation on industrial or semi-contractual scale is not economically efficient shall be zoned off and assigned to the management of the People's Committee of the local province which shall organize its exploitation by the local population. The exploitation must ensure safety, order, social security and protection of the environment and the ecology.
Article 11.- The Vietnamese economic organizations and individuals (hereafter referred to as units) that wish to exploit precious stones of Group 1 in the mining areas already assigned to the Corporation, must do it through bidding and the signing of production sharing exploitation with the Corporation ; submit to control and supervision of the Corporation in the process of exploitation.
The foreign economic organizations and individuals that wish to exploit gems in Group 1 must enter into joint ventures with the Corporation under the Law on Foreign Investment in Vietnam and must have the permission of the Prime Minister.
Article 12.- The contract on exploitation and production-sharing agreed upon and signed between the Corporation and the winning bidder must abide by the regulations of law on mineral activities, notably in the following contents:
1. The legal capacity of the organization or individual that is party to the Contract.
2. Object of the Contract;
3. Term of the Contract;
4. Conditions for terminating the Contract before term, or extension of the Contract.
5. Rights and obligations of the parties to the Contract.
6. Conditions for the transfer of rights and obligations of the parties to the Contract.
7. Responsibility for the protection of the environment and social order and safety during the process of exploitation.
8. Modalities for the settlement of disputes arising from the Contract.
Besides, the contracting parties may agree on other terms in the Contract, provided they do not contravene this Regulation and current law.
Article 13.- Subject to bidding are the gem-containing lots of land lying within the area under the exploitation plan drawn up by the Corporation and approved by the authorized State agencies that allot land for exploitation as provided for in the Land Law. The area of the lots of land to be offered for bidding shall be determined by the Bidding Council. All misuse of the bidding to trade in the bidding right and gain profit from the price difference is strictly forbidden.
Article 14.- The bidding floor price is the minimum price offered for the bidding with regard to each gem-containing lot of land. It is based on a unified unit price for all the lots in each mining area and shall be publicly announced.
The unit bidding floor price is constituted by these factors: expenditures on geological investigation, mine survey and prospection; expenditures in the utilization of the infrastructure in service of the exploitation in the mining area; the land rent, the minimum mineral resource tax and the expenditures on environmental rehabilitation, compensations for crops and other compensations paid by the exploiting unit.
Article 15.- The President of the Managing Board of the Corporation shall sign the decision to set up the Bidding Council for each gem mining area. The Council shall comprise a representative of the Corporation who shall act as President of the Council, a representative of the People's Committee of the province where the mine is located, a representative of the Ministry of Heavy Industry, and a representative of the Ministry of Finance.
The Bidding Council has the tasks of examining and approving the bidding price proposed by the Corporation, receiving the bidding dossier, opening the bidding, announcing the bidding result and the winning unit.
The Regulation on bidding for the gem mines shall be worked out by the Corporation and ratified by the Minister of Heavy Industry.
Article 16.- The winning unit shall have to bear all expenditures in exploiting and in organizing the internal protection of its exploiting area. The value of products collected in the process of exploitation, after payment of different kinds of tax (except the resource tax which has been paid earlier and accounted for in the bidding price) and other expenditures, shall be divided according to this ratio: 85 (eighty five per cent) for the exploiting unit, and 15% (fifteen per cent) for the Corporation .
For the gems which sell for one billion Vietnam Dong and more per piece, this ratio shall be 75% (seventy five per cent) for the exploiting unit, and 25% (twenty five per cent ) for the Corporation.
Article 17.- The revenue from the bidding and from the production- sharing exploitation contract shall be recorded into separate revenues among the revenues of the Corporation.
The Ministry of Finance shall issue the regime of collection and remittance to the State budget of the revenues of the Corporation after asking for the opinion of the Prime Minister.
Article 18.- The gem products exploited by the winning units must be tested on completion , classified and evaluated. Those valued at 100 (one hundred) million Dong or more per piece, shall, after evaluation, be sealed and kept at the Corporation in order to be offered for auction. Those valued at less than 100 (one hundred) million Dong per piece shall be entrusted to the exploiting unit or the Corporation for management and marketing.
Article 19.- The Corporation has the duty to provide guidance in exploitation technique in order to get the maximum of minerals, protect the environment, ensure labor safety; inspect and supervise the whole process of exploitation activity of the exploiting units.
The test on completion, classification and evaluation of products in the process of exploitation shall be conducted by the Test on Completion Committee. This committee shall be set up by the Corporation and comprise an equal number of representatives of the Corporation and the exploiting unit, each having at least two representatives.
Article 20.- The exploiting unit is entitled to transfer the exploiting right to any eligible organization or individual that shall continue exercising the rights and obligations which the unit has signed with the Corporation. In case the State recovers or requisitions the mine for security or defense reason, the exploiting unit shall be paid compensations according to current law.
Chapter IV
REFINING, FASHIONING AND TRADING IN PRECIOUS STONES
Article 21.- Any Vietnamese economic organization and individual that wishes to refine, fashion or trade in precious stones or to manufacture jewelry and art articles in precious stones, must set up their production or business establishments and register for operation as prescribed by law.
Article 22.- The State encourages and creates all favorable conditions for all organizations and individuals to carry out the purchase and sale of precious stones (raw materials or already refined and fashioned) at the precious stone and jewelry centers of the Corporation. Aside from these centers, precious stones can be purchased and sold only at the office of the enterprise and the shops licensed for gem business, or precious stone markets in the mining areas managed by the local administration with the participation of the Corporation.
The Corporation shall periodically organize auction fairs of precious stones in the country or abroad according to prescriptions of law.
The State encourages the exportation of precious stones already refined and fashioned or gem-set jewelry and the importation of various kinds of raw gems to process and fashion them for re-export.
Article 23.- The exportation of gems valued at 100 (one hundred million) Dong and more must be provided with Trading Contracts and Sale Vouchers made in the forms issued by the Ministry of Trade and the Ministry of Finance. For those gems valued at less than 100 (one hundred million) Dong, the dealer shall have only to produce the Sale Vouchers to the border gate customs office. The export tax shall be paid by the sales units under the Trading Contract and the Sale Voucher. The importation of raw gems to process and fashion them for re-export shall not be limited in quantity, but the dealer must abide by the regulations of the law on goods import.
The Ministry of Trade shall coordinate with the General Customs Department and other concerned State agencies to issue regulations on the management of the gem market and export and import after asking for the opinion of the Prime Minister.
The Ministry of Finance shall issue the model form of the Contract and the Receipts for Purchase and Sale in the gem business according to its jurisdiction.
Chapter V
HANDLING OF VIOLATIONS AND REWARDS
Article 24.- All activities in the survey and prospection of precious stones which do not comply with the stipulations of this Regulation and other related stipulations of law; the violation of the current stipulations of law on the protection of secrets of gem geological documents shall be handled strictly according to law.
Article 25.- The exploitation, processing, purchase and sale and export and import of precious stones which do not comply with the stipulations of this Regulation and other related stipulations of law shall, depending on their character and the seriousness of the violation, be subject to administrative sanctions or examined for penal liability as prescribed by law.
In all cases, the amount of precious stones smuggled or dug up and panned illegally shall be confiscated and remitted to the State Treasury.
Any individual or organization credited with discovering, denouncing or preventing in time the acts of illegal exploiting or smuggling precious stones shall be commended and rewarded according to the common provisions.
Article 26.- The persons who abuse their positions and powers to contravene the stipulations of this Regulation shall, depending on the character and seriousness of the violation, be subjected to administrative sanctions, or examined for penal liability according to prescriptions of law.
Chapter VI
IMPLEMENTATION PROVISIONS
Article 27.- This Regulation takes effect on the date of its promulgation. All earlier stipulations which are contrary to this Regulation are now annulled.
Article 28.- Sixty days at the latest after the promulgation of this Regulation, the concerned ministries and branches shall have to issue documents to guide its implementation.

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Văn bản này chưa có chỉ dẫn thay đổi
văn bản TIẾNG ANH
Bản dịch tham khảo
download Decree 65-CP DOC (Word)
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao để tải file.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi

19006192

Theo dõi LuatVietnam trên YouTube

TẠI ĐÂY

văn bản cùng lĩnh vực

Thông tư 1350-KCM/TT của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định 02/CP ngày 05/01/1995 của Chính phủ đối với hàng hóa là hóa chất độc mạnh, chất phóng xạ, phế liệu, phế thải kim loại và phế liệu, phế thải có hóa chất độc hại và một số loại vật tư kỹ thuật cao cấp kinh doanh có điều kiện ở thị trường trong nước

Thông tư 1350-KCM/TT của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định 02/CP ngày 05/01/1995 của Chính phủ đối với hàng hóa là hóa chất độc mạnh, chất phóng xạ, phế liệu, phế thải kim loại và phế liệu, phế thải có hóa chất độc hại và một số loại vật tư kỹ thuật cao cấp kinh doanh có điều kiện ở thị trường trong nước

Khoa học-Công nghệ , Tài nguyên-Môi trường

Vui lòng đợi