Thông tư 131/TCHQ-GSQL của Tổng cục Hải quan về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 65/CP ngày 13/10/1995 của Chính phủ về việc quy định thủ tục xuất nhập khẩu đã quý

Thuộc tính Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

- Căn cứ Nghị định số 65/CP ngày 13/10/1995 của Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý hoạt động trong lĩnh vực đá quý.

- Căn cứ Nghị định 54/CP ngày 28/8/1993 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

- Căn cứ Thông tư số 03/TM-CSTTTN ngày 11/3/1997 của Bộ Thương mại về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định 65/CP của Chính phủ.

- Căn cứ Công văn số 1823 TCT/AC ngày 17/9/1996 của Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính về việc đăng ký sử dụng hoá đơn đặc thù.

- Căn cứ Quyết định số 1940/QĐ-TCCB ngày 15/7/1996 của Bộ Công nghiệp về việc thành lập Trung tâm nghiên cứu - kiểm định đá quý và vàng.

Tổng cục Hải quan hướng dẫn và quy định cụ thể về thủ tục XNK đá quý như sau:

I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG:
1. Các doanh nghiệp được Bộ Thương mại cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu đá quý mới được phép kinh doanh XNK đá quý.
Các doanh nghiệp được thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong lĩnh vực đá quý phải theo đúng phạm vi giấy phép do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp và kế hoạch xuất nhập khẩu đá quý hàng năm được Bộ Thương mại duyệt.
2. Các doanh nghiệp kinh doanh đá quỹ không đủ điều kiện để được cấp giấy phép kinh doanh XNK nhưng nếu có nhu cầu XNK đá quý thì phải được Bộ Thương mại cho phép uỷ thác XNK đá quý qua các doanh nghiệp có giấy phép XNK đá quý.
3. Các quy định tại Thông tư này chỉ áp dụng đối với các sản phẩm là đá quý và đồ trang sức mỹ nghệ có gắn đá quý được gia công chế tác từ các nguồn nguyên liệu khai thác tại Việt Nam của các Đơn vị được phép kinh doanh xuất nhập khẩu đá quý theo chỉ đạo của Tổng Công ty đá quý và vàng Việt Nam (VIGECO).
II. TRÁCH NHIỆM CỦA TỔNG CÔNG TY ĐÁ QUÝ VÀ VÀNG VIỆT NAM:
1. Tổng Công ty đá quý và vàng Việt Nam phải lập danh sách và thông báo cho Tổng cục Hải quan tên và địa chỉ các Trụ sở giao dịch, các đơn vị được phép kinh doanh bán đá quý xuất khẩu thuộc Tổng Công ty (dưới đây được gọi là Đơn vị bán hàng).
2. Đăng ký với Tổng cục Hải quan và Cục Hải quan các Tỉnh, Thành phố có liên quan mẫu hoá đơn đặc thù để mua bán các sản phẩm là đá quý và các đồ trang sức mỹ nghệ có gắn đá quý đã được Bộ Tài chính duyệt, mẫu niêm phong, con dấu và chữ ký của người có trách nhiệm ký hoá đơn và ký niêm phong.
3. Tổng Công ty đá quý hoặc Đơn vị bán hàng chỉ được phép cấp hoá đơn cho khách mua hàng trước khi xuất cảnh 10 ngày và có trách nhiệm hướng dẫn khách mua hàng thực hiện đúng quy định của Hải quan về bảo quản niêm phong, xuất trình hàng, tờ khai hải quan và hoá đơn cho Hải quan cửa khẩu nơi xuất cảnh.
4. Ngay sau khi bán hàng (trừ ngày nghỉ theo quy định của pháp luật), Tổng Công ty hoặc Đơn vị bán hàng có trách nhiệm đến Cục Hải quan tỉnh, thành phố để làm thủ tục nộp thuế xuất khẩu và các khoản thu khác theo quy định hiện hành.
5. Tổng Công ty đá quý và các Đơn vị bán hàng phải có quy chế quản lý và các phương tiện, sổ sách theo dõi kịp thời số hàng đã bán, hàng tồn kho hàng ngày, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra thanh tra theo định kỳ hoặc đột xuất của các cơ quan chức năng đối với hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu đá quý.
III. THỦ TỤC HẢI QUAN:
Các doanh nghiệp kinh doanh XNK đá quý được Bộ Thương mại cấp giấy phép kinh doanh XNK mới được phép xuất khẩu, nhập khẩu đá quý.
Tất cả các lô đá quý không phân biệt trị giá khi xuất ra nước ngoài để bán hoặc khi tái nhập do không bán được đều phải có giấy giám định lô hàng theo quy định để xuất trình khi làm thủ tục hải quan.
1. Khi xuất khẩu một lô đá quý có trị giá từ 10.000 USD trở lên - các doanh nghiệp phải nộp cho Hải quan cửa khẩu bộ hồ sơ gồm có:
- Giấy phép kinh doanh XNK đá quý do Bộ Thương mại cấp (bản sao có xác nhận công chứng Nhà nước).
- Hợp đồng mua bán đá quý.
- Giấy giám định đá quý do Cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam cấp theo quy định (bản chính).
- Hoá đơn mua bán đá quý do Bộ Tài chính phát hành.
2. Khi xuất khẩu một lô đá quý có giá trị dưới 10.000 USD thì doanh nghiệp chỉ cần xuất trình với Hải quan cửa khẩu:
- Giấy phép kinh doanh XNK đá quý do Bộ Thương mại cấp (bản sao có xác nhận công chứng Nhà nước).
- Giấy giám định đá quý do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam cấp theo quy định (bản chính).
- Hoá đơn mua bán đá quý do Bộ Tài chính phát hành.
3. Khi nhập khẩu đá quý doanh nghiệp phải xuất trình với Hải quan cửa khẩu bộ hồ sơ gồm có:
- Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu đá quý do Bộ Thương mại cấp (bản sao có xác nhận công chứng Nhà nước).
- Hợp đồng hoặc văn bản có giá trị như hợp đồng mua bán đá quý.
- Giấy giám định đá quý do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam cấp theo quy định (bản chính).
4. Các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu đá quý có trách nhiệm nộp đủ thuế cho từng lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu theo đúng quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được quy định chi tiết tại Nghị định số 54/CP ngày 28/8/1993 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thực hiện của Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan.
5. Xuất nhập khẩu đá quý theo hình thức phi mậu dịch:
5.1. Cục Hải quan tỉnh, thành phố khi tiếp nhận hoá đơn bán hàng đặc thù của Tổng công ty VIGECO hoặc của đơn vị bán hàng trực thuộc Tổng công ty thì tiến hàng đóng dấu treo (dấu của Cục Hải quan tỉnh, thành phố) trên từng hoá đơn và mở sổ quản lý theo dõi chặt chẽ về số lượng, số xêri hoá đơn đã đăng ký.
5.2.1. Khách mua sản phẩm là đá quý, đồ trang sức mỹ nghệ có gắn đá quý tại các đơn vị bán hàng trực thuộc Tổng Công ty khi xuất cảnh phải có trách nhiệm xuất trình với nhân viên Hải quan cửa khẩu:
- Tờ khai hải quan phi mậu dịch xuất khẩu theo mẫu HQ2-96 (2 bản).
- Hoá đơn mua bán đá quý là loại hoá đơn đặc thù do Bộ Tài chính phát hành (phải có dấu treo của Cục Hải quan tỉnh, thành phố).
- Giấy giám định đá quý (bản sao có xác nhận của Tổng công ty).
- Hàng mua đã được niêm phong theo quy định tại Điểm 2, phần II nêu trên.
5.2.2 Tổng Công ty hoặc đơn vị bán hàng có trách nhiệm xuất trình bộ hồ sơ để làm thủ tục xuất khẩu đá quý tại Cục Hải quan tỉnh, Thành phố (nơi làm thủ tục thuế xuất khẩu đá quý) gồm:
- Tờ khai hải quan HQ2-96.
- Hoá đơn bán hàng (liên 4).
- Giấy giám định đá quý do cơ quan có thẩm quyền Nhà nước Việt Nam cấp theo quy định (bản chính).
Cơ quan hải quan có trách nhiệm kiểm tra đối chiếu; tính thuế và thu thuế theo luật định.
5.3 Nhân viên hải quan cửa khẩu có trách nhiệm kiểm tra tờ khai, hoá đơn mua hàng, niêm phong, mở niêm phong và kiểm hoá (so sánh với các đặc điểm của đá quý ghi trong hoá đơn và tờ khai) để xem xét, xác nhận thực xuất trên tờ khai hải quan.
- Hải quan Cửa khẩu lưu 01 tờ khai hải quan và hoá đơn liên 3; trả lại cho khách 01 tờ khai hải quan và hoá đơn liên 2.
- Hoá đơn liên 3 và tờ khai hải quan lưu - tập trung cuối ngày để chuyển về Cục hải quan tỉnh, Thành phố nơi đã đóng dấu đăng ký (dấu treo) để theo dõi việc sử dụng hoá đơn.
- Hải quan Cửa khẩu lập sổ riêng để theo dõi đá quý xuất khẩu theo các hoá đơn đặc thù được quy định tại văn bản này. Hàng tháng báo cáo kết quả về hải quan Tỉnh, Thành phố.
5.4. Khi Cục hải quan Tỉnh, Thành phố nhận được hoá đơn liên 3 và tờ khai do Hải quan cửa khẩu gửi về thì bộ phận đã làm thủ tục Hải quan cho đơn vị bán hàng có trách nhiệm phức tập và thanh toán với bộ hồ sơ đang lưu trữ. Nếu phát hiện có vấn đề sai phạm thì xử lý theo các quy định hiện hành.
5.5 Đối với hành khách xuất cảnh, nhập cảnh tại các cửa khẩu Việt Nam có mang theo tư trang vàng, bạc, kim loại quý, đá quý thực hiện theo tiêu chuẩn hành lý miễn thuế được quy định tại Nghị định 17/CP ngày 6.02.1995 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thực hiện của Tổng cục Hải quan.
IV. MỘT SỐ QUY ĐỊNH KHÁC:
1. Tạm nhập - tái xuất hoặc tạm xuất - tái nhập các lô hàng là sản phẩm đá quý và đồ trang sức mỹ nghệ có gắn đá quý để tham gia hội chợ và triển lãm thương mại được thục hiện theo các quy định tại:
- Quyết định số 390/TTg ngày 01.8.1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế hội chợ và triển lãm thương mại.
- Thông tư số 05/TM-XNK ngày 25.2.1995 của Bộ Thương mại về việc hướng dẫn thực hiện quy chế hội chợ và triển lãm thương mại.
- Công văn số 472/TCHQ-GSQL ngày 18.3.1995 của Tổng cục Hải quan về việc hướng dẫn thực hiện quy chế hội chợ, triển lãm thương mại.
2. Đá quí và nguyên liệu phụ được nhập khẩu để gia công chế tác thành sản phẩm và sau đó xuất khẩu toàn bộ sản phẩm đó theo chỉ định của Bên đặt gia công được thực hiện theo Quyết định số 126/TCHQ-GSQL ngày 8.4.1995 của Tổng cục hải quan ban hành quy chế về quản lý hải quan đối với hàng gia công xuất nhập khẩu và nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu.
3. Các tổ chức khi mang ra nước ngoài các sản phẩm là đá quý và đồ trang sức mỹ nghệ có gắn đá quý để bán đều phải thực hiện đúng các quy định về thủ tục xuất nhập khẩu và nộp đủ thuế theo luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành.
- Trường hợp không bán được sản phẩm, khi tiến hành thủ tục nhập vào Việt Nam thì được xét giải quyết truy hoàn số tiền thuế đã nộp khi làm thủ tục xuất khẩu.
- Trường hợp bán được sản phẩm, thủ tục khi chuyển tiền về nước được thực hiện theo đúng các quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
V. XỬ LÝ VI PHẠM:
Các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định nêu trên, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Pháp luật.
VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
1. Cứ 3 tháng một lần, Tổng công ty và các đơn vị bán hàng có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo và xuất trình các hồ sơ chứng từ cho Cục Hải quan tỉnh, thành phố để kiểm tra đối chiếu.
Cục Hải quan tỉnh, thành phố có trách nhiệm báo cáo thống kê về số lượng, trọng lượng, trị giá bán, số tiền thuế đã nộp và đánh giá nhận xét tình hình thực hiện gửi về Tổng cục Hải quan (qua Cục giám sát quản lý về hải quan).
2. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/7/1997.
Quá trình thực hiện, yêu cầu tổng hợp báo cáo Tổng cục kịp thời những vướng mắc, phát sinh ngoài thẩm quyền giải quyết của địa phương để xin ý kiến chỉ đạo.
Thuộc tính văn bản
Thông tư 131/TCHQ-GSQL của Tổng cục Hải quan về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 65/CP ngày 13/10/1995 của Chính phủ về việc quy định thủ tục xuất nhập khẩu đã quý
Cơ quan ban hành: Tổng cục Hải quan Số công báo: Đang cập nhật
Số hiệu: 131/TCHQ-GSQL Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Thông tư Người ký: Nguyễn Văn Cầm
Ngày ban hành: 24/06/1997 Ngày hết hiệu lực: Đang cập nhật
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực: Xuất nhập khẩu , Hải quan
Tóm tắt văn bản
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

THÔNG TƯ

CỦA TỔNG CỤC HẢI QUAN SỐ 131/TCHQ-GSQL NGÀY 24 THÁNG 6
NĂM 1997 HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 65/CP NGÀY 13.10.1995 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC QUY ĐỊNH THỦ TỤC
XUẤT NHẬP KHẨU ĐÁ QUÝ

 

- Căn cứ Nghị định số 65/CP ngày 13/10/1995 của Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý hoạt động trong lĩnh vực đá quý.

- Căn cứ Nghị định 54/CP ngày 28/8/1993 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

- Căn cứ Thông tư số 03/TM-CSTTTN ngày 11/3/1997 của Bộ Thương mại về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định 65/CP của Chính phủ.

- Căn cứ Công văn số 1823 TCT/AC ngày 17/9/1996 của Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính về việc đăng ký sử dụng hoá đơn đặc thù.

- Căn cứ Quyết định số 1940/QĐ-TCCB ngày 15/7/1996 của Bộ Công nghiệp về việc thành lập Trung tâm nghiên cứu - kiểm định đá quý và vàng.

Tổng cục Hải quan hướng dẫn và quy định cụ thể về thủ tục XNK đá quý như sau:

 

I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG:

 

1. Các doanh nghiệp được Bộ Thương mại cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu đá quý mới được phép kinh doanh XNK đá quý.

Các doanh nghiệp được thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong lĩnh vực đá quý phải theo đúng phạm vi giấy phép do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp và kế hoạch xuất nhập khẩu đá quý hàng năm được Bộ Thương mại duyệt.

2. Các doanh nghiệp kinh doanh đá quỹ không đủ điều kiện để được cấp giấy phép kinh doanh XNK nhưng nếu có nhu cầu XNK đá quý thì phải được Bộ Thương mại cho phép uỷ thác XNK đá quý qua các doanh nghiệp có giấy phép XNK đá quý.

3. Các quy định tại Thông tư này chỉ áp dụng đối với các sản phẩm là đá quý và đồ trang sức mỹ nghệ có gắn đá quý được gia công chế tác từ các nguồn nguyên liệu khai thác tại Việt Nam của các Đơn vị được phép kinh doanh xuất nhập khẩu đá quý theo chỉ đạo của Tổng Công ty đá quý và vàng Việt Nam (VIGECO).

 

II. TRÁCH NHIỆM CỦA TỔNG CÔNG TY ĐÁ QUÝ
VÀ VÀNG VIỆT NAM:

 

1. Tổng Công ty đá quý và vàng Việt Nam phải lập danh sách và thông báo cho Tổng cục Hải quan tên và địa chỉ các Trụ sở giao dịch, các đơn vị được phép kinh doanh bán đá quý xuất khẩu thuộc Tổng Công ty (dưới đây được gọi là Đơn vị bán hàng).

2. Đăng ký với Tổng cục Hải quan và Cục Hải quan các Tỉnh, Thành phố có liên quan mẫu hoá đơn đặc thù để mua bán các sản phẩm là đá quý và các đồ trang sức mỹ nghệ có gắn đá quý đã được Bộ Tài chính duyệt, mẫu niêm phong, con dấu và chữ ký của người có trách nhiệm ký hoá đơn và ký niêm phong.

3. Tổng Công ty đá quý hoặc Đơn vị bán hàng chỉ được phép cấp hoá đơn cho khách mua hàng trước khi xuất cảnh 10 ngày và có trách nhiệm hướng dẫn khách mua hàng thực hiện đúng quy định của Hải quan về bảo quản niêm phong, xuất trình hàng, tờ khai hải quan và hoá đơn cho Hải quan cửa khẩu nơi xuất cảnh.

4. Ngay sau khi bán hàng (trừ ngày nghỉ theo quy định của pháp luật), Tổng Công ty hoặc Đơn vị bán hàng có trách nhiệm đến Cục Hải quan tỉnh, thành phố để làm thủ tục nộp thuế xuất khẩu và các khoản thu khác theo quy định hiện hành.

5. Tổng Công ty đá quý và các Đơn vị bán hàng phải có quy chế quản lý và các phương tiện, sổ sách theo dõi kịp thời số hàng đã bán, hàng tồn kho hàng ngày, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra thanh tra theo định kỳ hoặc đột xuất của các cơ quan chức năng đối với hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu đá quý.

 

III. THỦ TỤC HẢI QUAN:

 

Các doanh nghiệp kinh doanh XNK đá quý được Bộ Thương mại cấp giấy phép kinh doanh XNK mới được phép xuất khẩu, nhập khẩu đá quý.

Tất cả các lô đá quý không phân biệt trị giá khi xuất ra nước ngoài để bán hoặc khi tái nhập do không bán được đều phải có giấy giám định lô hàng theo quy định để xuất trình khi làm thủ tục hải quan.

1. Khi xuất khẩu một lô đá quý có trị giá từ 10.000 USD trở lên - các doanh nghiệp phải nộp cho Hải quan cửa khẩu bộ hồ sơ gồm có:

- Giấy phép kinh doanh XNK đá quý do Bộ Thương mại cấp (bản sao có xác nhận công chứng Nhà nước).

- Hợp đồng mua bán đá quý.

- Giấy giám định đá quý do Cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam cấp theo quy định (bản chính).

- Hoá đơn mua bán đá quý do Bộ Tài chính phát hành.

2. Khi xuất khẩu một lô đá quý có giá trị dưới 10.000 USD thì doanh nghiệp chỉ cần xuất trình với Hải quan cửa khẩu:

- Giấy phép kinh doanh XNK đá quý do Bộ Thương mại cấp (bản sao có xác nhận công chứng Nhà nước).

- Giấy giám định đá quý do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam cấp theo quy định (bản chính).

- Hoá đơn mua bán đá quý do Bộ Tài chính phát hành.

3. Khi nhập khẩu đá quý doanh nghiệp phải xuất trình với Hải quan cửa khẩu bộ hồ sơ gồm có:

- Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu đá quý do Bộ Thương mại cấp (bản sao có xác nhận công chứng Nhà nước).

- Hợp đồng hoặc văn bản có giá trị như hợp đồng mua bán đá quý.

- Giấy giám định đá quý do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam cấp theo quy định (bản chính).

4. Các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu đá quý có trách nhiệm nộp đủ thuế cho từng lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu theo đúng quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được quy định chi tiết tại Nghị định số 54/CP ngày 28/8/1993 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thực hiện của Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan.

5. Xuất nhập khẩu đá quý theo hình thức phi mậu dịch:

5.1. Cục Hải quan tỉnh, thành phố khi tiếp nhận hoá đơn bán hàng đặc thù của Tổng công ty VIGECO hoặc của đơn vị bán hàng trực thuộc Tổng công ty thì tiến hàng đóng dấu treo (dấu của Cục Hải quan tỉnh, thành phố) trên từng hoá đơn và mở sổ quản lý theo dõi chặt chẽ về số lượng, số xêri hoá đơn đã đăng ký.

5.2.1. Khách mua sản phẩm là đá quý, đồ trang sức mỹ nghệ có gắn đá quý tại các đơn vị bán hàng trực thuộc Tổng Công ty khi xuất cảnh phải có trách nhiệm xuất trình với nhân viên Hải quan cửa khẩu:

- Tờ khai hải quan phi mậu dịch xuất khẩu theo mẫu HQ2-96 (2 bản).

- Hoá đơn mua bán đá quý là loại hoá đơn đặc thù do Bộ Tài chính phát hành (phải có dấu treo của Cục Hải quan tỉnh, thành phố).

- Giấy giám định đá quý (bản sao có xác nhận của Tổng công ty).

- Hàng mua đã được niêm phong theo quy định tại Điểm 2, phần II nêu trên.

5.2.2 Tổng Công ty hoặc đơn vị bán hàng có trách nhiệm xuất trình bộ hồ sơ để làm thủ tục xuất khẩu đá quý tại Cục Hải quan tỉnh, Thành phố (nơi làm thủ tục thuế xuất khẩu đá quý) gồm:

- Tờ khai hải quan HQ2-96.

- Hoá đơn bán hàng (liên 4).

- Giấy giám định đá quý do cơ quan có thẩm quyền Nhà nước Việt Nam cấp theo quy định (bản chính).

Cơ quan hải quan có trách nhiệm kiểm tra đối chiếu; tính thuế và thu thuế theo luật định.

5.3 Nhân viên hải quan cửa khẩu có trách nhiệm kiểm tra tờ khai, hoá đơn mua hàng, niêm phong, mở niêm phong và kiểm hoá (so sánh với các đặc điểm của đá quý ghi trong hoá đơn và tờ khai) để xem xét, xác nhận thực xuất trên tờ khai hải quan.

- Hải quan Cửa khẩu lưu 01 tờ khai hải quan và hoá đơn liên 3; trả lại cho khách 01 tờ khai hải quan và hoá đơn liên 2.

- Hoá đơn liên 3 và tờ khai hải quan lưu - tập trung cuối ngày để chuyển về Cục hải quan tỉnh, Thành phố nơi đã đóng dấu đăng ký (dấu treo) để theo dõi việc sử dụng hoá đơn.

- Hải quan Cửa khẩu lập sổ riêng để theo dõi đá quý xuất khẩu theo các hoá đơn đặc thù được quy định tại văn bản này. Hàng tháng báo cáo kết quả về hải quan Tỉnh, Thành phố.

5.4. Khi Cục hải quan Tỉnh, Thành phố nhận được hoá đơn liên 3 và tờ khai do Hải quan cửa khẩu gửi về thì bộ phận đã làm thủ tục Hải quan cho đơn vị bán hàng có trách nhiệm phức tập và thanh toán với bộ hồ sơ đang lưu trữ. Nếu phát hiện có vấn đề sai phạm thì xử lý theo các quy định hiện hành.

5.5 Đối với hành khách xuất cảnh, nhập cảnh tại các cửa khẩu Việt Nam có mang theo tư trang vàng, bạc, kim loại quý, đá quý thực hiện theo tiêu chuẩn hành lý miễn thuế được quy định tại Nghị định 17/CP ngày 6.02.1995 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thực hiện của Tổng cục Hải quan.

 

IV. MỘT SỐ QUY ĐỊNH KHÁC:

 

1. Tạm nhập - tái xuất hoặc tạm xuất - tái nhập các lô hàng là sản phẩm đá quý và đồ trang sức mỹ nghệ có gắn đá quý để tham gia hội chợ và triển lãm thương mại được thục hiện theo các quy định tại:

- Quyết định số 390/TTg ngày 01.8.1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế hội chợ và triển lãm thương mại.

- Thông tư số 05/TM-XNK ngày 25.2.1995 của Bộ Thương mại về việc hướng dẫn thực hiện quy chế hội chợ và triển lãm thương mại.

- Công văn số 472/TCHQ-GSQL ngày 18.3.1995 của Tổng cục Hải quan về việc hướng dẫn thực hiện quy chế hội chợ, triển lãm thương mại.

2. Đá quí và nguyên liệu phụ được nhập khẩu để gia công chế tác thành sản phẩm và sau đó xuất khẩu toàn bộ sản phẩm đó theo chỉ định của Bên đặt gia công được thực hiện theo Quyết định số 126/TCHQ-GSQL ngày 8.4.1995 của Tổng cục hải quan ban hành quy chế về quản lý hải quan đối với hàng gia công xuất nhập khẩu và nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu.

3. Các tổ chức khi mang ra nước ngoài các sản phẩm là đá quý và đồ trang sức mỹ nghệ có gắn đá quý để bán đều phải thực hiện đúng các quy định về thủ tục xuất nhập khẩu và nộp đủ thuế theo luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành.

- Trường hợp không bán được sản phẩm, khi tiến hành thủ tục nhập vào Việt Nam thì được xét giải quyết truy hoàn số tiền thuế đã nộp khi làm thủ tục xuất khẩu.

- Trường hợp bán được sản phẩm, thủ tục khi chuyển tiền về nước được thực hiện theo đúng các quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

 

V. XỬ LÝ VI PHẠM:

 

Các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định nêu trên, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Pháp luật.

 

 

 

VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

 

1. Cứ 3 tháng một lần, Tổng công ty và các đơn vị bán hàng có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo và xuất trình các hồ sơ chứng từ cho Cục Hải quan tỉnh, thành phố để kiểm tra đối chiếu.

Cục Hải quan tỉnh, thành phố có trách nhiệm báo cáo thống kê về số lượng, trọng lượng, trị giá bán, số tiền thuế đã nộp và đánh giá nhận xét tình hình thực hiện gửi về Tổng cục Hải quan (qua Cục giám sát quản lý về hải quan).

2. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/7/1997.

Quá trình thực hiện, yêu cầu tổng hợp báo cáo Tổng cục kịp thời những vướng mắc, phát sinh ngoài thẩm quyền giải quyết của địa phương để xin ý kiến chỉ đạo.

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE GENERAL DEPARTMENT OF CUSTOMS
-----
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom - Happiness
-------
No. 131/TCHQ-GSQL
Hanoi, June 24, 1997

 
CIRCULAR
GUIDING THE IMPLEMENTATION OF DECREE No.65-CP OF OCTOBER 13, 1995 OF THE GOVERNMENT REGARDING THE PROCEDURES FOR GEM IMPORT AND EXPORT
Pursuant to Decree No.65-CP of October 13, 1995 of the Government promulgating the Regulation on the management of activities in gem business activities;
Pursuant to Decree No.54-CP of August 28, 1993 of the Government detailing the implementation of the Law on Import-Export Taxes;
Pursuant to Circular No.03/TM-CSTTTN of March 11, 1997 of the Ministry of Trade guiding the implementation of Decree No.65-CP of the Government.
Pursuant to Official Dispatch No.1823-TCT/AC of September 17, 1996 of the General Department of Taxation- the Ministry of Finance, on the registration of the use of specific forms of receipt;
Pursuant to Decision No.1940/QD-TCCB of July 15, 1996 of the Ministry of Industry on the establishment of the Center for Gem and Gold Research and Expertise.
The General Department of Customs provides the following detailed guidances and regulations on gem import-export procedures:
I. GENERAL PROVISIONS:
1. Only enterprises that have been granted gem import-export permits by the Ministry of Trade shall be entitled to engage in the import and export of gems.
Enterprises established under the Law on Foreign Investment in Vietnam for gem business activities shall comply with the scope of their permits granted by the Ministry of Planning and Investment and with the annual gem import-export plans approved by the Ministry of Trade.
2. If gem-business enterprises which are not qualified for being granted import-export permits, wish to import and export gems, they must obtain permission from the Ministry of Trade for gem import-export assignment through enterprises having gem import-export permits.
3. The provisions of this Circular shall apply only to gem products and gem-set jewelry and art articles that have been refined and fashioned from raw materials exploited in Vietnam by units allowed to engage in gem import-export under the direction of the Vietnam Gem and Gold Corporation (VIGECO).
II. RESPONSIBILITIES OF THE VIETNAM GEM AND GOLD CORPORATION:
1. The Vietnam Gem and Gold Corporation shall list and inform the General Department of Customs of the names and addresses of its transaction offices and subsidiary units which are allowed to engage in the sale of export of gems (hereafter referred to as sale units).
2. To register with the General Department of Customs, and related provincial/municipal Customs Departments, the specific voucher forms to be used for the purchase and sale of gems, gem-set jewelry and art articles already ratified by the Ministry of Finance, as well as the forms of sealing, stamping and obtaining the signature(s) of the person(s) permitted to sign vouchers and seal documents.
3. The Corporation or sale units shall only be entitled to give invoices to the purchasers 10 days before their exit from Vietnam and shall have to provide guidance enabling the purchasers to abide by the Customs regulations regarding the preservation of seals and presentation of goods, customs declarations and vouchers to border gate Customs Office at the place of exit.
4. Immediately after selling goods (except for holidays as prescribed by law), the Corporation or sale units shall have to go to the provincial/municipal Customs Departments and fill procedures for the payment of import tax and other revenues in accordance with the current provisions of law.
5. The Corporation and sale units shall revise their own managerial regulations and prepare procedures and books to record the amount of goods sold or left in stock every day, thereby creating reliable conditions for periodical or extraordinary inspection and examination conducted by the functional agencies with oversight of gem import-export activities.
III. CUSTOMS PROCEDURES:
Enterprises engaged in gem import and export which have been granted import-export permits by the Ministry of Trade shall be entitled to import and/or export gems.
All lots of gems, irrespective of their value, when being exported to foreign countries for sale or when being re-imported due to unsaleability, shall be required to have expertise certificates produced for the completion of customs procedures as prescribed.
1. When exporting a lot of gems valued at 10,000 USD or more, the enterprise shall submit to the border gate Customs Office a copy of dossier that includes:
- A copy of the gem import-export permit granted by the Ministry of Trade, notarized by the State Notary Public.
- The gem sale and purchase contract.
- The original gem expertise certificate granted by the competent agency of the State of Vietnam as prescribed.
- The gem sale and purchase vouchers issued by the Ministry of Finance.
2. When exporting a lot of gems valued at under 10,000 USD, the enterprise shall produce to the border gate Customs Office only the following:
- A copy of the gem import-export permit granted by the Ministry of Trade, notarized by the State Notary Public.
- The original gem expertise certificate granted by the competent agency of the State of Vietnam as prescribed.
- The gem sale and purchase vouchers issued by the Ministry of Finance.
3. When importing gems, the enterprise shall have to produce to the border gate Customs Office one set of dossier, including:
- A copy of the gem import-export permit granted by the Ministry of Trade, notarized by the State Notary Public.
- The gem sale and purchase contract or a document with equivalent value.
- The original gem expertise certificate granted by the competent agency of the State of Vietnam as prescribed.
4. Gem import and export enterprises shall pay the entire tax for each lot of imported or exported gems in accordance with the provisions of the Law on Import-Export Taxes detailed in Decree No.54-CP of August 28, 1993 of the Government and the documents guiding the implementation therefore issued by the Ministry of Finance and the General Department of Customs.
5. Non-commercial gem import and/or export:
5.1. The provincial/municipal Customs Department, when receiving specific sale invoices from VIGECO or its subsidiary sale units shall affix a seal of registration (the seal of the provincial/municipal Customs Department) on each specific invoice and open a record book for strict supervision of the number and series of the registered invoices.
5.2.1. Upon their exit from Vietnam, purchasers of gem products or gem-set jewelry and art articles at sale units attached to the Corporation, shall produce for the border gate customs officers:
- Two copies of the customs declaration on non-commercial export on form HQ2-96.
- The specific gem sale and purchase voucher issued by the Ministry of Finance, and which bears a seal of registration of the provincial/municipal Customs Department.
- A copy of the gem expertise certificate, certified by the Corporation.
- The purchased goods that have been sealed as prescribed in Point 2, Part II above.
5.2.2. The Corporation or its sale units shall produce one set of the dossier to fulfill the gem export procedures at the provincial/municipal Customs Department (where the procedures for the collection of gem export tax is completed), including:
- The customs declaration on form HQ2-96.
- The sale invoice (the fourth copy).
- The original gem expertise certificate granted by the competent agency of the State of Vietnam as prescribed.
The Customs Office shall conduct the inspection and comparison of the gems and the tax calculation and tax collection as prescribed by law.
5.3. The border gate Customs officers shall inspect customs declarations, purchase receipts and seals, open the seals and inspect the goods (comparing them with characteristics of the gems declared in the receipts and declaration) for consideration and certification of the actual export amount on the customs declarations.
- The border gate Customs Office shall keep one copy of the customs declaration and the third copy of the receipt; and return to the passenger one copy of the customs declaration and the second copy of the receipt.
- The third copy of the receipt and the customs declaration to be kept shall be gathered at the end of each day to be transferred to the provincial/municipal Customs Department that has affixed the seal of registration thereon for supervision of the use of receipts.
- The border gate Customs Offices shall open a separate record book to register the export of gems through the specific invoices stipulated in this document. Every month it shall report the results to the provincial/municipal Customs Departments.
5.4. When a provincial/municipal Customs Department receives the third copy of the voucher and the customs declaration from a border gate Customs Office, the section that has fulfilled the customs procedures for the sale unit involved shall re-examine and liquidate the dossier which is being kept. If any violation is detected, it shall be handled in accordance with the current provisions of law.
5.5. Upon their entry or exit through the border gates of Vietnam, passengers who bring along jewels or ornaments made of gold, silver, precious metals or stones shall have to comply with the regulations on duty-free luggage provided for in Decree No.17-CP of February 6, 1995 of the Government and the documents guiding the implementation thereof issued by the General Department of Customs.
IV. OTHER PROVISIONS:
1. The temporary import for re-export or the temporary export for re-import, of lots of gem products and gem-set jewelry and art articles for participation in trade fairs and/or exhibition shall comply with the provisions of :
- Decision No.390-TTg of August 1st, 1994 of the Prime Minister regarding the promulgation of the regulation on trade fairs and exhibitions.
- Circular No.05/TM-XNK of February 25, 1995 of the Ministry of Trade guiding the implementation of the regulation on trade fairs and exhibitions.
- Official Dispatch No.472/TCHQ-GSQL of March 18, 1995 of the General Department of Customs providing guidance for the implementation of the regulation on trade fairs and exhibitions.
2. Gems, raw materials and materials imported for the refining and fashioning into products for full export at the request of the orderers shall comply with Decision No.126/TCHQ-GSQL of April 8, 1995 of the General Department of Customs promulgating the regulation regarding customs management over the subcontracted production of import and export goods and raw materials imported for the production of goods for export.
3. Organizations that send abroad gem products and/or gem-set jewelry and art articles for sale shall comply with the regulations on import export procedures and pay all taxes according to the current laws on import-export taxes.
- If they fail to sell their goods, then when fulfilling the procedures for the re-import of such goods into Vietnam, they shall be considered for the reimbursement of the tax amount paid at the time of export.
- If the products were sold, the procedure for remitting money back into the country, shall comply with the regulations of the State Bank of Vietnam.
V. HANDLING OF VIOLATIONS:
Organizations or individuals that violate the above-said provisions, shall, depending on the nature and seriousness of their violations, be handled administratively or examined for penal liability as prescribed by law.
VI. ORGANIZATION OF IMPLEMENTATION:
1. Once every three months, the Corporation and its sale units shall compile a summary and report and produce dossiers and vouchers to the provincial/municipal Customs Departments for inspection and comparison.
The provincial/municipal Customs Departments shall compile statistical reports on the amount, weight and value of sales and the amount of taxes paid and send them, together with their comments on the situation, to the General Department of Customs (through the Customs Supervision and Management Department).
2. This Circular takes effect from July 1st, 1997.
In the course of implementation, if any problem arise beyond the competence of the local authority, it must be promptly reported to the General Department of Customs for direction.
 

 
FOR THE GENERAL DIRECTOR OF THE GENERAL DEPARTMENT OF CUSTOMS
DEPUTY GENERAL DIRECTOR




Nguyen Van Cam

 
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Văn bản này chưa có chỉ dẫn thay đổi

Tải App LuatVietnam miễn phí trên Android tại đây trên IOS tại đây. Xem thêm

Văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!