Thông tư 02/1998/TT-TCBĐ của Tổng cục Bưu điện về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định 109/1997/NĐ-CP của Chính phủ về mạng lưới và dịch vụ bưu chính

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung MIX

    - Tổng hợp lại tất cả các quy định pháp luật còn hiệu lực áp dụng từ văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính…

    - Khách hàng chỉ cần xem Nội dung MIX, có thể nắm bắt toàn bộ quy định pháp luật hiện hành còn áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

  • Tải về
Mục lục
Mục lục
Tìm từ trong trang
Tải văn bản
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
Lưu
Theo dõi hiệu lực VB

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký phần mềm.

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản LuatVietnam và đăng ký sử dụng Phần mềm tra cứu văn bản.

Báo lỗi
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

THÔNG TƯ

CỦA TỔNG CỤC BƯU ĐIỆN SỐ 02/1998/TT-TCBĐ

NGÀY 20 THÁNG 6 NĂM 1998 HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH 109/1997/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ VỀ MẠNG LƯỚI VÀ

DỊCH VỤ BƯU CHÍNH

Ngày 12/11/1997, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/1997/NĐ-CP về bưu chính viễn thông, Tổng cục Bưu điện hướng dẫn việc thực hiện các quy định về mạng lưới và dịch vụ bưu chính trong Nghị định này như sau:

I. QUY ĐỊNH CHUNG
1.1. Thông tư hướng dẫn thực hiện các quy định cung cấp, sử dụng, quản lý mạng lưới và dịch vụ bưu chính đối với doanh nghiệp cung cấp và người sử dụng dịch vụ.
1.2. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính.
1.2.1. Quyền.
- Được tổ chức mạng lưới bưu chính công cộng theo quy định trong giấy phép để cung cấp dịch vụ;
- Được quyền từ chối phục vụ trong những trường hợp người sử dụng dịch vụ vi phạm pháp luật;
- Được hợp tác với nước ngoài theo những nội dung và hình thức do Thủ tướng Chính phủ quyết định và hướng dẫn của Tổng cục Bưu điện để phát triển mạng lưới và dịch vụ.
1.2.2. Nghĩa vụ.
- Tổ chức mạng lưới bưu chính phục vụ trong toàn quốc, kể cả vùng sâu vùng xa theo quy hoạch và kế hoạch phát triển của Nhà nước và bảo đảm mạng lưới bưu chính hoạt động liên tục kể cả ngày lễ và chủ nhật;
- Tổ chức việc cung cấp dịch vụ bảo đảm chất lượng đã công bố và phát triển dịch vụ đáp ứng nhu cầu người sử dụng;
- Bảo đảm bí mật thư tín và an toàn bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền theo quy định của pháp luật. Cán bộ, nhân viên của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính không được lợi dụng nghề nghiệp, chức vụ mà chiếm đoạt, huỷ bỏ, bóc xem, tráo đổi và tiết lộ nội dung bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền hoặc tiết lộ họ tên địa chỉ người gửi, người nhận;
- Xây dựng và đăng ký chỉ tiêu chất lượng của từng loại dịch vụ theo quy định tại Thông tư số 01/1998/TT-TCBĐ ngày 15/5/1998 của Tổng cục Bưu điện;
- Bồi thường thiệt hại theo quy định tại mục VI của Thông tư này cho người có quyền hưởng do lỗi của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ gây nên;
- Phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý những trường hợp vi phạm pháp luật trong việc cung cấp và sử dụng dịch vụ bưu chính;
- Chấp hành đúng các quy định về giá cước của Tổng cục Bưu điện và của Chính phủ (theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về quản lý giá và cước bưu chính, viễn thông số 99/1998/QĐ-TTg ngày 26/5/1998).
- Chịu sự thanh tra, kiểm tra của Tổng cục Bưu điện và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc cung cấp dịch vụ bưu chính.
1.2. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng dịch vụ bưu chính.
1.2.1. Quyền.
- Được quyền sử dụng dịch vụ bưu chính mà doanh nghiệp được phép cung cấp;
- Được bảo đảm bí mật thư tín và an toàn bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền theo quy định của pháp luật;
- Được quyền tự do lựa chọn doanh nghiệp cung cấp;
- Được khiếu nại và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định tại phần VI của Thông tư này;
- Được thay đổi họ tên địa chỉ người nhận hoặc rút bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền khi chưa phát đến người nhận.
1.2.2. Nghĩa vụ.
- Tuân theo quy định của pháp luật trong việc sử dụng dịch vụ. Không được sử dụng dịch vụ bưu chính nhằm mục đích chống lại Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây rối loạn an ninh trật tự và an toàn xã hội; vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục; hoạt động buôn lậu và các vi phạm pháp luật khác;
- Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phục vụ đến địa chỉ;
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin, vật phẩm, hàng hoá gửi qua mạng lưới bưu chính; kê khai vật phẩm, hàng hoá khớp với phiếu gửi; không được sử dụng tên và địa chỉ của người khác để gửi bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền khi không được sự đồng ý của họ.
- Thanh toán cước phí đối với dịch vụ mà mình đã sử dụng;
1.3. Quyền sở hữu bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền.
Bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền thuộc quyền định đoạt của người gửi khi chưa phát đến người nhận hoặc người được người nhận uỷ quyền nhận thay, trừ những trường hợp sau:
- Vi phạm pháp luật bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền có lệnh tịch thu;
- Bưu phẩm, bưu kiện có nội dung gây ô nhiễm hoặc vật phẩm, hàng hoá bị huỷ hoại do đặc tính tự nhiên mà doanh nghiệp buộc phải tiêu huỷ.
Trong các trường hợp này cơ sở cung cấp dịch vụ phải báo cho người gửi biết và gửi kèm biên bản xử lý để người gửi ký vào biên bản. 1.4. Để bảo đảm bí mật và an toàn bưu phẩm, bưu kiện cho người sử dụng, bưu phẩm và bưu kiện chỉ được mở trong các trường hợp sau đây:
- Được một Hội đồng quy định tại Thông tư liên Bộ Tài chính và Bưu điện số 227/LB GTVTBĐ-TC ngày 31/8/1992 xác định là bưu phẩm, bưu kiện vô thừa nhận;
- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có căn cứ để xác định trong bưu phẩm, bưu kiện có vật phẩm, hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm xuất khẩu, nhập khẩu;
- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền khám xét theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Vỏ bọc bưu phẩm, bưu kiện bị rách làm rơi nội dung bên trong, bưu cục phát hiện xử lý gói bọc lại;
- Bưu phẩm, bưu kiện gửi ra nước ngoài và từ nước ngoài gửi vào Việt Nam có vật phẩm, hàng hoá phải qua kiểm tra hải quan để làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu.
Việc mở bưu phẩm, bưu kiện ở những trường hợp đã nêu trên phải thực hiện theo đúng trình tự thủ tục được pháp luật quy định.
II. MẠNG LƯỚI BƯU CHÍNH CÔNG CỘNG
2.1. Mạng lưới bưu chính công cộng bao gồm các trung tâm kỹ thuật, khai thác, vận chuyển và điều hành bưu chính; các tuyến đường thư; hệ thống bưu cục; các điểm phục vụ; các đại lý và thùng thư đặt tại các nơi công cộng được doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính thiết lập để cung cấp dịch vụ bưu chính trong phạm vi cả nước.
2.2. Trung tâm.
Tuỳ theo quy mô hoạt động mà doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính có thể xây dựng các trung tâm kỹ thuật, vận chuyển và điều hành bưu chính để bảo đảm khai thác các dịch vụ bưu chính đáp ứng nhu cầu của người sử dụng dịch vụ.
2.2.1. Trung tâm kỹ thuật là trung tâm khai thác, xử lý nghiệp vụ đối với các dịch vụ bưu chính.
2.2.2. Trung tâm vận chuyển là trung tâm chuyên tổ chức vận chuyển bưu phẩm, bưu kiện, báo chí, hàng hoá tới các trung tâm khác hoặc các bưu cục trong một vùng hoặc trong cả nước.
2.2.3. Trung tâm điều hành là trung tâm chỉ đạo việc khai thác hoặc vận chuyển nhằm bảo đảm sự hoạt động đều đặn, thống nhất của mạng lưới bưu chính công cộng.
2.3. Bưu cục.
Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính có thể tổ chức riêng các loại bưu cục giao dịch, bưu cục khai thác hoặc bưu cục phát hoặc có thể tổ chức một bưu cục nhưng thực hiện cả công việc nhận gửi, khai thác và phát bưu phẩm, bưu kiện, báo chí, ngân phiếu chuyển tiền, hàng hoá. Bưu cục được xây dựng tại các khu dân cư, nơi công cộng, cảng hàng không, cảng biển, các đầu mối giao thông nhằm thuận tiện cho người sử dụng dịch vụ và giao nhận các chuyến thư.
Các bưu cục phải thực hiện việc treo biển, số hiệu bưu cục, số điện thoại giao dịch.
2.3.1. Bưu cục giao dịch là bưu cục được tổ chức để nhận gửi và phát bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền, báo chí hoặc hàng hoá cho người sử dụng dịch vụ.
Tại các Bưu cục giao dịch phải niêm yết giờ mở cửa phục vụ; bảng cước và các hướng dẫn sử dụng dịch vụ.
2.3.2. Bưu cục khai thác là bưu cục chuyên việc chia chọn, phân hướng bưu phẩm, bưu kiện, báo chí hoặc hàng hoá để gửi tới các trung tâm hoặc các bưu cục khác.
2.3.3. Bưu cục phát là bưu cục chỉ tổ chức việc phát bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền, báo chí hoặc hàng hoá tới người nhận.
2.3.4. Ngoài ra doanh nghiệp có thể tổ chức các điểm phục vụ khác như: Bưu cục lưu động, kiot để phục vụ người sử dụng dịch vụ.
2.3.5. Đối với việc cung cấp dịch vụ bưu chính quốc tế, ngoài các loại bưu cục trên, còn có Bưu cục ngoại dịch, bưu cục kiểm quan, địa điểm kiểm tra hải quan và bưu cục cửa khẩu.
2.3.6. Bưu cục ngoại dịch là bưu cục có trao đổi chuyến thư với bưu chính nước ngoài, đồng thời cũng là nơi làm thủ tục hải quan đối với vật phẩm hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu gửi qua mạng lưới bưu chính công cộng. Bưu cục ngoại dịch được đặt tại nơi có điều kiện thuận lợi trong việc giao nhận chuyến thư quốc tế.
2.3.7. Bưu cục kiểm quan là bưu cục chỉ làm thủ tục hải quan đối với vật phẩm, hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu gửi qua mạng lưới bưu chính công cộng, đồng thời tổ chức việc nhận gửi và phát bưu phẩm, bưu kiện quốc tế. Bưu cục Kiểm quan được bố trí ở những địa phương có Cục Hải quan và địa phương này phải có lưu lượng bưu phẩm, bưu kiện quốc tế nhiều, thường xuyên.
2.3.8. Bưu cục Cửa khẩu là bưu cục được đặt ở cửa khẩu biên giới để làm nhiệm vụ giao nhận chuyến thư đường bộ quốc tế giữa Việt Nam với nước láng giềng có chung biên giới, đồng thời làm thủ tục nhận gửi và phát bưu phẩm bưu kiện quốc tế.
2.3.9. Địa điểm kiểm tra hải quan là nơi làm thủ tục hải quan đối với vật phẩm, hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu gửi qua doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính làm dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế.
2.4. Đại lý là tổ chức, cá nhân Việt Nam đại diện cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính để cung cấp dịch vụ cho người sử dụng trên cơ sở nguyên giá và được hưởng hoa hồng đại lý.
2.4.1. Đại lý cung cấp dịch vụ bưu chính gồm các loại sau:
- Đại lý Bưu cục;
- Đại lý phát hành báo chí;
- Đại lý tem chơi.
2.4.2. Tổng cục Bưu điện ban hành Quy chế Đại lý bưu chính viễn thông để quy định điều kiện, thủ tục, nghĩa vụ và quyền hạn của đại lý.
2.5. Các tuyến đường thư là các tuyến đường mà trên đó các chuyến thư bao gồm các túi gói, công-te-nơ đựng bưu phẩm, bưu kiện, báo chí được doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính vận chuyển từ trung tâm hoặc bưu cục gửi đến trung tâm hoặc bưu cục nhận một cách đều đặn, thường xuyên. Giờ khởi hành và giờ đến của các chuyến thư phải được ấn định trước.
2.6. Thùng thư là nơi gửi thư được đặt tại các nơi công cộng để thuận tiện cho người sử dụng.
2.7. Giờ mở cửa phục vụ.
Giờ mở cửa phục vụ tại các Bưu cục giao dịch ít nhất phải là 8 giờ trong một ngày kể cả ngày lễ và chủ nhật. Tuỳ điều kiện tại mỗi địa phương mà doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính ấn định giờ mở cửa cụ thể cho mỗi loại bưu cục. Thời gian phục vụ phải được niêm yết tại các điểm phục vụ. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính phải bảo đảm có bộ phận thường trực sau giờ mở cửa của Bưu cục giao dịch để giải quyết các trường hợp khẩn cấp (nhận điện báo, điện thoại ban đêm).
2.8. Tổ chức lực lượng vận chuyển bưu chính chuyên ngành.
2.8.1. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính được tổ chức lực lượng vận tải chuyên ngành. Các phương tiện vận tải chuyên ngành được sơn màu thống nhất và có biểu trưng riêng của doanh nghiệp mình. Màu sơn và biểu trưng phải được đăng ký với Cục Sở hữu công nghiệp, Bộ Khoa học công nghệ và môi trường, đồng thời báo cáo với Tổng cục Bưu điện.
2.8.2. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính quy định hành trình giao nhận túi gói bưu phẩm, bưu kiện để bảo đảm chỉ tiêu chất lượng đối với từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp đã đăng ký và công bố với người sử dụng dịch vụ.
2.8.3. Trong trường hợp khẩn cấp về an ninh quốc gia hoặc khi có thiên tai, địch hoạ xảy ra, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính phải sử dụng phương tiện vận chuyển của doanh nghiệp mình để vận chuyển các công văn, mệnh lệnh khẩn cấp theo sự trưng dụng của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
2.8.4. Trường hợp phương tiện vận tải vận chuyển túi gói, bưu phẩm, bưu kiện, báo chí bị tai nạn hoặc hư hỏng trên đường, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính phải tìm mọi cách giải quyết những hậu quả do tai nạn gây ra:
- Lưu thoát kịp thời túi gói bưu phẩm, bưu kiện;
- Phối hợp với chính quyền sở tại nơi xảy ra sự việc, trong trường hợp cần thiết, để bảo vệ các túi, gói, bưu phẩm, bưu kiện, báo chí.
2.8.5. Nếu túi gói bưu phẩm, bưu kiện, báo chí, hàng hoá bị hư hỏng, mất mát thuộc vào trường hợp bất khả kháng thì doanh nghiệp phải có xác nhận của chính quyền sở tại nơi xảy ra sự việc.
2.9. Kiểm tra khám xét túi gói bưu phẩm, bưu kiện trên đường vận chuyển.
2.9.1. Cấm khám xét túi gói bưu phẩm, bưu kiện trên đường vận chuyển. Nếu có căn cứ trong bưu phẩm, bưu kiện có hàng hoá vi phạm pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được tiến hành kiểm tra, khám xét tại bưu cục gốc hoặc bưu cục phát, trừ trường hợp khẩn cấp về an ninh quốc gia thì đưa về bưu cục gần nhất để giải quyết.
2.9.2. Thẩm quyền, thủ tục khám xét được quy định trong Thông tư liên tịch giữa Tổng cục Bưu điện, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), Bộ Tài chính và Bộ Thương mại số 05/TTLT ngày 26/7/1997 "Hướng dẫn việc kiểm tra và xử lý vi phạm đối với hàng hoá kinh doanh gửi qua đường bưu điện trong nước".
2.9.3. Đối với bưu phẩm, bưu kiện có hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu gửi từ Việt Nam đi nước ngoài và từ nước ngoài vào Việt Nam thực hiện theo Thông tư liên tịch giữa Tổng cục Hải quan và Tổng cục Bưu điện số 06/TTHQ-BĐ ngày 20/6/1995.
III. DỊCH VỤ BƯU CHÍNH
A. CÁC LOẠI DỊCH VỤ BƯU CHÍNH
3.1. Dịch vụ bưu chính là dịch vụ tổ chức nhận gửi, chuyển và phát thư, vật phẩm, hàng hoá, báo chí và tiền thông qua mạng lưới bưu chính công cộng.
3.2. Dịch vụ bưu chính bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ khác.
3.2.1. Dịch vụ cơ bản là dịch vụ bưu chính truyền thống mà doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính đã cung cấp một cách có hệ thống ở trong nước hoặc với nước ngoài theo quy định của Tổ chức liên minh bưu chính thế giới (UPU). Dịch vụ cơ bản bao gồm:
- Dịch vụ bưu phẩm;
- Dịch vụ bưu kiện đến 31,5kg;
- Dịch vụ phát hành báo chí và ấn phẩm định kỳ;
- Dịch vụ chuyển tiền.
3.2.2. Dịch vụ khác là dịch vụ bưu chính được phát triển thêm và cung cấp dựa trên mạng lưới bưu chính công cộng sẵn có của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính. Dịch vụ khác bao gồm (nhưng không hạn chế bởi) các loại dịch vụ sau:
- Dịch vụ kinh doanh tem chơi;
- Dịch vụ chuyển phát nhanh;
- Dịch vụ bưu phẩm không địa chỉ;
- Dịch vụ bưu chính uỷ thác;
- Dịch vụ bưu kiện nặng (có khối lượng trên 31,5kg);
- Các loại dịch vụ kết hợp giữa bưu chính và viễn thông được cung cấp trên cơ sở có công đoạn phải sử dụng đến mạng lưới bưu chính như: dịch vụ điện hoa, thư tín điện tử, dữ liệu bưu chính (datapost);
- Các loại dịch vụ khác về tài chính bưu chính được quy định tại điểm 3.8.2.
3.3. Quy định cung cấp và sử dụng dịch vụ bưu chính.
3.3.1. Việc cung cấp và sử dụng dịch vụ bưu chính được quy định chi tiết trong các Thể lệ dịch vụ.
3.3.2. Căn cứ vào các Thể lệ dịch vụ, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính ban hành quy trình khai thác đối với từng loại dịch vụ được phép cung cấp.
B. DỊCH VỤ BƯU PHẨM, BƯU KIỆN
3.4. Bưu phẩm bao gồm thư, bưu thiếp, ấn phẩm, học phẩm người mù và gói nhỏ.
3.4.1. Thư là bản chữ viết hoặc in mang nội dung thông tin riêng hiện thời giữa người gửi và người nhận. Thư được bỏ vào phong bì hoặc gói được dán kín và được bảo đảm bí mật. Thư có khối lượng tối đa là 2 kilogam. Trong thư không được đựng vật phẩm, hàng hoá.
3.4.2. Bưu thiếp được làm bằng bìa hoặc thứ giấy có đủ độ dai bền thuận tiện cho việc khai thác. Bưu thiếp có thể gửi ngoài hoặc bỏ trong phong bì nhưng không được dán kín.
3.4.3. ấn phẩm là các bản chữ viết, bản in trên giấy hoặc trên những vật liệu thường dùng cho ấn loát và được in hoặc sao chụp thành nhiều bản giống nhau. ấn phẩm có khối lượng tối đa là 5 kilogam.
3.4.4. Học phẩm người mù là thư in chữ nổi gửi ngỏ hoặc những bản in chữ nổi dành cho người mù. Băng, đĩa ghi âm dành cho người mù cũng được coi là học phẩm người mù nếu băng, đĩa đó do trường dành riêng cho người mù gửi đi hoặc gửi cho các trường đó. Khối lượng tối đa của học phẩm người mù là 7 kilogam.
3.4.5. Gói nhỏ là bưu phẩm có chứa vật phẩm, hàng hoá. Gói nhỏ có khối lượng tối đa là 2 kilogam.
3.5. Bưu kiện là kiện hàng hoá, vật phẩm gửi qua mạng lưới bưu chính công cộng. Hàng hoá gửi trong bưu kiện để kinh doanh phải có đầy đủ chứng từ liên quan theo quy định của Bộ Tài chính để chứng minh nguồn gốc hàng hoá là hợp pháp.
3.6. Chỉ có doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính được Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện cấp phép mới được cung cấp dịch vụ thư. Nghiêm cấm các tổ chức, cá nhân khác làm dịch vụ nhận gửi, vận chuyển và phát thư kể cả trong nước hoặc với nước ngoài. Hiện nay, chỉ Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam là doanh nghiệp được cung cấp dịch vụ thư.
3.7. Túi thư ngoại giao gửi qua mạng lưới của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính được thực hiện theo Công ước Viên năm 1961 về ngoại giao, năm 1963 về lãnh sự và Pháp lệnh về quyền ưu đãi miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao cơ quan lãnh sự và đại diện của tổ chức quốc tế được Chủ tịch nước ban hành Lệnh số 25L/CTN ngày 7/9/1993.
C. DỊCH VỤ TÀI CHÍNH BƯU CHÍNH
3.8. Dịch vụ tài chính bưu chính là dịch vụ tài chính được cung cấp thông qua mạng lưới bưu chính công cộng.
Dịch vụ tài chính bưu chính được phân thành hai loại sau:
3.8.1. Dịch vụ chuyển tiền bao gồm (nhưng không hạn chế bởi) các loại dịch vụ:
- Thư chuyển tiền;
- Điện chuyển tiền;
- Chuyển tiền theo danh sách;
- Chuyển tiền nhanh.
3.8.2. Dịch vụ khác bao gồm (nhưng không hạn chế bởi) các loại dịch vụ sau:
- Hối phiếu bưu chính;
- Séc bưu chính;
- Séc du lịch bưu chính;
- Phát hàng thu tiền (lĩnh hoá giao ngân);
- Chuyển khoản;
- Thanh toán qua bưu chính (thanh toán qua tài khoản cá nhân - giro);
- Thu và trả tiền: Thu tiền cước dịch vụ viễn thông, tiền nước, tiền điện, tiền nhà, trả lương hưu trí;
- Tiết kiệm bưu chính.
IV. TEM BƯU CHÍNH
4.1. Tem bưu chính là ấn phẩm đặc biệt dùng làm phương tiện thanh toán cước phí bưu phẩm, đồng thời được dùng làm tem chơi.
Sản phẩm của tem bưu chính gồm có: bloc tem, phong bì in sẵn tem, bưu thiếp có in sẵn tem v.v...
4.2. Tổng cục Bưu điện là cơ quan duy nhất phát hành tem bưu chính; quy định thời hạn tem bưu chính có giá trị thanh toán cước phí; đình chỉ phát hành, thu hồi, tiêu huỷ tem bưu chính.
4.3. Tem bưu chính Việt Nam được phát hành theo "Tiêu chuẩn Việt Nam", mã số TCVN 6055:1995 do Tổng cục Bưu điện ban hành kèm theo Quyết định số 130/QĐ-KHCN ngày 26/3/1996.
4.4. Chương trình đề tài tem bưu chính.
4.4.1. Chương trình đề tài tem phải xác định rõ tên đề tài của mỗi bộ tem, số lượng mẫu, ngày và hình thức phát hành.
4.4.2. Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam xây dựng chương trình đề tài phát hành tem cho từng năm và dự kiến cho 5 năm. Đối với đề tài tem kỷ niệm khi xây dựng phải có thoả thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
4.4.3. Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện phê duyệt chương trình đề tài tem bưu chính.
4.5. Duyệt mẫu thiết kế tem.
4.5.1. Tổng cục Bưu điện duyệt mẫu thiết kế tem trên cơ sở chương trình đề tài tem bưu chính hàng năm.
Tổng cục Bưu điện quyết định những đề tài và mẫu thiết kế tem bưu chính bổ sung.
4.5.2. Mẫu thiết kế tem phải được Hội đồng Tư vấn do Tổng cục Bưu điện thành lập thẩm định.
Thành phần Hội đồng tư vấn này gồm đại diện của các cơ quan sau: Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương (đối với tem kỷ niệm), Tổng cục Bưu điện, Hội Mỹ thuật Việt Nam, Hội Tem Việt Nam, Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam và các nhà chuyên môn có liên quan đến mẫu tem. Hội đồng tư vấn có trách nhiệm lập biên bản thẩm định mẫu thiết kế tem.
4.5.3. Thời gian nộp mẫu thiết kế tem.
Mẫu thiết kế tem trình Tổng cục trưởng ký duyệt phải được gửi trước ngày phát hành đầu tiên như sau:
- 5 tháng đối với các bộ tem in tại xí nghiệp in tem Bưu điện;
- 8 tháng đối với những bộ tem in tại các xí nghiệp in khác trong nước;
- 11 tháng đối với những bộ tem in ở nước ngoài.
4.5.4. Hồ sơ trình duyệt mẫu thiết kế tem gồm có:
- Mẫu thiết kế tem đã được sửa theo ý kiến của Hội đồng tư vấn;
- Biên bản thẩm định của Hội đồng tư vấn;
- Các tư liệu chính thức dùng để thiết kế mẫu tem;
- Kích thước, chỉ thị mầu sắc chi tiết của mẫu thiết kế;
- ý kiến của cơ quan chuyên môn có liên quan đối với mẫu thiết kế tem;
- Đề nghị của Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam và bản dự thảo quyết định in và phát hành tem.
4.5.5. Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện phê duyệt mẫu thiết kế tem và ra quyết định in và phát hành mẫu tem được duyệt trong vòng 14 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ theo đúng quy định tại điểm 4.5.4.
4.6. In tem.
4.6.1. Số lượng tem in phải đúng theo quyết định của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện.
4.6.2. Trường hợp số lượng tem in sai lệch với số lượng tem ghi trong quyết định, cơ quan đặt in phải báo cáo để Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện thành lập Hội đồng xử lý.
4.6.3. Tem được in tại Xí nghiệp In tem Bưu điện. Trường hợp cần thiết phải in ở nơi khác hoặc ở nước ngoài phải được phép của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện.
4.7. Phát hành tem bưu chính.
4.7.1. Sau khi tem đã được in, Tổng cục Bưu điện ra thông báo phát hành tem mới. Kể từ thời điểm ghi trong thông báo, tem phát hành mới có giá trị sử dụng.
4.7.2. Mỗi bộ tem có một mã số riêng. Việc đánh mã số thực hiện theo Quyết định 376/CSBĐ ngày 30/6/1997 của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện.
4.7.3. Đối với tem kỷ niệm có tổ chức ngày phát hành đặc biệt, có phong bì "Ngày phát hành đầu tiên" và dấu kỷ niệm.
4.7.4. Trình tự và thủ tục phát hành tem bưu chính được Tổng cục Bưu điện quy định trong một văn bản riêng.
4.8. Giá bán tem bưu chính.
4.8.1. Giá bán tem bưu chính để thanh toán cước phí bưu phẩm là giá in trên con tem và được gọi là giá mặt của con tem.
Giá bán tem chơi do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính quy định.
4.8.2. Trong trường hợp cần thu thêm tiền để ủng hộ quỹ xã hội vì lý do nhân đạo phải được phép của Thủ tướng Chính phủ mới được phát hành tem có phụ thu. Số tiền phụ thu phải được in trên con tem. Tem phụ thu chỉ phát hành 5 năm một lần. Thời gian có giá trị thanh toán cước phí đối với tem phụ thu không quá 6 tháng.
4.8.3. Tổng cục Bưu điện ban hành Thể lệ đối với việc kinh doanh tem chơi. Trong lúc Thể lệ chưa ban hành, mọi tổ chức, cá nhân muốn kinh doanh tem chơi dưới bất kỳ hình thức nào đều phải đăng ký làm đại lý với công ty Tem Việt Nam.
4.9. Xuất khẩu, nhập khẩu tem bưu chính.
4.9.1. Tổ chức, cá nhân muốn xin xuất khẩu, nhập khẩu tem bưu chính phải có ý kiến thoả thuận của Tổng cục Bưu điện.
4.9.2. Tem nhập khẩu phải là những loại tem không có nội dung độc hại, không trái với thuần phong mỹ tục và phù hợp với luật pháp Việt Nam.
4.9.3. Tem xuất khẩu, nhập khẩu với số lượng trên 5 bộ hoặc trên 40 con tem lẻ bộ mới phải xin thoả thuận.
4.9.4. Tổng cục Bưu điện cấp thoả thuận xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất hoặc tạm xuất tái nhập tem cho các tổ chức, cá nhân sau:
- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính;
- Hội Tem Việt Nam;
- Các đối tượng có số lượng mẫu tem lớn hơn 50 mẫu.
4.9.5. Các Cục quản lý Bưu điện khu vực cấp thoả thuận xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất và tạm xuất tái nhập tem bưu chính cho các tổ chức và cá nhân trên địa bàn do Cục phụ trách với số lượng không vượt quá 50 mẫu tem.
4.9.6. Địa chỉ tiếp nhận và giải quyết cấp thoả thuận:
- Tổng cục Bưu điện, 18 Nguyễn Du, Hà Nội.
- Cục Bưu điện Khu vực II, 27 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quận 1. thành phố Hồ Chí Minh.
- Cục Bưu điện Khu vực III, 30 Trần Quốc Toản, Đà Nẵng.
4.10. Bảo vệ và lưu trữ tem bưu chính.
4.10.1. Việc tổ chức huỷ các chế bản, bảo quản và lưu trữ mẫu thiết kế tem thực hiện theo quy chế "In và phát hành tem bưu chính" do Tổng cục Bưu điện ban hành.
4.10.2. Kho tem lưu trữ là tài sản quốc gia được giao cho Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam quản lý. Kho tem lưu trữ phải được bảo quản theo quy định của pháp luật.
Số lượng lưu trữ được quy định như sau:
- Mỗi mẫu tem lưu trữ 300 con;
- Mỗi mẫu bloc tem lưu trữ 30 bloc;
- Mỗi sản phẩm tem như bưu ảnh tem, phong bì in sẵn tem, bưu thiếp in sẵn tem, maximum card... lưu trữ 10 chiếc.
V. CẤP PHÉP DỊCH VỤ BƯU CHÍNH
5.1. Tổng cục Bưu điện là cơ quan cấp các loại giấy phép về cung cấp dịch vụ bưu chính:
- Thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ bưu chính;
- Làm đại lý cho các công ty chuyển phát nhanh nước ngoài;
- Hành nghề in tem bưu chính.
5.2. Điều kiện xin cấp phép.
Doanh nghiệp muốn xin cấp phép cung cấp dịch vụ bưu chính phải có đủ các điều kiện sau:
- Là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính được Thủ tướng Chính phủ thành lập, cho phép thành lập hoặc doanh nghiệp khác được Thủ tướng Chính phủ cho bổ sung ngành nghề cung cấp dịch vụ bưu chính;
- Được cơ quan chủ quản ra quyết định thành lập;
- Có đăng ký kinh doanh theo quy định của Bộ kế hoạch và Đầu tư;
- Có Điều lệ tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp;
- Có đầy đủ cơ sở vật chất để tổ chức mạng lưới cung cấp dịch vụ; - Có đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân khai thác phù hợp với trình độ công nghệ và quy mô hoạt động của doanh nghiệp.
5.3. Thủ tục xin cấp phép.
5.3.1. Hồ sơ xin cấp phép bao gồm:
- Đơn xin cấp phép cung cấp dịch vụ;
- Quyết định thành lập hoặc quyết định cho phép thành lập doanh nghiệp của Thủ tướng Chính phủ và đăng ký kinh doanh;
- Đề án xin cung cấp dịch vụ;
- Nếu là xin làm đại lý chuyển phát nhanh với các công ty nước ngoài phải có bản hợp đồng ký với đối tác; các tài liệu chứng minh tư cách pháp nhân của đối tác nước ngoài; văn bản giải trình về cơ sở vật chất để thực hiện hợp đồng, kế hoạch triển khai của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính muốn xin làm đại lý.
5.3.2. Thời hạn giải quyết cấp phép.
Tổng cục Bưu điện tiến hành thẩm định và cấp phép trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ. Nếu có những vấn đề mới phát sinh cần phải thẩm tra lại thì thời hạn trên có thể kéo dài thêm nhưng không được quá 60 ngày. Trường hợp không cấp phép Tổng cục Bưu điện sẽ thông báo rõ lý do bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ xin cấp phép hợp lệ.
5.3.3. Địa chỉ tiếp nhận hồ sơ cấp phép.
- Tổng cục Bưu điện, 18 Nguyễn Du, Hà Nội.
5.3.4. Thời hạn của giấy phép.
Tuỳ vào quy mô và phạm vi cung cấp dịch vụ, thời hạn của giấy phép sẽ được quy định cụ thể nhưng không quá:
- 20 năm đối với thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ bưu chính;
- 5 năm đối với đại lý chuyển phát nhanh quốc tế;
- 20 năm đối với hành nghề in tem bưu chính.
Hết thời hạn trên, nếu doanh nghiệp muốn tiếp tục hoạt động thì phải xin gia hạn. Thủ tục xin gia hạn như xin cấp phép lần đầu.
5.4. Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện có thể đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép nếu sau một năm tính từ thời điểm cấp phép nhưng doanh nghiệp vẫn chưa triển khai được các hoạt động quy định trong giấy phép mà không có lý do xác đáng.
5.5. Tổng cục Bưu điện cấp phép trên cơ sở cho phép của Thủ tướng Chính phủ và thoả thuận của các ngành hữu quan, đối với một số loại dịch vụ có liên quan đến quản lý nhà nước của các Bộ, ngành khác.
5.6. Doanh nghiệp xin cấp phép cung cấp dịch vụ phải nộp lệ phí theo quy định của Bộ Tài chính.
5.7. Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện ra quyết định:
- Đóng, mở các tuyến đường thư quốc tế;
- Đóng, mở Bưu cục ngoại dịch, Bưu cục Kiểm quan, Bưu cục Cửa khẩu và địa điểm kiểm tra hải quan.
Doanh nghiệp có nhu cầu mở Bưu cục ngoại dịch, Bưu cục Kiểm quan, Bưu cục Cửa khẩu hay địa điểm kiểm tra hải quan ở địa phương nào, khi xin phép Tổng cục Bưu điện phải kèm theo bảng thống kê lưu lượng bưu phẩm, bưu kiện xuất nhập khẩu hai năm gần nhất và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Tổng cục Bưu điện nhận được hồ sơ sẽ ra quyết định thành lập Bưu cục ngoại dịch, Bưu cục Kiểm quan, địa điểm kiểm tra hải quan hoặc Bưu cục Cửa khẩu sau khi thoả thuận với Tổng cục Hải quan.
5.8. Thử nghiệm mạng và dịch vụ.
5.8.1. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính muốn thử nghiệm mạng và dịch vụ phải xin phép Tổng cục Bưu điện. Căn cứ vào phương án trình bày, Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện sẽ xem xét và quyết định cho phép doanh nghiệp được thử nghiệm mạng và dịch vụ đó.
5.8.2. Trong quá trình thử nghiệm, trong hợp đồng với người sử dụng, doanh nghiệp phải xác định rõ là dịch vụ đang thử nghiệm để sau khi thời hạn thử nghiệm chấm dứt mà dự án thử nghiệm không được đưa vào khai thác chính thức thì không ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng.
5.8.2. Hết thời hạn thử nghiệm, doanh nghiệp phải có báo cáo kết quả thử nghiệm. Nếu dịch vụ có khả năng phát triển, theo đề nghị của doanh nghiệp, Tổng cục Bưu điện sẽ có quyết định cho phép doanh nghiệp được cung cấp dịch vụ chính thức.
5.9. Mở dịch vụ mới.
5.9.1. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính muốn mở dịch vụ mới phải gửi hồ sơ xin phép Tổng cục Bưu điện. Căn cứ vào đề nghị của doanh nghiệp và phương án triển khi thực hiện, Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quyết định cho phép doanh nghiệp được cung cấp dịch vụ đó.
5.9.2. Hồ sơ xin mở dịch vụ mới gồm có quy trình khai thác dịch vụ, phương án về cước phí, phương án triển khai.
5.10. Doanh nghiệp, tổ chức không phải là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính muốn xin làm dịch vụ chuyển phát nhanh chứng từ, tài liệu, vật phẩm, hàng hoá có khối lượng dưới 31,5kg phải có ý kiến thoả thuận của Tổng cục Bưu điện trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xin phép.
VI. KHIẾU NẠI VÀ BỒI THƯỜNG
6.1. Khiếu nại về chất lượng dịch vụ.
6.1.1. Thời hiệu khiếu nại được quy định như sau:
- Đối với dịch vụ bưu phẩm, bưu kiện, chuyển tiền trong nước và quốc tế là 12 tháng, kể từ ngày sau ngày ký gửi;
- Đối với dịch vụ chuyển phát nhanh là 4 tháng, kể từ sau ngày kết thúc chỉ tiêu thời gian toàn trình đã công bố;
- Các khiếu nại sẽ không được giải quyết sau khi hết thời hiệu khiếu nại, trừ trường hợp đối với cán bộ, chiến sĩ thuộc các lực lượng vũ trang đang làm nhiệm vụ tại các vùng biên giới, hải đảo nhưng chỉ được kéo dài thêm 3 tháng so với thời hiệu quy định đối với dịch vụ trong nước.
6.1.2. Việc giải quyết khiếu nại được quy định như sau:
- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính tổ chức việc tiếp nhận khiếu nại của người sử dụng dịch vụ tại các bưu cục giao dịch;
- Trong trường hợp khiếu nại bằng đơn, thư, cơ sở nhận được phải báo nhận bằng văn bản tới người khiếu nại trong thời hạn 48 giờ kể từ khi nhận được khiếu nại;
- Cơ sở tiếp nhận khiếu nại, có trách nhiệm hướng dẫn thủ tục cần thiết cho người khiếu nại.
- Đối với các bài đăng báo, những phản ảnh được đưa lên các đài phát thanh, truyền hình, những đơn, thư do các báo, đài và các cơ quan nhà nước gửi đến phản ảnh về việc cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ liên quan có trách nhiệm báo nhận khiếu nại với nơi gửi và trả lời người khiếu nại;
- Người khiếu nại phải cung cấp giấy tờ, chứng cứ liên quan đến việc khiếu nại và chịu trách nhiệm về nội dung khiếu nại của mình.
- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính thông báo kết quả giải quyết khiếu nại cho người khiếu nại biết.
6.1.3. Thời gian giải quyết kể từ khi nhận được khiếu nại được quy định như sau:
- 2 tháng, đối với bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền trong nước;
- 3 tháng, đối với bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền quốc tế.
Hết thời hạn trên mà vẫn chưa điều tra xong, doanh nghiệp giải quyết bồi dưỡng cho người có quyền hưởng theo quy định tại điểm 6.3 mục VI của Thông tư này.
6.2. Các loại dịch vụ được bồi thường:
Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra đối với các loại sau:
- Bưu phẩm ghi số;
- Túi M (túi chứa báo chí, sách vở, ấn phẩm gửi cho cùng một người nhận ở một địa chỉ);
- Bưu phẩm, bưu kiện khai giá;
- Bưu kiện các loại;
- Bưu phẩm, bưu kiện chuyển phát nhanh các loại;
- Phiếu chuyển tiền các loại.
6.3. Nguyên tắc bồi thường.
6.3.1. Chỉ bồi thường bằng tiền Việt Nam.
6.3.2. Bưu phẩm A (bưu phẩm có chứng nhận gửi) bị mất được hoàn loại cước phí đã thu.
6.3.3. Đối với bưu phẩm ghi số việc bồi thường được thực hiện theo loại bưu phẩm. Bưu phẩm ghi số gửi trong nước bị mất hoặc bị hư hỏng toàn bộ được hoàn lại cước đã thu.
6.3.4. Đối với bưu kiện từ 31,5 kg trở xuống, việc bồi thường được thực hiện theo nấc khối lượng và được hoàn lại cước đã thu nếu bị mất hoặc bị hư hỏng toàn bộ.
6.3.5. Đối với bưu phẩm, bưu kiện khai giá, việc bồi thường được thực hiện theo giá mà người gửi đã khai khi gửi bưu phẩm, bưu kiện đó và được hoàn lại cước chính đã thu nếu bị mất hoặc bị hư hỏng toàn bộ.
6.3.6. Đối với dịch vụ chuyển phát nhanh (EMS), được bồi thường tương ứng như đối với bưu phẩm, bưu kiện cùng loại, cùng nấc khối lượng và được hoàn lại cước đã thu. Nếu bị chậm so với chỉ tiêu thời gian toàn trình đã công bố, được hoàn lại cước đã thu.
6.3.7. Đối với dịch vụ bưu kiện nặng trên 31,5 kg, các loại dịch vụ vận chuyển hàng hoá như uỷ thác bưu chính, giao nhận kho vận, việc bồi thường được thực hiện theo các thoả thuận trong hợp đồng giao kết giữa doanh nghiệp và khách hàng hoặc bồi thường theo quy định của pháp luật về vận tải hàng hoá.
6.3.8. Đối với các dịch vụ tài chính bưu chính, doanh nghiệp hoàn lại tiền gửi, cước và trả lãi theo quy định tại khoản 2, Điều 313 của Bộ luật dân sự.
6.3.9. Tiền bồi thường được trả cho người gửi hoặc người được người gửi uỷ quyền nhận. Trường hợp người nhận đồng ý nhận bưu phẩm ghi số, khai giá, bưu kiện bị suy suyển hư hỏng thì người nhận được quyền nhận bồi thường. Sau khi đã bồi thường, nếu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính xác minh bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền đó đã được phát hợp lệ hoặc bị hư hỏng, chậm trễ, phát nhầm do lỗi của người gửi thì người đã được nhận bồi thường phải hoàn lại số tiền bồi thường mà mình đã nhận.
6.3.10. Đối với dịch vụ bưu phẩm, bưu kiện từ Việt Nam gửi ra nước ngoài và từ nước ngoài gửi đến Việt Nam, việc bồi thường được thực hiện theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia và ký kết. Tuỳ trường hợp, doanh nghiệp hoàn lại cước phí đã thu và bồi thường tiền thuế đã nộp tại Việt Nam (nếu có) cho người gửi hoặc người được người gửi uỷ quyền nhận. Riêng đối với bưu phẩm ghi số không hoàn lại cước đã thu.
6.4. Tổng cục Bưu điện quy định mức bồi thường.
6.5. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không phải bồi thường trong các trường hợp sau:
- Bưu phẩm thường;
- Trường hợp bất khả kháng; vì thiên tai địch hoạ hoặc những tình huống bất ngờ vượt quá khả năng khắc phục của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ;
- Bị hư hỏng hay phát nhầm do lỗi của người gửi;
- Vật phẩm hàng hoá bị huỷ hoại do đặc tính tự nhiện;
- Bưu phẩm, bưu kiện có vật phẩm hàng hoá bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tịch thu hoặc bị tiêu huỷ theo quy định của pháp luật;
- Bưu phẩm, bưu kiện gửi ra nước ngoài bị thu giữ theo luật lệ nước nhận.
- Bưu phẩm, bưu kiện gửi khai giá mà người gửi đã khai vượt quá giá trị thực tế của nội dung;
- Bưu phẩm, bưu kiện, phiếu chuyển tiền đã được phát hợp lệ hoặc khi nhận mà người nhận không khiếu nại.
- Những thiệt hại gián tiếp hoặc những nguồn lợi không thực hiện được do việc mất mát, suy suyển hư hỏng bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền gây nên.
6.6. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính không chịu trách nhiệm về việc khai hải quan của người sử dụng dịch vụ đối với bưu phẩm, bưu kiện gửi ra nước ngoài hoặc gửi từ nước ngoài đến Việt Nam và những quyết định xử lý của Hải quan hoặc của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác khi làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu.
VII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
7.1. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày ký. Mọi quy định trước đây trái với Thông tư này đều bị bãi bỏ.
7.2. Trong quá trình thực hiện Thông tư nếu có vướng mắc, đề nghị phản ảnh kịp thời về Tổng cục Bưu điện để hướng dẫn hoặc xem xét bổ sung hay sửa đổi.

thuộc tính Thông tư 02/1998/TT-TCBĐ

Thông tư 02/1998/TT-TCBĐ của Tổng cục Bưu điện về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định 109/1997/NĐ-CP của Chính phủ về mạng lưới và dịch vụ bưu chính
Cơ quan ban hành: Tổng cục Bưu điệnSố công báo:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Số công báo. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Số hiệu:02/1998/TT-TCBĐNgày đăng công báo:Đang cập nhật
Loại văn bản:Thông tưNgười ký:Mai Liêm Trực
Ngày ban hành:20/06/1998Ngày hết hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Ngày hết hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Áp dụng:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản để xem Ngày áp dụng. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Tình trạng hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Lĩnh vực:Lĩnh vực khác
TÓM TẮT VĂN BẢN

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

tải Thông tư 02/1998/TT-TCBĐ

Tình trạng hiệu lực: Đã biết

THÔNG TƯ

CỦA TỔNG CỤC BƯU ĐIỆN SỐ 02/1998/TT-TCBĐ
NGÀY 20 THÁNG 6 NĂM 1998 HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH 109/1997/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ VỀ MẠNG LƯỚI VÀ
DỊCH VỤ BƯU CHÍNH

 

Ngày 12/11/1997, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/1997/NĐ-CP về bưu chính viễn thông, Tổng cục Bưu điện hướng dẫn việc thực hiện các quy định về mạng lưới và dịch vụ bưu chính trong Nghị định này như sau:

 

I. QUY ĐỊNH CHUNG

 

1.1. Thông tư hướng dẫn thực hiện các quy định cung cấp, sử dụng, quản lý mạng lưới và dịch vụ bưu chính đối với doanh nghiệp cung cấp và người sử dụng dịch vụ.

1.2. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính.

1.2.1. Quyền.

- Được tổ chức mạng lưới bưu chính công cộng theo quy định trong giấy phép để cung cấp dịch vụ;

- Được quyền từ chối phục vụ trong những trường hợp người sử dụng dịch vụ vi phạm pháp luật;

- Được hợp tác với nước ngoài theo những nội dung và hình thức do Thủ tướng Chính phủ quyết định và hướng dẫn của Tổng cục Bưu điện để phát triển mạng lưới và dịch vụ.

1.2.2. Nghĩa vụ.

- Tổ chức mạng lưới bưu chính phục vụ trong toàn quốc, kể cả vùng sâu vùng xa theo quy hoạch và kế hoạch phát triển của Nhà nước và bảo đảm mạng lưới bưu chính hoạt động liên tục kể cả ngày lễ và chủ nhật;

- Tổ chức việc cung cấp dịch vụ bảo đảm chất lượng đã công bố và phát triển dịch vụ đáp ứng nhu cầu người sử dụng;

- Bảo đảm bí mật thư tín và an toàn bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền theo quy định của pháp luật. Cán bộ, nhân viên của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính không được lợi dụng nghề nghiệp, chức vụ mà chiếm đoạt, huỷ bỏ, bóc xem, tráo đổi và tiết lộ nội dung bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền hoặc tiết lộ họ tên địa chỉ người gửi, người nhận;

- Xây dựng và đăng ký chỉ tiêu chất lượng của từng loại dịch vụ theo quy định tại Thông tư số 01/1998/TT-TCBĐ ngày 15/5/1998 của Tổng cục Bưu điện;

- Bồi thường thiệt hại theo quy định tại mục VI của Thông tư này cho người có quyền hưởng do lỗi của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ gây nên;

- Phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý những trường hợp vi phạm pháp luật trong việc cung cấp và sử dụng dịch vụ bưu chính;

- Chấp hành đúng các quy định về giá cước của Tổng cục Bưu điện và của Chính phủ (theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về quản lý giá và cước bưu chính, viễn thông số 99/1998/QĐ-TTg ngày 26/5/1998).

- Chịu sự thanh tra, kiểm tra của Tổng cục Bưu điện và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc cung cấp dịch vụ bưu chính.

1.2. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng dịch vụ bưu chính.

1.2.1. Quyền.

- Được quyền sử dụng dịch vụ bưu chính mà doanh nghiệp được phép cung cấp;

- Được bảo đảm bí mật thư tín và an toàn bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền theo quy định của pháp luật;

- Được quyền tự do lựa chọn doanh nghiệp cung cấp;

- Được khiếu nại và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định tại phần VI của Thông tư này;

- Được thay đổi họ tên địa chỉ người nhận hoặc rút bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền khi chưa phát đến người nhận.

1.2.2. Nghĩa vụ.

- Tuân theo quy định của pháp luật trong việc sử dụng dịch vụ. Không được sử dụng dịch vụ bưu chính nhằm mục đích chống lại Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây rối loạn an ninh trật tự và an toàn xã hội; vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục; hoạt động buôn lậu và các vi phạm pháp luật khác;

- Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phục vụ đến địa chỉ;

- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin, vật phẩm, hàng hoá gửi qua mạng lưới bưu chính; kê khai vật phẩm, hàng hoá khớp với phiếu gửi; không được sử dụng tên và địa chỉ của người khác để gửi bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền khi không được sự đồng ý của họ.

- Thanh toán cước phí đối với dịch vụ mà mình đã sử dụng;

1.3. Quyền sở hữu bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền.

Bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền thuộc quyền định đoạt của người gửi khi chưa phát đến người nhận hoặc người được người nhận uỷ quyền nhận thay, trừ những trường hợp sau:

- Vi phạm pháp luật bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền có lệnh tịch thu;

- Bưu phẩm, bưu kiện có nội dung gây ô nhiễm hoặc vật phẩm, hàng hoá bị huỷ hoại do đặc tính tự nhiên mà doanh nghiệp buộc phải tiêu huỷ.

Trong các trường hợp này cơ sở cung cấp dịch vụ phải báo cho người gửi biết và gửi kèm biên bản xử lý để người gửi ký vào biên bản. 1.4. Để bảo đảm bí mật và an toàn bưu phẩm, bưu kiện cho người sử dụng, bưu phẩm và bưu kiện chỉ được mở trong các trường hợp sau đây:

- Được một Hội đồng quy định tại Thông tư liên Bộ Tài chính và Bưu điện số 227/LB GTVTBĐ-TC ngày 31/8/1992 xác định là bưu phẩm, bưu kiện vô thừa nhận;

- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có căn cứ để xác định trong bưu phẩm, bưu kiện có vật phẩm, hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm xuất khẩu, nhập khẩu;

- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền khám xét theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Vỏ bọc bưu phẩm, bưu kiện bị rách làm rơi nội dung bên trong, bưu cục phát hiện xử lý gói bọc lại;

- Bưu phẩm, bưu kiện gửi ra nước ngoài và từ nước ngoài gửi vào Việt Nam có vật phẩm, hàng hoá phải qua kiểm tra hải quan để làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu.

Việc mở bưu phẩm, bưu kiện ở những trường hợp đã nêu trên phải thực hiện theo đúng trình tự thủ tục được pháp luật quy định.

 

II. MẠNG LƯỚI BƯU CHÍNH CÔNG CỘNG

 

2.1. Mạng lưới bưu chính công cộng bao gồm các trung tâm kỹ thuật, khai thác, vận chuyển và điều hành bưu chính; các tuyến đường thư; hệ thống bưu cục; các điểm phục vụ; các đại lý và thùng thư đặt tại các nơi công cộng được doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính thiết lập để cung cấp dịch vụ bưu chính trong phạm vi cả nước.

2.2. Trung tâm.

Tuỳ theo quy mô hoạt động mà doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính có thể xây dựng các trung tâm kỹ thuật, vận chuyển và điều hành bưu chính để bảo đảm khai thác các dịch vụ bưu chính đáp ứng nhu cầu của người sử dụng dịch vụ.

2.2.1. Trung tâm kỹ thuật là trung tâm khai thác, xử lý nghiệp vụ đối với các dịch vụ bưu chính.

2.2.2. Trung tâm vận chuyển là trung tâm chuyên tổ chức vận chuyển bưu phẩm, bưu kiện, báo chí, hàng hoá tới các trung tâm khác hoặc các bưu cục trong một vùng hoặc trong cả nước.

2.2.3. Trung tâm điều hành là trung tâm chỉ đạo việc khai thác hoặc vận chuyển nhằm bảo đảm sự hoạt động đều đặn, thống nhất của mạng lưới bưu chính công cộng.

2.3. Bưu cục.

Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính có thể tổ chức riêng các loại bưu cục giao dịch, bưu cục khai thác hoặc bưu cục phát hoặc có thể tổ chức một bưu cục nhưng thực hiện cả công việc nhận gửi, khai thác và phát bưu phẩm, bưu kiện, báo chí, ngân phiếu chuyển tiền, hàng hoá. Bưu cục được xây dựng tại các khu dân cư, nơi công cộng, cảng hàng không, cảng biển, các đầu mối giao thông nhằm thuận tiện cho người sử dụng dịch vụ và giao nhận các chuyến thư.

Các bưu cục phải thực hiện việc treo biển, số hiệu bưu cục, số điện thoại giao dịch.

2.3.1. Bưu cục giao dịch là bưu cục được tổ chức để nhận gửi và phát bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền, báo chí hoặc hàng hoá cho người sử dụng dịch vụ.

Tại các Bưu cục giao dịch phải niêm yết giờ mở cửa phục vụ; bảng cước và các hướng dẫn sử dụng dịch vụ.

2.3.2. Bưu cục khai thác là bưu cục chuyên việc chia chọn, phân hướng bưu phẩm, bưu kiện, báo chí hoặc hàng hoá để gửi tới các trung tâm hoặc các bưu cục khác.

2.3.3. Bưu cục phát là bưu cục chỉ tổ chức việc phát bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền, báo chí hoặc hàng hoá tới người nhận.

2.3.4. Ngoài ra doanh nghiệp có thể tổ chức các điểm phục vụ khác như: Bưu cục lưu động, kiot để phục vụ người sử dụng dịch vụ.

2.3.5. Đối với việc cung cấp dịch vụ bưu chính quốc tế, ngoài các loại bưu cục trên, còn có Bưu cục ngoại dịch, bưu cục kiểm quan, địa điểm kiểm tra hải quan và bưu cục cửa khẩu.

2.3.6. Bưu cục ngoại dịch là bưu cục có trao đổi chuyến thư với bưu chính nước ngoài, đồng thời cũng là nơi làm thủ tục hải quan đối với vật phẩm hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu gửi qua mạng lưới bưu chính công cộng. Bưu cục ngoại dịch được đặt tại nơi có điều kiện thuận lợi trong việc giao nhận chuyến thư quốc tế.

2.3.7. Bưu cục kiểm quan là bưu cục chỉ làm thủ tục hải quan đối với vật phẩm, hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu gửi qua mạng lưới bưu chính công cộng, đồng thời tổ chức việc nhận gửi và phát bưu phẩm, bưu kiện quốc tế. Bưu cục Kiểm quan được bố trí ở những địa phương có Cục Hải quan và địa phương này phải có lưu lượng bưu phẩm, bưu kiện quốc tế nhiều, thường xuyên.

2.3.8. Bưu cục Cửa khẩu là bưu cục được đặt ở cửa khẩu biên giới để làm nhiệm vụ giao nhận chuyến thư đường bộ quốc tế giữa Việt Nam với nước láng giềng có chung biên giới, đồng thời làm thủ tục nhận gửi và phát bưu phẩm bưu kiện quốc tế.

2.3.9. Địa điểm kiểm tra hải quan là nơi làm thủ tục hải quan đối với vật phẩm, hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu gửi qua doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính làm dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế.

2.4. Đại lý là tổ chức, cá nhân Việt Nam đại diện cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính để cung cấp dịch vụ cho người sử dụng trên cơ sở nguyên giá và được hưởng hoa hồng đại lý.

2.4.1. Đại lý cung cấp dịch vụ bưu chính gồm các loại sau:

- Đại lý Bưu cục;

- Đại lý phát hành báo chí;

- Đại lý tem chơi.

2.4.2. Tổng cục Bưu điện ban hành Quy chế Đại lý bưu chính viễn thông để quy định điều kiện, thủ tục, nghĩa vụ và quyền hạn của đại lý.

2.5. Các tuyến đường thư là các tuyến đường mà trên đó các chuyến thư bao gồm các túi gói, công-te-nơ đựng bưu phẩm, bưu kiện, báo chí được doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính vận chuyển từ trung tâm hoặc bưu cục gửi đến trung tâm hoặc bưu cục nhận một cách đều đặn, thường xuyên. Giờ khởi hành và giờ đến của các chuyến thư phải được ấn định trước.

2.6. Thùng thư là nơi gửi thư được đặt tại các nơi công cộng để thuận tiện cho người sử dụng.

2.7. Giờ mở cửa phục vụ.

Giờ mở cửa phục vụ tại các Bưu cục giao dịch ít nhất phải là 8 giờ trong một ngày kể cả ngày lễ và chủ nhật. Tuỳ điều kiện tại mỗi địa phương mà doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính ấn định giờ mở cửa cụ thể cho mỗi loại bưu cục. Thời gian phục vụ phải được niêm yết tại các điểm phục vụ. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính phải bảo đảm có bộ phận thường trực sau giờ mở cửa của Bưu cục giao dịch để giải quyết các trường hợp khẩn cấp (nhận điện báo, điện thoại ban đêm).

2.8. Tổ chức lực lượng vận chuyển bưu chính chuyên ngành.

2.8.1. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính được tổ chức lực lượng vận tải chuyên ngành. Các phương tiện vận tải chuyên ngành được sơn màu thống nhất và có biểu trưng riêng của doanh nghiệp mình. Màu sơn và biểu trưng phải được đăng ký với Cục Sở hữu công nghiệp, Bộ Khoa học công nghệ và môi trường, đồng thời báo cáo với Tổng cục Bưu điện.

2.8.2. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính quy định hành trình giao nhận túi gói bưu phẩm, bưu kiện để bảo đảm chỉ tiêu chất lượng đối với từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp đã đăng ký và công bố với người sử dụng dịch vụ.

2.8.3. Trong trường hợp khẩn cấp về an ninh quốc gia hoặc khi có thiên tai, địch hoạ xảy ra, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính phải sử dụng phương tiện vận chuyển của doanh nghiệp mình để vận chuyển các công văn, mệnh lệnh khẩn cấp theo sự trưng dụng của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

2.8.4. Trường hợp phương tiện vận tải vận chuyển túi gói, bưu phẩm, bưu kiện, báo chí bị tai nạn hoặc hư hỏng trên đường, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính phải tìm mọi cách giải quyết những hậu quả do tai nạn gây ra:

- Lưu thoát kịp thời túi gói bưu phẩm, bưu kiện;

- Phối hợp với chính quyền sở tại nơi xảy ra sự việc, trong trường hợp cần thiết, để bảo vệ các túi, gói, bưu phẩm, bưu kiện, báo chí.

2.8.5. Nếu túi gói bưu phẩm, bưu kiện, báo chí, hàng hoá bị hư hỏng, mất mát thuộc vào trường hợp bất khả kháng thì doanh nghiệp phải có xác nhận của chính quyền sở tại nơi xảy ra sự việc.

2.9. Kiểm tra khám xét túi gói bưu phẩm, bưu kiện trên đường vận chuyển.

2.9.1. Cấm khám xét túi gói bưu phẩm, bưu kiện trên đường vận chuyển. Nếu có căn cứ trong bưu phẩm, bưu kiện có hàng hoá vi phạm pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được tiến hành kiểm tra, khám xét tại bưu cục gốc hoặc bưu cục phát, trừ trường hợp khẩn cấp về an ninh quốc gia thì đưa về bưu cục gần nhất để giải quyết.

2.9.2. Thẩm quyền, thủ tục khám xét được quy định trong Thông tư liên tịch giữa Tổng cục Bưu điện, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), Bộ Tài chính và Bộ Thương mại số 05/TTLT ngày 26/7/1997 "Hướng dẫn việc kiểm tra và xử lý vi phạm đối với hàng hoá kinh doanh gửi qua đường bưu điện trong nước".

2.9.3. Đối với bưu phẩm, bưu kiện có hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu gửi từ Việt Nam đi nước ngoài và từ nước ngoài vào Việt Nam thực hiện theo Thông tư liên tịch giữa Tổng cục Hải quan và Tổng cục Bưu điện số 06/TTHQ-BĐ ngày 20/6/1995.

 

III. DỊCH VỤ BƯU CHÍNH

A. CÁC LOẠI DỊCH VỤ BƯU CHÍNH

 

3.1. Dịch vụ bưu chính là dịch vụ tổ chức nhận gửi, chuyển và phát thư, vật phẩm, hàng hoá, báo chí và tiền thông qua mạng lưới bưu chính công cộng.

3.2. Dịch vụ bưu chính bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ khác.

3.2.1. Dịch vụ cơ bản là dịch vụ bưu chính truyền thống mà doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính đã cung cấp một cách có hệ thống ở trong nước hoặc với nước ngoài theo quy định của Tổ chức liên minh bưu chính thế giới (UPU). Dịch vụ cơ bản bao gồm:

- Dịch vụ bưu phẩm;

- Dịch vụ bưu kiện đến 31,5kg;

- Dịch vụ phát hành báo chí và ấn phẩm định kỳ;

- Dịch vụ chuyển tiền.

3.2.2. Dịch vụ khác là dịch vụ bưu chính được phát triển thêm và cung cấp dựa trên mạng lưới bưu chính công cộng sẵn có của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính. Dịch vụ khác bao gồm (nhưng không hạn chế bởi) các loại dịch vụ sau:

- Dịch vụ kinh doanh tem chơi;

- Dịch vụ chuyển phát nhanh;

- Dịch vụ bưu phẩm không địa chỉ;

- Dịch vụ bưu chính uỷ thác;

- Dịch vụ bưu kiện nặng (có khối lượng trên 31,5kg);

- Các loại dịch vụ kết hợp giữa bưu chính và viễn thông được cung cấp trên cơ sở có công đoạn phải sử dụng đến mạng lưới bưu chính như: dịch vụ điện hoa, thư tín điện tử, dữ liệu bưu chính (datapost);

- Các loại dịch vụ khác về tài chính bưu chính được quy định tại điểm 3.8.2.

3.3. Quy định cung cấp và sử dụng dịch vụ bưu chính.

3.3.1. Việc cung cấp và sử dụng dịch vụ bưu chính được quy định chi tiết trong các Thể lệ dịch vụ.

3.3.2. Căn cứ vào các Thể lệ dịch vụ, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính ban hành quy trình khai thác đối với từng loại dịch vụ được phép cung cấp.

 

B. DỊCH VỤ BƯU PHẨM, BƯU KIỆN

 

3.4. Bưu phẩm bao gồm thư, bưu thiếp, ấn phẩm, học phẩm người mù và gói nhỏ.

3.4.1. Thư là bản chữ viết hoặc in mang nội dung thông tin riêng hiện thời giữa người gửi và người nhận. Thư được bỏ vào phong bì hoặc gói được dán kín và được bảo đảm bí mật. Thư có khối lượng tối đa là 2 kilogam. Trong thư không được đựng vật phẩm, hàng hoá.

3.4.2. Bưu thiếp được làm bằng bìa hoặc thứ giấy có đủ độ dai bền thuận tiện cho việc khai thác. Bưu thiếp có thể gửi ngoài hoặc bỏ trong phong bì nhưng không được dán kín.

3.4.3. ấn phẩm là các bản chữ viết, bản in trên giấy hoặc trên những vật liệu thường dùng cho ấn loát và được in hoặc sao chụp thành nhiều bản giống nhau. ấn phẩm có khối lượng tối đa là 5 kilogam.

3.4.4. Học phẩm người mù là thư in chữ nổi gửi ngỏ hoặc những bản in chữ nổi dành cho người mù. Băng, đĩa ghi âm dành cho người mù cũng được coi là học phẩm người mù nếu băng, đĩa đó do trường dành riêng cho người mù gửi đi hoặc gửi cho các trường đó. Khối lượng tối đa của học phẩm người mù là 7 kilogam.

3.4.5. Gói nhỏ là bưu phẩm có chứa vật phẩm, hàng hoá. Gói nhỏ có khối lượng tối đa là 2 kilogam.

3.5. Bưu kiện là kiện hàng hoá, vật phẩm gửi qua mạng lưới bưu chính công cộng. Hàng hoá gửi trong bưu kiện để kinh doanh phải có đầy đủ chứng từ liên quan theo quy định của Bộ Tài chính để chứng minh nguồn gốc hàng hoá là hợp pháp.

3.6. Chỉ có doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính được Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện cấp phép mới được cung cấp dịch vụ thư. Nghiêm cấm các tổ chức, cá nhân khác làm dịch vụ nhận gửi, vận chuyển và phát thư kể cả trong nước hoặc với nước ngoài. Hiện nay, chỉ Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam là doanh nghiệp được cung cấp dịch vụ thư.

3.7. Túi thư ngoại giao gửi qua mạng lưới của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính được thực hiện theo Công ước Viên năm 1961 về ngoại giao, năm 1963 về lãnh sự và Pháp lệnh về quyền ưu đãi miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao cơ quan lãnh sự và đại diện của tổ chức quốc tế được Chủ tịch nước ban hành Lệnh số 25L/CTN ngày 7/9/1993.

 

C. DỊCH VỤ TÀI CHÍNH BƯU CHÍNH

 

3.8. Dịch vụ tài chính bưu chính là dịch vụ tài chính được cung cấp thông qua mạng lưới bưu chính công cộng.

Dịch vụ tài chính bưu chính được phân thành hai loại sau:

3.8.1. Dịch vụ chuyển tiền bao gồm (nhưng không hạn chế bởi) các loại dịch vụ:

- Thư chuyển tiền;

- Điện chuyển tiền;

- Chuyển tiền theo danh sách;

- Chuyển tiền nhanh.

3.8.2. Dịch vụ khác bao gồm (nhưng không hạn chế bởi) các loại dịch vụ sau:

- Hối phiếu bưu chính;

- Séc bưu chính;

- Séc du lịch bưu chính;

- Phát hàng thu tiền (lĩnh hoá giao ngân);

- Chuyển khoản;

- Thanh toán qua bưu chính (thanh toán qua tài khoản cá nhân - giro);

- Thu và trả tiền: Thu tiền cước dịch vụ viễn thông, tiền nước, tiền điện, tiền nhà, trả lương hưu trí;

- Tiết kiệm bưu chính.

 

IV. TEM BƯU CHÍNH

 

4.1. Tem bưu chính là ấn phẩm đặc biệt dùng làm phương tiện thanh toán cước phí bưu phẩm, đồng thời được dùng làm tem chơi.

Sản phẩm của tem bưu chính gồm có: bloc tem, phong bì in sẵn tem, bưu thiếp có in sẵn tem v.v...

4.2. Tổng cục Bưu điện là cơ quan duy nhất phát hành tem bưu chính; quy định thời hạn tem bưu chính có giá trị thanh toán cước phí; đình chỉ phát hành, thu hồi, tiêu huỷ tem bưu chính.

4.3. Tem bưu chính Việt Nam được phát hành theo "Tiêu chuẩn Việt Nam", mã số TCVN 6055:1995 do Tổng cục Bưu điện ban hành kèm theo Quyết định số 130/QĐ-KHCN ngày 26/3/1996.

4.4. Chương trình đề tài tem bưu chính.

4.4.1. Chương trình đề tài tem phải xác định rõ tên đề tài của mỗi bộ tem, số lượng mẫu, ngày và hình thức phát hành.

4.4.2. Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam xây dựng chương trình đề tài phát hành tem cho từng năm và dự kiến cho 5 năm. Đối với đề tài tem kỷ niệm khi xây dựng phải có thoả thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

4.4.3. Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện phê duyệt chương trình đề tài tem bưu chính.

4.5. Duyệt mẫu thiết kế tem.

4.5.1. Tổng cục Bưu điện duyệt mẫu thiết kế tem trên cơ sở chương trình đề tài tem bưu chính hàng năm.

Tổng cục Bưu điện quyết định những đề tài và mẫu thiết kế tem bưu chính bổ sung.

4.5.2. Mẫu thiết kế tem phải được Hội đồng Tư vấn do Tổng cục Bưu điện thành lập thẩm định.

Thành phần Hội đồng tư vấn này gồm đại diện của các cơ quan sau: Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương (đối với tem kỷ niệm), Tổng cục Bưu điện, Hội Mỹ thuật Việt Nam, Hội Tem Việt Nam, Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam và các nhà chuyên môn có liên quan đến mẫu tem. Hội đồng tư vấn có trách nhiệm lập biên bản thẩm định mẫu thiết kế tem.

4.5.3. Thời gian nộp mẫu thiết kế tem.

Mẫu thiết kế tem trình Tổng cục trưởng ký duyệt phải được gửi trước ngày phát hành đầu tiên như sau:

- 5 tháng đối với các bộ tem in tại xí nghiệp in tem Bưu điện;

- 8 tháng đối với những bộ tem in tại các xí nghiệp in khác trong nước;

- 11 tháng đối với những bộ tem in ở nước ngoài.

4.5.4. Hồ sơ trình duyệt mẫu thiết kế tem gồm có:

- Mẫu thiết kế tem đã được sửa theo ý kiến của Hội đồng tư vấn;

- Biên bản thẩm định của Hội đồng tư vấn;

- Các tư liệu chính thức dùng để thiết kế mẫu tem;

- Kích thước, chỉ thị mầu sắc chi tiết của mẫu thiết kế;

- ý kiến của cơ quan chuyên môn có liên quan đối với mẫu thiết kế tem;

- Đề nghị của Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam và bản dự thảo quyết định in và phát hành tem.

4.5.5. Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện phê duyệt mẫu thiết kế tem và ra quyết định in và phát hành mẫu tem được duyệt trong vòng 14 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ theo đúng quy định tại điểm 4.5.4.

4.6. In tem.

4.6.1. Số lượng tem in phải đúng theo quyết định của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện.

4.6.2. Trường hợp số lượng tem in sai lệch với số lượng tem ghi trong quyết định, cơ quan đặt in phải báo cáo để Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện thành lập Hội đồng xử lý.

4.6.3. Tem được in tại Xí nghiệp In tem Bưu điện. Trường hợp cần thiết phải in ở nơi khác hoặc ở nước ngoài phải được phép của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện.

4.7. Phát hành tem bưu chính.

4.7.1. Sau khi tem đã được in, Tổng cục Bưu điện ra thông báo phát hành tem mới. Kể từ thời điểm ghi trong thông báo, tem phát hành mới có giá trị sử dụng.

4.7.2. Mỗi bộ tem có một mã số riêng. Việc đánh mã số thực hiện theo Quyết định 376/CSBĐ ngày 30/6/1997 của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện.

4.7.3. Đối với tem kỷ niệm có tổ chức ngày phát hành đặc biệt, có phong bì "Ngày phát hành đầu tiên" và dấu kỷ niệm.

4.7.4. Trình tự và thủ tục phát hành tem bưu chính được Tổng cục Bưu điện quy định trong một văn bản riêng.

4.8. Giá bán tem bưu chính.

4.8.1. Giá bán tem bưu chính để thanh toán cước phí bưu phẩm là giá in trên con tem và được gọi là giá mặt của con tem.

Giá bán tem chơi do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính quy định.

4.8.2. Trong trường hợp cần thu thêm tiền để ủng hộ quỹ xã hội vì lý do nhân đạo phải được phép của Thủ tướng Chính phủ mới được phát hành tem có phụ thu. Số tiền phụ thu phải được in trên con tem. Tem phụ thu chỉ phát hành 5 năm một lần. Thời gian có giá trị thanh toán cước phí đối với tem phụ thu không quá 6 tháng.

4.8.3. Tổng cục Bưu điện ban hành Thể lệ đối với việc kinh doanh tem chơi. Trong lúc Thể lệ chưa ban hành, mọi tổ chức, cá nhân muốn kinh doanh tem chơi dưới bất kỳ hình thức nào đều phải đăng ký làm đại lý với công ty Tem Việt Nam.

4.9. Xuất khẩu, nhập khẩu tem bưu chính.

4.9.1. Tổ chức, cá nhân muốn xin xuất khẩu, nhập khẩu tem bưu chính phải có ý kiến thoả thuận của Tổng cục Bưu điện.

4.9.2. Tem nhập khẩu phải là những loại tem không có nội dung độc hại, không trái với thuần phong mỹ tục và phù hợp với luật pháp Việt Nam.

4.9.3. Tem xuất khẩu, nhập khẩu với số lượng trên 5 bộ hoặc trên 40 con tem lẻ bộ mới phải xin thoả thuận.

4.9.4. Tổng cục Bưu điện cấp thoả thuận xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất hoặc tạm xuất tái nhập tem cho các tổ chức, cá nhân sau:

- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính;

- Hội Tem Việt Nam;

- Các đối tượng có số lượng mẫu tem lớn hơn 50 mẫu.

4.9.5. Các Cục quản lý Bưu điện khu vực cấp thoả thuận xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất và tạm xuất tái nhập tem bưu chính cho các tổ chức và cá nhân trên địa bàn do Cục phụ trách với số lượng không vượt quá 50 mẫu tem.

4.9.6. Địa chỉ tiếp nhận và giải quyết cấp thoả thuận:

- Tổng cục Bưu điện, 18 Nguyễn Du, Hà Nội.

- Cục Bưu điện Khu vực II, 27 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quận 1. thành phố Hồ Chí Minh.

- Cục Bưu điện Khu vực III, 30 Trần Quốc Toản, Đà Nẵng.

4.10. Bảo vệ và lưu trữ tem bưu chính.

4.10.1. Việc tổ chức huỷ các chế bản, bảo quản và lưu trữ mẫu thiết kế tem thực hiện theo quy chế "In và phát hành tem bưu chính" do Tổng cục Bưu điện ban hành.

4.10.2. Kho tem lưu trữ là tài sản quốc gia được giao cho Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam quản lý. Kho tem lưu trữ phải được bảo quản theo quy định của pháp luật.

Số lượng lưu trữ được quy định như sau:

- Mỗi mẫu tem lưu trữ 300 con;

- Mỗi mẫu bloc tem lưu trữ 30 bloc;

- Mỗi sản phẩm tem như bưu ảnh tem, phong bì in sẵn tem, bưu thiếp in sẵn tem, maximum card... lưu trữ 10 chiếc.

 

V. CẤP PHÉP DỊCH VỤ BƯU CHÍNH

 

5.1. Tổng cục Bưu điện là cơ quan cấp các loại giấy phép về cung cấp dịch vụ bưu chính:

- Thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ bưu chính;

- Làm đại lý cho các công ty chuyển phát nhanh nước ngoài;

- Hành nghề in tem bưu chính.

5.2. Điều kiện xin cấp phép.

Doanh nghiệp muốn xin cấp phép cung cấp dịch vụ bưu chính phải có đủ các điều kiện sau:

- Là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính được Thủ tướng Chính phủ thành lập, cho phép thành lập hoặc doanh nghiệp khác được Thủ tướng Chính phủ cho bổ sung ngành nghề cung cấp dịch vụ bưu chính;

- Được cơ quan chủ quản ra quyết định thành lập;

- Có đăng ký kinh doanh theo quy định của Bộ kế hoạch và Đầu tư;

- Có Điều lệ tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp;

- Có đầy đủ cơ sở vật chất để tổ chức mạng lưới cung cấp dịch vụ; - Có đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân khai thác phù hợp với trình độ công nghệ và quy mô hoạt động của doanh nghiệp.

5.3. Thủ tục xin cấp phép.

5.3.1. Hồ sơ xin cấp phép bao gồm:

- Đơn xin cấp phép cung cấp dịch vụ;

- Quyết định thành lập hoặc quyết định cho phép thành lập doanh nghiệp của Thủ tướng Chính phủ và đăng ký kinh doanh;

- Đề án xin cung cấp dịch vụ;

- Nếu là xin làm đại lý chuyển phát nhanh với các công ty nước ngoài phải có bản hợp đồng ký với đối tác; các tài liệu chứng minh tư cách pháp nhân của đối tác nước ngoài; văn bản giải trình về cơ sở vật chất để thực hiện hợp đồng, kế hoạch triển khai của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính muốn xin làm đại lý.

5.3.2. Thời hạn giải quyết cấp phép.

Tổng cục Bưu điện tiến hành thẩm định và cấp phép trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ. Nếu có những vấn đề mới phát sinh cần phải thẩm tra lại thì thời hạn trên có thể kéo dài thêm nhưng không được quá 60 ngày. Trường hợp không cấp phép Tổng cục Bưu điện sẽ thông báo rõ lý do bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ xin cấp phép hợp lệ.

5.3.3. Địa chỉ tiếp nhận hồ sơ cấp phép.

- Tổng cục Bưu điện, 18 Nguyễn Du, Hà Nội.

5.3.4. Thời hạn của giấy phép.

Tuỳ vào quy mô và phạm vi cung cấp dịch vụ, thời hạn của giấy phép sẽ được quy định cụ thể nhưng không quá:

- 20 năm đối với thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ bưu chính;

- 5 năm đối với đại lý chuyển phát nhanh quốc tế;

- 20 năm đối với hành nghề in tem bưu chính.

Hết thời hạn trên, nếu doanh nghiệp muốn tiếp tục hoạt động thì phải xin gia hạn. Thủ tục xin gia hạn như xin cấp phép lần đầu.

5.4. Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện có thể đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép nếu sau một năm tính từ thời điểm cấp phép nhưng doanh nghiệp vẫn chưa triển khai được các hoạt động quy định trong giấy phép mà không có lý do xác đáng.

5.5. Tổng cục Bưu điện cấp phép trên cơ sở cho phép của Thủ tướng Chính phủ và thoả thuận của các ngành hữu quan, đối với một số loại dịch vụ có liên quan đến quản lý nhà nước của các Bộ, ngành khác.

5.6. Doanh nghiệp xin cấp phép cung cấp dịch vụ phải nộp lệ phí theo quy định của Bộ Tài chính.

5.7. Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện ra quyết định:

- Đóng, mở các tuyến đường thư quốc tế;

- Đóng, mở Bưu cục ngoại dịch, Bưu cục Kiểm quan, Bưu cục Cửa khẩu và địa điểm kiểm tra hải quan.

Doanh nghiệp có nhu cầu mở Bưu cục ngoại dịch, Bưu cục Kiểm quan, Bưu cục Cửa khẩu hay địa điểm kiểm tra hải quan ở địa phương nào, khi xin phép Tổng cục Bưu điện phải kèm theo bảng thống kê lưu lượng bưu phẩm, bưu kiện xuất nhập khẩu hai năm gần nhất và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Tổng cục Bưu điện nhận được hồ sơ sẽ ra quyết định thành lập Bưu cục ngoại dịch, Bưu cục Kiểm quan, địa điểm kiểm tra hải quan hoặc Bưu cục Cửa khẩu sau khi thoả thuận với Tổng cục Hải quan.

5.8. Thử nghiệm mạng và dịch vụ.

5.8.1. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính muốn thử nghiệm mạng và dịch vụ phải xin phép Tổng cục Bưu điện. Căn cứ vào phương án trình bày, Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện sẽ xem xét và quyết định cho phép doanh nghiệp được thử nghiệm mạng và dịch vụ đó.

5.8.2. Trong quá trình thử nghiệm, trong hợp đồng với người sử dụng, doanh nghiệp phải xác định rõ là dịch vụ đang thử nghiệm để sau khi thời hạn thử nghiệm chấm dứt mà dự án thử nghiệm không được đưa vào khai thác chính thức thì không ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng.

5.8.2. Hết thời hạn thử nghiệm, doanh nghiệp phải có báo cáo kết quả thử nghiệm. Nếu dịch vụ có khả năng phát triển, theo đề nghị của doanh nghiệp, Tổng cục Bưu điện sẽ có quyết định cho phép doanh nghiệp được cung cấp dịch vụ chính thức.

5.9. Mở dịch vụ mới.

5.9.1. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính muốn mở dịch vụ mới phải gửi hồ sơ xin phép Tổng cục Bưu điện. Căn cứ vào đề nghị của doanh nghiệp và phương án triển khi thực hiện, Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quyết định cho phép doanh nghiệp được cung cấp dịch vụ đó.

5.9.2. Hồ sơ xin mở dịch vụ mới gồm có quy trình khai thác dịch vụ, phương án về cước phí, phương án triển khai.

5.10. Doanh nghiệp, tổ chức không phải là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính muốn xin làm dịch vụ chuyển phát nhanh chứng từ, tài liệu, vật phẩm, hàng hoá có khối lượng dưới 31,5kg phải có ý kiến thoả thuận của Tổng cục Bưu điện trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xin phép.

 

VI. KHIẾU NẠI VÀ BỒI THƯỜNG

 

6.1. Khiếu nại về chất lượng dịch vụ.

6.1.1. Thời hiệu khiếu nại được quy định như sau:

- Đối với dịch vụ bưu phẩm, bưu kiện, chuyển tiền trong nước và quốc tế là 12 tháng, kể từ ngày sau ngày ký gửi;

- Đối với dịch vụ chuyển phát nhanh là 4 tháng, kể từ sau ngày kết thúc chỉ tiêu thời gian toàn trình đã công bố;

- Các khiếu nại sẽ không được giải quyết sau khi hết thời hiệu khiếu nại, trừ trường hợp đối với cán bộ, chiến sĩ thuộc các lực lượng vũ trang đang làm nhiệm vụ tại các vùng biên giới, hải đảo nhưng chỉ được kéo dài thêm 3 tháng so với thời hiệu quy định đối với dịch vụ trong nước.

6.1.2. Việc giải quyết khiếu nại được quy định như sau:

- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính tổ chức việc tiếp nhận khiếu nại của người sử dụng dịch vụ tại các bưu cục giao dịch;

- Trong trường hợp khiếu nại bằng đơn, thư, cơ sở nhận được phải báo nhận bằng văn bản tới người khiếu nại trong thời hạn 48 giờ kể từ khi nhận được khiếu nại;

- Cơ sở tiếp nhận khiếu nại, có trách nhiệm hướng dẫn thủ tục cần thiết cho người khiếu nại.

- Đối với các bài đăng báo, những phản ảnh được đưa lên các đài phát thanh, truyền hình, những đơn, thư do các báo, đài và các cơ quan nhà nước gửi đến phản ảnh về việc cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ liên quan có trách nhiệm báo nhận khiếu nại với nơi gửi và trả lời người khiếu nại;

- Người khiếu nại phải cung cấp giấy tờ, chứng cứ liên quan đến việc khiếu nại và chịu trách nhiệm về nội dung khiếu nại của mình.

- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính thông báo kết quả giải quyết khiếu nại cho người khiếu nại biết.

6.1.3. Thời gian giải quyết kể từ khi nhận được khiếu nại được quy định như sau:

- 2 tháng, đối với bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền trong nước;

- 3 tháng, đối với bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền quốc tế.

Hết thời hạn trên mà vẫn chưa điều tra xong, doanh nghiệp giải quyết bồi dưỡng cho người có quyền hưởng theo quy định tại điểm 6.3 mục VI của Thông tư này.

6.2. Các loại dịch vụ được bồi thường:

Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra đối với các loại sau:

- Bưu phẩm ghi số;

- Túi M (túi chứa báo chí, sách vở, ấn phẩm gửi cho cùng một người nhận ở một địa chỉ);

- Bưu phẩm, bưu kiện khai giá;

- Bưu kiện các loại;

- Bưu phẩm, bưu kiện chuyển phát nhanh các loại;

- Phiếu chuyển tiền các loại.

6.3. Nguyên tắc bồi thường.

6.3.1. Chỉ bồi thường bằng tiền Việt Nam.

6.3.2. Bưu phẩm A (bưu phẩm có chứng nhận gửi) bị mất được hoàn loại cước phí đã thu.

6.3.3. Đối với bưu phẩm ghi số việc bồi thường được thực hiện theo loại bưu phẩm. Bưu phẩm ghi số gửi trong nước bị mất hoặc bị hư hỏng toàn bộ được hoàn lại cước đã thu.

6.3.4. Đối với bưu kiện từ 31,5 kg trở xuống, việc bồi thường được thực hiện theo nấc khối lượng và được hoàn lại cước đã thu nếu bị mất hoặc bị hư hỏng toàn bộ.

6.3.5. Đối với bưu phẩm, bưu kiện khai giá, việc bồi thường được thực hiện theo giá mà người gửi đã khai khi gửi bưu phẩm, bưu kiện đó và được hoàn lại cước chính đã thu nếu bị mất hoặc bị hư hỏng toàn bộ. 6.3.6. Đối với dịch vụ chuyển phát nhanh (EMS), được bồi thường tương ứng như đối với bưu phẩm, bưu kiện cùng loại, cùng nấc khối lượng và được hoàn lại cước đã thu. Nếu bị chậm so với chỉ tiêu thời gian toàn trình đã công bố, được hoàn lại cước đã thu.

6.3.7. Đối với dịch vụ bưu kiện nặng trên 31,5 kg, các loại dịch vụ vận chuyển hàng hoá như uỷ thác bưu chính, giao nhận kho vận, việc bồi thường được thực hiện theo các thoả thuận trong hợp đồng giao kết giữa doanh nghiệp và khách hàng hoặc bồi thường theo quy định của pháp luật về vận tải hàng hoá.

6.3.8. Đối với các dịch vụ tài chính bưu chính, doanh nghiệp hoàn lại tiền gửi, cước và trả lãi theo quy định tại khoản 2, Điều 313 của Bộ luật dân sự.

6.3.9. Tiền bồi thường được trả cho người gửi hoặc người được người gửi uỷ quyền nhận. Trường hợp người nhận đồng ý nhận bưu phẩm ghi số, khai giá, bưu kiện bị suy suyển hư hỏng thì người nhận được quyền nhận bồi thường. Sau khi đã bồi thường, nếu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính xác minh bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền đó đã được phát hợp lệ hoặc bị hư hỏng, chậm trễ, phát nhầm do lỗi của người gửi thì người đã được nhận bồi thường phải hoàn lại số tiền bồi thường mà mình đã nhận.

6.3.10. Đối với dịch vụ bưu phẩm, bưu kiện từ Việt Nam gửi ra nước ngoài và từ nước ngoài gửi đến Việt Nam, việc bồi thường được thực hiện theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia và ký kết. Tuỳ trường hợp, doanh nghiệp hoàn lại cước phí đã thu và bồi thường tiền thuế đã nộp tại Việt Nam (nếu có) cho người gửi hoặc người được người gửi uỷ quyền nhận. Riêng đối với bưu phẩm ghi số không hoàn lại cước đã thu.

6.4. Tổng cục Bưu điện quy định mức bồi thường.

6.5. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không phải bồi thường trong các trường hợp sau:

- Bưu phẩm thường;

- Trường hợp bất khả kháng; vì thiên tai địch hoạ hoặc những tình huống bất ngờ vượt quá khả năng khắc phục của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ;

- Bị hư hỏng hay phát nhầm do lỗi của người gửi;

- Vật phẩm hàng hoá bị huỷ hoại do đặc tính tự nhiện;

- Bưu phẩm, bưu kiện có vật phẩm hàng hoá bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tịch thu hoặc bị tiêu huỷ theo quy định của pháp luật;

- Bưu phẩm, bưu kiện gửi ra nước ngoài bị thu giữ theo luật lệ nước nhận.

- Bưu phẩm, bưu kiện gửi khai giá mà người gửi đã khai vượt quá giá trị thực tế của nội dung;

- Bưu phẩm, bưu kiện, phiếu chuyển tiền đã được phát hợp lệ hoặc khi nhận mà người nhận không khiếu nại.

- Những thiệt hại gián tiếp hoặc những nguồn lợi không thực hiện được do việc mất mát, suy suyển hư hỏng bưu phẩm, bưu kiện, ngân phiếu chuyển tiền gây nên.

6.6. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính không chịu trách nhiệm về việc khai hải quan của người sử dụng dịch vụ đối với bưu phẩm, bưu kiện gửi ra nước ngoài hoặc gửi từ nước ngoài đến Việt Nam và những quyết định xử lý của Hải quan hoặc của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác khi làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu.

 

VII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

 

7.1. Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày ký. Mọi quy định trước đây trái với Thông tư này đều bị bãi bỏ.

7.2. Trong quá trình thực hiện Thông tư nếu có vướng mắc, đề nghị phản ảnh kịp thời về Tổng cục Bưu điện để hướng dẫn hoặc xem xét bổ sung hay sửa đổi.

 

Tình trạng hiệu lực: Đã biết

THE GENERAL DEPARTMENT OF POST AND TELECOMMUNICATIONS
-------
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom – Happiness
----------
No. 02/1998/TT-TCBD
Hanoi, June 20, 1998
 
CIRCULAR
GUIDING THE IMPLE-MENTATION OF THE GOVERN-MENT'S DECREE No. 109/1997/ND-CP OF NOVEMBER 12, 1997 ON THE POST AND TELECOMMUNICATIONS NETWORK AND SERVICES
On November 12, 1997, the Government promulgated Decree No 109/1997ND-CP on Post and Telecommunications. The General Department of Post and Telecommunications hereby provides guidance for the implementation of the stipulations on post and telecommunications network and services in the said Decree as follows:
I. GENERAL PROVISIONS
1.1 This Circular guides the implementation of provisions on supply, use and management of post and telecommunications network and services vis-a-vis the providing enterprises and services users.
1.2 Rights and obligations of enterprises providing post and telecommunications services.
1.2.1 Rights:
- To organize public post and telecommunications network as prescribed in the licenses for provision of services;
- To refuse providing services if services users breach law;
- To establish co-operation with foreign countries according to contents and forms decided by the Prime Minister and the guidance of the General Department of Post and Telecommunications in order to expand the network and services.
1.2.2. Obligations:
- To organize the services of the post and telecommunications network nationwide including deep-lying and remote areas, in accordance with the State's planning and development plans and to ensure uninterrupted operations of the post and telecom-munications network even on holidays and Sundays;
- To organize the services, provision with quality as stated and to develop services to satisfy users' demands;
- To ensure correspondence confidentiality and safety for mails, parcels and money orders as prescribed by law. Staff members of enterprises providing post and telecommunications services must not take advantage of their occupation and positions to appropriate, cancel, open, exchange or disclose contents of mails, parcels, money orders or to disclose names and addresses of senders and receivers;
- To elaborate and register the quality norms of each type of services as stipulated in the General Department of Post and Telecommunications' Circular No 01/1998/TT-TCBD of May 15, 1998;
- To make compensation to those who are entitled to for damage caused by the post and telecommuni-cations services providing enterprises as prescribed in Item VI of this Circular;
- To co-ordinate with the competent State bodies in dealing with law-breaking cases in the supply and use of post and telecommunications services;
- To strictly abide by the stipulations on post and telecommunications prices, charges and fees set by the General Department of Post and Telecommuni-cations and the Government (according to the Prime Minister's Decision No. 99/1998/QD-TTg of May 26, 1998 on management of post and telecommunications prices, charges and fees); and
- To submit to the inspection and control by the General Department of Post and Telecommunications and the State competent bodies in the provision of post and telecommunications services.
1.3 Rights and obligations of users of post and telecommunications services
1.3.1 Rights:
- To use the post and telecommunications services provided by licensed enterprises;
- To be ensured of correspondence confidentiality and safety for mails, parcels and money orders in accordance with the provisions of law;
- To have freedom in choosing the providing enterprises;
- To make complaints and to demand compen-sation for damage as provided for in Part VI of this Circular;
- To change names or addresses of receivers or to withdraw mails, parcels and money orders before they are delivered to receivers.
1.3.2 Obligations:
- To observe the provisions of law in the use of services and must not use post and telecommunications services to oppose the State of the Socialist Republic of Vietnam; disturb social order and security; break ethical values and fine traditions and customs and undertake smuggling and other illegal activities;
- To facilitate enterprises' services to addresses;
- To be answerable before law to the contents of the information, objects and goods sent via the post and telecommunications network; to declare objects and goods in conformity with the sending slips and not to use names and addresses of other people to send mails, parcels and money orders without their consent; and
- To make payment of charges and fees for the services used.
1.4 Ownership to mails, parcels and money orders
Mails, parcels and money orders shall come under the senders' right to disposal before delivery to the receiver or the authorized receivers, except the following cases:
- Mails, parcels and money orders are proved to be a breach of law for which a confiscation order is issued by competent State authority(ies);
- The contents of mails and parcels cause pollution or objects and goods are deteriorated due to their natural properties which the enterprises are obliged to destroy.
In these circumstances, the services providing establishments shall notify the senders and forward to them a handling report for the latter's signature.
1.5 To ensure secrecy and safety for mails and parcels in favor of the users, mails and parcels shall be opened only in the following cases:
- They are determined as forsaken mails and parcels by a Council set out in Joint Circular No. 227/LB GTVTBD-TC dated August 31, 1992 of the Ministry of Finance and the General Department of Post and Telecommunications;
- The competent State authorities have the ground to ascertain that the mails or parcels contain objects and/or goods banned from trading, export and/or import by the State;
- They are subject to searching by the competent State authority(ies) in accordance with the provisions of the Code on Penal Procedures;
- The packings of mails and parcels are torn, thus exposing the contents thereof, and the post office have to make the packing and wrapping again; and
- Mails and parcels sent from Vietnam to foreign countries or from foreign countries to Vietnam contain objects or goods that must be subject to customs check to clear export or import formalities.
The opening of mails and parcels in the afore-said cases shall be done in strict accordance with the procedures stipulated by law.
II. PUBLIC POST NETWORK
2.1 The public post network is composed of technical centers and centers for post exploitation, transportation and management, mailing routes, system of post offices, service places, agents and letter-boxes installed in public places by post and telecommunications services providing enterprises throughout the country.
2.2 Centers
Depending on scope of operations, post and telecommunications services providing enterprises may set up technical centers and centers for post transportation and management for exploitation of post and telecommunications services to meet the requirements of services users.
2.2.1 A technical center is the one that exploits and professionally handles post and telecommunications services.
2.2.2. A transportation center is the one that specializes in organization of transportation of mails, parcels, journals, periodicals and goods to other centers or post offices in a region or the whole country.
2.2.3 A management center is the one that directs the exploitation or transportation in order to ensure regular and uniform operations of the public post network.
2.3 Post offices
Post and telecommunications services providing enterprises may organize separate transaction post offices, exploitation post offices or delivery post offices or may organize one post office performing the taking of delivery, exploitation and delivery of mails, parcels, journals, periodicals, money orders and goods. Post offices shall be built in residential quarters, public places, airports, sea ports and traffic centers convenient for services users as well as for the delivery and receipt of mail consignments.
Post offices shall put up their name plates, post office numbers and telephone numbers.
2.3.1 A transaction post office is the one organized for taking delivery and delivering of mails, parcels, money orders, journals, periodicals and goods to services users.
Transaction post offices shall post their opening hours, list of post and telecommunications prices, charges and fees and instruction for use of services.
2.3.2 An exploitation post office is the one that specializes in sorting, classifying destination directions of mails, parcels, money orders, journals, periodicals or goods for forwarding to centers or other post offices.
2.3.3 A delivery post office is the one that only handles the delivery of mails, parcels, money orders, journals, periodicals or goods to receivers.
2.3.4 Apart from these, the enterprises may set up other services places such as mobile post offices and kiosks to serve services users.
2.3.5 With regard to the provision of international post and telecommunications services, besides the above-mentioned types of post offices, there are foreign transaction post offices, customs post offices, customs inspection points and border-gate post offices.
2.3.6 A foreign transaction post office is an office that carries out exchange of mail consignments with foreign countries and also the place where customs formalities are effected vis-a-vis export and import objects and goods sent via public post network. Transaction post offices shall be placed at sites convenient for forwarding and receiving of international mail consignments.
2.3.7 A customs post office is an office that only effects customs formalities for export and import objects and goods sent via public post network; it also organizes the taking delivery and delivery of international mails and parcels. Customs post offices shall be set up in localities where exist Customs Departments and regular and great flow of international mails and parcels.
2.3.8 A border gate post office is an office that is set up at a border-gate to perform forwarding and receiving of international road mail consignments between Vietnam and a neighboring country(ies) that shares the border; it also carries out procedures for taking delivery and delivery of international mails and parcels.
2.3.9 A customs inspection point is a place where customs formalities shall be cleared for export and import objects and goods sent via post and telecommunications services providing enterprises performing international express forwarding and delivery services.
2.4 An agent is a Vietnamese organization or individual that represents a post and telecommuni-cations services providing enterprise to supply services to users at original prices and charges and receive agency commission.
2.4.1 Post and telecommunications services providing agents include the following types:
- Post agents;
- Press distribution agents; and
- Philatelic stamp agents.
2.4.2 The General Department of Post and Telecommunications shall promulgate the Regulation on Post and Telecommunications Agents to stipulate conditions, formalities, obligations and rights of agents.
2.5 Mailing routes are those routes on which mail consignments comprising bags, packages and containers containing mails, parcels, journals and periodicals are transported by post and telecommunications services providing enterprises from forwarding centers or post offices to receiving centers or post offices on a frequent and regular basis. Departure and arrival times of mail consignments must be set in advance.
2.6 A letter-box is a place where letters are posted and is installed at public places convenient for users.
2.7 Opening hours for services
Opening hours for services at transaction post offices shall be at least 8 hours a day including holidays and Sundays. Depending on each locality's circumstances in each locality, post and telecommunications services providing enterprises shall fix the specific opening hours for each type of post offices. Service times shall be posted at service points. Post and telecommunications services providing enterprises shall ensure that a permanent section is on duty after opening hours of the transaction post offices to deal with emergency cases (i.e. receiving telex or telephone calls at night).
2.8 Organization of specialized post transport force
2.8.1 Post and telecommunications services providing enterprises are entitled to organize their own specialized post transport forces. Specialized means of transport shall be painted in uniform colors and shall bear the own logos of their enterprises. Paint colors and logos must be registered with the Industrial Property Office of the Ministry of Science, Technology and Environment and reported to the General Department of Post and Telecommunications.
2.8.2 Post and telecommunications services providing enterprises shall stipulate the itineraries for forwarding and receiving of mails packets and parcels in order to assure the quality norms for each type of services the enterprises have registered and shall make known these itineraries to services users.
2.8.3 In case of emergency concerning national security or in the event of natural calamities or war with the enemy, post and telecommunications services providing enterprises shall use their means of transport to transport urgent official letters or orders at the requisition of presidents of the People's Committees of provinces and centrally-run cities.
2.8.4 Where a transport means carrying mails packages and parcels is caught in an accident or breaks down en route, post and telecommunications services providing enterprises shall seek every way to overcome the consequences thereof by:
- Promptly taking out and keeping mails packages and parcels;
- Co-ordinating with the local administration where the incident takes place in case of necessary in order to protect mails packages and parcels, journals and periodicals.
2.8.5 Where mails packages, parcels, journals, periodicals and goods are damaged or lost as a force majeure, the enterprises shall get certification by the local administration where the incident takes place.
2.9 Checking and searching of mails packets and parcels en route of transportation
2.9.1 Searching of mails packages and parcels en route of transportation is prohibited. Where competent State bodies have the ground to believe that the mails or parcels contain illegal goods they shall make checking and searching only at the original or delivery post offices except for emergency cases concerning national security, the mails or parcels shall be brought to the nearest post offices for handling.
2.9.2 The competence and formalities for checking and searching are stipulated in Joint Circular No. 05/TTLT of July 26, 1997 of the General Department of Post and Telecommunications, the Ministry of the Interior (now the Ministry of Public Security), the Ministry of Finance and the Ministry of Trade, titled "Guidance to inspection and handling of violations concerning commercial goods sent via domestic mailing routes".
2.9.3 With regard to mails and parcels containing export and import goods sent from Vietnam to foreign countries and from foreign countries to Vietnam, the checking shall be made according to Joint Circular No. 06/TTHQ-BD dated June 20, 1995 of the General Department of Customs and the General Department of Post and Telecommunications.
III. POST AND TELECOMMUNICATIONS SERVICES
A. TYPES OF POST AND TELECOMMUNICATION SERVICES
3.1 Post and telecommunications services are those services that take delivery, forwarding and delivery of letters, objects, goods, journals, periodicals and money via public post network.
3.2 Post and telecommunications services are composed of basic services and other services.
3.2.1 Basic services are traditional post and telecommunications services which the post and telecommunications services providing enterprises have provided in a systematic way at home and abroad in conformity with the stipulations of the Universal Postal Union (U.P.U.). Basic services include:
- Mails services;
- Parcels weighing up to 31.5kg;
- Journals and periodicals distribution services; and
- Money transfer services.
3.2.2 Other services are post and telecommunications services developed additionally and provided on the basis of the existing public post network of the post and telecommunications services providing enterprises. Other services include (but not limited to) the following types of services:
- Philatelic stamp business services;
- Express forwarding and delivery services;
- Mails services without addresses;
- Authorized post and telecommunications services;
- Heavy parcels services (with volume of more than 31.5 kg);
- Types of combined services between post and telecommunications that involve post network such as floral telex services, electronic mail and datapost; and
- Other post financial service types which are stipulated in section 3.8.2.
3.3 Stipulations on provision and use of post and telecommunications services.
3.3.1 The provision and use of post and telecommunication services shall be specified in the Services Rules.
3.3.2 Basing on the Services Rules, the post and telecommunications services providing enterprises shall promulgate exploitation process in respect of each type of service permitted for provision.
B. MAILS AND PARCELS SERVICES
3.4 Mails include letters, postcards, publications, teaching materials for the blind and small packages
3.4.1. A letter is a written or printed statement, containing private information between the sender and the receiver. A letter shall be put in an envelope, sealed and kept confidential. The maximum volume of a letter is 2 kg. A letter shall not contain object(s) or goods.
3.4.2 Postcards are made of board or durable types of paper convenient for exploitation. A postcard may be posted without an envelop or put in an envelop but not closely sealed.
3.4.3 Publications are handwritings, prints on paper or on common materials used for printing and are printed or photocopied into many similar duplicates. A mail of publication shall have the maximum volume of 5 kg.
3.4.4 Teaching materials for the blind are letters printed in Braille posted open or Braille text for the blind. Sound recording tapes and disks reserved for the blind are also considered teaching materials for the blind if these tapes and disks are sent by or to the blind's schools. The maximum volume of a mail of teaching materials for the blind is 7 kg.
3.4.5 A small package is a mail containing object(s) or goods. A small package shall have the maximum volume of 2 kg.
3.5 A parcel is a package of goods or objects sent via public post network. Goods sent in parcels for business purpose must have sufficient relevant documents in accordance with the stipulations of the Ministry of Finance to the effect that they are of lawful origin.
3.6 Only post and telecommunications services providing enterprises licensed by the General Director of Post and Telecommunications shall be entitled to provide letter services. Other organizations and individuals are strictly forbidden to provide letter forwarding, transport and delivery services at home and abroad. At present, the Post and Telecommunication Corporation is the only enterprise licensed to provide letter services.
3.7 Diplomatic bags sent via the network of post and telecommunications services providing enterprises shall comply with the Vienna Conventions of 1961 on diplomatic immunity and of 1963 on consular matters and the Ordinance on the priority and immunity granted to diplomatic representations, consular offices and representations of international organizations promulgated by the President of the State in his Order No. 25L/CTN of September 7, 1993.
C. POST FINANCIAL SERVICES
3.8 Post financial services are those financial services provided via public post network.
Post financial services are divided into the two following types:
3.8.1 Money transfer, which includes (but not limited to) the following types:
- Money transfer by mails;
- Money transfer by cable;
- Money transfer by lists; and
- Express money transfer.
3.8.2 Other services comprise (without limitation to) the following services:
- Post bills;
- Post checks;
- Post traveller's checks;
- Delivery of goods and collection of money;
- Transfer;
- Payment via the post (payment via Giro personal account)
- Money collection and payment: collection of telecommunications service charges, water and power supply charges, house rents and payment of pensions; and
- Post savings.
IV. POSTAGE STAMPS
4.1 A postage stamp is a special print used for the payment of post charges and also for the purpose of philately.
Products of postage stamps comprise stamp bloc, stamp-printed envelops and postcards, etc.
4.2 The General Department of Post and Telecommunication is the sole agency entitled to issue postage stamps; to prescribe the time limit for postage stamps valid for payment of post charges and to suspend issue of, revoke and cancel postage stamps.
4.3 Vietnamese postage stamps are issued in accordance with "Vietnamese criteria" coded TCVN 6055:1995 promulgated by the General Department of Post and Telecommunications together with Decision No. 130/QD-KHCN of March 26, 1996.
4.4 Programs on topics of postage stamps.
4.4.1 Programs on topics of stamps must define clearly the topic name of each stamp set, the quantity of samples, the date and forms of issue.
4.4.2 The General Department of Post and Telecommunications of Vietnam shall elaborate annual and five-year programs on topics of postage stamps. The issue of postage stamps to mark big anniversaries must be approved by the competent State agency.
4.4.3 The General Director of Post and Telecommunications shall approve programs on topics of postage stamps.
4.5 Approving stamp designs.
4.5.1 The General Department of Post and Telecommunications shall approve stamp designs on the basis of the annual programs on topics of postage stamps.
The General Department of Post and Telecommunications shall decide on additional topics and postage stamp designs.
4.5.2 Stamp designs must be evaluated by a consulting council set up by the General Department.
This consulting council is composed of representatives of the following agencies: the Central Ideological and Cultural Commission (for stamps marking big anniversaries), the General Department of Post and Telecommunications, the Vietnam Fine Arts Association, the Vietnam Philatelic Association, the Vietnam Post and Telecommunications Corporation, and experts in stamp designs. The consulting council shall be responsible for making reports on stamp design evaluation.
4.5.3 The time limit for submitting stamp designs
Stamp designs presented to the General Director of Post and Telecommunications for approval and signing must be submitted prior to the first day of issue as follows:
- 5 months in respect of stamp sets printed at the Post and Telecommunications' Stamp Printing House;
- 8 months in respect of stamp sets printed at other domestic printeries; and
- 11 months in respect of stamp sets printed abroad.
4.5.4 Dossiers for submission of stamp designs for approval comprise:
- The stamp designs amended according to the view of the consulting council;
- The stamp design evaluation report of the consulting council;
- The official documents used for designing the stamps;
- The dimensions and detailed color indications of the designs;
- The views of the specialized agency related to the stamp designs;
- The proposals of the Vietnam Post and Telecommunications Corporation and the draft decision for printing and issuing the stamps.
4.5.5 The General Director of Post and Telecom-munications shall approve the stamps designs and issue a decision for printing and issuing of the stamps within 14 days from the date of receipt of dossiers in accordance with the stipulations at Point 4.5.4.
4.6 Printing of stamps
4.6.1 The quantity of stamps printed must be in strict conformity with the decision of the General Director of Post and Telecommunications.
4.6.2 Where the quantity of stamps printed is different from that specified in the decision, the agency that orders the printing must make a report for the General Director of Post and Telecommunications to form a council to deal therewith.
4.6.3 Stamps must be printed at the Post and Telecommunications' Stamp Printing House. Where it is necessary to print stamps in other places or in foreign countries, the permission of the General Director of Post and Telecommunications is required.
4.7 Issuing postage stamps.
4.7.1 After stamps are printed, the General Department of Post and Telecommunications shall announce the issuance of new stamps. Postage stamps shall be of use value only from the date mentioned in the announcement.
4.7.2 Each stamp set shall have a separate code. The numeration of codes shall be done in accordance with the General Director of Post and Telecom-munications' Decision No. 376/CSBD of June 30, 1997.
4.7.3 Postage stamps issued on special occasions shall be marked with celebration seals and have an envelop marking the first day of their issue.
4.7.4 The procedures for issuing postage stamps shall be stipulated by the General Department of Post and Telecommunications in a separate document.
4.8 Selling prices of postage stamps
4.8.1 The selling price of a postage stamp for the payment of the post charge is the price printed on the stamp, which is called the face price of the stamp.
The selling price of philately stamps shall be set by the post and telecommunications services providing enterprises.
4.8.2 Where it is necessary to collect surcharges in support of social welfare funds for humanitarian reasons, the permission of the Prime Minister is required before the issue of postage stamps with surcharge(s) printed thereon. Postage stamps with surcharge(s) shall be issued once in five years. The time limit valid for payment of the post charge in respect of the stamps with surcharge(s) shall not be more than six months.
4.8.3 The General Department of Post and Telecommunications shall promulgate the Rules for the philatelic stamp business. Pending promulgation of such Rules, any organization or individual wishing to deal in philatelic stamps in whatsoever form must register as an agent with the Vietnam Philatelic Company.
4.9 Export and import of postage stamps
4.9.1 Those organizations and individuals that wish to export or import postage stamps must be agreed upon by the General Department of Post and Telecommunications.
4.9.2 Imported stamps must be those that do not have poisonous contents, are not contrary to the fine traditions and customs and conform to the law of Vietnam.
4.9.3 Export or import of stamps with the quantity of more than 5 sets or more than 40 stamps must apply for agreement from the General Department of Post and Telecommunications.
4.9.4 The General Department of Post and Telecommunications shall grant agreements for export, import, temporary import for re-export or temporary export for re-import of stamps for the following organizations and individuals:
- Post and telecommunications services providing enterprises;
- The Vietnam Philatelic Association; and
- Those who have a quantity of stamp samples bigger than 50.
4.9.5 The regional Post and Telegraph Managing Departments shall grant agreements for export, import, temporary import for re-export or temporary export for re-import of stamps to organizations and individuals based in the regions under their respective management with the quantity of not more than 50 stamp samples.
4.9.6 Addresses for receiving applications and dealing with the granting of agreements:
- The General Department of Post and Telecommunications, 18 Nguyen Du, Hanoi;
- Department of Post and Telecommunications of Zone II, 27 Nguyen Binh Khiem, District 1, Ho Chi Minh City;
- Department of Post and Telecommunications of Zone III, 30 Tran Quoc Toan, Da Nang.
4.10 Protection and keeping postage stamps in archives
4.10.1 The destruction of stamp design stereotypes, conservation and keeping of stamp designs in archives shall be carried out in conformity with the Regulations on "Printing and issuing of postage stamps" issued by the General Department of Post and Telecommuni-cations.
4.10.2 The stamp archives is the national asset, which is assigned to Vietnam Post and Telecommunications Corporation for management. The stamp archives must be maintained in accordance with the provisions of law.
The quantity kept in the archives are stipulated as follows:
- 300 stamps for each stamp design;
- 30 blocs for each stamp bloc design;
- 10 for each stamp product such as stamp postcards, stamp-printed envelops and postcards, maximum card, etc...
V. LICENSING POST AND TELECOMMUNICATIONS SERVICES
5.1 The General Department of Post and Telecommunications is the body that issues various types of licenses for provision of post and telecommunication services:
- Establishment of network and provision of post and telecommunication services;
- Acting as agents for foreign express forwarding and delivery companies; and
- Business of printing of postage stamps.
5.2 Conditions for application for licenses.
An enterprise that wishes to apply for licenses for provision of post and telecommunication services must meet the following conditions:
- To be a post and telecommunications services providing enterprise established or permitted by the Prime Minister to be established or other enterprise permitted by the Prime Minister to supplement the post and telecommunications services provision as its new business line;
- To be issued an establishment decision by the managing agency;
- To have business registration as provided for by the Ministry of Planning and Investment;
- To have its own Statute of organization and operations;
- To have adequate material basis for organizing services providing network; and
- To have a staff of managerial cadres and operating workers commensurate with its technological level and operating.
5.3 Procedures for applying for licenses
5.3.1 Dossiers of application for licenses shall comprise:
- An application for license for services provision;
- The establishment decision or decision permit-ting the establishment of enterprises by the Prime Minister and the business registration;
- Plan for services provision;
- A copy of the contract signed with partner(s) if applying for acting as agent for foreign express forwarding and delivery companies; document evidencing foreign partner(s)' legal person status and a document justifying the material basis for the performance of the contract and the development plan of the post and telecommunications services providing enterprise that wishes to act as agent.
5.3.2 Time limit for licensing
The General Department of Post and Telecom-munications shall make evaluation and licensing within 45 days from the date of receipt of the valid dossiers. Where new problems arise that need re-examination, the foregoing time limit may be prolonged but must not exceed 60 days. In case a license is not granted, the General Department of Post and Telecommunications shall give the reasons in writing within 30 days from the date of receipt of the valid dossiers.
5.3.3 Address for receiving dossiers of application for licenses
- The General Department of Post and Telecommunications, 18 Nguyen Du, Hanoi
5.3.4 Time limits of licenses
Depending on the scale and scope of services provision, the time limits of licenses shall be specified but shall not exceed:
- 20 years with regard to the establishment of a network and provision of post and telecommunications;
- 5 years in respect of international express forwarding and delivery services agent; and
- 20 years for the business of printing postage stamps.
Upon expiration of the afore-said time limits, if enterprises wish to continue their operations, they shall apply for renewal. The renewal formalities are the same as the first application for license.
5.4 The General Director of Post and Telecommunications may suspend or withdraw licenses if enterprises, after one year calculating from the date of licensing, have failed to proceed with operations prescribed in the licenses without well-grounded reasons.
5.5 The General Department of Post and Telecommunications shall grant licenses on the basis of the permission of the Prime Minister and the consent of the branches concerned for a number of types of services relating to State management by other ministries and branches.
5.6 Enterprises that apply for services providing licenses shall pay fees in accordance with the stipulations of the Ministry of Finance.
5.7 The General Director of Post and Telecommunications shall issue decisions on:
- Closing and opening of international mailing routes;
- Closing and opening of post and telecommunications services; and
- Closing and opening of foreign transaction post offices, customs post offices, border gate post offices and customs inspection points.
Where an enterprise has a requirement to open foreign transaction post offices, customs post offices, border -gate post offices and customs inspection points in any localities, it shall attach with its application a statistical list of the flow of exported and imported mails and parcels over the two most recent years and the actual requirements of the enterprise. The General Department of Post and Telecommunications, upon receipt of dossiers, shall issue decisions to establish foreign transaction post offices, customs post offices, customs inspection points or border-gate post offices after reaching an agreement with the General Department of Customs.
5.8 Testing of networks and services
5.8.1 Where a post and telecommunications services providing enterprise wishes to test its networks and services, it shall apply for permission from the General Department of Post and Telecommunications. Basing on the presented plan, the General Director of Post and Telecommunications shall consider and decide to give permission to the enterprise to carry out such testing of networks and services.
5.8.2 In the course of testing, the enterprise shall specify in the contract signed with the users that the services are being tested so that after termination of the testing period, if the testing project is not put into official operation, the users' interest shall not be affected.
5.8.3 Upon expiration of the testing time, the enterprise shall make a report on the results of testing. Where the services have the potential for development, the General Department of Post and Telecommunications shall issue a decision allowing the enterprise to officially provide the services.
5.9 Opening of new services
5.9.1 Where a post and telecommunications services providing enterprise wishes to open new services, it shall file application dossiers with the General Department of Post and Telecommunications. Basing on the enterprise's proposals and implementation plan, the General Director of Post and Telecommunications shall decide to give permission to the enterprise to provide such services
5.9.2 Dossiers of application for opening new services shall include process for exploitation of services, proposals on service charges and implementation plan.
5.10 Where an enterprise or organization other than a post and telecommunications services providing enterprise wishes to provide the services of express forwarding and delivery of documents, materials, objects and goods having volume under 31.5 kg, it shall get the agreement of the General Department of Post and Telecommunications before asking for permission from the Prime Minister.
VI. COMPLAINTS AND COMPENSATION
6.1 Complaints about services quality
6.1.1 The time limits for lodging complaints are stipulated as follows:
- 12 months from the date of registration for forwarding with regard to mails, parcels, domestic and international money transfer services;
- 4 months after the date of conclusion of the announced time norm with regard to express forwarding and delivery services;
- Complaints shall not be settled after the time limits for lodging complaints expire with the exception of members of the armed forces on duty at border regions and islands, but the time limits shall be extended only for 3 months more compared to those prescribed for domestic services.
6.1.2 Settlement of complaints is stipulated as follows:
- Post and telecommunications services providing enterprises shall arrange receiving of services users' complaints at transaction post offices;
- Where complaints are made in writing, the receiving unit shall notify complainants in writing of its receipt within 48 hours from the moment it receives the same;
- The unit that receives complaints shall be responsible for providing guidance on necessary procedures to complainants;
- With regard to journal articles, views reported over radio and television and letters reflecting services provision, the relevant post and telecommunications services providing enterprises shall be responsible for notifying senders of their receipts and answering the complainants.
- Complainants shall provide papers and documents relating to their complaints and be responsible for the contents of their complaints.
- The post and telecommunications services providing enterprises shall notify complainants of the results of settling their complaints.
6.1.3 The time limits for settlement from the date of receipt of complaints are stipulated as follows:
- 2 months for domestic mails, parcels and postal cheques; and
- 3 months for international mails, parcels and postal cheques.
Where investigation has not yet completed upon termination of the foregoing time limits, the enterprises shall make compensation for those who are entitled to in accordance with the stipulations in Point 6.3, Item VI hereof.
6.2 Types of services entitled to compensation
Post and telecommunications services providing enterprises shall be responsible for compensating for damage caused by their errors for the following types of services:
- Numerated mails;
- M Bags (bags containing journals, periodicals, publications and printed matters sent to the same receiver at one address);
- Mails and parcels with price declarations;
- Parcels of various types;
- Express forwarding and delivery mails and parcels of various types; and
- Money order of various types.
6.3 Principles for compensation
6.3.1 Compensation shall be made in Vietnamese currency only.
6.3.2 Where an A mail (mails with certification of sending) is lost, the collected charge shall be refunded.
6.3.3 With regard to numerated mails, compensation shall be made according to types of mails. Where a domestic numerated mail is lost or entirely damaged, the collected charge shall be refunded.
6.3.4 With regard to parcels of 31.5 kg or less, compensation shall be made according to the volume brackets and where parcel is lost or entirely damaged, the collected charge shall be refunded.
6.3.5 With regard to mails and parcels with price declarations, compensation shall be made according to the prices which the senders have declared when sending them and where mails and parcels were lost or entirely damaged, the collected principal charge shall be refunded.
6.3.6 With regard to express mail service (EMS), compensation shall be made as the case with mails and parcels of the same type, the same volume bracket and the collected charge shall be refunded. If forwarding is retarded compared with the announced time norm, the collected charge shall be reimbursed.
6.3.7 With regard to services of parcels of more than 31.5 kg and types of goods transport services such as authorized postal services and forwarding and warehousing, compensation shall be made according to agreements in the contracts signed between enterprises and clients or according to the law provisions on goods transport.
6.3.8 With regard to financial post services, enterprises shall reimburse the money remitted and charges and pay interest according to the stipulations in Clause 2, Article 313 of the Civil Code.
6.3.9 Compensation money shall be paid to senders or the authorized senders. Where receivers agree to receive numerated mails, mails with price declarations or mails that are damaged, the receivers shall be entitled to take compensation. After compensation, where post and telecommunication services providing enterprises confirmed that these mails, parcels or money orders had been delivered in due form or the damage, tardiness and erroneous delivery were caused by senders' mistakes, the persons that had received the compensation shall reimburse the compensated sum they had been given.
6.3.10 With regard to the mails and parcels services sent from Vietnam to foreign countries and from foreign countries to Vietnam, compensation shall be made according to International Treaties which Vietnam has signed and acceded to. Depending on specific cases, enterprises shall reimburse the collected charges and make compensation for the tax paid in Vietnam (if any) to senders or the authorized senders. For numerated mails, the collected charge shall not be reimbursed.
6.4 The General Department of Post and Telecommunications shall stipulate the levels of compensation.
6.5 Services providing enterprises shall not make compensation in the following cases:
- Normal mails;
- Force majeure: natural calamities, war with the enemy or unexpected circumstances beyond services providing enterprises' ability to overcome;
- Damage or erroneous delivery caused by senders' mistakes;
- Objects or goods ruined due to their natural properties;
- Mails or parcels containing objects or goods confiscated or destroyed by the competent State bodies under the provisions of law;
- Mails or parcels sent abroad are seized according to the laws of the receivers' countries;
- Mails or parcels with price declarations whose senders have overstated the real value of their contents;
- Mails, parcels or money orders duly delivered or which receivers make no complaints upon receipt; and
- Indirect damage or interest unrealized due to losses or damage of mails, parcels or money orders.
6.6 Post and telecommunications services providing enterprises shall not be responsible for services users' customs declarations in respect of mails or parcels sent to foreign countries or from foreign countries to Vietnam as well as handling decisions by customs authorities or other competent State bodies when clearing export or import procedures.
VII. ORGANIZATION OF IMPLEMENTATION
7.1 This Circular shall take effect 15 days after its signing. All previous stipulations contrary to this Circular are now revoked.
7.2 Any problems arising in the course of implementation shall be reported in time to the General Department of Post and Telecommunications for guidance or consideration for supplement or amendment.
 

 
THE GENERAL DEPARTMENT
OF POST AND TELECOMMUNICATIONS




Mai Liem Truc

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.
văn bản TIẾNG ANH
Bản dịch tham khảo
download Circular 02/1998/TT-TCBD DOC (Word)
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao để tải file.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi

19006192

Theo dõi LuatVietnam trên YouTube

TẠI ĐÂY

văn bản cùng lĩnh vực

Vui lòng đợi