Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn năm 1994

Thuộc tính Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
--------------

Số: 38-L/CTN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
------------

 

 

 

LỆNH

CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC SỐ 38 L/CHỦ TỊCH NƯỚC NGÀY 10 THÁNG 12 NĂM 1994 (TRÍCH)

 

CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

 

Căn cứ vào Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Điều 78 của Luật tổ chức Quốc hội;

 

NAY CÔNG BỐ:

Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX thông qua ngày 02 tháng 12 năm 1994.

 

PHÁP LỆNH

KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ CÔNG TRÌNH KHÍ TƯỢNG THUỶ VĂN

 

Để tăng cường quản lý Nhà nước, nâng cao trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân trong việc khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn nhằm điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học và dự báo khí tượng thuỷ văn, dự báo thời tiết góp phần phòng, chống thiên tai, phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường không khí và nước;

Căn cứ vào Điều 91 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Pháp lệnh này quy định về khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn.

 

Chương 1. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

Điều 1

Công trình khí tượng thuỷ văn là cơ sở vật chất kỹ thuật để quan trắc, thu thập các yếu tố và hiện tượng khí tượng thuỷ văn, các yếu tố về môi trường không khí và nước.

Công trình khí tượng thuỷ văn bao gồm: Đài, Trạm khí tượng thuỷ văn, tư liệu khí tượng thuỷ văn, các loại phương tiện, máy móc, thiết bị chuyên dùng, nhà phục vụ trực tiếp hoạt động khí tượng thuỷ văn, diện tích đất chuyên dùng, hệ thống bảo vệ công trình, hành lang an toàn kỹ thuật và các công trình phụ trợ khác.

Công trình khí tượng thuỷ văn được chia thành hai loại: công trình khí tượng thuỷ văn cơ bản và công trình khí tượng thuỷ văn chuyên dùng.

Điều 2

Trong Pháp lệnh này, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Công trình khí tượng thuỷ văn cơ bản là công trình được Nhà nước đầu tư xây dựng nhằm điều tra cơ bản về khí tượng thuỷ văn, do Nhà nước quản lý, khai thác ổn định, lâu dài phục vụ nhu cầu xã hội.

2. Công trình khí tượng thuỷ văn chuyên dùng là công trình được đầu tư xây dựng, khai thác, chủ yếu phục vụ mục đích, nhu cầu chuyên ngành.

3. Trạm khí tượng thuỷ văn là công trình để trực tiếp quan trắc các yếu tố khí tượng thuỷ văn, các yếu tố môi trường không khí và nước trên mặt đất, dưới nước, trên sông, biển và trên không.

4. Đài khí tượng thuỷ văn là công trình để trực tiếp quan trắc các yếu tố khí tượng thuỷ văn, các yếu tố môi trường không khí và nước; thu thập, xử lý dữ liệu từ nhiều trạm; dự báo khí tượng thuỷ văn, dự báo thời tiết và cung cấp thông tin khí tượng thuỷ văn trên một khu vực.

5. Hành lang an toàn kỹ thuật là khoảng không, diện tích mặt đất, mặt nước, dưới nước cần thiết để bảo đảm công trình hoạt động đúng tiêu chuẩn kỹ thuật và tư liệu khí tượng thuỷ văn thu được từ các công trình đó được chính xác, phản ánh khách quan tính tự nhiên của khu vực, bảo đảm tiêu chuẩn quốc tế.

6. Tư liệu khí tượng thuỷ văn là dữ liệu, mẫu vật được thu thập, khai thác từ công trình khí tượng thuỷ văn và được xử lý, lưu trữ dưới nhiều hình thức.

Điều 3

Nhà nước có chính sách đầu tư và bảo đảm để các công trình khí tượng thuỷ văn cơ bản được khai thác ổn định, lâu dài và từng bước được hiện đại hoá, đáp ứng yêu cầu của quốc gia và quốc tế.

Điều 4

Nhà nước có chính sách khuyến khích, bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước hợp tác đầu tư nghiên cứu khoa học, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ vào việc khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn.

Nhà nước thực hiện các điều ước quốc tế về khí tượng thuỷ văn mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

Điều 5

Việc sửa chữa, tu bổ, nâng cấp công trình khí tượng thuỷ văn phải tuân theo quy hoạch, kế hoạch, luận chứng kinh tế - kỹ thuật và phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Đối với công trình khí tượng thuỷ văn chuyên dùng thì ngoài việc phải tuân theo quy định tại đoạn một Điều này còn phải được Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn thẩm định về tiêu chuẩn kỹ thuật khí tượng thuỷ văn.

Chủ công trình khí tượng thuỷ văn phải có trách nhiệm tổ chức quản lý, khai thác và bảo vệ công trình của mình.

Điều 6

Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân có trách nhiệm chấp hành các quy định của pháp luật về khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn; phát hiện, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật về khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn.

Điều 7

Hội đồng nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát việc thi hành pháp luật về khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn.

Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình động viên, giáo dục nhân dân bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn và giám sát việc thi hành pháp luật về khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn.

Điều 8

Nghiêm cấm mọi hành vi xâm hại đến công trình khí tượng thuỷ văn.

 

Chương 2. KHAI THÁC CÔNG TRÌNH KHÍ TƯỢNG THUỶ VĂN

 

Điều 9

Khai thác công trình khí tượng thuỷ văn bao gồm:

1. Quan trắc, thu thập các yếu tố và hiện tượng khí tượng thuỷ văn, các yếu tố về môi trường không khí và nước;

2. Thu nhận và phát báo kết quả quan trắc các yếu tố khí tượng thuỷ văn, các yếu tố môi trường không khí và nước; xử lý thông tin dự báo khí tượng thuỷ văn và dự báo thời tiết;

3. Lưu trữ các tư liệu khí tượng thuỷ văn và cung cấp tư liệu theo yêu cầu của người sử dụng.

Điều 10

Mọi hoạt động trong hành lang an toàn kỹ thuật của công trình khí tượng thuỷ văn không được làm ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của công trình và tính khách quan về điều kiện tự nhiên của khu vực.

Chính phủ quy định về hành lang an toàn kỹ thuật của từng loại công trình khí tượng thuỷ văn.

Điều 11

Công trình khí tượng thuỷ văn chỉ được di chuyển trong trường hợp cần thiết. Thẩm quyền quyết định việc di chuyển được quy định như sau:

1. Thủ tướng Chính phủ quyết định việc di chuyển công trình khí tượng thuỷ văn thuộc loại đặc biệt và thuộc mạng lưới phát báo quốc tế.

Chính phủ quy định Danh mục các công trình khí tượng thuỷ văn cơ bản thuộc loại đặc biệt theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn;

2. Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn quyết định việc di chuyển các công trình khí tượng thuỷ văn cơ bản khác;

3. Chủ đầu tư xây dựng công trình khí tượng thuỷ văn chuyên dùng quyết định việc di chuyển công trình khí tượng thuỷ văn của mình và thông báo tới Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn.

Việc di chuyển các công trình khí tượng thuỷ văn được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này phải bảo đảm tính đồng nhất, liên tục của tư liệu khí tượng thuỷ văn.

Điều 12

Tư liệu khí tượng thuỷ văn trước khi sử dụng phải được đánh giá chất lượng theo tiêu chuẩn kỹ thuật ngành về tư liệu khí tượng thuỷ văn và phải được cơ quan quản lý có thẩm quyền xác nhận.

Điều 13

Chính phủ quy định độ mật và thời hạn bảo mật tư liệu khí tượng thuỷ văn. Tuỳ theo độ mật và thời hạn bảo mật, Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn trình Thủ tướng Chính phủ quy định việc khai thác và cung cấp tư liệu khí tượng thuỷ văn.

Điều 14

Người khai thác, sử dụng tư liệu khí tượng thuỷ văn phải trả lệ phí theo quy định của pháp luật.

Chính phủ quy định mức lệ phí đối với từng loại tư liệu.

Dịch vụ khí tượng thuỷ văn được thực hiện theo quy định của pháp luật về hợp đồng.

Điều 15

Việc khai thác và sử dụng tư liệu khí tượng thuỷ văn phục vụ cho các mục đích sau đây không phải trả lệ phí:

1. Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng của Nhà nước phục vụ các nhu cầu chung của toàn xã hội;

2. Phục vụ nhu cầu quốc phòng và an ninh quốc gia;

3. Trao đổi thông tin với nước ngoài, tổ chức quốc tế theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

 

Chương 3. BẢO VỆ CÔNG TRÌNH KHÍ TƯỢNG THUỶ VĂN

 

Điều 16

Bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn bao gồm:

1. Các biện pháp nhằm ngăn chặn mọi hành vi xâm hại công trình khí tượng thuỷ văn; phòng, tránh và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai, hoả hoạn và các trường hợp rủi ro khác gây ra;

2. Lập bản đồ quy hoạch mạng lưới công trình khí tượng thuỷ văn; xây dựng hồ sơ và chỉ giới đất công trình;

3. Thực hiện các quy định về bảo dưỡng, tu bổ và sửa chữa để công trình hoạt động đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn, ổn định và lâu dài;

4. Thực hiện các quy định về bảo mật và bảo quản tư liệu khí tượng thuỷ văn.

Điều 17

1. Công trình khí tượng thuỷ văn do tổ chức, cá nhân nào khai thác thì tổ chức, cá nhân đó chịu trách nhiệm bảo vệ công trình;

2. Công trình khí tượng thuỷ văn tại địa phương nào thì Uỷ ban nhân dân nơi đó có trách nhiệm phối hợp tổ chức bảo vệ công trình.

Trường hợp công trình bị xâm hại hoặc có sự cố xảy ra thì tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác công trình có trách nhiệm báo cáo Uỷ ban nhân dân địa phương để có biện pháp bảo vệ và khắc phục hậu quả.

Điều 18

Mọi công dân khi phát hiện công trình khí tượng thuỷ văn bị xâm hại hoặc có nguy cơ xảy ra sự cố có trách nhiệm báo ngay cho tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác công trình, chính quyền địa phương hoặc cơ quan Nhà nước nơi gần nhất để xử lý kịp thời.

Điều 19

Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

1. Xâm hại công trình khí tượng thuỷ văn;

2. Lấn chiếm đất đai thuộc phạm vi công trình; vi phạm quy định về hành lang an toàn kỹ thuật của công trình;

3. Cản trở việc khai thác, sử dụng công trình;

4. Cung cấp hoặc sử dụng tư liệu khí tượng thuỷ văn trái với quy định bảo mật của Nhà nước và các quy định khác của pháp luật.

Điều 20

Tư liệu của công trình khí tượng thuỷ văn cơ bản được đưa vào lưu trữ Nhà nước.

Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn phối hợp với Cục Lưu trữ Nhà nước quy định chế độ lưu trữ và bảo vệ tư liệu khí tượng thuỷ văn quy định tại đoạn một Điều này.

Tư liệu của công trình khí tượng thuỷ văn chuyên dùng do tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác công trình đó chịu trách nhiệm lưu trữ và bảo vệ theo quy định của pháp luật.

 

Chương 4. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ CÔNG TRÌNH KHÍ TƯỢNG THUỶ VĂN

 

Điều 21

Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn trong phạm vi cả nước.

Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn.

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn.

Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về khai thác và bảo vệ các công trình khí tượng thuỷ văn tại địa phương mình theo hướng dẫn của Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn.

Điều 22

Nội dung quản lý Nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn bao gồm:

1. Ban hành văn bản pháp quy, quy trình, quy phạm và tiêu chuẩn kỹ thuật về khai thác, bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn và đánh giá chất lượng tư liệu khí tượng thuỷ văn; hướng dẫn và giám sát việc thực hiện các văn bản đó;

2. Thẩm định tiêu chuẩn kỹ thuật khí tượng thuỷ văn đối với luận chứng kinh tế - kỹ thuật về xây dựng cải tạo, mở rộng và nâng cấp các công trình khí tượng thuỷ văn;

3. Tổ chức đăng ký công trình khí tượng thuỷ văn, cấp và thu hồi giấp phép hoạt động của công trình khí tượng thuỷ văn;

4. Nghiên cứu khoa học, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ vào việc khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn; đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho những người làm công tác khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn;

5. Kiểm tra, thanh tra việc khai thác, bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn; giải quyết tranh chấp và xử lý theo thẩm quyền các vi phạm về khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn;

6. Tuyên truyền, động viên nhân dân thực hiện các quy định về bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn;

7. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khí tượng thuỷ văn.

Điều 23

Tổ chức có công trình khí tượng thuỷ văn chuyên dùng phải đăng ký tại Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn.

Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn quy định và hướng dẫn thực hiện đăng ký công trình khí tượng thuỷ văn, cấp và thu hồi giấp phép hoạt động của công trình.

Việc khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn chuyên dùng phục vụ quốc phòng và an ninh do Thủ tướng Chính phủ quy định.

Điều 24

Việc giải quyết tranh chấp về khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn được quy định như sau:

1. Tranh chấp liên quan đến đất công trình khí tượng thuỷ văn cơ bản được giải quyết theo quy định của Luật Đất đai và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

2. Tranh chấp liên quan đến khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn do Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn giải quyết. Trường hợp không giải quyết được thì Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn trình Thủ tướng Chính phủ quyết định;

3. Tranh chấp trong việc thực hiện hợp đồng về dịch vụ khí tượng thuỷ văn do Toà án nhân dân giải quyết.

Điều 25

Thanh tra về khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn là thanh tra chuyên ngành.

Tổng cục Khí tượng thuỷ văn có trách nhiệm thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn.

Điều 26

Nội dung thanh tra về khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn bao gồm:

1. Thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn;

2. Thanh tra về chất lượng tư liệu khí tượng thuỷ văn do các tổ chức, cá nhân có công trình khí tượng thuỷ văn cung cấp;

3. Thanh tra việc thực hiện quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật khí tượng thuỷ văn.

Điều 27

Trong quá trình thanh tra, Đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên có quyền:

1. Yêu cầu các tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tư liệu và trả lời những vấn đề cần thiết cho việc thanh tra;

2. Tiến hành các biện pháp thanh tra kỹ thuật tại hiện trường;

3. Xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý các vi phạm;

4. Quyết định tạm đình chỉ trong trường hợp khẩn cấp các hoạt động có nguy cơ gây thiệt hại đến công trình khí tượng thuỷ văn và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định đó, đồng thời báo cáo ngay với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý.

Điều 28

Tổ chức, các nhân có quyền khiếu nại với Tổng cụ trưởng Tổng cục Khí tượng thuỷ văn về kết luận và biện pháp xử lý của Đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên tại cơ sở mình.

Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo với Tổng cục Khí tượng thuỷ văn hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của Nhà nước những hành vi vi phạm pháp luật về khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn.

Cơ quan nhận được khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại và tố cáo của công dân và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

 

Chương 5. KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

 

Điều 29

Tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn, ngăn chặn hành vi xâm hại công trình khí tượng thuỷ văn thì được khen thưởng theo quy định chung của Nhà nước.

Những người đấu tranh chống hành vi vi phạm pháp luật về khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn mà bị thiệt hại về tài sản, sức khoẻ hoặc tính mạng thì được bồi thường theo quy định của pháp luật.

Điều 30

Người nào xâm hại đến công trình khí tượng thuỷ văn, lấn chiếm đất của công trình khí tượng thuỷ văn hoặc có hành vi khác vi phạm pháp luật về khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra mà bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 31

Người nào được giao nhiệm vụ quản lý, khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn mà thiếu tinh thần trách nhiệm gây thiệt hại cho công trình, để mất tư liệu khí tượng thuỷ văn; lợi dụng chức vụ, quyền hạn bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật, quyết định xử lý trái pháp luật hoặc trái quy định kỹ thuật về khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 32

Người nào có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho tổ chức có công trình khí tượng thuỷ văn thì ngoài việc bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Điều 30, Điều 31 của Pháp lệnh này, còn phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

 

Chương 6. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

 

Điều 33

Tổ chức có công trình khí tượng thuỷ văn chuyên dùng đã được xây dựng trước ngày Pháp lệnh này có hiệu lực phải làm thủ tục đăng ký công trình đó theo quy định tại Điều 23 của Pháp lệnh này.

Điều 34

Pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày ban hành.

Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bị bãi bỏ.

Điều 35

Chính phủ quy định chi tiết thi hành pháp lệnh này.

 

 

TM Uỷ ban Thường vụ Quốc hội

Chủ tịch

 

Nông Đức Mạnh

Thuộc tính văn bản
Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn số 38-L/CTN
Cơ quan ban hành:Uỷ ban Thường vụ Quốc hộiSố công báo: Đã biết
Số hiệu:38-L/CTNNgày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản:Pháp lệnhNgười ký:Lê Đức Anh
Ngày ban hành:10/12/1994Ngày hết hiệu lực: Đã biết
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực: Lĩnh vực khác
Tóm tắt văn bản
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE STANDING COMMITTEE OF NATIONAL ASSEMBLY
-------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom – Happiness
---------

No: 38-L/CTN

Hanoi, December 02, 1994

 

ORDINANCE

ON UTILIZATION AND PROTECTION OF HYDRO-METEOROLOGICAL WORKS

In order to strengthen the State management, and enhance the responsibility of State agencies, economic and social organizations, units of the People's Armed Forces and all individuals, in the utilization and protection of hydro-meteorological works with a view to serving basic survey, scientific research and hydro-meteorological forecast, contributing to preventing and combating natural calamities, promoting socio-economic development, serving national defense and security, and protecting the air and water environment;

Pursuant to Article 91 of the 1992 Constitution of the Socialist Republic of Vietnam;

This Ordinance provides for the utilization and protection of the hydro-meteorological works.

Chapter I

GENERAL PROVISIONS

Article 1.- The hydro-meteorological works are technical-material installations used in observing and gathering hydro-meteorological elements and phenomena and factors in the air and water environment.

The hydro-meteorological works include: the hydro-meteorological stations and posts, the hydro-meteorological documents, the specialized facilities, machinery and equipment and houses directly engaged in hydro-meteorological operations, the specialized land plots, the protection system, the technical safety corridor and the other support works.

The hydro-meteorological works are classified in two categories: the basic hydro-meteorological works, and the specialized hydro-meteorological works.

Article 2.- In this Ordinance, the below-listed technical terms are to be understood as follows:

1. "The basic hydro-meteorological work" is a project built with State investment for basic surveys on hydro-meteorology, and managed and utilized by the State on a stable and long-term basis in service of social needs.

2. "The specialized hydro-meteorological work" is a project built and utilized in service of the specialized and professional activities of the hydro-meteorological service.

3. "The hydro-meteorological post" is a project which is directly engaged in observing hydro-meteorological elements and environmental factors of the air and water on the surface, under water, in rivers at sea and in the air.

4. "The hydro-meteorological station" is a project which is directly engaged in observing hydro-meteorological elements and environmental factors of the air and water; assessing data collected by different hydro-meteorological posts; producing hydro-meteorological and weather forecasts and supplying regional hydro-meteorological information.

5. "The corridor for technical safety" is the necessary air space and areas of land, water surface and under water to ensure that the protect operate according to its technical norms and the hydro-meteorological data it gathers be precise, objectively reflecting the natural conditions of the region and meeting international standards.

6. "The hydro-meteorological document" is the data and samples gathered by hydro-meteorological projects and processed and stored in various forms.

Article 3.- The State shall have policies to invest in and ensure that the basic hydro-meteorological works be utilized on a stable and long-term basis and step by step modernized to meet the national and international requirements.

Article 4.- The State shall adopt policies to promote and protect the legitimate rights and interests of domestic and foreign organizations and individuals in their cooperation and investment in scientific research and application of technical and technological advances to the utilization and protection of the hydro-meteorological works.

The State shall implement the international agreements and conventions on hydro-meteorology, which the Socialist Republic of Vietnam has acceded to.

Article 5.- The repair, maintenance and upgrading of the hydro-meteorological works shall comply with their schemes, plans and eco-technical blueprints and be approved by the competent State authority.

With regard to the specialized hydro-meteorological works, apart from complying with the provision of Paragraph I of this Article, they shall be subject to technical evaluation by the General Department of Hydro-Meteorology.

The owner of the hydro-meteorological work is responsible for the management, utilization and protection of his/her work.

Article 6.- The State agencies, economic and social organizations, units of the People's Armed Forces and all individuals are responsible for observing the legal provisions on utilization and protection of the hydro-meteorological works; and for detecting and denouncing acts of violation of legal provisions on utilization and protection of the hydro-meteorological works.

Article 7.- The People's Councils at all levels shall, within their tasks and powers, be responsible for supervising the implementation of the law on utilization and protection of the hydro-meteorological works.

The State shall create conditions for the Vietnam Fatherland Front and its member organizations, within their tasks and powers, to encourage and educate the population to take part in the protection of the hydro-meteorological works and the supervision of the implementation of the law on utilization and protection of the hydro-meteorological works.

Article 8.- All acts of infringement on and damage to hydro-meteorological works are strictly prohibited.

Chapter II

UTILIZATION HYDRO-METEOROLOGICAL WORKS

Article 9.- The utilization of the hydro-meteorological works includes:

1. To observe and gather hydro-meteorological elements and phenomena, and the factors of the air and water environment;

2. To receive and disseminate observation results of hydro-meteorological phenomena and factors of the water and air environment; to process information for hydro-meteorological and weather forecasts.

3. To store documents on hydro-meteorology and supply documents requested by users.

Article 10.- All activities within the corridor of technical safety of hydro-meteorological projects must not affect their normal operation and the objectivity of the natural conditions in their areas of location.

The Government shall make provisions for the corridor of technical safety for each category of hydro-meteorological projects.

Article 11.- The hydro-meteorological works can only be moved only in case of necessity. The competence to this effect is defined as follows:

1. The Prime Minister shall decide on the moving of hydro-meteorological works of special category and those connected to international dissemination network.

The Government shall adopt a list of the basic hydro-meteorological works of special category to be proposed by the General Director of the General Department of Hydro-Meteorology;

2. The General Director of the General Department of Hydro-Meteorology shall decide on the moving of the other basic hydro-meteorological works;

3. The investor in the construction of a specialized hydro-meteorological work can decide on the moving of his/her work but he/she must notify the General Department of Hydro-Metrology.

The moving of the hydro-meteorological works stipulated in Items 1 and 2 of this Article must ensure the consistency and continuity of the hydro-meteorological data.

Article 12.- Before their utilization, the hydro-meteorological data must be assessed according to professional technical standards for hydro-meteorological documents and endorsed by the competent management authority.

Article 13.- The Government shall provide for the levels and time lengths of confidentiality for the hydro-meteorological documents. Depending on the confidentiality levels and time lengths of the documents, the General Director of the General Department of Hydro-Meteorology shall submit to the Prime Minister for approval the regulations on utilization and provision of hydro-meteorological documents.

Article 14.- The users of hydro-meteorological documents shall pay a fee in accordance with the provisions of law.

The Government shall provide for the user's fees for each document category.

Hydro-meteorological services shall be conducted in accordance with the legal provisions for contracts.

Article 15.- The utilization of hydro-meteorological documents shall be exempted from fee payment when it is done for the following purposes:

1. For announcement over State mass media in service of social needs;

2. To serve national defense and security needs;

3. For exchange of information with foreign countries and international organizations in implementation of the international agreements that the Socialist Republic of Vietnam has signed or acceded to.

Chapter III

PROTECTION OF HYDRO-METEOROLOGICAL WORKS

Article 16.- The protection of hydro-meteorological works includes:

1. The measures aimed at preventing all acts of harm against hydro-meteorological works; and at preventing, diverting and relieving harms due to natural calamity, fire and other risks;

2. The planning of networks of hydro-meteorological works; the documenting and mapping of land areas for hydro-meteorological works;

3. The implementation of the norms for maintenance, refurbishing and repair to help the works operate according to technical standards and on a safe, steady and long-term basis;

4. The implementation of the provisions for secrecy and storage of the hydro-meteorological documents.

Article 17.-

1. The organizations and individuals that utilize a hydro-meteorological work are responsible for its protection.

2. The People's Committee at the locality where there is a hydro-meteorological work is responsible for coordinating in its protection.

In the event the work is harmed by an act of violation or by an incident, the organizations and individuals that utilize it are responsible for reporting the happening to the local People's Committee for measures to protect it and overcome the consequences.

Article 18.- All citizens, who discover that a hydro-meteorological work is harmed or threatened to be harmed, are responsible for reporting the discovery immediately to the organizations and individuals that utilize it, or the nearest local authority or State agency for timely control measures.

Article 19.- The following acts are banned:

1. To do harm to the hydro-meteorological work;

2. To encroach upon the land within the premises of the work; to violate regulations on the technical safety corridor of the work;

3. To hinder the utilization of the work;

4. To provide or use hydro-meteorological data and documents in violation of the State regulation on State secrets and other legal provisions.

Article 20.- Documents of the basic hydro-meteorological works are stored in the State archives.

The General Department of Hydro-Meteorology shall, in coordination with the State Archives, set the regime for storage and protection of the documents on hydro-meteorology stipulated in Paragraph I of this Article.

Documents of the specialized hydro-meteorological works are to be stored and protected by their managing organizations and individuals in accordance with the provisions of law.

Chapter IV

STATE MANAGEMENT OF THE UTILIZATION AND PROTECTION OF HYDRO-METEOROLOGICAL WORKS

Article 21.- The Government exercises unified management of the utilization and protection of the hydro-meteorological works throughout the country.

The General Department of Hydro-Meteorology performs the function of State management of the utilization and protection of the hydro-meteorological works.

The Ministries, the Agencies at ministerial level and the Agencies attached the Government shall, within their powers, be responsible for coordinating with the General Department of Hydro-Meteorology to perform the function of State management of the utilization and protection of the hydro-meteorological works.

The People's Committees at all levels shall perform the function of State management of the utilization and protection of the hydro-meteorological works in their localities under the guidance of the General Director of the General Department of Hydro-Meteorology.

Article 22.- The content of the State management of the utilization and protection of the hydro-meteorological works includes:

1. To issue legal documents, procedures, regulations and technical standards for the utilization and protection of hydro-meteorological works and to evaluate the quality of hydro-meteorological works; to guide and supervise the implementation of these documents;

2. To carry out expertise of the hydro-meteorology technical standards of the technical-economic blue-prints for construction, transformation, expansion and upgrading of the hydro-meteorological works;

3. To organize the registration of hydro-meteorological works; to issue and withdraw operating licenses of hydro-meteorological works;

4. To conduct scientific research and apply technical and technological advances to the utilization and protection of hydro-meteorological works; to train and foster personnel in the utilization and protection of the hydro-meteorological works;

5. To control and inspect the utilization and protection of the hydro-meteorological works; to settle disputes and, within their jurisdiction, handle acts of violation of regulations on the utilization and protection of the hydro-meteorological works;

6. To educate and encourage the population to implement the provisions on the utilization and protection of the hydro-meteorological works;

7. To conduct international cooperation in the field of hydro-meteorology.

Article 23.- The organizations which have specialized hydro-meteorological works must register them with the General Department of Hydro-Meteorology.

The General Director of the General Department of Hydro-Meteorology shall set the regulations and provide guidance for the registration of the hydro-meteorological works, and issue and withdraw operating licenses of these works.

The utilization and protection of the specialized hydro-meteorological works in service of national defense and security shall be defined by the Prime Minister.

Article 24.- The settlement of disputes over the utilization and protection of the hydro-meteorological works are defined as follows:

1. Disputes related to the land areas which house the basic hydro-meteorological works shall be settled in accordance with the provisions of the Land Law and other related legal provisions;

2. Disputes related to the utilization and protection of the hydro-meteorological works shall be handled by the General Director of the General Department of Hydro-Meteorology. In the event of a settlement failure, the General Director of the General Department of Hydro-Meteorology shall submit the case to the Prime Minister for decision;

3. Disputes over the implementation of contracts on hydro-meteorological services shall be handled by the People's Court.

Article 25.- Inspection of the utilization and protection of the hydro-meteorological works is specialized inspection.

The General Department of Hydro-Meteorological shall perform specialized inspection of the utilization and protection of the hydro-meteorological works.

Article 26.- The content of inspection of the utilization and protection of the hydro-meteorological works includes:

1. Inspection of the implementation of the legal provisions on the utilization and protection of the hydro-meteorological works;

2. Inspection of the quality of hydro-meteorological documents supplied by organizations and individuals that own hydro-meteorological works;

3. Inspection of the implementation of the procedures, regulations and technical standards of hydro-meteorology.

Article 27.- In the course of inspection, the Inspection Team or Inspector has the right:

1. To request the concerned organizations and individuals to produce documents and answers to matters necessary for the inspection;

2. To conduct measures of technical inspection on the spot;

3. To handle within their jurisdiction, or to recommend to the competent State authority to handle acts of violation;

4. In the event of an emergency, to suspend temporarily the activities which threaten to damage hydro-meteorological works, and take responsibility before law for that suspension decision and, at the same time, report the incident immediately to the competent State authority for solution.

Article 28.- All organizations and individuals have the right to lodge complaints to the General Director of the General Department of Hydro-Meteorology about the conclusion and handling measures taken by the Inspection Team or Inspector at their units.

All organizations and individuals have the right to complain or denounce to the General Department of Hydro-Meteorology or another competent State authority about acts of violation of the laws on utilization and protection of the hydro-meteorological works.

The offices which receive complaints and denunciations have to consider and handle them in accordance with the provisions of law on citizen complaints and denunciations, and related legal provisions.

Chapter V

REWARDS AND SANCTIONS AGAINST VIOLATION

Article 29.- All organizations and individuals with meritorious deeds in the utilization and protection of hydro-meteorological works, and in preventing acts of infringement and damage to them, shall be rewarded in accordance with the common provisions of the State.

Those who combat acts of violation of laws on the utilization and protection of the hydro-meteorological works and who suffer losses in property, health or life, shall be compensated in accordance with the provisions of law.

Article 30.- Anyone, who damages hydro-meteorological works, encroaches upon the land of hydro-meteorological works or commits any other act of violation of the law on the utilization and protection of the hydro-meteorological works, shall, depending on the character, extent and consequence of the violation, be subject to administrative sanction or investigated for penal liability.

Article 31.- Anyone, who is assigned the tasks of managing, utilizing and protecting hydro-meteorological works but who, due to the lack of responsibility, causes damage to the works and/or losses of hydro-meteorological documents; or who abuses his/her position and power to cover those who have committed acts of violation of law, and to take decisions against law or technical provisions on utilization and protection of the hydro-meteorological works, shall, depending on the character, extent and consequence of the violation, be subject to administrative sanction or investigated for penal liability.

Article 32.- Anyone, who commits acts of violation of law and causes damage to organizations which own hydro-meteorological works, shall, apart from being charged in accordance with the provisions of Articles 30 and 31 of this Ordinance, have to pay compensations for the damage in accordance with the provisions of law.

Chapter VI

IMPLEMENTATION PROVISIONS

Article 33.- The organizations, which own specialized hydro-meteorological works already registered prior to the effective date of this Ordinance, shall re-register their works in accordance with the provisions of Article 23 of this Ordinance.

Article 34.- This Ordinance takes effect from the date of issuance.

All previous provisions which are contrary to this Ordinance shall be annulled.

Article 35.- The Government shall make detailed provisions for the implementation of this Ordinance.

 

 

ON BEHALF OF THE STANDING COMMITTEE OF THE NATIONAL ASSEMBLY
CHAIRMAN




Nong Duc Manh

 

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
Văn bản tiếng Anh
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.

Tải App LuatVietnam miễn phí trên Android tại đây trên IOS tại đây. Xem thêm

Văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!