Nghị định 24/CP của Chính phủ về thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh

Thuộc tính Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

NGHị địNH

CủA CHíNH PHủ Số 24/CP NGàY 24 THáNG 3 NăM 1995

Về THủ TụC XUấT CảNH, NHậP CảNH

 

CHíNH PHủ

 

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;

Căn cứ Nghị quyết số 38/CP ngày 4 tháng 5 năm 1994 của Chính phủ về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ,

NGHị địNH

CHươNG I
THủ TụC XUấT NHậP CảNH

 

Điều 1.-

1/ Thủ tướng Chính phủ xét, quyết định xuất cảnh đối với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (dưới đây gọi tắt là Thủ trưởng cấp Bộ và tỉnh);

2/ Thủ trưởng cấp Bộ và tỉnh xét, quyết định xuất cảnh đối với:

- Công chức, viên chức và những người thuộc biên chế cơ quan, doanh nghiệp nhà nước cấp thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều này (bao gồm cả những người được cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước được cử sang làm việc tại các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh, xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và tổ chức của nước ngoài tại Việt Nam.

- Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (bao gồm cả công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn có các doanh nghiệp nhà nước góp vốn) do Thủ trưởng cấp Bộ và tỉnh quyết định hoặc cho phép thành lập.

Thủ trưởng cấp Bộ và tỉnh có thể phân cấp cho Thủ trưởng các cơ quan sự nghiệp (Tổng cục hoặc Cục quản lý chuyên ngành thuộc Bộ, Viện nghiên cứu khoa học, Học viện hoặc Trường Đại học có quy mô quốc gia...), Giám đốc các Sở trực thuộc tỉnh, Tổng giám đốc các doanh nghiệp Nhà nước có quy mô quốc gia và thường xuyên có các quan hệ quốc tế, được quyền quyết định và chịu trách nhiệm đối với công chức, viên chức, nhân viên thuộc quyền quản lý của họ (cả về nhân sự và chuyên môn, nghiệp vụ) đi nước ngoài để thực hiện các thoả thuận hoặc hợp đồng ký kết với nước ngoài về hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học, công nghệ, đào tạo, lao động, chuyên gia v.v... mà Bộ và tỉnh đã cho phép ký hoặc đã phê duyệt việc ký kết đó.

Việc phân cấp nói trên, Thủ trưởng cấp Bộ và tỉnh phải có văn bản giới thiệu chữ ký, con dấu và quy định rõ phạm vi quyền hạn, trách nhiệm của người được uỷ quyền với Bộ Ngoại giao và Bộ Nội vụ;

3/ Thẩm quyền xét, quyết định xuất cảnh đối với công chức, viên chức, nhân viên thuộc phạm vi quản lý của các cơ quan Đảng, Đoàn thể nhân dân cấp Trung ương (Mặt trận tổ quốc, Tổng liên đoàn lao động, Hội liên hiệp phụ nữ, Đoàn thanh niên cộng sản, Hội cựu chiên binh, Hội nông dân) thực hiện theo quy định của Ban bí thư Trung ương Đảng;

4/ Bộ trưởng Bộ Nội vụ xét, quyết định xuất cảnh đối với công dân Việt Nam không thuộc diện quy định tại các khoản 1, 2, 3 nói trên như:

- Công dân xin đi học, chữa bệnh, du lịch, lao động, thăm thân nhân ở nước ngoài (trừ những trường hợp vợ/chồng, con dưới 16 tuổi xin đi thăm thân nhân là công chức, viên chức, nhân viên cơ quan đại diện nước Công hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài) hoặc xin đi nước ngoài vì các mục đích cá nhân khác;

- Hội viên của các tổ chức xã hội, hội nghề nghiệp (ngoài các đoàn thể nhân dân cấp Trung ương) được tổ chức mình cử đi công tác nước ngoài;

- Thành viên của các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất, doanh nghiệp tư nhân... được tổ chức cử đi công tác nước ngoài;

- Công dân Việt Nam làm việc trong các xí nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, xí nghiệp liên doanh với nước ngoài, chi nhánh công ty nước ngoài và văn phòng đại diện của các tổ chức nước ngoài và các tổ chức quốc tế tại Việt Nam... xin đi nước ngoài vì mục đích cá nhân hoặc do các tổ chức này cử đi làm việc ở nước ngoài.

 

Điều 2.- Thủ tục xuất cảnh đối với các đối tượng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 1 như sau:

1/ Xuất cảnh lần đầu:

a) Cơ quan có thẩm quyền cần gửi Bộ Ngoại giao và Bộ Nội vụ văn bản và danh sách nhân sự đã quyết định cho xuất cảnh;

b) Đương sự làm đơn khai xin cấp hộ chiếu và thị thực (theo mẫu do Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ quy định), có dán ảnh, có chữ ký và đóng dấu xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý mình. Nếu Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền trực tiếp ký xác nhận vào đơn khai của đương sự thì không cần văn bản nêu tại điểm a khoản này.

Người có thẩm quyền quyết định xuất cảnh chịu trách nhiệm trước pháp luật về nhân sự và việc tham khảo ý kiến các cơ quan hữu quan đối với các trường hợp phức tạp (theo quy định tại Điều 3 Quy chế quản lý đoàn ra, đoàn vào kèm theo Nghị định số 12-CP ngày 01 thàng 12 năm 1992 của Chính phủ);

2/ Xuất cảnh từ lần thứ hai trở đi: nếu thời gian cách lần xuất cảnh trước chưa quá 12 tháng thì chỉ cần văn bản của cơ quan có thẩm quyền quyết định cho xuất cảnh kèm theo hộ chiếu của đương sự còn thời hạn giá trị. Đương sự vẫn phải làm đơn khai xin cấp thị thực nhưng không cần chữ ký xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị như lần đầu;

3/ Bộ Nội vụ không xét duyệt nhân sự đối với công chức, viên chức, nhân viên và những người thuộc biên chế các cơ quan tổ chức và doanh nghiệp Nhà nước (bao gồm cả những người làm công theo chế độ hợp đồng dài hạn) được cử đi nước ngoài. Nếu phát hiện nhân sự thuộc đối tượng không được xuất cảnh hoặc chưa được phép xuất cảnh vì lý do an ninh quốc gia hoặc đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự (đang bị khởi tố, đang thi hành án... theo quy định của pháp luật) thì Bộ Nội vụ có quyền đình chỉ xuất cảnh và kịp thời thông báo cho các cơ quan hữu quan biết;

4/ Cấp hộ chiếu và thị thực xuất cảnh:

a) Bộ Ngoại giao chịu trách nhiệm cấp hộ chiếu, thị thực cho các đối tượng thuộc diện quy định tại Điều 5, Điều 6 của Nghị định số 48/CP ngày 8 tháng 7 năm 1993 của Chính phủ.

Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm cấp hộ chiếu, thị thực cho những đối tượng thuộc diện quy định tại khoản 1 và 2 Điều 7 của Nghị định số 48/CP ngày 8 tháng 7 năm 1993 của Chính phủ.

b) Trong 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ phải hoàn thành việc cấp hộ chiếu và thị thực cho đương sự.

Thị thực xuất cảnh có thể cấp cho qua lại một hoặc nhiều lần tại một hoặc nhiều cửa khẩu quốc tế của Việt Nam tuỳ theo yêu cầu công tác và đề nghị của Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền quyết định cho xuất cảnh.

 

Điều 3.- Đối với công dân Việt Nam thuộc diện quy định tại khoản 4 Điều 1, thủ tục giải quyết xuất cảnh như sau:

1/ Hồ sơ xin cấp hộ chiếu và thị thực:

a) 01 đơn khai (theo mẫu do Bộ Nội vụ quy định) có ảnh và xác nhận đồng ý của:

- Thủ trưởng cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp Nhà nước đối với nhân sự thuộc biên chế Nhà nước (kể cả những người thuộc diện biên chế Nhà nước được cử sang làm việc trong các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh, xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và của tổ chức nước ngoài tại Việt Nam);

- Công an phường, xã (nơi cư trú) đối với nhân sự ngoài biên chế Nhà nước xin xuất cảnh vì mục đích của các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế quốc doanh, xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam và vì mục đích cá nhân khác.

Người ký xác nhận vào đơn của đương sự phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nhân sự do mình chứng thực (hiện tại không có vướng mắc về an ninh, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự);

b) Giấy mời hoặc giấy bảo lãnh của tổ chức hoặc thân nhân ở nước ngoài (không bắt buộc nộp bản chính và không cần xác nhận của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài vào giấy mời).

2/ Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm:

a) Xem xét, không cho phép xuất cảnh những trường hợp thuộc diện không được xuất cảnh hoặc chưa được xuất cảnh vì lý do an ninh quốc gia hoặc đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự (đang bị khởi tố, hoặc đang thi hành án...) theo quy định của pháp luật;

b) Cấp hộ chiếu và thị thực cho các đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 7 của Nghị định số 48/CP ngày 8 tháng 7 năm 1993 của Chính phủ;

c) Thời hạn hoàn thành việc cấp hộ chiếu và thị thực:

- 07 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ đối với các trường hợp xuất cảnh để thăm dò, khảo sát thị trường và thực hiện các hợp đồng kinh tế, thương mại, dịch vụ, đào tạo, lao động, chuyên gia...;

- 10 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ đối với các trường hợp xuất cảnh vì mục đích cá nhân khác.

CHươNG II
THủ TụC NHậP CảNH

 

Điều 4.-

1/ Thủ tướng Chính phủ xét, quyết định nhập cảnh đối với các đoàn khách của Nhà nước (cả thành viên và tuỳ tùng); khách là đại diện của Chính phủ nước ngoài, của Tổ chức Liên hợp quốc có chức vụ từ cấp Bộ trưởng, Tỉnh trưởng hoặc cấp tương đương trở lên vào làm việc, thăm viếng, hội họp, tham quan khảo sát, trao đổi kinh nghiệm, chữa bệnh...theo lời mời của các cấp tương đương của Việt Nam;

2/ Bộ trưởng Bộ Ngoại giao thông báo cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp thị thực cho các đối tượng sau đây sau khi đã thông báo các yếu tố về nhân sự với Bộ Nội vụ:

- Viên chức, nhân viên các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước ngoài và cơ quan đại diện các tổ chức quốc tế, tổ chức liên chính phủ (bao gồm cả những người trong gia đình và người phục vụ riêng cùng đi, cùng sống với họ);

- Những người nước ngoài do Chính phủ nước họ hoặc tổ chức quốc tế, tổ chức liên Chính phủ cử hoặc giới thiệu (qua đường ngoại giao) vào làm việc với cơ quan đại diện hoặc vào thăm thân nhân là viên chức, nhân viên cơ quan đại diện của họ tại Việt Nam;

- Những trường hợp khẩn cấp do yêu cầu đối ngoại và nhân đạo;

3/ Việc mời khách nước ngoài vào làm việc với các cơ quan của Đảng, đoàn thể nhân dân cấp Trung ương thực hiện theo quy định của Ban Bí thư Trung ương Đảng;

4/ Thủ tục giải quyết nhập cảnh đối với khách thuộc diện quy định tại Điều này như sau:

a) Khi có quyết định của cấp có thẩm quyền nói tại các khoản 1, 2, 3 trên đây, cơ quan hoặc tổ chức được giao nhiệm vụ đón và bố trí chương trình hoạt động của khách có trách nhiệm thông báo danh sách nhân sự cho Bộ Nội vụ để theo dõi;

b) Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài chịu trách nhiệm làm các thủ tục đối ngoại và cấp thị thực (nếu cần) khi nhận điện báo của Bộ Ngoại giao;

c) Bộ Nội vụ không làm thủ tục cấp phép nhập cảnh đối với những khách quy định tại Điều này, nếu phát hiện nhân sự thuộc đối tượng không được nhập cảnh Việt Nam thì Bộ Nội vụ phối hợp với Bộ Ngoại giao từ chối việc nhập cảnh.

 

Điều 5.- Đối với khách nhập cảnh thuộc đối tượng miễn thị thực theo Hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài, thủ tục giải quyết như sau:

- Cơ quan, tổ chức đón tiếp khách có trách nhiệm thông báo cho Bộ Nội vụ ít nhất là 5 ngày trước ngày khách nhập cảnh về các yếu tố nhân sự cần thiết, về mục đích, chương trình hoạt động và thời gian tạm trú của họ tại Việt Nam;

- Nếu phát hiện nhân sự thuộc đối tượng không được nhập cảnh Việt Nam thì Bộ Nội vụ không cho nhập cảnh hoặc buộc phải xuất cảnh theo quy định của pháp luật;

- Trạm Công an cửa khẩu quốc tế có trách nhiệm cấp chứng nhận tạm trú có thời hạn theo đề nghị của cơ quan, tổ chức đón tiếp phù hợp với Hiệp định đã ký kết giữa hai nước.

 

Điều 6.- Đối với khách thuộc diện phải xét cấp thị thực theo thời hạn quy định trong Hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài, thủ tục giải quyết như sau:

- Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài khi nhận hồ sơ xin thị thực của khách, có trách nhiệm điện báo kịp thời các chi tiết cần thiết về Bộ Nội vụ và cơ quan, tổ chức ở trong nước mà khách có yêu cầu làm việc, và được thu tiền cước phí điện báo (2 chiều) của khách theo thời giá của nước sở tại;

- Sau thời hạn quy định trong Hiệp định (thời hạn bắt đầu tính từ ngày nhận hồ sơ và điện báo về nước), nếu cơ quan đại diện không nhận được điện trả lời của trong nước thì:

+ Cơ quan đại diện từ chối cấp thị thực đối với khách không có cơ quan, tổ chức ở Việt Nam nhận đón tiếp;

+ Cơ quan đại được quyền cấp thị thực đối với khách có giấy tờ chứng minh đã có cơ quan, tổ chức ở Việt Nam mời hoặc nhận đón tiếp, đồng thời điện báo (họ tên, số hộ chiếu của khách, số và ngày cấp thị thực, thời gian nhập cảnh) về Bộ Nội vụ và cơ quan đón tiếp để theo dõi quản lý;

- Nếu phát hiện nhân sự thuộc đối tượng không được nhập cảnh Việt Nam thì Bộ Bội vụ không cho nhập cảnh hoặc buộc phải xuất cảnh.

 

Điều 7.- Đối với người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài (gọi chung là khách) không thuộc diện quy định tại Điều 4, Điều 5 và Điều 6 của Nghị định này, nếu nhập cảnh Việt Nam đều phải qua khâu xem xét nhân sự và cấp phép nhập cảnh của Bộ Nội vụ trước khi cấp thị thực. Thủ tục giải quyết cụ thể như sau:

1/ Khách do các cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân của Việt Nam (sau đây gọi tắt là cơ quan, tổ chức) mời vào làm việc với cơ quan, tổ chức đó thì:

- Thủ trưởng cơ quan, tổ chức mời và đón tiếp khách có văn bản kèm theo danh sách và các yếu tố nhân sự cần thiết đề nghị Bộ Nội vụ xem xét nhân sự và cấp phép nhập cảnh;

- Bộ Nội vụ có trách nhiệm xem xét, trả lời kết quả (cấp hay không) trong 05 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ;

- Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp thị thực cho khách theo nội dung điện báo của Bộ Nội vụ;

2/ Đối với khách do xí nghiệp liên doanh với nước ngoài, xí nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh công ty nước ngoài, văn phòng đại diện tổ chức kinh tế nước ngoài tại Việt Nam mời vào để thực hiện các mục tiêu sản xuất, kinh doanh của họ phù hợp giấy phép thành lập xí nghiệp hoặc đăng ký hoạt động tại Việt Nam, và khách do thân nhân của họ là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam mời về thăm quê hương, thủ tục giải quyết như sau:

a) Trường hợp xin nhập cảnh bình thường:

- Người đứng đầu xí nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện... hoặc công dân có văn bản hoặc đơn đề nghị Bộ Nội vụ cấp phép nhập cảnh kèm theo danh sách nhân sự (theo mẫu do Bộ Nội vụ quy định);

K Bộ Nội vụ có trách nhiệm xem xét, trả lời (cấp hay không) trong 05 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ;

- Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài cấp thị thực cho khách khi nhận được điện báo của Bộ Nội vụ;

b) Trường hợp xin nhập cảnh để thực hiện dự án đầu tư đã được Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và đầu tư cấp giấy phép, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài được quyền cấp thị thực trong 05 ngày, kể từ ngày khách nộp đủ hồ sơ hợp lệ (thực hiện theo quy định tại Điều 95 Nghị định số 18/CP ngày 16/4/1993 của Chính phủ). Sau khi cấp thị thực, cơ quan đại diện phải điện báo (họ tên, số hộ chiếu, số và ngày thị thực, mục đích và thời gian nhập cảnh) về Bộ Nội vụ và cơ quan đón tiếp để theo dõi, quản lý;

3/ Trường hợp chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân ở Việt Nam mời đón tiếp nhưng khách đã chủ động tới cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài xin thị thực vào Việt Nam để thăm dò khả năng buôn bán, đầu tư, tham quan, du lịch..., thủ tục giải quyết như sau:

a) Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm điện báo kịp thời về nước cho một trong các tổ chức kinh doanh, dịch vụ quy định dưới đây và được thu cước phí điện báo (hai chiều) theo thời giá của nước sở tại:

- Công ty Dịch vụ và Thương mại (TSC) thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam;

- Các công ty dịch vụ tư vấn đầu tư do Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư giới thiệu hoặc chỉ định (mỗi miền Bắc, Trung, Nam chỉ định một công ty);

- Các Công ty Du lịch quốc tế của Việt Nam do Tổng cục Du lịch chỉ định (mỗi miền một công ty);

b) Khi nhận được điện báo của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, tổ chức kinh doanh dịch vụ nói trên có trách nhiệm làm thủ tục xin cấp phép nhập cảnh tại Bộ Nội vụ và thu phí dịch vụ (ngoài lệ phí visa) theo biểu phí do liên Bộ Tài chính - Ngoại giao - Nội vụ quy định;

c) Bộ Nội vụ có trách nhiệm trả lời việc xét cấp phép nhập cảnh trong thời hạn tối đa 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và điện báo cho cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài cấp thị thực theo yêu cầu của các tổ chức dịch vụ;

d) Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp thị thực cho khách theo nội dung điện báo của Bộ Nội vụ.

 

Điều 8.- Đối với khách do các cơ quan của Đảng, Nhà nước từ cấp tỉnh trở lên và của các đoàn thể nhân dân cấp Trung ương mời vào làm việc từ lần thứ hai trở đi mà thời gian cách lần nhập cảnh trước không quá 12 tháng, thì cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp thị thực cho khách theo điện mời hoặc giấy mời của các cơ quan ở trong nước (do khách xuất trình), sau đó điện báo (họ tên, số hộ chiếu, số và ngày thị thực, thời gian nhập cảnh) về Bộ Nội vụ và các cơ quan đón tiếp để theo dõi, quản lý.

 

 

Điều 9.-

1/ Thị thực nhập cảnh Việt Nam phải ghi trực tiếp vào hộ chiếu của khách, không cấp thị thực tờ rời, trừ một số trường hợp đặc biệt do Ban Bí thư Trung ương Đảng hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định;

2/ Lệ phí thị thực (visa) phải thu theo đúng biểu phí do liên Bộ Tài chính - Ngoại giao - Nội vụ quy định và thông báo công khai; không một cơ quan, tổ chức và cá nhân nào được thu ngoài quy định đó. Phí dịch vụ và cước phí điện báo quy định tại Điều 6, Điều 7 của Nghị định này phải thu riêng, không được thu gộp với lệ phí visa.

CHươNG III
ĐIềU KHOảN THI HàNH

 

Điều 10.-

1/ Quản lý xuất nhập cảnh phải theo một đầu mối thống nhất. Các Bộ Ngoại giao, Nội vụ và cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài phải phối hợp chặt chẽ và thông tin thông suốt. Bộ Tài chính tạo nguồn kinh phí cho Bộ Ngoại giao, Nội vụ hiện đại hoá mạng lưới thông tin phục vụ công tác quản lý xuất nhập cảnh, bảo đảm an toàn và nhanh chóng từ trong nước tới ngoài nước, từ cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Trung ương tới các địa phương và các cửa khẩu quốc tế;

2/ Bộ Nội vụ nhanh chóng củng cố, sắp xếp lại bộ máy quản lý, kiểm soát và làm thủ tục xuất nhập cảnh tại các cửa khẩu quốc tế (đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường không) thành một đầu mối thống nhất. Việc sắp xếp này phải hoàn thành trong 90 ngày kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.

 

Điều 11.- Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 4 năm 1995; thay thế các Quyết định số 193/CT ngày 10/5/1987 và số 48/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ); những quy định tại các Nghị định số 12/CP ngày 01/12/1992, số 04/CP ngày 18/01/1993 và số 48/CP ngày 08/07/1993 của Chính phủ và những quy định trước đây của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trái với Nghị định này đều bãi bỏ.

 

Điều 12.- Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Tài chính theo chức năng, nhiệm vụ được giao chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực phải có văn bản hướng dẫn chi tiết thực hiện các quy định của Nghị định này.

 

Điều 13.- Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành.

Thuộc tính văn bản
Nghị định 24/CP của Chính phủ về thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh
Cơ quan ban hành:Chính phủSố công báo: Đã biết
Số hiệu:24/CPNgày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản:Nghị địnhNgười ký:Võ Văn Kiệt
Ngày ban hành:24/03/1995Ngày hết hiệu lực: Đã biết
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực: Lĩnh vực khác
Tóm tắt văn bản
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE GOVERNMENT
-------
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom – Happiness
--------
No: 24-CP
Hanoi, March 24, 1995

 
DECREE
ON ENTRY AND EXIT VISA PROCEDURES
THE GOVERNMENT
Pursuant to the Law on Organization of the Government on the 30th of September 1992;
Proceeding from Resolution No.38-CP on the 4th of May 1994 of the Government on reforming by one step the administrative procedure in the handling of public and citizen affairs;
At the proposals of the Minister of the Interior, the Minister for Foreign Affairs, and the Minister-Director of the Office of the Government,
DECREES:
Chapter I
EXIT VISA PROCEDURES
Article 1.-
1. The Prime Minister shall consider and grant exit visas to the Ministers, Heads of the agencies at ministerial level, Presidents of the People's Committees of the provinces and cities directly under the Central Government (hereafter referred to as Ministerial and Provincial Heads);
2. The Ministerial and Provincial Heads shall consider and grant exit visas to:
- Public officials and employees and staffs on the payroll of State agencies and enterprises of the levels lower than those described in Item 1 of this Article (including those who are assigned by State agencies and enterprises to work at social organizations, non-State economic organizations, enterprises with foreign invested capital, and foreign organizations in Vietnam);
- The Chairmen (Chairwomen) of the boards of directors, and Directors of non-State enterprises (including stock and limited liability companies which have capital contributed by State enterprises), the establishments of which are decided or licensed by Ministerial and Provincial Heads.
The Ministerial and Provincial Heads may empower the Heads of the public services (general or specialized departments under Ministries, scientific research centers, institutes or universities of national status, etc.,), Directors of departments directly under provincial level, and General Directors of State enterprises of national status having regular international contacts, to dispatch overseas, and be responsible for, public officials and employees and staffs under their (organizational, professional and technical) management, to implement agreements or contracts which they have signed with foreign countries for cooperation in economy, trade, science, technology, personnel training, labor, expertise, etc., and which have been already approved by either the Ministries or provinces.
In this mandating, the Ministerial and Provincial Heads shall make written introductions to the Ministry for Foreign Affairs and the Ministry of the Interior of the signatures, seals, scopes of power and responsibility of the mandated agencies;
3. The processing of exit visas for officials, employees and staffs who are under the management of Party offices and the people's organizations of the central level (the Vietnam Fatherland Front, the Vietnam General Confederation of Labor, the Vietnam Women's Union, the Communist Youth Union, the War Veterans' Association, the Vietnam Peasants' Union) shall be conducted as prescribed by the Secretariat of the Party Central Committee;
4. The Minister of the Interior shall consider and grant exit visas to Vietnamese citizens who do not fall into the provisions of above-stipulated Items 1, 2 and 3. They include:
- Citizens who travel abroad for study, health treatment, tourism, employment, or visits of relatives (except for visits paid by spouses and children under 16 years of age to relatives who are officials, employees or staffs of overseas representative offices of the Socialist Republic of Vietnam), or who travel abroad for other personal purposes;
- Members of social or professional organizations (outside the people's organizations of the central level) who are assigned by their organizations to make overseas business trips;
- Members of non-State economic organizations: stock companies, limited liability companies, cooperatives, production teams, private enterprises, etc., who are assigned to make overseas business trips.
- Vietnamese citizens working in enterprises with 100% foreign capital, joint venture enterprises with foreign countries, branches of foreign companies, and representative offices of foreign organizations and international organizations in Vietnam... who apply to travel abroad for personal reasons, or who are sent by these organizations to work overseas.
Article 2.- The procedures for exit visas for the persons described in Items 1, 2 and 3 of Article 1 are as follows:
1. For first-time exit visa:
a) The authorized agencies shall send to the Ministry for Foreign Affairs and the Ministry of the Interior the decision and the list of personnel who have been assigned to make the overseas trips;
b) The concerned person shall fill the application form for passport and visa (form set by the Ministry for Foreign Affairs and the Ministry of the Interior) which shall be affixed with his/her photo and signature, and sealed with endorsement by the Head of his/her managing agency or unit. If the application form is directly endorsed with a signature by the Head of the authorized agency, the concerned person does not need the documents described in Point (a) of this Item.
The person with authority in deciding exit visa is responsible before law for the personnel and for consulting the concerned offices regarding complicated cases (in accordance with Article 3 of the Regulation on exit and entry delegations, issued in conjunction with Decree No 12-CP on the 1st of December 1992 of the Government);
2. For re-exit visas: If it is not more than 12 months after the first exit, only the written exit authorization of the competent agency and the valid passport of the concerned person are required. The concerned person still has to fill the application form for exit visa, but does not need the signature endorsement of the Head of his/her agency or unit, as required in the first application.
3. The Ministry of the Interior shall not make a personnel endorsement of the officials, employees, technical staffs and those who are on the payroll of State agencies, organizations and enterprises (including those who are on long-term contracts) and are assigned to make overseas trips. If it discovers that a person belongs to the category which is banned from exiting, or is not yet allowed to make overseas traveling for national security reason, or is being examined for penal liability (being prosecuted, or serving sentences, etc., in accordance with the provisions of law), the Ministry of the Interior has the right to suspend the exit visa and promptly notify the concerned offices of this suspension;
4. Issuing the passport and exit visa:
a) The Ministry for Foreign Affairs is responsible for issuing the passport and exit visa for the persons stipulated in Articles 5 and 6 of Decree 48-CP on the 8th of July 1993 of the Government.
The Ministry of the Interior is responsible for issuing the passport and exit visa for the persons stipulated in Items 1 and 2 of Article 7 of Decree 48-CP on the 8th of July 1993 of the Government.
b) Within five days from the reception of the complete and proper file, the Ministry for Foreign Affairs or the Ministry of the Interior shall complete the issuance of the passport and exit visa for the applicant.
The exit visa may be valid for single or multiple exits at one or more international gates of Vietnam, depending on the need of the trips and the proposal of the Head of the agency which is authorized to decide the exit.
Article 3.- Regarding the Vietnamese citizens stipulated in Item 4 of Article 1, the procedure for exit visa is as follows:
1. The application of the passport and exit visa is composed of:
a) 01 application (in form set by the Ministry of the Interior) affixed with photos and the endorsement by:
- The Head of the State agency, organization or enterprise for the applicants who belong to the State payroll (including those on the State payroll but assigned to work in social organizations, non-State economic organizations, enterprises with foreign invested capital, and foreign organizations in Vietnam);
- The police at the commune or ward (of residence) for personnel who is outside the State payroll and who applies for exit visa to travel for purposes of social organizations, non-State economic organization, or enterprise with foreign invested capital, foreign organization in Vietnam, or for other personal purposes.
The person who endorses the application of the concerned person shall be held responsible before law for the personnel he/she has endorsed (the concerned person being free of security problem and is not under examination for penal liability);
b) The invitation or guaranty provided by the overseas organization or relative (the concerned person is not required to hand in the original copy of the invitation nor to obtain the certification from the overseas Vietnamese representation).
2. The Ministry of the Interior is responsible for:
a) Considering and denying exit visas for persons who belong to the categories which are banned from exit, or not yet allowed to exit for reason of national security, or who are being examined for penal liability (being prosecuted or serving sentences, etc., in accordance with the provisions of law);
b) Issuing passports and exit visas to persons described in Item 3, Article 7, of Decree 48-CP on the 8th of July 1993 of the Government;
c) The time allowance for the issue of passports and exit visas:
- 07 days, from the reception of the complete and proper files for travels for market study and surveys, or for implementation of contracts on economy, trade, services, training, labor, expertise, etc.;
- 10 days, from the reception of the complete and proper files for travels for other personal purposes.
Chapter II
ENTRY VISA PROCEDURE
Article 4.-
1. The Prime Minister considers and grants entry visas to guest delegations of the State (including the official members and entourage); guests who are representatives of foreign governments and the United Nations, with ranks equivalent to minister or provincial head or higher, and who come for working session, visit, meeting, study tour, exchange of experience, medical treatment, etc., at the invitation of their Vietnamese counterparts;
2. The Minister for Foreign Affairs shall notify the overseas Vietnamese representative office to issue entry visas to the following persons after having provided the data on them to the Ministry of the Interior:
- The officials and employees of the foreign diplomatic representations and consulates, and the representative offices of international and inter-governmental organizations (including their accompanying family members and private helpers);
- The other foreign nationals assigned or recommended (through diplomatic channels) by their own governments or international or inter-governmental organizations, to work at, or to visit their relatives who are officials and employees of, their representative offices in Vietnam;
- Cases of diplomatic and humanitarian emergency;
3. The invitation of foreign guests to come and work with the offices of the Party and people's organizations of the central level shall be conducted in accordance with the regulation set by the Secretariat of the Party Central Committee;
4. The procedure for issuing entry visas for the guests described in this Article is as follows:
a) When there has been a decision by an authority described in the above-mentioned Items 1, 2 and 3, the agency or organization which is assigned to host and arrange the working schedule for the guests shall be responsible for notifying the Ministry of the Interior of the list of the guests for monitoring purpose;
b) The overseas Vietnamese representative office shall expeditiously process the visa procedure and issue the visas (if necessary) upon receiving the cables of the Ministry for Foreign Affairs;
c) The Ministry of the Interior shall not process the entry visas for the guests described in this Article; if it detects a guest belonging to the categories not allowed to enter Vietnam, the Ministry of the Interior shall coordinate with the Ministry for Foreign Affairs to deny the entry.
Article 5.- With regard to guests who are exempted from entry visas under agreements signed between the Vietnamese and foreign governments, the procedure shall be as follows:
- The host agency or organization is responsible for notifying the Ministry of the Interior at least five days before the arrival of the guests, of the essential data on them, the purposes of their trips, their working schedules and the length of their stay in Vietnam;
- If it detects that the person or persons belong to the categories not allowed to enter Vietnam, the Ministry of the Interior shall deny their entry, or force them to exit in accordance with the provisions of law;
- The international gate checkpoint is responsible for issuing the temporary and short-term entry permits at the request of the host agency or organization, in accordance with the bilateral agreement signed between the two countries.
Article 6.- With regard to guests who need to be issued visas within the time limit set by the bilateral agreement signed between the Vietnamese and foreign governments, the procedure shall be conducted as follows:
- The overseas Vietnamese representative office shall, upon receiving the visa application of the guests, notify promptly the essential data to the Ministry of the Interior, and the agencies or organizations in the country with which the guests request to work. It is allowed to collect (two-way) post charges from the guests at the current cost of the concerned country;
- Past the time limit set by the agreement (starting from the date of reception of the application file and notification to home), if the representative office has not received any response from home, it shall:
+ Refuse to issue visas to guests who have no Vietnamese host agency or organization;
+ Issue visas to guests who have written documents that they have been invited or offered hosting by a Vietnamese agency or organization and, at the same time, cable data of them (names in full, passport numbers, dates of issue and expiry of the visas, and the arrival dates) to the Ministry of the Interior and the host agency to help in the monitoring and management;
- If it detects that the person belongs to the categories not allowed to enter Vietnam, the Ministry of the Interior shall not allow him/her to enter, or shall force him/her to leave.
Article 7.- With regard to foreigners and overseas Vietnamese residents (hereafter referred to as guest) who do not fall into the categories stipulated in Articles 4, 5 and 6 of this Decree, when applying for entry, they shall be subject to personnel consideration and entry clearance by the Ministry of the Interior before being issued visas. The procedure is as follows:
1. For the guests who are invited by an agency, a people's organization, a social or economic organization having the status of a juridical person (hereafter referred to as agency and organization):
- The Head of the host agency or organization shall file a request, attached with a list of names and other necessary data to the Ministry of the Interior for personnel consideration and entry clearance;
- The Ministry of the Interior is responsible for considering and making the clearance decision (yes or no) within 05 days after reception of the full and proper file;
- The overseas Vietnamese representative office shall issue the visa to the guests as directed by the cable of the Ministry of the Interior;
2. For the guests who are invited by a foreign-invested joint venture enterprise, an enterprise with 100-percent foreign capital, a branch of a foreign company, or a representative office of a foreign economic organization in Vietnam, to come to Vietnam to carry out production and business activities in line with their licenses or business registration in Vietnam, and for the guests who are invited by their relatives who are Vietnamese citizens residing in Vietnam for home visits:
a) For regular entry:
- The Head of the host enterprise, branch, representative office..., or the host citizen shall file an application or request to the Ministry of the Interior for entry visa, attached with a list of the guests (in form set by the Ministry of the Interior);
- The Ministry of the Interior is responsible for considering and making the clearance decision (yes or no) within 05 days after the reception of the full and proper file;
- The overseas Vietnamese representative office shall issue the visa to the guest after receiving the cable of the Ministry of the Interior;
b) For entry to carry out investment projects which have been licensed by the State Committee for Cooperation and Investment, the overseas Vietnamese representative office is authorized to issue the visas within 05 days after reception of the full and proper file from the guest (in accordance with the provisions of Article 95 of Decree No.18-CP on the 16th of April 1993 of the Government). After issuing the visas, the representative office has to cable (names, passport numbers, visa numbers and dates, purposes and time of the entry) to the Ministry of the Interior and the host agencies for monitoring and management;
3. In case the guests are not invited by a Vietnamese agency, organization or individual, but have come to the overseas Vietnamese representative office to apply for visas to enter Vietnam to probe opportunities for trade, investment or tourist visits..., the procedure is as follows:
a) The overseas Vietnamese representative office is responsible for promptly cabling one of the following business and service organizations, and is allowed to collect post charges (two ways) at the current cost of the concerned country;
- The Trade and Service Company (TSC) under the Vietnam Chamber of Commerce and Industry;
- The service and investment consultancy companies recommended or appointed by the State Committee for Cooperation and Investment (one for each region, the Northern, the Central and the Southern);
- The International Tourist Companies of Vietnam appointed by the National Administration of Tourism (one for each region);
b) Upon receiving the cable sent by the overseas Vietnamese representative office, the addressed service company is responsible for filing entry visa requests to the Ministry of the Interior, and is allowed to collect service charge (apart from the visa fee) at levels jointly set by the Ministries of Finance, Foreign Affairs and the Interior;
c) The Ministry of the Interior is responsible for replying to the entry visa requests within 05 days at most after reception of the full and proper file, and shall cable the overseas Vietnamese representative office to issue entry visas requested by the service companies.
d) The overseas Vietnamese representative office shall issue the entry visas for guests as notified by the Ministry of the Interior.
Article 8.- For the guests who are invited by Party and State offices at provincial level or higher, or by people's organizations of the central level, to come for the second or more working visit not more than 12 months after the previous one, the overseas Vietnamese representative office shall issue entry visas for the guests according to the invitation cable or letter sent by the host office in the country (to be produced by the guests). After that, it shall cable (the names, passport numbers, visa numbers and dates, time of entry) to the Ministry of the Interior and the host agencies for monitoring and management.
Article 9.-
1. The entry visa into Vietnam shall be written on the pages of the passport itself, not on a separate page, except for a number of special cases to be decided by the Secretariat of the Party Central Committee or the Prime Minister;
2. The visa fee must be collected at the level jointly set and publicly announced by the Ministry of Finance, the Ministry for Foreign Affairs and the Ministry of the Interior. No agency, organization and individual is allowed to collect fees outside this level. The service and post charges as stipulated in Articles 6 and 7 of this Decree must be collected separately, and not to be grouped together with the visa fee.
Chapter III
IMPLEMENTATION PROVISIONS
Article 10.-
1. The management of exit and entry activities must be a unified management. The Ministry for Foreign Affairs, the Ministry of the Interior, and the overseas representative offices of Vietnam must cooperate closely and ensure smooth communication. The Ministry of Finance shall provide financial sources for the Ministry for Foreign Affairs and the Ministry of the Interior to modernize their information network to serve the management of exit and entry activities, and ensure that they are safe and speedy in all junctures, within the country and overseas, from immigration offices at central to local levels, and at all international ports of exit and entry.
2. The Ministry of the Interior shall quickly consolidate, rearrange its staffs for management, controlling and handling of exit and entry activities at international ports (over-land, rail, water and air routes), and put them under a unified management. This rearrangement must be completed within 90 days after the effective date of this Decree.
Article 11.- This Decree takes effect as from the 1st of April 1995;
It replaces Decisions No.193-CT on the 10th of May 1987, and No.48-CT on the 26th of February 1988, of the Chairman of the Council of Ministers (now the Prime Minister). The provisions in Decrees No.12-CP on the 1st of December 1992, No.04-CP of the 18th of January 1993, and No.48-CP of the 8th of July 1993 of the Government, and the previous provisions of the Ministries, Agencies at ministerial level, Agencies attached to the Government, and People's Committees of the provinces and cities directly under the Central Government, which are contrary to this Decree, are now annulled.
Article 12.- The Minister of the Interior, the Minister for Foreign Affairs and the Minister of Finance shall, in accordance with their vested functions and tasks, within 20 days at the latest from the effective date of this Decree, make detailed guidance for the implementation of this Decree.
Article 13.- The Ministers, the Heads of the Agencies at ministerial level, the Heads of Agencies attached to the Government, and the Presidents of the People's Committees of the provinces and cities directly under the Central Government are responsible for the implementation of this Decree.-
 

 
ON BEHALF OF THE GOVERNMENT
THE PRIME MINISTER




Vo Van Kiet

 
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
Văn bản tiếng Anh
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.

Tải App LuatVietnam miễn phí trên Android tại đây trên IOS tại đây. Xem thêm

Văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!