- Tổng quan
- Nội dung
- Dự thảo PDF
- Hồ sơ dự án
- Lược đồ
- Tải về
Dự thảo Luật về văn bản quy phạm pháp luật
Ngày cập nhật: Thứ Sáu, 14/08/2026
| Lĩnh vực: | Hành chính | Nhóm dự thảo: | Dự thảo văn bản Trung ương |
| Lần ban hành: | Lần 1 | Loại dự thảo: | Luật |
| Hạn gửi góp ý: | Đang cập nhật... | Link góp ý: | Gửi góp ý |
| Cơ quan chủ trì dự thảo: | Bộ Tư pháp | Trạng thái: |
Chưa thông qua
|
| Ngày cập nhật: | 14/08/2026 |
Phạm vi điều chỉnh
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tình trạng hiệu lực:
Chưa thông qua
Tình trạng: Chưa thông qua

QUỐC HỘI
_________
Luật số: /2026/QH16
DỰ THẢO
Ngày 14/8/2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
______________________________________
LUẬT
VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật về văn bản quy phạm pháp luật.
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và tổ
chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật.
Luật này không quy định về làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp.
Điều 2. Văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được
ban hành đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục theo quy định của Luật này.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung,
được áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong phạm vi cả nước hoặc trong
đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định
tại Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện.
2. Chính sách là tập hợp các giải pháp cụ thể của Nhà nước để giải quyết một
hoặc một số vấn đề của thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nhất định, phù hợp với
chủ trương, đường lối của Đảng.
3. Tham vấn chính sách là việc trao đổi trực tiếp giữa cơ quan lập đề xuất
chính sách với cơ quan, tổ chức, cá nhân được tham vấn theo quy định của Luật
này nhằm lựa chọn giải pháp, hoàn thiện chính sách của dự án luật, pháp lệnh.
4. Đánh giá tác động của chính sách là việc phân tích, dự báo khả năng ảnh hưởng
của từng giải pháp nhằm lựa chọn phương án tối ưu, phù hợp với mục tiêu của chính sách.

2
5. Rà soát văn bản quy phạm pháp luật là việc xem xét, đối chiếu, đánh giá
các quy định của văn bản được rà soát nhằm phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị xử lý
các quy định mâu thuẫn, chồng chéo, hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp.
6. Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là việc xem xét, đánh giá, kết luận
về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật của văn
bản được kiểm tra.
Điều 4. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
1. Hiến pháp.
2. Bộ luật, luật (sau đây gọi chung là luật) của Quốc hội.
3. Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
4. Lệnh của Chủ tịch nước.
5. Nghị định của Chính phủ.
6. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
7. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
8. Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang Bộ; thông tư của Tổng Kiểm toán nhà nước.
9. Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang Bộ.
10. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung
là cấp tỉnh).
11. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
12. Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
13. Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành
chính - kinh tế đặc biệt.
14. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp
tỉnh (sau đây gọi chung là cấp xã).
15. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã.
Điều 5. Nguyên tắc xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy
phạm pháp luật
1. Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy
phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật và không trái với điều ước quốc tế mà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; tuân thủ đúng thẩm

3
quyền, nội dung, hình thức và trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy
phạm pháp luật.
3. Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, dân
tộc; tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bình đẳng
giới; bảo đảm dân chủ, công bằng, nhân đạo, công khai, minh bạch, khoa học, kịp
thời, ổn định, khả thi, hiệu quả.
4. Kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; phòng,
chống lợi ích nhóm, cục bộ; xử lý sớm tổng thể, đồng bộ những điểm nghẽn có
nguyên nhân từ thể chế, không để quy định của pháp luật bị lợi dụng tham nhũng,
lãng phí, tiêu cực.
5. Bảo đảm việc thực hiện chủ trương phân quyền, phân cấp; giải quyết vấn
đề bất cập, phát sinh từ thực tiễn; vấn đề mới, xu hướng mới; yêu cầu quản lý nhà
nước và khuyến khích sáng tạo, khơi thông mọi nguồn lực, thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội.
6. Văn bản quy phạm pháp luật quy định thực hiện thí điểm phải xác định rõ
phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, không gian, thời gian thực hiện thí điểm
và phải được sơ kết, tổng kết để xem xét, quyết định việc tiếp tục áp dụng hoặc
dừng áp dụng hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để áp dụng chính thức.
7. Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng
hình sự và Luật Tố tụng hành chính là các luật có tính nền tảng. Trong quá trình
xây dựng, ban hành, nội dung các luật không được trái với các nguyên tắc cơ bản
được quy định trong các luật có tính nền tảng, trừ trường hợp Quốc hội có quy
định khác.
8. Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các cơ quan nhà nước
với nhau hoặc giữa cơ quan nhà nước với cá nhân, tổ chức hoặc điều chỉnh quan
hệ trong đó cơ quan, tổ chức, cá nhân nhân danh quyền lực nhà nước tham gia
được thiết kế cụ thể, chặt chẽ, minh bạch.
9. Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các cá nhân hoặc tổ
chức độc lập, bình đẳng về địa vị pháp lý, tự do xác lập, thực hiện, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ trên cơ sở tự nguyện, tự thỏa thuận và tự chịu trách
nhiệm được thiết kế theo hướng chủ yếu đặt ra khung pháp lý mang tính nguyên
tắc; các nội dung cụ thể để các chủ thể tự thoả thuận trên cơ sở nhu cầu, lợi ích,
quyền tự định đoạt, tự chịu trách nhiệm của mình trên tinh thần không vi phạm
điều cấm của luật, phát huy tính năng động, sáng tạo của người dân, doanh
nghiệp, tạo động lực quan trọng để huy động mọi nguồn lực, khơi dậy mọi tiềm
năng phục vụ phát triển đất nước.
10. Bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng, ban hành với tổ chức thi
hành văn bản quy phạm pháp luật.

4
11. Tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm công bằng,
nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực, hiệu quả.
12. Bảo đảm thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước đối
với nội dung văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi bí mật nhà nước.
Điều 6. Phản biện xã hội, tham vấn, góp ý đối với chính sách, dự thảo
văn bản quy phạm pháp luật
1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện
phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của
Luật này, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các luật khác có liên quan.
Phản biện xã hội được thực hiện trong thời gian tổ chức soạn thảo văn bản
quy phạm pháp luật.
2. Cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm tham vấn Hội đồng Dân
tộc, Ủy ban của Quốc hội, Bộ, cơ quan ngang Bộ theo quy định của Luật này.
3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các
cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền và được tạo điều kiện tham gia góp ý kiến về
chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.
4. Cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm
nghiên cứu tiếp thu, giải trình đầy đủ và công khai việc tiếp thu, giải trình ý kiến
phản biện xã hội, tham vấn chính sách, góp ý chính sách, dự thảo văn bản quy
phạm pháp luật.
Điều 7. Ngôn ngữ, thể thức, kỹ thuật trình bày và dịch văn bản quy
phạm pháp luật ra tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài
1. Ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật là tiếng Việt,
bảo đảm chính xác, phổ thông, thống nhất, diễn đạt rõ ràng, dễ hiểu.
2. Văn bản quy phạm pháp luật có thể được bố cục theo phần, chương, mục,
tiểu mục, điều, khoản, điểm; phần, chương, mục, tiểu mục, điều phải có tên.
3. Văn bản quy phạm pháp luật phải đánh số, ký hiệu bảo đảm thể hiện rõ số
thứ tự liên tục, năm ban hành, loại văn bản, cơ quan, người có thẩm quyền ban
hành văn bản.
4. Văn bản quy phạm pháp luật có thể được dịch ra tiếng dân tộc thiểu số,
tiếng nước ngoài. Bản dịch có giá trị tham khảo.
Điều 8. Văn bản quy định chi tiết
1. Văn bản có điều, khoản, điểm mà nội dung cần quy định chi tiết thì ngay
tại điều, khoản, điểm đó có thể giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy
định chi tiết.

5
Văn bản quy định chi tiết không được quy định lặp lại nội dung của văn bản
được quy định chi tiết. Cơ quan được giao ban hành văn bản quy định chi tiết
không được ủy quyền tiếp.
2. Văn bản quy định chi tiết có thể đồng thời quy định biện pháp cụ thể để tổ
chức, hướng dẫn thi hành nhưng phải phân biệt rõ các nội dung.
3. Dự thảo văn bản quy định chi tiết phải được chuẩn bị và trình đồng thời
với dự án luật, pháp lệnh và phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm
có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết.
4. Trường hợp một cơ quan được giao quy định chi tiết nhiều nội dung của
một văn bản quy phạm pháp luật thì ban hành một văn bản để quy định chi tiết
các nội dung đó, trừ trường hợp cần phải quy định trong các văn bản khác nhau.
Trường hợp một cơ quan được giao quy định chi tiết các nội dung của nhiều
văn bản quy phạm pháp luật khác nhau thì các nội dung có liên quan chặt chẽ
hoặc cùng điều chỉnh một nhóm lĩnh vực được ban hành trong một văn bản để
quy định chi tiết.
Điều 9. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn
bản quy phạm pháp luật
1. Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế bằng văn
bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn
bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành bằng văn bản của cơ quan, người có thẩm
quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 52 của Luật
này hoặc luật có quy định khác.
2. Văn bản quy phạm pháp luật bị bãi bỏ bằng văn bản của chính cơ quan,
người có thẩm quyền đã ban hành văn bản đó hoặc bằng văn bản của cơ quan,
người có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều
52 của Luật này.
3. Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn
bản khác phải xác định rõ tên văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản,
điểm của văn bản bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành.
Trường hợp bãi bỏ pháp lệnh thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội có trách nhiệm
báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Văn bản bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật quy
định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải được đăng tải trên công báo điện tử,
cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật.
4. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thay thế văn bản quy phạm pháp
luật hiện hành thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Thay đổi cơ bản chính sách, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng;
b) Sửa đổi, bổ sung về nội dung quá một phần hai tổng số điều.

6
5. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải
đồng thời sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ toàn bộ hoặc một phần của văn bản quy phạm
pháp luật do mình đã ban hành khác với quy định của văn bản quy phạm pháp luật
mới được ban hành. Trường hợp có quy định khác nhưng cần tiếp tục được áp dụng
thì phải được quy định rõ trong văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành.
6. Một văn bản quy phạm pháp luật chỉ được ban hành để đồng thời sửa đổi,
bổ sung, thay thế, bãi bỏ nội dung của nhiều văn bản quy phạm pháp luật do cùng
một cơ quan, người có thẩm quyền ban hành trong các trường hợp sau đây:
a) Để thực hiện điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên;
b) Nội dung sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ phải có liên quan chặt chẽ về
nội dung hoặc cùng điều chỉnh một nhóm lĩnh vực;
c) Để thực hiện phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính đã được phê
duyệt; phân quyền, phân cấp đã được thực hiện;
d) Để thực hiện chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền của Đảng xử lý kịp thời,
đồng bộ các quy định mâu thuẫn, chồng chéo, không còn phù hợp được phát hiện
qua rà soát văn bản quy phạm pháp luật.
Điều 10. Gửi, lưu trữ văn bản quy phạm pháp luật
1. Chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày công bố luật của Quốc hội, pháp lệnh
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc ký chứng thực, ký ban hành đối với văn
bản quy phạm pháp luật khác, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản
quy phạm pháp luật có trách nhiệm gửi văn bản để đăng tải trên công báo điện tử,
cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật.
2. Hồ sơ chính sách, dự án và bản gốc của văn bản quy phạm pháp luật phải
được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.
3. Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền ở trung
ương ban hành phải được đăng tải trên công báo điện tử nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân các cấp, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, của chính quyền
địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt phải được đăng tải trên công
báo điện tử cấp tỉnh.
4. Văn bản quy phạm pháp luật đăng tải trên công báo điện tử có giá trị như
văn bản gốc.
5. Không đăng tải trên công báo điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật
văn bản thuộc danh mục bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ
bí mật nhà nước; điều ước quốc tế có quy định về việc không đăng tải.

7
Chương II
THẨM QUYỀN BAN HÀNH,
NỘI DUNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Mục 1
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN,
NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN Ở TRUNG ƯƠNG
Điều 11. Luật
Quốc hội ban hành luật để quy định:
1. Tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án
nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà
nước, chính quyền địa phương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và cơ quan
khác do Quốc hội thành lập.
2. Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà theo Hiến
pháp phải do luật định; việc hạn chế quyền con người, quyền công dân; tội phạm
và hình phạt; tố tụng tư pháp.
3. Chính sách cơ bản về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công
nghệ, môi trường, tài chính, tiền tệ quốc gia, ngân sách nhà nước; quy định các
thứ thuế, về huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước.
4. Chính sách cơ bản về quốc phòng, an ninh quốc gia; hàm, cấp trong lực
lượng vũ trang nhân dân; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt
khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia.
5. Chính sách cơ bản về đối ngoại; hàm, cấp ngoại giao; hàm, cấp nhà nước khác.
6. Chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước.
7. Trưng cầu ý dân.
8. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp.
9. Thực hiện thí điểm một số chính sách mới thuộc thẩm quyền quyết định
của Quốc hội.
10. Tạm ngưng, điều chỉnh hiệu lực hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ
hoặc một phần luật.
11. Vấn đề khác do Quốc hội quyết định.
Điều 12. Pháp lệnh
Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh để quy định:
1. Vấn đề chưa có luật điều chỉnh được Quốc hội giao;
2. Giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh;
3. Hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân;

8
4. Tạm ngưng, điều chỉnh hiệu lực hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ
hoặc một phần pháp lệnh;
5. Nội dung được luật của Quốc hội giao;
6. Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Điều 13. Lệnh
Chủ tịch nước ban hành lệnh để quy định:
1. Tổng động viên hoặc động viên cục bộ;
2. Công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;
3. Biện pháp đặc biệt bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn
xã hội trong một số trường hợp cụ thể theo quy định của luật.
Điều 14. Nghị định
Chính phủ ban hành nghị định để quy định:
1. Chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung khác được giao trong luật, pháp
lệnh, lệnh;
2. Các biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành Hiến pháp; các biện pháp cụ thể
để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh, lệnh;
3. Các biện pháp để thực hiện chính sách kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, giáo dục, y tế,
khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, chế độ công vụ, cán bộ, công chức,
viên chức, quyền, nghĩa vụ của công dân và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền
quản lý, điều hành của Chính phủ; những vấn đề liên quan đến nhiệm vụ, quyền
hạn của từ 02 Bộ, cơ quan ngang Bộ trở lên; nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy
của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác
thuộc thẩm quyền của Chính phủ; phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn;
4. Vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội nhưng chưa đủ điều kiện
xây dựng thành luật để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản
lý xã hội. Trước khi ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội.
5. Giải quyết các vấn đề cấp bách, quan trọng phát sinh từ thực tiễn và để
áp dụng trong một thời gian nhất định, phạm vi cụ thể thuộc thẩm quyền của
Chính phủ;
6. Tạm ngưng, điều chỉnh hiệu lực hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ
hoặc một phần nghị định;
7. Thực hiện thí điểm một số chính sách chưa có pháp luật điều chỉnh thuộc
thẩm quyền của Chính phủ.

9
Điều 15. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định để quy định:
1. Nội dung được giao trong luật, pháp lệnh, lệnh, nghị định;
2. Biện pháp chỉ đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ, phối hợp hoạt
động của các thành viên Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung
ương đến địa phương, chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, chính quyền
địa phương;
3. Phân cấp và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp và các vấn đề
khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.
Điều 16. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết hướng
dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.
Điều 17. Thông tư, thông tư liên tịch
1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành thông tư để quy định việc
quản lý các Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự về tổ chức, hoạt động, những vấn
đề khác thuộc thẩm quyền hoặc được giao tại Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và
luật, pháp lệnh, lệnh khác.
2. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành thông tư để quy định
những vấn đề thuộc thẩm quyền hoặc được giao tại Luật Tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân và luật, pháp lệnh, lệnh khác.
3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành thông tư để quy định:
a) Chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung khác được giao trong luật, pháp
lệnh, lệnh, nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
b) Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình; phân cấp và
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp.
4. Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành thông tư để quy định chuẩn mực kiểm
toán nhà nước, quy trình kiểm toán, hồ sơ kiểm toán, những vấn đề thuộc thẩm
quyền hoặc được giao tại Luật Kiểm toán nhà nước và luật, pháp lệnh khác.
5. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban
hành thông tư liên tịch để quy định việc phối hợp trong việc thực hiện trình tự,
thủ tục tố tụng, thi hành án, thi hành tạm giữ, tạm giam; phòng, chống tham nhũng
và công tác bồi thường nhà nước; nội dung được giao trong luật, pháp lệnh, lệnh.
Không ban hành thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.

10
Mục 2
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Điều 18. Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh
1. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành nghị quyết để quy định:
a) Chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung khác được giao trong văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
b) Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, văn bản quy
phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, phát triển kinh tế - xã hội, ngân
sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương; biện pháp khác có tính chất đặc thù phù
hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương; phân cấp và thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn được phân cấp;
c) Thực hiện thí điểm cơ chế, chính sách theo quy định của pháp luật.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định để quy định:
a) Chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung khác được giao trong văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
b) Biện pháp thi hành Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan
nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp về phát triển kinh
tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương;
c) Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương; phân cấp
và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định để quy định:
a) Phân cấp và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp;
b) Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Điều 19. Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở
đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và cấp xã
1. Chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban hành
văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật này và quy định của văn bản
quy phạm pháp luật khác có liên quan của Quốc hội.
2. Hội đồng nhân dân cấp xã ban hành nghị quyết để quy định:
a) Những vấn đề được luật, pháp lệnh giao;
b) Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương;
c) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp.
3. Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định để quy định:
a) Những vấn đề được luật, pháp lệnh giao;
b) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp.

11
Chương III
ĐỊNH HƯỚNG LẬP PHÁP NHIỆM KỲ VÀ CHƯƠNG TRÌNH
LẬP PHÁP HẰNG NĂM
Điều 20. Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội chủ trì, phối hợp với Chính phủ xây dựng
Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội trình cơ quan có thẩm quyền của
Đảng phê duyệt.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình đề xuất nhiệm vụ lập pháp; Chủ tịch
nước, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội và
đại biểu Quốc hội gửi đề xuất nhiệm vụ lập pháp đến Ủy ban Thường vụ Quốc
hội để xem xét đưa vào Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội.
Việc xây dựng Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội được hoàn thành
trong năm đầu tiên nhiệm kỳ Quốc hội.
2. Căn cứ xây dựng Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội bao gồm:
a) Chủ trương, đường lối của Đảng, các định hướng, kết luận của cơ quan có
thẩm quyền của Đảng và Nhà nước;
b) Kết quả thực hiện Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội nhiệm kỳ
trước, yêu cầu tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật;
c) Vấn đề mới, xu hướng mới cần có pháp luật điều chỉnh;
d) Yêu cầu giải quyết vấn đề bất cập, phát sinh từ thực tiễn.
3. Đề xuất nhiệm vụ lập pháp bao gồm: tờ trình; danh mục nhiệm vụ lập
pháp, trong đó nêu rõ căn cứ, nội dung cần được nghiên cứu, rà soát, thể chế hóa,
dự kiến thời hạn hoàn thành việc nghiên cứu, rà soát và thời hạn cần sửa đổi, bổ
sung hoặc ban hành mới luật, pháp lệnh (nếu có).
4. Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội là danh mục các nhiệm vụ
lập pháp, trong đó xác định cụ thể yêu cầu về việc rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ
sung hoặc nghiên cứu, đề xuất ban hành mới luật, pháp lệnh; thời gian hoàn thành
việc nghiên cứu, rà soát được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên hằng năm của nhiệm kỳ
Quốc hội.
5. Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Định
hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội ngay sau khi được phê duyệt. Trường hợp
phát sinh các nhiệm vụ lập pháp mới, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết
định điều chỉnh kế hoạch triển khai thực hiện.
6. Chính phủ và cơ quan, tổ chức được Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao
thực hiện các nhiệm vụ lập pháp ban hành kế hoạch thực hiện Định hướng lập

12
pháp nhiệm kỳ của Quốc hội; trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ lập pháp có
thể chủ động xây dựng chính sách, soạn thảo luật, pháp lệnh.
Điều 21. Chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội
1. Căn cứ Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội hoặc yêu cầu giải
quyết vấn đề bất cập, phát sinh từ thực tiễn (nếu có), Ủy ban Thường vụ Quốc hội
tự mình đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh; Chủ tịch nước, Hội đồng Dân tộc, Ủy
ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ
quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội và đại biểu Quốc hội (sau đây gọi
chung là cơ quan trình) gửi tờ trình đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh đến Ủy ban
Thường vụ Quốc hội trước ngày 01 tháng 8 hằng năm để đưa vào Chương trình
lập pháp của năm tiếp theo.
2. Tờ trình đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh được gửi bằng bản điện tử, trong
đó nêu rõ tên dự án luật, pháp lệnh, sự cần thiết, mục đích ban hành, phạm vi điều
chỉnh, đối tượng áp dụng; các vấn đề cụ thể để xử lý mâu thuẫn, chồng chéo, bất
cập có nguyên nhân từ pháp luật; vấn đề mới, xu hướng mới và các nội dung cần
thiết khác (nếu có); thời gian dự kiến trình và thông qua.
3. Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định Chương trình lập pháp của năm
tiếp theo trước ngày 01 tháng 10 hằng năm. Các luật mang tính nền tảng, các luật
quan trọng khác theo đề xuất của cơ quan trình có thể được xem xét, thông qua
theo quy trình nhiều kỳ họp.
Điều 22. Thông qua Chương trình lập pháp hằng năm
1. Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp chủ trì, phối hợp với cơ quan
trình và Hội đồng Dân tộc, Ủy ban khác của Quốc hội có ý kiến về nội dung đề
xuất xây dựng luật, pháp lệnh; dự kiến Chương trình lập pháp hằng năm, báo cáo
Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2. Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội có trách
nhiệm phối hợp cho ý kiến về nội dung trong tờ trình, thứ tự ưu tiên, thời gian
trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
3. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua Chương trình lập pháp
hằng năm, trong đó nêu rõ tên luật, pháp lệnh, cơ quan trình, cơ quan thẩm tra và
thời gian dự kiến trình theo kỳ họp của Quốc hội, phiên họp của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội; Chương trình lập pháp hằng năm được gửi đến đại biểu Quốc hội.
Trường hợp có nội dung đề xuất xây dựng pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội theo quy định tại khoản 1 Điều 12 của Luật này mà chưa được Quốc hội
giao thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định.
4. Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ đạo triển khai việc thực hiện Chương
trình lập pháp hằng năm.

13
Điều 23. Điều chỉnh Chương trình lập pháp hằng năm
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình điều chỉnh hoặc xem xét, quyết định
việc điều chỉnh Chương trình lập pháp hằng năm theo quy định tại Điều 22 của
Luật này trong các trường hợp sau đây:
a) Cơ quan trình có tờ trình quy định tại khoản 2 Điều 21 của Luật này đề
xuất bổ sung luật, pháp lệnh vào Chương trình lập pháp hằng năm;
b) Cơ quan trình có văn bản nêu rõ lý do đề xuất đưa ra khỏi Chương trình
lập pháp hằng năm hoặc điều chỉnh thời điểm trình.
2. Chính phủ phân công một cơ quan chủ trì tiếp nhận, tổng hợp các đề xuất
điều chỉnh Chương trình lập pháp hằng năm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ để
trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định, trừ trường hợp quy định
tại khoản 3 Điều này. Việc gửi đề xuất điều chỉnh Chương trình lập pháp hằng
năm được thực hiện định kỳ vào các thời điểm do Chính phủ quy định.
3. Trường hợp dự án luật chưa có trong Chương trình lập pháp hằng năm
nhưng cần ban hành luật ngay tại kỳ họp Quốc hội đang diễn ra hoặc kỳ họp gần
nhất để kịp thời thể chế hóa chủ trương mới của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, yêu cầu, chỉ đạo mới của Lãnh đạo Đảng, Nhà
nước và việc xây dựng, ban hành luật đó đã được cơ quan có thẩm quyền của
Đảng đồng ý, trên cơ sở đề nghị của cơ quan trình và hồ sơ dự án luật, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quyết định việc bổ sung vào dự kiến chương trình kỳ họp
Quốc hội đang diễn ra để trình Quốc hội xem xét, thông qua.
Chương IV
XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
CỦA QUỐC HỘI, ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
Mục 1
XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH
Điều 24. Các trường hợp thực hiện quy trình xây dựng chính sách
1. Cơ quan trình có trách nhiệm tổ chức thực hiện quy trình xây dựng chính
sách trước khi soạn thảo trong các trường hợp xây dựng văn bản quy phạm pháp
luật sau đây:
a) Luật mới và luật thay thế luật hiện hành quy định các nội dung thuộc các
khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 11 của Luật này;
b) Luật quy định thí điểm một số chính sách mới;
c) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật mà nội dung sửa đổi, bổ sung liên
quan đến hạn chế quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp;
d) Pháp lệnh quy định tại khoản 1 Điều 12 của Luật này.

14
2. Đối với dự án luật, pháp lệnh không thuộc trường hợp quy định tại khoản
1 Điều này thì cơ quan trình không phải thực hiện quy trình xây dựng chính sách
nhưng phải nêu rõ tác động của quy định hoặc nhóm quy định trong đề cương chi
tiết dự thảo văn bản.
3. Cơ quan trình tự mình lập đề xuất chính sách hoặc phân công cơ quan thực
hiện lập đề xuất chính sách.
Điều 25. Xác định chính sách
1. Cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm xác định chính sách trên
cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng; kết quả tổng kết thi hành pháp luật hoặc
đánh giá thực trạng quan hệ xã hội; bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân; bảo đảm quốc phòng, an ninh; chủ trương phân
quyền, phân cấp; vấn đề mới, xu hướng mới; yêu cầu quản lý nhà nước và khuyến
khích sáng tạo, khơi thông mọi nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội;
cam kết trong điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên.
2. Nội dung từng chính sách phải cụ thể, rõ ràng, bao gồm:
a) Vấn đề cần giải quyết, nguyên nhân của từng vấn đề;
b) Mục tiêu cần đạt được khi giải quyết các vấn đề;
c) Các giải pháp để giải quyết từng vấn đề;
d) Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách, nhóm đối tượng chịu
trách nhiệm thực hiện chính sách;
đ) Giải pháp tối ưu được lựa chọn.
Điều 26. Đánh giá tác động của chính sách
1. Cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm đánh giá tác động của chính sách.
2. Nội dung đánh giá tác động của chính sách bao gồm:
a) Tác động đối với hệ thống pháp luật được đánh giá trên cơ sở phân tích
về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật của chính
sách; tính tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Tác động về kinh tế - xã hội được đánh giá trên cơ sở phân tích, dự báo
chi phí, lợi ích, tác động tích cực, tiêu cực về một hoặc một số nội dung liên quan
đến sản xuất, kinh doanh, việc làm, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, y tế, giáo dục, môi
trường, quốc phòng, an ninh, phân quyền, phân cấp, khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số, các vấn đề khác có liên quan đến kinh tế - xã hội;
c) Tác động về giới (nếu có) được đánh giá trên cơ sở phân tích về cơ hội,
điều kiện, năng lực thực hiện và thụ hưởng các quyền, lợi ích của mỗi giới;
d) Tác động của thủ tục hành chính (nếu có) được đánh giá trên cơ sở phân
tích về sự cần thiết của thủ tục hành chính để thực hiện chính sách;

15
đ) Tác động đối với phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được đánh
giá trên cơ sở phân tích, dự báo khả năng giải pháp của chính sách xử lý tổng
thể, đồng bộ các điểm nghẽn có nguyên nhân từ quy định của pháp luật và nguy
cơ giải pháp của chính sách bị lợi dụng để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
3. Đối với dự thảo luật, pháp lệnh thuộc trường hợp quy định tại khoản 1
Điều 24 của Luật này, trước khi biểu quyết thông qua, nếu bổ sung chính sách
mới thì cơ quan trình có trách nhiệm tổ chức đánh giá tác động của chính sách đó.
Điều 27. Lấy ý kiến, tham vấn chính sách
1. Cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm sau đây:
a) Tổ chức lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách,
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, các Đoàn đại biểu
Quốc hội, Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Trường hợp lấy ý kiến bằng văn bản, cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách
nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị
tham gia góp ý kiến;
b) Tổ chức hội nghị tham vấn Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực
Ủy ban của Quốc hội, Bộ, cơ quan ngang Bộ đối với chính sách liên quan trực
tiếp thuộc phạm vi, lĩnh vực phụ trách trong quá trình xây dựng chính sách.
Theo yêu cầu của Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của
Quốc hội được tham vấn, cơ quan lập đề xuất chính sách mời đại diện cơ quan
khác của Quốc hội, đối tượng hoặc tổ chức đại diện cho đối tượng chịu sự tác
động trực tiếp của chính sách, các chuyên gia, nhà khoa học và các cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan tham gia hội nghị. Tại hội nghị tham vấn, lãnh đạo cơ
quan lập đề xuất chính sách thuyết trình và giải trình các vấn đề liên quan đến
chính sách. Cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm xây dựng văn bản về
kết quả tham vấn chính sách trong đó phải nêu rõ quan điểm của cơ quan, tổ chức,
cá nhân được tham vấn.
Trường hợp Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc
hội chủ trì tổ chức hội nghị tham vấn, cơ quan lập đề xuất chính sách có trách
nhiệm phối hợp thực hiện tham vấn. Cơ quan chủ trì hội nghị tham vấn có trách
nhiệm xây dựng văn bản về kết quả tham vấn chính sách trong đó phải nêu rõ
quan điểm của cơ quan, tổ chức, cá nhân được tham vấn gửi cơ quan lập đề xuất
chính sách.
Việc tham vấn chính sách đối với Bộ, cơ quan ngang Bộ thực hiện theo quy
định của Chính phủ;
c) Nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý, tham vấn chính sách.
2. Hồ sơ chính sách để lấy ý kiến, tham vấn chính sách gồm dự thảo các tài
liệu sau đây:
a) Tờ trình;
b) Báo cáo đánh giá tác động của chính sách;

16
c) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ
xã hội liên quan đến chính sách;
d) Báo cáo rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm
pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến chính sách;
đ) Đề cương chi tiết dự thảo văn bản;
e) Tài liệu khác (nếu có).
3. Đối với hồ sơ chính sách không do Chính phủ trình, cơ quan lập đề xuất
chính sách có trách nhiệm xin ý kiến Chính phủ. Hồ sơ chính sách gửi Chính phủ
cho ý kiến gồm văn bản đề nghị cho ý kiến và các tài liệu quy định tại các điểm
b, c, d, đ, e, g và h khoản 2 Điều 28 của Luật này. Chính phủ có trách nhiệm trả
lời bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ chính sách.
Cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu, giải trình
ý kiến của Chính phủ.
Điều 28. Thẩm định chính sách của luật, pháp lệnh do Chính phủ trình
1. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, tổ chức thẩm
định chính sách của luật, pháp lệnh trước khi trình Chính phủ trong thời hạn 30
ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Việc thẩm định được thực hiện trên cơ sở hồ sơ
chính sách gửi thẩm định.
2. Hồ sơ chính sách gửi thẩm định bao gồm:
a) Văn bản đề nghị thẩm định của cơ quan lập đề xuất chính sách;
b) Dự thảo tờ trình;
c) Báo cáo đánh giá tác động của chính sách;
d) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ
xã hội liên quan đến chính sách;
đ) Báo cáo rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm
pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến chính sách;
e) Đề cương chi tiết dự thảo văn bản;
g) Bản tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý, tham vấn;
h) Tài liệu khác (nếu có).
3. Lãnh đạo cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm thuyết trình và
giải trình các vấn đề liên quan đến chính sách tại cuộc họp thẩm định.
4. Nội dung thẩm định chính sách bao gồm:
a) Sự cần thiết của chính sách;
b) Sự phù hợp của chính sách với chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách của Nhà nước;

17
c) Tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật của
chính sách;
d) Tính tương thích của chính sách với điều ước quốc tế có liên quan mà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; bảo đảm yêu cầu về
quốc phòng, an ninh; nguồn tài chính; nguồn nhân lực;
đ) Việc nhận diện, xử lý tổng thể, đồng bộ các điểm nghẽn có nguyên nhân
từ quy định của pháp luật; nguy cơ giải pháp thực hiện chính sách bị lợi dụng để
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực;
e) Sự cần thiết quy định thủ tục hành chính, việc phân quyền, phân cấp, việc
ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số, việc bảo đảm bình đẳng giới, chính sách dân tộc (nếu có);
g) Việc tuân thủ trình tự, thủ tục xây dựng chính sách.
5. Báo cáo thẩm định của Bộ Tư pháp phải nêu rõ hồ sơ chính sách đủ hay
chưa đủ điều kiện trình Chính phủ; báo cáo thẩm định được gửi đến Chính phủ,
đồng thời gửi cơ quan lập đề xuất chính sách.
Trường hợp đủ điều kiện trình Chính phủ, cơ quan lập đề xuất chính sách
nghiên cứu, xây dựng báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định và chịu trách
nhiệm về nội dung tiếp thu, giải trình để trình Chính phủ.
Trường hợp chưa đủ điều kiện trình Chính phủ, cơ quan lập đề xuất chính
sách phải tiếp thu, giải trình, hoàn thiện hồ sơ chính sách để thẩm định lại.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 29. Thông qua chính sách
1. Đối với luật, pháp lệnh do Chính phủ trình, Chính phủ ban hành nghị quyết
thông qua chính sách làm cơ sở cho việc soạn thảo.
2. Đối với luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình, cơ quan trình ban hành
văn bản thông qua chính sách làm cơ sở cho việc soạn thảo.
Điều 30. Thay đổi trình tự, thủ tục xây dựng luật, pháp lệnh
1. Trường hợp các luật, pháp lệnh không phải xây dựng chính sách nhưng
trong quá trình soạn thảo xuất hiện các yêu cầu phải thực hiện quy trình xây
dựng chính sách thì hồ sơ xây dựng chính sách được thực hiện theo quy định
của Chính phủ.
2. Trường hợp các luật, pháp lệnh phải xây dựng chính sách nhưng trong
quá trình soạn thảo xuất hiện các yêu cầu không phải thực hiện quy trình xây
dựng chính sách thì thực hiện trình tự, thủ tục của luật, pháp lệnh không phải xây
dựng chính sách. Cơ quan chủ trì soạn thảo được kế thừa hồ sơ, tài liệu đã thực
hiện theo quy trình xây dựng chính sách.

18
Mục 2
SOẠN THẢO LUẬT, PHÁP LỆNH
Điều 31. Soạn thảo luật, pháp lệnh
1. Cơ quan trình tự mình soạn thảo hoặc phân công cho một cơ quan tổ chức
soạn thảo (sau đây gọi chung là cơ quan chủ trì soạn thảo) luật, pháp lệnh. Nội
dung dự thảo luật, pháp lệnh phải bảo đảm các nguyên tắc quy định tại Điều 5 của
Luật này.
2. Việc tổ chức soạn thảo được thực hiện như sau:
a) Đối với luật, pháp lệnh phải thực hiện quy trình xây dựng chính sách, việc
soạn thảo được thực hiện trên cơ sở các chính sách đã được thông qua.
Trường hợp bổ sung chính sách mới trong quá trình soạn thảo thì chính sách
mới phải được thực hiện theo quy định tại các điều 25, 26, 27, 28 và 29 của Luật
này;
b) Đối với luật, pháp lệnh không phải thực hiện quy trình xây dựng chính
sách, việc soạn thảo được thực hiện trên cơ sở kế hoạch triển khai thực hiện Định
hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và Chương trình lập pháp hằng năm, trừ
trường hợp luật được bổ sung vào chương trình kỳ họp theo quy định tại khoản 3
Điều 23 của Luật này.
3. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm thực hiện các nội dung sau đây:
a) Tổ chức lấy ý kiến các Đoàn đại biểu Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự án luật, pháp lệnh; lấy ý kiến
Bộ, cơ quan ngang Bộ đối với những nội dung của dự án liên quan đến chức năng
quản lý ngành, lĩnh vực của Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan, tổ chức, cá nhân
khác có liên quan. Trường hợp lấy ý kiến bằng văn bản, cơ quan, tổ chức, cá nhân
được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được đề nghị tham gia góp ý kiến.
Đối với các dự án luật, pháp lệnh đã thực hiện quy trình xây dựng chính sách
thì không bắt buộc phải tổ chức lấy ý kiến;
b) Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khi có đề nghị phản biện xã hội
và cử đại diện tham gia cuộc họp phản biện xã hội.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì hoặc tổ chức chính trị - xã hội trên cơ sở
thống nhất với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì tổ chức phản biện xã hội. Văn
bản phản biện được gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo chậm nhất là 20 ngày kể từ
ngày nhận được hồ sơ;
c) Đăng tải hồ sơ dự án luật, pháp lệnh trên cổng thông tin điện tử của cơ
quan chủ trì soạn thảo và Cổng Pháp luật quốc gia trong thời gian ít nhất là 20
ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến, trừ trường hợp điều
ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên có quy định khác;

19
d) Nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý, phản biện xã hội.
4. Hồ sơ dự án luật, pháp lệnh gửi phản biện xã hội, lấy ý kiến, đăng tải gồm
các tài liệu sau đây:
a) Dự thảo tờ trình;
b) Dự thảo luật, pháp lệnh;
c) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ
xã hội liên quan đến dự thảo;
d) Báo cáo rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm
pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến dự thảo;
đ) Báo cáo thuyết minh nội dung dự thảo;
e) Bản đánh giá về thủ tục hành chính, việc phân quyền, phân cấp, việc ứng
dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi
số, việc bảo đảm bình đẳng giới, chính sách dân tộc (nếu có);
g) Bản so sánh dự thảo sửa đổi, bổ sung, thay thế với luật, pháp lệnh hiện
hành, trừ trường hợp xây dựng dự án luật, pháp lệnh mới;
h) Tài liệu khác (nếu có).
Điều 32. Thẩm định dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ trình
1. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, tổ chức thẩm
định dự án luật, pháp lệnh trước khi trình Chính phủ trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày nhận đủ hồ sơ. Việc thẩm định được thực hiện trên cơ sở hồ sơ dự án gửi
thẩm định.
2. Hồ sơ dự án gửi thẩm định bao gồm:
a) Văn bản đề nghị thẩm định;
b) Dự thảo tờ trình;
c) Dự thảo luật, pháp lệnh;
d) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ
xã hội liên quan đến dự thảo;
đ) Báo cáo rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm
pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến dự thảo;
e) Báo cáo thuyết minh nội dung dự thảo;
g) Bản đánh giá thủ tục hành chính, việc phân quyền, phân cấp, việc ứng
dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi
số, việc bảo đảm bình đẳng giới, chính sách dân tộc (nếu có);
h) Bản so sánh dự thảo sửa đổi, bổ sung, thay thế với luật, pháp lệnh hiện
hành, trừ trường hợp xây dựng dự án luật, pháp lệnh mới;
i) Bản tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý, phản biện xã hội;

20
k) Tài liệu khác (nếu có).
3. Lãnh đạo cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm thuyết trình và giải
trình các vấn đề liên quan đến dự án tại cuộc họp thẩm định.
4. Nội dung thẩm định dự án bao gồm:
a) Sự cần thiết ban hành luật, pháp lệnh;
b) Sự phù hợp của nội dung dự thảo với chủ trương, đường lối của Đảng;
tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật;
c) Sự phù hợp của nội dung dự thảo với chính sách đã được thông qua (nếu có);
d) Việc nhận diện, xử lý tổng thể, đồng bộ các điểm nghẽn có nguyên nhân
từ quy định của pháp luật; nguy cơ quy định trong dự thảo bị lợi dụng để tham
nhũng, lãng phí, tiêu cực;
đ) Tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh;
nguồn tài chính; nguồn nhân lực;
e) Sự cần thiết, tính hợp lý của thủ tục hành chính, việc phân quyền, phân
cấp, việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số, việc bảo đảm bình đẳng giới, chính sách dân tộc (nếu có);
g) Ngôn ngữ, thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản và trình tự, thủ tục soạn
thảo luật, pháp lệnh.
5. Báo cáo thẩm định phải nêu rõ dự án đủ hay chưa đủ điều kiện trình Chính
phủ; báo cáo thẩm định được gửi đến Chính phủ, đồng thời gửi cơ quan chủ trì
soạn thảo.
Trường hợp đủ điều kiện trình Chính phủ, cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên
cứu tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định, xây dựng báo cáo tiếp thu, giải trình và
chịu trách nhiệm về nội dung tiếp thu, giải trình để trình Chính phủ.
Trường hợp chưa đủ điều kiện trình Chính phủ, cơ quan chủ trì soạn thảo
phải tiếp thu, giải trình, hoàn thiện hồ sơ dự án để thẩm định lại.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 33. Cho ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình
1. Chính phủ cho ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh không do Chính phủ
trình trước khi trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Thời hạn cho ý kiến
chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.
2. Hồ sơ dự án gửi Chính phủ cho ý kiến gồm văn bản đề nghị cho ý kiến và
các tài liệu quy định tại các điểm b, c, d, đ, e, g, h, i và k khoản 2 Điều 32 của
Luật này.
3. Cơ quan trình có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý kiến của
Chính phủ.

21
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 34. Xem xét, quyết định việc trình dự án luật, pháp lệnh
1. Chính phủ xem xét, quyết định việc trình dự án luật, pháp lệnh trên cơ sở
tờ trình của cơ quan chủ trì soạn thảo và hồ sơ dự án sau khi đã tiếp thu, giải trình
ý kiến thẩm định.
2. Đối với luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình, cơ quan trình xem xét,
quyết định việc trình sau khi đã tiếp thu, giải trình ý kiến của Chính phủ.
Mục 4
THẨM TRA, THÔNG QUA, CÔNG BỐ
LUẬT, PHÁP LỆNH
Điều 35. Thẩm tra dự án
1. Đối với dự án luật trình Quốc hội thì chậm nhất là 45 ngày trước ngày khai
mạc kỳ họp Quốc hội, cơ quan trình phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều này
đến cơ quan chủ trì thẩm tra để tiến hành thẩm tra và gửi hồ sơ quy định tại khoản
3 Điều này bằng bản điện tử đến Tổng Thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng
Quốc hội để gửi đến các Đoàn đại biểu Quốc hội và đăng tải trên Cổng thông tin
điện tử của Quốc hội.
Đối với dự án pháp lệnh trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì chậm nhất là
20 ngày trước ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan trình
phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều này đến cơ quan chủ trì thẩm tra để tiến
hành thẩm tra.
Cơ quan trình phải đăng tải hồ sơ dự án luật, pháp lệnh trình Quốc hội, Ủy
ban Thường vụ Quốc hội trên Cổng Pháp luật quốc gia.
2. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội chủ trì thẩm tra dự án luật, pháp
lệnh thuộc lĩnh vực mình phụ trách và dự án luật, pháp lệnh do Quốc hội, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội giao; tham gia thẩm tra đối với nội dung liên quan đến lĩnh
vực mình phụ trách trong dự án luật, pháp lệnh do cơ quan khác của Quốc hội chủ
trì thẩm tra theo quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Thường trực Ủy ban
Pháp luật và Tư pháp có trách nhiệm tham gia thẩm tra về tính hợp hiến, tính hợp
pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật của dự thảo luật, pháp lệnh.
3. Hồ sơ dự án luật, pháp lệnh gửi thẩm tra bao gồm:
a) Tờ trình;
b) Dự thảo luật, pháp lệnh;
c) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ
xã hội liên quan đến dự thảo;
d) Báo cáo rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm
pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến dự thảo;

22
đ) Báo cáo thuyết minh nội dung dự thảo;
e) Bản đánh giá về thủ tục hành chính, việc phân quyền, phân cấp, việc ứng
dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi
số, việc bảo đảm bình đẳng giới, chính sách dân tộc (nếu có);
g) Bản so sánh dự thảo sửa đổi, bổ sung, thay thế với luật, pháp lệnh hiện
hành, trừ trường hợp xây dựng dự án luật, pháp lệnh mới;
h) Bản tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý, phản biện xã hội;
i) Báo cáo thẩm định hoặc ý kiến của Chính phủ đối với dự án luật, pháp
lệnh không do Chính phủ trình;
k) Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định đối với dự án luật, pháp lệnh
do Chính phủ trình hoặc báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến của Chính phủ đối với
dự án luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình;
l) Tài liệu khác (nếu có).
4. Nội dung thẩm tra tập trung vào các vấn đề sau đây:
a) Sự phù hợp của nội dung dự thảo luật, pháp lệnh với chủ trương, đường
lối của Đảng;
b) Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của dự thảo luật, pháp lệnh;
c) Nội dung của dự thảo luật, pháp lệnh và những vấn đề còn có ý kiến khác
nhau (nếu có);
d) Tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật của
dự thảo luật, pháp lệnh;
đ) Tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh;
nguồn tài chính; nguồn nhân lực;
e) Việc nhận diện, xử lý tổng thể, đồng bộ các điểm nghẽn có nguyên nhân
từ quy định của pháp luật; nguy cơ quy định trong dự thảo bị lợi dụng để tham
nhũng, lãng phí, tiêu cực;
g) Sự cần thiết, tính hợp lý của thủ tục hành chính, việc phân quyền, phân
cấp, việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số, việc bảo đảm bình đẳng giới, chính sách dân tộc (nếu có);
h) Tính khả thi của các quy định trong dự thảo luật, pháp lệnh;
i) Ngôn ngữ, thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản và trình tự, thủ tục xây
dựng chính sách, soạn thảo luật, pháp lệnh.
5. Phương thức thẩm tra:
a) Cơ quan chủ trì thẩm tra phải tổ chức phiên họp toàn thể để thẩm tra. Trường
hợp chưa tổ chức phiên họp toàn thể để thẩm tra thì có thể tổ chức phiên họp

23
Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội thẩm tra sơ bộ
để kịp trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi trình Quốc hội;
b) Cơ quan chủ trì thẩm tra có trách nhiệm mời cơ quan tham gia thẩm tra
hoặc Thường trực cơ quan tham gia thẩm tra tham dự phiên họp thẩm tra;
c) Lãnh đạo cơ quan chủ trì soạn thảo đối với dự án do Chính phủ trình hoặc
đại biểu Quốc hội, lãnh đạo cơ quan trình đối với dự án không do Chính phủ trình
có trách nhiệm tham dự, báo cáo và giải trình các vấn đề liên quan đến dự án tại
phiên họp thẩm tra.
6. Yêu cầu đối với báo cáo thẩm tra:
a) Báo cáo thẩm tra phải thể hiện rõ quan điểm của cơ quan thẩm tra về
những vấn đề thuộc nội dung thẩm tra quy định tại khoản 4 Điều này;
b) Báo cáo thẩm tra phải phản ánh đầy đủ ý kiến của thành viên cơ quan chủ
trì thẩm tra, ý kiến của cơ quan tham gia thẩm tra, ý kiến của các Đoàn đại biểu
Quốc hội (nếu có) về nội dung dự án luật, pháp lệnh; nêu rõ dự án luật, pháp lệnh
đủ hoặc chưa đủ điều kiện trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội; trường
hợp dự án chưa đủ điều kiện trình thì cơ quan chủ trì thẩm tra báo cáo Ủy ban
Thường vụ Quốc hội xem xét trả lại hồ sơ cho cơ quan trình để tiếp tục chỉnh lý,
hoàn thiện.
Điều 36. Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án luật
1. Dự án luật phải được Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi
trình Quốc hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thể đưa dự án ra thảo luận, cho ý
kiến tại Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách.
2. Chậm nhất là 07 ngày trước ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều 35 của Luật này và báo cáo thẩm
tra phải được gửi đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
3. Dự án luật được Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến tại một hoặc
nhiều phiên họp theo trình tự sau đây:
a) Cơ quan trình thuyết trình về nội dung cơ bản của dự thảo;
b) Cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra, đề xuất các vấn đề
cần Quốc hội tập trung thảo luận;
c) Đại diện Chính phủ phát biểu ý kiến về dự án không do Chính phủ trình;
d) Cơ quan, tổ chức, cá nhân tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;
đ) Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận;
e) Chủ tọa phiên họp kết luận.
4. Trên cơ sở ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan trình có trách
nhiệm nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý, hoàn thiện dự án.

24
5. Cơ quan trình báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc tiếp thu, chỉnh
lý, hoàn thiện dự án. Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra báo cáo Ủy ban Thường
vụ Quốc hội ý kiến về nội dung tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện dự án của cơ quan
trình. Trường hợp cơ quan trình và Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa thống nhất
hoặc dự án có nội dung quan trọng, phức tạp cần có thêm thời gian để nghiên cứu
tiếp thu, chỉnh lý thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của
cơ quan trình quyết định lùi thời điểm trình Quốc hội thông qua.
6. Chậm nhất là 20 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội chỉ đạo đưa vào dự kiến chương trình kỳ họp của Quốc hội
đối với các dự án luật đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến, đủ điều
kiện trình Quốc hội.
Điều 37. Xem xét, thông qua dự thảo luật, pháp lệnh
1. Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo luật tại một kỳ họp, trừ trường hợp
dự án luật được quyết định xem xét thông qua tại nhiều kỳ họp hoặc trường hợp
quy định tại khoản 11 Điều 38 của Luật này. Chậm nhất là 15 ngày trước ngày
khai mạc kỳ họp, hồ sơ dự án luật và báo cáo thẩm tra phải được gửi đến các đại
biểu Quốc hội.
2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo pháp lệnh tại một
phiên họp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 40 của Luật này. Chậm nhất
là 10 ngày trước ngày bắt đầu phiên họp, hồ sơ dự án pháp lệnh và báo cáo thẩm
tra phải được gửi đến các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
3. Hồ sơ dự án luật trình Quốc hội, pháp lệnh trình Ủy ban Thường vụ Quốc
hội gồm các tài liệu quy định tại khoản 3 Điều 35 của Luật này và báo cáo thẩm
tra được gửi bằng bản điện tử. Trường hợp hồ sơ dự án có nội dung thuộc phạm
vi bí mật nhà nước thì việc gửi bản giấy thực hiện theo Quy chế làm việc của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội.
Điều 38. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo luật
1. Cơ quan trình trình bày tờ trình.
2. Cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra.
3. Quốc hội thảo luận tại phiên họp toàn thể. Trước khi thảo luận tại phiên
họp toàn thể, dự án có thể được thảo luận ở Tổ đại biểu Quốc hội.
4. Trong quá trình thảo luận, cơ quan trình giải trình những vấn đề liên quan
đến dự án mà đại biểu Quốc hội nêu.
5. Đối với những vấn đề quan trọng, vấn đề lớn của dự án còn có ý kiến khác
nhau thì Quốc hội tiến hành biểu quyết theo đề nghị của cơ quan trình hoặc theo
đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để làm cơ sở cho việc chỉnh lý.

25
6. Tổng Thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội tổ chức tổng
hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội và kết quả biểu quyết đối với trường hợp quy
định tại khoản 5 Điều này để gửi cơ quan trình và cơ quan chủ trì thẩm tra.
7. Việc nghiên cứu tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo luật được thực hiện
theo trình tự sau đây:
a) Cơ quan trình chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra,
cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo và
xây dựng báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo luật, trình Ủy ban Thường
vụ Quốc hội cho ý kiến; Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra báo cáo Ủy ban
Thường vụ Quốc hội ý kiến về nội dung cơ quan trình dự kiến tiếp thu, giải trình
và chỉnh lý dự thảo luật;
b) Cơ quan trình chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra,
cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo
luật theo ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
c) Chậm nhất là 03 ngày trước ngày Quốc hội biểu quyết thông qua, cơ quan
trình chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan, tổ chức
có liên quan hoàn thành việc rà soát, hoàn thiện về ngôn ngữ, thể thức, kỹ thuật
trình bày văn bản đối với dự thảo luật và gửi Quốc hội;
d) Trường hợp cơ quan trình có ý kiến khác với ý kiến của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội hoặc dự án có nội dung quan trọng, phức tạp cần có thêm thời gian
để nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình hoặc
trên cơ sở đề xuất của cơ quan trình báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định cho lùi
thời điểm trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp tiếp theo hoặc trình lại.
8. Cơ quan trình báo cáo Quốc hội về việc tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự
thảo luật.
9. Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo luật. Trường hợp dự thảo còn vấn
đề có ý kiến khác nhau thì Quốc hội biểu quyết về vấn đề đó theo đề nghị của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội trước khi biểu quyết thông qua toàn văn dự thảo.
10. Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực luật.
11. Trường hợp dự thảo luật chưa được thông qua, Quốc hội xem xét, quyết
định lùi thời điểm thông qua để tiếp tục hoàn thiện, trình Quốc hội thông qua tại
kỳ họp tiếp theo hoặc trình lại.
12. Việc hoàn thiện, trình Quốc hội thông qua dự thảo luật tại kỳ họp tiếp theo
được thực hiện theo quy định tại Điều 39 của Luật này. Việc trình lại thực hiện theo
quy định tại các điều 35, 36 và 38 của Luật này; hồ sơ dự án, thời hạn gửi hồ sơ dự
án thực hiện theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 37 của Luật này.

26
Điều 39. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo luật tại kỳ họp tiếp theo
1. Trước kỳ họp tiếp theo, cơ quan trình chủ trì, phối hợp với Thường trực
cơ quan chủ trì thẩm tra và cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu tiếp thu, giải
trình, chỉnh lý dự thảo luật và xây dựng báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự
thảo, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức Hội nghị đại biểu Quốc
hội hoạt động chuyên trách để thảo luận, cho ý kiến đối với dự thảo luật, cơ quan
trình báo cáo và nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý kiến của đại biểu tham dự Hội
nghị.
2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về việc tiếp thu, giải
trình và chỉnh lý dự thảo luật theo trình tự sau đây:
a) Cơ quan trình trình bày báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo;
b) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày ý kiến đối với nội dung cơ
quan trình dự kiến tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo;
c) Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thảo luận về dự thảo đã được chỉnh lý.
3. Cơ quan trình nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý kiến của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội.
4. Tại kỳ họp tiếp theo:
a) Cơ quan trình báo cáo Quốc hội việc tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự
thảo, trong đó nêu rõ ý kiến khác với ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc
khác với ý kiến của Chính phủ đối với dự án không do Chính phủ trình (nếu có);
b) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày ý kiến đối với nội dung cơ
quan trình dự kiến tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo;
c) Quốc hội thảo luận về nội dung dự thảo;
d) Việc nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý kiến của đại biểu Quốc hội để chỉnh
lý dự thảo luật, trình Quốc hội biểu quyết thông qua và ký chứng thực tiếp tục
thực hiện theo quy định tại các khoản 7, 8, 9 và 10 Điều 38 của Luật này.
Điều 40. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo pháp lệnh
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo pháp lệnh theo
trình tự sau đây:
a) Cơ quan trình trình bày tờ trình;
b) Cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;
c) Cơ quan, tổ chức, cá nhân được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;
d) Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận, chủ tọa phiên họp kết luận;

27
đ) Cơ quan trình chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ
quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo theo ý
kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và tổ chức, hoàn thành việc rà soát, hoàn thiện
về ngôn ngữ, thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản đối với dự thảo pháp lệnh chậm
nhất là 03 ngày trước ngày Ủy ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua;
e) Cơ quan trình báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc tiếp thu, giải trình
và chỉnh lý dự thảo; Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày ý kiến đối với
nội dung cơ quan trình dự kiến tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo (nếu có);
g) Ủy ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo. Trường hợp
dự thảo còn vấn đề có ý kiến khác nhau thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội biểu
quyết về vấn đề đó theo đề nghị của chủ tọa phiên họp trước khi biểu quyết thông
qua toàn văn dự thảo;
h) Chủ tịch Quốc hội ký pháp lệnh.
2. Trường hợp dự thảo pháp lệnh chưa được thông qua, cơ quan trình chủ trì,
phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan, tổ chức có liên quan
nghiên cứu tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo và xây dựng báo cáo tiếp thu, giải
trình và chỉnh lý dự thảo để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua
dự thảo tại phiên họp sau theo trình tự sau đây:
a) Cơ quan trình trình bày báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo;
b) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày ý kiến đối với báo cáo tiếp
thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo;
c) Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thảo luận và biểu quyết thông qua
dự thảo. Trường hợp dự thảo còn vấn đề có ý kiến khác nhau thì Ủy ban Thường
vụ Quốc hội biểu quyết về vấn đề đó theo đề nghị của chủ tọa phiên họp trước khi
biểu quyết thông qua toàn văn dự thảo;
d) Chủ tịch Quốc hội ký pháp lệnh.
Điều 41. Công bố luật, pháp lệnh
1. Chủ tịch nước công bố luật, pháp lệnh chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày
luật, pháp lệnh được thông qua.
Đối với pháp lệnh đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua mà Chủ
tịch nước đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét lại, chậm nhất là 10 ngày
kể từ ngày pháp lệnh được thông qua, Chủ tịch nước gửi văn bản đến Ủy ban
Thường vụ Quốc hội yêu cầu xem xét lại. Ủy ban Thường vụ Quốc hội có trách
nhiệm xem xét lại những vấn đề mà Chủ tịch nước có ý kiến tại phiên họp gần
nhất. Sau khi pháp lệnh được Ủy ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết, thông qua
lại thì Chủ tịch nước công bố chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày Ủy ban Thường vụ

28
Quốc hội thông qua lại. Trường hợp Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch
nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất.
2. Luật, pháp lệnh được xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn và
trong trường hợp đặc biệt thì Chủ tịch nước công bố luật, pháp lệnh chậm nhất
là 05 ngày kể từ ngày luật, pháp lệnh được thông qua.
Chương V
XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
CỦA CÁC CƠ QUAN KHÁC
Điều 42. Xây dựng, ban hành lệnh của Chủ tịch nước
1. Chủ tịch nước tự mình hoặc theo đề nghị của Chính phủ, Tòa án nhân dân
tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc cơ quan khác có thẩm quyền quyết
định cơ quan chủ trì soạn thảo lệnh.
2. Cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức soạn thảo lệnh. Dự thảo lệnh do Chính
phủ soạn thảo phải được Bộ Tư pháp thẩm định.
3. Chủ tịch nước có thể yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo về những
vấn đề quan trọng của dự thảo lệnh.
4. Tùy theo nội dung của dự thảo lệnh, Chủ tịch nước quyết định việc đăng
tải toàn văn trên cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo và Cổng
Pháp luật quốc gia. Việc đăng tải dự thảo lệnh trong thời gian ít nhất là 20 ngày
để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến, trừ trường hợp điều ước
quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
có quy định khác. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo
trình tự, thủ tục rút gọn thì việc đăng tải thực hiện theo quy định tại điểm b khoản
4 Điều 49 của Luật này.
5. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến của
các cơ quan, tổ chức, cá nhân để chỉnh lý dự thảo lệnh và báo cáo Chủ tịch nước.
6. Chủ tịch nước xem xét, ký ban hành lệnh.
Điều 43. Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, chính
quyền địa phương
Chính phủ quy định trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang Bộ, chính quyền địa phương.
Điều 44. Xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao, thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
1. Xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao:

29
a) Dự thảo nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo;
b) Dự thảo nghị quyết được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án
nhân dân tối cao và Cổng Pháp luật quốc gia trong thời gian ít nhất là 20 ngày để
các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến, trừ trường hợp điều ước quốc
tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có
quy định khác; trường hợp nghị quyết được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn
thì việc đăng tải thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 49 của Luật này.
Dự thảo nghị quyết phải gửi để lấy ý kiến Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Bộ Tư pháp, Bộ, cơ quan ngang Bộ có liên quan, Hội Luật gia Việt Nam và Liên
đoàn Luật sư Việt Nam;
c) Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến góp ý về dự
thảo nghị quyết;
d) Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thành lập hội đồng tư vấn thẩm định dự
thảo nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có sự tham gia
của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức, đơn
vị có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học;
đ) Dự thảo nghị quyết được thảo luận tại phiên họp của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao, có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp;
e) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tổ chức phiên họp để thông
qua dự thảo nghị quyết.
Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư
pháp không nhất trí với nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao thì có quyền báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại
phiên họp gần nhất;
g) Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ký nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao.
2. Xây dựng, ban hành thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao:
a) Dự thảo thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo;
b) Đơn vị được phân công chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổng kết thực tiễn
thi hành pháp luật liên quan đến dự thảo; nghiên cứu thông tin, tư liệu có liên
quan; tổ chức việc soạn thảo và chỉnh lý dự thảo; tổ chức lấy ý kiến; chuẩn bị tờ
trình và tài liệu có liên quan đến dự thảo.
Dự thảo thông tư được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân
dân tối cao và Cổng Pháp luật quốc gia trong thời gian ít nhất là 20 ngày để các

30
cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến, trừ trường hợp điều ước quốc tế
có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy
định khác; trường hợp thông tư được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì
việc đăng tải thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 49 của Luật này.
Tùy theo tính chất và nội dung của dự thảo, Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao quyết định gửi dự thảo thông tư để lấy ý kiến Tòa án nhân dân ở địa phương,
Tòa án quân sự và cơ quan, tổ chức có liên quan;
c) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thảo luận và cho ý kiến đối
với dự thảo thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
d) Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến góp ý, xem
xét và ký ban hành thông tư.
Điều 45. Xây dựng, ban hành thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao
1. Dự thảo thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo.
2. Đơn vị được phân công chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổng kết thực tiễn
thi hành pháp luật liên quan đến dự thảo; nghiên cứu thông tin, tư liệu có liên
quan; tổ chức việc soạn thảo và chỉnh lý dự thảo; tổ chức lấy ý kiến; chuẩn bị tờ
trình và tài liệu có liên quan đến dự thảo.
3. Dự thảo thông tư được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Viện kiểm
sát nhân dân tối cao và Cổng Pháp luật quốc gia trong thời gian ít nhất là 20 ngày
để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến, trừ trường hợp điều ước quốc
tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy
định khác; trường hợp thông tư được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì việc
đăng tải thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 49 của Luật này.
Tùy theo tính chất và nội dung của dự thảo, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao quyết định gửi dự thảo thông tư để lấy ý kiến Viện kiểm sát nhân dân
ở địa phương, Viện kiểm sát quân sự và cơ quan, tổ chức có liên quan.
4. Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao thảo luận và cho ý kiến
đối với dự thảo thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
5. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến
góp ý, xem xét và ký ban hành thông tư.
Điều 46. Xây dựng, ban hành thông tư của Tổng Kiểm toán nhà nước
1. Dự thảo thông tư của Tổng Kiểm toán nhà nước do Tổng Kiểm toán nhà
nước tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo.
2. Dự thảo thông tư được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Kiểm toán

31
nhà nước và Cổng Pháp luật quốc gia trong thời gian ít nhất là 20 ngày để các cơ
quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến, trừ trường hợp điều ước quốc tế có
liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định
khác; trường hợp thông tư được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì việc
đăng tải thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 49 của Luật này.
3. Tùy theo tính chất và nội dung của dự thảo, Tổng Kiểm toán nhà nước
quyết định gửi dự thảo thông tư để lấy ý kiến cơ quan, tổ chức có liên quan.
4. Tổng Kiểm toán nhà nước chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến góp ý, xem xét và
ký ban hành thông tư.
Điều 47. Xây dựng, ban hành thông tư liên tịch
1. Dự thảo thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang Bộ phân công cơ quan chủ trì soạn thảo;
2. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức soạn thảo. Dự thảo thông
tư liên tịch do Bộ trưởng Bộ Tư pháp liên tịch ban hành phải được Bộ Tư pháp
thẩm định.
3. Dự thảo được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn
thảo và Cổng Pháp luật quốc gia trong thời gian ít nhất là 20 ngày để các cơ quan,
tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến, trừ trường hợp điều ước quốc tế có liên quan
mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác;
trường hợp thông tư được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì việc đăng tải
thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 49 của Luật này
Dự thảo thông tư liên tịch do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao liên tịch ban
hành phải được lấy ý kiến các thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao; dự thảo thông tư liên tịch do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
liên tịch ban hành phải được lấy ý kiến các thành viên Ủy ban kiểm sát Viện kiểm
sát nhân dân tối cao.
4. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu ý kiến góp ý để chỉnh
lý dự thảo.
5. Dự thảo được thông qua khi có sự thống nhất ý kiến của người có thẩm
quyền ban hành thông tư liên tịch.
6. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ cùng
ký ban hành thông tư liên tịch.

32
Chương VI
XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
THEO TRÌNH TỰ, THỦ TỤC RÚT GỌN VÀ TRONG TRƯỜNG HỢP
ĐẶC BIỆT
Điều 48. Trường hợp và thẩm quyền quyết định xây dựng, ban hành văn
bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn
1. Việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo
trình tự, thủ tục rút gọn thuộc trường hợp sau đây:
a) Trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp;
khi có yêu cầu đột xuất, cấp bách vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia,
phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cháy, nổ;
b) Trường hợp cấp bách để giải quyết vấn đề phát sinh trong thực tiễn;
c) Trường hợp cần tạm ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần của văn bản
quy phạm pháp luật để kịp thời bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân;
d) Trường hợp cần sửa đổi ngay cho phù hợp với văn bản quy phạm pháp
luật mới được ban hành mà văn bản đó có hiệu lực trong thời hạn ít hơn 30 ngày
kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành; trường hợp cần ban hành ngay văn bản
quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
đ) Trường hợp cần điều chỉnh thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần của
văn bản quy phạm pháp luật trong một thời hạn nhất định để giải quyết những vấn
đề cấp bách phát sinh trong thực tiễn;
e) Trường hợp ban hành văn bản quy định chi tiết của văn bản quy phạm
pháp luật được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn và trong trường hợp đặc
biệt mà văn bản hoặc nội dung giao quy định chi tiết có hiệu lực trong thời hạn ít
hơn 30 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành.
2. Thẩm quyền quyết định việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp
luật theo trình tự, thủ tục rút gọn:
a) Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của cơ quan trình
quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành luật,
pháp lệnh;
b) Chủ tịch nước tự mình hoặc theo đề nghị của Chính phủ, Tòa án nhân dân
tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc cơ quan khác có thẩm quyền quyết
định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành lệnh của Chủ
tịch nước;
c) Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ tự mình hoặc theo đề nghị của cơ
quan chủ trì soạn thảo quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây

33
dựng, ban hành nghị định; Thủ tướng Chính phủ tự mình hoặc theo đề nghị của
cơ quan chủ trì soạn thảo quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong
xây dựng, ban hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
d) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước tự mình hoặc theo đề nghị của cơ quan
chủ trì soạn thảo quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng,
ban hành văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành hoặc liên tịch ban hành;
đ) Thường trực Hội đồng nhân dân theo đề nghị của cơ quan trình quyết định
việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành nghị quyết của
Hội đồng nhân dân; Chủ tịch Ủy ban nhân dân theo đề nghị của cơ quan chủ trì
soạn thảo quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban
hành quyết định của Ủy ban nhân dân; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tự mình
hoặc theo đề nghị của cơ quan chủ trì soạn thảo quyết định việc áp dụng trình tự,
thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành quyết định của mình;
e) Chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt quyết định
việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm
pháp luật do mình ban hành.
Điều 49. Trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật
1. Việc đề nghị, quyết định áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn được thực hiện
trước hoặc trong quá trình xây dựng chính sách, soạn thảo văn bản quy phạm pháp
luật.
2. Trường hợp xây dựng văn bản quy phạm pháp luật quy định tại khoản 1
Điều 24 của Luật này khi được áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn thì không phải
thực hiện quy trình xây dựng chính sách.
3. Văn bản đề nghị áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn bao gồm các nội dung
sau đây:
a) Sự cần thiết ban hành, trong đó nêu rõ vấn đề phát sinh trong thực tiễn, dự
báo tác động tiêu cực đối với đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản và
hậu quả có thể xảy ra nếu không kịp thời ban hành văn bản quy phạm pháp luật
để giải quyết;
b) Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng;
c) Dự kiến nội dung chính của văn bản quy phạm pháp luật;
d) Căn cứ áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 48 của
Luật này.
4. Soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn được
thực hiện như sau:
a) Cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức việc soạn thảo;

34
b) Cơ quan chủ trì soạn thảo có thể đăng tải dự thảo trên cổng thông tin điện
tử của cơ quan mình, trừ trường hợp điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác; có thể lấy ý kiến
đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan và thực hiện truyền thông nội dung dự thảo. Trường hợp lấy ý kiến bằng văn
bản thì thời hạn lấy ý kiến ít nhất là 03 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị tham
gia góp ý kiến.
c) Hồ sơ dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường
vụ Quốc hội gửi lấy ý kiến bao gồm: văn bản đề nghị góp ý; dự thảo tờ trình; dự
thảo văn bản; báo cáo thuyết minh dự thảo văn bản; bản so sánh dự thảo sửa đổi,
bổ sung, thay thế với luật, pháp lệnh và lý do đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế,
trừ trường hợp xây dựng dự án luật, pháp lệnh mới; tài liệu khác (nếu có).
Hồ sơ dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, chính quyền địa phương gửi lấy
ý kiến thực hiện theo quy định của Chính phủ.
5. Việc thẩm định, thẩm tra dự án luật, pháp lệnh và việc Chính phủ cho ý
kiến đối với dự án luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình theo trình tự, thủ tục
rút gọn được thực hiện như sau:
a) Hồ sơ gửi thẩm định gồm văn bản đề nghị thẩm định; dự thảo tờ trình; dự
thảo văn bản; báo cáo thuyết minh dự thảo văn bản; bản so sánh dự thảo sửa đổi,
bổ sung, thay thế với luật, pháp lệnh hiện hành và lý do đề xuất sửa đổi, bổ sung,
thay thế, trừ trường hợp xây dựng dự án luật, pháp lệnh mới; bản tổng hợp ý kiến,
tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân (nếu có);
b) Hồ sơ gửi Chính phủ cho ý kiến đối với dự án không do Chính phủ trình
gồm văn bản đề nghị cho ý kiến; dự thảo tờ trình; dự thảo văn bản; báo cáo thuyết
minh dự thảo văn bản; bản so sánh dự thảo sửa đổi, bổ sung, thay thế với luật,
pháp lệnh hiện hành và lý do đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế, trừ trường hợp
xây dựng dự án luật, pháp lệnh mới; bản tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình ý
kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân (nếu có);
c) Hồ sơ gửi thẩm tra gồm tờ trình; dự thảo văn bản; báo cáo thuyết minh dự
thảo văn bản; báo cáo thẩm định hoặc ý kiến của Chính phủ đối với dự án không
do Chính phủ trình và báo cáo tiếp thu, giải trình; bản so sánh dự thảo sửa đổi, bổ
sung, thay thế với luật, pháp lệnh hiện hành và lý do đề xuất sửa đổi, bổ sung,
thay thế, trừ trường hợp xây dựng dự án luật, pháp lệnh mới; bản tổng hợp ý kiến,
tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân (nếu có);
d) Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ dự án theo quy định
tại điểm a và điểm c khoản này, cơ quan thẩm định có trách nhiệm thẩm định, cơ
quan thẩm tra có trách nhiệm thẩm tra dự án; đối với dự án có nội dung phức tạp,
liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực thì thời gian không quá 15 ngày kể từ
ngày nhận được hồ sơ;

35
đ) Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý
kiến thẩm định hoặc ý kiến của Chính phủ đối với dự án không do Chính phủ
trình, ý kiến thẩm tra.
Trường hợp cơ quan thẩm định kết luận dự án chưa đủ điều kiện trình Chính
phủ, cơ quan chủ trì soạn thảo phải tiếp thu, giải trình, hoàn thiện dự án để thẩm
định lại. Trường hợp cơ quan chủ trì thẩm tra có ý kiến dự án chưa đủ điều kiện
trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội thì báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc
hội xem xét trả lại hồ sơ cho cơ quan trình dự án để tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện.
6. Hồ sơ xem xét, thông qua dự thảo luật, pháp lệnh theo trình tự, thủ tục rút
gọn bao gồm tờ trình; dự thảo văn bản; báo cáo thuyết minh dự thảo văn bản; bản
so sánh dự thảo sửa đổi, bổ sung, thay thế với luật, pháp lệnh hiện hành và lý do
đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế, trừ trường hợp xây dựng dự án luật, pháp lệnh
mới; báo cáo thẩm định hoặc ý kiến của Chính phủ đối với dự án không do Chính
phủ trình; báo cáo thẩm tra.
7. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo luật, pháp lệnh được quy định như sau:
a) Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo luật tại kỳ họp gần nhất theo trình
tự quy định tại Điều 38 của Luật này;
b) Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo pháp lệnh tại
phiên họp gần nhất theo trình tự quy định tại Điều 40 của Luật này.
Điều 50. Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong trường
hợp đặc biệt
1. Khi được Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư,
Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo và trong trường hợp khẩn cấp theo
quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp hoặc xảy ra sự cố, thảm họa theo
quy định của pháp luật về phòng thủ dân sự hoặc sự kiện bất khả kháng hoặc các
vấn đề cấp bách, quan trọng, cần thiết của đất nước, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong
trường hợp đặc biệt.
2. Đối với các vấn đề cấp bách, quan trọng, cần thiết của đất nước quy định
tại khoản 1 Điều này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ
giao cơ quan chủ trì soạn thảo thực hiện việc soạn thảo, cơ quan thẩm định thực
hiện việc thẩm định, cơ quan thẩm tra thực hiện việc thẩm tra.
3. Đối với trường hợp khẩn cấp hoặc xảy ra sự cố, thảm họa hoặc sự kiện bất
khả kháng theo quy định tại khoản 1 Điều này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ
tịch nước, Chính phủ giao cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp cơ quan thẩm định,
cơ quan thẩm tra, cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện việc soạn thảo, trình Quốc
hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ xem xét, thông qua.
4. Hồ sơ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc trường hợp quy định
tại khoản 2 và khoản 3 Điều này bao gồm tờ trình, dự thảo văn bản và các tài liệu
khác (nếu có).

36
Chương VII
HIỆU LỰC VÀ NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Điều 51. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật
1. Thời điểm có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần văn bản quy phạm pháp luật
được quy định tại văn bản đó nhưng không sớm hơn 45 ngày kể từ ngày thông
qua hoặc ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước
ở trung ương; không sớm hơn 10 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành đối
với văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương, trừ trường hợp quy
định tại khoản 2 Điều này.
2. Văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ
tục rút gọn và trong trường hợp đặc biệt phải được đăng tải ngay trên công báo
điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, cổng thông tin điện tử của cơ quan
ban hành và đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng và có hiệu lực theo quy
định sau:
a) Các văn bản được áp dụng trực tiếp, không có văn bản quy định chi tiết,
hướng dẫn thi hành thì có thể có hiệu lực ngay sau khi được thông qua hoặc ký
ban hành;
b) Các văn bản không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì
có hiệu lực không sớm hơn 10 ngày đối với văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước ở trung ương và 05 ngày đối với văn bản quy phạm pháp luật của
chính quyền địa phương kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành.
3. Thời điểm có hiệu lực của nội dung được giao quy định chi tiết không
được sớm hơn 06 tháng kể từ ngày văn bản giao quy định chi tiết thông qua hoặc
ký ban hành, trừ trường hợp văn bản quy định chi tiết đã được xây dựng và ban
hành để có hiệu lực cùng thời điểm hoặc văn bản giao quy định chi tiết có quy
định thời hạn khác.
Điều 52. Hiệu lực về không gian
1. Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền ở trung
ương có hiệu lực trong phạm vi cả nước, trừ trường hợp được xác định cụ thể
phạm vi áp dụng hoặc điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên có quy định khác.
2. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân ở đơn vị hành chính nào thì có hiệu lực trong phạm vi
đơn vị hành chính đó và phải được quy định cụ thể ngay trong văn bản đó. Trường
hợp có sự thay đổi về địa giới đơn vị hành chính thì hiệu lực về không gian và đối
tượng áp dụng của văn bản quy phạm pháp luật được xác định như sau:
a) Trường hợp một đơn vị hành chính được chia thành nhiều đơn vị hành
chính mới cùng cấp, văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban

37
nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính được chia tiếp tục có
hiệu lực đối với các đơn vị hành chính mới cho đến khi Hội đồng nhân dân, Ủy ban
nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính mới có quyết định khác;
b) Trường hợp nhiều đơn vị hành chính được nhập thành một đơn vị hành
chính mới cùng cấp thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy
ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính được nhập tiếp tục
có hiệu lực trong phạm vi đơn vị hành chính đó cho đến khi Hội đồng nhân dân,
Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính mới ban hành
văn bản hành chính để quyết định việc áp dụng hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp
luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân của đơn
vị hành chính được nhập hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới;
c) Trường hợp một phần địa giới của đơn vị hành chính được điều chỉnh về
một đơn vị hành chính khác thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính được mở
rộng có hiệu lực đối với phần địa giới của đơn vị hành chính được điều chỉnh;
d) Văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực trong phạm vi địa giới của
đơn vị hành chính trước khi được thành lập, giải thể, chia, nhập đơn vị hành chính,
điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính thì tiếp tục có hiệu lực trong phạm vi địa
giới đó, trừ trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản này hoặc được sửa
đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ bởi văn bản của cơ quan, người có thẩm quyền.
Điều 53. Hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật
1. Chỉ trong trường hợp thật cần thiết để bảo đảm lợi ích chung của xã hội,
thực hiện các quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân được quy định trong luật của
Quốc hội thì văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan trung ương, Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mới được quy định hiệu lực trở về trước.
2. Văn bản quy phạm pháp luật không được quy định hiệu lực trở về trước
đối với các trường hợp sau đây:
a) Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực
hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý;
b) Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.
3. Văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Hội
đồng nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã không được quy định hiệu lực trở
về trước.
Điều 54. Tạm ngưng hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật
1. Văn bản quy phạm pháp luật bị tạm ngưng hiệu lực trong các trường hợp
sau đây:
a) Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật
quyết định tạm ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần của văn bản đó để kịp thời
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;

38
b) Văn bản quy phạm pháp luật bị đình chỉ việc thi hành toàn bộ hoặc một
phần thì tạm ngưng hiệu lực cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan, người
có thẩm quyền.
2. Thời điểm tạm ngưng hiệu lực, tiếp tục có hiệu lực của toàn bộ hoặc một
phần văn bản phải được quy định rõ tại văn bản của cơ quan, người có thẩm quyền.
3. Văn bản tạm ngưng hiệu lực phải được đăng tải trên công báo điện tử, cơ
sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng
chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày ban hành.
Điều 55. Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực
1. Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các
trường hợp sau đây:
a) Hết thời hạn có hiệu lực được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật;
b) Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật
mới của chính cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản quy phạm pháp
luật đó;
c) Bị bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật này.
2. Phương án 1: Nội dung giao quy định chi tiết trong văn bản quy phạm
pháp luật hết hiệu lực do bị thay thế hoặc bị sửa đổi, bổ sung thì quy định chi tiết
nội dung đó hết hiệu lực. Trường hợp toàn bộ nội dung giao quy định chi tiết hết
hiệu lực thì toàn bộ văn bản quy định chi tiết hết hiệu lực; trường hợp chỉ một
phần nội dung giao quy định chi tiết hết hiệu lực thì chỉ điều, khoản, điểm hoặc
phần nội dung tương ứng của văn bản quy định chi tiết hết hiệu lực, trừ trường
hợp được công bố tiếp tục có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần.
Văn bản công bố là văn bản hành chính phải được đăng tải trên công báo
điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật.
Phương án 2: Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một
phần do có văn bản quy phạm pháp luật khác thay thế hoặc sửa đổi, bổ sung thì
một phần hoặc toàn bộ văn bản quy định chi tiết văn bản đó hết hiệu lực, trừ
trường hợp được công bố tiếp tục có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần. Văn bản
công bố là văn bản hành chính phải được đăng tải trên công báo điện tử, cơ sở dữ
liệu quốc gia về pháp luật.
Điều 56. Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật
1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.
2. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi, sự kiện xảy ra
tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trường hợp văn bản quy phạm
pháp luật có quy định hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.
3. Trường hợp các quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một

39
vấn đề thì áp dụng quy phạm pháp luật trong văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.
4. Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban
hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản
quy phạm pháp luật ban hành sau, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này.
5. Phương án 1: Trường hợp các quy phạm pháp luật có cùng hiệu lực pháp
lý quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định pháp luật chuyên
ngành. Quy định pháp luật chuyên ngành chỉ được áp dụng trong phạm vi lĩnh
vực hoặc nhóm quan hệ xã hội mà quy định đó trực tiếp điều chỉnh.
Phương án 2: Trường hợp quy định trong các văn bản do một cơ quan có thẩm
quyền ban hành cùng điều chỉnh một vấn đề pháp lý và không thể áp dụng đồng thời
thì quy định được áp dụng đối với trường hợp cụ thể được xác định như sau:
a) Áp dụng quy định của văn bản điều chỉnh trực tiếp, cụ thể hơn đối với vấn
đề pháp lý đó, trừ trường hợp một trong các văn bản có liên quan quy định rõ
việc áp dụng quy định khác. Tính trực tiếp, cụ thể của quy định được xác định căn
cứ vào đối tượng, phạm vi áp dụng và nội dung quy định về quyền, nghĩa vụ, điều
kiện, trình tự, thủ tục hoặc hậu quả pháp lý;
b) Trường hợp văn bản có hiệu lực sau có quy định khác về cùng một vấn đề
pháp lý thì chỉ áp dụng quy định của văn bản đó nếu văn bản quy định rõ việc áp
dụng thay cho quy định được xác định theo điểm a khoản này; nếu không quy định
rõ thì tiếp tục áp dụng quy định được xác định theo điểm a khoản này cho đến khi
bị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ.
6. Việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong nước không được cản trở
việc thực hiện điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế
mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau
về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp.
7. Việc áp dụng pháp luật khác với quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6
Điều này do Quốc hội quy định.
Chương VIII
TỔ CHỨC THI HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Điều 57. Nội dung và trách nhiệm tổ chức thi hành văn bản quy phạm
pháp luật
1. Nội dung tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật:
a) Ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và biện pháp cụ
thể để tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật;

40
b) Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh;
c) Phổ biến, giáo dục văn bản quy phạm pháp luật;
d) Hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật; tiếp nhận và xử lý đề
nghị, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật; tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn
chuyên môn, nghiệp vụ;
đ) Giám sát, kiểm tra, rà soát, hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật; pháp
điển hệ thống quy phạm pháp luật;
e) Đánh giá văn bản quy phạm pháp luật sau một thời gian thi hành.
2. Cơ quan nhà nước, tổ chức, người có thẩm quyền trong phạm vi chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:
a) Tổ chức thi hành, theo dõi và sơ kết, tổng kết việc thi hành văn bản quy
phạm pháp luật;
b) Báo cáo hoặc cung cấp thông tin về tổ chức thi hành, theo dõi việc thi
hành văn bản quy phạm pháp luật.
Điều 58. Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh
1. Việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh không được làm thay đổi nội
dung quy định được giải thích và được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Có cách hiểu khác nhau về quy định của văn bản;
b) Chưa thống nhất việc áp dụng các văn bản.
2. Việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh phải bảo đảm thực hiện theo thứ
tự các nguyên tắc, tiêu chí sau đây:
a) Phù hợp với nghĩa phổ thông của từ ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm
pháp luật đó;
b) Căn cứ vào quá trình xây dựng nội dung liên quan đến quy định cần giải thích;
c) Phù hợp với quan điểm chỉ đạo, mục đích, tinh thần ban hành văn bản;
d) Bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật.
3. Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của Chủ tịch nước,
Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội và đại
biểu Quốc hội quyết định việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh.
4. Xây dựng dự thảo pháp lệnh giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh:
a) Tùy theo tính chất, nội dung của vấn đề cần được giải thích, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội giao Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội soạn thảo dự thảo pháp lệnh
giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

41
b) Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao Hội đồng Dân tộc hoặc Ủy ban của
Quốc hội thẩm tra về sự phù hợp của dự thảo pháp lệnh giải thích Hiến pháp,
luật, pháp lệnh với tinh thần và nội dung của văn bản được giải thích.
5. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo pháp lệnh giải
thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:
a) Đại diện cơ quan được phân công chuẩn bị dự thảo pháp lệnh giải thích
thuyết trình và đọc toàn văn dự thảo;
b) Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;
c) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân được mời tham dự phiên họp phát biểu
ý kiến;
d) Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận;
đ) Chủ tọa phiên họp kết luận;
e) Ủy ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết;
g) Chủ tịch Quốc hội ký pháp lệnh giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh.
Điều 59. Hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật
1. Hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện đối với
văn bản quy phạm pháp luật trừ Hiến pháp, luật, pháp lệnh.
2. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật xem
xét, hướng dẫn áp dụng đối với văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành
bằng văn bản hành chính, trên cơ sở đề nghị của cơ quan, kiến nghị của tổ chức,
cá nhân, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này.
3. Đối với nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ thì Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quản lý ngành, lĩnh vực theo sự phân công của Thủ
tướng Chính phủ, ban hành quyết định hành chính để hướng dẫn áp dụng.
4. Đối với nghị quyết của Hội đồng nhân dân thì Thường trực Hội đồng nhân
dân cùng cấp ban hành văn bản hành chính để hướng dẫn áp dụng.
5. Việc hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo
các trường hợp, nguyên tắc, tiêu chí quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 58 của
Luật này và không được làm thay đổi nội dung quy định được hướng dẫn, không
được đặt ra quy định mới. Văn bản hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp
luật phải được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của cơ quan ban hành văn bản
hướng dẫn.
Điều 60. Giám sát văn bản quy phạm pháp luật
Việc giám sát văn bản quy phạm pháp luật thực hiện theo quy định của pháp
luật về hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, các luật khác có
liên quan.

42
Điều 61. Kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật
1. Thẩm quyền, trách nhiệm kiểm tra văn bản:
a) Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Tổng Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
do mình ban hành hoặc liên tịch ban hành;
b) Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm tự kiểm tra văn bản quy
phạm pháp luật do mình ban hành hoặc liên tịch ban hành; Chính phủ kiểm tra
theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính kinh tế - đặc biệt;
c) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm tự kiểm tra văn
bản quy phạm pháp luật do mình ban hành hoặc liên tịch ban hành; kiểm tra theo
thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh ban hành về những nội dung có liên quan đến ngành, lĩnh vực do mình
phụ trách;
d) Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh có trách nhiệm tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do mình ban
hành; chính quyền địa phương cấp trên kiểm tra theo thẩm quyền văn bản quy
phạm pháp luật do chính quyền địa phương cấp dưới ban hành.
2. Căn cứ thực hiện tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật:
a) Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành;
b) Kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân về văn bản quy phạm
pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật;
c) Theo yêu cầu, chỉ đạo của cơ quan, người có thẩm quyền.
3. Căn cứ thực hiện kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền:
a) Kế hoạch kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật;
b) Phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật thuộc thẩm quyền kiểm tra;
c) Các trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều này.
4. Cơ quan, người có thẩm quyền thực hiện kiểm tra văn bản có chứa quy
phạm pháp luật nhưng không được ban hành đúng thẩm quyền, hình thức, trình
tự, thủ tục theo quy định của Luật này, văn bản hướng dẫn áp dụng văn bản quy
phạm pháp luật khi có căn cứ quy định tại điểm b và điểm c khoản 3 Điều này.
5. Việc xử lý văn bản trái pháp luật qua kiểm tra được thực hiện theo quy
định của pháp luật.

43
6. Văn bản thuộc đối tượng kiểm tra theo quy định tại Điều này là văn bản còn
hiệu lực hoặc đã được ký, ban hành nhưng chưa có hiệu lực.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 62. Rà soát văn bản quy phạm pháp luật
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định tổng rà soát hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật trên cơ sở đề xuất của Chính phủ.
2. Bộ, cơ quan ngang Bộ thực hiện rà soát văn bản do Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang Bộ ban hành hoặc liên tịch ban hành; văn bản do Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ chủ trì soạn thảo; văn bản khác của Quốc hội, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội có nội dung điều chỉnh vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý nhà
nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ.
3. Tòa án nhân dân tối cao thực hiện rà soát văn bản do Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành hoặc liên
tịch ban hành; văn bản do Tòa án nhân dân tối cao chủ trì soạn thảo; văn bản khác
của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có nội dung điều chỉnh vấn đề thuộc
nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân.
4. Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện rà soát văn bản do Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành hoặc liên tịch ban hành; văn bản do Viện
kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì soạn thảo; văn bản khác của Quốc hội, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội có nội dung điều chỉnh vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn
của Viện kiểm sát nhân dân.
5. Kiểm toán nhà nước thực hiện rà soát văn bản do Tổng Kiểm toán nhà
nước ban hành hoặc liên tịch ban hành; văn bản do Kiểm toán nhà nước chủ trì
soạn thảo; văn bản khác của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có nội dung
điều chỉnh vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm toán nhà nước.
6. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội theo chức
năng, nhiệm vụ thực hiện rà soát văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc
hội không thuộc các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này.
7. Văn phòng Chủ tịch nước thực hiện rà soát văn bản của Chủ tịch nước.
8. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện rà soát văn bản do Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành.
Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện rà soát văn bản do Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành.
9. Việc rà soát văn bản của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính -
kinh tế đặc biệt thực hiện theo hướng dẫn của Chính phủ.
10. Các cơ quan nhà nước quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều

44
này quyết định rà soát văn bản theo chuyên đề, lĩnh vực, địa bàn.
11. Việc xử lý văn bản quy phạm pháp luật qua rà soát được thực hiện theo
quy định của pháp luật.
12. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 63. Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật
1. Văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung, đính chính phải được hợp nhất
với văn bản được sửa đổi, bổ sung.
2. Việc hợp nhất văn bản không được làm thay đổi nội dung và hiệu lực của văn
bản được hợp nhất.
3. Văn bản hợp nhất là căn cứ chính thức trong viện dẫn và áp dụng pháp luật,
trường hợp nội dung của văn bản hợp nhất khác với nội dung của văn bản được hợp
nhất thì áp dụng các quy định của văn bản được hợp nhất, đồng thời, văn bản hợp
nhất có nội dung khác với văn bản được hợp nhất phải được kịp thời xử lý.
4. Cơ quan trình, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm chuẩn bị dự thảo phần
nội dung hợp nhất để trình đồng thời với dự thảo văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính,
bãi bỏ một phần, quy định hết hiệu lực một phần, quy định tạm ngưng hiệu lực một
phần hoặc công bố tiếp tục có hiệu lực một phần văn bản quy phạm pháp luật.
5. Người đứng đầu cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản được sửa đổi, bổ sung do
Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành, ký xác thực văn bản hợp
nhất đối với văn bản do Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ký xác thực văn bản hợp nhất đối với văn
bản của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành; Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang Bộ, Tổng Kiểm toán nhà nước ký xác thực văn bản hợp nhất đối với
văn bản do mình ban hành, văn bản liên tịch do cơ quan mình chủ trì soạn thảo.
Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký xác thực văn bản
hợp nhất đối với văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp ban hành;
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ký xác thực văn bản hợp nhất đối với văn bản do
mình ban hành; Người đứng đầu chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh
tế đặc biệt ký xác thực văn bản hợp nhất đối với văn bản do mình ban hành.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 64. Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật
1. Quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực trong các văn bản quy phạm pháp luật
do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành phải được rà soát, tập hợp, sắp xếp để
xây dựng Bộ pháp điển, trừ Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật có nội dung
bí mật nhà nước hoặc có quy định không được đăng tải công khai trên mạng.
2. Việc pháp điển không làm thay đổi nội dung của quy phạm pháp luật được
pháp điển.
3. Bộ pháp điển được sử dụng miễn phí để tra cứu trong áp dụng và thực hiện
pháp luật, được duy trì liên tục phiên bản điện tử trên Cổng Pháp luật quốc gia.

45
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 65. Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật
1. Định kỳ hằng năm hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, văn bản
quy phạm pháp luật phải được đánh giá hiệu quả thi hành, cơ quan chịu trách nhiệm
tổ chức thi hành có trách nhiệm tự mình đánh giá hoặc thuê cơ quan, tổ chức thực
hiện việc đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật.
2. Nội dung đánh giá hiệu quả thi hành văn bản quy phạm pháp luật:
a) Mức độ đạt được mục tiêu chính sách, mục đích khi ban hành văn bản quy
phạm pháp luật đặt ra;
b) Tác động của văn bản quy phạm pháp luật đối với hệ thống pháp luật, kinh
tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
c) Tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, tính khả thi và mức độ phù hợp với
thực tiễn;
d) Những tồn tại do các quy định của văn bản; tồn tại trong việc tổ chức thực
hiện văn bản.
3. Trên cơ sở nội dung đánh giá hiệu quả thi hành văn bản, cơ quan quy định
tại khoản 1 Điều này thực hiện theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với cơ quan, người
có thẩm quyền các giải pháp khắc phục các tồn tại do các quy định của văn bản, các
biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành văn bản.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 66. Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và ứng dụng công nghệ số,
chuyển đổi số
1. Công nghệ số, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo được ứng dụng để hỗ trợ
hoạt động xây dựng, ban hành, tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật. Trí
tuệ nhân tạo chỉ là công cụ hỗ trợ, cơ quan, người có thẩm quyền chịu trách nhiệm
cuối cùng trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
2. Nguồn dữ liệu được tổng hợp, khai thác từ báo chí, mạng xã hội, nguồn
mở chỉ có giá trị tham khảo, phải được kiểm chứng và không làm thay đổi giá trị
pháp lý của dữ liệu gốc.
3. Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật dùng để đăng tải toàn văn các văn bản
quy phạm pháp luật quy định tại Điều 4 của Luật này, các văn bản khác theo quy
định của Chính phủ; hỗ trợ việc khai thác dữ liệu phục vụ công tác xây dựng và
tổ chức thi hành pháp luật.
4. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ quy định việc ứng dụng công
nghệ số, chuyển đổi số trong xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy
phạm pháp luật thuộc thẩm quyền.

46
Chương IX
TRÁCH NHIỆM VÀ NGUỒN LỰC TRONG XÂY DỰNG, BAN HÀNH
VÀ TỔ CHỨC THI HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Điều 67. Trách nhiệm xin ý kiến các cơ quan có thẩm quyền của Đảng
Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong công tác xây dựng pháp luật có
trách nhiệm báo cáo, xin ý kiến cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Đảng.
Điều 68. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong
xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định việc hỗ trợ đại biểu Quốc hội trong
xây dựng, ban hành luật, pháp lệnh do đại biểu Quốc hội trình.
2. Cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm
định, cơ quan thẩm tra, cơ quan được tham vấn chính sách có quyền thuê chuyên
gia, tổ chức điều tra, khảo sát thực tế, hội thảo, tọa đàm, đánh giá tác động của
chính sách để hỗ trợ, nâng cao chất lượng xây dựng chính sách, tham vấn, soạn
thảo, thẩm định, thẩm tra.
3. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trình dự án, dự thảo văn bản quy
phạm pháp luật chịu trách nhiệm về tiến độ trình và chất lượng dự án, dự thảo văn
bản do mình trình.
4. Cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo chịu trách nhiệm
trước cơ quan trình hoặc cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy
phạm pháp luật về tiến độ, chất lượng lập đề xuất chính sách, soạn thảo; truyền
thông chính sách và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; việc tiếp thu, giải trình
ý kiến góp ý, tham vấn, phản biện xã hội, thẩm định, thẩm tra.
5. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được đề nghị tham vấn chính sách, tham gia
góp ý về chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chịu trách nhiệm về nội
dung tham vấn chính sách, tham gia góp ý và thời hạn tham gia góp ý.
6. Cơ quan thẩm định, cơ quan thẩm tra chịu trách nhiệm trước cơ quan,
người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về kết quả thẩm định,
thẩm tra.
7. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật chịu
trách nhiệm về chất lượng văn bản do mình ban hành.
8. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy định chi tiết chịu
trách nhiệm về tiến độ và chất lượng văn bản được giao.
9. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật chịu
trách nhiệm về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật.
10. Người đứng đầu của cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm trực tiếp:
a) Chỉ đạo, tổ chức thực hiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước
trong công tác xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật;

47
b) Khi để xảy ra tình trạng trình hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật
theo thẩm quyền chậm tiến độ, trái pháp luật; để xảy ra tham nhũng, tiêu cực, lợi
ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật của người do mình trực tiếp
quản lý, giao nhiệm vụ;
c) Chịu trách nhiệm liên đới trong trường hợp đã giao cấp phó của mình trực
tiếp phụ trách công tác xây dựng pháp luật;
d) Kết quả thực hiện công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan, tổ chức do mình đứng đầu; kết quả thực hiện là căn cứ để đánh
giá, xét thi đua khen thưởng, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại.
11. Cơ quan, tổ chức, người đứng đầu và công chức để xảy ra hành vi vi
phạm, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp
luật tại cơ quan, tổ chức, phạm vi công việc mình được phân công trực tiếp quản
lý, phụ trách thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý trách nhiệm
hoặc được xem xét loại trừ, miễn hoặc giảm trách nhiệm theo quy định của Đảng
và quy định của pháp luật.
12. Ngoài trách nhiệm quy định tại các khoản 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 và 11 của
Điều này, cơ quan, tổ chức, người đứng đầu và công chức còn phải chịu trách
nhiệm trong công tác xây dựng pháp luật theo quy định khác có liên quan.
Điều 69. Nhân lực cho công tác xây dựng pháp luật
1. Nhà nước có cơ chế, chính sách đặc biệt để thu hút, trọng dụng cán bộ,
công chức làm công tác xây dựng pháp luật. Chính phủ quy định chi tiết về cơ chế
thu hút chuyên gia, nhà khoa học, tổ chức nghiên cứu và người có kinh nghiệm thực
tiễn tham gia thường xuyên vào công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
2. Người làm công tác xây dựng pháp luật được ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng
nâng cao trình độ phục vụ công tác này. Nhà nước bảo đảm ngân sách cho hoạt
động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho người làm công tác xây dựng
pháp luật.
Điều 70. Cơ sở vật chất, kinh phí cho công tác xây dựng, ban hành và tổ
chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật
1. Nhà nước bảo đảm và ưu tiên nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, hiện đại
hóa hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị làm việc, ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi
số, trí tuệ nhân tạo phục vụ công tác nghiên cứu chính sách, xây dựng, ban hành
văn bản quy phạm pháp luật.
2. Nhà nước có cơ chế đặc thù về phân bổ, quản lý, sử dụng kinh phí dành
cho công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, từng bước thực
hiện soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật tập trung, chuyên nghiệp, đáp ứng đầy
đủ, kịp thời, hiệu quả toàn bộ hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm
pháp luật.
3. Kinh phí cho công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

48
thực hiện theo cơ chế đặc thù do Quốc hội quy định.
4. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền phải bảo đảm cơ sở vật chất, bố trí
kinh phí để tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật.
5. Ngoài kinh phí từ ngân sách nhà nước cấp, các cơ quan, tổ chức, người có
thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản
quy phạm pháp luật được sử dụng nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định
của pháp luật.
6. Khuyến khích các cơ quan, tổ chức, cá nhân hỗ trợ cơ sở vật chất, kinh phí
cho cơ quan nhà nước trong công tác xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn
bản quy phạm pháp luật.
Chương X
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 71. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
2. Từ ngày 01 tháng 3 năm 2027 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2027, Quốc
hội được tiếp tục ban hành nghị quyết là văn bản quy phạm pháp luật để quy định
các vấn đề tại khoản 2 Điều 10, Ủy ban Thường vụ Quốc hội được tiếp tục ban
hành nghị quyết là văn bản quy phạm pháp luật để quy định các vấn đề tại khoản
2 Điều 11, Chính phủ được tiếp tục ban hành nghị quyết là văn bản quy phạm
pháp luật để quy định các vấn đề tại khoản 2 Điều 14 của Luật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số
87/2025/QH15. Trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành các nghị quyết này được
thực hiện theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số
64/2025/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và quy định
của Chính phủ.
3. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15, được sửa
đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 hết hiệu lực thi hành từ ngày Luật này có
hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật số 01/2012/UBTVQH13,
được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 01/2026/UBTVQH16, Pháp lệnh pháp
điển hệ thống quy phạm pháp luật số 03/2012/UBTVQH13 hết hiệu lực thi hành
từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Điều 72. Điều khoản chuyển tiếp
1. Nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị
quyết của Chính phủ được ban hành trước ngày 01 tháng 01 năm 2028 tiếp tục có
hiệu lực cho đến khi có văn bản bãi bỏ hoặc thay thế bằng văn bản quy phạm pháp
luật khác hoặc bị bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan, người có thẩm quyền.

49
2. Kể từ ngày Luật này có hiệu lực, các văn bản sau đây tiếp tục có hiệu lực
cho đến khi có văn bản bãi bỏ hoặc thay thế bằng văn bản của cơ quan, người có
thẩm quyền:
a) Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam;
b) Quyết định của Chủ tịch nước;
c) Nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
d) Quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước.
Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI,
Kỳ họp thứ 2 thông qua ngày tháng năm 2026.
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
Trần Thanh Mẫn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!
Hồ sơ dự án
Hồ sơ dự án tổng hợp toàn bộ tài liệu liên quan đến quá trình xây dựng Dự thảo đang xem.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Hồ sơ dự án
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Dự thảo Luật về văn bản quy phạm pháp luật
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài
phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.