- Tổng quan
- Nội dung
- Tải về
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi): Cập nhật mới nhất
| Lĩnh vực: | Giáo dục-Đào tạo-Dạy nghề Tư pháp-Hộ tịch | Nhóm dự thảo: | Dự thảo văn bản Trung ương |
| Lần ban hành: | Lần 1 | Loại dự thảo: | Luật |
| Hạn gửi góp ý: | Đang cập nhật... | Link góp ý: | Gửi góp ý |
| Cơ quan chủ trì dự thảo: | Bộ Tư pháp | Trạng thái: |
Đã biết
|
| Ngày cập nhật: | 17/05/2026 |
Phạm vi điều chỉnh
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
| QUỐC HỘI ______ Luật số:...../2026/QHXVI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ______________________________ |
LUẬT
PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định quyền, nghĩa vụ, nội dung, hình thức, đối tượng đặc thù, trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân và trách nhiệm của Nhà nước trong quản lý, bảo đảm các điều kiện phổ biến, giáo dục pháp luật.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam.
2. Tổ chức kinh tế theo quy định của Luật Đầu tư.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
4. Người nước ngoài, người không có quốc tịch đang cư trú, học tập, làm việc hợp pháp tại Việt Nam được Nhà nước tạo điều kiện học tập, tìm hiểu, phổ biến, giáo dục pháp luật có liên quan trực tiếp đến việc cư trú, học tập, làm việc của bản thân theo quy định của Luật này.
Điều 3. Quyền, nghĩa vụ về phổ biến, giáo dục pháp luật
1. Quyền của tổ chức, cá nhân:
a) Được phổ biến, giáo dục pháp luật; tham gia hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật do các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện;
b) Bình đẳng trong tiếp cận, tìm hiểu, tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật;
c) Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hành vi vi phạm trong lĩnh vực phổ biến, giáo dục pháp luật;
2. Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân:
a) Chủ động tìm hiểu, học tập Hiến pháp, pháp luật;
b) Tự giác tuân thủ Hiến pháp, pháp luật;
c) Tham gia xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật tại nơi học tập, lao động, sinh sống.
Điều 4. Chính sách của Nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật
1. Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt.
2. Nhà nước bảo đảm nguồn lực tương xứng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, ưu tiên các đối tượng đặc thù; tích hợp, lồng ghép nguồn lực phổ biến, giáo dục pháp luật trong các chương trình, đề án có liên quan.
3. Giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân được thực hiện phù hợp với mục tiêu giáo dục, chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo; là nội dung quan trọng của chương trình giáo dục cấp mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; ưu tiên trang bị kiến thức pháp luật liên quan đến ngành, nghề đào tạo của sinh viên, học viên.
4. Nhà nước thực hiện bồi dưỡng pháp luật và giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho công chức, viên chức để bảo đảm kỷ luật, kỷ cương công vụ và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị.
5. Khuyến khích xã hội hóa, tôn vinh, biểu dương, khen thưởng cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cá nhân tham gia, hỗ trợ tích cực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Điều 5. Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
1. Nhà nước khuyến khích và có chính sách ưu đãi đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật và hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Khuyến khích luật sư, luật gia, tư vấn viên pháp luật tham gia hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định của Luật này.
2. Chính phủ căn cứ tình hình kinh tế - xã hội của từng thời kỳ, quy định cụ thể chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật hoặc hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
3. Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là cấp tỉnh) căn cứ tình hình kinh tế - xã hội của từng thời kỳ, điều kiện thực tiễn của địa phương, quy định cụ thể chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật hoặc hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong phạm vi địa phương mình.
Điều 6. Các nguyên tắc phổ biến, giáo dục pháp luật
1. Chính xác, đầy đủ, rõ ràng, dễ hiểu, thiết thực.
2. Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật được thực hiện đồng bộ, xuyên suốt quá trình đề xuất chính sách, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật và thi hành pháp luật; bảo đảm truyền thông chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật thực định thực hiện kịp thời, có trọng tâm, trọng điểm, phân loại nội dung phù hợp với từng nhóm đối tượng cụ thể.
3. Đa dạng các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, phù hợp với nhu cầu, lứa tuổi, nhận thức, trình độ của đối tượng được phổ biến, giáo dục pháp luật và truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc; kết hợp hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật truyền thống với các hình thức hiện đại, ứng dụng chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật.
4. Gắn phổ biến, giáo dục pháp luật với xây dựng và thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, của địa phương và đời sống hằng ngày của người dân; phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan, tổ chức, gia đình và xã hội.
5. Phù hợp với quy định của pháp luật về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin, an ninh mạng khi thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua ứng dụng trí tuệ nhân tạo hoặc sử dụng các nền tảng số, trang, kênh, tài khoản trên mạng xã hội.
6. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả tổ chức thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc phạm vi trách nhiệm được giao.
Điều 7. Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật.
2. Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định sau đây:
a) Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, đề án, kế hoạch về phổ biến, giáo dục pháp luật;
b) Chỉ đạo, hướng dẫn triển khai phổ biến, giáo dục pháp luật; bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật;
c) Tham mưu phân công bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật đối với chính sách, văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội không do Chính phủ trình;
d) Quản lý, vận hành, phát triển Cổng Pháp luật quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật; quản lý, hướng dẫn ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật;
đ) Xây dựng, quản lý báo cáo viên pháp luật thuộc phạm vi quản lý; chỉ đạo, hướng dẫn việc quản lý, nâng cao năng lực cho báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật;
e) Xây dựng, hướng dẫn triển khai công cụ đánh giá hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật;
g) Thống kê, đánh giá, sơ kết, tổng kết, khen thưởng về phổ biến, giáo dục pháp luật;
h) Kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong phổ biến, giáo dục pháp luật;
i) Hợp tác quốc tế về phổ biến, giáo dục pháp luật.
3. Bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý theo quy định tại điểm a, điểm b, điểm g, điểm h, điểm i khoản 2 Điều này và quy định sau đây:
a) Cập nhật, quản lý thông tin, dữ liệu trên Cổng Pháp luật quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, hệ thống thông tin phổ biến, giáo dục pháp luật trong phạm vi được phân quyền quản trị;
b) Quản lý, hướng dẫn, triển khai các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số về phổ biến, giáo dục pháp luật tại bộ, cơ quan mình.
c) Xây dựng, quản lý, năng cao năng lực cho báo cáo viên pháp luật thuộc phạm vi quản lý;
d) Hướng dẫn, triển khai công cụ đánh giá hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương theo quy định tại điểm a, điểm b, điểm đ, điểm g, điểm h, điểm i khoản 2 Điều này và quy định sau đây:
a) Cập nhật, quản lý thông tin, dữ liệu trên Cổng Pháp luật quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, hệ thống thông tin phổ biến, giáo dục pháp luật trong phạm vi được phân quyền quản trị;
b) Quản lý, hướng dẫn, triển khai các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số về phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương;
c) Hướng dẫn triển khai công cụ đánh giá hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định của Chính phủ.
5. Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (sau đây gọi chung là cấp xã) thực hiện quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương theo quy định tại điểm b, điểm e, điểm g, điểm h khoản 2 Điều này và quy định sau đây:
a) Ban hành văn bản chỉ đạo, điều hành tổ chức thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn;
b) Cập nhật văn bản do mình ban hành trên cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và cập nhật, quản lý thông tin, dữ liệu trên hệ thống thông tin phổ biến, giáo dục pháp luật trong phạm vi được phân quyền quản trị;
c) Quản lý, hướng dẫn, triển khai các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số về phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương;
d) Xây dựng, quản lý, nâng cao năng lực cho tuyên truyền viên pháp luật thuộc phạm vi quản lý;
đ) Hướng dẫn, triển khai công cụ đánh giá hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương.
Điều 8. Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật
1. Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật được thành lập ở trung ương, cấp tỉnh để tư vấn cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo, định hướng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có tính liên ngành.
2. Người đứng đầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan, tổ chức ở Trung ương chịu trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc phạm vi quản lý; trường hợp cần thiết, quyết định việc thành lập, thành phần, số lượng thành viên, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật của bộ, cơ quan, tổ chức mình.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn; trường hợp cần thiết, quyết định việc thành lập, thành phần, số lượng thành viên, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cùng cấp bảo đảm hiệu quả, phù hợp với yêu cầu triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương
4. Thành phần, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ chế hoạt động và kinh phí triển khai các nhiệm vụ của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật ở trung ương, cấp tỉnh do Thủ tướng Chính phủ quy định phù hợp với từng thời kỳ cụ thể.
Điều 9. Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1. Ngày 09 tháng 11 hằng năm là Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức nhằm tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật cho người dân trong xã hội.
2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 10. Các hành vi bị cấm
1. Truyền đạt sai lệch, phê phán nội dung pháp luật được phổ biến; không cung cấp thông tin, tài liệu theo quy định của pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu có nội dung sai sự thật, trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
2. Lợi dụng phổ biến, giáo dục pháp luật để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; truyền thông, phổ biến chính sách thù địch, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
3. Cản trở việc tiếp cận, tìm hiểu, học tập pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của Luật này.
4. Lợi dụng việc tiếp cận, tìm hiểu, học tập pháp luật để gây cản trở đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân, gây mất trật tự, an toàn xã hội.
5. Trốn tránh, không thực hiện đúng trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định của Luật này.
6. Lợi dụng chính sách xã hội hóa, chính sách ưu đãi, hỗ trợ phổ biến, giáo dục pháp luật để trục lợi, làm ảnh hưởng uy tín của cơ quan, tổ chức.
Chương II
NỘI DUNG, HÌNH THỨC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
Mục 1
PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHUNG CHO TỔ CHỨC, CÁ NHÂN
Điều 11. Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật
1. Trừ dự thảo chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi là chính sách, văn bản) thuộc bí mật nhà nước, nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật bao gồm:
a) Dự thảo chính sách, dự thảo văn bản đã được cơ quan chủ trì soạn thảo gửi lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật;
b) Quy định của Hiến pháp, văn bản, trọng tâm là các nội dung liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ, được dư luận xã hội quan tâm hoặc cần định hướng dư luận xã hội; nội dung của văn bản mới được thông qua, ban hành; nội dung giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; văn bản hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật.
2. Các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thỏa thuận quốc tế.
3. Thực tiễn thi hành pháp luật, lợi ích của việc hiểu biết pháp luật, gương người tốt, việc tốt để giáo dục ý thức chấp hành pháp luật, bảo vệ pháp luật, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong tổ chức, cá nhân và xã hội.
4. Án lệ, tập quán, lẽ công bằng được sử dụng làm nguồn bổ trợ pháp luật.
Điều 12. Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật
1. Họp báo, thông cáo báo chí.
2. Phổ biến pháp luật trực tuyến, trực tiếp; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật giấy hoặc điện tử.
3. Thông qua trang thông tin điện tử, phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, internet, pa-nô, áp-phích, tranh cổ động, bản tin.
4. Tổ chức thi tìm hiểu pháp luật trực tiếp hoặc trực tuyến.
5. Thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và hoạt động khác của các cơ quan trong bộ máy nhà nước; thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở.
6. Lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của cơ quan, tổ chức, câu lạc bộ, thiết chế văn hóa khác ở cơ sở.
7. Xây dựng, khai thác tủ sách pháp luật điện tử; tủ sách pháp luật trong lực lượng vũ trang nhân dân và các loại hình khai thác sách pháp luật tại cộng đồng.
8. Thông qua công tác giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân.
9. Thông qua Cổng Pháp luật quốc gia, hệ thống thông tin, nền tảng số, mạng xã hội, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và các ứng dụng chuyển đổi số khác.
10. Các hình thức khác phù hợp theo quy định của pháp luật.
Điều 13. Cổng Pháp luật quốc gia
1. Cổng Pháp luật quốc gia là nền tảng số pháp luật quốc gia dùng chung thống nhất về pháp luật nhằm tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp sử dụng, khai thác thông tin pháp luật và tương tác thông tin pháp luật với các cơ quan nhà nước trên môi trường số.
2. Văn bản đăng tải trên Cổng Pháp luật quốc gia có giá trị như văn bản gốc; tài liệu, thông cáo đăng tải trên Cổng Pháp luật quốc gia có giá trị như tài liệu chính thức.
3. Việc quản lý, vận hành, khai thác Cổng Pháp luật quốc gia do Thủ tướng Chính phủ quy định.
Điều 14. Truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật trên báo chí
1. Cơ quan báo chí ở trung ương, địa phương thực hiện truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các sản phẩm báo chí theo quy định của pháp luật về báo chí.
2. Ưu tiên truyền thông, phổ biến chính sách có tác động lớn đến xã hội, văn bản có liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân, nghĩa vụ, trách nhiệm của tổ chức, công dân trong khung giờ, chuyên mục, kênh thu hút đông đảo khán giả, thính giả và sử dụng nền tảng số, đa phương tiện.
3. Cơ quan chủ trì soạn thảo chính sách, văn bản; cơ quan quản lý nhà nước theo lĩnh vực, ngành; cơ quan có trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật phối hợp với báo chí thực hiện truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định sau đây:
a) Cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến chính sách, văn bản để báo chí chủ động thực hiện truyền thông, phổ biến, giáo dục pháp luật;
c) Giao nhiệm vụ, hỗ trợ, đặt hàng báo chí thực hiện truyền thông, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với chính sách có tác động lớn đến xã hội, chính sách, văn bản mới có liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân theo quyết định của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức.
4. Cơ quan báo chí chủ động, phối hợp với cơ quan chủ trì soạn thảo chính sách, văn bản, cơ quan quản lý nhà nước theo lĩnh vực, ngành trong việc thực hiện truyền thông, phổ biến, giáo dục pháp luật.
Điều 15. Truyền thông chính sách, phổ biến pháp luật trên mạng xã hội, nền tảng số
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua trang, kênh, tài khoản trên mạng xã hội hoặc nền tảng số chính thức của cơ quan, tổ chức, cá nhân đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoạt động.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân ứng dụng trí tuệ nhân tạo để cung cấp thông tin pháp luật, truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật phải cảnh báo, khuyến cáo cho người khai thác, sử dụng về giá trị của thông tin; áp dụng các giải pháp, biện pháp kiểm soát, phòng ngừa rủi ro và chịu trách nhiệm về thiệt hại do trí tuệ nhân tạo gây ra; bảo đảm phù hợp với Luật Trí tuệ nhân tạo và pháp luật có liên quan.
3. Việc truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật khác có liên quan.
Điều 16. Hướng dẫn tìm hiểu pháp luật, cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang xem xét, giải quyết vụ việc của công dân có trách nhiệm giải thích, cung cấp các quy định của pháp luật có liên quan trực tiếp đến vụ việc đang giải quyết hoặc hướng dẫn tìm kiếm, tra cứu trên Cổng Pháp luật quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật khi công dân đó có yêu cầu.
2. Nhà nước có chính sách khuyến khích tổ chức tư vấn pháp luật, các tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý khác, cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật hướng dẫn hoặc cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật miễn phí cho Nhân dân.
Điều 17. Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo
1. Tòa án nhân dân các cấp thông qua công tác xét xử trực tiếp hoặc trực tuyến, xét xử lưu động lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật cho người tham dự phiên tòa và Nhân dân.
2. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua việc xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tổ chức đối thoại với người dân để kết hợp phổ biến, giáo dục pháp luật.
Mục 2
PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỐI TƯỢNG ĐẶC THÙ
Điều 18. Đối tượng đặc thù
1. Người dân tộc thiểu số ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
2. Người lao động trong các doanh nghiệp.
3. Người khuyết tật.
4. Người nghèo, cận nghèo.
5. Người bị bạo lực, người có hành vi bạo lực trong các vụ, việc bạo lực gia đình, bạo lực học đường, bạo lực mua bán người hoặc bạo lực khác.
6. Người vi phạm pháp luật đang bị áp dụng biện pháp lý xử hình sự hoặc biện pháp xử lý vi phạm hành chính.
7. Các đối tượng khác theo quy định của pháp luật và nhu cầu quản lý nhà nước, tổ chức thi hành pháp luật.
Điều 19. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù
1. Cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến đối tượng đặc thù, chính quyền địa phương các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, theo dõi, thống kê, báo cáo, triển khai phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng đặc thù.
2. Hằng năm, các cơ quan quy định tại khoản 1 Điều này ban hành kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù thuộc phạm vi quản lý; phối hợp với cơ quan có trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật có liên quan thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng đặc thù.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 20. Chính sách về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù
1. Đối tượng đặc thù được ưu tiên hỗ trợ trong quá trình tiếp cận pháp luật.
2. Nhà nước bảo đảm nguồn lực tương xứng để phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đặc điểm, điều kiện, nhu cầu của từng đối tượng đặc thù; nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật được thiết kế phù hợp; xây dựng và tổ chức thực hiện thường xuyên các chương trình, đề án phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo từng thời kỳ.
3. Thực hiện chính sách khuyến khích, ưu đãi, khen thưởng, tôn vinh cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật và hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù.
4. Xây dựng, có chính sách tập huấn, bồi dưỡng pháp luật định kỳ cho đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật, cộng tác viên pháp luật, chuyên gia, người làm công tác xã hội tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Mục 3
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TRONG CƠ SỞ GIÁO DỤC CỦA
HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
Điều 21. Mục đích giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân
Giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm trang bị kiến thức, tri thức pháp luật và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật cho người học ở các cấp học, từ mầm non đến đại học.
Điều 22. Nội dung, hình thức giáo dục pháp luật
1. Nội dung giáo dục pháp luật phù hợp với mục tiêu giáo dục của từng cấp học và từng thời kỳ.
2. Giáo dục pháp luật chính khóa thực hiện lồng ghép trong hoạt động giáo dục ở cấp mầm non; môn học đạo đức ở cấp tiểu học; môn học giáo dục công dân ở cấp trung học cơ sở; môn học giáo dục kinh tế và pháp luật ở cấp trung học phổ thông; môn học pháp luật, pháp luật đại cương, pháp luật chuyên ngành tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học; các môn học trong cơ sở giáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân.
3. Giáo dục ngoại khóa, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Điều 23. Trang bị kiến thức pháp luật liên quan đến ngành, nghề đào tạo
1. Người học tại cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp được trang bị kiến thức pháp luật liên quan đến ngành, nghề đào tạo vào năm cuối chương trình giáo dục đại học, chương trình giáo dục nghề nghiệp.
2. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định nội dung, chương trình, chỉ đạo, hướng dẫn cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp thực hiện trang bị kiến thức pháp luật liên quan đến ngành, nghề đào tạo của người học.
Điều 24. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức về giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân
1. Trách nhiệm của cơ sở giáo dục:
a) Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục pháp luật cho người học thuộc phạm vi quản lý;
b) Bố trí giáo viên, giảng viên đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện tham gia hoạt động giáo dục pháp luật, giảng dạy môn giáo dục công dân, pháp luật theo quy định của pháp luật;
c) Phối hợp với cơ quan có trách nhiệm quy định tại Điều 26, Điều 27 của Luật này thực hiện giáo dục pháp luật cho người học bằng hình thức phù hợp;
d) Phối hợp thường xuyên, chặt chẽ với chính quyền cấp xã nơi đóng trụ sở của cơ sở giáo dục, gia đình người học, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện hoạt động giáo dục pháp luật phù hợp với nhu cầu của người học.
2. Trách nhiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo:
a) Xây dựng, thẩm định nội dung, chương trình giáo dục pháp luật; sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu dạy, học pháp luật;
b) Quy định việc trang bị kiến thức pháp luật liên quan đến ngành, nghề đào tạo cho sinh viên, học sinh trong chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp;
c) Chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy pháp luật, xây dựng và triển khai chương trình bồi dưỡng pháp luật cho giáo viên dạy pháp luật;
d) Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở giáo dục thuộc phạm vi quản lý thực hiện hoạt động giáo dục pháp luật.
3. Trách nhiệm của Bộ Tư pháp:
a) Tham gia thẩm định, cho ý kiến nội dung, chương trình giáo dục pháp luật; sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu dạy, học pháp luật; việc trang bị kiến thức pháp luật liên quan đến ngành, nghề đào tạo cho sinh viên, học viên; xây dựng và triển khai chương trình bồi dưỡng pháp luật cho giáo viên dạy pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục pháp luật của các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
Điều 25. Giáo dục pháp luật dựa vào cộng đồng
1. Giáo dục pháp luật dựa vào cộng đồng thực hiện thông qua các hoạt động phục vụ cộng đồng tại nơi cư trú; xây dựng, phát triển địa điểm văn hóa pháp luật gắn với di sản văn hóa, di vật truyền thống; nêu gương người tốt, việc tốt, tổ chức, cá nhân tiêu biểu chấp hành pháp luật.
2. Nhà nước khuyến khích, ưu tiên bố trí không gian, diện tích xây dựng các địa điểm văn hóa pháp luật phù hợp với điều kiện từng địa phương trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; phát huy văn hóa pháp quyền xã hội chủ nghĩa khi xây dựng các cơ sở hạ tầng công cộng và sử dụng không gian công cộng;
3. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm lồng ghép nội dung giáo dục pháp luật trong quá trình thực hiện biện pháp giáo dục dựa vào cộng đồng thay thế biện pháp xử lý vi phạm hành chính.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Chương III
TRÁCH NHIỆM TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH, PHỔ BIẾN,
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC, CÁ NHÂN
Điều 26. Xác định trách nhiệm truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật
1 Cơ quan chủ trì soạn thảo chính sách, văn bản có trách nhiệm truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật do mình chủ trì soạn thảo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp và Nhân dân.
2. Cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc ngành, lĩnh vực được giao quản lý.
3. Cơ quan tổ chức thi hành pháp luật có trách nhiệm truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật trong quá trình tổ chức thi hành chính sách, văn bản được giao.
4. Chính quyền địa phương các cấp có trách nhiệm truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với chính sách, văn bản do mình ban hành trong phạm vi địa phương; cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp xã có trách nhiệm truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với chính sách, văn bản do cơ quan chuyên môn cấp trên chủ trì soạn thảo và chính sách, văn bản do chính quyền địa phương cùng cấp ban hành trong phạm vi địa phương.
5. Cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang nhân dân có trách nhiệm truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với chính sách, văn bản được giao tham mưu trong quá trình tiếp nhận, xử lý công việc với người dân, doanh nghiệp.
Điều 27. Trách nhiệm của cơ quan chủ trì xây dựng chính sách, văn bản
1. Tổ chức truyền thông chính sách trong quá trình xây dựng chính sách, văn bản được giao chủ trì.
2. Xây dựng tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật:
a) Cơ quan chủ trì soạn thảo chính sách xây dựng tài liệu giới thiệu chính sách trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Chính phủ phê duyệt chính sách;
b) Cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xây dựng tài liệu giới thiệu văn bản trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Chủ tịch nước ký lệnh công bố.
3. Tổ chức họp báo, thông cáo báo chí về văn bản:
a) Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Chủ tịch nước ký lệnh công bố văn bản, Văn phòng Chủ tịch nước chủ trì, phối hợp với Văn phòng Quốc hội, cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức họp báo và ra thông cáo báo chí về văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, có đại diện Bộ Tư pháp tham dự;
b) Định kỳ hàng tháng hoặc theo yêu cầu đột xuất, xây dựng thông cáo báo chí về văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ do cơ quan chủ trì soạn thảo và văn bản do cơ quan ban hành theo thẩm quyền.
4. Rà soát, xác định nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật và bảo đảm phổ biến, giáo dục pháp luật đến tất cả đối tượng chịu sự tác động trực tiếp, đối tượng đặc thù có liên quan và Nhân dân bằng hình thức phù hợp.
5. Xác định đầy đủ nội dung và hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, phân công trách nhiệm cụ thể cho các cơ quan, tổ chức có liên quan và kinh phí bảo đảm phổ biến, giáo dục pháp luật trong Kế hoạch triển khai thi hành văn bản do người có thẩm quyền ban hành.
6. Tổ chức các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản, đối tượng đặc thù và Nhân dân.
7. Các tài liệu quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này được cập nhật, đăng tải trên Cổng Pháp luật quốc gia và gửi bản điện tử trên trục liên thông cho các cơ quan hành chính nhà nước các cấp để quán triệt, triển khai trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi quản lý.
8. Cơ quan chủ trì xây dựng chính sách, văn bản ban hành kế hoạch và phân công rõ trách nhiệm thực hiện truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật quy định tại Điều này.
9. Chính phủ quy định chi tiết việc xây dựng tài liệu giới thiệu văn bản, họp báo, thông cáo báo chí về văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và văn bản của người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trung ương, chính quyền địa phương ban hành theo thẩm quyền.
Điều 28. Trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ
1. Thực hiện trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật quy định tại Điều 26, Điều 27 của Luật này; điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế thuộc ngành, lĩnh vực quản lý; các văn bản theo phân công của Chính phủ tại điểm c khoản 2 Điều 7 của Luật này.
2. Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang nhân dân thuộc phạm vi quản lý.
3. Chỉ đạo việc tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, giáo dục nghề nghiệp, trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc thuộc phạm vi quản lý.
4. Phối hợp thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật chuyên ngành trong phạm vi quản lý theo đề nghị của cơ quan, tổ chức thuộc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, cơ quan, tổ chức, địa phương.
Điều 29. Trách nhiệm của cơ quan của Quốc hội
1. Cơ quan của Quốc hội được giao chủ trì xây dựng chính sách, văn bản có trách nhiệm thực hiện truyền thông đối với chính sách, văn bản theo quy định của Luật này và quy định pháp luật khác có liên quan.
2. Thực hiện truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với các văn bản được giao chủ trì soạn thảo để trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc thẩm quyền quản lý theo trách nhiệm quy định tại Điều 26, Điều 27 của Luật này.
3. Phối hợp với cơ quan của Chính phủ quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 7 của Luật này thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật đối với văn bản được giao chủ trì soạn thảo cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động không thuộc thẩm quyền quản lý của Quốc hội và Nhân dân.
4. Cơ quan của Quốc hội được giao giám sát việc thực hiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật tổ chức việc giám sát theo quy định của pháp luật.
Điều 30. Trách nhiệm của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán Nhà nước
1. Thực hiện truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với văn bản được giao chủ trì soạn thảo để trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý theo trách nhiệm quy định tại Điều 26, Điều 27 của Luật này.
2. Thực hiện truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với văn bản do cơ quan ban hành theo thẩm quyền cho cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý, các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản và Nhân dân theo trách nhiệm quy định tại Điều 26, Điều 27 của Luật này.
3. Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý.
4. Phân công báo cáo viên pháp luật của cơ quan tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật đối với các văn bản quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, địa phương.
5. Kết hợp, lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật cho Nhân dân thông qua hoạt động chuyên môn của cơ quan.
6. Tòa án nhân dân các cấp có trách nhiệm phổ biến các án lệ, tập quán, lẽ công bằng được sử dụng làm nguồn bổ trợ pháp luật.
Điều 31. Trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận
1. Thực hiện truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với văn bản được giao chủ trì soạn thảo để trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho hội viên, đoàn viên của tổ chức mình và Nhân dân theo trách nhiệm quy định tại Điều 26, Điều 27 của Luật này.
2. Phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan, tổ chức có liên quan phổ biến, giáo dục pháp luật chuyên ngành theo quy định tại khoản 4 Điều 28 của Luật này; tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho hội viên, đoàn viên của tổ chức mình và Nhân dân tại khu dân cư; lồng ghép ngày hội đại đoàn kết toàn dân để vận động Nhân dân chấp hành pháp luật.
3. Xây dựng, tập huấn, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật của tổ chức mình.
4. Vận động tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tham gia và hỗ trợ hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
5. Tham gia giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật.
Điều 32. Trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp
1. Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật quy định tại Điều 26, Điều 27 của Luật này.
2. Căn cứ chương trình lập pháp năm của Quốc hội, chương trình công tác năm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Hội đồng nhân dân các cấp, Ủy ban nhân dân cùng cấp ban hành kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật, ưu tiên văn bản mới, chính sách lớn có tác động đến xã hội, liên quan trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, cá nhân tại địa phương.
3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân công cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân phối hợp với Tòa án nhân dân cùng cấp thực hiện phổ biến các án lệ, tập quán, lẽ công bằng theo quy định tại khoản 6 Điều 30 của Luật này.
Điều 33. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý cán bộ, công chức, viên chức
1. Phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý, lồng ghép trong các hoạt động chuyên môn.
2. Bảo đảm các điều kiện cần thiết cho việc tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; xây dựng, tập huấn, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình hoặc định kỳ mời báo cáo viên tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ quan, tổ chức, đơn vị.
3. Phân công cán bộ, công chức thuộc phạm vi quản lý tham gia phổ biến pháp luật chuyên ngành theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, địa phương.
4. Phối hợp với cơ quan quy định tại Điều 30 của Luật này thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của cơ quan mình.
Điều 34. Trách nhiệm của tổ chức hành nghề về pháp luật, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý, dịch vụ có tính chất pháp lý, cơ sở đào tạo luật, cơ sở giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chức danh tư pháp
1. Kết hợp phổ biến giáo dục, pháp luật cho Nhân dân thông qua hoạt động nghề nghiệp, chuyên môn của cơ sở, tổ chức.
2. Phối hợp với cơ quan quy định tại Điều 27 của Luật này thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho thành viên, hội viên của tổ chức, tạo điều kiện cho thành viên của tổ chức, công chức, viên chức, giảng viên và học viên, sinh viên tham gia hoạt động tình nguyện phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định của Luật này.
3. Cơ sở đào tạo luật, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chức danh tư pháp có trách nhiệm tham gia bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Điều 35. Trách nhiệm của cơ quan báo chí
1. Phản hồi các ý kiến, phản ánh của tổ chức, cá nhân có liên quan đến vướng mắc trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật để cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp yêu cầu thực tiễn.
2. Kiến nghị các vấn đề cần định hướng dư luận, dư luận xã hội đang quan tâm và cần phổ biến, giáo dục pháp luật kịp thời để cơ quan, tổ chức có liên quan phối hợp thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật.
3. Chủ động, phối hợp thực hiện truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật.
Điều 36. Trách nhiệm của người sử dụng lao động
Người sử dụng lao động chủ động phối hợp với cơ quan quy định tại Điều 27 của Luật và tổ chức công đoàn thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người lao động thuộc phạm vi quản lý; tạo điều kiện cho người lao động tham gia các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định của Luật này.
Điều 37. Trách nhiệm của gia đình
Các thành viên trong gia đình có trách nhiệm gương mẫu chấp hành pháp luật; ông, bà, cha, mẹ có trách nhiệm giáo dục và tạo điều kiện cho con, cháu tìm hiểu, học tập pháp luật, rèn luyện ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật.
Điều 38. Trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho Nhân dân thông qua hoạt động tiếp xúc cử tri, giám sát việc thực hiện pháp luật và hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật.
Điều 39. Trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang nhân dân
1. Tích cực tìm hiểu, học tập pháp luật; tham gia các khóa học, lớp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về pháp luật; gương mẫu chấp hành pháp luật.
2. Chủ động, tích cực kết hợp thực hiện việc phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các hoạt động chuyên môn, thực thi nhiệm vụ.
3. Hỗ trợ, giúp đỡ cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật liên quan đến lĩnh vực công tác.
Điều 40. Trách nhiệm của luật sư, luật gia, tư vấn viên pháp luật
1. Thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho Nhân dân trong hoạt động nghề nghiệp của mình.
2. Tham gia hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo đề nghị, phối hợp của các cơ quan, tổ chức, địa phương.
3. Tham gia bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật cho người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo đề nghị, phối hợp của các cơ quan, tổ chức, địa phương.
Chương IV
CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM CHO CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
Điều 41. Bảo đảm về tổ chức, cán bộ, cơ sở vật chất, phương tiện cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
1. Người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm bố trí đủ cán bộ, công chức, viên chức, báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với nhu cầu phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực, địa bàn quản lý; bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện cần thiết cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định của Chính phủ.
2. Người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương các cấp và cơ quan, tổ chức khác có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm lồng ghép thực hiện bồi dưỡng pháp luật cho công chức, viên chức trong chương trình bồi dưỡng công chức, viên chức hằng năm theo quy định của pháp luật.
3. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 Điều này.
Điều 42. Báo cáo viên pháp luật
1. Báo cáo viên pháp luật là người đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ở Trung ương, cấp tỉnh lựa chọn tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
2. Báo cáo viên pháp luật phải có đủ các tiêu chuẩn sau:
a) Có phẩm chất đạo đức tốt, lập trường tư tưởng vững vàng, có uy tín trong công tác;
b) Có khả năng truyền đạt, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật;
c) Có bằng tốt nghiệp đại học luật và thời gian công tác trong lĩnh vực pháp luật ít nhất là 05 năm; trường hợp không có bằng tốt nghiệp đại học luật, nhưng có bằng tốt nghiệp đại học khác thì phải có thời gian công tác liên quan đến pháp luật ít nhất là 08 năm.
3. Thẩm quyền lựa chọn báo cáo viên pháp luật
a) Người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận, tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật gia, luật sư, tổ chức xã hội khác ở trung ương (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức trung ương) lựa chọn, công khai danh sách và chịu trách nhiệm quản lý, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật cho báo cáo viên pháp luật của cơ quan, tổ chức mình.
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lựa chọn, công khai danh sách và chịu trách nhiệm quản lý, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật cho báo cáo viên pháp luật của cơ quan nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cấp tỉnh, tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật gia, luật sư, tổ chức xã hội khác ở cấp tỉnh thuộc phạm vi quản lý.
4. Cơ quan có thẩm quyền lựa chọn báo cáo viên pháp luật quyết định việc đưa ra khỏi danh sách đối với báo cáo viên pháp luật không hoàn thành nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.
5. Quyền và nghĩa vụ của báo cáo viên pháp luật:
a) Có quyền được cung cấp thông tin về hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật mà mình tham gia; hưởng thù lao và chế độ theo quy định của pháp luật; tập huấn kiến thức pháp luật mới và kỹ năng, nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật; tham gia trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm về phổ biến, giáo dục pháp luật;
b) Có nghĩa vụ thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật theo phân công của cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp hoặc theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có liên quan; thực hiện đúng các nguyên tắc phổ biến, giáo dục pháp luật; không được tiết lộ bí mật nhà nước và thực hiện các hành vi bị cấm theo quy định của Luật này và quy định pháp luật khác có liên quan; báo cáo về hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật do mình thực hiện với cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp.
6. Việc xây dựng, quản lý đội ngũ báo cáo viên pháp luật thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Điều 43. Tuyên truyền viên pháp luật
1. Người có uy tín, kiến thức, am hiểu về pháp luật được lựa chọn làm tuyên truyền viên pháp luật tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã lựa chọn, công khai danh sách và chịu trách nhiệm quản lý, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật cho tuyên truyền viên pháp luật tại địa phương; quyết định việc đưa ra khỏi danh sách đối với tuyên truyền viên pháp luật không hoàn thành nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.
3. Tuyên truyền viên pháp luật có các quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 5 Điều 42 của Luật này.
4. Việc xây dựng, quản lý đội ngũ tuyên truyền viên pháp luật thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định.
Điều 44. Cộng tác viên pháp luật
1. Cộng tác viên pháp luật là người có uy tín, kiến thức, am hiểu về pháp luật được mời tham gia hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo vụ việc.
2. Hoạt động của cộng tác viên pháp luật thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Điều 45. Bảo đảm kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật
Kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật của các cơ quan, tổ chức thụ hưởng ngân sách do ngân sách nhà nước bảo đảm và huy động từ các nguồn hợp pháp khác. Ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù, yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số.
Điều 46. Đánh giá hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật
1. Thực hiện đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo định kỳ hoặc đột xuất, phục vụ quản lý nhà nước, giám sát, kiểm tra trách nhiệm của cơ quan, tổ chức được giao phổ biến, giáo dục pháp luật.
2. Tiêu chí, nội dung và việc triển khai công cụ đánh giá hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật do Thủ tướng Chính phủ quy định phù hợp theo từng thời kỳ.
Điều 47. Xử lý vi phạm pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật
Cá nhân vi phạm các quy định của Luật này tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật công vụ, xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Chương V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 48. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2027.
2. Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật số 14/2012/QH13 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Điều 49. Điều khoản chuyển tiếp
1. Báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật đã được công nhận theo quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật số 14/2012/QH13 và đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện quy định tại Điều 42 và Điều 43 của Luật này tiếp tục làm báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật.
Trường hợp chưa đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện quy định tại Điều 42 và Điều 43 của Luật này, cơ quan, tổ chức quản lý báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật rà soát, báo cáo người có thẩm quyền miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật, cho thôi tuyên truyền viên pháp luật trước ngày 01/3/2027.
2. Đối với các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, quy định biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật số 14/2012/QH13 ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản có trách nhiệm rà soát, công bố hoặc trình cấp có thẩm quyền công bố việc tiếp tục có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
________________________________________
Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI, Kỳ họp thứ 2 thông qua ngày tháng năm 2026.
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
(Ký và đóng dấu)
Trần Thanh Mẫn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!