Quyết định 2109/QĐ-TTg 2021 Đề án Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA của nhà tài trợ nước ngoài

  • Tóm tắt
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung MIX

    - Tổng hợp lại tất cả các quy định pháp luật còn hiệu lực áp dụng từ văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính…

    - Khách hàng chỉ cần xem Nội dung MIX, có thể nắm bắt toàn bộ quy định pháp luật hiện hành còn áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

  • Tải về
Mục lục
Mục lục
Tìm từ trong trang
Lưu
Theo dõi hiệu lực VB

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký phần mềm.

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản LuatVietnam và đăng ký sử dụng Phần mềm tra cứu văn bản.

Báo lỗi
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------------

Số: 2109/QĐ-TTg

Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2021

 

 

 

QUYẾT ĐỊNH

PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “ĐỊNH HƯỚNG THU HÚT, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN ODA VÀ VỐN VAY ƯU ĐÃI CỦA CÁC NHÀ TÀI TRỢ NƯỚC NGOÀI GIAI ĐOẠN 2021 - 2025”

___________

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

 

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22 tháng 11 năm 2019;

Căn cứ Luật Đầu tư công ngày 13 tháng 6 năm 2019;

Căn cứ Nghị định số 56/2020/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2020 của Chính phủ về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

 

QUYẾT ĐỊNH:

 

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2021 - 2025” (kèm theo Quyết định này).

Điều 2. Kinh phí để thực hiện Đề án được bố trí trong dự toán ngân sách hằng năm của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Điều 4. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

 

Nơi nhận:
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Văn phòng Trung ương Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán nhà nước;
- VPCP: BTCN, các PCN, TGĐ Cổng TTĐT, các Vụ: TH, NN, CN, KTTH, KGVX, PL, QHĐP, TCCB, TCCV, TKBT, Công báo;
- Lưu: VT, QHQT (2)

KT. THỦ TƯỚNG
PHÓ THỦ TƯỚNG




Phạm Bình Minh

 

 

 

ĐỀ ÁN 
ĐỊNH HƯỚNG THU HÚT, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN ODA VÀ VỐN VAY ƯU ĐÃI CỦA CÁC NHÀ TÀI TRỢ NƯỚC NGOÀI GIAI ĐOẠN 2021 - 2025

(Kèm theo Quyết định số 2109/QĐ-TTg ngày 15 tháng 12 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ)

 

LỜI NÓI ĐẦU

I. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ ÁN

Giai đoạn 2016 - 2020, kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Tăng trưởng kinh tế ở mức khá, GDP trung bình giai đoạn 2016 - 2019 đạt 6,8% và cả giai đoạn 5 năm 2016 - 2020 đạt 5,99% (do tác động của đại dịch COVID-19 năm 2020), cao hơn mức 5,91% của giai đoạn 2011 - 2015; kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định; nợ công và nợ Chính phủ giảm, tạo dư địa đáng kể trong việc huy động thêm nguồn lực cho đầu tư công. Huy động vốn cho đầu tư phát triển đạt trung bình 33,47% GDP; cơ cấu vốn huy động có sự dịch chuyển tích cực.

Để thu hút, quản lý và sử dụng hiệu quả vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, trong giai đoạn 2016 - 2020, trong bối cảnh mới khi Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình, đặc biệt sau khi Việt Nam tốt nghiệp các khoản vay IDA với điều kiện ưu đãi của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2017 và ADF của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) năm 2019, một số nhà tài trợ đã có những điều chỉnh chính sách viện trợ với Việt Nam, nhiều chủ trương, chính sách, định hướng mới về huy động và sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài của Đảng và Nhà nước đã được ban hành.

Đồng thời khung thể chế, pháp lý liên quan đến các nguồn vốn này không ngừng được hoàn thiện[1]. Cũng trong giai đoạn này Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 251/QĐ-TTg ngày 17/02/2016 phê duyệt Đề án “Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2016 - 2020” và Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/11/2018 phê duyệt Đề án “Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2018 - 2020, tầm nhìn 2021 - 2025”. Đồng thời, sự chỉ đạo điều hành quyết liệt và sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và sự nỗ lực của các ngành, các cấp đã nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài.

Mặc dù vậy, do những nguyên nhân chủ quan và khách quan, đặc biệt khi Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình, một số nhà tài trợ đã điều chỉnh giảm ưu tiên cung cấp vốn ODA cho Việt Nam. Tổng số vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài ký kết trong giai đoạn 2016 - 2020 bằng khoảng 51% so với giai đoạn 2011 - 2015, do đó đóng góp của nguồn vốn này trong tổng đầu tư phát triển toàn xã hội trong giai đoạn 2016 - 2020 chỉ vào khoảng 3,3%, thấp hơn mức 8,8% của giai đoạn 2011 - 2015.

Mặc dù Việt Nam đã “tốt nghiệp” sử dụng vốn vay ODA với lãi suất ưu đãi của Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), trong thời gian tới nguồn vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài vẫn là một trong những nguồn lực quan trọng để đầu tư cho những công trình cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội trọng điểm, có tính lan tỏa cao và quan trọng.

Để huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, góp phần thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 - 2025 và Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2021 - 2025 theo các Nghị quyết của Quốc hội (Nghị quyết số 16/2021/QH15, Nghị quyết số 29/2021/QH15 và Nghị quyết số 23/2021/QH15), việc xây dựng Đề án là rất cần thiết.

II. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA ĐỀ ÁN

- Nghị quyết số 16/2021/QH15 ngày 27/7/2021 về Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm giai đoạn 2021 - 2025 của Quốc hội;

- Nghị quyết số 29/2021/QH15, ngày 28/7/2021 về Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 - 2025;

- Nghị quyết số 23/2021/QH15 ngày 28/7/2021 về Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2021 - 2025;

- Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/11/2018 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2018 - 2020, tầm nhìn 2021 - 2025 và Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 30/01/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 582/NQ-UBTVQH14 ngày 05/10/2018 về một số nhiệm vụ giải pháp tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan: “Tiếp tục hoàn thiện Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài giai đoạn 2021 - 2025 phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025; nghiên cứu đề xuất Khung Chiến lược đối tác phát triển mới tầm nhìn 2030 làm cơ sở xây dựng các chương trình, dự án dự kiến sử dụng vốn vay ODA, ưu đãi và các hoạt động trong lĩnh vực hợp tác phát triển giai đoạn tới.”.

III. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ ÁN

Đề án là văn bản thể hiện chính sách của Chính phủ nhằm cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài hỗ trợ thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025. Đề án này được phê duyệt là cơ sở để các ngành, các cấp huy động và sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2021 - 2025 và làm căn cứ để các nhà tài trợ sử dụng trong quá trình hoạch định chính sách, xây dựng các chương trình hợp tác phát triển với Việt Nam ở cấp khu vực, quốc gia, cấp bộ, cơ quan trung ương và địa phương. Đồng thời cũng nhằm mục đích minh bạch hóa chính sách của Chính phủ Việt Nam trong việc thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn này đối với dư luận rộng rãi trong nước và quốc tế.

Đề án có các mục tiêu chủ yếu như sau:

1. Đánh giá tình hình thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2016 - 2020.

2. Triển vọng tăng trưởng kinh tế và nhu cầu vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2021 - 2025.

3. Cập nhật, điều chỉnh các nguyên tắc, định hướng thu hút và sử dụng ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài đối với các dự án mới trong giai đoạn 2021 - 2025, đặc biệt, xác định rõ các định hướng lớn trong thu hút vốn vay nước ngoài giai đoạn 2021 - 2025.

IV. PHẠM VI CỦA ĐỀ ÁN

Đề án tập trung phân tích tình hình huy động, quản lý và sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài trên phạm vi cả nước, trong giai đoạn 2016 - 2020, trên cơ sở đó xây dựng định hướng về thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn này cho giai đoạn 2021 - 2025.

V. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ ÁN

Đề án gồm ba phần chính:

Phần I. Đánh giá tình hình thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2016 - 2020.

Phn II. Tầm quan trọng và khả năng huy động vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài trong giai đoạn 2021 - 2025.

Phần III. Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2021 - 2025.

 

Phần I

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THU HÚT, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN ODA VÀ VAY ƯU ĐÃI CỦA CÁC NHÀ TÀI TRỢ NƯỚC NGOÀI GIAI ĐOẠN 2016 - 2020

 

I. NHỮNG KẾT QUẢ CHỦ YẾU

Đánh giá về thực tế huy động và sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2016 - 2020 cho thấy một số điểm chính sau đây:

1. Sau khi Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình, chính sách hợp tác phát triển của các nhà tài trợ có sự điều chỉnh theo hướng giảm dần hoặc chấm dứt các khoản ODA viện trợ không hoàn lại, các khoản vay ODA với điều kiện ưu đãi được chuyển dần sang các khoản vay kém ưu đãi hơn. Một số nhà tài trợ song phương vẫn tiếp tục cung cấp các khoản ODA và vay ưu đãi nước ngoài dưới dạng tín dụng xuất khẩu thường kèm các điều kiện ràng buộc về dịch vụ, xuất xứ hàng hóa của nhà tài trợ với tỷ lệ nhất định.

2. Vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài huy động cho giai đoạn 2016 - 2020 thấp hơn so với giai đoạn 2011 - 2015. Vốn ký kết giai đoạn 2016 - 2020 là 12,99 tỷ USD, giảm tới 51% so với giai đoạn 2011 - 2015.

3. Trong giai đoạn 2016 - 2020 tổng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước nước ngoài giải ngân ước đạt 13,6 tỷ USD, giảm khoảng 41% so với giai đoạn 2011 - 2015, bình quân mỗi năm giảm 16%, trong đó giải ngân vốn nước ngoài cấp phát từ ngân sách trung ương trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn của giai đoạn này ước đạt 185,10 nghìn tỷ đồng[2], bằng 64,8% Kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (Bảng 1).

Bảng 1. Tình hình giải ngân vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020

Đơn vị: tỷ đồng

Năm

Kế hoạch Quốc hội giao

Kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao

Giải ngân

Tỷ lệ (số kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao)

2016

50.000

45.517

46.232

96,4%

2017

74.033

72.194

57.344

79,4%

2018

60.000

54.965

33.600

61,1%

2019

60.000

52.206

16.979

32,5%

2020

60.000

60.738

30.951

50,9%

2016- 2020

304.033

285.620

185.106

64,8%

 

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính

4. Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến sụt giảm trong việc huy động và giải ngân vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài thời gian qua là: (1) Sau khi Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình, các nhà tài trợ có sự điều chỉnh chính sách cung cấp vốn, đặc biệt là vốn vay ODA và viện trợ không hoàn lại; (2) Nợ công của Việt Nam, trong đó có vay nợ nước ngoài đã tăng nhanh trước đó, gây áp lực về huy động vốn vay và trả nợ vay nước ngoài; (3) Có sự điều chỉnh về cơ cấu vay trong nước và vay nước ngoài của Chính phủ trong bối cảnh chi phí vay nước ngoài tăng (do tính ưu đãi của ODA giảm); và (4) Điều chỉnh thể chế chính sách của Chính phủ cho phù hợp với tình hình mới, trong đó có những điều chỉnh tương đối đột ngột làm hạn chế khả năng tiếp cận và giải ngân các dự án.

5. Mặc dù xu hướng ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài trong giai đoạn 2016 - 2020 là giảm, nguồn vốn này vẫn đóng góp tích cực vào tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế, thể hiện trên các điểm sau:

- Vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài vẫn đóng góp quan trọng trong vốn đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách. Giải ngân luồng vốn này vẫn chiếm 3,33% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội (trung bình trong cả giai đoạn 2016 - 2019) và chiếm 18,08% tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (Hình 1).

Hình 1. Vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài trong đầu tư phát triển

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

- Vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài đã được phân bổ phù hợp với chủ trương, định hướng của Chính phủ về huy động và sử dụng ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, cụ thể: Vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài được định hướng ưu tiên tập trung vào một số lĩnh vực có tác động lan tỏa rộng, có tính chất kết nối liên vùng, tạo động lực phát triển vùng, đồng thời ưu tiên phân bổ cho một số vùng khó khăn. Vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài bình quân/người đã được phân bổ đồng đều hơn so với giai đoạn trước (Bảng 2).

- Các dự án sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài liên vùng đã tăng lên, thể hiện tính chủ động của ngân sách trung ương và phù hợp với ưu tiên các dự án trong Đề án Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2016-2020.

- Chủ trương cho các dự án vay lại là đúng đắn, nhằm nâng cao trách nhiệm của các đối tượng tiếp nhận, đặc biệt các địa phương, tuy nhiên trong quá trình thực hiện đã có một số vấn đề bất cập. Một số địa phương có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, nguồn thu hạn hẹp phần nào bị hạn chế khả năng tiếp cận vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài do trần nợ công thấp. Ngoài ra, trình tự thủ tục về thẩm định và ký hợp đồng vay lại, phương thức giải ngân, đặc biệt đối với các dự án áp dụng cơ chế tài chính trong nước hỗn hợp (một phần cấp phát, một phần cho vay lại) còn phức tạp. Điều này đã ảnh hưởng đến tiến độ triển khai, thực hiện và giải ngân các dự án.

Bảng 2. Vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài ký kết phân bổ theo vùng

 

2011-2015

2016-2020

 

Tổng số (triệu USD)

Cơ cấu (%)

USD/ người

Tổng số (triệu USD)

Cơ cấu (%)

USD/ người

1. Đồng bằng sông Hồng

4.557,57

16,40

21,78

670,93

5,46

2,97

2. Miền núi và trung du phía Bắc

723,92

2,61

6,13

956,11

7,78

7,61

3. Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung

3.312,22

11,92

16,85

1.400,56

11,39

6,93

4. Tây Nguyên

416,04

1,50

7,42

236,18

1,92

4,03

5. Đông Nam Bộ

3.312,78

11,92

20,54

1.492,14

12,14

8,32

6. Đồng bằng sông Cửu Long

2.238,54

8,06

12,73

940,96

7,66

5,44

7. Liên vùng (*)

12.915,93

46,49

 

6.594,57

53,65

 

 

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

- Nguồn vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài đã được phân bổ theo ngành và lĩnh vực phù hợp, theo đó tập trung vào giao thông vận tải, môi trường, đô thị với những dự án lớn. Lĩnh vực xóa đói giảm nghèo vẫn tiếp tục được ưu tiên. Lĩnh vực hạ tầng xã hội đã có tỷ trọng phân bổ vốn cao hơn giai đoạn trước (Hình 2).

Hình 2. Cơ cấu vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài huy động theo ngành, lĩnh vực (%)

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

II. ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Đánh giá chung về những thành tựu đạt được trong giai đoạn vừa qua:

- Các chủ trương, chính sách về thu hút, quản lý, sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài được điều chỉnh kịp thời, phù hợp với thay đổi của tình hình mới.

- Công tác quản lý và sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài đã được tăng cường với cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng tốt hơn.

- Vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài vẫn giữ vai trò đáng kể trong đầu tư từ ngân sách nhà nước, đóng vai trò chất xúc tác cho phát triển, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và các quốc gia, tổ chức trên thế giới và khu vực.

2. Đánh giá chung về những tồn tại, hạn chế:

- Cơ chế, chính sách và thể chế liên quan đến công tác thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài thay đổi nhanh, thiếu ổn định và chưa đồng bộ.

- Trong quá trình thực hiện vẫn tồn tại và phát sinh nhiều vấn đề từ trước đây như thiết kế dự án chưa sát, phải điều chỉnh nhiều lần; chất lượng lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư chưa cao.

- Tỷ lệ giải ngân thấp hơn giai đoạn trước; một số dự án chậm tiến độ, phải hoàn trả vốn kế hoạch giao do không giải ngân được.

- Hiệu quả một số dự án chưa cao do thời gian thực hiện kéo dài, chậm đưa các công trình vào khai thác, sử dụng, phục vụ đời sống của nhân dân.

3. Các nguyên nhân chính của các tồn tại, hạn chế:

- Các quy định pháp luật về vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài thiếu đồng bộ, vẫn còn một số thủ tục còn phức tạp.

- Tính sẵn sàng trong chuẩn bị dự án chưa tốt, đặc biệt chất lượng chuẩn bị dự án còn thấp, dẫn đến phải điều chỉnh dự án, thay đổi thiết kế trong quá trình thực hiện.

- Thủ tục thẩm định, phê duyệt, đàm phán ký kết Hiệp định và điều chỉnh các dự án ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài còn phức tạp, kéo dài dẫn đến nhiều dự án khi được triển khai không còn phù hợp, phải điều chỉnh, gia hạn.

- Một số vướng mắc khi thực hiện Luật Đầu tư côngNghị định số 56/2020/NĐ-CP ngày 25/5/2020 của Chính phủ về quản lý và sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài (Thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư còn phức tạp; chưa có quy định đối với doanh nghiệp nhà nước vay lại 100% vốn vay ODA, vay ưu đãi; xác định các khoản chi được phép sử dụng vốn vay ODA, vay ưu đãi; ký kết, sửa đổi, bổ sung, gia hạn đối với các điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ và thỏa thuận cụ thể về vốn vay ODA, vay ưu đãi thực hiện phức tạp).

- Công tác lập kế hoạch vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài chưa sát với nhu cầu thực tế.

- Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng dự án ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài còn gặp khó khăn, vướng mắc do phải thực hiện hài hòa giữa thủ tục trong nước và chính sách của nhà tài trợ.

- Vốn đối ứng chưa được bố trí đầy đủ và kịp thời.

- Sự phối hợp giữa các bộ, cơ quan trung ương, địa phương và các nhà tài trợ còn thiếu chặt chẽ.

- Năng lực tổ chức, quản lý dự án chưa thực sự chuyên nghiệp, chưa đáp ứng tốt các yêu cầu của nhà tài trợ, đặc biệt trong công tác đấu thầu, quản lý tài chính, các chính sách về môi trường và xã hội,...

 

Phần II

TẦM QUAN TRỌNG VÀ KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VỐN ODA VÀ VAY ƯU ĐÃI CỦA CÁC NHÀ TÀI TRỢ NƯỚC NGOÀI TRONG GIAI ĐOẠN 2021 - 2025

 

I. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC HUY ĐỘNG VỐN ODA VÀ VAY ƯU ĐÃI CỦA CÁC NHÀ TÀI TRỢ NƯỚC NGOÀI TRONG GIAI ĐOẠN TỚI

1. Bối cảnh chung về phát triển kinh tế, xã hội và nhu cầu đầu tư

Kinh tế Việt Nam thời gian qua đã đạt được một số thành tựu nhất định, tuy nhiên, vẫn đang tồn tại nhiều những điểm nghẽn dài hạn và đang đối mặt với nhiều thách thức mới nảy sinh, nhiều yếu tố cho thấy nhu cầu vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài vẫn rất cần thiết trong giai đoạn phát triển mới:

Một là, theo chính sách của Chính phủ, giai đoạn 2021 - 2025 Việt Nam sẽ đặt trọng tâm vào việc phục hồi kinh tế sau đại dịch COVID-19, tập trung nhiều hơn vào tái cơ cấu, đổi mới mô hình và chất lượng tăng trưởng theo hướng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đẩy mạnh khoa học công nghệ, và đổi mới sáng tạo, công nghệ số, kinh tế số, phát triển cơ sở hạ tầng có tính kết nối cao, cải cách công tác quản lý nhà nước, dịch vụ công,... đòi hỏi nhu cầu vốn đầu tư rất lớn.

Hai là, nhu cầu cải thiện đô thị do tốc độ đô thị hóa tăng nhanh, dẫn đến sự gia tăng và quá tải hệ thống giao thông đô thị, môi trường, dịch vụ công cộng như y tế, giáo dục.

Ba là, vấn đề bất bình đẳng theo vùng miền chưa được kiểm soát. Nhà nước vẫn cần tiếp tục đầu tư nhằm tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và cơ hội kinh tế cho các vùng kém phát triển khi đầu tư tư nhân vào các vùng này không đáng kể.

Bốn là, nhu cầu tái đào tạo phần lớn lực lượng lao động nhằm thích ứng với tốc độ phát triển của khoa học công nghệ, tái cơ cấu kinh tế, đặc biệt cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0.

Năm là, Việt Nam đang đứng trước rất nhiều thách thức với các vấn đề mới nảy sinh mang tính toàn cầu như biến đổi khí hậu, nước biển dâng, đòi hỏi phải huy động một lượng vốn lớn để giải quyết.

2. Vốn vay là cần thiết trong bối cảnh ngân sách nhà nước chưa đáp ứng được

Trong bối cảnh ngân sách hạn hẹp do tăng trưởng chưa phục hồi, nguồn vốn ODA và vốn vay nước ngoài là cần thiết để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng quy mô lớn, then chốt của nền kinh tế, có tính lan tỏa và liên kết vùng, các chương trình và dự án đầu tư công thực hiện trên nhiều địa bàn,... Trong điều kiện nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chưa đáp ứng được trong khi chưa huy động được sự tham gia của khu vực tư nhân, nếu không huy động nguồn vốn này về dài hạn sẽ ảnh hưởng nhất định đến mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

Mặc dù Chính phủ đang tái cơ cấu nợ theo hướng tăng dần vay trong nước, quy mô và mức độ phát triển của thị trường trái phiếu trong nước còn khiêm tốn. Vay từ các ngân hàng thương mại thiếu khả thi do thiếu vắng cơ sở pháp lý. Các nguồn vay khác đều có những hạn chế nhất định về phạm vi và mục đích vay. Với ngân sách trung ương, vay theo hình thức trái phiếu Chính phủ chỉ đáp ứng khoảng 70% nhu cầu vay, phần còn lại (30%) phải dựa vào vay vốn từ nước ngoài. Đối với ngân sách địa phương, vay lại vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài là nguồn vốn phù hợp nhất để tăng chi đầu tư phát triển. So với vốn vay trong nước, vốn vay nước ngoài có tính chắc chắn hơn, ít bị tác động của thị trường vốn ngắn hạn trong và ngoài nước, đảm bảo chủ động về vốn trong thời gian thực hiện.

Vốn vay nước ngoài có thể kèm theo kiến thức, công nghệ, quy trình quản lý mới (đặc biệt các lĩnh vực như đường sắt đô thị, sân bay, cảng biển lớn, các trường nghề, trường đại học theo tiêu chuẩn quốc tế...) tạo điều kiện nâng cao năng lực và kinh nghiệm cho các công ty, lao động Việt Nam tham gia dự án đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của quốc gia có thu nhập trung bình.

3. Triển vọng tăng trưởng kinh tế và nhu cầu vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2021 - 2025

Căn cứ mục tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025[3] và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030[4], theo đó tăng trưởng GDP trung bình đạt 6,5 - 7%/năm và đầu tư phát triển đạt 32 - 34% GDP.

Bảng 3. Triển vọng tăng trưởng kinh tế và nhu cầu vốn ODA và vay ưu đãi giai đoạn 2021 - 2025

Các chỉ tiêu

Thực hiện 2016 - 2020

Đáp ứng mục tiêu Kế hoạch 2021 -2025

Tăng trưởng GDP

5,99

6,5 - 7

Vốn đầu tư phát triển/GDP (%)

33,47

32 - 34

Tổng số (%)

100

100

Từ khu vực tư nhân

43,1

44,5

Từ khu vực FDI

22,9

23,5

Từ khu vực nhà nước, trong đó:

34,0

32,5

+ Từ doanh nghiệp nhà nước

5,3

5,0

+ Vốn ngân sách nhà nước và vốn vay

28,8

27,5

Vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài (nghìn tỷ đồng)

306,9

452,9 - 527,1

 

Đối với nguồn vốn từ ngân sách nhà nước và vốn vay, trong thời gian tới, nguồn huy động đáp ứng cho nhu cầu cân đối ngân sách và đầu tư phát triển sẽ được tiếp tục chú trọng vào phát hành trái phiếu Chính phủ trong nước, giải ngân vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, huy động tạm thời một số khoản vay từ Quỹ tồn ngân Kho bạc nhà nước, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Quỹ tích lũy trả nợ và các nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật.

II. KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VỐN ODA VÀ VAY ƯU ĐÃI CỦA CÁC NHÀ TÀI TRỢ NƯỚC NGOÀI TRONG GIAI ĐOẠN TỚI

1. Khả năng cung cấp vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài:

Tổng hợp thông tin từ các nhà tài trợ cho thấy quy mô vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài có thể cung cấp cho Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 khoảng 25,82 tỷ USD (tức khoảng 5,13 tỷ USD/năm), trong đó được phân theo cơ cấu vốn gồm: Vốn vay ODA chiếm khoảng 30,9%, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài chiếm khoảng 64,8%, ODA viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 4,3%. Nếu tính thêm lượng vốn chuyển tiếp từ giai đoạn trước, khả năng nguồn vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài dành cho Việt Nam trong giai đoạn 2021 - 2025 sẽ cao hơn.

- ODA viện trợ không hoàn lại: Dự kiến khoảng 1,12 tỷ USD trong giai đoạn 2021 - 2025 (giảm 41% so với 1,9 tỷ USD giai đoạn 2016 - 2020) chủ yếu từ các tổ chức Liên hợp quốc và các nhà tài trợ song phương nhằm ưu tiên hỗ trợ tăng cường năng lực, xây dựng chính sách, thể chế và cải cách; phòng, chống, giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; an sinh xã hội hoặc chuẩn bị các dự án đầu tư hoặc đồng tài trợ cho dự án sử dụng vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài nhằm làm tăng thành tố ưu đãi của khoản vay.

- ODA vốn vay: Việt Nam chỉ còn tiếp cận được ODA vốn vay từ một số nhà tài trợ song phương và quỹ tài chính quốc tế. Tổng khả năng cung cấp vốn vay ODA giai đoạn 2021 - 2025 của nhà tài trợ nước ngoài dự kiến khoảng 7,97 tỷ USD (giảm khoảng 21% so với mức 10,07 tỷ USD giai đoạn 2016 - 2020).

- Vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài: Nhìn chung các nhà tài trợ nước ngoài có thể đáp ứng mọi nhu cầu của Việt Nam trong việc sử dụng vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài với tổng lượng vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2021 - 2025 dự kiến khoảng 16,73 tỷ USD (tăng 7,8 lần so với 2,18 tỷ USD giai đoạn 2016 - 2020), trong đó chủ yếu là từ Nhóm 6 Ngân hàng Phát triển (15,75 tỷ USD).

Về điều kiện vay, trong giai đoạn tới, mức độ ưu đãi của khoản vay (lãi suất, thời gian trả nợ và ân hạn,...) thấp hơn so với trước đây song nhìn chung vẫn ưu đãi hơn so với vay thương mại. về vốn vay ODA một số nhà tài trợ song phương vẫn duy trì điều kiện ràng buộc về xuất xứ hàng hóa và dịch vụ từ nước tài trợ song đã có điều chỉnh linh hoạt hơn để các nhà thầu Việt Nam có điều kiện tham gia thực hiện dự án.

2. Các lĩnh vực ưu tiên của nhà tài trợ:

Kết quả khảo sát cho thấy trong giai đoạn 2021 - 2025 các nhà tài trợ dự kiến vẫn tiếp tục tập trung hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội và các lĩnh vực mới phát sinh như ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh,... trong đó các nhà tài trợ thuộc Nhóm 6 Ngân hàng Phát triển ưu tiên cung cấp vốn vay ODA và vay ưu đãi hỗ trợ Việt Nam phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, đô thị, ứng phó với biến đổi khí hậu, năng lượng sạch, nông nghiệp và phát triển nông thôn và các lĩnh vực xã hội (y tế, giáo dục và đào tạo, dạy nghề,...).

3. Cân đối cung cầu nguồn vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2021 - 2025:

Bảng 4 cho thấy khả năng cung cấp vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài cao hơn so với nhu cầu của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương có báo cáo. Đây là một tín hiệu tốt về khả năng huy động và sử dụng có lựa chọn đối với các nguồn vốn này.

Bảng 4. Tổng hợp nhu cầu của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương và khả năng cung cấp vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2021 - 2025

 

Tỷ USD

Quy đổi - Nghìn tỷ đồng

1. Dự kiến khả năng cung cấp vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài

Tổng

25,82

621,20

 

Viện trợ không hoàn lại

1,12

26,93

 

Vốn vay ODA

7,97

191,33

 

Vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài

16,73

402,94

 

2. Nhu cầu từ các bộ, cơ quan trung ương ngành, địa phương (nghìn tỷ đồng)

Tổng

Bộ, CQTƯ

Địa phương

Tổng vốn nước ngoài

454,23

193,46

260,77

Vốn chuyển tiếp

253,43

73,04

180,39

Vốn đề xuất mới

200,8

120,43

80,37

Phân theo cấp phát và vay lại

 

 

 

Cấp phát từ ngân sách trung ương

300

180

120

Vay lại

154,23

13,46

140,77

3. Nhu cầu vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài đáp ứng mục tiêu tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2025 (nghìn tỷ đồng)

Mục tiêu tăng trưởng 2021 - 2025 (%/năm)

6,5 - 7

Nhu cầu vốn ODA và vốn vay ưu đãi

452,9 - 527,1

- Vốn nước ngoài từ ngân sách trung ương

300,1 -307,1

+ Vốn chuyển tiếp

150,0

+ Vốn mới

150,1 - 157,1

- Vốn vay lại

152,9 - 220,0

 

Ghi chú: Tỷ giá quy đổi giai đoạn 2021-2025 (giả định mỗi năm tiền đồng Việt Nam giảm giá khoảng 1% so với GDP)

Về khía cạnh nợ công, tính toán cho thấy nhu cầu vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài theo các kịch bản phát triển cũng như tổng hợp từ nhu cầu của địa phương và các bộ ngành đều không ảnh hưởng tới các chỉ số an toàn nợ công với các ngưỡng an toàn nợ công như quy định được đặt ra trong Kế hoạch nợ công 2021 - 2025 (theo đó, trần nợ công không vượt quá 60% GDP; nợ Chính phủ không quá 50% GDP). Theo kế hoạch vay vốn ODA, ưu đãi nước ngoài đã được duyệt là 527 nghìn tỷ đồng, các chỉ tiêu an toàn nợ công như sau: nợ công/GDP năm 2021 khoảng 44,2%, năm 2025 khoảng 45,3%; nợ chính phủ/GDP năm 2021 khoảng 40,0%, năm 2025 khoảng 41,6%. Tỷ lệ ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài/GDP sẽ vào khoảng 0,85% (giảm từ 0,91% năm 2021 xuống còn 0,80% năm 2025). Nhìn chung, với mức huy động tương đối thấp so với vay trong nước, ảnh hưởng của vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài tới nợ công trong giai đoạn tới là không đáng kể.

 

Phần III

ĐỊNH HƯỚNG THU HÚT, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN ODA VÀ VAY ƯU ĐÃI CỦA CÁC NHÀ TÀI TRỢ NƯỚC NGOÀI GIAI ĐOẠN 2021 - 2025

 

Trên cơ sở của những nội dung cơ bản trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 - 2025, đồng thời dựa trên đánh giá thực trạng, cân đối giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng, bối cảnh biến động trong và ngoài nước trong thời gian tới, định hướng thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài trong giai đoạn 2021 - 2025 bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:

I. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN

- Tuân thủ các quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo chung đã được quy định tại các văn bản chỉ đạo, định hướng của Đảng và Chính phủ, đặc biệt Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 - 2025, Nghị định số 56/2020/NĐ-CP ngày 25/5/2020 của Chính phủ về quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài, Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 06/11/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2018 - 2020 và tầm nhìn 2021 - 2025 và Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 29/6/2019 về việc tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài trong tình hình mới.

- Việc huy động, quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài phải gắn với việc cơ cấu lại đầu tư công; bất kỳ khoản vay mới nào cũng cần được xem xét hiệu quả kinh tế, phương án tài chính, đánh giá tác động tới kế hoạch đầu tư công trung hạn, các chỉ tiêu nợ công, ngân sách cũng như khả năng trả nợ trong tương lai.

- Việc đàm phán, ký kết các hiệp định, thỏa thuận vay phải phù hợp với điều kiện, tiêu chí về hiệu quả kinh tế - xã hội và khả năng trả nợ, không vay vốn với những dự án có điều kiện quy định gây bất lợi cho Việt Nam hoặc hiệu quả kém so với vay trong nước.

- Vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài chỉ sử dụng cho chi đầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên. Tập trung cho một s lĩnh vực chủ chốt để đảm bảo phát huy được tối đa hiệu quả kinh tế theo quy mô, ưu tiên đầu tư cho các dự án có hiệu quả kinh tế - xã hội, trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng gắn với phát triển bền vững, nhất là các dự án có khả năng tạo nguồn thu ngoại tệ trong trung và dài hạn để tăng cường năng lực trả nợ của quốc gia; các dự án có tính chất hàng hóa công cộng, thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước, có hiệu ứng lan tỏa như thích ứng biến đổi khí hậu, nâng cao chất lượng môi trường, giáo dục, y tế, công nghệ, kỹ năng.

- Sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài cho các lĩnh vực, dự án mà vốn đầu tư công trong nước chưa đáp ứng được, khu vực tư nhân không có động lực để đầu tư hoặc một số lĩnh vực đặc thù cần Nhà nước đầu tư để kiểm soát và quản lý nhằm tạo thuận lợi phát triển các ngành kinh tế khác.

- Khuyến khích phương thức tài trợ hỗ trợ ngân sách, chi phí phù hợp, giải ngân nhanh vào vốn ngân sách nhà nước để bố trí cho các chương trình mục tiêu quốc gia.

- Ưu tiên sử dụng các khoản vay ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài với chi phí thấp cho cấp phát ngân sách nhà nước; đối với khoản vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài sát với lãi suất thị trường xem xét cho nhu cầu vay về cho vay lại; tuân thủ các quy định về nhiệm vụ chi đầu tư của từng cấp ngân sách.

- Hạn chế sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài để tài trợ cho các dự án không yêu cầu ngoại hối để có được vốn hàng hóa hoặc công nghệ. Hạn chế thực hiện các nghĩa vụ bằng ngoại tệ để tài trợ cho các khoản chi tiêu địa phương.

- Giảm tỷ trọng cấp phát, tăng tỷ trọng vay về cho vay lại đối với các chương trình, dự án của địa phương thực hiện cơ chế ngân sách nhà nước cấp phát một phần, ngân sách địa phương vay lại một phần theo tỷ lệ do Chính phủ quy định.

II. ĐỊNH HƯỚNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN ODA VÀ VAY ƯU ĐÃI CỦA CÁC NHÀ TÀI TRỢ NƯỚC NGOÀI GIAI ĐOẠN 2021 - 2025

1. Kế hoạch bố trí vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2021 - 2025

Theo Kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2021 - 2025 đã được Quốc hội phê chuẩn tại Nghị quyết số 23/2021/QH15 ngày 28/7/2021 và Tờ trình của Chính phủ số 05/TTr-CP ngày 06/4/2021 về tình hình vay trả nợ 05 năm giai đoạn 2016 - 2020 và kế hoạch vay, trả nợ công 05 năm giai đoạn 2021 - 2025, tổng số vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài dự kiến bố trí trong giai đoạn 2021 - 2025 khoảng 527,1 nghìn tỷ đồng, trong đó vay cấp phát từ ngân sách trung ương là 305 nghìn tỷ đồng (bao gồm chi cho đầu tư phát triển là 300 nghìn tỷ đồng, chi cho hành chính sự nghiệp đối với các hiệp định ký từ năm 2017 trở về trước là 5,1 nghìn tỷ đồng), vay về cho vay lại là 222 nghìn tỷ đồng (bao gồm cho vay lại từ ngân sách trung ương đối với ngân sách địa phương và cho vay lại doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập).

Căn cứ Nghị quyết số 29/2021/QH15 ngày 28/7/2021 của Quốc hội về Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 - 2025, trong số 300 nghìn tỷ đồng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài cấp phát từ ngân sách trung ương, 270 nghìn tỷ đồng sử dụng cho các dự án chuyển tiếp và các dự án mới (bao gồm số vốn phân bổ cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương là 179.657, 898 tỷ đồng, số vốn chưa phân bổ chi tiết cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương là 90.342,102 tỷ đồng), 30 nghìn tỷ đồng là vốn dự phòng.

2. Định hướng ưu tiên theo ngành, lĩnh vực

a) Định hướng ưu tiên sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2021 - 2025 theo ngành, lĩnh vực về cơ bản thực hiện theo Nghị định số 56/2020/NĐ-CP ngày 25/5/2020 của Chính phủ, cụ thể:

- Vốn ODA không hoàn lại được ưu tiên sử dụng để thực hiện chương trình, dự án phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội; tăng cường năng lực; hỗ trợ xây dựng chính sách, thể chế và cải cách; phòng, chống, giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; an sinh xã hội; chuẩn bị các dự án đầu tư hoặc đồng tài trợ cho dự án sử dụng vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài nhằm làm tăng thành tố ưu đãi của khoản vay.

- Vốn vay ODA được ưu tiên sử dụng cho các chương trình, dự án trong lĩnh vực y tế, giáo dục, giáo dục nghề nghiệp, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, hạ tầng kinh tế thiết yếu không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp.

- Vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài được ưu tiên sử dụng cho chương trình, dự án vay về để cho vay lại theo quy định pháp luật về cho vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi của Chính phủ; chương trình, dự án thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước trong lĩnh vực phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội.

Đồng thời căn cứ nhu cầu thực tế, bổ sung lĩnh vực thảm họa, dịch bệnh, tăng trưởng xanh và đổi mới sáng tạo ưu tiên sử dụng vốn ODA không hoàn lại trong giai đoạn này.

b) Căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ và lĩnh vực ưu tiên trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 - 2025 như sau:

- Cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, trong đó đặt trọng tâm ưu tiên vào các lĩnh vực: Tăng cường năng lực; xây dựng, hoàn thiện chính sách, thể chế và cải cách; quy hoạch cấp quốc gia, cấp ngành và vùng lãnh thổ vùng; phát triển hệ thống tài chính, ngân hàng, thuận lợi hóa thương mại.

- Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, trong đó đặt trọng tâm ưu tiên vào các lĩnh vực sau:

+ Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị:

Xác định đô thị là động lực cho sự phát triển, nguồn vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài trong thời gian tới sẽ ưu tiên hỗ trợ quá trình đô thị hoá theo hướng phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng, tạo lập các hành lang kinh tế, giải quyết các thách thức của đô thị (ách tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, ngập lụt,...) qua đó nâng cao hiệu quả kinh tế đô thị, kết nối các địa phương với các đô thị động lực dẫn dắt sự phát triển, trong đó:

(i) Vùng đồng bằng sông Hồng: Phát triển và tăng cường kết nối giữa thành phố Hà Nội và các đô thị xung quanh; xây dựng khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển.

(ii) Vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung: Tiếp tục hình thành, phát triển hệ thống đô thị ven biển, các trung tâm du lịch biển, du lịch sinh thái mang tầm khu vực và quốc tế.

(iii) Vùng Đông Nam Bộ: Phát triển có hiệu quả các đô thị lớn và Thành phố Hồ Chí Minh trở thành động lực vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.

(iv) Vùng đồng bằng sông Cửu Long: Đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá, xây dựng mạng đô thị vùng tạo động lực cho phát triển.

+ Phát triển hệ thống giao thông vận tải:

Đường cao tốc, đường quốc lộ, đường sắt và đường thủy nội địa, đặc biệt khu vực đồng bằng sông Cửu Long, các cảng biển, cảng hàng không, các tuyến vành đai đô thị lớn, đường ven biển, trong đó ưu tiên các tuyến đường ven biển phía Bắc, Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, trong đó:

(i) Vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung: Phát triển các cảng biển và dịch vụ cảng biển.

(ii) Vùng Tây Nguyên: Nâng cấp các tuyến giao thông kết nối các tỉnh Tây Nguyên với các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ và với Nam Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia.

(iii) Vùng Đông Nam Bộ: Sắp xếp lại, nâng cấp hệ thống cảng biển, cảng hàng không, hạ tầng giao thông đô thị hiện đại.

(iv) Vùng đồng bằng sông Cửu Long: Đẩy mạnh liên kết phát triển và phát triển hạ tầng giao thông kết nối với vùng Đông Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh. Kết nối với các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực và thế giới.

+ An ninh năng lượng quốc gia:

Phát triển nhanh, đồng bộ năng lượng sạch, năng lượng tái tạo.

c) Quản lý tài nguyên, môi trường, trong đó đặt trọng tâm ưu tiên vào các lĩnh vực:

Quản lý tài nguyên, môi trường, bảo vệ môi trường sinh thái; phòng, chống, giảm nhẹ rủi ro thiên tai, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, chống sa mạc hoá, sạt lở bờ sông, bờ biển; chống ngập úng ở Thành phố Hồ Chí Minh.

d) Nông nghiệp và phát triển nông thôn, trong đó đặt trọng tâm ưu tiên vào các lĩnh vực:

Phát triển nông nghiệp thông minh, nông nghiệp sạch, trồng rừng và cấp chứng chỉ rừng, xây dựng hệ thống thủy lợi, hồ chứa nước nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân.

đ) Khoa học kỹ thuật, đổi mới sáng tạo, CMCN 4.0, trong đó đặt trọng tâm ưu tiên vào các lĩnh vực:

Phát triển khoa học, công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Thành lập Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia.

e) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trong đó đặt trọng tâm ưu tiên vào các lĩnh vực:

Phát triển giáo dục, giáo dục nghề nghiệp gắn với chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động, nhất là ở nông thôn, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

g) Y tế, văn hóa, xã hội trong đó đặt trọng tâm ưu tiên vào các lĩnh vực:

Y tế cộng đồng, y tế chuyên sâu, hệ thống y tế dự phòng phòng chống đại dịch COVID-19; phát huy các giá trị văn hóa, công bằng và an sinh xã hội.

h) Tăng cường liên kết vùng trong đó đặt trọng tâm ưu tiên vào các dự án liên kết vùng, có tính lan tỏa, tác động lớn đến nền kinh tế:

Tăng cường liên kết vùng với vùng đồng bằng sông Hồng, Thủ đô Hà Nội; phát huy hiệu quả hành lang kinh tế Đông - Tây; nâng cao khả năng kết nối hạ tầng vùng, tạo động lực liên kết, lan toả thúc đẩy hợp tác và phát triển với vùng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long.

Kế hoạch phân bổ vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài theo ngành, lĩnh vực giai đoạn 2021 - 2025 (bao gồm vốn cấp phát từ ngân sách trung ương và vốn ngân sách trung ương cho vay lại ngân sách địa phương) thể hiện trong Bảng 5 dưới đây:

Bảng 5. Kế hoạch phân bổ vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài dự kiến theo ngành, lĩnh vực giai đoạn 2021 - 2025

Đơn vị tính: Nghìn tỷ đồng

STT

Ngành, lĩnh vực

Cấp phát từ ngân sách trung ương

Cho vay lại từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương

Chuyển tiếp

Đề xuất mới

Tổng số

Tỷ trọng (%)

Chuyển tiếp

Đề xuất mới

Tổng số

Tỷ trọng (%)

 

TỔNG

179,66

89,87

270,00

100

97,83

49,95

147,78

100

1

Cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng

1,74

0,00

1,74

0,60

0,75

0,00

0,75

0,50

2

Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội

 

 

 

 

 

 

 

 

 

a) Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị

52,61

11,55

64,16

23,80

84,62

9,69

94,32

63,80

 

b) Phát triển hệ thống giao thông vận tải

43,39

0,00

43,39

16,10

2,13

3,45

5,57

3,80

 

c) Phát triển nguồn và lưới điện, an ninh năng lượng quốc gia

1,46

0,00

1,46

0,50

0,19

0,14

0,33

0,20

3

Quản lý tài nguyên môi trường, phòng chống thiên tai và biến đổi khí hậu

8,77

8,69

17,46

6,50

1,93

10,75

12,67

8,60

4

Nông nghiệp và phát triển nông thôn

27,00

5,00

32,00

11,90

4,75

12,03

16,79

11,40

5

Khoa học kỹ thuật, đổi mới sáng tạo, CMCN 4.0

11,80

6,43

18,23

6,80

0,51

0,00

0,51

0,30

6

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

9,82

11,33

21,15

7,80

0,69

11,10

11,80

8,00

7

Y tế - Văn hóa - Xã hội

11,33

1,34

12,67

4,70

2,26

2,79

5,05

3,40

8

An ninh, quốc phòng

11,74

0,00

11,74

4,30

0,00

0,00

0,00

0,00

9

Tăng cường liên kết vùng

0,00

46,00

46,00

17,00

0,00

0,00

0,00

0

 

Bảng 5 cho thấy trong giai đoạn 2021 - 2025 tỷ trọng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài cấp phát từ ngân sách trung ương cho lĩnh vực phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị, phát triển hệ thống giao thông vận tải, nông nghiệp và phát triển nông thôn, tăng cường liên kết vùng chiếm tỷ trọng cao.

3. Định hướng ưu tiên theo vùng, địa bàn lãnh thổ

Định hướng phân bổ vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2021 - 2025 theo vùng kinh tế, theo đó:

- Ưu tiên ODA không hoàn lại và ODA vốn vay cho các địa phương có điều kiện phát triển kinh tế, xã hội khó khăn thông qua cơ chế cấp phát từ ngân sách trung ương.

- Ưu tiên sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài các dự án cải thiện cơ sở hạ tầng, giúp các vùng, địa phương khó khăn phát triển kinh tế, dần bắt kịp với các vùng, địa phương khác; ưu tiên sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài tại các vùng, địa phương có khả năng huy động vốn trong nước thấp.

- Các dự án hỗ trợ giải quyết các vấn đề bức xúc trong quá trình đô thị hóa nhanh ở các tỉnh.

- Ưu tiên sử dụng vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài cho các địa phương phát triển, các dự án phù hợp với với trình độ phát triển, năng lực hấp thụ và sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài của địa phương tiếp nhận.

- Các dự án kết nối liên vùng, liên tỉnh tại các khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và đồng bng sông Cửu Long để có điều kiện phát triển nhanh hơn.

Kế hoạch ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài cấp phát từ ngân sách trung ương theo vùng kinh tế (chưa tính các dự án của trung ương thực hiện trên địa bàn) nêu tại Bảng 6 dưới đây:

Bảng 6. Kế hoạch vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài dự kiến theo vùng, địa bàn lãnh thổ giai đoạn 2021 - 2025

Đơn vị tính: Nghìn tỷ đồng

STT

Vùng kinh tế

Cấp phát từ ngân sách trung ương

Cho vay lại từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương

Chuyển tiếp

Đề xuất mới

Tổng số

Tỷ trọng (%)

Chuyển tiếp

Đề xuất mới

Tổng số

Tỷ trọng (%)

 

TỔNG

91.780,5

46.000,0

137.780,5

100,0

95.366,7

52.433,3

147.800,0

100,0

1

Khu vực miền núi phía Bắc

12.483,7

5.306,3

17.790,0

12,9

3.670,7

6.577,3

10.247,9

6,9

2

Đồng bng sông Hồng

32.674,6

3.085,4

35.760,0

26,0

26.676,5

1.987,1

28.663,5

19,4

3

Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung

19.424,2

5.315,8

24.740,0

18,0

7.178,2

15.285,6

22.463,8

152

4

Tây Nguyên

3.809,2

6.390,8

10.200,0

7,4

1.778,9

5,3

1.784,3

1,2

5

Đông Nam Bộ

9.976,1

4.443,9

14.420,0

10,5

50.832,4

15.317,7

66.150,1

44,8

6

Đồng bằng sông Cửu Long

13.412,8

21.457,6

34.870,5

25,3

5.230,0

13.260,3

18.490,4

12,5

 

4. Định hướng phương thức cung cấp vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài theo lĩnh vực ưu tiên

Bảng 7 dưới đề xuất sử dụng nguồn vốn và phương thức cung cấp vốn theo các ngành, lĩnh vực ưu tiên sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài:

Bảng 7. Định hướng sử dụng nguồn vốn và phương thức cung cấp vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài theo các ngành, lĩnh vực ưu tiên

STT

Kế hoạch 2021 -2025

Phương thức tài trợ ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài

1

Cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng

Hỗ trợ kỹ thuật (HTKT), chương trình, dự án (ODA không hoàn lại, ODA vốn vay)

2

Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội:

 

a) Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị

Chương trình, dự án (ODA vốn vay, ODA hòa trộn, vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài)

 

b) Phát triển hệ thống giao thông vận tải

 

c) An ninh năng lượng quốc gia

3

Quản lý tài nguyên, môi trường

HTKT, chương trình, dự án (ODA vốn vay, ODA hòa trộn)

4

Nông nghiệp và phát triển nông thôn

HTKT, chương trình, dự án (ODA vốn vay, ODA hòa trộn)

5

Khoa học kỹ thuật, đổi mới sáng tạo, CMCN 4.0

HTKT, dự án (ODA không hoàn lại, ODA vốn vay)

6

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Chương trình, dự án (ODA vốn vay, vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài)

7

Y tế - Văn hóa - Xã hội

HTKT, dự án (ODA vốn vay, vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài)

8

Liên kết vùng

HTKT, Chương trình, dự án (ODA vốn vay, ODA hòa trộn, vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài)

 

5. Định hướng ưu tiên sử dụng theo nhà tài trợ

- Tranh thủ, tận dụng nguồn vốn vay ODA còn lại của các nhà tài trợ đa phương, tiếp tục tập trung vào nhng nhà tài trợ cung cấp nhiều vốn ODA. Đặc biệt chú trọng thu hút và sử dụng vốn ODA từ Nhóm 6 Ngân hàng Phát triển.

- Vốn vay ưu đãi IBRD của WB, OCR của ADB cùng với vốn vay Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp và Đức cần được định hướng cho các chương trình dự án hạ tầng kinh tế, xã hội quan trọng có quy mô lớn (trong giao thông, thủy lợi, các chương trình hỗ trợ ngân sách có mục tiêu tăng trưởng xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu hoặc hạ tầng đô thị tại các đô thị động lực). Các điều kiện vay cũng cần được xem xét đàm phán chủ động với các nhà tài trợ để phù hợp với các ưu tiên phát triển cụ thể của Việt Nam cùng với khả năng vay, trả nợ của các bộ ngành/địa phương trong trường hợp cho vay lại.

- Đồng thời tận dụng hỗ trợ kỹ thuật và viện trợ không hoàn lại của một số nhà tài trợ khác để hoàn thiện thể chế, tăng cường năng lực, chia sẻ kiến thức, chuyển giao kỹ thuật và công nghệ, hỗ trợ phát triển các địa phương trên các lĩnh vực y tế, giáo dục, môi trường, xã hội. Chú trọng phối hợp với các nhà tài trợ để tiếp cận và thu hút các nguồn viện trợ từ các Quỹ toàn cầu và khu vực đặc biệt cho lĩnh vực “hàng hóa công cộng” như môi trường và biến đổi khí hậu.

- Tiếp tục duy trì quan hệ với nhiều đối tác, tổ chức tài trợ; hợp tác chặt chẽ với các nhà tài trợ xây dựng các chương trình, kế hoạch, dự án sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài trong 5-10 năm và xây dựng một kế hoạch chuyển dần ra khỏi giai đoạn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài.

6. Định hướng khung chiến lược quan hệ đối tác phát triển mới

Các phương thức quan hệ đối tác phát triển thông qua quá trình và cơ chế đối thoại giữa Việt Nam và các đối tác phát triển cần được làm mới và điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới, bao gồm:

- Các đối thoại chính sách cấp cao (Ví dụ: Tại Diễn đàn Cải cách và Phát triển Việt Nam - VRDF) với trọng tâm là các mục tiêu Thiên niên kỷ (SDG), các ưu tiên phát triển và ưu tiên chính sách dài hạn và ngắn hạn của Việt Nam được bổ trợ bởi các nhóm tham vấn kỹ thuật theo chủ đề cụ thể khi cần thiết;

- Bổ sung nhiệm vụ và tăng cường hoạt động của Ban Chỉ đạo quốc gia về ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài trong nghiên cứu đổi mới quan hệ đối tác phát triển giữa Việt Nam và các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn tới. Đặc biệt chú trọng đến các phương thức hợp tác phát triển mới trong phối kết hợp hiệu quả các nguồn vốn (blended funding) của các nhà tài trợ nước ngoài với nhau để tạo ra tác động cộng hưởng;

- Khuyến khích làm mới đối thoại trong và giữa các nhóm nhà tài trợ (ví dụ Nhóm 6 Ngân hàng Phát triển, Liên minh châu Âu (EU), Liên hợp quốc (UN) và Nhóm quan hệ đối tác của các nhà tài trợ - DPG) với Chính phủ Việt Nam về việc thúc đẩy hài hòa, phân công lao động và phối hợp trong các lĩnh vực thế mạnh để hỗ trợ hiệu quả nhất;

- Cải cách một số nhóm quan hệ đối tác hiện có hoặc thành lập mới tập trung vào đối thoại, điều phối và hỗ trợ cho chính sách của ngành/lĩnh vực ưu tiên trong tình hình mới ví dụ về giảm nghèo đa chiều và giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số, bảo trợ xã hội, biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai,... theo hướng mở rộng sự tham gia của Việt Nam trong các chương trình toàn cầu và khu vực về “hàng hóa công cộng”;

- Định hình mở rộng quan hệ đối tác với khối tư nhân và các quỹ từ thiện theo hướng thông qua đối thoại và cải thiện môi trường thể chế cho sự đóng góp của các nguồn vốn đó trong các lĩnh vực y tế (Ví dụ: COVID-19), sáng tạo (Ví dụ: CMCN 4.0) và đầu tư hạ tầng (Ví dụ: Hợp tác đầu tư theo phương thức đối tác công tư - PPP) trong đó vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài đóng vai trò xúc tác;

- Định hình và đổi mới quan hệ đối tác song phương mới (đặc biệt đối với các nước châu Âu) theo hướng mở rộng quan hệ ở cấp Chính phủ sang quan hệ đối tác giữa các tổ chức, các trường đại học, các doanh nghiệp của Việt Nam và các nước, gắn kết ODA với đầu tư và thương mại, tạo chuỗi liên kết toàn cầu,... trong đó ODA được xem như chất xúc tác cho quá trình này;

- Xây dựng chiến lược và bố trí nguồn lực để nâng cao vai trò và tính chủ động của Việt Nam trong quan hệ hợp tác phát triển toàn cầu. Thông qua cung cấp hỗ trợ kỹ thuật trong hợp tác Nam - Nam, Việt Nam có thể chuyển giao kinh nghiệm, tri thức của mình cho các nước ở trình độ phát triển thấp hơn.

Hơn nữa, trong thời gian tới quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và các đối tác phát triển sẽ cần tiếp tục được tăng cường và củng cố theo cả chiều rộng và chiều sâu, không chỉ giới hạn trên bình diện song phương và mở rộng trên bình diện khu vực và toàn cầu. Việt Nam cần chú trọng đổi mới và mở rộng quan hệ với các quốc gia đối tác từ quan hệ hợp tác phát triển tiến dần sang quan hệ hợp tác kinh tế, đầu tư và thương mại (Ví dụ: Trong khuôn khổ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA),..). Trong mô hình quan hệ đối tác phát triển đó, các nhà tài trợ nước ngoài cần điều chỉnh sự hỗ trợ của mình giúp Việt Nam nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế.

7. Tiêu chí lựa chọn dự án sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài

Để đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, cần xem xét lựa chọn dự án dựa trên 5 tiêu chí của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) gồm: (1) tính phù hợp, (2) tính hiệu suất, (3) hiệu quả, (4) tác động và (5) tính bền vững. Các tiêu chí này được áp dụng trong giai đoạn đề xuất, thẩm định và phê duyệt dự án; ngoài ra, có thể bổ sung các tiêu chí khác trên cơ sở quy định của Việt Nam và của nhà tài trợ, trong đó:

- Sự phù hợp của dự án: Sự cần thiết, phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội; phù hợp với định hướng thu hút vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài và chính sách, định hướng ưu tiên cung cấp vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài; phù hợp với chính sách cung cấp viện trợ của nhà tài trợ; hiệp định khung đã ký kết với nhà tài trợ (nếu có); phù hợp với khả năng cân đối vốn ODA, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn đối ứng, phù hợp với ưu tiên về sử dụng tài trợ, vốn vay ODA, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài.

- Hiệu suất của dự án: Dự án cần đảm bảo tính khả thi.

- Hiệu quả của dự án: Có đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, tác động môi trường.

- Tác động của dự án: Tác động của dự án trên các phương diện: (i) kinh tế - xã hội; (ii) kế hoạch đầu tư công trung hạn (đối với dự án đầu tư công); (iii) tác động của khoản vay ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài đối với các chỉ tiêu an toàn nợ công (đối với nguồn vốn vay ODA, vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài).

- Tính bền vững của dự án: Đánh giá sơ bộ tính bền vững của dự án, một phần dựa trên kết quả đánh giá sơ bộ tính khả thi của dự án một phần dựa trên hiệu quả kinh tế - xã hội, tác động môi trường dự kiến mang lại.

- Cần tham khảo cách thức lựa chọn dự án trên các tiêu chí mà một số nhà tài trợ và một số nước áp dụng đã và đang áp dụng[5].

- Đối với các dự án vay mới, các dự án đang trong giai đoạn chuẩn bị đàm phán ký kết các hiệp định vay, các bộ, ngành, địa phương không sử dụng vốn vay cho chi thường xuyên, chỉ đề xuất sử dụng vốn vay theo các tiêu chí: (i) ưu tiên sử dụng vốn vay cho khoản chi bằng ngoại tệ (chi nhập khẩu/mua sắm hàng hóa, dịch vụ, tư vấn nước ngoài); (ii) khoản chi cho cấu phần xây lắp trong tổng mức đầu tư; (iii) khoản chi có liên quan đến chuyển giao công nghệ; giải trình rõ sự cần thiết vay vốn có yêu cầu ràng buộc của nhà tài trợ về xuất xứ hàng hóa, nhà thầu. Không sử dụng vốn vay để mua sắm ô tô, thiết bị văn phòng, vật tư, thiết bị dự phòng cho quá trình vận hành sau khi dự án hoàn thành, chi đào tạo, hội thảo, vốn đối ứng được sử dụng để chi chuẩn bị dự án đầu tư, nộp thuế, trả các loại phí, lãi suất tiền vay, chi phí giải phóng mặt bằng, chi phí quản lý dự án theo quy định.

III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ ÁN

Để đáp ứng các yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu của Đề án Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2021 - 2025 nêu trên, cần thực các nhóm giải pháp chính sau:

1. Nhóm giải pháp về hoàn thiện cơ chế, chính sách và thể chế:

a) Tiếp tục rà soát các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật liên quan đến các quy trình, thủ tục để kịp thời sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền theo quy định. Tăng cường phân cấp, phân quyền; bảo đảm quản lý thống nhất, hiệu lực, hiệu quả hoạt động và đúng pháp luật.

b) Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động huy động vốn nước ngoài, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả, tuân thủ pháp luật trong nước nhưng có tính đến việc hài hòa với chính sách của nhà tài trợ, các thông lệ quốc tế trên thị trường vốn.

c) Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu trình Chính phủ việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư côngLuật Đấu thầu liên quan đến việc sử dụng nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài nhằm tạo thuận lợi cho công tác chuẩn bị đầu tư và thực hiện các chương trình, dự án.

d) Nhằm đẩy mạnh phân cấp để giảm thủ tục, đơn giản hóa các quy định của pháp luật Việt Nam và hài hòa với chính sách, quy định của các nhà tài trợ, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Ngoại giao và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện nhiệm vụ được giao theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh tại văn bản số 8304/VPCP-QHQT ngày 12/11/2021 của Văn phòng Chính phủ về quy trình tiếp nhận, ký kết, quản lý và sử dụng ODA, vay ưu đãi nước ngoài theo yêu cầu của Chủ tịch nước.

2. Nhóm giải pháp về nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài:

a) Huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, không phân tán, dàn trải, manh mún; phải đúng, phải trúng các mục tiêu, định hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch đầu tư công đã được Quốc hội thông qua, tập trung nguồn lực cao độ để đẩy nhanh tiến độ thực hiện; phát huy vai trò dẫn dắt, lan tỏa của nguồn vốn này trong đầu tư công, là “vốn mồi”, “chất xúc tác” để huy động đầu tư của khu vực ngoài nhà nước, tạo không gian, động lực mới thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

b) Tiếp tục đẩy mạnh công tác phối hợp, trao đổi với các nhà tài trợ nước ngoài nhằm tăng cường công tác vận động, thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi, đặc biệt chú trọng vào các dự án có quy mô lớn về phát triển kinh tế - xã hội, các dự án kết nối hạ tầng có tính chất liên vùng, có tác động lan tỏa, các dự án về ứng phó và chống biến đổi khí hậu, các khoản hỗ trợ cho việc phòng, chống dịch bệnh COVID-19.

c) Các bộ, ngành và địa phương cần lựa chọn các dự án phải hiệu quả, bảo đảm nằm trong cân đối tổng thể đầu tư công trung hạn và nợ công trung hạn, phù hợp với khả năng vay lại của các địa phương.

d) Rà soát các chương trình, dự án đang thực hiện và đã ký hiệp định, đảm bảo bố trí đủ vốn cho các chương trình, dự án này.

đ) Đối với vốn vay ODA, vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài:

- Tận dụng tối đa nguồn vốn vay ODA còn lại và tranh thủ huy động hợp lý các khoản vay ưu đãi đã cam kết trong giai đoạn 2016 - 2020 cũng như các năm sau; ưu tiên huy động các nguồn có thời gian vay dài, lãi suất thấp và có thành tổ viện trợ không hoàn lại (GE) cao. Tập trung giải ngân vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài đối với các hiệp định đã ký vay đến cuối năm 2020 chuyển sang giai đoạn 2021 - 2025.

- Việc huy động vốn vay nước ngoài tập trung cho một số lĩnh vực chủ chốt để đảm bảo phát huy được tối đa hiệu quả kinh tế theo quy mô; tập trung cho các dự án trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng gắn với phát triển bền vững, các dự án có khả năng tạo nguồn thu ngoại tệ; các dự án có hiệu ứng lan tỏa (như thích ứng biến đổi khí hậu, nâng cao chất lượng môi trường, giáo dục, y tế, công nghệ, kỹ năng); các dự án hạ tầng kinh tế thiết yếu không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp. Ưu tiên vay về cho vay lại đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp.

- Đổi mới cơ chế huy động nguồn vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài theo hướng xây dựng một số chương trình đầu tư công để thực hiện một số dự án quan trọng, có tính lan tỏa trong phạm vi cả nước hoặc một số vùng theo từng mục tiêu ưu tiên thay cho cách tiếp cận dự án riêng lẻ, phân tán, không hiệu quả. Từng bước chuyển dịch từ vay cho chương trình, dự án sang phương thức vay hỗ trợ ngân sách để gia tăng tính chủ động, hiệu quả trong sử dụng vốn vay của Chính phủ.

3. Nhóm giải pháp về công tác tổ chức, điều hành, thúc đẩy tiến độ thực hiện các chương trình, dự án:

a) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Ban chỉ đạo quốc gia về ODA và vay ưu đãi trong giải quyết các vướng mắc cho từng dự án cụ thể cần sự phối hợp liên ngành, vượt quá thẩm quyền của bộ, ngành và địa phương; tổ chức họp định kỳ giữa Ban chỉ đạo quốc gia về ODA và vay ưu đãi với Nhóm 6 Ngân hàng Phát triển nhằm nhận diện các vướng mắc từ cả hai phía để cùng có các giải pháp, kế hoạch thực hiện phù hợp.

b) Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương:

- Nâng cao năng lực thực hiện gắn với công tác chỉ đạo, điều hành thống nhất từ trung ương đến địa phương, xác định rõ và tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, cơ quan, tổ chức, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu trong các khâu của quá trình đầu tư từ lập, giao, phân bổ kế hoạch, triển khai kế hoạch nhất là công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, giám sát; khen thưởng, kỷ luật kịp thời, nghiêm minh.

- Thành lập ngay Tổ công tác đặc biệt thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công trong từng bộ, cơ quan, địa phương do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp đứng đầu để thường xuyên lãnh đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát, xử lý các điểm nghẽn trong giải ngân đầu tư công. Lập kế hoạch giải ngân chi tiết cho từng dự án, nhất là các dự án trọng điểm, dự án có vốn lớn; phân công lãnh đạo cơ quan, đơn vị, địa phương trực tiếp phụ trách từng dự án; tổ chức giao ban định kỳ với các cơ quan, đơn vị liên quan để kịp thời nắm bắt và tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong công tác giải ngân.

- Đảm bảo việc phân b vốn vay ODA, ưu đãi nước ngoài phải đáp ứng đầy đủ các nguyên tắc, tiêu chí nêu tại Nghị quyết số 973/2020/UBTVQH14 ngày 08/7/2020 của Quốc hội và Quyết định số 26/2020/QĐ-TTg ngày 14/9/2020 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị quyết số 973/2020/NQ-UBTVQH14.

- Đẩy nhanh hoàn thiện thủ tục đầu tư (thiết kế kỹ thuật, dự toán...); thực hiện nghiệm thu, thanh quyết toán với các hạng mục/công trình đã hoàn thành, không để dồn cuối năm; bố trí đủ vốn đối ứng, đẩy nhanh hoàn thành thủ tục để ký, trao hợp đồng cho các gói thầu.

4. Nhóm giải pháp về thúc đẩy giải ngân các chương trình, dự án:

a) Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đẩy nhanh hoàn thiện thủ tục đầu tư (thiết kế kỹ thuật, dự toán...); thực hiện nghiệm thu, thanh quyết toán với các hạng mục công trình đã hoàn thành, không để dồn cuối năm; bố trí đủ vốn đối ứng, đẩy nhanh hoàn thành thủ tục để ký, trao hợp đồng cho các gói thầu.

b) Bộ Tài chính tiếp tục đẩy nhanh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giải ngân vốn ODA, vốn vay ưu đãi.

5. Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện chương trình, dự án:

Cơ quan chủ quản, chủ dự án thực hiện các giải pháp sau:

a) Nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị và tổ chức thực hiện dự án đầu tư công, bảo đảm phù hợp với thực tế, hạn chế phải điều chỉnh trong quá trình triển khai; không đề xuất các cấu phần áp dụng các công nghệ nhanh chóng lạc hậu mà doanh nghiệp trong nước có thể thực hiện; kiểm soát chặt chẽ phạm vi, quy mô, tổng mức đầu tư của từng dự án đầu tư theo đúng mục tiêu, lĩnh vực và quy định pháp luật.

b) Tăng cường năng lực tổ chức thực hiện dự án ODA ở cấp cơ quan chủ quản, chủ đầu tư và Ban quản lý dự án, đảm bảo đội ngũ cán bộ quản lý dự án có năng lực, trình độ chuyên môn cao. Có chế tài xử lý nghiêm khắc các chủ đầu tư, Ban quản lý dự án, tổ chức, cá nhân cố tình gây khó khăn, cản trở, làm chậm tiến độ giao vốn, thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công.

c) Thực hiện nghiêm túc công tác giám sát và đánh giá, đặc biệt chế độ báo cáo định kỳ về tình hình thu hút và sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Tuyên truyền, quán triệt và thực hiện Đề án

Bộ Kế hoạch và Đầu tư triển khai các hoạt động tuyên truyền về nội dung của Đề án cho các cơ quan Việt Nam, các nhà tài trợ và giới truyền thông.

Các bộ, cơ quan trung ương và các địa phương quán triệt tinh thần, nguyên tắc chỉ đạo, xây dựng định hướng ưu tiên thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài hỗ trợ thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mình, thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, giải quyết kịp thời các vướng mắc trong quá trình thực hiện và giải ngân nguồn vốn này.

2. Giám sát và đánh giá tình hình và kết quả thực hiện Đề án

Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương báo cáo tình hình và kết quả thực hiện Đề án trong các báo cáo hằng năm về quản lý và sử dụng ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài bao gồm những đề xuất và khuyến nghị để có giải pháp kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện Đề án.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư định kỳ hằng năm báo cáo Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia về ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, cập nhật tình hình và kết quả thực hiện Đề án./.

 

 

[1] Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, Luật Ký kết điều ước quốc tế năm 2016, Luật Quản lý nợ công năm 2017, Luật Quy hoạch năm 2017, Luật Đầu tư công năm 2019, Luật Xây dựng năm 2019, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Nghị định số 97/2018/NĐ-CP, Nghị định số 16/2016/NĐ-CP, Nghị định số 132/2018/NĐ-CP, Nghị định số 56/2020/NĐ-CP, Chỉ thị số 18/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ,...

[2] Trong đó, giải ngân các dự án chuyển tiếp từ giai đoạn 2011 - 2015 sang giai đoạn 2016 - 2020 đạt khoảng 180.000 tỷ USD, bằng 63% Kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.

[3] Tại Nghị quyết số 16/2021/QH15 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025

[4] Tại Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

[5] Ví dụ các tiêu chí phương thức cho điểm mà JICA đã áp dụng, trong đó: Nếu tiêu chí đạt trên 80 - 100 điểm được đánh giá loại a (xếp hạng tốt); nếu đạt từ 50 - 80 điểm được đánh giá b (xếp hạng đạt yêu cầu); nếu đạt dưới 50 điểm, dự án được đánh giá loại c (xếp hạng không đạt yêu cầu).

thuộc tính Quyết định 2109/QĐ-TTg

Quyết định 2109/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án "Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2021-2025"
Cơ quan ban hành: Thủ tướng Chính phủSố công báo:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Số công báo. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Số hiệu:2109/QĐ-TTgNgày đăng công báo:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Ngày đăng công báo. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Loại văn bản:Quyết địnhNgười ký:Phạm Bình Minh
Ngày ban hành:15/12/2021Ngày hết hiệu lực:Đang cập nhật
Áp dụng:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản để xem Ngày áp dụng. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Tình trạng hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Lĩnh vực:Đầu tư
TÓM TẮT VĂN BẢN

ODA viện trợ không hoàn lại 1,12 tỷ USD cho Việt Nam (2021-2025)

Ngày 15/12/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 2109/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án "Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2021-2025".

Theo đó, khả năng huy động vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài có thể cung cấp cho Việt Nam giai đoạn 2021-2025 khoảng 25,82 tỷ USD (5,13 tỷ USD/năm). Trong đó, vốn vay ODA chiếm khoảng 30,9%, vốn vay ưu đãi các nhà tài trợ nước ngoài chiếm khoảng 64,8%, ODA viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 4,3%.

Cụ thể, ODA viện trợ không hoàn lại dự kiến khoảng 1,12 tỷ USD trong giai đoạn 2021-2025 (giảm 41% so với 1,9 tỷ USD giai đoạn 2016-2020) chủ yếu từ các tổ chức Liên hợp quốc và các nhà tài trợ song phương nhằm ưu tiên hỗ trợ tăng cường năng lực, xây dựng chính sách, thể chế và cải cách; phòng, chống, giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu,….

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

Xem chi tiết Quyết định 2109/QĐ-TTg tại đây

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiển thị:
download Văn bản gốc có dấu (PDF)
download Văn bản gốc (Word)
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
ban dich TTXVN

THE PRIME MINISTER

 

THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence - Freedom - Happiness

No. 2109/QD-TTg

 

Hanoi, December 15, 2021

 

DECISION

Approving the Scheme on orientations for attraction, management and use of official development assistance and concessional loans of foreign donors for the 2021-2025 period[1]

 

THE PRIME MINISTER

Pursuant to the June 19, 2015 Law on Organization of the Government; and the November 22, 2019 Law Amending and Supplementing a Number of Articles of the Law on Organization of the Government and the Law on Organization of Local Administration;

Pursuant to the June 13, 2019 Law on Public Investment;

Pursuant to the Government’s Decree No. 56/2020/ND-CP of May 25, 2020, on management and use of official development assistance and concessional loans of foreign donors;

At the proposal of the Minister of Planning and Investment.

 

DECIDES:

Article 1. To approve the Scheme on orientations for attraction, management and use of official development assistance (ODA) and concessional loans of foreign donors for the 2021-2025 period (below referred to as the Scheme) enclosed with this Decision.

Article 2. Funds for implementation of the Scheme shall be included in annual budget estimates of ministries, central agencies and localities in accordance with the Law on the State Budget.

Article 3. This Decision takes effect on the date of its signing.

Article 4. Ministers, heads of ministerial-level agencies, heads of government-attached agencies, and chairpersons of provincial-level People’s Committees shall implement this Decision.-

For the Prime Minister
Deputy Prime Minister
PHAM BINH MINH

 

THE PRIME MINISTER

 

THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence - Freedom - Happiness

 

 

SCHEME

On orientations for attraction, management and use of ODA and concessional loans of foreign donors for the 2021-2025 period

(Enclosed with the Prime Minister’s Decision No. 2109/QD-TTg
of December 15, 2021)

 

PREAMBLE

I. NECESSITY OF THE SCHEME

During the 2016-2020 period, Vietnam’s economy recorded outstanding achievements. The economic growth saw a fairly high rate and the average GDP growth rate reached 6.8% during 2016-2019 and 5.99% for the whole 2016-2020 five-year period (due to the impacts of the COVID-19 pandemic in 2020), which still surpassed the rate of 5.91% in the 2011-2015 period; the macro-economy had been maintained stable; public debts and Government’s debts witnessed a decline, creating a considerable “room” for mobilizing more resources for public investment. The raised funds for development investment made up 33.47% of the GDP on average; the structure of raised funds saw a positive change.

In order to attract, manage and effectively use ODA and concessional loans of foreign donors, in the 2016-2020 period when Vietnam became a middle-income country, especially after Vietnam “graduated” from the International Development Association (IDA) with preferential interest rates of the World Bank (WB) in 2017 and from the Asian Development Fund (ADF) in 2019, some donors had revised aid policies for Vietnam, while the Vietnamese Party and State had issued numerous new guidelines and policies on and orientations for mobilization and use of ODA and concessional loans of foreign donors.

At the same time, the institutional and legal frameworks regulating these funding sources had been unceasingly improved[2]. Also during this period, the Prime Minister promulgated Decision No. 251/QD-TTg of February 17, 2016, approving the Scheme on orientations for attraction, management and use of ODA and concessional loans of foreign donors for the 2016-2020 period, and Decision No. 1489/QD-TTg of November 6, 2018, approving the Scheme on orientations for attraction, management and use of ODA and concessional loans of foreign donors for the 2016-2020 period, with a vision for the 2021-2025 period. Moreover, the drastic and close direction and administration by the Government and the Prime Minister and joint efforts of sectors and authorities at all levels had helped improve the effectiveness of the management and use of ODA and concessional loans of foreign donors.

However, due to subjective and objective causes, particularly when Vietnam became a middle-income country, some donors have lessened their priorities when providing ODA to Vietnam. The total amount of ODA and concessional loans of foreign donors under signed agreements in the 2016-2020 period merely equaled around 51% of that in the 2011-2015 period, thus, the contribution rate of these funding sources to the total development investment amount of the entire society in the 2016-2020 period was only around 3.3% compared to 8.8% in the 2011-2015 period.

Although Vietnam has “graduated” from using ODA with preferential interest rates of the WB and the Asian Development Bank (ADB), in the time to come, ODA and concessional loans of foreign donors will still constitute an important resource for investment in key socio-economic infrastructure facilities with spillover effects and importance.

So, it is really necessary to formulate the Scheme in order to mobilize and effectively use ODA and concessional loans of foreign donors, thus helping successfully implement the 2021-2030 ten-year socio-economic development strategy in the spirit of the Resolution of the XIIIth National Party Congress, the 2021-2025 five-year socio-economic development plan, the 2021-2025 medium-term public investment plan and the 2021-2025 five-year plan on national finance and borrowing and payment of public debts under the National Assembly’s Resolutions No. 16/2021/QH15, No. 29/2021/QH15, and No. 23/2021/QH15.

II. LEGAL GROUNDS FOR FORMULATION OF THE SCHEME

- The National Assembly’s Resolution No. 16/2021/QH15 of July 27, 2021, on the 2021-2025 five-year socio-economic development plan;

- The National Assembly’s Resolution No. 29/2021/QH15 of July 28, 2021, on the 2021-2025 medium-term public investment plan;

- The National Assembly’s Resolution No. 23/2021/QH15 of July 28, 2021, on the 2021-2025 five-year plan on national finance and borrowing and payment of public debts;

- The Prime Minister’s Decision No. 1489/QD-TTg of November 6, 2018, approving the Scheme on orientations for attraction, management and use of ODA and concessional loans of foreign donors for the 2018-2020 period, with a vision for the 2021-2025 period, and the Prime Minister’s Directive No. 03/CT-TTg of January 30, 2019, on organization of the implementation of Resolution No. 582/NQ-UBTVQH14 of October 5, 2018, on a number of tasks and solutions for further stepping up the implementation of policies and laws on management and use of foreign loans. The Ministry of Planning and Investment has been assigned by the Prime Minister to assume the prime responsibility for, and coordinate with related agencies in, further improving orientations for attraction, management and use of ODA and concessional loans of foreign donors for the 2021-2025 period in conformity with the 2021-2030 ten-year socio-economic development strategy and the 2021-2025 five-year socio-economic development plan; and study and propose a framework strategy for new development partners with a vision to 2030 for use as a basis for formulation of programs and projects to be funded by ODA and concessional loans and development cooperation activities in the coming period.

III. PURPOSES OF THE SCHEME

The Scheme is a document presenting the Government’s policies that aim to concretize guidelines and policies of the Party and the State on attraction, management and use of ODA and concessional loans of foreign donors to support the implementation of the 2021-2030 ten-year socio-economic development strategy and the 2021-2025 five-year socio-economic development plan. The Scheme serves as a basis for sectors and authorities at all levels to mobilize and use ODA and concessional loans of foreign donors in the 2021-2025 period and for donors to apply in the process of policymaking and formulation of programs on development cooperation with Vietnam at regional, national and ministerial levels and in central agencies and localities. The Scheme also aims to transparentize policies of the Vietnamese Government in the attraction, management and use of the aforesaid funding sources domestically and internationally.

Major objectives of the Scheme:

1. To evaluate the attraction, management and use of ODA and concessional loans of foreign donors in the 2016-2020 period.

2. To forecast economic growth perspective and demand for ODA and concessional loans of foreign donors for the 2021-2025 period.

3. To update and revise principles and orientations for attraction and use of ODA and concessional loans of foreign donors for new projects in the 2021-2025 period, particularly, to clearly identify major orientations for attraction of foreign loans in this period.

IV. SCOPE OF THE SCHEME

The Scheme focuses on analyzing the mobilization, management and use of ODA and concessional loans of foreign donors nationwide in the 2016-2020 period for use as a basis for setting orientations for attraction, management and use of these funding sources for the 2021-2025 period.

V. STRUCTURE OF THE SCHEME

The Scheme consists of three major parts:

Part I: Evaluation of the attraction, management and use of ODA and concessional loans of foreign donors in the 2016-2020 period.

Part II. Importance of and capacity to mobilize ODA and concessional loans of foreign donors for the 2021-2025 period.

Part III. Orientations for attraction, management and use of ODA and concessional loans of foreign donors for the 2021-2025 period.

Part I

EVALUATION OF THE ATTRACTION, MANAGEMENT AND USE OF ODA AND CONCESSIONAL LOANS OF FOREIGN DONORS IN THE 2016-2020 PERIOD

I. MAJOR ACHIEVEMENTS

Findings of the evaluation of practical attraction and use of ODA and concessional loans of foreign donors in the 2016-2020 period show the following major points:

1. After Vietnam became a middle-income country, development cooperation policies of donors had been revised toward gradually reducing or terminating non-refundable ODA amounts while gradually turning ODA loans with preferential interest rates into loans with lower incentives. Some bilateral donors still provided ODA and foreign concessional loans in the form of export credit that were often accompanied with binding conditions on services and origin of goods in certain ratios.

2. The amount of ODA and concessional loans of foreign donors mobilized for the 2016-2020 period was lower than that of the 2011-2015 period. The amount signed for the 2016-2020 period was USD 12.99 billion, down by 51% as compared to the 2011-2015 period’s figure.

3. In the 2016-2020 period, the total disbursed amount of ODA and concessional loans of foreign donors was estimated at USD 13.6 billion, a reduction of some 41% against the figure of the 2011-2015 period, or down by 16% on annual average, of which the disbursed amount of foreign capital amounts allocated from the central budget under the medium-term public investment plan of this period was estimated at VND 185.1 trillion[3], equal to 64.8% of the amount assigned by the Prime Minister (see Table 1).

Table 1. Disbursement of ODA and concessional loans of foreign donors under the medium-term public investment plan in the 2016-2020 period

Unit of calculation: VND billion

Year

Amount assigned by the National Assembly

Amount assigned by the Prime Minister

Disbursed amount

Percentage (of the amount assigned by the Prime Minister)

2016

50,000

45,517

46,232

96.4

2017

74,033

72,194

57,344

79.4

2018

60,000

54,965

33,600

61.1

2019

60,000

52,206

16,979

32.5

2020

60,000

60,738

30,951

50.9

2016-2020

304,033

285.620

185.106

64.8

Source: Ministry of Planning and Investment and Ministry of Finance

 

4. Below are some basic causes of the decline in mobilized and disbursed amounts of ODA and concessional loans of foreign donors over the past time: (1) After Vietnam became a middle-income country, donors had revised the policy of providing funds, particularly ODA loans and non-refundable aid; (2) Vietnam’s public debts, including foreign debts, had previously increased rapidly, placing pressure on the attraction of foreign loans and repayment of foreign debts; (3) The Government’s structure of domestic loans and foreign loans had been adjusted in response to the increased expenses for getting foreign loans (as a result of lowered incentives of ODA); and (4) the Government’s policy institutions had been adjusted to suit reality, including relatively unexpected adjustments that restrict the accessibility to and disbursement of funds for projects.

5. Despite the decline in ODA and concessional loans of foreign donors in the 2016-2020 period, these funding sources still made positive contributions to growth and development of the economy, which were manifested in the following aspects:

- ODA and concessional loans of foreign donors remained important contributions to development investment funds from the state budget. The disbursed amount of this funding channel accounted for 3.33% of the total development investment amount of the entire society (averagely for the whole 2016-2019 period) and made up 18.08% of the total investment amount from the state budget (see Figure 1).

 

Figure 1. ODA and concessional loans of foreign donors in development investment

Source: Ministry of Planning and Investment

 

- ODA and concessional loans of foreign donors had been distributed in conformity with the Government’s guidelines and orientations on mobilization and use of ODA and concessional loans of foreign donors. Specifically, ODA and concessional loans of foreign donors were set as a priority for a number of sectors with spillover effects and inter-regional connectivity and creating a driving force for regional development and concurrently for a number of disadvantaged areas. The per-capita amount of ODA and concessional loans of foreign donors had been distributed more evenly as compared to the previous period (see Table 2).

- The number of inter-regional projects funded by ODA and concessional loans of foreign donors increased, showing capacity of the central budget and conformity with priorities for projects under the Scheme on orientations for attraction, management and use of ODA and concessional loans of foreign donors in the 2016-2020 period.

- The policy on on-lending of loans for projects was correct, aiming to raise responsibility of loan recipients, particularly localities. However, some shortcomings were revealed in the process of implementation. Some localities that faced socio-economic difficulties and had limited revenues found it hard to access ODA and concessional loans of foreign donors due to the low public debt ceiling. In addition, the order and procedures for appraisal and signing of contracts on on-lending of loans, disbursement method, especially for projects applying a mixed domestic financial mechanism (allocation-cum-on-lending of funds), remained complicated. This affected the progress of implementation of and fund disbursement for projects.

Table 2. ODA and concessional loans of foreign donors distributed for regions under signed agreements

 

2011-2015

2016-2020

 

Total (USD million)

Structure (%)

USD per capita

Total (USD million)

Structure (%)

USD per capita

1. Red River delta region

4,557.57

16.4

21.78

670.93

5.46

2.97

2. Northern mountainous and midland region

723.92

2.61

6.13

956.11

7.78

7.61

3. Northern Central and Central Coast region

3,312.22

11.92

16.85

1,400.56

11.39

6.93

4. Central Highlands region

416.04

1.5

7.42

236.18

1.92

4.03

5. Eastern South region

3,312.78

11.92

20.54

1,492.14

12.14

8.32

6. Mekong River delta region

2,238.54

8.06

12.73

940.96

7.66

5.44

7. Inter-regional areas (*)

12,915.93

46.49

 

6,594.57

53.65

 

Source: Ministry of Planning and Investment

- ODA and concessional loans of foreign donors had been distributed by sector and field, focusing on transport, environmental protection and urban development with large projects. The hunger elimination and poverty reduction sector still received priority. The social infrastructure sector received a proportion of loans higher than the previous period (see Figure 2).

Figure 2. Structure of mobilized ODA and concessional loans of foreign donors by sector/field (%)

Source: Ministry of Planning and Investment

 

II. GENERAL EVALUATION

1. General evaluation of achievements in the last period:

- Guidelines and policies on attraction, management and use of ODA and concessional loans of foreign donors have been promptly revised to suit changes in the new situation.

- The work of management and use of ODA and concessional loans of foreign donors has been strengthened with a better mechanism for interdisciplinary and inter-regional coordination.

- ODA and concessional loans of foreign donors have played a significant role in the state budget’s investment as a catalyst for development, and helped strengthen the development cooperation relationship between Vietnam and countries and organizations around the world and in the region.

2. General evaluation of shortcomings and limitations:

- Mechanisms, policies and institutions on attraction, management and use of ODA and concessional loans of foreign donors saw rapid changes and remained unstable and incomplete.

- There existed shortcomings and problems in the course of implementation, for example, project designs were inappropriate and had to be adjusted for multiple times; and the quality of formulation, appraisal and approval of investment projects remained low.

- The rate of disbursement was lower than that in the previous period; a number of projects were implemented behind schedule, requiring refund of capital allocated under plans due to failure to make disbursement.

- The efficiency of a number of projects remained low due to their prolonged implementation period and delayed operation and use for serving the people’s life.

3. Major causes of shortcomings and limitations:

- Regulations on ODA and concessional loans of foreign donors were incomplete; some procedures remained complicated.

- The readiness in project preparation was not good enough, with low quality of project preparation, frequently requiring project adjustment or project design change in the course of implementation.

- Procedures for appraisal, approval, and negotiation for conclusion of agreements and modification of projects to be funded with ODA and concessional loans of foreign donors seemed to be complicated and prolonged, leading to the fact that many projects became no longer appropriate when being implemented and had to be adjusted or had their implementation period prolonged.

- There were problems arising in the implementation of the Law on Public Investment and the Government’s Decree No. 56/2020/ND-CP of May 25, 2020, on management and use of ODA and concessional loans of foreign donors (complicated procedures for modification of investment policy; lack of regulations applicable to state enterprises that were on-lent 100% of ODA or concessional loans; and complicated procedures for determining expenses eligible to be covered by ODA and concessional loans, and for conclusion, modification, supplementation and extension of treaties in the name of the Government and specific agreements on ODA and concessional loans).

- Formulated plans on ODA and concessional loans of foreign donors remained not suitable to reality.

- There were difficulties and problems in the work of compensation and ground clearance for projects to be funded with ODA and concessional loans of foreign donors due to the need for harmony between domestic procedures and policies of donors.

- Counterpart funds had not yet been allocated fully and on time.

- The coordination among ministries, central agencies, localities and donors remained not close enough.

- The project organization and management lacked professionalism and failed to meet requirements of donors, especially in bidding, financial management, and formulation of environmental and social policies, etc.

 

Part II

IMPORTANCE OF AND CAPACITY TO MOBILIZE ODA AND CONCESSIONAL LOANS OF FOREIGN DONORS IN THE 2021-2025 PERIOD

I. NECESSITY TO MOBILIZE ODA AND CONCESSIONAL LOANS OF FOREIGN DONORS IN THE COMING PERIOD

1. Background on socio-economic development and investment demand

Over the past time, Vietnam’s economy has recorded certain achievements; however, long-term bottlenecks still existed, making the country encounter emerging challenges; many factors prompted the need to attract ODA and concessional loans of foreign donors for the new development period:

Firstly, according to the Government’s policies, in the 2021-2025 period, Vietnam will focus on economic recovery after the COVID-19 pandemic, with a greater focus on restructuring the economy, changing the growth model and raising the growth quality toward development of high-quality human resources, promotion of science and technology, innovation, digital technology, digital economy, development of highly connectible infrastructure, reform of state management, improvement of public services, etc., that require great amounts of investment capital.

Secondly, the increasing demand for urban embellishment as a result of rapid urbanization leads to an increase or even overload on the urban transport system, the environment and public services such as health or education.

Thirdly, region-based inequality has not yet been controlled. The State still needs to make investment for increasing the accessibility to basic social services and economic opportunities for underdeveloped areas when the private sector’s investment in these areas remained modest.

Fourthly, there is a demand for retraining of a majority of the workforce to catch up with the development level of science and technology, economic restructuring, especially in the context of the Fourth Industrial Revolution.

Fifthly, Vietnam is facing numerous challenges with global emerging issues such as climate change and sea level rise, requiring large amounts of capital for response thereto.

2. Necessity of loans to deal with the lack of state budget funds

Against the backdrop that state budget funds are insufficient as the country has not yet regained its economic growth, ODA and concessional loans seem to be necessary for investment in development of large-scale and pivotal infrastructure facilities of the economy that have spillover effects and inter-regional connectivity, and public investment programs and projects to be implemented in multiple areas, etc. While state budget funds remain modest and the private sector’s investment cannot be mobilized, failure to attract ODA and concessional loans will exert certain impacts on socio-economic development goals in the long run.

The scale and development level of the domestic bond market remain modest although the Government has been restructuring debts toward gradually increasing domestic loans. It is infeasible to get loans from commercial banks because of the lack of legal grounds. Other lending sources all reveal certain limitations on the scope and purpose of borrowing. With regard to the central budget, loans provided in the form of government bonds only meet about 70% of loan demands; the remaining 30% must rely on foreign loans. Regarding local budgets, loans on-lent from ODA and concessional loans of foreign donors seem the most appropriate to increase expenditures for development investment. Compared to domestic loans, foreign loans are more stable and less impacted by domestic and foreign short-term capital markets, thus ensuring capital adequacy during project implementation periods.

Foreign loans may be accompanied by knowledge, technology, and new management processes (particularly for the fields of urban railways, airports, big seaports, vocational schools, and international-standard universities, etc.), thus helping improve capacity and experience for Vietnamese companies and workers to participate in project implementation to meet economic development requirements of a middle-income country.

3. Economic growth perspective and demands for ODA and concessional loans of foreign donors for the 2021-2025 period

According to the objectives of the 2021-2025 five-year socio-economic development plan[4] and the 2021-2030 ten-year economic development strategy[5], the annual GDP growth rate will reach 6.5-7% on average and development investment will account for 32-34% of GDP.

Table 3. Economic growth perspective and demands for ODA and concessional loans for the 2021-2025 period

Norms

Realized during 2016-2020

Expected to meet objectives set under the 2021-2025 plan

GDP growth

5.99

6.5 - 7

Development investment funds/GDP (%)

33.47

32 - 34

Total (%)

100

100

From the private sector

43.1

44.5

From the FDI sector

22.9

23.5

From the state sector, of which:

34

32.5

+ From state enterprises

5.3

5

+ State budget funds and loans

28.8

27.5

ODA and concessional loans of foreign donors (VND trillion)

306.9

452.9 - 527.1

 

With respect to state budget funds and loans, in the coming time, to-be-mobilized funds for budget fund balancing and development investment purposes will still focus on issuance of government bonds in the country, disbursement of ODA and concessional loans of foreign donors, and temporary mobilization of a number of loans from the State Treasury Cash-Balance Fund, the Vietnam Social Security, the Sinking Fund, and other funding sources as prescribed by law.

II. CAPACITY TO ATTRACT ODA AND CONCESSIONAL LOANS OF FOREIGN DONORS IN THE COMING TIME

1. Capacity to provide ODA and concessional loans of foreign donors:

Information from donors shows that the amount of ODA and concessional loans of foreign donors to be provided for Vietnam in the 2021-2025 period will reach around USD 25.82 billion (approximately USD 5.13 billion per year), which will be distributed by structure of funding sources: ODA loans, about 30.9%; concessional loans of foreign donors, around 64.8%; and ODA as non-refundable aid, about 4.3%. If inclusive of the capital amount carried forward from the previous period, the amount of ODA and concessional loans of foreign donors for Vietnam in the 2021-2025 period will be larger.

- ODA as non-refundable aid: estimated at around USD 1.12 billion in the 2021-2025 period (down by 41% against USD 1.9 billion during 2016-2020) mainly from United Nations organizations and bilateral donors, which will be used with priority for capacity building, formulation of policies and institutions, and reform; disaster prevention and control and disaster risk reduction and adaptability to climate change; social security, or preparation of investment projects, or co-funding for projects using concessional loans of foreign donors with a view to increasing the grant element of loans.

- ODA loans: Vietnam is to access ODA loans only from some bilateral donors and international financial funds. The total amount of ODA loans of foreign donors in the 2021-2025 period is estimated at USD 7.97 billion (a reduction of around 21% against USD 10.07 billion of the 2016-2020 period).

- Concessional loans of foreign donors: In general, foreign donors are able to meet all demands of Vietnam for use of their concessional loans, with the total amount estimated at USD 16.73 billion for the 2021-2025 period (7.8 times the figure of USD 2.18 billion in the 2016-2020 period), mainly from the Group of 6 Development Banks (USD 15.75 billion).

Regarding lending conditions, in the coming period, preferences (interest rate, repayment period, grace period, etc.) of loans will be lower than those previously applied but remain better than commercial loans. For ODA loans, some donors still maintain binding conditions on origin of goods and services from donor countries but have revised their policies to be more flexible to enable Vietnamese contractors to participate in project implementation.

2. Priority fields of donors:

Findings from surveys show that in the 2021-2025 period, donors will still support the development of economic and social infrastructure and emerging domains such as response to climate change and green growth, etc., among them, donors of the Group of 6 Development Banks will prioritize the provision of ODA and concessional loans to help Vietnam in development of transport and urban infrastructure, response to climate change, clean energy, agriculture and rural development, and social domains (health, education and training, vocational training, etc.).

3. Supply-demand balancing for ODA and concessional loans of foreign donors for the 2021-2025 period:

As seen in Table 4, the capacity to provide ODA and concessional loans of foreign donors exceeds the demand of the reporting ministries, central agencies and localities. This is a good signal of the capacity to mobilize and selectively use these funding sources.

Table 4. Summary of demands of ministries, central agencies and localities for, and capacity to provide, ODA and concessional loans of foreign donors for the 2021-2025 period

 

USD billion

Equivalent to VND trillion

1. Estimation of ODA and concessional loans of foreign donors

Total

25.82

621.2

 

Non-refundable aid

1.12

26.93

 

ODA loans

7.97

191.33

 

Concessional loans of foreign donors

16.73

402.94

 

2. Demands of ministries, central agencies, sectors, and localities (VND trillion)

Total

Ministries and central agencies

Localities

Total foreign loans

454.23

193.46

260.77

Loans carried forward from previous period

253.43

73.04

180.39

Loans to be mobilized

200.8

120.43

80.37

Allocated or on-lent

 

 

 

Allocated from the central budget

300

180

120

On-lent

154.23

13.46

140.77

3. Demands for ODA and concessional loans of foreign donors to meet growth targets for the 2021-2025 period (VND trillion)

Growth target for the 2021-2025 period (%/year)

6.5 - 7

Demand for ODA and concessional loans

452.9 - 527.1

- Foreign loans allocated from the central budget

300.1 - 307.1

+ Loans carried forward from the previous period

150

+ Loans to be attracted

150.1 - 157.1

- On-lent loans

152.9 - 220

 Note: The exchange rate to be applied in the 2021-2025 period shall be based on the assumption that the annual inflation rate of Vietnam dong will be around 1% of GDP.

With regard to public debts, estimations show that the demand for ODA and concessional loans of foreign donors according to development scenarios as well as demands of localities and ministries and sectors will not affect public debt safety indicators with respect to public debt safety thresholds set in the 2021-2025 public debt plan (under which the public debt ceiling must not exceed 60% of GDP and government debts must not exceed 50% of GDP). According to the plan on borrowing of ODA loans, the approved amount of foreign concessional loans is VND 527 trillion; public debt safety indicators are as follows: public debts/GDP ratio - about 44.2% in 2021 and about 45.3% in 2025; and government debts/GDP ratio - about 40% in 2021 and about 41.6% in 2025. The ratio of ODA and concessional loans of foreign donors to GDP will be around 0.85% (which will be reduced from 0.91% in 2021 to 0.8% in 2025). In general, with a rather low mobilization rate compared to domestic loans, the influence of ODA and concessional loans of foreign donors on public debts in the coming period will be inconsiderable.

 

Part III

ORIENTATIONS FOR ATTRACTION, MANAGEMENT AND USE OF ODA AND CONCESSIONAL LOANS OF FOREIGN DONORS FOR THE 2021-2025 PERIOD

Based on basic contents of the 5-year socio-economic development plan and the 2021-2025 medium-term public investment plan, and the evaluation of the current situation, demand and capacity, and domestic and international developments in the coming time, orientations for attraction, management and use of ODA and concessional loans of foreign donors for the 2021-2025 period are set to include the following principal contents:

I. DIRECTING VIEWPOINTS AND BASIC PRINCIPLES

- To comply with general viewpoints and principles as stated in directing documents and orientations of the Party and the Government, particularly the 2021-2025 medium-term public investment plan, the Government’s Decree No. 56/2020/ND-CP of May 25, 2020, on the management and use of ODA and concessional loans of foreign donors, the Prime Minister’s Decision No. 1489/QD-TTg of November 6, 2018, approving orientations for attraction, management and use of ODA and concessional loans of foreign donors for the 2018-2020 period, and with a vision for the 2021-2025 period, and Directive No. 18/CT-TTg of June 29, 2019, on strengthening the management and improving the use efficiency of ODA and concessional loans of foreign donors in the new situation.

- The mobilization, management and use of ODA and concessional loans of foreign donors must be associated with the restructuring of public investment; for any new loan, it is required to consider its economic efficiency and financial plans, and evaluate its impacts on medium-term public investment plans, public debt indicators, budget as well as repayment capacity in the future.

- The negotiation for and conclusion of loan treaties or agreements must suit conditions and criteria on socio-economic efficiency and repayment capacity; to refrain from borrowing loans for projects that are accompanied by conditions disadvantageous to Vietnam or less efficient than when they use domestic loans.

- ODA and concessional loans of foreign donors shall be used only for development investment, but not for payment of recurrent expenditures. To focus on a number of key sectors to maximize economic efficiency based on scale, prioritizing investment in projects that will bring about socio-economic efficiency and directly promote growth in association with sustainable development, especially projects capable of generating medium- and long-term foreign currency revenues with a view to increasing the nation’s repayment capacity; and projects involving public goods to be covered by state budget expenditures and having spillover effects in such fields as climate change adaptation, improvement of environmental quality, education, health care, technology, and skills.

- To use ODA and concessional loans of foreign donors for fields and projects for which domestic public investment cannot finance or the private sector has no driving force to make investment, or a number of particular fields in which state investment is needed for control and management so as to facilitate the development of other economic sectors.

- To encourage the method of financing through providing budget support with appropriate expenses and quick disbursement into the state budget to allocate funds for national target programs.

- To prioritize the use of low-cost ODA loans and concessional loans of foreign donors for allocation of state budget funds; to consider on-lending foreign donors’ concessional loans with interest rates close to market interest rates; to comply with regulations on investment spending tasks of each budget level.

- To limit the use of ODA and concessional loans of foreign donors for projects not requiring foreign exchange to obtain goods or technology. To restrict the fulfillment of foreign currency obligations to finance local expenditures.

- To reduce the proportion of allocations while increasing the proportion of loans for on-lending for local programs and projects with funds partially allocated by the state budget and partially on-lent to local budgets according to the ratio set by the Government.

II. ORIENTATIONS FOR MOBILIZATION AND USE OF ODA AND CONCESSIONAL LOANS OF FOREIGN DONORS FOR THE 2021-2025 PERIOD

1. Plan on allocation of ODA and concessional loans of foreign donors for the 2021-2025 period

Under the 5-year plan on  loan borrowing and public debt repayment for the 2021-2025 period approved by the National Assembly in Resolution No. 23/2021/QH15 of July 28, 2021, and the Government’s Report No. 05/TTr-CP of April 6, 2021, on the situation of the 2016-2020 five-year loan borrowing and debt repayment and the 5-year plan on loan borrowing and public debt repayment for the 2021-2025 period, the total amount of ODA and concessional loans of foreign donors is estimated at about VND 527.1 trillion for the 2021-2025 period, of which the amount of loans allocated from the central budget is VND 305 trillion (including VND 300 trillion for development investment and VND 5.1 trillion for non-business administrative affairs for agreements signed in 2017 and earlier), and the amount of loans borrowed for on-lending is VND 222 trillion (including loans on-lent from the central budget to local budgets and on-lent to enterprises and public non-business units).

According to the National Assembly’s Resolution No. 29/2021/QH15 of July 28, 2021, on the medium-term public investment plan for the 2021-2025 period, out of VND 300 trillion of ODA and concessional loans of foreign donors allocated from the central budget, VND 270 trillion are used for projects carried forward from the previous period and new projects (including VND 179,657.898 billion allocated to ministries, central agencies and localities, and VND 90,342,102 billion not yet allocated to ministries, central agencies and localities), and VND 30 trillion are provision funds.

2. Sector-based priority orientations

a/ Sector-based orientations on priority for use of ODA and concessional loans of foreign donors for the 2021-2025 period must basically comply with with the Government’s Decree No. 56/2020/ND-CP of May 25, 2020, specifically as follows:

- Non-refundable ODA shall be used with priority for implementation of programs and projects on socio-economic infrastructure development; capacity building; support for formulation of policies and institutions and reforms; disaster prevention and control and disaster risk reduction and adaptation to climate change; social security; preparation of investment projects or co-financing for projects to be funded with concessional loans of foreign donors with a view to increasing the grant element of a loan.

- ODA loans shall be used with priority for programs and projects in the fields of health, education, vocational education, adaptation to climate change, environmental protection, and construction of essential economic infrastructure facilities which are incapable of directly recovering invested funds.

- Concessional loans of foreign donors shall be used with priority for programs and projects that will use loans for on-lending under the Government’s regulations on on-lending of ODA and concessional loans; and programs and projects to be covered by state budget expenditures in the field of socio-economic infrastructure development.

At the same time, based on actual needs, the fields of catastrophe and epidemic control, green growth and innovation will be added for prioritization of the use of non-refundable ODA in this period.

b/ Based on objectives, tasks and priority fields stated in the socio-economic development strategy for the 2021-2030 period, the socio-economic development plan and the medium-term public investment plan for the 2021-2025 period are as follows:

- To restructure the economy in association with changing the growth model, with priority given to capacity building; formulation and improvement of policies and institutions and reforms; formulation of national, sectoral and regional master plans; development of the financial and banking system, and trade facilitation.

- To develop socio-economic infrastructure, and implement sustainable development goals, giving priority to the following fields:

+ Infrastructure development and urban development:

Regarding urban areas as a driving force for development, ODA and concessional loans of foreign donors in the coming time shall be provided with priority to support the urbanization process toward synchronous development of the infrastructure system, formation of economic corridors, and settlement of urban challenges (traffic congestion, environmental pollution, inundation, etc.), thereby improving urban economic efficiency, linking localities with urban centers to drive development, specifically as follows:

(i)The Red River delta region: To develop and strengthen connectivity between Hanoi and surrounding urban areas; to build the Hai Phong-Quang Ninh area into a marine economic center.

(ii) The North Central Vietnam and Central Coast region: To continue to form and develop the coastal urban system, and marine tourism and eco-tourism centers of regional and international levels.

(iii) The Southeast region: To effectively develop large urban areas and Ho Chi Minh City to become the driving force of the Southeast and Southwest regions.

(iv) The Mekong River delta region: To accelerate urbanization, and build a regional urban network to create a driving force for development.

+ Development of transport system:

Expressways, national highways, railways and inland waterways, especially in the Mekong River delta region, seaports, airports, major urban ring routes, and coastal roads, with priority given to coastal routes in the North, South Central Vietnam and Mekong River delta region, specifically as follows:

(i) The North Central and Central Coast region: To develop seaports and seaport services.

(ii) The Central Highlands region: To upgrade routes connecting the Central Highlands provinces with coastal provinces of the South Central Vietnam region and with Southern Laos and Northeast Cambodia.

(iii) The Southeast region: To rearrange and upgrade systems of seaports, airports, and modern urban transport infrastructure.

(iv) The Mekong River delta region: To promote development linkages and develop transport infrastructure connecting with the Southeast region and Ho Chi Minh City. To ensure connection with major economic centers in the region and the world.

+ National energy security:

To quickly and synchronously develop clean energy and renewable energy.

c/ Management of natural resources and environment, with priority given to the following fields:

Management of natural resources and environment, protection of ecological environment; disaster prevention and control and disaster risk reduction, effective response to climate change, combat of desertification, riverbank and coastal erosion; and inundation prevention in Ho Chi Minh City.

d/ Agriculture and rural development, with priority given to the following fields:

Development of smart agriculture, clean agriculture, afforestation and forest certification, construction of irrigation systems and reservoirs to ensure water security for production activities and people’s lives.

dd/ Science, technology, innovation, and Industry 4.0, with priority given to the following fields:

Development of science, technology and innovation ecosystem. Establishment of the National Innovation Center.

e/ Improving the quality of human resources, with priority given to the following fields:

Development of education and vocational education in association with rapid restructuring of labor, especially in rural areas, and training of high-quality human resources.

g/ Health, culture and social affairs, with priority given to the following fields:

Community health, specialized health, preventive medicine system to control the COVID-19 pandemic; promotion of cultural values, and assurance of equity and social security.

h/ Strengthening regional connectivity, with priority given to regional connectivity projects with spillover effects and great impacts on the economy:

To strengthen connectivity with the Red River delta region and Hanoi capital; to effectively promote the operation of the East-West economic corridor; to raise the connectivity of regional infrastructure, creating a driving force for increasing linkage and producing spillover effects to promote cooperation and development with the Central Highlands, South Central Vietnam and Mekong River delta region.

The plan on sector-based allocation of ODA and concessional loans of foreign donors for the 2021-2025 period (including loans allocated from the central budget and loans on-lent from the central budget to local budgets) is shown in Table 5 below:

Table 5. Plan on sector-based allocation of ODA and concessional loans of foreign donors for the 2021-2025 period

Unit of calculation: VND trillion

No.

Sectors, fields

Loans allocated from the central budget

Loans on-lent from the central budget to local budgets

Amount carried forward from the previous period

Amount propo-sed

Total

Propor-tion (%)

Amount carried forward from the previous period

Amount propo-sed

Total

Propor-tion (%)

 

TOTAL

179.66

89.87

270

100

97.83

49.95

147.78

100

1

Economic restructuring in association with growth model innovation

1.74

0

1.74

0.6

0.75

0

0.75

0.5

2

Development of socio-economic infrastructure

 

 

 

 

 

 

 

 

 

a/ Infrastructure development and urban development

52.61

11.55

64.16

23.8

84.62

9.69

94.32

63.8

 

b/ Transport system development

43.39

0

43.39

16.1

2.13

3.45

5.57

3.8

 

c/ Development of power sources and grids, national energy security

1.46

0

1.46

0.5

0.19

0.14

0.33

0.2

3

Management of natural resources, environment, prevention and control of disasters and climate change

8.77

8.69

17.46

6.5

1.93

10.75

12.67

8.6

4

Agriculture and rural development

27

5

32

11.9

4.75

12.03

16.79

11.4

5

Science and technology, innovation, Industry 4.0

11.8

6.43

18.23

6.8

0.51

0

0.51

0.3

6

Improvement of the quality of human resources

9.82

11.33

21.15

7.8

0.69

11.1

11.8

8

7

Healthcare - Culture - Social affairs

11.33

1.34

12.67

4.7

2.26

2.79

5.05

3.4

8

Security, national  defense

11.74

0

11.74

4.3

0

0

0

0

9

Strengthening of  regional connectivity

0

46

46

17

0

0

0

0

 

Table 5 shows that for the 2021-2025 period, the proportion of ODA and foreign concessional loans allocated from the central budget for the fields of infrastructure development and urban development, transport system development, agriculture and rural development, and strengthening of regional connectivity is high.

3. Orientations for priority based on regions and territorial areas

Orientations for allocation of ODA and concessional loans of foreign donors for the 2021-2025 period are based on economic regions, specifically as follows:

- To prioritize the use of non-refundable ODA and ODA loans for localities with difficult socio-economic development conditions that are entitled to central budget allocations.

- To prioritize the use of ODA and concessional loans of foreign donors for projects on improvement of infrastructure to assist underdeveloped regions and localities in economic development and gradually catching up with other regions and localities; to prioritize the use of ODA and concessional loans of foreign donors in regions and localities that can hardly raise domestic funds.

- To prioritize projects to support the settlement of pressing issues in the process of rapid urbanization in provinces.

- To prioritize the use of concessional loans of foreign donors for developed localities and projects suitable to the receiving localities’ development level and capacity of getting and using ODA and concessional loans of foreign donors.

- Projects on inter-regional and inter-provincial connectivity in the Northwest, Central Highlands and Mekong River delta region for faster development.

The plan on ODA and concessional loans of foreign donors allocated from the central budget based on economic region (excluding centrally run projects implemented in localities) is shown in Table 6 below:

Table 6. Plan on ODA and concessional loans of foreign donors based on regions and territorial areas for the 2021-2025 period

Unit of calculation: VND trillion

No.

Economic regions

Loans allocated from the central budget

Loans on-lent from the central budget to local budgets

Amount carried forward from the previous period

Amount proposed

Total

Propor-tion (%)

Amount carried forward from the previous period

Amount propo-sed

Total

 Propor-tion (%)

 

TOTAL

91,780.5

46,000

137,780.5

100

95,366.7

52,433.3

147,800

100

1

Northern mountain-ous region

12,483.7

5,306.3

17,790

12.9

3,670.7

6,577.3

10,247.9

6.9

2

Red River delta region

32,674.6

3,085.4

35,760

26

26,676.5

1,987.1

28,663.5

19.4

3

North Central Viertnam and Central Coast region

19,424.2

5,315.8

24,740

18

7,178.2

15,285.6

22,463.8

15.2

4

Central Highlands region

3,809.2

6,390.8

10,200

7.4

1,778.9

5.3

1,784.3

1.2

5

Southeast region

9,976.1

4,443.9

14,420

10.5

50,832.4

15,317.7

66,150.1

44.8

6

Mekong River delta region

13,412.8

21,457.6

34,870.5

25.3

5,230

13,260.3

18,490.4

12.5

 

4. Orientations for methods of providing ODA and concessional loans based on priority fields

Table 7 below proposes the use of loans and methods of providing loans based on sectors and fields prioritized for use of ODA and concessional loans of foreign donors:

Table 7. Orientations for use of loans and methods of providing ODA and concessional loans of foreign donors based on priority sectors and fields

No.

The 2021-2025 plan

Methods of providing ODA and concessional loans of foreign donors

1

Economic restructuring in association with growth model innovation

Technical assistance, programs and projects (non-refundable ODA, ODA loans)

2

Development of socio-economic infrastructure:

 

a/ Infrastructure development and urban development

Programs, projects (ODA loans, blended ODA and concessional loans of foreign donors)

 

b/ Transport system development

 

c/ National energy security

3

Management of natural resources and environment

Technical assistance, programs and projects (ODA loans, blended ODA)

4

Agriculture and rural development

Technical assistance, programs and projects (ODA loans, blended ODA)

5

Science and technology, innovation and Industry 4.0

Technical assistance, programs and projects (ODA loans, blended ODA)

6

Improvement of the quality of human resources

Programs and projects (ODA loans, concessional loans of foreign donors)

7

Healthcare - Culture - Social affairs

Technical assistance, projects (ODA loans, concessional loans of foreign donors)

8

Regional connectivity

Technical assistance, programs and projects (ODA loans, blended ODA and concessional loans of foreign donors)

 

5. Orientations for priorities for donor-based use of ODA and concessional loans

- To take advantage of the remaining ODA loan amounts of multilateral donors, and continue to focus on donors providing large amounts of ODA. To attach special importance to attracting and using ODA from the Group of 6 Development Banks.

- IBRD concessional loans of the WB and OCR loans of the ADB together with loans from Japan, Republic of Korea, France and Germany must be reserved for important and large-scale socio-economic infrastructure programs and projects (in the transport and hydraulic-work sectors, and for budget support programs aiming at green growth, response to climate change, or urban infrastructure in motive urban areas). It is also necessary to consider and negotiate loan terms with donors to ensure suitability with specific development priorities of Vietnam as well as the capacity of borrowing and debt repayment of ministries, sectors and localities in case of on-lending.

- At the same time, to take advantage of technical assistance and non-refundable aid of other donors to improve institutions for, and enhance the capacity, share knowledge, and transfer technology, and support localities in development of health, education, environment, and social affairs. To attach importance to coordinating with donors in accessing, and attracting aid from global and regional funds, particularly for “public goods” sectors such as environment and climate change.

- To further maintain relationships with multiple partners and institutional donors; to closely coordinate with donors in formulating 5-year and 10-year programs, plans and projects to be funded with ODA and concessional loans of foreign donors and formulate a plan for the country to gradually stop reliance on concessional loans of foreign donors.

6. Orientations for the strategic framework of the new development partnership

Methods of the development partnership via the dialogue process and mechanism between Vietnam and development partners must be renewed and adjusted to suit the new situation, including:

- High-level policy dialogues (For example, the Vietnam Reform and Development Forum - VRDF), focusing on sustainable development goals (SDG), and short-term and long-term development priorities and policy priorities of Vietnam which are supported by technical consultancy groups for specific topics when necessary;

- To add tasks to, and intensify the operation of, the National Steering Committee on ODA and Concessional Loans of Foreign Donors regarding research for renewal of the development partnership between Vietnam and foreign donors in the upcoming period. To attach special importance to new development cooperation methods of efficient blended funding among foreign donors to create concerted impacts;

- To encourage the renewal of dialogues among groups of donors (such as the Group of 6 Development Banks, European Union (EU), United Nations (UN), and Development Partners Group - DPG), and between them and the Vietnamese Government on the harmonious promotion, division of labor, and coordination in advantageous sectors to get the highest support efficiency;

- To renovate a number of existing partnership groups or establish new ones, focusing on dialogues, coordination and policy support of prioritized sectors/fields in the new situation, such as multi-dimensional poverty reduction, poverty reduction in ethnic minority regions, social protection, climate change and disaster prevention and control, etc., toward broadening the participation of Vietnam in global and regional programs on “public goods”;

- To shape and broaden the partnership with the private sector and charity funds toward using dialogues and improving the institutional environment to call for their contributions to the health sector (For example, COVID-19), creativity (For example, Industry 4.0), and infrastructure investment (For example, investment in the form of public-private partnership - PPP), in which ODA and concessional loans of foreign donors will serve as a catalyst;

- To shape and reform new bilateral partnerships (especially with European countries) toward broadening governmental-level relationships to partnerships between organizations, universities, and enterprises of Vietnam and other countries, associating ODA with investment and trading to create the global chains, etc., in which ODA will serve as a catalyst;

- To formulate a strategy and allocate resources for enhancing the role and proactivity of Vietnam in the global development cooperation relationship. With technical assistance provided via the South-South Cooperation mechanism, Vietnam will be able to transfer its experience and knowledge to countries with lower levels of development.

In addition, in the upcoming time, the development cooperation relationship between Vietnam and development partners needs to be further intensified and consolidated to be extensive and intensive, not only bilateral but also in regional and global. Vietnam needs to attach importance to renewing and expanding its relationship with partner countries, from the development cooperation to economic, investment and trade cooperation (For example, within the framework of the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership (CPTPP) and the EU-Vietnam Free Trade Agreement (EVFTA), etc.). Within that development partnership model, foreign donors will have to adjust their assistance to help Vietnam uphold its role in the international arena.

7. Criteria for selection of projects to be funded with ODA and concessional loans of foreign donors

To ensure the use efficiency of ODA and concessional loans of foreign donors, it is required to consider selecting projects based on 5 criteria set by the Organization for Economic Cooperation and Development (OECD), namely: (1) relevance, (2) effectiveness, (3) efficiency, (4) impact, and (5) sustainability. These criteria shall be applied in the stages of proposal, appraisal and approval of a project; furthermore, other criteria can be added in pursuance to the regulations of Vietnam and donors, specifically as follows:

- Relevance of a project: necessity of the project and its relevance with socio-economic development strategies, master plans and plans; its relevance with orientations for the attraction of ODA and concessional loans of foreign donors, and policies and orientations on priorities in the provision of ODA and concessional loans of foreign donors; its relevance with donors’ policies on aid provision, and framework agreements signed with donors (if any); its relevance with foreign donors’ capacity to balance ODA or concessional loans, or counterpart funds, and its relevance with priorities in use of donations and ODA and concessional loans of foreign donors.

- Effectiveness of a project: assurance of the feasibility of the project.

- Efficiency of a project: evaluation of the socio-economic efficiency of the project and its impacts on the environment.

- Impact of a project: impacts of a project in: (i) socio-economic aspect; (ii) medium-term public investment plan (for public investment projects); (iii) impact of ODA and concessional loans of foreign donors on public debt safety indicators (for ODA and concessional loans of foreign donors).

- Sustainability of a project: preliminary evaluation of the sustainability of the project, which shall be partly based on the result of preliminary evaluation of the project’s feasibility, and partly based on the socio-economic efficiency and impacts on the environment to be brought about by the project.

- It is necessary to refer to methods of project selection based on the criteria which have been/are applied by a number of donors and countries.[6]

- For to-be-loaned new projects and projects in the stage of preparation for negotiation and signing of loan agreements, ministries, sectors and localities may not use such loans for their recurrent expenditures, and may only propose the use of such loans based on the following criteria: (i) use of loans for foreign-currency expenditures (expenditures for import/procurement of foreign goods, services and consultancy); (ii) use of loans to cover expenditures for project components of construction and installation in the total investment amount; (iii) use of loans to cover expenditures related to technology transfer; it is required to clarify the necessity of borrowing loans with donors’ binding requirements on origin and contractor. It is not permitted to use loans for procurement of cars, office equipment, supplies, and standby equipment for the operation process after the projects are completed, and for organization of training courses and seminars. Counterpart funds may be used for preparation of investment projects, and payment of taxes, charges, loan interests, ground clearance expenses, and project management expenses under regulations.

III. SOLUTIONS FOR IMPLEMENTATION OF THE SCHEME

To meet major requirements, objectives and tasks set forth in the Scheme, it is necessary to implement the following major groups of solutions:

1. Group of solutions on improvement of mechanisms, policies and institutions:

a/ To continue to review mechanisms, policies and regulations related to the processes and procedures in order to revise them according to the competence, or report them to competent authorities under regulations for revision. To intensify the decentralization and delegation of powers, ensuring the uniform management, effect, operation efficiency and lawfulness.

b/ To improve the legal framework for mobilization of foreign loans, ensuring the effect, efficiency and compliance with domestic law, taking into account its harmony with donors’ policies and international practice in the capital market.

c/ The Ministry of Planning and Investment shall study and submit to the Government the amendment and supplementation of a number of articles of the Law on Public Investment and Bidding Law concerning the use of ODA and concessional loans of foreign donors so as to facilitate the preparation of investment and implementation of programs and projects.

d/ With a view to intensifying the decentralization to reduce procedures, simplify provisions of Vietnam’s law and ensure their harmony with donors’ policies and regulations, the Ministry of Justice, Ministry of Finance, Ministry of Planning and Investment, Ministry of Foreign Affairs, and State Bank of Vietnam shall perform their assigned tasks according to the instructions of the Permanent Deputy Prime Minister Pham Binh Minh in the Government Office’s Document No. 8304/VPCP-QHQT of November 11, 2021, on procedures for receipt, conclusion of agreements on, management and use of, ODA and concessional loans at the request of the President.

2. Group of solutions on raising the effectiveness of attracting and using ODA and concessional loans of foreign donors:

a/ To mobilize and effectively use ODA and concessional loans of foreign donors; to make focused investment, avoiding scattered, thinned-out and fragmented investment; to ensure compliance with socio-economic development objectives, orientations and tasks, and public investment plans approved by the National Assembly, allocating more resources for accelerating the implementation progress; to bring into play the leading role of this funding source with spillover effects in public investment, which is regarded as a “lure” and a “catalyst” for mobilizing investment from the non-state sector, and creating a new space and driving force for promotion of sustainable socio-economic development.

b/ To further step up the coordination and information exchange with foreign donors in order to intensify the mobilization and attraction of, and effectively use ODA and concessional loans, attaching special importance to large-scale projects on socio-economic development, inter-regional infrastructure connectivity projects with spillover effects, projects on response to and control of climate change, and aid amounts for COVID-19 prevention and control.

c/ Ministries, sectors and localities need to select projects which will bring about efficiency and be within the general balancing of medium-term public investment and medium-term public debts, and suit the on-lending capacity of localities. d/ To review ongoing programs and projects and those for which agreements have been signed, ensuring that they are allocated with sufficient funds.

d/ To review programs and projects currently implemented and for which agreements have been concluded, ensuring allocation of sufficient funds for them.

dd/ For ODA and concessional loans of foreign donors:

- To optimize the remaining ODA loans and reasonably mobilize the concessional loans committed during 2016-2020 as well as in the subsequent years; to prioritize the mobilization of funding sources with long loan terms, low interest rates, and the high grant element. To focus on disbursement of ODA and foreign concessional loans for signed agreements through the end of 2020, to be carried forward to the 2021-2025 period.

- Mobilized foreign loans shall be used for a number of key sectors to optimize the scale-based economic efficiency; and for projects that will directly promote growth in association with sustainable development, projects that may generate foreign-currency revenues, projects with the spillover effect (such as projects on adaptation to climate change, improvement of environmental quality, education, healthcare, technology, and skill improvement), and projects on essential economic infrastructure that are incapable of directly recovering invested funds. To prioritize borrowing loans for on-lending for projects which are capable of directly recovering invested funds.

- To renew the mechanism on mobilization of ODA and foreign concessional loans toward formulating a number of public investment programs to implement important projects that have spillover effects nationwide or in a number of regions based on prioritized targets instead of approaching separate, scattered and inefficient projects. To incrementally shift from borrowing loans for programs and projects to borrowing loans for budget support in order to increase the initiative and use efficiency of the Government’s loans.

3. Group of solutions on organization, administration and acceleration of the implementation progress of programs and projects:

a/ To enhance the effect and effectiveness of the National Steering Committee on ODA and Concessional Loans in the removal of difficulties for each project, which falls beyond the competence of a ministry, sector or locality and requires the interdisciplinary coordination; to organize periodical meetings between the National Steering Committee on ODA and Concessional Loans and the Group of 6 Development Banks in order to identify problems from both sides to jointly seek appropriate solutions and plans.

b/ Ministries, central agencies, and localities:

- To enhance their implementation capacity on par with the uniform direction and administration from the central to local levels, clearly identifying and intensifying the role and responsibilities of Party Committees, administrations, agencies and organizations, especially the responsibilities of their heads, in different stages of the investment process from formulation, assignment, and allocation of plans , to plan implementation, especially in the work of compensation, support and resettlement; to step up the inspection, examination, supervision; to carry out commendation and  disciplining in a prompt and strict manner.

- To immediately establish special working groups for promoting the disbursement of investment capital in every ministry, agency and locality, which are led by ministers, heads of agencies or units, or chairpersons of People’s Committees at all levels to regularly lead, urge, examine, supervise, and settle bottlenecks in the disbursement of public investment funds. To formulate a detailed disbursement plan for each project, especially key projects, and projects which are invested with large capital amounts; to assign heads of agencies, units and localities to take charge of every project; to organize regular meetings with relevant agencies and units to promptly grasp the situation and remove difficulties and obstacles in the disbursement process.

- To ensure that the allocation of ODA and foreign concessional loans fully adheres to the principles and meets the criteria specified in the National Assembly’s Resolution No. 973/2020/UBTVQH14 of July 8, 2020, and the Prime Minister’s Decision No. 26/2020/QD-TTg of September 14, 2020, detailing a number of articles of Resolution No. 973/2020/UBTVQH14.

- To accelerate the completion of investment procedures (technical designs, cost estimates, etc.); to carry out pre-acceptance tests, payment, and account-finalization for completed works/works items, not transferring these jobs to the year-end; to allocate sufficient counterpart funds, and speed up the completion of procedures for signing and handing over contracts for bidding packages.

4. Group of solutions on promotion of disbursement for programs and projects:

a/ Ministries, central agencies and localities shall accelerate the completion of investment procedures (technical designs, estimates, etc.); carry out pre-acceptance tests, payment, and account-finalization for completed works/works items, not transferring these jobs to the year-end; allocate sufficient counterpart funds, and speed up the completion of procedures for signing and handing over contracts for bidding packages.

b/ The Ministry of Finance shall accelerate the application of information technology in the disbursement of ODA and concessional loans.

5. Group of solutions on organization of implementation of programs and projects:

Managing agencies and project owners shall implement the following solutions:

a/ To improve the quality of preparation and organization of implementation of public investment projects, ensuring their practicality so as to minimize adjustments in the implementation process; not to propose project components that apply quickly outdated technologies and fall within the capacity of domestic enterprises; to closely control the scope, scale and total investment amount of each investment project according to their objectives and sectors in accordance with law.

b/ To build the capacity of organizing the implementation of ODA projects for managing agencies, project owners and project management units, ensuring that the contingent of project management officers possess high qualifications. To apply sanctions for strictly handling project owners, project management units, and organizations and individuals that deliberately obstruct or delay the progress of allocation, implementation and disbursement of public investment funds.

c/ To seriously carry out the monitoring and evaluation, especially of the regime of periodical reporting on the attraction and use of ODA and foreign concessional loans.

IV. ORGANIZATION OF IMPLEMENTATION

1. Public communication about and implementation of the Scheme

The Ministry of Planning and Investment shall implement public communication on the Scheme’s contents to Vietnamese agencies, donors, and the media.

Ministries, central agencies and localities shall grasp the spirit and directing principles of, and formulate orientations on priorities in the attraction , management and use of ODA and concessional loans of foreign donors to support the implementation of their socio-economic development plans, implement solutions for enhancing the efficiency of use of ODA and concessional loans of foreign donors, and promptly settle arising problems in the course of implementation and disbursement of these loans.

2. Monitoring and evaluation of the situation and results of implementation of the Scheme

Ministries, central agencies and localities shall include information on the situation and results of implementation of the Scheme in their annual reports on management and use of ODA and concessional loans of foreign donors, including proposals and recommendations for adopting solutions to promptly settle arising problems in the course of implementation of the Scheme.

The Ministry of Planning and Investment shall annually report to the Government and the National Steering Committee on ODA and Concessional Loans of Foreign Donors on the updated situation and results of implementation of the Scheme.- 

 

[1] Công Báo Nos 1069-1070 (27/12/2021)

[2] The 2015 Law on the State Budget, the 2016 Law on Conclusion of Treaties, the 2017 Law on Public Debt Management, the 2017 Planning Law, the 2019 Law on Public Investment, the 2019 Law on Construction, the 2020 Law on Investment in the Form of Public-Private Partnership, the 2020 Law on Environmental Protection, the Government’s Decrees No. 97/2018/ND-CP, No. 16/2016/ND-CP, No. 132/2018/ND-CP, and No. 56/2020/ND-CP, and the Prime Minister’s Directive No. 18/CT-TTg, etc.

[3] Of which, the disbursed amount for projects carried forward from the 2011-2015 period to the 2016-2020 period reached around USD 180 trillion, equivalent to 63% of the amount assigned by the Prime Minister.

 

[4] Stated in Resolution No. 16/2021/QH15 on the 2021-2025 five-year socio-economic development plan

[5] Stated in the Documents of the XIIIth National Party Congress

[6] For example, the evaluation criteria applied by JICA, according to which, if the project gets over 80 points to 100 points, it will be classified as class A (good); if the project gets 50-80 points, it will be classified as class B (satisfactory) ; if the project gets below 50 points, it will be classified as class C (unsatisfactory).

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem bản dịch TTXVN.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Văn bản này chưa có chỉ dẫn thay đổi
văn bản TIẾNG ANH
Công báo tiếng Anh
download Decision 2109/QD-TTg DOC (Word)
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao để tải file.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

download Decision 2109/QD-TTg PDF
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao để tải file.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Bản dịch LuatVietnam
download Decision 2109/QD-TTg DOC (Word)
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao để tải file.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

download Decision 2109/QD-TTg PDF
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao để tải file.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi

19006192

Theo dõi LuatVietnam trên YouTube

TẠI ĐÂY

văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đợi