Quyết định 39/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước

Tóm tắt Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

QUYẾT ĐỊNH

CỦA THỦ TUỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 39/2008/QĐ-TTg  NGÀY 14 THÁNG 3 NĂM 2008

BAN HÀNH QUY CHẾ ĐẤU THẦU, ĐẶT HÀNG, GIAO NHIỆM VỤ

CUNG CẤP DỊCH VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

THỦ TUỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 16 tháng 12 năm 2002;

Căn cứ Luật Đấu thầu ngày 25 tháng 11 năm 2005;

Cặn cứ Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính;

QUYẾT ĐỊNH :

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

   THỦ TƯỚNG

Nguyễn Tấn Dũng

QUY CHẾ

ĐẤU THẦU, ĐẶT HÀNG, GIAO NHIỆM VỤ CUNG CẤP

DỊCH VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

(Ban hành kèm theo Quyết định số 39/2008/QĐ-TTg

ngày 14 tháng 03 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ)

Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Quy chế này quy định về đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp một số dịch vụ sự nghiệp công do ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Các cơ quan quản lý nhà nước; cơ quan được giao dự toán kinh phí để thực hiện các dịch vụ sự nghiệp công, các cơ quan được giao nhiệm vụ hoặc uỷ quyền tổ chức đấu thầu (hoặc đặt hàng) cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước.
2. Các tổ chức trong nước và nước ngoài có tư cách pháp nhân, cá nhân hành nghề độc lập, hoạt động hợp pháp tại Việt Nam có đủ điều kiện và chức năng cung ứng các dịch vụ sự nghiệp phù hợp với yêu cầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công của nhà nước (sau đây gọi tắt là nhà cung cấp).
Điều 3. Giải thích từ ngữ
1. "Dịch vụ sự nghiệp công" trong Quy chế này được hiểu là các hoạt động thuộc trách nhiệm của Nhà nước phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân và cộng đồng xã hội.
2. "Đặt hàng dịch vụ sự nghiệp công" là việc cơ quan nhà nước chỉ định nhà cung cấp dịch vụ sự nghiệp cho nhân dân và cộng đồng xã hội, đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng, đơn giá, thời gian thực hiện các dịch vụ sự nghiệp công.
3. "Đấu thầu dịch vụ sự nghiệp công" là quá trình đấu thầu để lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ công (tổ chức, cá nhân) có đủ năng lực, kinh nghiệm tốt nhất để thực hiện cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công đáp ứng được các yêu cầu của cơ quan mời thầu, trên cơ sở cạnh tranh công bằng, minh bạch và hiệu quả.
Điều 4. Danh mục các dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thực hiện đấu thầu hoặc đặt hàng cung cấp dịch vụ
1. Danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước phải tổ chức đấu thầu, hoặc thực hiện đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định này.
2. Căn cứ tình hình thực tế, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc sửa đổi, bổ sung Danh mục dịch vụ sự nghiệp công bắt buộc phải tổ chức đấu thầu, hoặc đặt hàng đối với dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước cho phù hợp.
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương (sau đây gọi tắt là Thủ trưởng cơ quan ở trung ương); Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), căn cứ vào các nội dung quy định về đấu thầu, đặt hàng dịch vụ sự nghiệp công theo quy định tại Quy chế này và tình hình cụ thể để quyết định việc bổ sung các loại hình dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước phải thực hiện đấu thầu (hoặc đặt hàng), ngoài danh mục dịch vụ sự nghiệp công thực hiện đấu thầu (hoặc đặt hàng) được quy định tại Phụ lục kèm theo Quyết định này, đồng thời báo cáo Bộ Tài chính để theo dõi, quản lý.
3. Đối với những dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước được quy định trong Danh mục, thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương nếu chưa đủ điều kiện thực hiện đấu thầu (hoặc đặt hàng) thì Thủ trưởng cơ quan ở trung ương quyết định giao nhiệm vụ cho đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo quy định hiện hành. Đối với những dịch vụ sự nghiệp công không đủ điều kiện đấu thầu (hoặc đặt hàng) thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giao nhiệm vụ cho đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc thực hiện theo quy định hiện hành.
Chương II
ĐẤU THẦU CUNG CẤP DỊCH VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG
Điều 5. Điều kiện xác định dịch vụ sự nghiệp công thực hiện đấu thầu

Dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thực hiện đấu thầu khi có đủ các điều kiện sau:
1. Dịch vụ sự nghiệp công do nhà nước bảo đảm kinh phí thực hiện.
2. Xác định được đối tượng sử dụng dịch vụ sự nghiệp công.
3. Được phân bổ dự toán kinh phí.
4. Xác định được tiêu chuẩn và chất lượng dịch vụ sự nghiệp công.
5. Dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước có tổng trị giá từ 500 triệu đồng trở lên.
6. Được Thủ trưởng cơ quan ở trung ương quyết định thực hiện hình thức đấu thầu (đối với dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương); Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định hình thức đấu thầu (đối với dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương).
Các dịch vụ sự nghiệp công không đủ các điều kiện để thực hiện đấu thầu sẽ được thực hiện đặt hàng theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Quy chế này.
Điều 6. Xây dựng kế hoạch và ban hành tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu dịch vụ sự nghiệp công
1. Căn cứ xây dựng kế hoạch đấu thầu dịch vụ sự nghiệp công.
a) Là dịch vụ sự nghiệp công thuộc danh mục phải đấu thầu.
b) Dự toán được cấp có thẩm quyền giao để thực hiện dịch vụ sự nghiệp công.
c) Các tài liệu và văn bản pháp lý có liên quan.
2. Nội dung kế hoạch đấu thầu.
Tùy theo tính chất và trình tự thực hiện, có thể chia dịch vụ sự nghiệp công thành các gói thầu. Việc phân chia thành các gói thầu phải bảo đảm tính đồng bộ của dịch vụ. Nội dung của từng gói thầu trong kế hoạch đấu thầu bao gồm:
a) Tên gói thầu: tên gói thầu thể hiện tính chất, nội dung và phạm vi công việc của gói thầu, phù hợp với nội dung nêu trong dịch vụ;
b) Tiêu chuẩn và mục tiêu của gói thầu;
c) Giá gói thầu: giá gói thầu do cơ quan tổ chức đấu thầu xây dựng dựa trên các định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức chi phí hiện hành do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành;
d) Hình thức lựa chọn nhà cung cấp; phương thức đấu thầu;
đ) Hình thức hợp đồng;
e) Nguồn vốn: đối với mỗi gói thầu phải nêu rõ nguồn vốn và phương thúc thanh toán cho nhà cung cấp;
g) Thời gian lựa chọn nhà cung cấp: thời gian tổ chức thực hiện việc lựa chọn nhà cung cấp thực hiện gói thầu để bảo đảm tiến độ của gói thầu theo đúng quy định của Luật Đấu thầu,
h) Thời gian thực hiện hợp đồng: thời gian thực hiện hợp đồng phải bảo đảm việc thực hiện gói thầu phù hợp với tiến độ thực hiện dịch vụ sự nghiệp công.
3. Việc xây dựng tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu dịch vụ sự nghiệp công bao gồm:
a) Tiêu chuẩn đối với nhà cung cấp dịch vụ sự nghiệp công.
- Tiêu chuẩn đánh giá về năng lực tài chính, kinh nghiệm của nhà cung cấp dịch vụ sự nghiệp công;
- Tiêu chuẩn đánh giá về năng lực quản lý và lực lượng lao động tham gia vào cung cấp dịch vụ sự nghiệp công;
- Tiêu chuẩn đánh giá về mặt kỹ thuật;
- Thời gian cung cấp dịch vụ sự nghiệp công.
b) Tiêu chuẩn đối với dịch vụ sự nghiệp công.
- Tiêu chuẩn đánh giá về quy trình xác định công nghệ hình thành dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước;
- Tiêu chuẩn về giá (hoặc đơn giá) dịch vụ sự nghiệp công;
- Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng thực hiện thông qua kết quả, hoặc sản phẩm của dịch vụ sự nghiệp công;
- Quy trình, tiêu chuẩn đánh giá về kỹ thuật đối với dịch vụ sự nghiệp công.
4. Trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương trong việc ban hành tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu dịch vụ sự nghiệp công:
a) Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực có dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước phải đấu thầu xây dựng, ban hành tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu cho từng loại dịch vụ sự nghiệp công thuộc ngành, lĩnh vực quản lý làm căn cứ đánh giá hồ sơ dự thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công.
b) Thủ trưởng cơ quan trung ương có trách nhiệm:
- Ban hành tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu, tiêu chuẩn lựa chọn nhà cung cấp đối với dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương;
- Ban hành hồ sơ mẫu đấu thầu dịch vụ sự nghiệp công trong từng lĩnh vực;
- Cụ thể hoá các tiêu chuẩn do các Bộ quản lý ngành ban hành để thực hiện đấu thầu dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của mình.
c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm:
Căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu dịch vụ sự nghiệp công do các Bộ ban hành tại điểm a khoản 4 nêu trên để cụ thể hoá tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu, tiêu chuẩn lựa chọn nhà cung cấp đối với dịch vụ sự nghiệp công thuộc phạm vi nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương cho phù hợp với điều kiện cụ thể.
Điều 7. Trình duyệt, phê duyệt kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu và kết quả lựa chọn nhà cung cấp
1. Trình duyệt kế hoạch đấu thầu:
Cơ quan được phân công tổ chức đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước có trách nhiệm trình kế hoạch đấu thầu lên người có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch đấu thầu để xem xét phê duyệt (được quy định dưới đây); đồng thời gửi cho cơ quan, tổ chức, bộ phận thẩm định trong đấu thầu được quy định tại Điều 8 Quy chế này.
2. Thẩm quyền phê duyệt kế hoạch đấu thầu:
a) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ở trung ương chịu trách nhiệm phê duyệt kế hoạch đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công đối với các dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương;
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm phê duyệt kế hoạch đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công do nhà nước đặt hàng đối với các dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương.
3. Thẩm quyền phê duyệt hồ sơ mời thầu, phê duyệt kết quả lựa chọn nhà cung cấp:
a) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ở trung ương chịu trách nhiệm phê duyệt, hoặc uỷ quyền cho thủ trưởng đơn vị cấp dưới trực thuộc phê duyệt hồ sơ mời thầu, kết quả lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ sự nghiệp công do nhà nước đặt hàng đối với các dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương trên cơ sở báo cáo của cơ quan thẩm định.
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm phê duyệt hoặc phân cấp cho thủ trưởng đơn vị, cơ quan chuyên môn trực thuộc phê duyệt hồ sơ mời thầu, kết quả lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ sự nghiệp công đối với các dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi ngân sách của địa phương trên cơ sở báo cáo của cơ quan thẩm định.
Điều 8. Thẩm định trong đấu thầu

Thẩm định trong đấu thầu bao gồm thẩm định kế hoạch đấu thầu, thẩm định hồ sơ mời thầu, thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu.
1. Cơ quan, tổ chức, bộ phận thẩm định:
a) Thủ trưởng cơ quan ở trung ương chịu trách nhiệm tổ chức thẩm định trong đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước; hoặc quyết định cơ quan, tổ chức, bộ phận chịu trách nhiệm tổ chức thẩm định kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu và kết quả lựa chọn nhà cung cấp.
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức thẩm định trong đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thuộc ngân sách địa phương; hoặc quyết định phân cấp về thẩm quyền cho Sở Tài chính, hoặc Sở chuyên ngành có liên quan chịu trách nhiệm chủ trì tổ chức thẩm định kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu và kết quả lựa chọn nhà cung cấp.
2. Yêu cầu thẩm định:
a) Cơ quan, tổ chức, bộ phận được giao nhiệm vụ thẩm định kế hoạch đấu thầu tiến hành kiểm tra, đánh giá các nội dung theo quy định tại Điều 5, Điều 6 Quyết định này lập báo cáo kết quả thẩm định trình người có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch đấu thầu.
b) Thời gian thẩm định trong đấu thầu tối đa là 20 (hai mươi) ngày, kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ.
Điều 9. Chi phí trong đấu thầu

Căn cứ vào các quy định của pháp luật về đấu thầu, Bộ Tài chính quy định và hướng dẫn cụ thể về mức giá bán bộ hồ sơ mời thầu, chi phí thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu, chi phí cho Hội đồng tư vấn giải quyết kiến nghị của nhà thầu và kết quả lựa chọn nhà thầu đối với từng loại dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước.
Điều 10. Hình thức lựa chọn nhà cung cấp
1. Đấu thầu rộng rãi: các dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thuộc danh mục bắt buộc đấu thầu phải tổ chức đấu thầu rộng rãi.
2. Đấu thầu hạn chế: áp dụng trong trường hợp dịch vụ sự nghiệp công có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc có tính đặc thù; dịch vụ sự nghiệp công có tính chất nghiện cứu, thử nghiệm mà chỉ có một số nhà cung cấp có khả năng đáp ứng yêu cầu của gói thầu.
3. Chỉ định thầu: áp dụng trong trường hợp tổng giá trị của gói thầu dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước dưới 500 triệu đồng. Việc chỉ định thầu phải được người có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch đấu thầu được quy định tại Điều 7 Quy chế này quyết định.
Điều 11. Thẩm quyền quyết định tổ chức đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công
1. Thủ trưởng cơ quan ở trung ương chịu trách nhiệm quyết định tổ chức đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công; hoặc quyết định phân cấp về thẩm quyền cho thủ trưởng cơ quan chuyên môn trực thuộc tổ chức đấu thầu cung cấp dịch vụ đối với các dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm quyết định tổ chức đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công; hoặc quyết định phân cấp về thẩm quyền cho thủ trưởng các cơ quan chuyên môn trực thuộc tổ chức đấu thầu cung cấp dịch vụ đối với các dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương.
Điều 12. Điều kiện tổ chức đấu thầu và tham gia dự thầu
1. Việc tổ chức đấu thầu để cung cấp dịch vụ sự nghiệp công chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau:
a) Có kế hoạch đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
b) Hồ sơ mời thầu đã được người có thẩm quyền phê duyệt.
Cơ quan tổ chức mời thầu phải cung cấp hồ sơ mời thầu cho các nhà cung cấp có nhu cầu tham gia đấu thầu. Trong hồ sơ mời thầu không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia của nhà cung cấp hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà cung cấp gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng.
Đối với dịch vụ sự nghiệp công khi thực hiện chỉ định thầu phải lập kế hoạch và được phê duyệt trong kế hoạch đấu thầu, đồng thời phải duyệt giá dự toán đối với dịch vụ sự nghiệp này;
c) Thông tin về đấu thầu đã được đăng tải theo quy định của pháp luật về đấu thầu;
d) Dịch vụ sự nghiệp công được giao dự toán kinh phí thực hiện.
2. Các nhà cung cấp dịch vụ tham gia dự thầu phải có đủ các điều kiện sau:
a) Có chức năng cung ứng các dịch vụ phù hợp với dịch vụ sự nghiệp công tham gia đấu thầu;
b) Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngành, nghề phù hợp với dịch vụ sự nghiệp công tham gia đấu thầu;
c) Có tư cách pháp nhân (đối với nhà cung cấp là tổ chức, đơn vị trong nước và nước ngoài);
d) Không bị cơ quan có thẩm quyền kết luận về tình hình tài chính không lành mạnh, đang lâm vào tình trạng phá sản hoặc nợ đọng không có khả năng chi trả; đang trong quá trình giải thể;
đ) Nộp tiền bảo lãnh thầu theo yêu cầu của cơ quan tổ chức đấu thầu;
e) Đáp ứng yêu cầu nêu trong thông báo mời thầu hoặc thư mời thầu của bên mời thầu.
Điều 13. Tổ chức đấu thầu
1. Phát hành hồ sơ mời thầu: cơ quan tổ chức mời thầu bán hồ sơ mời thầu tới trước thời điểm đóng thầu cho các nhà cung cấp theo danh sách mời tham gia đấu thầu; giá bán hồ sơ mời thầu do Bộ Tài chính quy định. Thời hạn đăng thông báo mời thầu tối thiểu 10 ngày trước khi phát hành hồ sơ mời thầu.
2. Chuẩn bị hồ sơ dự thầu: nhà cung cấp chuẩn bị hồ sơ dự thầu theo yêu cầu của cơ quan mời thầu, nộp hồ sơ dự thầu cùng với bảo đảm dự thầu. Trường hợp nhà cung cấp cần thay đổi tư cách (tên) tham gia đấu thầu so với khi mua hồ sơ mời thầu, đăng ký tham gia đấu thầu thì phải thông báo bằng văn bản tới cơ quan tổ chức mời thầu. Cơ quan tổ chức mời thầu chỉ xem xét khi nhận được văn bản thông báo này trước thời điểm đóng thầu.
Trường hợp tại thời điểm đóng thầu có dưới 3 (ba) nhà cung cấp tham gia đấu thầu, cơ quan được giao nhiệm vụ tổ chức đấu thầu phải báo cáo người có thẩm quyền quyết định.
3. Tiếp nhận và quản lý hồ sơ dự thầu: cơ quan tổ chức mời thầu tiếp nhận và quản lý các hồ sơ dự thầu đã nộp theo chế độ quản lý hồ sợ "mật". Hồ sơ dự thầu được gửi đến cơ quan tổ chức mời thầu sau thời điểm đóng thầu đều được coi là không hợp lệ và được gửi trả lại cho nhà cung cấp theo nguyên trạng. Bất kỳ tài liệu nào được nhà cung cấp gửi đến sau thời điểm đóng thầu để sửa đổi, bổ sung hồ sơ dự thầu đã nộp đều được coi là không hợp lệ (trừ văn bản làm rõ hồ sơ dự thầu).
4. Sửa đổi hoặc rút hồ sơ dự thầu: khi muốn sửa đổi hoặc rút hồ sơ dự thầu đã nộp, nhà cung cấp phải có văn bản đề nghị và cơ quan tổ chức mời thầu chỉ chấp thuận nếu nhận được văn bản đề nghị của nhà cung cấp trước thời điểm đóng thầu; văn bản đề nghị rút hồ sơ dự thầu phải được gửi riêng biệt với hồ sơ dự thầu.
5. Mở thầu:
a) Việc mở thầu phải được tiến hành công khai ngay sau thời điểm đóng thầu theo ngày, giờ, địa điểm quy định trong hồ sơ mời thầu trước sự chứng kiến của những người có mặt và không phụ thuộc vào sự có mặt hay vắng mặt của các nhà cung cấp được mời. Cơ quan tổ chức đấu thầu có thể mời đại diện các cơ quan liên quan đến tham dự lễ mở thầu.
b) Cơ quan tổ chức mời thầu tiến hành mở hồ sơ của từng nhà cung cấp theo thứ tự chữ cái tên của nhà thầu và theo trình tự sau đây:
- Kiểm tra niêm phong;
- Mở hồ sơ, đọc và ghi vào biên bản các thông tin chủ yếu san đây:
+ Tên nhà thầu;
+ Số lượng bản gốc, bản chụp hồ sơ;
+ Thời gian có hiệu lực của hồ sơ;
+ Văn bản đề nghị sửa đổi hồ sơ (nếu có);
+ Các thông tin khác có liên quan.
Biên bản mở thầu cần được đại diện các nhà cung cấp, đại diện cơ quan tôe chức đấu thầu, đại diện các cơ quan liên quan tham dự ký xác nhận.
6. Những vấn đề về thông tin trong đấu thầu, xử lý đấu thầu và các quy định khác không nêu trong Quy chế này thì thực hiện theo Luật Đấu thầu và các văn bản hướng dẫn Luật Đấu thầu.
Điều 14. Đánh giá hồ sơ dự thầu
1. Cơ quan tổ chức đấu thầu chịu trách nhiệm đánh giá hồ sơ dự thầu đối với dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước. Việc đánh giá hồ sơ dự thầu phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu và các yêu cầu khác trong hồ sơ mời thầu để bảo đảm lựa chọn được nhà cung cấp có đủ năng lực kinh nghiệm, có giải pháp khả thi để thực hiện cung cấp dịch vụ sự nghiệp công.
2. Phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu.
Sử dụng phương pháp thang điểm để đánh giá, xếp hạng hồ sơ dự thầu.
3. Cách đánh giá:
a) Đánh giá sơ bộ trên cơ sở kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ dự thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu, đánh giá năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu theo tiêu chuẩn đánh giá về năng lực kinh nghiệm nêu trong hồ sơ mời thầu;
b) Đánh giá về mặt công nghệ thực hiện để cung ứng dịch vụ sự nghiệp công;
c) Số lượng, chất lượng, thời gian cung ứng dịch vụ sự nghiệp công;
d) Đánh giá về mặt tài chính: căn cứ theo tiêu chuẩn đánh giá về mặt tài chính nêu trong hồ sơ mời thầu.
Điều 15. Giá gói thầu, giá dự thầu, giá trúng thầu, giá hợp đồng
1. Giá gói thầu là giá trị gói thầu được xác định trong kế hoạch đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công trên cơ sở dự toán đã được người có thẩm quyền phê duyệt hoặc giá của cơ quan có chức năng thẩm định.
Giá gói thầu do cơ quan tổ chức đấu thầu xây dựng dựa trên các định mức kinh tế kỹ thuật, định mức chi phí hiện hành do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành.
2. Giá dự thầu là giá do nhà thầu nêu trong hồ sơ dự thầu sau khi đã trừ phần giảm giá (nếu có), bao gồm toàn bộ các chi phí cần thiết để thực hiện gói thầu kể cả các loại thuế, phí, lệ phí và các nghĩa vụ tài chính theo luật định mà nhà thầu phải nộp khi thực hiện gói thầu.
3. Giá trúng thầu là giá được người có thẩm quyền hoặc người có thẩm quyền phê duyệt theo kết quả đấu thầu để làm căn cứ cho bên mời thầu thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng với nhà thầu trúng thầu. Giá trúng thầu không được vượt giá gói thầu trong kế hoạch đấu thầu được duyệt.
4. Giá hợp đồng là giá được bên mời thầu và nhà thầu trúng thầu thoả thuận sau khi thương thảo, hoàn thiện hợp đồng và không được vượt giá trúng thầu.
Giá hợp đồng cùng với các điều kiện cụ thể về thanh toán là cơ sở để thanh toán và quyết toán chi đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công.
Đối với các dịch vụ sự nghiệp công thuộc lĩnh vực đào tạo, dạy nghề, y tế và một số dịch vụ sự nghiệp công khác có quy định về thu phí, học phí, thì một phần thu phí, học phí sẽ được tính vào giá gói thầu, giá dự thầu, giá trúng thầu, giá hợp đồng. Nhà cung cấp dịch vụ được phép thu phần học phí, viện phí, lệ phí này từ đối tượng sử dụng dịch vụ sự nghiệp công theo quy định của pháp luật.
Điều 16. Hợp đồng giao nhận cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, điều chỉnh hợp đồng
1. Sau khi kết quả đấu thầu được người có thẩm quyền phê duyệt, cơ quan tổ chức đấu thầu và nhà cung cấp dịch vụ tiến hành ký hợp đồng theo đúng quy định của pháp luật.
2. Nội dung hợp đồng phù hợp với các nội dung đã quy định tại hồ sơ mời thầu và phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.
Ngoài ra, các bên có thể thoả thuận bổ sung một số nội dung khác trong hợp đồng nhưng không trái với các quy định của pháp luật.
3. Trong quá trình thực hiện hợp đồng có phát sinh tình huống, khó khăn cho việc thực hiện hợp đồng thì bên mời thầu, nhà cung cấp phải báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Điều 17. Quyền và nghĩa vụ của nhà cung cấp
Nhà cung cấp dịch vụ được lựa chọn trúng thầu cung cấp dịch vụ có quyền và nghĩa vụ:
1. Thực hiện đúng và đầy đủ hợp đồng giao nhận và cung cấp dịch vụ sự nghiệp công đã ký kết; có các quyền và nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng và pháp luật có liên quan.
2. Chấp hành đúng quy định của pháp luật về kế toán, thống kê. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về dịch vụ do mình cung cấp.
3. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về thuế, phí, lệ phí theo quy định của pháp luật hiện hành.
4. Chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Chương III
ĐẶT HÀNG THỰC HIỆN CUNG CẤP DỊCH VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG
Điều 18. Điều kiện đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công
1. Đối với những dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước nếu không đủ điều kiện để đấu thầu (nêu tại Điều 5 Quy chế này) hoặc chỉ có một nhà cung cấp duy nhất không thể thực hiện đấu thầu; các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học được bố trí kinh phí từ ngân sách nhà nước được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đặt hàng.
2. Nhà cung cấp nhận đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước phải có đủ năng lực về vốn, trình độ kỹ thuật, công nghệ sản xuất, trình độ quản lý và đội ngũ người lao động đáp ứng được các yêu cầu của hợp đồng đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công.
Điều 19. Thẩm quyền quyết định đặt hàng, cơ quan thực hiện đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công
1. Thủ trưởng cơ quan ở trung ương quyết định về đặt hàng đối với dịch vụ sự nghiệp công không đủ điều kiện để đấu thầu, các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học được bố trí từ ngân sách trung ương; ủy quyền cho Thủ trưởng cơ quan chuyên môn trực thuộc thực hiện đặt hàng cung cấp dịch vụ đối với các dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định về đặt hàng đối với dịch vụ sự nghiệp công không đủ điều kiện đấu thầu, các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học được bố trí từ ngân sách địa phương; ủy quyền cho Thủ trưởng cơ quan chuyên môn trực thuộc thực hiện đặt hàng cung cấp dịch vụ đối với các dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương.
Điều 20. Đặt hàng đối với dịch vụ sự nghiệp công
1. Căn cứ đặt hàng:
a) Quyết định của người có thẩm quyền quyết định đặt hàng đối với dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước;
b) Đơn giá, hoặc giá của dịch vụ công cung cấp theo phương thức đặt hàng được xác định trên cơ sở áp dụng các định mức kinh tế kỹ thuật, định mức chi phí hiện hành do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Đối với dịch vụ sự nghiệp công thuộc danh mục nhà nước phải thẩm định giá thì đơn giá đặt hàng là thông báo thẩm định giá của cơ quan quản lý giá theo quy định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Giá và quy định của pháp luật có liên quan;
c) Số lượng, khối lượng, chất lượng dịch vụ sự nghiệp công cần thực hiện theo chỉ tiêu được người có thẩm quyền phê duyệt;
d) Thời gian triển khai và thời gian hoàn hành;
đ) Dự toán được người có thẩm quyền giao.
2. Nội dung hợp đồng đặt hàng sản xuất và cung cấp dịch vụ sự nghiệp công:
Căn cứ đặc thù của các dịch vụ sự nghiệp công được đặt hàng, cơ quan đặt hàng ký kết hợp đồng với nhà cung cấp theo các chỉ tiêu chủ yếu sau:
a) Tên dịch vụ sự nghiệp công; đề tài, dự án nghiên cứu khoa học;
b) Số lượng, khối lượng;
c) Chất lượng;
d) Giá, đơn giá;
đ) Số lượng, khối lượng dịch vụ sự nghiệp công, đề tài, dự án nghiên cứu khoa học;
e) Giá trị hợp đồng;
g) Thời gian hoàn thành;
h) Phương thức nghiệm thu, thanh toán;
i) Trách nhiệm và nghĩa vụ giữa cơ quan đặt hàng và nhà cung cấp;
k) Trách nhiệm của các bên do vi phạm hợp đồng.
Ngoài ra, các bên có thể thoả thuận bổ sung một số nội dung khác trong hợp đồng nhưng không trái với quy định của pháp luật.
Điều 21. Điều chỉnh giá trị hợp đồng đặt hàng
Giá trị hợp đồng đặt hàng chỉ được điều chỉnh khi được cơ quan có thẩm quyền cho phép trong các trường hợp:
1. Nhà nước điều chỉnh định mức kinh tế kỹ thuật; định mức chi từ dự toán ngân sách nhà nước đối với dịch vụ sự nghiệp công, hoặc đề tài, dự án khoa học công nghệ.
2. Nhà nước thay đổi về cơ chế, chính sách tiền lương, giá nguyên nhiên vật liệu.
Chương IV
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC KHI THỰC HIỆN ĐẤU THẦU, ĐẶT HÀNG CUNC CẤP DỊCH VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG
Điều 22. Lập và chấp hành ngân sách nhà nước khi thực hiện đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công
1. Lập dự toán: căn cứ vào nhiệm vụ, nội dung dịch vụ sự nghiệp công cần phải đấu thầu, đặt hàng; căn cứ vào phân cấp của Bộ và địa phương; các đơn vị dự toán các cấp lập dự toán ngân sách nhà nước đối với dịch vụ sự nghiệp công thực hiện đấu thầu, đặt hàng trong năm theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước hiện hành.
2. Phân bổ và giao dự toán ngân sách về đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công: trên cơ sở dự toán được người có thẩm quyền quyết định, dự toán giao cho các đơn vị trực thuộc phải phân định rõ dự toán để thực hiện nhiệm vụ đấu thầu, đặt hàng đối với các dịch vụ sự nghiệp công.
3. Căn cứ dự toán được người có thẩm quyền giao, các đơn vị được phân cấp thực hiện tổ chức đấu thầu (đặt hàng) cung cấp dịch vụ sự nghiệp công trong phạm vi dự toán ngân sách được giao.
4. Nhà cung cấp khi trúng thầu hoặc được nhận đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công phải theo dõi, hạch toán riêng phần kinh phí được nhận do đấu thầu hoặc đặt hàng đem lại, và phải thực hiện các nghĩa vụ về tài chính (nếu có).
5. Đối với những dịch vụ sự nghiệp công được phép thu phí từ đối tượng sử dụng dịch vụ sự nghiệp công, nhà cung cấp dịch vụ phải theo dõi, phản ảnh đầy đủ các khoản được phép thu và quyết toán cùng với khoản chi do ngân sách nhà nước đảm bảo theo quy định hiện hành.
6. Chênh lệch thu lớn hơn chi từ hợp đồng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công được thực hiện như sau:
a) Đối với nhà cung cấp là đơn vị sự nghiệp công lập được quyền tự chủ theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ.
b) Đối với nhà cung cấp là cá nhân, đơn vị ngoài công lập tự quyết định sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ về tài chính đối với nhà nước.
Điều 23. Thanh toán hợp đồng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công
1. Căn cứ vào kết quả cung cấp dịch vụ sự nghiệp công và hợp đồng được ký, cơ quan đơn vị mời thầu, đặt hàng thực hiện nghiệm thu sản phẩm dịch vụ sự nghiệp công và thực hiện thanh toán theo quy định hiện hành. Cơ quan nào thực hiện đấu thầu, đặt hàng dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thì cơ quan đó chịu trách nhiệm thanh toán, quyết toán đối với dịch vụ sự nghiệp công đó bằng nguồn ngân sách được giao.
2. Trình tự và thủ tục thanh toán, quyết toán dịch vụ sự nghiệp công do nhà nước đấu thầu, đặt hàng thực hiện theo quy định tại Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn.
Điều 24. Về giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước
1. Đối với những dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước quy định tại Phụ lục kèm theo Quyết định này chưa đủ điều kiện để thực hiện đấu thầu (hoặc đặt hàng) thì Thủ trưởng cơ quan ở trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giao nhiệm vụ cho đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc thực hiện theo quy định hiện hành.
2. Trình tự phân bổ dự toán ngân sách và thủ tục thanh toán, quyết toán dịch vụ sự nghiệp công do nhà nước giao nhiệm vụ, thực hiện theo Quy định tại Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn.
Điều 25. Tổ chức kiểm tra, giám sát thực hiện
1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước:
a) Thủ trưởng cơ quan ở trung ương chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra, theo dõi và giám sát việc thực hiện đấu thầu hoặc đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công đối với các dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương;
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra, theo dõi và giám sát việc thực hiện đấu thầu hoặc đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công đối với các dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương.
2. Đối với cơ quan tài chính: cơ quan tài chính các cấp thực hiện quản lý nhà nước về tài chính trong hoạt động đấu thầu, đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước. Kho bạc Nhà nước các cấp thực hiện kiểm soát chi và thanh toán kinh phí theo hợp đồng đấu thầu hoặc đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công; định kỳ hàng tháng, quý và năm gửi báo cáo tổng hợp tình hình thực hiện cho cơ quan tài chính cùng cấp.
Điều 26. Xử lý vi phạm, tranh chấp
1. Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu, đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thì tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt theo một hoặc các hình thức sau đây: cảnh cáo, phạt tiền, cấm tham gia hoạt động đấu thầu. Đối với cán bộ, công chức có hành vi vi phạm pháp luật đấu thầu thì bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.
Thủ trưởng cơ quan ở trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ban hành quyết định xử phạt vi phạm về đấu thầu. Quyết định xử phạt phải được gửi cho tổ chức, cá nhân bị xử phạt và các cơ quan, tổ chức liên quan. Quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành trên phạm vi cả nước và trong tất cả các ngành.
2. Nguyên tắc, thủ tục xử lý vi phạm, thủ tục thi hành quyết định xử phạt, hình thức xử phạt, mức phạt được thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu và các quy định khác liên quan.
3. Trường hợp phát sinh tranh chấp giữa cơ quan tổ chức đấu thầu với nhà cung cấp, nếu không tự thoả thuận được sẽ được giải quyết tại Tòa án theo quy định của pháp luật.
4. Tổ chức, cá nhân bị xử phạt vi phạm pháp luật về đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Điều 27. Tổ chức thực hiện
1. Căn cứ vào Quy chế này, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan khác ở trung ương; Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành quy định cụ thể cho Bộ, ngành và địa phương mình.
2. Bộ trưởng Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện Quy chế này./.

   THỦ TƯỚNG

Nguyễn Tấn Dũng

Phụ lục

DANH MỤC DỊCH VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG SỬ DỤNG

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN ĐẤU THẦU, ĐẶT HÀNG

(Ban hành kèm theo Quyết định số 39/2008/QĐ-TTg

ngày 14 tháng 03 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ)

1. Dạy nghề phục vụ các ngành kinh tế theo chỉ tiêu của Nhà nước.

2. Đào tạo giáo viên các trường đại học, cao đẳng công lập chất lượng cao.

3. Đào tạo dự bị đại học đối với học sinh dân tộc nội trú.

4. Đào tạo cử nhân, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp.

5. Biên soạn giáo trình.

6. Đào tạo ngoại ngữ cho học sinh trước khi đi du học theo chương trình, kế hoạch của Nhà nước.

7. Đào tạo lưu học sinh tại Việt Nam.

8. Đào tạo chuyên gia theo yêu cầu của các ngành, lĩnh vực.

9. Sáng tác, dựng vở và biểu diễn các chương trình nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ của Nhà nước.

10. Sáng tác, biên soạn sách báo, tạp chí và các ấn phẩm văn hoá phục vụ nhiệm vụ của Nhà nước.

11. Truyền thông đối ngoại theo chuyên đề.

12. Truyền thông phục vụ chính sách dân tộc của Nhà nước theo chuyên đề.

13. Xuất bản sách báo theo chuyên đề để phục vụ nhiệm vụ chính trị đột xuất của Nhà nước.

14. Cung cấp sách, báo, văn hoá phẩm cho miền núi và dân tộc theo chương trình của Nhà nước.

15. Cung cấp dịch vụ hậu cần cho các đội tuyển quốc gia trong thời gian tập huấn, thi đấu.

16. Huấn luyện thi đấu thành tích cao do Nhà nước đặt hàng (trong lĩnh vực thể thao và dạy nghề).

17. Tổ chức lễ khai mạc, bế mạc phục vụ các ngày lễ lớn của Nhà nước, tổ chức các đại hội thể thao, văn hoá... (bao gồm dịch vụ hậu cần, phục vụ...).

18. Chương trình, đề tài, dự án, nhiệm vụ khoa học và công nghệ (bao gồm cả các dịch vụ khoa học và công nghệ).

19. Cung cấp sản phẩm dịch vụ công nghệ thông tin (không bao gồm trang thiết bị công nghệ thông tin).

20. Đo đạc đất đai để phục vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

21. Cung ứng các dịch vụ xét nghiệm, hoá chất mỹ phẩm, dược phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng vắc xin và các sinh phẩm y tế.

22. Cung ứng các hoạt động của công tác y tế dự phòng (như phun tẩm hoá chất, xử lý môi trường phòng chống dịch, tiêm phòng).

23. Đấu giá tài sản công.

Thuộc tính văn bản
Quyết định 39/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước
Cơ quan ban hành: Thủ tướng Chính phủ Số công báo: Đã biết
Số hiệu: 39/2008/QĐ-TTg Ngày đăng công báo: Đã biết
Loại văn bản: Quyết định Người ký: Nguyễn Tấn Dũng
Ngày ban hành: 14/03/2008 Ngày hết hiệu lực: Đã biết
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực: Chính sách
Tóm tắt văn bản

QUYẾT ĐỊNH

CỦA THỦ TUỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 39/2008/QĐ-TTg  NGÀY 14 THÁNG 3 NĂM 2008

BAN HÀNH QUY CHẾ ĐẤU THẦU, ĐẶT HÀNG, GIAO NHIỆM VỤ

CUNG CẤP DỊCH VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

 

 

THỦ TUỚNG CHÍNH PHỦ

 

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 16 tháng 12 năm 2002;

Căn cứ Luật Đấu thầu ngày 25 tháng 11 năm 2005;

Cặn cứ Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính;

 

QUYẾT ĐỊNH :

 

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

 

   THỦ TƯỚNG

Nguyễn Tấn Dũng

 

 

 

 

 

 

 

 

QUY CHẾ

ĐẤU THẦU, ĐẶT HÀNG, GIAO NHIỆM VỤ CUNG CẤP

DỊCH VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

(Ban hành kèm theo Quyết định số 39/2008/QĐ-TTg

ngày 14 tháng 03 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ)

 

 

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Quy chế này quy định về đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp một số dịch vụ sự nghiệp công do ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Các cơ quan quản lý nhà nước; cơ quan được giao dự toán kinh phí để thực hiện các dịch vụ sự nghiệp công, các cơ quan được giao nhiệm vụ hoặc uỷ quyền tổ chức đấu thầu (hoặc đặt hàng) cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước.

2. Các tổ chức trong nước và nước ngoài có tư cách pháp nhân, cá nhân hành nghề độc lập, hoạt động hợp pháp tại Việt Nam có đủ điều kiện và chức năng cung ứng các dịch vụ sự nghiệp phù hợp với yêu cầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công của nhà nước (sau đây gọi tắt là nhà cung cấp).

Điều 3. Giải thích từ ngữ

1. "Dịch vụ sự nghiệp công" trong Quy chế này được hiểu là các hoạt động thuộc trách nhiệm của Nhà nước phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân và cộng đồng xã hội.

2. "Đặt hàng dịch vụ sự nghiệp công" là việc cơ quan nhà nước chỉ định nhà cung cấp dịch vụ sự nghiệp cho nhân dân và cộng đồng xã hội, đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng, đơn giá, thời gian thực hiện các dịch vụ sự nghiệp công.

3. "Đấu thầu dịch vụ sự nghiệp công" là quá trình đấu thầu để lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ công (tổ chức, cá nhân) có đủ năng lực, kinh nghiệm tốt nhất để thực hiện cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công đáp ứng được các yêu cầu của cơ quan mời thầu, trên cơ sở cạnh tranh công bằng, minh bạch và hiệu quả.

Điều 4. Danh mục các dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thực hiện đấu thầu hoặc đặt hàng cung cấp dịch vụ

1. Danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước phải tổ chức đấu thầu, hoặc thực hiện đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định này.

2. Căn cứ tình hình thực tế, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc sửa đổi, bổ sung Danh mục dịch vụ sự nghiệp công bắt buộc phải tổ chức đấu thầu, hoặc đặt hàng đối với dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước cho phù hợp.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương (sau đây gọi tắt là Thủ trưởng cơ quan ở trung ương); Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), căn cứ vào các nội dung quy định về đấu thầu, đặt hàng dịch vụ sự nghiệp công theo quy định tại Quy chế này và tình hình cụ thể để quyết định việc bổ sung các loại hình dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước phải thực hiện đấu thầu (hoặc đặt hàng), ngoài danh mục dịch vụ sự nghiệp công thực hiện đấu thầu (hoặc đặt hàng) được quy định tại Phụ lục kèm theo Quyết định này, đồng thời báo cáo Bộ Tài chính để theo dõi, quản lý.

3. Đối với những dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước được quy định trong Danh mục, thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương nếu chưa đủ điều kiện thực hiện đấu thầu (hoặc đặt hàng) thì Thủ trưởng cơ quan ở trung ương quyết định giao nhiệm vụ cho đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo quy định hiện hành. Đối với những dịch vụ sự nghiệp công không đủ điều kiện đấu thầu (hoặc đặt hàng) thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giao nhiệm vụ cho đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc thực hiện theo quy định hiện hành.

 

Chương II

ĐẤU THẦU CUNG CẤP DỊCH VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG

 

Điều 5. Điều kiện xác định dịch vụ sự nghiệp công thực hiện đấu thầu

Dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thực hiện đấu thầu khi có đủ các điều kiện sau:

1. Dịch vụ sự nghiệp công do nhà nước bảo đảm kinh phí thực hiện.

2. Xác định được đối tượng sử dụng dịch vụ sự nghiệp công.

3. Được phân bổ dự toán kinh phí.

4. Xác định được tiêu chuẩn và chất lượng dịch vụ sự nghiệp công.

5. Dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước có tổng trị giá từ 500 triệu đồng trở lên.

6. Được Thủ trưởng cơ quan ở trung ương quyết định thực hiện hình thức đấu thầu (đối với dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương); Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định hình thức đấu thầu (đối với dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương).

Các dịch vụ sự nghiệp công không đủ các điều kiện để thực hiện đấu thầu sẽ được thực hiện đặt hàng theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Quy chế này.

Điều 6. Xây dựng kế hoạch và ban hành tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu dịch vụ sự nghiệp công

1. Căn cứ xây dựng kế hoạch đấu thầu dịch vụ sự nghiệp công.

a) Là dịch vụ sự nghiệp công thuộc danh mục phải đấu thầu.

b) Dự toán được cấp có thẩm quyền giao để thực hiện dịch vụ sự nghiệp công.

c) Các tài liệu và văn bản pháp lý có liên quan.

2. Nội dung kế hoạch đấu thầu.

Tùy theo tính chất và trình tự thực hiện, có thể chia dịch vụ sự nghiệp công thành các gói thầu. Việc phân chia thành các gói thầu phải bảo đảm tính đồng bộ của dịch vụ. Nội dung của từng gói thầu trong kế hoạch đấu thầu bao gồm:

a) Tên gói thầu: tên gói thầu thể hiện tính chất, nội dung và phạm vi công việc của gói thầu, phù hợp với nội dung nêu trong dịch vụ;

b) Tiêu chuẩn và mục tiêu của gói thầu;

c) Giá gói thầu: giá gói thầu do cơ quan tổ chức đấu thầu xây dựng dựa trên các định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức chi phí hiện hành do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành;

d) Hình thức lựa chọn nhà cung cấp; phương thức đấu thầu;

đ) Hình thức hợp đồng;

e) Nguồn vốn: đối với mỗi gói thầu phải nêu rõ nguồn vốn và phương thúc thanh toán cho nhà cung cấp;

g) Thời gian lựa chọn nhà cung cấp: thời gian tổ chức thực hiện việc lựa chọn nhà cung cấp thực hiện gói thầu để bảo đảm tiến độ của gói thầu theo đúng quy định của Luật Đấu thầu,

h) Thời gian thực hiện hợp đồng: thời gian thực hiện hợp đồng phải bảo đảm việc thực hiện gói thầu phù hợp với tiến độ thực hiện dịch vụ sự nghiệp công.

3. Việc xây dựng tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu dịch vụ sự nghiệp công bao gồm:

a) Tiêu chuẩn đối với nhà cung cấp dịch vụ sự nghiệp công.

- Tiêu chuẩn đánh giá về năng lực tài chính, kinh nghiệm của nhà cung cấp dịch vụ sự nghiệp công;

- Tiêu chuẩn đánh giá về năng lực quản lý và lực lượng lao động tham gia vào cung cấp dịch vụ sự nghiệp công;

- Tiêu chuẩn đánh giá về mặt kỹ thuật;

- Thời gian cung cấp dịch vụ sự nghiệp công.

b) Tiêu chuẩn đối với dịch vụ sự nghiệp công.

- Tiêu chuẩn đánh giá về quy trình xác định công nghệ hình thành dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước;

- Tiêu chuẩn về giá (hoặc đơn giá) dịch vụ sự nghiệp công;

- Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng thực hiện thông qua kết quả, hoặc sản phẩm của dịch vụ sự nghiệp công;

- Quy trình, tiêu chuẩn đánh giá về kỹ thuật đối với dịch vụ sự nghiệp công.

4. Trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương trong việc ban hành tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu dịch vụ sự nghiệp công:

a) Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực có dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước phải đấu thầu xây dựng, ban hành tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu cho từng loại dịch vụ sự nghiệp công thuộc ngành, lĩnh vực quản lý làm căn cứ đánh giá hồ sơ dự thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công.

b) Thủ trưởng cơ quan trung ương có trách nhiệm:

- Ban hành tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu, tiêu chuẩn lựa chọn nhà cung cấp đối với dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương;

- Ban hành hồ sơ mẫu đấu thầu dịch vụ sự nghiệp công trong từng lĩnh vực;

- Cụ thể hoá các tiêu chuẩn do các Bộ quản lý ngành ban hành để thực hiện đấu thầu dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của mình.

c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm:

Căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu dịch vụ sự nghiệp công do các Bộ ban hành tại điểm a khoản 4 nêu trên để cụ thể hoá tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu, tiêu chuẩn lựa chọn nhà cung cấp đối với dịch vụ sự nghiệp công thuộc phạm vi nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương cho phù hợp với điều kiện cụ thể.

Điều 7. Trình duyệt, phê duyệt kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu và kết quả lựa chọn nhà cung cấp

1. Trình duyệt kế hoạch đấu thầu:

Cơ quan được phân công tổ chức đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước có trách nhiệm trình kế hoạch đấu thầu lên người có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch đấu thầu để xem xét phê duyệt (được quy định dưới đây); đồng thời gửi cho cơ quan, tổ chức, bộ phận thẩm định trong đấu thầu được quy định tại Điều 8 Quy chế này.

2. Thẩm quyền phê duyệt kế hoạch đấu thầu:

a) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ở trung ương chịu trách nhiệm phê duyệt kế hoạch đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công đối với các dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương;

b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm phê duyệt kế hoạch đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công do nhà nước đặt hàng đối với các dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương.

3. Thẩm quyền phê duyệt hồ sơ mời thầu, phê duyệt kết quả lựa chọn nhà cung cấp:

a) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ở trung ương chịu trách nhiệm phê duyệt, hoặc uỷ quyền cho thủ trưởng đơn vị cấp dưới trực thuộc phê duyệt hồ sơ mời thầu, kết quả lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ sự nghiệp công do nhà nước đặt hàng đối với các dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương trên cơ sở báo cáo của cơ quan thẩm định.

b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm phê duyệt hoặc phân cấp cho thủ trưởng đơn vị, cơ quan chuyên môn trực thuộc phê duyệt hồ sơ mời thầu, kết quả lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ sự nghiệp công đối với các dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi ngân sách của địa phương trên cơ sở báo cáo của cơ quan thẩm định.

Điều 8. Thẩm định trong đấu thầu

Thẩm định trong đấu thầu bao gồm thẩm định kế hoạch đấu thầu, thẩm định hồ sơ mời thầu, thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu.

1. Cơ quan, tổ chức, bộ phận thẩm định:

a) Thủ trưởng cơ quan ở trung ương chịu trách nhiệm tổ chức thẩm định trong đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước; hoặc quyết định cơ quan, tổ chức, bộ phận chịu trách nhiệm tổ chức thẩm định kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu và kết quả lựa chọn nhà cung cấp.

b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức thẩm định trong đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thuộc ngân sách địa phương; hoặc quyết định phân cấp về thẩm quyền cho Sở Tài chính, hoặc Sở chuyên ngành có liên quan chịu trách nhiệm chủ trì tổ chức thẩm định kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu và kết quả lựa chọn nhà cung cấp.

2. Yêu cầu thẩm định:

a) Cơ quan, tổ chức, bộ phận được giao nhiệm vụ thẩm định kế hoạch đấu thầu tiến hành kiểm tra, đánh giá các nội dung theo quy định tại Điều 5, Điều 6 Quyết định này lập báo cáo kết quả thẩm định trình người có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch đấu thầu.

b) Thời gian thẩm định trong đấu thầu tối đa là 20 (hai mươi) ngày, kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ.

Điều 9. Chi phí trong đấu thầu

Căn cứ vào các quy định của pháp luật về đấu thầu, Bộ Tài chính quy định và hướng dẫn cụ thể về mức giá bán bộ hồ sơ mời thầu, chi phí thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu, chi phí cho Hội đồng tư vấn giải quyết kiến nghị của nhà thầu và kết quả lựa chọn nhà thầu đối với từng loại dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước.

Điều 10. Hình thức lựa chọn nhà cung cấp

1. Đấu thầu rộng rãi: các dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thuộc danh mục bắt buộc đấu thầu phải tổ chức đấu thầu rộng rãi.

2. Đấu thầu hạn chế: áp dụng trong trường hợp dịch vụ sự nghiệp công có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc có tính đặc thù; dịch vụ sự nghiệp công có tính chất nghiện cứu, thử nghiệm mà chỉ có một số nhà cung cấp có khả năng đáp ứng yêu cầu của gói thầu.

3. Chỉ định thầu: áp dụng trong trường hợp tổng giá trị của gói thầu dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước dưới 500 triệu đồng. Việc chỉ định thầu phải được người có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch đấu thầu được quy định tại Điều 7 Quy chế này quyết định.

Điều 11. Thẩm quyền quyết định tổ chức đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công

1. Thủ trưởng cơ quan ở trung ương chịu trách nhiệm quyết định tổ chức đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công; hoặc quyết định phân cấp về thẩm quyền cho thủ trưởng cơ quan chuyên môn trực thuộc tổ chức đấu thầu cung cấp dịch vụ đối với các dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm quyết định tổ chức đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công; hoặc quyết định phân cấp về thẩm quyền cho thủ trưởng các cơ quan chuyên môn trực thuộc tổ chức đấu thầu cung cấp dịch vụ đối với các dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương.

Điều 12. Điều kiện tổ chức đấu thầu và tham gia dự thầu

1. Việc tổ chức đấu thầu để cung cấp dịch vụ sự nghiệp công chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau:

a) Có kế hoạch đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

b) Hồ sơ mời thầu đã được người có thẩm quyền phê duyệt.

Cơ quan tổ chức mời thầu phải cung cấp hồ sơ mời thầu cho các nhà cung cấp có nhu cầu tham gia đấu thầu. Trong hồ sơ mời thầu không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia của nhà cung cấp hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà cung cấp gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng.

Đối với dịch vụ sự nghiệp công khi thực hiện chỉ định thầu phải lập kế hoạch và được phê duyệt trong kế hoạch đấu thầu, đồng thời phải duyệt giá dự toán đối với dịch vụ sự nghiệp này;

c) Thông tin về đấu thầu đã được đăng tải theo quy định của pháp luật về đấu thầu;

d) Dịch vụ sự nghiệp công được giao dự toán kinh phí thực hiện.

2. Các nhà cung cấp dịch vụ tham gia dự thầu phải có đủ các điều kiện sau:

a) Có chức năng cung ứng các dịch vụ phù hợp với dịch vụ sự nghiệp công tham gia đấu thầu;

b) Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngành, nghề phù hợp với dịch vụ sự nghiệp công tham gia đấu thầu;

c) Có tư cách pháp nhân (đối với nhà cung cấp là tổ chức, đơn vị trong nước và nước ngoài);

d) Không bị cơ quan có thẩm quyền kết luận về tình hình tài chính không lành mạnh, đang lâm vào tình trạng phá sản hoặc nợ đọng không có khả năng chi trả; đang trong quá trình giải thể;

đ) Nộp tiền bảo lãnh thầu theo yêu cầu của cơ quan tổ chức đấu thầu;

e) Đáp ứng yêu cầu nêu trong thông báo mời thầu hoặc thư mời thầu của bên mời thầu.

Điều 13. Tổ chức đấu thầu

1. Phát hành hồ sơ mời thầu: cơ quan tổ chức mời thầu bán hồ sơ mời thầu tới trước thời điểm đóng thầu cho các nhà cung cấp theo danh sách mời tham gia đấu thầu; giá bán hồ sơ mời thầu do Bộ Tài chính quy định. Thời hạn đăng thông báo mời thầu tối thiểu 10 ngày trước khi phát hành hồ sơ mời thầu.

2. Chuẩn bị hồ sơ dự thầu: nhà cung cấp chuẩn bị hồ sơ dự thầu theo yêu cầu của cơ quan mời thầu, nộp hồ sơ dự thầu cùng với bảo đảm dự thầu. Trường hợp nhà cung cấp cần thay đổi tư cách (tên) tham gia đấu thầu so với khi mua hồ sơ mời thầu, đăng ký tham gia đấu thầu thì phải thông báo bằng văn bản tới cơ quan tổ chức mời thầu. Cơ quan tổ chức mời thầu chỉ xem xét khi nhận được văn bản thông báo này trước thời điểm đóng thầu.

Trường hợp tại thời điểm đóng thầu có dưới 3 (ba) nhà cung cấp tham gia đấu thầu, cơ quan được giao nhiệm vụ tổ chức đấu thầu phải báo cáo người có thẩm quyền quyết định.

3. Tiếp nhận và quản lý hồ sơ dự thầu: cơ quan tổ chức mời thầu tiếp nhận và quản lý các hồ sơ dự thầu đã nộp theo chế độ quản lý hồ sợ "mật". Hồ sơ dự thầu được gửi đến cơ quan tổ chức mời thầu sau thời điểm đóng thầu đều được coi là không hợp lệ và được gửi trả lại cho nhà cung cấp theo nguyên trạng. Bất kỳ tài liệu nào được nhà cung cấp gửi đến sau thời điểm đóng thầu để sửa đổi, bổ sung hồ sơ dự thầu đã nộp đều được coi là không hợp lệ (trừ văn bản làm rõ hồ sơ dự thầu).

4. Sửa đổi hoặc rút hồ sơ dự thầu: khi muốn sửa đổi hoặc rút hồ sơ dự thầu đã nộp, nhà cung cấp phải có văn bản đề nghị và cơ quan tổ chức mời thầu chỉ chấp thuận nếu nhận được văn bản đề nghị của nhà cung cấp trước thời điểm đóng thầu; văn bản đề nghị rút hồ sơ dự thầu phải được gửi riêng biệt với hồ sơ dự thầu.

5. Mở thầu:

a) Việc mở thầu phải được tiến hành công khai ngay sau thời điểm đóng thầu theo ngày, giờ, địa điểm quy định trong hồ sơ mời thầu trước sự chứng kiến của những người có mặt và không phụ thuộc vào sự có mặt hay vắng mặt của các nhà cung cấp được mời. Cơ quan tổ chức đấu thầu có thể mời đại diện các cơ quan liên quan đến tham dự lễ mở thầu.

b) Cơ quan tổ chức mời thầu tiến hành mở hồ sơ của từng nhà cung cấp theo thứ tự chữ cái tên của nhà thầu và theo trình tự sau đây:

- Kiểm tra niêm phong;

- Mở hồ sơ, đọc và ghi vào biên bản các thông tin chủ yếu san đây:

+ Tên nhà thầu;

+ Số lượng bản gốc, bản chụp hồ sơ;

+ Thời gian có hiệu lực của hồ sơ;

+ Văn bản đề nghị sửa đổi hồ sơ (nếu có);

+ Các thông tin khác có liên quan.

Biên bản mở thầu cần được đại diện các nhà cung cấp, đại diện cơ quan tôe chức đấu thầu, đại diện các cơ quan liên quan tham dự ký xác nhận.

6. Những vấn đề về thông tin trong đấu thầu, xử lý đấu thầu và các quy định khác không nêu trong Quy chế này thì thực hiện theo Luật Đấu thầu và các văn bản hướng dẫn Luật Đấu thầu.

Điều 14. Đánh giá hồ sơ dự thầu

1. Cơ quan tổ chức đấu thầu chịu trách nhiệm đánh giá hồ sơ dự thầu đối với dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước. Việc đánh giá hồ sơ dự thầu phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu và các yêu cầu khác trong hồ sơ mời thầu để bảo đảm lựa chọn được nhà cung cấp có đủ năng lực kinh nghiệm, có giải pháp khả thi để thực hiện cung cấp dịch vụ sự nghiệp công.

2. Phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu.

Sử dụng phương pháp thang điểm để đánh giá, xếp hạng hồ sơ dự thầu.

3. Cách đánh giá:

a) Đánh giá sơ bộ trên cơ sở kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ dự thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu, đánh giá năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu theo tiêu chuẩn đánh giá về năng lực kinh nghiệm nêu trong hồ sơ mời thầu;

b) Đánh giá về mặt công nghệ thực hiện để cung ứng dịch vụ sự nghiệp công;

c) Số lượng, chất lượng, thời gian cung ứng dịch vụ sự nghiệp công;

d) Đánh giá về mặt tài chính: căn cứ theo tiêu chuẩn đánh giá về mặt tài chính nêu trong hồ sơ mời thầu.

Điều 15. Giá gói thầu, giá dự thầu, giá trúng thầu, giá hợp đồng

1. Giá gói thầu là giá trị gói thầu được xác định trong kế hoạch đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công trên cơ sở dự toán đã được người có thẩm quyền phê duyệt hoặc giá của cơ quan có chức năng thẩm định.

Giá gói thầu do cơ quan tổ chức đấu thầu xây dựng dựa trên các định mức kinh tế kỹ thuật, định mức chi phí hiện hành do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành.

2. Giá dự thầu là giá do nhà thầu nêu trong hồ sơ dự thầu sau khi đã trừ phần giảm giá (nếu có), bao gồm toàn bộ các chi phí cần thiết để thực hiện gói thầu kể cả các loại thuế, phí, lệ phí và các nghĩa vụ tài chính theo luật định mà nhà thầu phải nộp khi thực hiện gói thầu.

3. Giá trúng thầu là giá được người có thẩm quyền hoặc người có thẩm quyền phê duyệt theo kết quả đấu thầu để làm căn cứ cho bên mời thầu thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng với nhà thầu trúng thầu. Giá trúng thầu không được vượt giá gói thầu trong kế hoạch đấu thầu được duyệt.

4. Giá hợp đồng là giá được bên mời thầu và nhà thầu trúng thầu thoả thuận sau khi thương thảo, hoàn thiện hợp đồng và không được vượt giá trúng thầu.

Giá hợp đồng cùng với các điều kiện cụ thể về thanh toán là cơ sở để thanh toán và quyết toán chi đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công.

Đối với các dịch vụ sự nghiệp công thuộc lĩnh vực đào tạo, dạy nghề, y tế và một số dịch vụ sự nghiệp công khác có quy định về thu phí, học phí, thì một phần thu phí, học phí sẽ được tính vào giá gói thầu, giá dự thầu, giá trúng thầu, giá hợp đồng. Nhà cung cấp dịch vụ được phép thu phần học phí, viện phí, lệ phí này từ đối tượng sử dụng dịch vụ sự nghiệp công theo quy định của pháp luật.

Điều 16. Hợp đồng giao nhận cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, điều chỉnh hợp đồng

1. Sau khi kết quả đấu thầu được người có thẩm quyền phê duyệt, cơ quan tổ chức đấu thầu và nhà cung cấp dịch vụ tiến hành ký hợp đồng theo đúng quy định của pháp luật.

2. Nội dung hợp đồng phù hợp với các nội dung đã quy định tại hồ sơ mời thầu và phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.

Ngoài ra, các bên có thể thoả thuận bổ sung một số nội dung khác trong hợp đồng nhưng không trái với các quy định của pháp luật.

3. Trong quá trình thực hiện hợp đồng có phát sinh tình huống, khó khăn cho việc thực hiện hợp đồng thì bên mời thầu, nhà cung cấp phải báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Điều 17. Quyền và nghĩa vụ của nhà cung cấp

Nhà cung cấp dịch vụ được lựa chọn trúng thầu cung cấp dịch vụ có quyền và nghĩa vụ:

1. Thực hiện đúng và đầy đủ hợp đồng giao nhận và cung cấp dịch vụ sự nghiệp công đã ký kết; có các quyền và nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng và pháp luật có liên quan.

2. Chấp hành đúng quy định của pháp luật về kế toán, thống kê. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về dịch vụ do mình cung cấp.

3. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về thuế, phí, lệ phí theo quy định của pháp luật hiện hành.

4. Chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 

Chương III

ĐẶT HÀNG THỰC HIỆN CUNG CẤP DỊCH VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG

 

Điều 18. Điều kiện đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công

1. Đối với những dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước nếu không đủ điều kiện để đấu thầu (nêu tại Điều 5 Quy chế này) hoặc chỉ có một nhà cung cấp duy nhất không thể thực hiện đấu thầu; các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học được bố trí kinh phí từ ngân sách nhà nước được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đặt hàng.

2. Nhà cung cấp nhận đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước phải có đủ năng lực về vốn, trình độ kỹ thuật, công nghệ sản xuất, trình độ quản lý và đội ngũ người lao động đáp ứng được các yêu cầu của hợp đồng đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công.

Điều 19. Thẩm quyền quyết định đặt hàng, cơ quan thực hiện đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công

1. Thủ trưởng cơ quan ở trung ương quyết định về đặt hàng đối với dịch vụ sự nghiệp công không đủ điều kiện để đấu thầu, các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học được bố trí từ ngân sách trung ương; ủy quyền cho Thủ trưởng cơ quan chuyên môn trực thuộc thực hiện đặt hàng cung cấp dịch vụ đối với các dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định về đặt hàng đối với dịch vụ sự nghiệp công không đủ điều kiện đấu thầu, các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học được bố trí từ ngân sách địa phương; ủy quyền cho Thủ trưởng cơ quan chuyên môn trực thuộc thực hiện đặt hàng cung cấp dịch vụ đối với các dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương.

Điều 20. Đặt hàng đối với dịch vụ sự nghiệp công

1. Căn cứ đặt hàng:

a) Quyết định của người có thẩm quyền quyết định đặt hàng đối với dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước;

b) Đơn giá, hoặc giá của dịch vụ công cung cấp theo phương thức đặt hàng được xác định trên cơ sở áp dụng các định mức kinh tế kỹ thuật, định mức chi phí hiện hành do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Đối với dịch vụ sự nghiệp công thuộc danh mục nhà nước phải thẩm định giá thì đơn giá đặt hàng là thông báo thẩm định giá của cơ quan quản lý giá theo quy định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Giá và quy định của pháp luật có liên quan;

c) Số lượng, khối lượng, chất lượng dịch vụ sự nghiệp công cần thực hiện theo chỉ tiêu được người có thẩm quyền phê duyệt;

d) Thời gian triển khai và thời gian hoàn hành;

đ) Dự toán được người có thẩm quyền giao.

2. Nội dung hợp đồng đặt hàng sản xuất và cung cấp dịch vụ sự nghiệp công:

Căn cứ đặc thù của các dịch vụ sự nghiệp công được đặt hàng, cơ quan đặt hàng ký kết hợp đồng với nhà cung cấp theo các chỉ tiêu chủ yếu sau:

a) Tên dịch vụ sự nghiệp công; đề tài, dự án nghiên cứu khoa học;

b) Số lượng, khối lượng;

c) Chất lượng;

d) Giá, đơn giá;

đ) Số lượng, khối lượng dịch vụ sự nghiệp công, đề tài, dự án nghiên cứu khoa học;

e) Giá trị hợp đồng;

g) Thời gian hoàn thành;

h) Phương thức nghiệm thu, thanh toán;

i) Trách nhiệm và nghĩa vụ giữa cơ quan đặt hàng và nhà cung cấp;

k) Trách nhiệm của các bên do vi phạm hợp đồng.

Ngoài ra, các bên có thể thoả thuận bổ sung một số nội dung khác trong hợp đồng nhưng không trái với quy định của pháp luật.

Điều 21. Điều chỉnh giá trị hợp đồng đặt hàng

Giá trị hợp đồng đặt hàng chỉ được điều chỉnh khi được cơ quan có thẩm quyền cho phép trong các trường hợp:

1. Nhà nước điều chỉnh định mức kinh tế kỹ thuật; định mức chi từ dự toán ngân sách nhà nước đối với dịch vụ sự nghiệp công, hoặc đề tài, dự án khoa học công nghệ.

2. Nhà nước thay đổi về cơ chế, chính sách tiền lương, giá nguyên nhiên vật liệu.

 

Chương IV

QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC KHI THỰC HIỆN ĐẤU THẦU, ĐẶT HÀNG CUNC CẤP DỊCH VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG

 

Điều 22. Lập và chấp hành ngân sách nhà nước khi thực hiện đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công

1. Lập dự toán: căn cứ vào nhiệm vụ, nội dung dịch vụ sự nghiệp công cần phải đấu thầu, đặt hàng; căn cứ vào phân cấp của Bộ và địa phương; các đơn vị dự toán các cấp lập dự toán ngân sách nhà nước đối với dịch vụ sự nghiệp công thực hiện đấu thầu, đặt hàng trong năm theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước hiện hành.

2. Phân bổ và giao dự toán ngân sách về đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công: trên cơ sở dự toán được người có thẩm quyền quyết định, dự toán giao cho các đơn vị trực thuộc phải phân định rõ dự toán để thực hiện nhiệm vụ đấu thầu, đặt hàng đối với các dịch vụ sự nghiệp công.

3. Căn cứ dự toán được người có thẩm quyền giao, các đơn vị được phân cấp thực hiện tổ chức đấu thầu (đặt hàng) cung cấp dịch vụ sự nghiệp công trong phạm vi dự toán ngân sách được giao.

4. Nhà cung cấp khi trúng thầu hoặc được nhận đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công phải theo dõi, hạch toán riêng phần kinh phí được nhận do đấu thầu hoặc đặt hàng đem lại, và phải thực hiện các nghĩa vụ về tài chính (nếu có).

5. Đối với những dịch vụ sự nghiệp công được phép thu phí từ đối tượng sử dụng dịch vụ sự nghiệp công, nhà cung cấp dịch vụ phải theo dõi, phản ảnh đầy đủ các khoản được phép thu và quyết toán cùng với khoản chi do ngân sách nhà nước đảm bảo theo quy định hiện hành.

6. Chênh lệch thu lớn hơn chi từ hợp đồng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công được thực hiện như sau:

a) Đối với nhà cung cấp là đơn vị sự nghiệp công lập được quyền tự chủ theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ.

b) Đối với nhà cung cấp là cá nhân, đơn vị ngoài công lập tự quyết định sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ về tài chính đối với nhà nước.

Điều 23. Thanh toán hợp đồng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công

1. Căn cứ vào kết quả cung cấp dịch vụ sự nghiệp công và hợp đồng được ký, cơ quan đơn vị mời thầu, đặt hàng thực hiện nghiệm thu sản phẩm dịch vụ sự nghiệp công và thực hiện thanh toán theo quy định hiện hành. Cơ quan nào thực hiện đấu thầu, đặt hàng dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thì cơ quan đó chịu trách nhiệm thanh toán, quyết toán đối với dịch vụ sự nghiệp công đó bằng nguồn ngân sách được giao.

2. Trình tự và thủ tục thanh toán, quyết toán dịch vụ sự nghiệp công do nhà nước đấu thầu, đặt hàng thực hiện theo quy định tại Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn.

Điều 24. Về giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước

1. Đối với những dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước quy định tại Phụ lục kèm theo Quyết định này chưa đủ điều kiện để thực hiện đấu thầu (hoặc đặt hàng) thì Thủ trưởng cơ quan ở trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giao nhiệm vụ cho đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc thực hiện theo quy định hiện hành.

2. Trình tự phân bổ dự toán ngân sách và thủ tục thanh toán, quyết toán dịch vụ sự nghiệp công do nhà nước giao nhiệm vụ, thực hiện theo Quy định tại Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn.

Điều 25. Tổ chức kiểm tra, giám sát thực hiện

1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước:

a) Thủ trưởng cơ quan ở trung ương chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra, theo dõi và giám sát việc thực hiện đấu thầu hoặc đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công đối với các dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương;

b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra, theo dõi và giám sát việc thực hiện đấu thầu hoặc đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công đối với các dịch vụ sự nghiệp công thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương.

2. Đối với cơ quan tài chính: cơ quan tài chính các cấp thực hiện quản lý nhà nước về tài chính trong hoạt động đấu thầu, đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước. Kho bạc Nhà nước các cấp thực hiện kiểm soát chi và thanh toán kinh phí theo hợp đồng đấu thầu hoặc đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công; định kỳ hàng tháng, quý và năm gửi báo cáo tổng hợp tình hình thực hiện cho cơ quan tài chính cùng cấp.

Điều 26. Xử lý vi phạm, tranh chấp

1. Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu, đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thì tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt theo một hoặc các hình thức sau đây: cảnh cáo, phạt tiền, cấm tham gia hoạt động đấu thầu. Đối với cán bộ, công chức có hành vi vi phạm pháp luật đấu thầu thì bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

Thủ trưởng cơ quan ở trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ban hành quyết định xử phạt vi phạm về đấu thầu. Quyết định xử phạt phải được gửi cho tổ chức, cá nhân bị xử phạt và các cơ quan, tổ chức liên quan. Quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành trên phạm vi cả nước và trong tất cả các ngành.

2. Nguyên tắc, thủ tục xử lý vi phạm, thủ tục thi hành quyết định xử phạt, hình thức xử phạt, mức phạt được thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu và các quy định khác liên quan.

3. Trường hợp phát sinh tranh chấp giữa cơ quan tổ chức đấu thầu với nhà cung cấp, nếu không tự thoả thuận được sẽ được giải quyết tại Tòa án theo quy định của pháp luật.

4. Tổ chức, cá nhân bị xử phạt vi phạm pháp luật về đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Điều 27. Tổ chức thực hiện

1. Căn cứ vào Quy chế này, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan khác ở trung ương; Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành quy định cụ thể cho Bộ, ngành và địa phương mình.

2. Bộ trưởng Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện Quy chế này./.

 

   THỦ TƯỚNG

Nguyễn Tấn Dũng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phụ lục

DANH MỤC DỊCH VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG SỬ DỤNG

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN ĐẤU THẦU, ĐẶT HÀNG

(Ban hành kèm theo Quyết định số 39/2008/QĐ-TTg

ngày 14 tháng 03 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ)

 

1. Dạy nghề phục vụ các ngành kinh tế theo chỉ tiêu của Nhà nước.

2. Đào tạo giáo viên các trường đại học, cao đẳng công lập chất lượng cao.

3. Đào tạo dự bị đại học đối với học sinh dân tộc nội trú.

4. Đào tạo cử nhân, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp.

5. Biên soạn giáo trình.

6. Đào tạo ngoại ngữ cho học sinh trước khi đi du học theo chương trình, kế hoạch của Nhà nước.

7. Đào tạo lưu học sinh tại Việt Nam.

8. Đào tạo chuyên gia theo yêu cầu của các ngành, lĩnh vực.

9. Sáng tác, dựng vở và biểu diễn các chương trình nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ của Nhà nước.

10. Sáng tác, biên soạn sách báo, tạp chí và các ấn phẩm văn hoá phục vụ nhiệm vụ của Nhà nước.

11. Truyền thông đối ngoại theo chuyên đề.

12. Truyền thông phục vụ chính sách dân tộc của Nhà nước theo chuyên đề.

13. Xuất bản sách báo theo chuyên đề để phục vụ nhiệm vụ chính trị đột xuất của Nhà nước.

14. Cung cấp sách, báo, văn hoá phẩm cho miền núi và dân tộc theo chương trình của Nhà nước.

15. Cung cấp dịch vụ hậu cần cho các đội tuyển quốc gia trong thời gian tập huấn, thi đấu.

16. Huấn luyện thi đấu thành tích cao do Nhà nước đặt hàng (trong lĩnh vực thể thao và dạy nghề).

17. Tổ chức lễ khai mạc, bế mạc phục vụ các ngày lễ lớn của Nhà nước, tổ chức các đại hội thể thao, văn hoá... (bao gồm dịch vụ hậu cần, phục vụ...).

18. Chương trình, đề tài, dự án, nhiệm vụ khoa học và công nghệ (bao gồm cả các dịch vụ khoa học và công nghệ).

19. Cung cấp sản phẩm dịch vụ công nghệ thông tin (không bao gồm trang thiết bị công nghệ thông tin).

20. Đo đạc đất đai để phục vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

21. Cung ứng các dịch vụ xét nghiệm, hoá chất mỹ phẩm, dược phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng vắc xin và các sinh phẩm y tế.

22. Cung ứng các hoạt động của công tác y tế dự phòng (như phun tẩm hoá chất, xử lý môi trường phòng chống dịch, tiêm phòng).

23. Đấu giá tài sản công.

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE PRIME MINISTER
-------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence
- Freedom - Happiness
----------

No. 39/2008/QD-TTg

Hanoi, March 14, 2008

 

DECISION

ISSUING THE REGULATION ON BIDDING, PLACEMENT OFORDERS FOR, AND ASSIGNMENT OF THE PROVISION OF, PUBLIC NON-BUSINESS SERVICES FUNDED WITH THE STATE BUDGET

THE PRIME MINISTER

Pursuant to the December 25, 2001 Law on Organization of the Government;
Pursuant to the December 16, 2002 Law on the State Budget;
Pursuant to the November 25, 2005 Law on-Bidding:
Pursuant to the Governments Resolution No. 05/2005/NQ-CP of April 18, 2005, on stepping up the socialization of education, healthcare, cultural physical training and sports activities;
At the proposal of the Minister of Finance,

DECIDES:

Article 1. To issue together with this Decision the Regulation on bidding, placement of orders for, and assignment of the provision of, public non-business services.

Article 2. This Decision takes effect 15 days after its publication in CONG BAO.

Ministers, heads of ministerial-level agencies, heads of government-attached agencies, and presidents of Peoples Committees of provinces and centrally run cities shall implement this Decision

 

 

PRIME MINISTER




Nguyen Tan Dung

 

REGULATION

ON BIDDING, PLACEMENT OF ORDERS FOR, AND ASSIGNMENT OF THE PROVISION OF, PUBLIC NON-BUSINESS SERVICES FUNDED WITH THE STATE BUDGET
(Issued together with the Prime Ministers Decision No. 39/2008/OD-TTg of March 14, 2008)

Chapter I

GENERAL PROVISIONS

Article 1. Scope of regulation

This Regulation provides for the bidding, placement of orders for, and assignment of, the provision of public non-business services funded with the state budget or state budget-originated sources.

Article 2. Subjects of application

1. State management agencies; agencies allocated with budget funds for providing public non-business services, agencies assigned to provide, or authorized to organize bidding (or place orders) for the provision of, public non-business services funded with the state budget.

2. Domestic and foreign organizations which have the legal person status, individual practitioners lawfully operating in Vietnam and having sufficient conditions for and the function of providing non-business services meeting the States requirements on the provision of public non-business services (below referred to as providers).

Article 3. Interpretation of terms

1. Public non-business service referred to in this Regulation is understood as activities catering for essential needs of the people and communities and falling under the States responsibility.

2. Placement of orders for public non-business services means the designation by state agencies of providers of public non-business services for the people and communities to meet requirements on these services quantity, quality, unit price and timing.

3. Bidding for public non-business services means the process of bidding to select public-service providers (organizations and individuals) possessing the best capacity and experience to provide public non-business services to meet requirements set by bid inviters on the basis of fair, transparent and effective competition.

Article 4. List of public non-business services funded with the state budget which are subject to bidding or placement of orders for provision

1. The list of public non-business services funded with the state budget which are subject to bidding or placement of orders for provision is included in an Appendix to this Decision.

2. Based on the practical situation, the Ministry of Finance shall assume the prime responsibility for, and coordinate with concerned agencies in, submitting to the Prime Minister for decision the appropriate revision or addition of the list of public non-business services funded with the state budget which are subject to bidding or placement of orders for provision.

Ministers and heads of ministerial-level agencies, government-attached agencies and other central agencies (below referred to as heads of central agencies); presidents of Peoples Committees of provinces and centrally run cities (below referred to as presidents of provincial-level Peoples Committees) may, on the basis of this Circulars provisions on bidding and placement of orders for public non-business services and the practical situation, decide to add other types of public non-business services funded with the state budget which are subject to bidding (or placement or orders) to the list included in the Appendix to this Decision, and concurrently report it to the Ministry of Finance for monitoring and management.

3. For public non-business services funded with the state budget which are on the above list and identified as spending tasks of the central budget, if conditions do not yet permit the organization of a bidding (or placement of orders), heads of central agencies may decide to assign the provision of these services to public non-business units according to current regulations. For public non-business services funded with the state budget which are on the list and identified as spending tasks of local budget, presidents of provincial-level Peoples Committees may decide to assign the provision of these service to their attached public units according to current regulations.

Chapter II

BIDDING FOR THE PROVISION OF PUBLIC NON-BUSINESS SERVICES

Article 5. Conditions for identifying public non-business services subject to bidding

Bidding is organized for public non-business services when the following conditions are fully met:

1. Public non-business services are funded by the State.

2. Their users are identifiable.

3. Estimated funds are allocated.

4. Their standards and quality are identifiable.

5. They use state budget funds valued at VND 500 million or more.

6. Their bidding has been decided by the head of a central agency (for public non-business services identified as spending tasks of the central budget) or by the president of a provincial-level Peoples Committee (for public non-business services identified as spending tasks of local budget).

Public non-business services which fail to fully meet the conditions for bidding may be put up for placement of orders under Clause 1, Article 18 of this Regulation.

Article 6. Planning and issuance of criteria for evaluation of dossiers of bids for public non-business services

1. Grounds for making a plan on bidding for a public non-business service.

a/ The public non-business service is subject to bidding.

b/ An estimated fund is allocated by competent authorities for the provision of the service.

c/ Related materials and legal documents.

2. Details of a bidding plan.

Depending on its nature and process of provision, a public non-business service may be divided into bidding packages. The division into bidding packages must ensure the entirety of the service. The details of a bidding package under a bidding plan include:

a/ Name of the bidding package: The name of the bidding package must express the characteristics, details and scope of work of the bidding package suitable to the described details of the service;

b/ Standards and objectives of the bidding package;

c/ Price of the bidding package: The price of the bidding package must be formulated by the bidding organizer using current economic and technical norms and expense limits issued by competent state agencies;

d/ Form of selection of provider: bidding method;

e/ Form of contract;

f/ Source of funding: For each individual bidding package, the source of funding and method of payment to the provider must be clearly stated;

g/ Time of selection of provider: The time of organizing the selection of a provider for each bidding package to ensure the implementation schedule of the bidding package in accordance with the Bidding Law;

h/ Time of contract performance: The time of contract performance must ensure that the bidding package is performed in accordance with the progress of provision of the public non-business service.

3. Criteria for evaluation of dossiers of bids for the provision of public non-business services include:

a/ Criteria for providers of public non-business services.

Criteria for evaluation of their financial capability and experience;

Criteria for evaluation of their management capacity and workforce to be involved in the provision of the public non-business service;

- Criteria for technical evaluation;

- Time of provision of public non-business services.

b/ Criteria for public non-business services.

Criteria for evaluation of the process of identifying the technology to form the public non-business service funded with the state budget;

Criteria for the price or price unit of the public non-business service;

Criteria for quality evaluation based on results or products of the service;

- Process and criteria for technical evaluation of the service.

4. Responsibilities of ministries, branches and localities in the issuance of criteria for evaluation of dossiers of bids for the provision of public non-business services:

a/ Ministers in charge of branches or domains with public non-business services funded with the state budget shall organize bidding for the formulation of criteria for evaluation of dossiers of bids for the provision of each type of these services and use these criteria as a basis for evaluation of dossiers of bids for the provision of public non-business services.

b/ Heads of central agencies shall:

Issue criteria for evaluation of bid dossiers and selection of providers for public non-business services identified as spending tasks of the central budget;

Issue model dossiers of bids for the provision of public non-business services in each domain;

Concretize criteria issued by line ministries for application to the bidding for the provision of public non-business services identified as their spending tasks.

c/ Presidents of provincial-level Peoples Committees shall base themselves on criteria for evaluation of dossiers of bids for the provision of public non-business services issued by ministries under Point a, Clause 4 above, to issue specific criteria for evaluation of bid dossiers and selection of providers for public non-business services identified as spending tasks of local budget which are appropriate to their practical conditions.

Article 7. Submission and approval of bidding plans and bid invitation dossiers and results of selection of providers

1. Submission of bidding plans for approval:

Agencies assigned to organize bidding for the provision of public non-business services funded with the state budget shall submit bidding plans to persons competent to approve bidding plans for consideration and approval (prescribed below), and concurrently send these plans to bidding appraisal agencies, organizations or sections specified in Article 8 of this Regulation.

2. Competence to approve bidding plans:

a/ Ministers and heads of central agencies are responsible for approving bidding plans for the provision of public non-business services identified as spending tasks of the central budget;

b/ Presidents of provincial-level Peoples Committees are responsible for approving bidding plans for the provision of public non-business services identified as spending tasks of local budget.

3. Competence to approve bid invitation dossiers and results of selection of providers:

a/ Ministers or heads of central agencies are responsible for approving or authorizing heads of attached lower-level units to approve, on the basis of reports of appraisal agencies, bid invitation dossiers and results of selection of providers of public non-business services ordered by the State, for public non-business services identified as spending tasks of the central budget.

b/ Presidents of provincial-level Peoples Committees are responsible for approving or authorizing heads of attached specialized units or agencies to approve, on the basis of reports of appraisal agencies, bid invitation dossiers and results of selection of providers of public non-business services ordered by the State, for public non-business services identified as spending tasks of local budget.

Article 8. Appraisal in bidding

Appraisal in bidding includes appraisal of bidding plans, appraisal of bid invitation dossiers and appraisal of results of selection of contractors.

1. Appraisal agencies, organizations and sections:

a/ Heads of central agencies shall organize appraisal in bidding for the provision of public non-business services funded with the state budget; or decide on agencies, organizations or sections to organize the appraisal of bidding plans, bid invitation dossiers and results of selection of providers.

b/ Presidents of provincial-level Peoples Committees shall organize appraisal in bidding for the provision of public non-business services funded with the local budget; or decide on the decentralization of provincial-level Finance Services or relevant specialized services to organize the appraisal of bidding plans, bid invitation dossiers and results of selection of providers.

2. Appraisal requirements:

a/ Agencies, organizations and sections assigned to appraise bidding plans shall examine and assess matters specified in Articles 5 and 6 of this Decision and send appraisal reports to persons competent to approve bidding plans.

b/ The duration of appraisal in bidding is 20 (twenty) days at most, counting from the date of receipt of complete and valid dossiers.

Article 9. Expenses in bidding

Pursuant to legal provisions on bidding, the Ministry of Finance shall issue specific regulations and guidance on selling prices of bid invitation dossiers, expenses for appraisal of results of selection of contractors and expenses for advisory councils to deal with petitions of contractors-concerning results of selection of contractors for each type of public non-business service funded with the state budget.

Article 10. Forms of selection of providers

1. Open bidding: Open bidding is obligatory for public non-business services funded with the state budget which are subject to bidding.

2. Restricted bidding: Restricted bidding is applied to public non-business services involving high technical requirements or of a special nature and those to be provided on a research or experimental basis for which the number of providers capable of meeting requirements of bidding packages is limited.

3. Designation of contractors: Designation of contractors is applied to public non-business services using state budget funds valued at under VND 500 million. Designation of contractors must be decided by persons competent to approve bidding plans specified in Article 7 of this Regulation.

Article 11. Competence to decide on the organization of bidding for the provision of public non-business services

1. Heads of central agencies shall decide on the organization of bidding for the provision of public non-business services; or decide on the decentralization of heads of attached specialized agencies to organize bidding for the provision of public non-business services identified as spending tasks of the central budget.

2. Presidents of provincial-level Peoples Committees shall decide on the organization of bidding for the provision of public non-business services; or decide on the decentralization of heads of attached specialized agencies to organize bidding for the provision of public non-business services identified as spending tasks of the local budget.

Article 12. Conditions on organization of bidding and bidding participation

1. Bidding for the provision of public non-business services may be organized only when the following conditions are fully met:

a/ The plan on bidding for the provision of the public non-business service has been approved by a competent state agency;

b/ The bid imitation dossier has been approved by a competent person.

The bid inviter shall supply bid invitation dossiers to providers wishing to participate in the bidding. Such a bid invitation dossier must not contain any condition aiming to restrict participation of providers or create an advantage for any or some providers, which causes unfair competition.

For public non-business services eligible for designation of contractors, such designation must be planned and approved in the bidding plan and their estimated prices must be approved;

c/ Bidding information has been published in accordance with the bidding law;

d/ An estimated fund for the provision of the public non-business service has been allocated.

2. Service providers participating in the bidding must fully meet the following conditions:

a/ Having the function of providing services similar to the public non-business service put up for bidding;

b/ Having a certificate of registration of business lines relevant to the public non-business service put up for bidding;

c/ Having the legal person status (for providers being domestic and foreign organizations and units);

d/ Not having an unhealthy financial status, not being in a state of bankruptcy or not being insolvent or not being in the process of dissolution as concluded by a competent agency;

e/ Having paid a bidding guarantee sum as requested by the biding organizer;

f/ Meeting the requirements set forth in the bid inviters bid invitation notice or letter.

Article 13. Organization of bidding

1. Issuance of bid invitation dossiers: The bid inviter shall sell bid invitation dossiers before the time of bidding closure to providers on the list of those invited to participate in the bidding at the price prescribed by the Ministry of Finance. Bid invitation notices must be published at least 10 days before the date of issuance of bid invitation dossiers.

2. Preparation of bid dossiers: Providers shall prepare bid dossiers as requested by the bid inviter and submit them together with a bidding participation security sum. A provider who wishes to change its status (name) of bidding participation declared at the time of purchase of a bid invitation dossier or registration of bidding participation shall notify it in writing to the bid inviter. The bid inviter shall consider such change only when it receives the written notice before the time of bidding closure.

If there are fewer than 3 (three) providers participating in the bidding at the time of bidding closure, the agency assigned to organize the bidding shall report it to the person with deciding competence.

3. Receipt and management of bid dossiers: The bid inviter shall receive and manage submitted bid dossiers according to regulations on management of secret dossiers. Bid dossiers sent to the bid inviter after the time of bidding closure shall be regarded as invalid and returned in their original conditions to the providers. Any documents sent by providers after the time of bidding closure for modifying and supplementing bid dossiers shall be regarded as invalid (except for documents explaining bid dossiers).

4. Modification or withdrawal of bid dossiers: A provider that wishes to modify or withdraw its bid dossier already submitted shall make a written request. The bid inviter may accept such written request only when it receives it before the time of bidding closure. A written request for withdrawal of a bid dossier must be sent separately from the bid dossier.

5. Opening of bids:

a/ Bids must be publicly opened immediately after the time of bidding closure at the time and venue indicated in the bid invitation dossier and in the witness of present persons regardless of the presence or absence of invited providers. The bid inviter may invite representatives of related agencies to attend the bid-opening ceremony.

b/ The bid inviter shall open the dossiers of providers one by one in the alphabetic order of the names of contractors and the following process:

- Checking the seal;

- Opening the dossier, read and write in a minutes the following principal information:

+ Name of contractor;

+ Number of original and photocopied sets.

+ Validity time of dossier;

+ Document proposing dossier modification, if any;

+ Other relevant information.

The bid opening minutes must be signed by providers, representatives of the bidding organizer and related agencies.

6. Matters concerning bidding information and handling of bidding and other matters not mentioned in this Regulation comply with the Bidding Law and its guiding documents.

Article 14. Evaluation of bid dossiers

1. Bidding organizers shall evaluate bid dossiers for public non-business services funded with the state budget. Evaluation of bid dossiers must be based on criteria for evaluation of bid dossiers and other requirements set forth in bid invitation dossiers to ensure that providers that are fully capable and experienced and have feasible solutions are selected to provide public non-business services.

2. Method of evaluation of bid dossiers

A mark scale shall be used to evaluate and rank bid dossiers.

3. Ways of evaluation:

a/ Preliminary evaluation through examining the validity of bid dossiers in accordance with the bidding law and evaluating the capacity and experience of the contractor according to criteria for evalaution of capacity and experience stated in the bid invitation dossier;

b/ Evaluation of technology to provide the public non-business service;

c/ Quantity, quality and time of provision of the public non-business service;

d/ Financial evaluation according to criteria for financial evaluation stated in the bid invitation dossier.

Article 15. Prices of bidding packages, bids, successful bids and contractual prices

1. Price of bidding package is the value of a bidding package determined in the plan on bidding for the provision of a public non-business service on the basis of a cost estimate already approved by a competent person or the price set by a registered appraisal agency.

The price of a bidding package is formulated by the bidding organizer on the basis of current economic and technical norms and expense limits issued by competent state agencies.

2. Bid is the price offered by a contractor in the bid dossier after subtracting price reductions (if any), which covers all expenses necessary for performing a bidding package, including all taxes, charges, fees and financial obligations prescribed by law to be paid by the contractor when performing the bidding package.

3. Successful bid is the price approved on the basis of bidding results for use as a basis for the bid inviter to negotiate, finalize and sign a contract with the successful bidder. The successful bid must not exceed the price of the bidding package stated in the approved bidding plan.

4. Contractual price is the price agreed upon by the bid inviter and the successful bidder after negotiating and finalizing a contract and not exceeding the successful bid.

Contractual price and specific payment conditions serve as a basis for payment and settlement of expenses for the provision of public non-business services put up for bidding.

For public non-business services in the training, vocational training and healthcare domains and other public non-business services for which charges and fees are collected according to regulations, the amount of collected charges and fees will be included in the prices of bidding packages, bids, successful bids and contractual prices. Service providers may collect these charges and fees from service users in accordance with law.

Article 16. Contracts on delivery and receipt of the provision of public non-business services, adjustment of contracts

1. After bidding results are approved by competent persons, bidding organizers and service providers shall sign contracts in accordance with law.

2. Contractual terms must comply with the contents prescribed in bid invitation dossiers and current laws.

In addition, the parties may reach agreement to add other contractual terms which must not contravene law.

3. In the course of performance of a contract, if there arise any circumstances causing difficulties to contract performance, the bid inviter and provider shall report them to a competent agency for consideration and decision.

Article 17. Rights and obligations of providers

Service providers that are selected to provide services have the following rights and obligations:

1. To properly and fully perform the signed contract on delivery and receipt of the provision of the public non-business service; to have rights and obligations as stipulated in the contract and relevant laws.

2. To properly observe the provisions of law on accounting and statistics. To take responsibility before law for the services provided.

3. To pay all taxes, charges and fees in accordance with current laws.

4. To submit to the examination and supervision by competent state agencies.

Chapter III

PLACEMENT OF ORDERS FOR THE PROVISION OF PUBLIC NON-BUSINESS SERVICES

Article 18. Conditions on placement of orders for the provision of public non-business services

1. Public non-business services funded with the state budget which do not meet all bidding conditions (specified in Article 5 of this Regulation) or bidding is impossible because there is only one provider; scientific schemes and projects for which state budget funds are allocated and placement of orders is decided by competent state agencies.

2. Providers that receive orders for the provision of public non-business services funded with the state budget must be capable in terms of capital, production technology level, management ability and workforce to meet the requirements of contracts on placement of orders for the provision of public non-business services.

Article 19. Competence to decide on placement of orders, agencies to place orders for the provision of public non-business services

1. Heads of central agencies may decide on the placement of orders for public non-business services which do not meet all bidding conditions, and scientific research schemes and projects for which funds are allocated from the central budget; may authorize heads of attached specialized agencies to place orders for the provision of public non-business services identified as spending tasks of the central budget.

2. Presidents of provincial-level Peoples Committees may decide on the placement of orders for public non-business services which do not meet all bidding conditions, and scientific research schemes and projects for which funds are allocated from the local budget; may authorize heads of attached specialized agencies to place orders for the provision of public non-business services identified as spending tasks of local budget.

Article 20. Placement of orders for public non-business services

1. Grounds for order placement:

a/ The decision of a person competent to decide on the placement of orders for public non-business services funded with the state budget.

b/ Unit price or price of the public service provided under a placed order, which is determined on the basis of current economic and technical norms and expense limits issued by competent agencies. For public non-business services subject to price appraisal by the State, orders are price appraisal notices of price management agencies according to the Governments regulations detailing the implementation of a number of articles of the Price Ordinance and relevant provisions of law;

c/ Quantity, volume and quality of the public non-business service to be provided according to criteria approved by a competent person;

d/ Time of provision and completion;

e/ Cost estimate allocated by a competent person.

2. Terms of contracts on placement of orders for production and provision of public non-business services:

On the basis of characteristics of ordered public non-business services, service-ordering agencies shall sign with providers contracts with the following principal details:

a/ Name of the public non-business service; scientific research scheme or project:

b/ Quantity or volume;

c/ Quality;

d/ Price, unit price;

e/ Quantity, volume of the public non-business service or scientific research scheme or project;

f/ Contractual value;

g/ Time of completion;

h/ Methods of take-over test and payment;

i/ Responsibilities and obligations between the ordering agency and provider;

j/ Liabilities of the parties for contract breaches.

In addition, the parties may reach agreement to add other contractual terms which must not contravene law.

Article 21. Adjustment of the value of contracts on placement of orders

The value of a order placement contract may be adjusted when so permitted by a competent agency in the following cases:

1. The State adjusts economic and technical norms and expense limits applicable to state budget allocations for public non-business services or scientific and technological schemes and projects.

2. The State changes salary mechanisms and policy and prices of raw materials and fuels.

Chapter IV

MANAGEMENT OF STATE BUDGET FUNDS FOR BIDDING AND PLACEMENT OF ORDERS FOR THE PROVISION OF PUBLIC NON-BUSINESS SERVICES

Article 22. Elaboration and observance of state budget estimates for bidding for the provision of public non-business services

1. Elaboration of estimates: On the basis of tasks and contents of public non-business service put up for bidding or ordered and the decentralization by ministries and localities, units at all levels shall elaborate state budget estimates for these services in each year in accordance with the Law on the State Budget currently in force.

2. Distribution and allocation of budget estimates for bidding for the provision of public non-business services: On the basis of budget estimates decided by competent persons, budget estimates allocated to attached units must clearly indicate budget estimates to be used for bidding and placement of orders for public non-business services.

3. On the basis of budget estimates allocated by competent persons, decentralized units shall organize bidding (placement of orders) for the provision of public non-business services within the limits of these estimates.

4. Providers, after having successfully bid or received orders for the provision of public non-business services, shall monitor and separately account funds received for such successful bid or order, and fulfill all financial obligations (if any).

5. For public non-business services for which charges are allowed to be collected from users, providers shall monitor and fully reflect the collected charge amounts and settle them together with funds provided from the state budget according to current regulations.

6. Any positive difference between revenues and expenses arising from a contract on the provision of a public non-business service is handled as follows:

a/ For providers that are public non-business units, they may use this difference at their disposal under the Governments Decree No. 43/2006/ND-CP of April 25, 2006.

b/ For providers that are individuals or non-public units, they may decide on how to use this difference after fulfilling financial obligations towards the State.

Article 23. Payment for contracts on provision of public non-business services

1. On the basis of results of provision of public non-business services and the signed contracts, bid-inviting and order-placing agencies or units shall test before taking over products of public non-business service and make payment according to current regulations. Agencies that organize bidding for or order the provision of public non-business services funded with the state budget shall make payment and settlement for these services with their allocated budget funds.

2. The order and procedures for payment and settlement for public non-business services for which bidding is organized or orders are placed by the State comply with the Governments Decree No. 60/2003/ND-CP of June 6, 2003, detailing and guiding the implementation of the Law on State Budget and guiding documents.

Article 24. On assignment of the provision of public non-business services funded with the state budget

1. For public non-business services funded with the state budget specified in an Appendix to this Decision which do not fully meet the conditions for bidding (or placement of orders), heads of central agencies or presidents of provincial-level Peoples Committees shall decide to assign the provision of these services to their attached public non-business units according to current regulations.

2. The process of allocation of budget estimates and procedures for payment and settlement for public non-business services assigned by the State comply with the Governments Decree No. 60/2003/ND-CP of June 6, 2003, detailing and guiding the implementation of the Law on State Budget and guiding documents.

Article 25. Organization of examination and supervision of implementation

1. For state management agencies:

a/ Heads of central agencies shall organize examination, monitoring and supervision of the bidding or placement of orders for the provision of public non-business services identified as spending tasks of the central budget.

b/ Presidents of provincial-level Peoples Committees shall organize examination, monitoring and supervision of the bidding or placement of orders for the provision of public non-business services identified as spending tasks of local budget.

2. For finance agencies: Finance agencies at all levels shall perform the state management of financial matters in the bidding and placement of orders for the provision of public non-business services funded with the state budget. State treasuries shall control spending and make payment according to contracts on bidding or placement of orders for the provision of public non-business services, and send monthly, quarterly and annual reports on the implementation to finance agencies of the same level.

Article 26. Handling of violations and disputes

1. Organizations and individuals committing violations of the law on bidding and placement of orders for the provision of public non-business services funded with the state budget shall, depending on the severity of their violations, be sanctioned in one, some or all of the following forms: caution, fine and ban from participation in bidding activities. Cadres and public employees violating the bidding law shall be handled in accordance with the law on cadres and public employees.

Heads of central agencies and presidents of provincial-level Peoples Committees may issue decisions to sanction violations related to bidding. Sanctioning decisions shall be sent to sanctioned organizations or individuals and related agencies and organizations. Sanctioning decisions take effect nationwide and in all branches.

2. Principles and procedures for handling violations, procedures for enforcement of sanctioning decisions and levels of fine comply with the bidding law and other relevant regulations.

3. Any disputes between bidding organizers and providers shall be settled by themselves through negotiation: if no agreement can be reached, they will be settled by a court in accordance with law.

4. Organizations or individuals sanctioned for violations of the law on bidding for the provision of public non-business services may lodge complaints in accordance with the law on complaints and denunciations or initiate lawsuits in accordance with law.

Article 27. Organization of implementation

1. Pursuant to this Regulation, ministers, heads of ministerial-level agencies, heads of other central agencies, and presidents of provincial-level Peoples Committees shall issue specific regulations applicable to their ministries, branches or localities.

2. The Minister of Finance shall guide ministries, ministerial-level agencies, government-attached agencies and provincial-level Peoples Committees to implement this Regulation.

 

 

PRIME MINISTER




Nguyen Tan Dung

 

APPENDIX

LIST OF PUBLIC NON-BUSINESS SERVICES FUNDED WITH THE STATE BUDGET AND SUBJECT TO BIDDING OR ORDER PLACEMENT
(Attached to the Prime Ministers Decision No. 39/2008/QD-TTg of March 14, 2008)

1. Vocational training to serve economic branches according to targets set by the State.

2. Training of teachers for high-quality public universities and colleges.

3. Pre-university training of ethnic minority pupils.

4. Training of university, college and professional secondary students.

5. Compilation of teaching materials.

6. Teaching of foreign languages for students before going to study abroad under state programs and plans.

7. Training of foreigners studying in Vietnam.

8. Training of specialists according to requirements of branches and domains.

9. Composition, setting of and performance of art programs serving the States tasks.

10. Composition and compilation of books, newspapers, magazines and cultural publications serving the States tasks.

11. Foreign-service communication on particular subjects.

12. Communication serving the States ethnic minority policies on particular subjects.

13. Publishing of books and newspapers on particular subjects serving the States irregular political tasks.

14. Supply of books, newspapers and cultural products for mountainous areas and ethnic minorities people under the States programs.

15. Provision of logistics services for national sports teams during training and competition periods.

16. High-achievement competition training under orders placed by the State (in the sports and vocational training domains).

17. Organization of opening and closing ceremonies for major national events, organization of sports and cultural and other festivals (including logistics services, support service and so on).

18. Scientific and technological programs, schemes, projects and tasks (including scientific and technological services).

19. Provision of information technology service products (excluding information technology equipment).

20. Land surveys serving the grant of land use rights certificates.

21. Provision of services of testing chemicals and cosmetics, pharmaceuticals, food hygiene and safety, quality of vaccines and medical biologicals.

22. Provision of preventive medicine activities (chemical impregnation and spraying, handling of the environment against epidemics, immunization).

23. Auction of public assets.

THE PRIME MINISTER
-------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence
- Freedom - Happiness
----------

No. 39/2008/QD-TTg

Hanoi, March 14, 2008

 

DECISION

ISSUING THE REGULATION ON BIDDING, PLACEMENT OFORDERS FOR, AND ASSIGNMENT OF THE PROVISION OF, PUBLIC NON-BUSINESS SERVICES FUNDED WITH THE STATE BUDGET

THE PRIME MINISTER

Pursuant to the December 25, 2001 Law on Organization of the Government;
Pursuant to the December 16, 2002 Law on the State Budget;
Pursuant to the November 25, 2005 Law on-Bidding:
Pursuant to the Governments Resolution No. 05/2005/NQ-CP of April 18, 2005, on stepping up the socialization of education, healthcare, cultural physical training and sports activities;
At the proposal of the Minister of Finance,

DECIDES:

Article 1. To issue together with this Decision the Regulation on bidding, placement of orders for, and assignment of the provision of, public non-business services.

Article 2. This Decision takes effect 15 days after its publication in CONG BAO.

Ministers, heads of ministerial-level agencies, heads of government-attached agencies, and presidents of Peoples Committees of provinces and centrally run cities shall implement this Decision

 

 

PRIME MINISTER




Nguyen Tan Dung

 

REGULATION

ON BIDDING, PLACEMENT OF ORDERS FOR, AND ASSIGNMENT OF THE PROVISION OF, PUBLIC NON-BUSINESS SERVICES FUNDED WITH THE STATE BUDGET
(Issued together with the Prime Ministers Decision No. 39/2008/OD-TTg of March 14, 2008)

Chapter I

GENERAL PROVISIONS

Article 1. Scope of regulation

This Regulation provides for the bidding, placement of orders for, and assignment of, the provision of public non-business services funded with the state budget or state budget-originated sources.

Article 2. Subjects of application

1. State management agencies; agencies allocated with budget funds for providing public non-business services, agencies assigned to provide, or authorized to organize bidding (or place orders) for the provision of, public non-business services funded with the state budget.

2. Domestic and foreign organizations which have the legal person status, individual practitioners lawfully operating in Vietnam and having sufficient conditions for and the function of providing non-business services meeting the States requirements on the provision of public non-business services (below referred to as providers).

Article 3. Interpretation of terms

1. Public non-business service referred to in this Regulation is understood as activities catering for essential needs of the people and communities and falling under the States responsibility.

2. Placement of orders for public non-business services means the designation by state agencies of providers of public non-business services for the people and communities to meet requirements on these services quantity, quality, unit price and timing.

3. Bidding for public non-business services means the process of bidding to select public-service providers (organizations and individuals) possessing the best capacity and experience to provide public non-business services to meet requirements set by bid inviters on the basis of fair, transparent and effective competition.

Article 4. List of public non-business services funded with the state budget which are subject to bidding or placement of orders for provision

1. The list of public non-business services funded with the state budget which are subject to bidding or placement of orders for provision is included in an Appendix to this Decision.

2. Based on the practical situation, the Ministry of Finance shall assume the prime responsibility for, and coordinate with concerned agencies in, submitting to the Prime Minister for decision the appropriate revision or addition of the list of public non-business services funded with the state budget which are subject to bidding or placement of orders for provision.

Ministers and heads of ministerial-level agencies, government-attached agencies and other central agencies (below referred to as heads of central agencies); presidents of Peoples Committees of provinces and centrally run cities (below referred to as presidents of provincial-level Peoples Committees) may, on the basis of this Circulars provisions on bidding and placement of orders for public non-business services and the practical situation, decide to add other types of public non-business services funded with the state budget which are subject to bidding (or placement or orders) to the list included in the Appendix to this Decision, and concurrently report it to the Ministry of Finance for monitoring and management.

3. For public non-business services funded with the state budget which are on the above list and identified as spending tasks of the central budget, if conditions do not yet permit the organization of a bidding (or placement of orders), heads of central agencies may decide to assign the provision of these services to public non-business units according to current regulations. For public non-business services funded with the state budget which are on the list and identified as spending tasks of local budget, presidents of provincial-level Peoples Committees may decide to assign the provision of these service to their attached public units according to current regulations.

Chapter II

BIDDING FOR THE PROVISION OF PUBLIC NON-BUSINESS SERVICES

Article 5. Conditions for identifying public non-business services subject to bidding

Bidding is organized for public non-business services when the following conditions are fully met:

1. Public non-business services are funded by the State.

2. Their users are identifiable.

3. Estimated funds are allocated.

4. Their standards and quality are identifiable.

5. They use state budget funds valued at VND 500 million or more.

6. Their bidding has been decided by the head of a central agency (for public non-business services identified as spending tasks of the central budget) or by the president of a provincial-level Peoples Committee (for public non-business services identified as spending tasks of local budget).

Public non-business services which fail to fully meet the conditions for bidding may be put up for placement of orders under Clause 1, Article 18 of this Regulation.

Article 6. Planning and issuance of criteria for evaluation of dossiers of bids for public non-business services

1. Grounds for making a plan on bidding for a public non-business service.

a/ The public non-business service is subject to bidding.

b/ An estimated fund is allocated by competent authorities for the provision of the service.

c/ Related materials and legal documents.

2. Details of a bidding plan.

Depending on its nature and process of provision, a public non-business service may be divided into bidding packages. The division into bidding packages must ensure the entirety of the service. The details of a bidding package under a bidding plan include:

a/ Name of the bidding package: The name of the bidding package must express the characteristics, details and scope of work of the bidding package suitable to the described details of the service;

b/ Standards and objectives of the bidding package;

c/ Price of the bidding package: The price of the bidding package must be formulated by the bidding organizer using current economic and technical norms and expense limits issued by competent state agencies;

d/ Form of selection of provider: bidding method;

e/ Form of contract;

f/ Source of funding: For each individual bidding package, the source of funding and method of payment to the provider must be clearly stated;

g/ Time of selection of provider: The time of organizing the selection of a provider for each bidding package to ensure the implementation schedule of the bidding package in accordance with the Bidding Law;

h/ Time of contract performance: The time of contract performance must ensure that the bidding package is performed in accordance with the progress of provision of the public non-business service.

3. Criteria for evaluation of dossiers of bids for the provision of public non-business services include:

a/ Criteria for providers of public non-business services.

Criteria for evaluation of their financial capability and experience;

Criteria for evaluation of their management capacity and workforce to be involved in the provision of the public non-business service;

- Criteria for technical evaluation;

- Time of provision of public non-business services.

b/ Criteria for public non-business services.

Criteria for evaluation of the process of identifying the technology to form the public non-business service funded with the state budget;

Criteria for the price or price unit of the public non-business service;

Criteria for quality evaluation based on results or products of the service;

- Process and criteria for technical evaluation of the service.

4. Responsibilities of ministries, branches and localities in the issuance of criteria for evaluation of dossiers of bids for the provision of public non-business services:

a/ Ministers in charge of branches or domains with public non-business services funded with the state budget shall organize bidding for the formulation of criteria for evaluation of dossiers of bids for the provision of each type of these services and use these criteria as a basis for evaluation of dossiers of bids for the provision of public non-business services.

b/ Heads of central agencies shall:

Issue criteria for evaluation of bid dossiers and selection of providers for public non-business services identified as spending tasks of the central budget;

Issue model dossiers of bids for the provision of public non-business services in each domain;

Concretize criteria issued by line ministries for application to the bidding for the provision of public non-business services identified as their spending tasks.

c/ Presidents of provincial-level Peoples Committees shall base themselves on criteria for evaluation of dossiers of bids for the provision of public non-business services issued by ministries under Point a, Clause 4 above, to issue specific criteria for evaluation of bid dossiers and selection of providers for public non-business services identified as spending tasks of local budget which are appropriate to their practical conditions.

Article 7. Submission and approval of bidding plans and bid invitation dossiers and results of selection of providers

1. Submission of bidding plans for approval:

Agencies assigned to organize bidding for the provision of public non-business services funded with the state budget shall submit bidding plans to persons competent to approve bidding plans for consideration and approval (prescribed below), and concurrently send these plans to bidding appraisal agencies, organizations or sections specified in Article 8 of this Regulation.

2. Competence to approve bidding plans:

a/ Ministers and heads of central agencies are responsible for approving bidding plans for the provision of public non-business services identified as spending tasks of the central budget;

b/ Presidents of provincial-level Peoples Committees are responsible for approving bidding plans for the provision of public non-business services identified as spending tasks of local budget.

3. Competence to approve bid invitation dossiers and results of selection of providers:

a/ Ministers or heads of central agencies are responsible for approving or authorizing heads of attached lower-level units to approve, on the basis of reports of appraisal agencies, bid invitation dossiers and results of selection of providers of public non-business services ordered by the State, for public non-business services identified as spending tasks of the central budget.

b/ Presidents of provincial-level Peoples Committees are responsible for approving or authorizing heads of attached specialized units or agencies to approve, on the basis of reports of appraisal agencies, bid invitation dossiers and results of selection of providers of public non-business services ordered by the State, for public non-business services identified as spending tasks of local budget.

Article 8. Appraisal in bidding

Appraisal in bidding includes appraisal of bidding plans, appraisal of bid invitation dossiers and appraisal of results of selection of contractors.

1. Appraisal agencies, organizations and sections:

a/ Heads of central agencies shall organize appraisal in bidding for the provision of public non-business services funded with the state budget; or decide on agencies, organizations or sections to organize the appraisal of bidding plans, bid invitation dossiers and results of selection of providers.

b/ Presidents of provincial-level Peoples Committees shall organize appraisal in bidding for the provision of public non-business services funded with the local budget; or decide on the decentralization of provincial-level Finance Services or relevant specialized services to organize the appraisal of bidding plans, bid invitation dossiers and results of selection of providers.

2. Appraisal requirements:

a/ Agencies, organizations and sections assigned to appraise bidding plans shall examine and assess matters specified in Articles 5 and 6 of this Decision and send appraisal reports to persons competent to approve bidding plans.

b/ The duration of appraisal in bidding is 20 (twenty) days at most, counting from the date of receipt of complete and valid dossiers.

Article 9. Expenses in bidding

Pursuant to legal provisions on bidding, the Ministry of Finance shall issue specific regulations and guidance on selling prices of bid invitation dossiers, expenses for appraisal of results of selection of contractors and expenses for advisory councils to deal with petitions of contractors-concerning results of selection of contractors for each type of public non-business service funded with the state budget.

Article 10. Forms of selection of providers

1. Open bidding: Open bidding is obligatory for public non-business services funded with the state budget which are subject to bidding.

2. Restricted bidding: Restricted bidding is applied to public non-business services involving high technical requirements or of a special nature and those to be provided on a research or experimental basis for which the number of providers capable of meeting requirements of bidding packages is limited.

3. Designation of contractors: Designation of contractors is applied to public non-business services using state budget funds valued at under VND 500 million. Designation of contractors must be decided by persons competent to approve bidding plans specified in Article 7 of this Regulation.

Article 11. Competence to decide on the organization of bidding for the provision of public non-business services

1. Heads of central agencies shall decide on the organization of bidding for the provision of public non-business services; or decide on the decentralization of heads of attached specialized agencies to organize bidding for the provision of public non-business services identified as spending tasks of the central budget.

2. Presidents of provincial-level Peoples Committees shall decide on the organization of bidding for the provision of public non-business services; or decide on the decentralization of heads of attached specialized agencies to organize bidding for the provision of public non-business services identified as spending tasks of the local budget.

Article 12. Conditions on organization of bidding and bidding participation

1. Bidding for the provision of public non-business services may be organized only when the following conditions are fully met:

a/ The plan on bidding for the provision of the public non-business service has been approved by a competent state agency;

b/ The bid imitation dossier has been approved by a competent person.

The bid inviter shall supply bid invitation dossiers to providers wishing to participate in the bidding. Such a bid invitation dossier must not contain any condition aiming to restrict participation of providers or create an advantage for any or some providers, which causes unfair competition.

For public non-business services eligible for designation of contractors, such designation must be planned and approved in the bidding plan and their estimated prices must be approved;

c/ Bidding information has been published in accordance with the bidding law;

d/ An estimated fund for the provision of the public non-business service has been allocated.

2. Service providers participating in the bidding must fully meet the following conditions:

a/ Having the function of providing services similar to the public non-business service put up for bidding;

b/ Having a certificate of registration of business lines relevant to the public non-business service put up for bidding;

c/ Having the legal person status (for providers being domestic and foreign organizations and units);

d/ Not having an unhealthy financial status, not being in a state of bankruptcy or not being insolvent or not being in the process of dissolution as concluded by a competent agency;

e/ Having paid a bidding guarantee sum as requested by the biding organizer;

f/ Meeting the requirements set forth in the bid inviters bid invitation notice or letter.

Article 13. Organization of bidding

1. Issuance of bid invitation dossiers: The bid inviter shall sell bid invitation dossiers before the time of bidding closure to providers on the list of those invited to participate in the bidding at the price prescribed by the Ministry of Finance. Bid invitation notices must be published at least 10 days before the date of issuance of bid invitation dossiers.

2. Preparation of bid dossiers: Providers shall prepare bid dossiers as requested by the bid inviter and submit them together with a bidding participation security sum. A provider who wishes to change its status (name) of bidding participation declared at the time of purchase of a bid invitation dossier or registration of bidding participation shall notify it in writing to the bid inviter. The bid inviter shall consider such change only when it receives the written notice before the time of bidding closure.

If there are fewer than 3 (three) providers participating in the bidding at the time of bidding closure, the agency assigned to organize the bidding shall report it to the person with deciding competence.

3. Receipt and management of bid dossiers: The bid inviter shall receive and manage submitted bid dossiers according to regulations on management of secret dossiers. Bid dossiers sent to the bid inviter after the time of bidding closure shall be regarded as invalid and returned in their original conditions to the providers. Any documents sent by providers after the time of bidding closure for modifying and supplementing bid dossiers shall be regarded as invalid (except for documents explaining bid dossiers).

4. Modification or withdrawal of bid dossiers: A provider that wishes to modify or withdraw its bid dossier already submitted shall make a written request. The bid inviter may accept such written request only when it receives it before the time of bidding closure. A written request for withdrawal of a bid dossier must be sent separately from the bid dossier.

5. Opening of bids:

a/ Bids must be publicly opened immediately after the time of bidding closure at the time and venue indicated in the bid invitation dossier and in the witness of present persons regardless of the presence or absence of invited providers. The bid inviter may invite representatives of related agencies to attend the bid-opening ceremony.

b/ The bid inviter shall open the dossiers of providers one by one in the alphabetic order of the names of contractors and the following process:

- Checking the seal;

- Opening the dossier, read and write in a minutes the following principal information:

+ Name of contractor;

+ Number of original and photocopied sets.

+ Validity time of dossier;

+ Document proposing dossier modification, if any;

+ Other relevant information.

The bid opening minutes must be signed by providers, representatives of the bidding organizer and related agencies.

6. Matters concerning bidding information and handling of bidding and other matters not mentioned in this Regulation comply with the Bidding Law and its guiding documents.

Article 14. Evaluation of bid dossiers

1. Bidding organizers shall evaluate bid dossiers for public non-business services funded with the state budget. Evaluation of bid dossiers must be based on criteria for evaluation of bid dossiers and other requirements set forth in bid invitation dossiers to ensure that providers that are fully capable and experienced and have feasible solutions are selected to provide public non-business services.

2. Method of evaluation of bid dossiers

A mark scale shall be used to evaluate and rank bid dossiers.

3. Ways of evaluation:

a/ Preliminary evaluation through examining the validity of bid dossiers in accordance with the bidding law and evaluating the capacity and experience of the contractor according to criteria for evalaution of capacity and experience stated in the bid invitation dossier;

b/ Evaluation of technology to provide the public non-business service;

c/ Quantity, quality and time of provision of the public non-business service;

d/ Financial evaluation according to criteria for financial evaluation stated in the bid invitation dossier.

Article 15. Prices of bidding packages, bids, successful bids and contractual prices

1. Price of bidding package is the value of a bidding package determined in the plan on bidding for the provision of a public non-business service on the basis of a cost estimate already approved by a competent person or the price set by a registered appraisal agency.

The price of a bidding package is formulated by the bidding organizer on the basis of current economic and technical norms and expense limits issued by competent state agencies.

2. Bid is the price offered by a contractor in the bid dossier after subtracting price reductions (if any), which covers all expenses necessary for performing a bidding package, including all taxes, charges, fees and financial obligations prescribed by law to be paid by the contractor when performing the bidding package.

3. Successful bid is the price approved on the basis of bidding results for use as a basis for the bid inviter to negotiate, finalize and sign a contract with the successful bidder. The successful bid must not exceed the price of the bidding package stated in the approved bidding plan.

4. Contractual price is the price agreed upon by the bid inviter and the successful bidder after negotiating and finalizing a contract and not exceeding the successful bid.

Contractual price and specific payment conditions serve as a basis for payment and settlement of expenses for the provision of public non-business services put up for bidding.

For public non-business services in the training, vocational training and healthcare domains and other public non-business services for which charges and fees are collected according to regulations, the amount of collected charges and fees will be included in the prices of bidding packages, bids, successful bids and contractual prices. Service providers may collect these charges and fees from service users in accordance with law.

Article 16. Contracts on delivery and receipt of the provision of public non-business services, adjustment of contracts

1. After bidding results are approved by competent persons, bidding organizers and service providers shall sign contracts in accordance with law.

2. Contractual terms must comply with the contents prescribed in bid invitation dossiers and current laws.

In addition, the parties may reach agreement to add other contractual terms which must not contravene law.

3. In the course of performance of a contract, if there arise any circumstances causing difficulties to contract performance, the bid inviter and provider shall report them to a competent agency for consideration and decision.

Article 17. Rights and obligations of providers

Service providers that are selected to provide services have the following rights and obligations:

1. To properly and fully perform the signed contract on delivery and receipt of the provision of the public non-business service; to have rights and obligations as stipulated in the contract and relevant laws.

2. To properly observe the provisions of law on accounting and statistics. To take responsibility before law for the services provided.

3. To pay all taxes, charges and fees in accordance with current laws.

4. To submit to the examination and supervision by competent state agencies.

Chapter III

PLACEMENT OF ORDERS FOR THE PROVISION OF PUBLIC NON-BUSINESS SERVICES

Article 18. Conditions on placement of orders for the provision of public non-business services

1. Public non-business services funded with the state budget which do not meet all bidding conditions (specified in Article 5 of this Regulation) or bidding is impossible because there is only one provider; scientific schemes and projects for which state budget funds are allocated and placement of orders is decided by competent state agencies.

2. Providers that receive orders for the provision of public non-business services funded with the state budget must be capable in terms of capital, production technology level, management ability and workforce to meet the requirements of contracts on placement of orders for the provision of public non-business services.

Article 19. Competence to decide on placement of orders, agencies to place orders for the provision of public non-business services

1. Heads of central agencies may decide on the placement of orders for public non-business services which do not meet all bidding conditions, and scientific research schemes and projects for which funds are allocated from the central budget; may authorize heads of attached specialized agencies to place orders for the provision of public non-business services identified as spending tasks of the central budget.

2. Presidents of provincial-level Peoples Committees may decide on the placement of orders for public non-business services which do not meet all bidding conditions, and scientific research schemes and projects for which funds are allocated from the local budget; may authorize heads of attached specialized agencies to place orders for the provision of public non-business services identified as spending tasks of local budget.

Article 20. Placement of orders for public non-business services

1. Grounds for order placement:

a/ The decision of a person competent to decide on the placement of orders for public non-business services funded with the state budget.

b/ Unit price or price of the public service provided under a placed order, which is determined on the basis of current economic and technical norms and expense limits issued by competent agencies. For public non-business services subject to price appraisal by the State, orders are price appraisal notices of price management agencies according to the Governments regulations detailing the implementation of a number of articles of the Price Ordinance and relevant provisions of law;

c/ Quantity, volume and quality of the public non-business service to be provided according to criteria approved by a competent person;

d/ Time of provision and completion;

e/ Cost estimate allocated by a competent person.

2. Terms of contracts on placement of orders for production and provision of public non-business services:

On the basis of characteristics of ordered public non-business services, service-ordering agencies shall sign with providers contracts with the following principal details:

a/ Name of the public non-business service; scientific research scheme or project:

b/ Quantity or volume;

c/ Quality;

d/ Price, unit price;

e/ Quantity, volume of the public non-business service or scientific research scheme or project;

f/ Contractual value;

g/ Time of completion;

h/ Methods of take-over test and payment;

i/ Responsibilities and obligations between the ordering agency and provider;

j/ Liabilities of the parties for contract breaches.

In addition, the parties may reach agreement to add other contractual terms which must not contravene law.

Article 21. Adjustment of the value of contracts on placement of orders

The value of a order placement contract may be adjusted when so permitted by a competent agency in the following cases:

1. The State adjusts economic and technical norms and expense limits applicable to state budget allocations for public non-business services or scientific and technological schemes and projects.

2. The State changes salary mechanisms and policy and prices of raw materials and fuels.

Chapter IV

MANAGEMENT OF STATE BUDGET FUNDS FOR BIDDING AND PLACEMENT OF ORDERS FOR THE PROVISION OF PUBLIC NON-BUSINESS SERVICES

Article 22. Elaboration and observance of state budget estimates for bidding for the provision of public non-business services

1. Elaboration of estimates: On the basis of tasks and contents of public non-business service put up for bidding or ordered and the decentralization by ministries and localities, units at all levels shall elaborate state budget estimates for these services in each year in accordance with the Law on the State Budget currently in force.

2. Distribution and allocation of budget estimates for bidding for the provision of public non-business services: On the basis of budget estimates decided by competent persons, budget estimates allocated to attached units must clearly indicate budget estimates to be used for bidding and placement of orders for public non-business services.

3. On the basis of budget estimates allocated by competent persons, decentralized units shall organize bidding (placement of orders) for the provision of public non-business services within the limits of these estimates.

4. Providers, after having successfully bid or received orders for the provision of public non-business services, shall monitor and separately account funds received for such successful bid or order, and fulfill all financial obligations (if any).

5. For public non-business services for which charges are allowed to be collected from users, providers shall monitor and fully reflect the collected charge amounts and settle them together with funds provided from the state budget according to current regulations.

6. Any positive difference between revenues and expenses arising from a contract on the provision of a public non-business service is handled as follows:

a/ For providers that are public non-business units, they may use this difference at their disposal under the Governments Decree No. 43/2006/ND-CP of April 25, 2006.

b/ For providers that are individuals or non-public units, they may decide on how to use this difference after fulfilling financial obligations towards the State.

Article 23. Payment for contracts on provision of public non-business services

1. On the basis of results of provision of public non-business services and the signed contracts, bid-inviting and order-placing agencies or units shall test before taking over products of public non-business service and make payment according to current regulations. Agencies that organize bidding for or order the provision of public non-business services funded with the state budget shall make payment and settlement for these services with their allocated budget funds.

2. The order and procedures for payment and settlement for public non-business services for which bidding is organized or orders are placed by the State comply with the Governments Decree No. 60/2003/ND-CP of June 6, 2003, detailing and guiding the implementation of the Law on State Budget and guiding documents.

Article 24. On assignment of the provision of public non-business services funded with the state budget

1. For public non-business services funded with the state budget specified in an Appendix to this Decision which do not fully meet the conditions for bidding (or placement of orders), heads of central agencies or presidents of provincial-level Peoples Committees shall decide to assign the provision of these services to their attached public non-business units according to current regulations.

2. The process of allocation of budget estimates and procedures for payment and settlement for public non-business services assigned by the State comply with the Governments Decree No. 60/2003/ND-CP of June 6, 2003, detailing and guiding the implementation of the Law on State Budget and guiding documents.

Article 25. Organization of examination and supervision of implementation

1. For state management agencies:

a/ Heads of central agencies shall organize examination, monitoring and supervision of the bidding or placement of orders for the provision of public non-business services identified as spending tasks of the central budget.

b/ Presidents of provincial-level Peoples Committees shall organize examination, monitoring and supervision of the bidding or placement of orders for the provision of public non-business services identified as spending tasks of local budget.

2. For finance agencies: Finance agencies at all levels shall perform the state management of financial matters in the bidding and placement of orders for the provision of public non-business services funded with the state budget. State treasuries shall control spending and make payment according to contracts on bidding or placement of orders for the provision of public non-business services, and send monthly, quarterly and annual reports on the implementation to finance agencies of the same level.

Article 26. Handling of violations and disputes

1. Organizations and individuals committing violations of the law on bidding and placement of orders for the provision of public non-business services funded with the state budget shall, depending on the severity of their violations, be sanctioned in one, some or all of the following forms: caution, fine and ban from participation in bidding activities. Cadres and public employees violating the bidding law shall be handled in accordance with the law on cadres and public employees.

Heads of central agencies and presidents of provincial-level Peoples Committees may issue decisions to sanction violations related to bidding. Sanctioning decisions shall be sent to sanctioned organizations or individuals and related agencies and organizations. Sanctioning decisions take effect nationwide and in all branches.

2. Principles and procedures for handling violations, procedures for enforcement of sanctioning decisions and levels of fine comply with the bidding law and other relevant regulations.

3. Any disputes between bidding organizers and providers shall be settled by themselves through negotiation: if no agreement can be reached, they will be settled by a court in accordance with law.

4. Organizations or individuals sanctioned for violations of the law on bidding for the provision of public non-business services may lodge complaints in accordance with the law on complaints and denunciations or initiate lawsuits in accordance with law.

Article 27. Organization of implementation

1. Pursuant to this Regulation, ministers, heads of ministerial-level agencies, heads of other central agencies, and presidents of provincial-level Peoples Committees shall issue specific regulations applicable to their ministries, branches or localities.

2. The Minister of Finance shall guide ministries, ministerial-level agencies, government-attached agencies and provincial-level Peoples Committees to implement this Regulation.

 

 

PRIME MINISTER




Nguyen Tan Dung

 

APPENDIX

LIST OF PUBLIC NON-BUSINESS SERVICES FUNDED WITH THE STATE BUDGET AND SUBJECT TO BIDDING OR ORDER PLACEMENT
(Attached to the Prime Ministers Decision No. 39/2008/QD-TTg of March 14, 2008)

1. Vocational training to serve economic branches according to targets set by the State.

2. Training of teachers for high-quality public universities and colleges.

3. Pre-university training of ethnic minority pupils.

4. Training of university, college and professional secondary students.

5. Compilation of teaching materials.

6. Teaching of foreign languages for students before going to study abroad under state programs and plans.

7. Training of foreigners studying in Vietnam.

8. Training of specialists according to requirements of branches and domains.

9. Composition, setting of and performance of art programs serving the States tasks.

10. Composition and compilation of books, newspapers, magazines and cultural publications serving the States tasks.

11. Foreign-service communication on particular subjects.

12. Communication serving the States ethnic minority policies on particular subjects.

13. Publishing of books and newspapers on particular subjects serving the States irregular political tasks.

14. Supply of books, newspapers and cultural products for mountainous areas and ethnic minorities people under the States programs.

15. Provision of logistics services for national sports teams during training and competition periods.

16. High-achievement competition training under orders placed by the State (in the sports and vocational training domains).

17. Organization of opening and closing ceremonies for major national events, organization of sports and cultural and other festivals (including logistics services, support service and so on).

18. Scientific and technological programs, schemes, projects and tasks (including scientific and technological services).

19. Provision of information technology service products (excluding information technology equipment).

20. Land surveys serving the grant of land use rights certificates.

21. Provision of services of testing chemicals and cosmetics, pharmaceuticals, food hygiene and safety, quality of vaccines and medical biologicals.

22. Provision of preventive medicine activities (chemical impregnation and spraying, handling of the environment against epidemics, immunization).

23. Auction of public assets.

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.

Tải App LuatVietnam miễn phí trên Android tại đây trên IOS tại đây. Xem thêm

Văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!