• Tổng quan
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung hợp nhất 

    Tính năng này chỉ có tại LuatVietnam.vn. Nội dung hợp nhất tổng hợp lại tất cả các quy định còn hiệu lực của văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính... trên một trang. Việc hợp nhất văn bản gốc và những văn bản, Thông tư, Nghị định hướng dẫn khác không làm thay đổi thứ tự điều khoản, nội dung.

    Khách hàng chỉ cần xem Nội dung hợp nhất là có thể nắm bắt toàn bộ quy định hiện hành đang áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

    =>> Xem hướng dẫn chi tiết cách sử dụng Nội dung hợp nhất

  • Tải về
Lưu
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Theo dõi VB
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Ghi chú
Báo lỗi
In

Quyết định 2332/QĐ-UBND Khánh Hòa 2025 phê duyệt Đề án quản lý bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể

Ngày cập nhật: Thứ Sáu, 05/12/2025 14:57 (GMT+7)
Cơ quan ban hành: Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa
Số công báo:
Số công báo là mã số ấn phẩm được đăng chính thức trên ấn phẩm thông tin của Nhà nước. Mã số này do Chính phủ thống nhất quản lý.
Đang cập nhật
Số hiệu: 2332/QĐ-UBND Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Quyết định Người ký: Nguyễn Long Biên
Trích yếu: Về việc phê duyệt Đề án Quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” giai đoạn 2025 - 2028 và những năm tiếp theo
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
03/12/2025
Ngày hết hiệu lực:
Ngày hết hiệu lực là ngày, tháng, năm văn bản chính thức không còn hiệu lực (áp dụng).
Đang cập nhật
Ngày áp dụng:
Ngày áp dụng là ngày, tháng, năm văn bản chính thức có hiệu lực (áp dụng).
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Lĩnh vực: Văn hóa-Thể thao-Du lịch

TÓM TẮT QUYẾT ĐỊNH 2332/QĐ-UBND

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải Quyết định 2332/QĐ-UBND

Tải văn bản tiếng Việt (.pdf) Quyết định 2332/QĐ-UBND PDF (Bản có dấu đỏ)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA
Số: /QĐ-UBND
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Khánh Hòa, ngày tháng năm 2025
QUYẾT ĐỊNH
Về việc phê duyệt Đề án Quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản
văn hóa phi vật thể “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” giai đoạn
2025 - 2028 và những năm tiếp theo
CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16/6/2025;
Căn cứ Luật Di sản văn hóa ngày 23/11/2024;
Căn cứ Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày
21/9/2010
của Chính phủ
quy
định
chi
tiết
thi
hành một số điều của Luật
Di
sản văn hóa và Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa;
Căn cứ Nghị định số
215
5
/NĐ-CP ngày
04
/
8
/
202
5
của Chính phủ
về
Quy
định các biện pháp quản lý, bảo vệ và phát
huy
giá trị
di
sản văn hóa
và thiên nhiên thế giới,
di
sản văn hóa dưới nước,
di
sản văn hóa
phi
vật thể
trong
các
Danh
sách của
UNESCO
và
Danh
mục về
di
sản văn hóa
phi
vật thể
và chính sách đối với nghệ nhân, chủ thể di sản văn hóa phi vật thể;
Căn cứ Quyết định số
17.COM
7.A.3
ngày
29/11/2022
của Ủy
ban
liên
Chính phủ Công ước
2003
về bảo vệ
di
sản văn hóa
phi
vật thể của
UNESCO
ghi
danh
Nghệ thuật làm gốm của người Chăm vào
Danh
sách
di
sản văn hoá
phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp;
Căn cứ Công văn số
2504/BVHTTDL-DSVH
ngày
23
/
6
/
2023
của Bộ Văn
hoá, Thể
thao
và
Du
lịch về việc thực hiện Chương trình hành động quốc
gia
bảo vệ và phát
huy
giá trị
di
sản văn hoá
phi
vật thể “Nghệ thuật làm gốm của
người Chăm;
Căn cứ Công văn số
6716-CV/TU
ngày
02
/
4
/
2025
của Tỉnh ủy
Ninh
Thuận về việc
cho
ý kiến về Đề án Bảo tồn và phát
huy
giá trị
di
sản văn hóa
phi
vật thể “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm”
giai
đoạn
2023-2028
và
những năm tiếp theo;
2332
03
12
2
Căn cứ Công văn số
390-CV/VPTU
ngày
12/11/2025
của Văn phòng
Tỉnh ủy Khánh Hòa về việc
cho
ý kiến đối với dự thảo Đề án Quản lý, bảo vệ
và phát
huy
giá trị
di
sản văn hóa
phi
vật thể “Nghệ thuật làm gốm của người
Chăm”.
Căn cứ Công văn số
3100/BVHTTDL-DSVH
n
gày
30/6/2025
của Bộ Văn
hóa, Thể
thao
và
Du
lịch về việc thỏa thuận Đề án Bảo tồn và phát
huy
giá trị
di sản Nghệ thuật làm gốm của người Chăm;
Theo
đề nghị của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể
thao
và
Du
lịch tại Tờ trình
số 3443/TTr-SVHTTDL ngày 25/11/2025.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều
1.
Phê duyệt Đề án Quản lý, bảo vệ và phát
huy
giá trị
di
sản văn
hóa
phi
vật thể “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm”
giai
đoạn
202
5
-
2028
và những năm tiếp theo (đính kèm Đề án).
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Chánh Văn phòng Ủy
ban
nhân dân tỉnh
;
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể
thao
và
Du
lịch
;
Chủ tịch Ủy
ban
nhân dân các xã, phườ
ng,
đặ
c
khu
;
Thủ trưởng
các cơ
quan,
đơn vị và các tổ chức, cá nhân có liên
quan
chịu trách nhiệm
thi
hành Quyết định này./.
Nơi nhận:
- Như Điều 2;
- Bộ VHTTDL (báo cáo);
- Bộ Ngoại giao;
- UB UNESCO VN;
- TT. Tỉnh ủy; TT. HĐND tỉnh (báo cáo);
- Chủ tịch UBND tỉnh;
- Các PCT UBND tỉnh;
- Các sở, ban, ngành cấp tỉnh;
- UBND các xã, phường, đặc khu;
- Lãnh đạo VPUBND tỉnh;
- Phòng Kinh tế, phòng XDNĐ;
- TTCB&TTĐT tỉnh;
- Lưu: VT, NcT, NN.
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Nguyễn Long Biên
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐỀ ÁN
Quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể
“Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” giai đoạn 2025 - 2028
và những năm tiếp theo
(Kèm theo Quyết định số /QĐ-UBND ngày tháng năm 2025
của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa)
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết xây dựng đề án
Người Chăm là dân tộc thiểu số ở Việt Nam có số dân hơn 178.948 người. Họ
là chủ nhân nhiều di sản văn hóa như đền tháp, lễ hội và làng nghề, trong đó có nghề
gốm ở làng Bàu Trúc. Nghề làm gốm đã gắn chặt không chỉ đối với đời sống kinh tế
mà cả văn hoá xã hội đối với người Chăm làng Bàu Trúc từ bao đời nay. Trải qua
những biến cố thăng trầm của lịch sử, trong mọi hoàn cảnh dù khó khăn đến đâu
người Chăm Bàu Trúc vẫn không bỏ nghề, mặc dù có những lúc do điều kiện khách
quan buộc họ phải tạm ngưng nghề gốm. Nghề gốm từ trước đến nay đã ăn sâu vào
tâm thức của người Chăm. Vì thế họ luôn nâng niu, tôn trọng và coi đó là nghề thiêng
liêng do chính ông bà, tổ tiên mình để lại.
Sau gần 4 năm (2019 - 2022) đệ trình hồ sơ đề cử quốc gia, đến cuối năm 2022,
tại kỳ họp thứ 17 (từ ngày 28/11 - 3/12/2022) tại thủ đô Rabat, vương quốc Maroc,
Ủy ban liên Chính phủ Công ước 2003 của UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học
và Văn hoá của Liên hiệp quốc) đã quyết định ghi danh “Nghệ thuật làm gốm của
người Chăm” là di sản văn hoá phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp vào ngày 29/11/2022.
Đây là danh sách được UNESCO thiết lập để ghi danh theo tiêu chí đối với hồ sơ di
sản văn hoá phi vật thể cần sự bảo vệ khẩn cấp bởi vì sự sống còn của di sản văn hoá
phi vật thể đang bị đe doạ, mặc dù có các nỗ lực bảo vệ của cộng đồng, nhóm người
hoặc trong một số trường hợp, các cá nhân và quốc gia thành viên có liên quan hoặc
di sản đang đối diện với các mối đe doạ nghiêm trọng, nếu không được bảo vệ ngay
lập tức thì sẽ không thể tồn tại.
Có thể nói, di sản Nghệ thuật làm gốm của người Chăm liên quan đến nghề thủ
công truyền thống làm gốm Chăm bằng tay và sử dụng các công cụ đơn giản. Chủ
thể văn hóa và người thực hành chủ yếu là phụ nữ Chăm. Tri thức và kỹ năng làm
nghề được trao truyền trong gia đình, dòng họ và cộng đồng. Việc trao truyền được
thực hiện bằng biện pháp kể chuyện và thực hành hàng ngày. Di sản thu hút sự trao
đổi và tương tác giữa những người thực hành nghề, các sinh hoạt xã hội và nâng cao
vai trò của người phụ nữ Chăm trong xã hội hiện đại. Di sản gắn liền với nghệ thuật
trình diễn dân gian, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, trong đó có các nghi lễ
liên quan đến ông tổ nghề làm gốm của người Chăm (thần Po Klaong Can).
Bên cạnh đó, nghệ thuật làm gốm của người Chăm có ý nghĩa quan trọng trong
việc duy trì kinh tế, bảo đảm đời sống dân làng; thúc đẩy sự phát triển xã hội; bảo
lưu được thuần phong mỹ tục của xã hội mẫu hệ của người Chăm từ xưa đến nay,
góp phần đắc lực vào việc lưu giữ bản sắc văn hóa Chăm ở Việt Nam và một phần
văn hoá khác (xã hội mẫu hệ, yếu tố gốm cổ) ở khu vực Đông Nam Á.
2332
03
12
2
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau cả chủ quan và khách quan, nghề
gốm truyền thống của người Chăm đang có xu hướng biến đổi và mai một, thậm chí
đứng trước nguy cơ biến mất. Do đó, việc UNESCO ghi danh Nghệ thuật làm gốm
của người Chăm vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp là
phương án tối ưu; cùng với việc công bố Chương trình hành động quốc gia về bảo
vệ và phát huy giá trị văn hoá phi vật thể và những hỗ trợ và giải pháp tích cực của
Chính phủ, chính quyền địa phương sẽ giúp cho di sản này được bảo vệ tốt hơn cho
thế hệ sau.
Bên cạnh đó, việc đề xuất các ý tưởng nhằm phục hồi, bảo vệ và phát huy các
giá trị truyền thống để nghề gốm của Bàu Trúc có được vị thế tương xứng với giá trị
văn hoá vốn có cũng như việc Quy hoạch chỉnh trang các phân khu chức năng trong
làng nghề để xây dựng nên một không gian văn hóa đặc sắc, đậm đà bản sắc dân tộc
và phát triển được kinh tế làng nghề gắn liền với phát triển du lịch là một viêc làm
cấp thiết đòi hỏi phải có chiến lược ngắn hạn và lâu dài. Đi đôi với nó là các chính
sách vận hành linh hoạt phù hợp với cơ chế kinh tế xã hội hiện nay, bảo vệ nét đặc
thù riêng trong nghệ thuật làm gốm người Chăm ở Bàu Trúc là một nhiệm vụ ưu tiên
trong chiến lược phát triển kinh tế của xã Ninh Phước nói riêng và tỉnh Khánh Hòa
nói chung.
Chính vì những lý do trên, việc xây dựng đề án Quản lý, bảo vệ và phát huy giá
trị di sản văn hoá phi vật thể Nghệ thuật làm gốm của người Chăm là việc làm cần
thiết và mang tính cấp bách, trước yêu cầu của một di sản mang tầm quốc tế.
2. Quy định pháp lý trong nước và quốc tế có liên quan đến việc quản lý,
bảo vệ và phát huy giá trị di sản
- Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể của Đại hội đồng Tổ chức
Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc, họp phiên thứ 32 tại Paris, từ
ngày 29/09 đến ngày 17/10/2003;
- Công ước về Bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa của Đại
hội đồng của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc họp phiên
thứ 33 tại Paris, từ ngày 3 đến ngày 21 tháng 10 năm 2005;
- Quyết định số 17.COM 7.A.3 ngày 29/11/2022 của Ủy ban liên Chính phủ
Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO ghi danh Nghệ
thuật làm gốm của người Chăm vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể cần bảo vệ
khẩn cấp;
- Luật Di sản Văn hoá của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày
29/06/2001; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hóa của Quốc
Hội khóa XII, kỳ họp thứ 5 ngày 18/06/2009; và Luật sửa đổi và bổ sung của Luật
Di sản văn hóa của Quốc hội Khóa XV, kỳ họp thứ 8 ngày 23/11/2024.
- Luật Xây dựng (sửa đổi và bổ sung), số 62/2020/QH14 ngày 17/06/2020;
- Luật đất đai sửa đổi bổ sung số 31/2024/QH15;
- Nghị quyết số 33-NQ/TW (Nghị quyết Trung ương 9, khoá XI), ngày
09/6/2014 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về “Xây dựng và phát triển văn hoá,
con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”;
3
- Căn cứ Quyết định số 1319/QĐ-TTg, ngày 10/11/2023 của Thủ tướng Chính
phủ về Phê duyệt Quy hoạch tỉnh Ninh Thuận thời kỳ 2021 - 2030, tìm nhìn đến năm
2050;
- Quyết định số 801/QĐ-TTg, ngày 07/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ
Chương trình Bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030;
- Quyết định 150/QĐ-TTg, ngày 20/1/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc
phê duyệt chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững giai đoạn 2021-
2030, tầm nhìn đến năm 2050;
- Quyết định số 1058/QĐ-TTg, ngày 14/9/2023 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt chiến lược phát triển ngành nghề nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn
đến năm 2045;
- Nghị định số 52/2018/NĐ-CP, ngày 12/4/2018 của Chính phủ về phát triển
ngành nghề nông thôn;
- Nghị định số 215/2025/NĐ-CP ngày 04/08/2025 của Chính phủ về Quy định
các biện pháp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên thế
giới, di sản văn hóa dưới nước, di sản văn hóa phi vật thể trong các Danh mục của
UNESCO và Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể và chính sách đối với
nghệ nhân, chủ thể di sản văn hóa phi vật thể;
- Nghị định số 39/2024/NĐ-CP, ngày 16/4/2024 của Chính phủ về Quy định
biện pháp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong các
Danh sách của UNESCO và Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia;
- Nghị định số 93/2023/NĐ-CP ngày 25/12/2023 của Chính phủ quy định về
xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực di sản
văn hóa phi vật thể;
- Nghị định số 43/2024/NĐ-CP ngày 19/4/2024 của Chính phủ quy định chi tiết
xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực nghề
thủ công mỹ nghệ;
- Chương trình hành động quốc gia về “Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn
hoá phi vật thể Nghệ thuật làm gốm của người Chăm (Giai đoạn 2023 - 2028)” của
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch;
- Công văn số 2504/BVHTTDL-DSVH, ngày 23/6/2023 của Bộ Văn hoá, Thể
thao và Du lịch về việc thực hiện Chương trình hành động quốc gia bảo vệ và phát
huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm”;
- Nghị quyết số 34-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Ban chấp hành
Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa về “Phát huy các giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển
du lịch bền vững tỉnh Khánh Hòa đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”;
- Căn cứ Quyết định số 555/QĐ-UBND, ngày 03/10/2021 của Ủy ban Nhân dân
tỉnh Ninh Thuận về Phê duyệt “Đề án phát triển du lịch Ninh Thuận giai đoạn 2021
- 2025, tầm nhìn đến năm 2030”;
- Công văn số 2984/UBND-VXNV, ngày 21/7/2023 của Ủy ban Nhân dân tỉnh
Ninh Thuận về việc triển khai thực hiện Chương trình hành động quốc gia bảo vệ và
phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm”.
3. Đối tượng và phạm vi xây dựng đề án
3.1. Đối tượng của đề án
4
Đối tượng nghiên cứu lập Đề án bao gồm cộng đồng, các cơ quan nhà nước, tổ
chức có liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa phi vật
thể về nghệ thuật làm gốm của người Chăm ở tỉnh Khánh Hòa được UNESCO ghi
danh, cụ thể:
- Nhận diện giá trị và đặc trưng của nghệ thuật làm gốm của người Chăm.
- Thực trạng thực hành bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn văn hóa phi vật thể
nghệ thuật làm gốm của người Chăm (các chính sách, đề án, chương trình bảo vệ,
bối cảnh thực hành và dự báo các yếu tố tác động).
- Vấn đề quản lý nhà nước và vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ và phát
huy nghệ thuật làm gốm của người Chăm.
- Quảng bá, tuyên truyền bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể
nghệ thuật làm gốm của người Chăm trong phát triển kinh tế, du lịch bền vững tại
địa phương.
3.2. Phạm vi xây dựng đề án
- Về không gian:
Phạm vi nghiên cứu là thôn Bàu Trúc và thôn 12 có thực hành nghề làm gốm
của người Chăm tại xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa.
- Về thời gian:
+ Nghiên cứu thực trạng nghệ thuật làm gốm của người Chăm từ khi UNESCO
vinh danh cuối năm 2022.
+ Nghiên cứu, xây dựng bảo vệ và phát huy giá trị nghệ thuật làm gốm của
người Chăm giai đoạn 2025 - 2028 và những năm tiếp theo.
4. Quan điểm, yêu cầu và nguyên tắc xây dựng đề án
4.1. Quan điểm xây dựng đề án
Ghi danh di sản văn hoá phi vật thể vào các Danh sách của UNESCO là hoạt
động nhằm nhận diện về giá trị, thành tố, chủ thể, nghệ nhân, hiện trạng thực hành,
xác định các biện pháp bảo vệ lâu dài di sản văn hoá phi vật thể. Các danh sách của
UNESCO về Di sản văn hoá phi vật thể gồm 3 loại: 1). Danh sách di sản VHPVT
đại diện của nhân loại (là danh sách được UNESCO thiết lập để ghi danh theo tiêu
chí đối với các hồ sơ di sản văn hoá phi vật thể do các quốc gia thành viên đề nghị
với mục đích đảm bảo tầm nhìn rõ ràng hơn về di sản văn hoá phi vật thể và nhận
thức về tầm quan trọng của chúng, đồng thời khuyến khích đối thoại trên cơ sở tôn
trọng đa dạng văn hoá); 2). Danh sách di sản văn hoá phi vật thể cần bảo vệ khẩn
cấp (là danh sách được UNESCO thiết lập để ghi danh theo tiêu chí đối với hồ sơ di
sản văn hoá phi vật thể cần sự bảo vệ khẩn cấp bởi vì sự sống còn của di sản văn hoá
phi vật thể đang bị đe doạ, mặc dù có các nỗ lực bảo vệ của cộng đồng, nhóm người
hoặc trong một số trường hợp, các cá nhân và quốc gia thành viên có liên quan hoặc
di sản đang đối diện với các mối đe doạ nghiêm trọng, nếu không được bảo vệ ngay
lập tức thì sẽ không thể tồn tại; 3). Danh sách các thực hành tốt về bảo vệ di sản văn
hoá phi vật thể (là danh sách được UNESCO thiết lập, ghi danh các chương trình, dự
án và hoạt động được các quốc gia thành viên đề xuất nhằm khuyến khích, lựa chọn
và phát huy các chương trình, dự án và hoạt động bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể
có quy mô quốc gia, tiểu vùng hoặc khu vực, phản ánh tốt nhất các nguyên tắc và các
mục tiêu của Công ước 2003.
5
- Đối với di sản văn hoá phi vật thể là một loại hình nhạy cảm, cần được quan
tâm thích đáng với các nguyên tắc khắc khe của nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó,
các giải pháp có mục tiêu đảm bảo khả năng tồn tại của di sản văn hoá phi vật thể,
bao gồm việc nhận diện, tư liệu hoá, nghiên cứu, bảo vệ, phát huy, củng cố, chuyển
giao, đặc biệt là thông qua hình thức giáo dục chính thức hoặc phi chính thức cũng
như việc phục hồi các phương diện khác nhau của loại hình di sản văn hoá phi vật
thể.
+ Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể trong sự đa dạng văn
hoá Việt Nam của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng của nền văn
hoá dân tộc, đảm bảo sự đối thoại và tôn trọng sự đa dạng văn hoá.
+ Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể vì cộng đồng, vì đời
sống tinh thần và xã hội của cộng đồng, vì sự gắn kết xã hội, tạo ra nội lực cho sự
phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá tại địa phương.
+ Bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể cần chú trọng đến trao truyền di sản tại
cộng đồng, phát huy vai trò của các nghệ nhân, những người thực hành và các thành
viên gia đình, dòng họ trong việc trao truyền cho thế hệ trẻ trong gia đình, dòng họ
và cộng đồng.
+ Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể là sự nghiệp của cả hệ
thống chính trị, xã hội do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, cộng đồng là chủ thể
sáng tạo, thực hành, trao truyền với sự tham gia của các chuyên gia, các nhà quản lý,
các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức phi quan phương.
+ Thực hiện đầy đủ các cam kết trong việc xây dựng hồ sơ đề cử (Công ước
2003) của UNESCO và các Công ước khác mà Việt Nam là thành viên.
- Nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh vào danh mục
di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp không chỉ là sự công nhận giá trị mà
còn là một cảnh báo về mức độ mai một. Quan điểm bảo vệ và phát huy giá trị di sản
này cần nhấn mạnh các yếu tố sau:
+ Ưu tiên bảo vệ tri thức truyền thống: Nghệ thuật làm gốm của người Chăm
không chỉ là quy trình sản xuất mà còn là sự kế thừa tri thức từ đời này sang đời khác.
Bảo vệ không chỉ dừng lại ở việc ghi lại công thức, kỹ thuật làm gốm, mà còn bao
gồm các truyền thuyết, phong tục và triết lý gắn liền với nghề gốm. Điều này đòi hỏi
sự tham gia trực tiếp của các nghệ nhân lớn tuổi và những cá nhân có hiểu biết sâu
sắc về nghề này.
+ Truyền nghề cho thế hệ trẻ là điều kiện cần: Một trong những thách thức lớn
nhất trong bảo vệ di sản là thiếu người kế thừa. Do vậy, cần có các chương trình
truyền nghề nhằm thu hút thế hệ trẻ người Chăm tham gia học tập và thực hành nghề
gốm. Việc này có thể được hỗ trợ thông qua các hình thức khuyến khích, hỗ trợ tài
chính hay thậm chí là đưa các khóa học vào giáo dục cộng đồng, có chương trình trải
nghiệm và truyền dạy kiến thức cho học sinh địa phương có di sản.
+ Kết hợp giữa bảo vệ và phát triển kinh tế cộng đồng: Nghề gốm của người
Chăm cần được hỗ trợ để không chỉ tồn tại dưới dạng bảo tàng, bảo vệ di sản mà còn
là một ngành nghề bền vững, mang lại thu nhập cho người dân. Để làm được điều
này, việc quảng bá và mở rộng thị trường là rất cần thiết, nhằm tạo ra nguồn thu nhập
6
ổn định. Từ đó, người dân có động lực hơn để duy trì và phát triển nghề truyền thống
đang rất đáng tự hào của mình.
+ Tôn trọng bản sắc văn hóa trong quá trình phát triển: Việc hiện đại hóa hay
biến đổi hình thức sản phẩm gốm có thể góp phần thu hút thị trường mới, nhưng cần
hết sức cẩn trọng để không làm mất đi bản sắc và giá trị văn hóa truyền thống.
UNESCO nhấn mạnh rằng bảo vệ di sản phi vật thể phải đi kèm với việc tôn trọng
tính nguyên bản và giá trị văn hóa của nó. Điều này đồng nghĩa với việc cân nhắc
cẩn thận khi có bất kỳ thay đổi nào về thiết kế hay kỹ thuật làm gốm.
+ Tăng cường sự hỗ trợ từ các cơ quan và tổ chức quốc tế: UNESCO và các tổ
chức văn hóa quốc tế có thể hỗ trợ Việt Nam về tài chính và chuyên môn để bảo vệ
di sản này. Hơn nữa, việc nâng cao nhận thức cộng đồng quốc tế về nghệ thuật làm
gốm của người Chăm sẽ giúp tạo ra sự ủng hộ rộng rãi, từ đó gia tăng cơ hội cho các
sản phẩm gốm Chăm vươn ra thị trường thế giới.
+ Đẩy mạnh nghiên cứu, tư liệu hóa và bảo tàng hóa: Nghiên cứu và tư liệu
hóa các quy trình làm gốm của người Chăm là bước đi quan trọng để bảo vệ di sản
này trong dài hạn. Từ đó, việc xây dựng các không gian bảo tàng hoặc khu trưng bày
đặc biệt về nghề gốm Chăm có thể giúp bảo vệ các giá trị văn hóa một cách bền vững
và có hệ thống, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để du khách và thế hệ sau hiểu sâu
hơn về nghệ thuật này.
- Việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa gắn với phát triển du lịch bền
vững là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và cần sự tham gia, chung tay, góp sức
của các tổ chức, cộng đồng doanh nghiệp và người dân trên địa bàn tỉnh. Trong đó,
người dân vừa là chủ thể, vừa là đối tượng thụ hưởng vừa đóng vai trò quan trọng
trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị di sản văn hóa. Trong đó, có di sản văn hóa
phi vật thể “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” được UNESCO ghi danh là di
sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.
Việc UNESCO ghi danh nghề gốm Chăm vào danh mục di sản cần bảo vệ khẩn
cấp là cơ hội và cũng là trách nhiệm lớn. Chính phủ, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du
lịch cần có những chính sách và hành động kịp thời để đảm bảo rằng nghệ thuật làm
gốm của người Chăm không chỉ được bảo vệ mà còn có thể phát triển bền vững, giữ
vững giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng Chăm trong dòng chảy hội nhập văn hóa
toàn cầu.
4.2. Yêu cầu xây dựng đề án
4.2.1. Yêu cầu khoa học:
Việc Quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Nghệ thuật làm gốm
của người Chăm được thực hiện trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu khoa
học và đảm bảo đươc tính chất nhân văn, cốt lõi sâu sắc của sự kế tục và phát triển
của nghề gốm trong thực tiễn. Yêu cầu đó phải là một đề án mang tầm chiến lược cả
về bảo vệ và phát huy những giá trị di sản văn hóa - kinh tế - xã hội của một làng
nghề đã được UNESCO ghi danh; đáp ứng các yều cầu của Chương trình hành động
quốc gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể (2025 - 2028), các cam
kết trong hồ sơ đề cử quốc gia và các Công ước mà Việt Nam là thành viên. Đồng
thời gắn mục tiêu của Đề án với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Khánh Hòa.
7
4.2.2. Yêu cầu thực tiễn:
- Đề án được xây dựng trên cơ sở khoa học và thực tiễn, từ những kết quả khảo
sát thực địa trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.
- Đề án đáp ứng yêu cầu và cụ thể hóa Chương trình hành động quốc gia bảo
vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể Nghệ thuật làm gốm của người Chăm
(giai đoạn 2025 - 2028) của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã công bố.
- Đề án đáp ứng các yều cầu của UNESCO về bảo vệ khẩn cấp gắn với các biện
pháp mang tính khả thi cao gắn với các hoạt động cụ thể từng năm, theo từng giai
đoạn để giải quyết thỏa đáng các mối đe dọa được xác định trong hồ sơ đề cử. Đồng
thời đáp ứng các tiêu chí của Công ước 2003 của UNESCO và các Công ước khác
mà Việt Nam là thành viên.
- Đề án Quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể gắn với
ngân sách tương ứng và giải pháp thu hút nguồn lực thực hiện theo từng năm và giai
đoạn. Kế hoạch bảo vệ được chia làm 2 giai đoạn (theo lộ trình báo cáo của Ủy ban
Quốc gia UNESCO Việt Nam).
- Đề án đáp ứng yêu cầu tôn vinh di sản văn hóa phi vật thể mang tầm quốc tế;
quảng bá tiềm năng, thế mạnh của vùng đất và con người tỉnh Khánh Hòa.
4.3. Nguyên tắc xây dựng đề án
Đề án Quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật
làm gốm của người Chăm ở tỉnh Khánh Hòa, giai đoạn 2025 - 2028 và những năm
tiếp theo, được xây dựng trên các nguyên tắc cơ bản sau:
4.3.1. Tính dự báo
Đề án có tính đến các yếu tố dự báo ảnh hưởng đến việc bảo vệ và phát huy giá
trị di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật làm gốm của người Chăm ở tỉnh Khánh Hòa
giai đoạn 2025 - 2028 và những năm tiếp theo; xác định nội dung cũng như các giải
pháp phù hợp với định hướng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương; chủ
trương đường lối, chính sách của Đảng, quy định của pháp luật của Nhà nước về biện
pháp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong các Danh
sách của UNESCO.
4.3.2. Tính đồng bộ
Đề án có các nội dung bảo vệ và phát huy gắn với định hướng và mục tiêu chiến
lược, quy hoạch, chương trình phát triển văn hóa, làng nghề truyền thống nói chung
của cả nước, của vùng và của tỉnh Khánh Hòa. Phù hợp với quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương, các ngành, lĩnh vực có liên quan. Bảo đảm việc
thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của các cấp chính quyền và
sự thông suốt quản lý của ngành; thể hiện mối quan hệ hữu cơ trong các nội dung
phát triển giữa lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể với các
lĩnh vực phát triển văn hóa, với làng nghề truyền thống, với các lĩnh vực an ninh,
quốc phòng và bảo vệ môi trường trong vùng và địa phương.
4.3.3. Tính đa dạng
Đề án chú ý đến nội dung bảo vệ và phát huy tính đa dạng và độc đáo của nghệ
thuật làm gốm trong vùng; tính đa dạng trong phân vùng địa lý tự nhiên và sự đa
dạng trong sự phát triển của các hình thức thực hành nghề làm gốm của người Chăm
trên địa bàn.
8
4.3.4. Tính ưu tiên
Nội dung đề án phản ánh Chương trình hành động quốc gia mà Chính phủ Việt
Nam đã cam kết với UNESCO, đồng thời nằm trong chiến phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh Khánh Hòa. Vì vậy, đề án cần được ưu tiên tập trung mọi nguồn lực thực
hiện nhằm thực hiện các cam kết của Chính phủ Việt Nam với UNESCO và tạo đào
phát triển kinh tế - xã hội, cũng như phát triển làng nghề thủ công truyền thống ở địa
phương.
4.3.5. Tính kế thừa và chọn lọc
Đảm bảo các nội dung bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể nghệ
thuật làm gốm của người Chăm giai đoạn sau có sự kế thừa những điểm mạnh của
giai đoạn trước; tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo những chương trình thực hành tốt
trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể nghề làm gốm của
người Chăm của các cộng đồng ở các địa phương, các vùng và các quốc gia thành
viên phê chuẩn Công ước 2003 của UNESCO.
4.3.6. Tính khả thi
- Nội dung đề án phù hợp với thực tiễn khách quan và quá trình phát triển kinh
tế - xã hội của vùng và địa phương giai đoạn 2025 - 2028 và những năm tiếp theo;
các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật làm
gốm của người Chăm được căn cứ trên Chương trình hành động mà Chính phủ Việt
Nam cam kết với UNESCO.
- Đề án đề cao vai trò chủ động, sáng tạo của cộng đồng chủ nhân di sản nhằm
phát huy mọi nguồn nội lực sẵn có trong công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản
văn hóa phi vật thể nghệ thuật làm gốm của người Chăm.
- Đề án đề ra phương thức sử dụng và khai thác có hiệu quả cơ sở vật chất đang
có; Tăng cường đẩy mạnh công tác xã hội hóa, phát huy mọi tiềm năng nguồn lực
của toàn xã hội để thực hiện các mục tiêu của đề án đề ra.
5. Phương pháp xây dựng Đề án
Đề án được xây dựng dựa trên việc sử dụng tổng hợp các phương pháp sau:
5.1. Phương pháp thu thập tài liệu
Thu thập, lựa chọn những tài liệu, số liệu, những thông tin liên quan đến nội
dung và đối tượng nghiên cứu trong đề án từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, kế thừa
những số liệu trong quá trình xây dựng hồ sơ quốc gia đệ trình UNESCO và cập nhật
những số liệu mới từ năm 2022 đến năm 2024. Số liệu thu thập được là nền tảng, tiền
đề giúp cho việc phân tích, đánh giá tổng hợp các nội dung và đối tượng nghiên cứu
một cách khách quan và chính xác.
5.2. Phương pháp phân tích tổng hợp
Phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng trong suốt quá trình phân tích,
đánh giá toàn diện các nội dung đề án như các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội; các
yếu tố tác động khách quan và chủ quan; thực trạng bảo vệ và phát huy giá trị di sản
văn hóa phi vật thể nghệ thuật làm gốm của người Chăm trước và sau khi nghệ thuật
làm gốm của người Chăm được UNESCO vinh danh.
5.3. Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Đây là phương pháp được thực hiện nhằm thu thập những số liệu từ các địa bàn
của huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận (này là xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa) về
9
hiện trạng của nghề lám gốm, những thực hành và bối cảnh sản xuất gốm của các
đơn vị, hộ sản xuất đến hội thi và những sáng tác mẫu mã mới dựa vào chất liệu nghệ
thuật truyền thống. Những số liệu này giúp cho việc đánh giá thực trạng của công tác
bảo vệ, đưa ra các chỉ tiêu cụ thể, các dự án ưu tiên và giúp cho việc xây dựng kế
hoạch bảo vệ giai đoạn 2025 - 2028 và những năm tiếp theo.
5.4. Phương pháp dự báo, chuyên gia
Được áp dụng để nghiên cứu dự báo các yếu tố khách quan và chủ quan, những
tác động của kinh tế, xã hội đến thực hành nghệ thuật làm gốm của người Chăm.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, phương pháp này giúp cho đề án
có thể đánh giá những thuận lợi và thách thức có ảnh hưởng sâu sắc đến công tác bảo
vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật làm gốm của người Chăm
hiện tại cũng như trong tương lai. Trên cơ sở nghiên cứu chuyên gia và dự báo, đề
án đưa ra các nhiệm vụ định hướng, đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện đề án
mang tính hiệu quả và khả thi.
10
Phần thứ nhất
THỰC HÀNH NGHỆ THUẬT LÀM GỐM CỦA NGƯỜI CHĂM
Ở TỈNH KHÁNH HÒA HIỆN NAY
1.1. Khái quát về địa bàn cư trú của chủ nhân nghệ thuật làm gốm của
người Chăm
Làng gốm Bàu Trúc nằm ở tọa độ 11
0
352’991’’N và 108
0
551’699’’E, thuộc thị
trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận (nay thuộc xã Ninh Phước,
tỉnh Khánh Hòa), nằm bên cạnh Quốc lộ 1A. Làng hiện nay có hai thôn, thôn Bàu
Trúc và thôn 12. Thôn Bàu Trúc (trước đây thuộc Khu phố 7 – Bàu Trúc) có 589
hộ/2.945 khẩu, trong đó người Chăm có 555 hộ/2.775 khẩu và người Kinh: 34 hộ/170
nhân khẩu; Thôn 12 (trước thuộc Khu phố 12) có 459 hộ/1.981 khẩu, trong đó người
Chăm có176 hộ/890 khẩu, Kinh 283 hộ/1.091 khẩu và người. Tổng số người Chăm
ở làng Bàu Trúc (tính cả hai khu phố) là 731 hộ/3665 nhân khẩu.
Làng Bàu Trúc có tên Chăm gốc là “Palei Hamu Craok” (làng ở vùng đất
ruộng gò: Palei: làng, Hamu: ruộng; Craok: phần đất gò nhô ra). Từ thời vua Minh
Mạng đến thời Pháp thuộc, thời Mỹ làng này có tên “Vĩnh Thuận”. Sau năm 1964
(năm Giáp Thìn), Ninh Thuận (nay là một phần của tỉnh Khánh Hòa) xảy ra một trận
lũ lụt lớn, làng Bàu Trúc di dời đến định cư ở một khu đất mới gần hồ nước tiếng
Chăm gọi là “Danaw Panrang”, dịch qua tiếng Việt là “Bàu Trúc: Danaw: Bàu, Bầu;
Panrang: địa danh Phan Rang; Panrang: còn có nghĩa khác là Hồ có nhiều cây trúc
(phun darang)”. Từ đó, làng gốm này được người Việt gọi là Bàu Trúc đến nay.
Tuy nhiên dù biến đổi như thế nào, từ thời Minh Mạng (1820-1840) đến năm
2005, làng gốm này vẫn mang tên Việt là “Vĩnh Thuận” ghi trong giấy tờ hành chính
của chính quyền địa phương. Từ năm 2005, làng Vĩnh Thuận được đổi thành “Khu
phố 7” và từ năm 2008 cho đến nay, thôn Vĩnh Thuận được chia ra làm hai khu: Khu
phố 7 và Khu phố 12 thuộc thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa.
Sau đó Khu phố 7 lại được chính quyền đổi lại thành “Khu phố Bàu Trúc” để gắn
với địa danh làng nghề truyền thống, thuận tiện trong việc phát triển du lịch. Sau khi
sáp nhập tỉnh (ngày 1/7/2025), hai khu phố Bàu Trúc và khu phố 12 được đổi tên
thành thôn Bàu Trúc và thôn 12, thuộc xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa. Hiện nay,
mặc dù làng Bàu Trúc đã trải qua nhiều biến đổi, chịu sự tác động của thiên nhiên và
con người nhưng trong tâm thức người Bàu Trúc vẫn tự gọi làng của họ theo tên
tiếng Chăm truyền thống là “Palei Hamu Craok” và tên Việt gọi “Bàu Trúc” hoặc
“Vĩnh Thuận”.
Đặc điểm của làng là ít cây xanh, dân làng định cư theo thị tộc mẫu hệ. Mỗi
dãy nhà, mỗi khuôn viên gia đình sống gần nhau đều có cùng chung một huyết thống.
Những người cùng chung một huyết thống, cùng chung một tộc họ thì cùng sống bên
nhau, khi chết cùng nằm chung một nghĩa địa gọi là Kut. Người Chăm Bàu Trúc hiện
nay, có tất cả 13 tộc họ. Mỗi tộc họ có khoảng từ 20 - 30 nóc nhà. Trong tộc họ có
nhiều gia đình (sang). Mỗi gia đình được sinh sống trong một khuôn viên nhà nhất
định. Những thành viên trong gia đình cùng sở hữu ruộng đất, có quyền lợi, nghĩa vụ
như nhau và có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên chung. Từ năm 2005 đến nay, theo xu
hướng đô thị hóa, đa số nhà truyền thống đã biến mất nhường chỗ cho những ngôi
nhà hiện đại.
11
Có thể nói, nghề làm gốm đã gắn chặt không chỉ đối với đời sống kinh tế và văn
hoá xã hội đối với người Chăm làng Bàu Trúc từ bao đời nay. Trải qua những biến
cố thăng trầm của lịch sử, trong mọi hoàn cảnh dù khó khăn đến đâu người Chăm
Bàu Trúc vẫn không bỏ nghề, mặc dù có những lúc do điều kiện khách quan buộc họ
phải tạm ngưng nghề gốm. Nghề gốm từ trước đến nay đã ăn sâu vào tâm thức của
người Chăm. Vì thế họ luôn nâng niu, tôn trọng và coi đó là nghề thiêng liêng do
chính ông bà, tổ tiên mình để lại.
1.2. Nhận diện đặc trưng và giá trị của nghệ thuật làm gốm của người
Chăm
Di sản Nghệ thuật làm gốm của người Chăm liên quan đến nghề thủ công truyền
thống làm gốm Chăm bằng tay và sử dụng các công cụ đơn giản. Chủ thể văn hóa và
người thực hành chủ yếu là phụ nữ Chăm. Tri thức và kỹ năng làm nghề được trao
truyền trong gia đình, dòng họ và cộng đồng. Việc trao truyền được thực hiện bằng
biện pháp kể chuyện và thực hành hàng ngày. Di sản thu hút sự trao đổi và tương tác
giữa những người thực hành nghề, các sinh hoạt xã hội và nâng cao vai trò của người
phụ nữ Chăm trong xã hội hiện đại. Di sản gắn liền với nghệ thuật trình diễn dân
gian, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, trong đó có các nghi lễ liên quan đến
ông tổ nghề làm gốm của người Chăm.
Về giá trị nghệ thuật làm gốm của người Chăm được thể hiện trên cả hai bình
diện văn hoá và xã hội.
- Giá trị về văn hóa: Nghệ thuật làm gốm truyền thống của người Chăm là loại
hình di sản văn hóa phi vật thể; nơi thực hành và trao truyền kỹ năng, bí quyết, nghệ
thuật tạo hình; nơi còn lưu giữ tri thức dân gian về tự nhiên và vũ trụ (như cách nhận
biết và xử lý đất sét; cách nhận biết thời tiết; cách nung gốm ngoài trời; cách dùng
vỏ cây để tạo màu trang trí…); là nơi lưu giữ nghệ thuật diễn xướng dân gian, phong
tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội; đặc biệt là nghi lễ liên quan đến vị Tổ nghề gốm
Chăm (thần Po Klaong Can) … Nghệ thuật làm gốm còn là nguồn cảm hứng sáng
tạo cho các bộ môn nghệ thuật khác như: trang trí, nhiếp ảnh, hội họa, điêu khắc,
trình diễn, âm nhạc… Những vấn đề trên có chức năng quan trọng không những trực
tiếp bảo vệ và phát huy nghề thủ công truyền thống mà còn góp phần lưu giữ và trao
truyền di sản văn hóa dân tộc Chăm cho thế hệ mai sau.
- Giá trị về xã hội: Làng gốm Chăm, nhất là làng Bàu Trúc, còn bảo lưu được
không gian làng, tổ chức gia đình và xã hội theo chế độ mẫu hệ còn sót lại ở Việt
Nam. Từ việc phân công lao động đến việc truyền dạy, lưu giữ những ký ức, kỹ năng,
bí quyết trong nghệ thuật làm gốm đều do phụ nữ đảm trách. Nghệ thuật làm gốm
Chăm là một tài sản được kế thừa trong chế độ mẫu hệ, là sinh kế của người phụ nữ
trong gia đình và dòng họ.
Nghệ thuật làm gốm Chăm còn là cầu nối, tạo điều kiện cho phụ nữ Chăm có
cơ hội giao lưu, trao đổi lẫn nhau trong lao động sản xuất, sinh hoạt xã hội, cũng như
trong việc giáo dục nghề nghiệp cho con cái. Từ đó, giúp phụ nữ Chăm nâng cao hơn
nữa vai trò của họ trong xã hội hiện đại. Có thể nói, nghệ thuật làm gốm truyền thống
của người Chăm có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì kinh tế, bảo đảm đời sống
dân làng; thúc đẩy sự phát triển xã hội; bảo lưu được thuần phong mỹ tục của xã hội
mẫu hệ của người Chăm từ xưa đến nay, góp phần đắc lực vào việc lưu giữ bản sắc
12
văn hóa Chăm ở Việt Nam và một phần văn hoá khác (xã hội mẫu hệ, yếu tố gốm
cổ) ở khu vực Đông Nam Á.
Có thể nói, nghề làm gốm đã gắn chặt không chỉ đối với đời sống kinh tế mà cả
văn hoá xã hội đối với người Chăm làng Bàu Trúc, tỉnh Ninh Thuận (nay là một phần
của tỉnh Khánh Hòa) từ bao đời nay. Trải qua những biến cố thăng trầm của lịch sử,
trong mọi hoàn cảnh dù khó khăn đến đâu người Chăm Bàu Trúc vẫn không bỏ nghề,
mặc dù có những lúc do điều kiện khách quan buộc họ phải tạm ngưng nghề gốm.
Bởi lẽ, nghề gốm từ trước đến nay đã ăn sâu vào tâm thức của người Chăm. Chính
vì thế họ luôn nâng niu, tôn trọng và coi đó là nghề thiêng liêng do chính ông bà, tổ
tiên mình để lại.
1.3. Thực trạng thực hành Nghệ thuật làm gốm của người Chăm ở tỉnh
Khánh Hòa
1.3.1. Nguồn nguyên vật liệu, nhiên liệu
Nguồn nguyên liệu chủ yếu làm ra gốm Bàu Trúc là đất sét ở sông Quao, cát ở
sông Lu. Hiện nay, nguồn đất và cát ngày khan hiếm vì khu vực khai thác đất và cát
ngày càng bị thu hẹp. Khu vực có nguồn đất làm gốm phù hợp ngày trước giờ phần
lớn đã quy hoạch sang làm lúa, vì vậy người làm gốm phải mua lại đất thay vì được
tự khai thác như trước đây. Nguồn cát cũng vậy, cát khai thác ven sông, càng ngày
sẽ càng gây ra tình trạng sạt lở sông nên chính quyền đã có biện pháp ngăn chặn, tuy
nhiên hiện nay chưa tìm ra nơi khai thác cát phù hợp vì vậy đây là một vấn đề nan
giải của làng nghề.
Không chỉ nguyên vật liệu làm gốm mà nhiên liệu để nung gốm họ cũng phải
mua đó là củi, rơm, trấu. Rơm và trấu thì bà con có thể tận dụng từ ruộng lúa của
mình nếu nhà có làm, hoặc là họ mua nhưng với giá rẻ vì đây là nguồn nhiên liệu tự
có, tự sản xuất được của vùng; củi lại là nguồn nhiên liệu chính nhưng ngày càng
khan hiếm vì chính sách đóng cửa rừng, bảo vệ rừng là cấp thiết.
Để làm ra sản phẩm thì cần phải có nguyên liệu, nhiên liệu, nhưng hầu như các
thứ càng dần khan hiếm đối với Bàu Trúc, đây là một bài toán khó cho làng nghề.
Khu vực khai thác đất, cát càng ngày càng bị thu hẹp, nguồn đất, cát cung cấp cho
làm gốm ngày càng khan hiếm, hơn nữa, do đặc thù đất làm gốm của làng Bàu Trúc
phải là loại đất lấy từ sông Quao, đủ độ “chín” thì mới tạo ra sản phẩm đạt chất lượng.
Vì tình trạng đất khan hiếm, nhiều thứ phải mua, để có đủ cung cấp sản phẩm cho thị
trường trước mắt, họ phải mua đất từ người khai thác đất và đất đó có thể chưa đạt
độ “chín”, chưa đạt chất lượng vốn có từ trước, chưa kể hiện nay người đi khai thác
đất bán lại cho bà con lại là những người không phải xuất thân từ nghề gốm nên việc
chọn đất đạt yêu cầu là khó. Bà con mua đất về, dù biết đất chưa đủ độ “chín” nhưng
cũng phải chấp nhận vì đã bỏ ra một số lượng tiền khá lớn, hơn nữa sợ sẽ không có
đất mà mua, từ đó chất lượng gốm ngày càng giảm. Củi càng ngày càng khan hiếm,
khó khai thác, mua giá cao cũng góp phần làm cho người làm gốm tìm cách giảm
tiêu tốn bằng cách giảm thời lượng nung xuống, trước đây một lò nung khoảng 4 đến
5 giờ, bây giờ chỉ còn khoảng 2 đến 3 giờ.
Trước đây, việc khai thác đất sét thường diễn ra vào mùa khô, thì nay mùa khô
của vùng đất này hầu như quanh năm, do đó người thợ gốm cũng khai thác đất sét
quanh năm, người Mẹ thiên nhiên không bù đắp nổi, dẫn đến nguyên liệu cạn kiệt
dần. Vùng khai thác đất sét đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ
13
tư nhân, do vậy không phải người thợ gốm nào cũng được đến đây để khai thác đất
sét, nhất là khi các hộ sử dụng đất đang canh tác. Việc tranh chấp, mâu thuẫn trong
khai thác đất đã xảy ra. Bên cạnh đó, do giá nguyên vật liệu (đất sét, cát, củi, rơm…)
tăng cao nên đã dẫn đến chi phí đầu vào cho sản xuất gốm tăng. Thêm vào đó, những
dịch vụ liên quan như vốn sản xuất, giá nhân công, chi phí vận chuyển… cũng tăng.
Cho nên dẫn đến chi phí sản xuất gốm tăng và khó cạnh tranh.
1.3.2. Về nguồn nhân lực và khả năng truyền dạy làm gốm
Theo kết quả báo cáo năm 2014, Bàu Trúc có 25,9% (150 hộ) số hộ làm gốm,
1 hợp tác xã gốm Chăm, 2 công ty, 20 cơ sở sản xuất lớn và số lượng nghệ nhân còn
khả năng truyền dạy từ 8 đến 10 người. Đến năm 2018, theo số liệu kiểm kê tháng
10/2018 thì làng gốm Bàu Trúc có tất cả 731 hộ của làng còn làm gốm nhưng chỉ
còn khoảng 10 hộ (1,37%) đang làm gốm. Đến năm 2019, tổng số nghệ nhân, thợ
gốm và học nghề tại làng gốm Bàu Trúc chỉ còn 455 người (chiếm 8,2% dân số); số
lượng nghệ nhân còn khả năng truyền dạy từ 5 đến 7 người. Đến năm 2024, còn 360
người (chiếm 6,5% dân số) và số lượng nghệ nhân còn có khả năng truyền dạy còn
6 người.
Có thể nói, làng gốm Bàu Trúc có nhiều nghệ nhân và thợ lành nghề, tâm huyết
với nghề nhưng tuổi đã càng ngày càng già, sức càng yếu; thế nhưng giới trẻ không
mặn mà với nghề gốm vì lợi nhuận từ gốm thấp, công việc lại vất vả, tay chân lúc
nào cũng bùn đất, người lúc nào cũng ám mùi của khói, khét của nắng. Mặc dù nhà
nước đã hỗ trợ, mở lớp truyền dạy nghề, khuyến khích, tạo điều kiện cho những
người muốn đến học nghề như ngoài việc truyền lại nghề và hỗ trợ tiền cho người
học nghề, khi thành thạo nghề thì ở lại làm cho các cơ sở hoặc nhà trưng bày, hợp
tác xã với thu nhập ổn định. Nhưng đa phần người học vào học được thời gian ngắn
thì bỏ vì không đam mê với nghề, không tìm thấy niềm vui từ nghề, họ cảm thấy
công việc này nhàm chán (nhồi đất, nặn đất, đi quanh đất, tạo hình đất), không sang
trọng mà lem luốc (tay chân, quần áo lúc nào cũng dính đất cát), họ muốn rời quê lên
thành phố lớn làm công việc khác với tâm lý là sẽ có cơ hội phát triển hơn ở địa
phương cho dù thu nhập có thể không ổn định như làm ở đây.
1.3.3. Thị trường tiêu thụ
Với tiềm năng về thị trường vốn có của gốm Bàu Trúc, nếu chất lượng sản phẩm
tốt và mẫu mã đa dạng, tinh tế thì có lẽ gốm Bàu Trúc còn vươn xa hơn. Nhưng với
xã hội ngày càng hiện đại, công nghiệp hóa hiện đại hóa, những sản phẩm tiêu dùng
bằng chất liệu khác (nhôm, nhựa, đồng, đồ điện…) ra đời đã làm cho gốm truyền
thống Bàu Trúc dần mất chỗ đứng trên thị trường truyền thống. Những làng nghề
gốm khác trong ngày càng phát triển với chất lượng và mẫu mã vượt trội như gốm
Minh Long, gốm Bình Dương, gốm Bát Tràng… Đã khó cạnh tranh với những sản
phẩm hiện đại, những làng nghề gốm khác, gốm Bàu Trúc lại càng giảm chất lượng
của mình, điều đó càng khiến gốm Bàu Trúc mất dần thương hiệu của mình.
Hầu như các cơ sở kinh doanh được là những cơ sở có mặt bằng nằm vị trí mặt
tiền, thuận lợi cho du khách đến tham quan và mua sắm, còn những hộ gia đình, cơ
sở ở trong hẻm thì khó khăn, vì vậy họ phải nhận làm thuê hoặc bỏ mối cho những
cơ ở nằm ngoài mặt tiền đường dù là những nghệ nhân danh tiếng như bà Đàng Thị
Tám, Đàng Thị Lực, Đàng Thị Hụt…
14
Nhà trưng bày gốm ở Bàu Trúc hoạt động chưa thật sự đúng chức năng của nó,
gây nhiều bức xúc cho bà con nơi đây, tạo nên sự cạnh tranh không lành mạnh. Với
lợi thế là một làng nghề được tôn vinh là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia nhưng
làng gốm Bàu Trúc chưa biết tận dụng công nghệ thông tin, các phương tiện thông
tin đại chúng để quảng bá làng nghề Bàu Trúc ra bên ngoài. Chưa biết kết hợp thế
mạnh của một làng nghề truyền thống với thế mạnh của địa phương như du lịch văn
hóa lịch sử, du lịch cộng đồng, du lịch tâm linh, du lịch sinh thái, du lịch biển…
Chất lượng sản phẩm thấp, mẫu mã đơn điệu, sự kết nối giữa các hộ gia đình
sản xuất gốm cũng như giữa các cơ sở kinh doanh còn rất rời rạc, thậm chí cạnh tranh
không lành mạnh, chưa thật sự thân thiện với du khách khi họ đến đây tham quan
tìm hiểu về làng nghề…đã làm cho thị trường tiêu thụ cho gốm Bàu Trúc ngày càng
đứng lại.
Gốm mỹ nghệ ra đời ở làng gốm Bàu Trúc là hướng đi mới giúp làng nghề phát
triển, mở rộng thị trường nhưng đó cũng là thách thức đối với vấn đề bào tồn một
làng nghề thủ công truyền thống. Vì những sản phẩm mỹ nghệ cần độ tinh xảo, tinh
tế trong từng họa tiết, cần nhiều mẫu mã, hoa văn, đòi hỏi người thợ phải thật sự
khéo léo, sáng tạo, tỉ mỉ mới không cần đến sự hỗ trợ của các công nghệ hiện đại. Và
một thực tế là phần đa các cơ sở trưng bày kinh doanh và các hộ gia đình đều làm
gốm mỹ nghệ, số hộ gia đình thuần làm gốm truyền thống còn lại rất ít. Thị trưởng
tiêu thụ chủ yếu trong tỉnh và các tỉnh phụ cận.
1.3.4. Thu nhập từ nghề gốm và du nhập kỹ thuật mới
Những sản phẩm làm ra từ làng nghề thường là đồ gốm gia dụng (đồ nấu và đồ
đựng) và sau này là gốm mỹ nghệ (trang trí và lưu niệm). Do trên thị trường đồ gia
dụng được làm bằng kim loại, nhựa với giá thành rẻ và phổ biến, nên các sản phẩm
gốm truyền thống khó cạnh tranh. Cho nên sản phẩm gốm làm ra khó tiêu thụ, bấp
bênh và không ổn định. Thu nhập trung bình của người làm gốm chưa đến 22 triệu
đồng/người/năm. Chính vì thế nghề gốm không đảm bảo an sinh nên người dân Bàu
Trúc phải mưu sinh bằng nhiều nghề khác nhau như nghề làm ruộng, chăn nuôi, làm
thuê và cuối cùng nghề gốm chỉ là nghề phụ (chỉ có vài gia đình sinh sống được bằng
nghề gốm).
Mấy năm trở lại đây, khách du lịch (chủ yếu là khách du lịch trong nước) có
vào làng gốm nhưng chỉ tham quan miễn phí. Làng gốm Bàu Trúc chưa bán vé, khách
du lịch mua gốm không đáng kể, chỉ mua vài hàng lưu niệm nhỏ mà chỉ tập trung
vào tham quan tại Nhà trưng bày cộng đồng (HTX gốm) và một số cơ sở gốm, còn
cộng đồng chưa thực sự hưởng lợi từ nguồn du lịch gốm một cách bình đẳng. Để
cạnh tranh thu hút du khách, nhiều gia đình làm gốm Chăm Bàu Trúc được sự giúp
đỡ của chính quyền địa phương cũng tích cực cải tiến mẫu mã, du nhập kỹ thuật sản
phẩm mới vào làng gốm như sử dụng bàn xoay, xây dựng lò nung nhưng vẫn chưa
cứu vớt được gốm Chăm trên thị trường.
Mặt khác hiện nay những thợ gốm Chăm chạy theo cơ chế thị trường du nhập
các loại máy móc, làm gốm theo kỹ thuật mới, kỹ thuật hiện đại, sao chép các mẫu
mã các gốm khác từ bên ngoài, từ đó làm cho gốm Chăm lai căng, giảm chỉ số cạnh
tranh. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính và cũng là nguy cơ đe dọa
trực tiếp làm mai một di sản văn hóa phi vật thể trong nghệ thuật làm gốm của người
Chăm hiện nay.
15
1.3.5. Vấn đề môi trường
Chính những người dân ở đây, những cán bộ địa phương phải phàn nàn về vấn
đề môi trường ở làng nghề này. Ngoài việc thiếu cây xanh, thiếu bóng mát, ý thức vệ
sinh môi trường chung của bà con còn kém dù chính quyền địa phương đã tuyên
truyền thường xuyên. Ngoài ra, việc nung gốm lộ thiên khắp nơi trong làng cũng gây
ra ô nhiễm không kém: khói, bụi, tro… Nhưng nếu xây lò nung thì lại tốn nhiều kinh
phí.
Cơ sở hạ tầng còn chưa chỉnh trang, còn nhiều tuyến đường chưa được bê tông
hóa. Đường đến khu khai thác đất còn rất xấu, gây nhiều khó khăn cho khâu vận
chuyển. Hệ thống thoát nước còn kém, chưa được xây dựng hoàn chỉnh.
1.3.6. Đánh giá tác động của đề án đến hiện trạng thực hành di sản Nghệ thuật
làm gốm của người Chăm
* Kết quả đạt được:
Trong giai đoạn vừa qua, việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật
thể nghề thuật làm gốm của người Chăm đã thu được những kết quả đáng ghi nhận.
Những công việc này cần được phát huy, mở rộng, cơ sở vật chất, được sự quan tâm
của Nhà nước và các Bộ ngành liên quan trong thời gian tới.
- Việc nghiên cứu, sưu tầm di sản văn hóa nghề làm gốm truyền thống đạt được
thành tựu đáng khích lệ với công trình của các tác giả như Trương Văn Món (Sakaya),
các bài viết 2 cuộc Hội thảo quốc gia và quốc tế có giá trị đóng góp cho ngành nghiên
cứu nghệ thuật làm gốm của người Chăm ở Việt Nam... Tuy nhiên, công trình xuất
bản mang dấu ấn của di sản văn hóa phi vật thể nghề làm gốm truyền thống của người
Chăm còn chưa được quan tâm và chưa cập nhật thông tin kiểm kê hàng năm.
- Công tác tuyên truyền, quảng bá về di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật làm
gốm của người Chăm đạt được những bước tiến ban đầu. Hoạt động tuyên truyền,
quảng bá đa dạng, phong phú trên các phương truyền thông đại chúng và trên cả các
phương tiện đa nền tảng, mà còn thông qua đó các sự kiện chính trị, giao lưu văn
hóa, du lịch trong nước và quốc tế.
* Hạn chế:
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn
hóa phi vật thể nghệ thuật làm gốm của người Chăm còn bộc lộ không ít những hạn
chế sau:
- Một số cơ chế, chính sách liên quan đến bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn
hóa phi vật thể nghệ thuật làm gốm của người Chăm còn nhiều bất cập (như cơ chế,
chính sách công nhận nghệ nhân ưu tú, nghệ nhân nhân dân; chính sách thành lập
quỹ bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể; hỗ trợ truyền dạy trong cộng đồng;
trợ cấp cho nghệ nhân, người làm gốm lâu năm; thu hút nhà đầu tư; cơ chế tài trợ, cơ
chế thu qua hoạt động du lịch…) nên chưa tạo được động lực, thu hút toàn xã hội
tham gia.
- Lực lượng nghệ nhân, người làm gốm lâu năm am hiểu một cách bài bản và
có khả năng truyền dạy về nghề gốm đang giảm mạnh do tuổi cao và sức yếu. Tuy
nhiên, những chiến lược, kế hoạch để truyền dạy lớp nghệ nhân trẻ, kế cận chưa được
quan tâm và chưa được thực hiện.
16
- Nguồn nguyên vật liệu và nhiên liệu chưa được quy hoạch bài bản đã gây khó
khăn, thách thức cho đầu vào của sản xuất gốm. Cảnh quan làng nghề đang bị phá
vỡ do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa. Trong thời gian, vấn đề
khôi phục các nghi lễ gắn liền với nghề gốm truyền thống chưa được chú trọng và
chưa gắn kết với việc trình diễn di sản với phát triển du lịch cộng đồng, du lịch làng
nghề và đem lại lợi ích cho cộng đồng tại địa phương.
- Nguồn lực đầu tư bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật làm
gốm của người Chăm còn khá hạn chế. Các cơ sở vật chất phục vụ cho công tác
truyền dạy và diễn xướng tuy đã được nhà nước quan tâm đầu tư, nhưng do nguồn
ngân sách hạn hẹp nên mức đầu tư chưa đem lại hiệu quả, chưa đáp ứng được yêu
cầu đòi hỏi thực tế. Chưa thành lập các CLB nghệ nhân Gốm Chăm và Hội Bảo vệ
và phát huy Nghệ thuật làm gốm của người Chăm, trực thuộc Hội Di sản văn hoá
Việt Nam và Hiệp Hội làng nghề Việt Nam…
- Kết quả công tác xã hội hóa hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn
hóa phi vật thể nghệ thuật làm gốm của người Chăm còn chưa được khuyến khích và
chưa có cơ chế rõ ràng cụ thể, nên chưa thu hút được các cá nhân, các doanh nghiệp
và các nhà hảo tâm đóng góp cho di sản quê hương. Mặc dù có sự hưởng ứng của
đông đảo người dân tham gia phát triển các CLB, đội văn nghệ nhưng vai trò hoạt
động của các thành phần kinh tế như các doanh nghiệp tham gia đầu tư còn hạn chế.
Việc thu hút các nguồn lực bên ngoài nhà nước cho các hoạt động bảo vệ và phát
huy nghệ thuật làm gốm của người Chăm có quy mô nhỏ lẻ, hiệu quả chưa cao.
- Lực lượng cán bộ quản lý và chuyên môn tham gia bảo vệ và phát huy nghệ
thuật làm gồm của người Chăm đang thiếu những kiến thức, kỹ năng và phương pháp
theo đúng tinh thần của Luật DSVH và Công ước 2003, cũng làm cho việc quản lý
cũng như phối hợp triển khai công tác thành lập các CLB và duy trì hoạt động của
các CLB tại địa phương.
- Sự liên kết giữa các cấp, các địa phương, ban ngành trong bảo vệ và phát huy
nghệ thuật làm gốm của người Chăm còn chưa được chặt chẽ. Công tác bảo vệ và
phát huy di sản chưa có sự lồng ghép với các chương trình kinh tế, xã hội, cũng như
mục tiêu khai thác phát triển du lịch và xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng có
thực hành di sản.
1.4. Dự báo các yếu tố tác động đến bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn
hóa phi vật thể nghệ thuật làm gốm của người Chăm giai đoạn 2025 - 2030 và
những năm tiếp theo.
1.4.1. Sự tác động của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế
Bước vào thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, tỉnh Khánh Hòa nói riêng
và nước ta nói chung sẽ chịu tác động mạnh bởi bối cảnh thế giới đang có nhiều thay
đổi nhanh và phức tạp. Hội nhập quốc tế thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động giao lưu
văn hoá và tri thức quốc tế, tăng cường sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau và tình hữu nghị
giữa các dân tộc, tạo ra cơ hội phát triển mối quan hệ giao lưu quốc tế về văn hóa
giữa Việt Nam và các nước.
Dưới ảnh hưởng của hội nhập quốc tế, phát huy vai trò và giá trị của di sản văn
hóa phi vậ thể nghệ thuận làm gốm của người Chăm trong các sự kiện văn hóa, tuor
du lịch, quảng bá rộng rãi trên các phương tiện truyền thông sẽ được nhiều người
biết đến, trở thành sản phẩm văn hóa, nghệ thuật độc đáo và hấp dẫn. Thực tế cho
17
thấy, những di sản văn hóa có tính sáng tạo, cộng đồng địa phương thường thu hút
công chúng trong và ngoài nước. Nghệ thuật làm gốm của người Chăm của Việt Nam
đóng góp thiết thực vào tiến trình phát triển ngoại giao văn hóa, phản ánh bản sắc
của cộng đồng người Chăm, tạo nên những nét riêng, đặc sắc của vùng miền.
Trong quá trình toàn cầu hoá, các yếu tố như nguồn vốn, công nghệ và kỹ thuật
số hiện đại có sự lưu chuyển tự do nhanh chóng. Việc bảo vệ và phát huy nghệ thuật
làm gốm sẽ được hưởng lợi từ quá trình công nghệ cao này, được quảng bá rộng rãi
trên phương tiện thông tin đại chúng, trên mạng xã hội. Những công trình về nghệ
thuật làm gốm của người Chăm bằng chữ viết và hình ảnh được số hóa khiến cho
việc tiếp cận thông tin dễ dàng và do vậy, vấn đề quảng bá càng thuận lợi hơn.
Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hóa kinh tế, văn hóa sẽ không chỉ có những tác
động tích cực đem lại cơ hội phát triển cho nghề thủ công truyền thống, mà con đem
đến cả những mặt tiêu cực và thách thức. Là địa phương có kho tàng nghệ thuật làm
gốm của người Chăm phong phú, độc đáo và mang đậm bản sắc của vùng, tỉnh Khánh
Hòa đang phải đối mặt với những thách thức lớn trong việc bảo vệ những giá trị
truyền thống, phát huy sự đa dạng văn hóa trong khi phải chịu sức ép do biến đổi
kinh tế và văn hóa từ bên ngoài do quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế mang
lại. Các biện pháp bảo vệ cần phải nâng cao về nhận thức cũng như nhấn mạnh tính
kế thừa những bản sắc văn hóa của nghề thủ công truyền thống tại địa phương.
1.4.2. Sự tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trong giai đoạn 2025 - 2030 và những năm tiếp theo, tỉnh Khánh Hòa tiếp tục
đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và độ thị hóa, hình thành các cụm/
khu công nghiệp và các độ thị mới. Quá trình thay đổi không gian sản xuất và cư trú,
kéo theo sự thay đổi không gian và cảnh quan văn hóa thực hành nghề truyền thống
nói chung và nghề làm gốm của người Chăm nói riêng. Điều này gây sức ép lên việc
bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật làm gốm của
người Chăm ở tỉnh Khánh Hòa. Những thách thức đòi hỏi các biện pháp bảo vệ cần
phải được đặt ra cho tỉnh Khánh Hòa phải có các giải pháp đảm bảo sức sống của
nghề làm gốm bằng cách truyền dạy nghề trong cộng đồng đặc biệt là thế hệ trẻ.
1.4.3. Sự tác động do biến đổi khí hậu
Tỉnh Khánh Hòa là tỉnh cực Nam Trung Bộ, Việt Nam thuộc vùng khô hạn nhất
cả nước, với lượng mưa ít và điều kiện thời tiết khắc nghiệt đã làm gián đoạn các quy
trình khai thác nguyên vật liệu cũng như quy trình chế tác gốm. Những người làm
gốm có thể gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì nghề do những căng thẳng về biến
đổi khí hậu dẫn đến sự thay đổi về sinh kế. Điều này đã làm suy giảm chất lượng và
số lượng sản phẩm gốm được tạo ra. Bên cạnh đó, việc thích ứng với biến đổi khí
hậu có thể đòi hỏi phải đầu tư vào các kỹ thuật, bí quyết khai thác nguyên vật liệu và
quy trình chế tác có thể là thách thức đối với những người làm gốm tại địa phương.
Bên cạnh đó, nguyên liệu làm gốm phần lớn khai thác trong tự nhiên có thể trở
thành nên khan hiếm nếu không quy hoạch và khai thác lâu dài. Biến đổi khí hậu có
thể tác động đến tính sẵn có và chất lượng của các nguyên vật liệu và nhiên liệu.
Chính vì thế, cần nâng cao nhận thức và sự tham gia của cộng đồng về tác động của
biến đổi khí hậu. Việc thu hút người dân địa phương nói chung và cộng đồng làm
gốm tham gia vào các chiến lược thích ứng giúp đảm bảo các biện pháp có liên quan
đến thực hành di sản và được ủng hộ rộng rãi. Đồng thời, chính quyền địa phương
18
tăng cường hợp tác với các viện nghiên cứu và tổ chức phi chính phủ để phát triển
các giải pháp và hoạt động sáng tạo nhằm giải quyết các thách thức về khí hậu tại địa
phương, đảm bảo các chiến lược thích ứng dựa trên bằng chứng khoa học và nhu cầu
của địa phương.
1.4.4. Sự tác động của các xu hướng khoa học công nghệ và tiêu dùng
Khi xu hướng khoa học công nghệ và tiêu dùng thay đổi lối sống, người tiêu
dùng có thể thích các sản phẩm hiện đại hoặc hợp thời trang hơn các mặt hàng gốm
truyền thống. Sự thay đổi này có thể khiến các nghệ nhân, người làm gốm khó tìm
được thị trường tiêu thụ của họ. Do đó, cần thúc đẩy bảo vệ và thúc đẩy nghề làm
gốm truyền thống thông qua các sáng kiến đang được tiến hành để hỗ trợ nghệ nhân,
người làm gốm của người Chăm tại địa phương, bao gồm cung cấp các chương trình
truyền dạy, tạo đàm và hỗ trợ tài chính cho các nghệ nhân, người làm gốm lâu năm
để giúp họ duy trì sinh kế và truyền lại kỹ thuật, kỹ năng nghề của mình cho các thế
hệ trẻ.
1.4.5. Sự tác động của các chủ trương chính sách của nhà nước
Giai đoạn vừa qua, trên phạm vi cả nước nói chung và tỉnh Khánh Hòa nói riêng
đã ban hành nhiều văn bản, chính sách quan trọng liên quan đến bảo vệ và phát huy
di sản văn hóa phi vật thể. Đầu tiên phải kể đến việc ban hành Nghị định về quy định
biện pháp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong các
Danh sách của UNESCO và Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; các nghị
quyết, thông tư liên quan đến lĩnh vực phát triển nghề thuật công truyền thống và văn
hóa nghệ thuật. Tiếp đó là sự ra đời các chiến lược, quy hoạch, chương trình, đề án
phát triển làng nghề thủ công truyền thống, văn hóa nghệ thuật, bảo vệ di sản văn
hóa phi vật thể được các cấp có thẩm quyền ban hành. Chính phủ cũng đa đưa ra các
quy định cam kết với các tổ chức quốc tế như UNESCO trong việc bảo vệ và phát
huy di sản văn hóa phi vật thể. Các quan điểm, đường lối chỉ đạo của Đảng, văn bản
chính sách, pháp luật của nhà nước ban hành đã tạo khuôn khổ pháp lý, điều kiện
thuận lợi cho nhiệm vụ bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể nghệ
thuật làm gốm của người Chăm, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với nhiệm
vụ này.
1.4.6. Sự tác động của đề án đến thực hành di sản
Việc ghi danh của UNESCO và cùng với sự triển khai đề án sẽ tạo động lực
mãnh mẽ để người thực hành di sản (nghệ nhân, thợ gốm và các biên liên quan) tái
khẳng định giá trị nghề làm gốm như một phần của bản sắc tộc người Chăm.
Các nghệ nhân, thợ gốm và những người thực hành di sản sẽ được tôn vinh, tạo
điều kiện để truyền nghề cho thế hệ trẻ và những người yêu thích di sản gốm Chăm.
Từ đó thúc đẩy phát triển du lịch văn hóa, du lịch làng nghề (không gian trải nghiệm
làm gốm) và dần hình thành mô hình kết hợp nghệ thuật - du lịch - thương mại nhằm
mục đích nâng cao thu nhập cho cộng đồng thực hành di sản.
Đối với di sản văn hoá phi vật thể là một loại hình nhạy cảm như nghệ thuật
làm gốm của người Chăm thì cần được quan tâm thích đáng với các nguyên tắc khắc
khe của nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó, đề án sẽ tác động đến các giải pháp đưa ra
phải mang tính khả thi và có mục tiêu đảm bảo khả năng tồn tại của di sản văn hoá
phi vật thể này. Đặc biệt là thông qua hình thức giáo dục chính thức hoặc phi chính
19
thức cũng như việc phục hồi các phương diện khác nhau của loại hình di sản văn hoá
phi vật thể.
20
Phần thứ hai
TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG QUỐC GIA
VỀ BẢO VỆ KHẨN CẤP NGHỆ THUẬT LÀM GỐM CỦA NGƯỜI CHĂM
GIAI ĐOẠN 2025 - 2030 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO
2.1. Mục tiêu xây dựng đề án
2.1.1. Mục tiêu chung
Bảo vệ và phát huy giá trị nghệ thuật làm gốm của người Chăm trong đời sống
đương đại, đảm bảo sức sống của nghệ thuật làm gốm của người Chăm. Phấn đấu
sau năm 2030 đưa di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật làm gốm của người Chăm ra
khỏi tình trạng cần bảo vệ khẩn và hướng đến ghi danh vào Danh mục di sản văn hóa
phi vật thể đại diện của nhân loại. Từ đó đưa ra các nhiệm vụ và giải pháp về bảo vệ
& phát huy di sản văn hóa phi vật thể Nghệ thuật làm gốm của người Chăm gắn
Chương trình hành động quốc gia, các cam kết đã được ghi trong Hồ sơ đề cử và kế
hoạch bảo vệ sau khi UNESCO ghi danh.
Mục tiêu của đề án góp phần xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Khánh
Hòa, trong đó chủ thể di sản văn hóa được hưởng thành quả từ chính thực hành văn
hóa của họ. Đồng thời, đề án cũng hướng đến một hệ thống bảo vệ bền vững, giúp
Nghệ thuật làm gốm của người Chăm không chỉ tồn tại mà còn phát triển trong bối
cảnh hiện đại, duy trì giá trị văn hóa độc đáo vào sự đa dạng văn hóa của Việt Nam.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Đến năm 2026 (đưa di sản văn hóa phi vật thể Nghệ thuật làm gốm của người
Chăm ra khỏi nguy cơ cần bảo vệ khẩn cấp):
+ Củng cố và nâng cao năng lực Ban quản lý làng nghề Bàu Trúc.
+ Hoàn thành việc nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn tài liệu, giáo trình, xuất bản
các ấn phẩm phục vụ công tác quảng bá và truyền dạy.
+ Tổ chức 4 lớp truyền dạy từ cơ bản đến nâng cao cho khoảng 140 học viên
và 100% các nghệ nhân truyền dạy được bồi dưỡng, nâng cao năng lực.
+ Hoàn thiện quy hoạch vùng nguyên liệu, nhiên liệu và địa điểm nung gốm.
+ 100% chuẩn hóa kỹ thuật và quy trình làm gốm truyền thống của gốm Bàu
Trúc, nhằm bảo vệ tri thức, kỹ thuật và phương thức làm gốm truyền thống (chọn
nguyên liệu, chế tác, nung gốm, tạo màu áo cho gốm…) gắn với các giá trị văn hóa,
phong tục tập quán của cộng đồng. Đồng thời đảm bảo các điều kiện làm việc cho
các nghệ nhân, gia đình và hộ sản xuất gốm thực hành di sản và giảm thiểu sự tác
động của công nghệ can thiệp vào quy trình sản xuất.
+ Hoàn thiện cơ sở dữ liệu gốm Chăm; xây dựng 1 website, xuất bản 1 cuốn
sách, 1 phim di sản (25 - 30 phút).
+ Công tác chuẩn bị xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ công tác bảo vệ và phát
huy giá trị di sản trong các năm 2026, 2027, 2028; đến năm 2030 hoàn thành toàn bộ
cơ sở hạ tầng.
- Đến năm 2027:
21
+ Tổ chức 2 lớp truyền dạy từ cơ bản đến nâng cao cho khoảng 200 học viên
và 100% các nghệ nhân truyền dạy được nâng cao và hoàn chỉnh các kỹ năng dạy
làm gốm cho cộng đồng.
+ 50% nghệ nhân và người thực hành nghề gốm được phong tặng danh hiệu
Nghệ nhân ưu tú, Nghệ nhân nhân dân.
+ Xây dựng tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, đăng ký nhãn hiệu “Gốm Chăm”
cho sản phẩm gốm Chăm Bàu Trúc và chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm gốm Chăm.
+ Hoàn thành quy hoạch Bảo vệ không gian văn hóa làng gốm Bàu Trúc và quy
hoạch mô hình du lịch phát triển cộng đồng làng nghề gốm Bàu Trúc (thiết kế mô
hình du lịch homestay khoảng từ 15 - 20 hộ, 100% các hộ được tập huấn làm du lịch,
đào tạo khoảng 10 hướng dẫn viên du lịch tại địa phương, 100% nhóm văn nghệ,
nhóm ẩm thực và trò chơi dân gian Chăm được tập huấn…).
+ Tổ chức quảng bá, đưa sản phẩm gốm Chăm vào các Hội chợ triển lãm hàng
công nghiệp nông thôn, triển lãm quốc gia và quốc tế; Ngày văn hóa - du lịch tỉnh
Ninh Thuận (nay là một phần của tỉnh Khánh Hòa), Xúc tiến đầu tư của tỉnh và tham
gia Liên hoan trình diễn di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia và quốc tế… nhằm
mở rộng thị trường tiêu thụ gốm Chăm trong và ngoài nước.
+ Xây dựng, chỉnh trang cơ sở hạ tầng và trồng cây xanh xây dựng môi trường
& tạo cảnh quan cho không gian làng gốm Bàu Trúc.
- Từ năm 2028 - 2030 và những năm tiếp theo (hướng đến việc ghi danh Nghệ
thuật làm gốm của người Chăm là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại):
+ Duy trì và khuyến khích tiêu thụ sản phẩm gốm Chăm Bàu Trúc tại địa
phương và cộng đồng: 80-100% các resort, khách sạn trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
trưng bày giới thiệu gốm Chăm Bàu Trúc; 50-70% các nhà hàng sử dụng các sản
phẩm của gốm Bàu Trúc (gốm gia dụng, gốm nghệ thuật); 100% đưa sản phẩm gốm
Chăm truyền thống trở lại cộng đồng Chăm phục vụ trong cuộc sống thường nhật và
trong nghi lễ, hội hè. Nâng tỷ trọng kinh tế nghề truyền thống và làng nghề đến năm
2028 đạt 30% và đến năm 2030 đạt 50% trong cơ cấu kinh tế của làng Bàu Trúc. Sau
năm 2030 tạo việc làm cho trên 1.000 lao động thuần nghề làm gốm, tỷ lệ lao động
qua đào tạo phấn đấu đạt 70 - 80%.
+ Tổ chức các cuộc thi sáng tác, thiết kế mẫu mã sản phẩm gốm Chăm Bàu
Trúc theo định kỳ 2 năm/lần (phát triển sản phẩm mới, vừa giữ được bản sắc và vừa
đáp ứng nhu cầu của thị trường), nhằm năng cao giá trị kinh tế và văn hóa của sản
phẩm gốm.
+ Tổ chức Liên hoan Nghệ thuật làm gốm Chăm cấp tỉnh theo định kỳ 2 năm 1
lần và 5 năm tổ chức Liên hoan Nghệ thuật làm gốm cấp quốc gia.
+ 100% phục hồi các nghi lễ và các dạng thức trình diễn dân gian liên quan đến
nghệ thuật làm gốm Bàu Trúc gắn với phát triển du lịch làng nghề.
+ 100% hệ thống giáo dục trên địa bàn xã Ninh Phước có chương trình giáo dục
về giá trị của Nghệ thuật làm gốm của người Chăm.
+ 100% nghệ nhân, người có công bảo vệ, gìn giữ và truyền dạy nghệ thuật làm
gốm Chăm được tôn vinh và hưởng chế độ đãi ngộ theo quy định.
+ Xây dựng quy hoạch không gian phát triển văn hóa làng nghề gốm Bàu Trúc.
Phân vùng chức năng và tính toán phân bổ quỹ đất hợp lý cho nhu cầu phát triển cơ
22
sở hạ tầng của từng hạng mục cụ thể. Nghiên cứu bố trí nguồn vốn và phân kỳ đầu
tư theo từng hạng mục để đảm bảo tính đồng bộ và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu
tư.
+ Cải tiến mô hình sản xuất và tiêu thụ: Tạo ra các mô hình hợp tác xã, doanh
nghiệp xã hội hoặc các hình thức hợp tác khác để đảm bảo nghề gốm có thể tồn tại
và phát triển bền vững trong bối cảnh thay đổi nhanh chóng của thị trường và công
nghệ.
+ Hoàn thành việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ công tác bảo vệ và phát huy
giá trị di sản văn hóa Nghệ thuật làm gốm của người Chăm (cổng chào, con đường
gốm, Bảo tàng gốm Chăm, Trung tâm trưng bày và trình diễn nghệ thuật làm gốm…).
Tất cả các mục tiêu cụ thể trên không chỉ tập trung vào bảo vệ di sản văn hóa
mà còn nhấn mạnh phát triển nghề gốm như một ngành nghề bền vững, mang lại lợi
ích cho cộng đồng người Chăm trong thời gian dài.
2.2. Các dự án thành phần
Để thực hiện các nhiện vụ trên, cần xây dựng và triển khai các dự án thành phần
mang tính toàn diện, bền vững và phù hợp với điều kiện thực tế.
2.2.1. Các dự án Quản lý, bảo vệ và phát huy nghệ thuật làm gốm của người
Chăm là di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp
2.2.1.1. Kinh phí thực hiện các dự án thành phần: 18,9 tỷ đồng (trước thuế),
bao gồm 6 dự án (dự án 1 - 7), như sau:
• Dự án 1: Truyền dạy nghệ thuật làm gốm
- Mục tiêu: Cứu nguy khẩn cấp, tổ chức truyền dạy.
- Nội dung công việc:
+ Xây dựng bộ tài liệu truyền dạy chuẩn (song ngữ Chăm - Việt);
+ Tổ chức các lớp học thực hành cho thanh thiếu niên trong cộng đồng Chăm;
+ Mời nghệ nhân nhiều kinh nghiệm, lão luyện hướng dẫn kỹ thuật truyền
thống;
+ Xây dựng mô hình “làng nghề gốm” kết hợp vừa học, vừa làm.
- Kết quả:
+ Đảm bảo nguồn lực kế thừa và duy trì nghề làm gốm;
+ Tăng cường nhận thức về giá trị văn hóa của nghệ thuật làm gốm trong cộng
đồng;
- Kinh phí thực hiện dự án: 1,375 tỷ đồng
• Dự án 2: Nghiên cứu và tư liệu hóa nghệ thuật làm gốm
- Mục tiêu: Lưu giữ kiến thức truyền thống, kỹ thuật, và giá trị văn hóa liên
quan đến nghề làm gốm.
- Nội dung công việc:
+ Ghi chép và quay phim, chụp ảnh các công đoạn sản xuất gốm.
+ Thu thập câu chuyện dân gian, nghi lễ và phong tục liên quan đến nghề gốm.
+ Tạo cơ sở dữ liệu số hóa để bảo vệ và chia sẻ thông tin.
- Kết quả:
+ Một bộ tài liệu nghiên cứu hoàn chỉnh về Nghệ thuật làm gốm.
23
+ Phim tư liệu và bộ ảnh phục vụ triển lãm và giáo dục.
- Kinh phí thực hiện dự án: 0,75 tỷ đồng
• Dự án 3: Phát triển thị trường và nâng cao giá trị kinh tế nghề làm gốm
- Mục tiêu: Tạo đầu ra ổn định và nâng cao giá trị kinh tế cho sản phẩm gốm
Chăm theo xu hướng thời đại.
- Nội dung công việc:
+ Thiết kế sản phẩm phù hợp với nhu cầu hiện đại nhưng vẫn giữ yếu tố truyền
thống; Tổ chức các cuộc thi thiết kế sản phẩm…
+ Tổ chức Hội thảo bảo vệ gốm truyền thống và phát huy giá trị sản phẩm gốm
gắn với xu thế thời đại.
+ Quảng bá sản phẩm qua các triển lãm, hội chợ và các nền tảng trực tuyến.
+ Xây dựng thương hiệu “Gốm Chăm truyền thống” hoặc “Gốm Chăm Bàu
Trúc”.
- Kết quả:
+ Mở rộng thị trường tiêu thụ.
+ Tăng thu nhập cho người làm nghề, giúp nghề gốm trở thành nguồn sống
chính.
- Kinh phí thực hiện dự án: 4,950 tỷ đồng
• Dự án 4: Bảo vệ không gian văn hóa làng gốm Bàu Trúc
- Mục tiêu: Duy trì môi trường văn hóa đặc trưng của nghề làm gốm.
- Nội dung công việc:
+ Bảo vệ làng nghề truyền thống và không gian sản xuất gốm.
+ Tổ chức các lễ hội, sự kiện văn hóa liên quan đến nghề gốm.
+ Tích hợp nghề làm gốm vào các chương trình giáo dục văn hóa ở trường học
trong tỉnh Khánh Hòa.
+ Hoàn thiện hạ tầng làng gốm Bàu Trúc.
- Kết quả:
+ Gìn giữ không gian văn hóa sống động của cộng đồng.
+ Tăng cường sự tự hào văn hóa trong cộng đồng Chăm.
+ Cải tạo và hoàn thiện cảnh quan làng gốm Bàu Trúc (con đường gốm, nơi thờ
tổ nghề…).
- Kinh phí thực hiện dự án: 2,875 tỷ đồng
• Dự án 5: Hợp tác quốc tế
- Mục tiêu: Học hỏi kinh nghiệm bảo vệ và phát triển nghề thủ công từ quốc tế.
- Nội dung công việc:
+ Tham gia các hội thảo, triển lãm quốc tế về di sản văn hóa.
+ Mời các chuyên gia UNESCO hỗ trợ tư vấn và đào tạo.
+ Phát triển các dự án trao đổi văn hóa với các quốc gia có nghề thủ công tương
tự.
- Kết quả:
+ Tăng cường năng lực bảo vệ và phát triển nghề gốm.
24
+ Nâng cao vị thế của gốm Chăm trên bản đồ văn hóa quốc tế.
- Kinh phí thực hiện dự án: 1,2 tỷ đồng
• Dự án 6: Hỗ trợ chính sách và tài chính nghệ thuật làm gốm Chăm
- Mục tiêu: Đảm bảo nguồn lực bền vững và chính sách hỗ trợ dài hạn.
- Nội dung công việc:
+ Nghiên cứu chính sách ưu tiên phát triển nghề gốm như một ngành văn hóa
đặc thù.
+ Thành lập quỹ hỗ trợ nghệ nhân và hoạt động nghiên cứu, quảng bá nghề
gốm.
+ Tăng cường phối hợp giữa các cấp chính quyền và cộng đồng địa phương.
- Kết quả:
+ Tạo điều kiện pháp lý và tài chính thuận lợi cho các dự án bảo vệ.
+ Đảm bảo nghệ thuật làm gốm Chăm được bảo vệ lâu dài.
- Kinh phí thực hiện dự án: 0,7 tỷ đồng
• Dự án 7: Đưa nghệ thuật làm gốm của người Chăm ghi danh vào Danh
mục di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
- Mục tiêu: Đảm bảo tầm nhìn, nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và khuyến
khích đối thoại trên cơ sở tôn trọng sự đa dạng văn hóa.
- Nội dung công việc:
+ Đánh giá và hoàn thành các cam kết và Chương trình hành động quốc gia về
bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Nghệ thuật làm gốm của người
Chăm.
+ Thiết lập các chương trình kết nối di sản và giao lưu quốc tế với các di sản
đồng dạng với nghệ thuật làm gốm của người Chăm.
+ Mời gọi đầu tư và tài trợ nguồn lực để bảo vệ và phát huy từ các nguồn trong
nước và quốc tế.
+ Báo cáo định kỳ quốc gia và xây dựng hồ sơ đề nghị đưa Nghệ thuật làm gốm
của người Chăm từ bảo vệ khẩn cấp sang ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại
diện của nhân loại.
- Kết quả:
+ Đảm bảo các điều kiện để Nghệ thuật làm gốm của người Chăm được bảo vệ
và phát huy tốt nhất.
+ Đa dạng sự biểu đạt văn hóa theo công ước mà Việt Nam là thành viên.
- Kinh phí thực hiện dự án: 7 tỷ đồng
2.2.1.2. Phân kỳ thời gian thực hiện:
❖ Phân kỳ cứu nguy cơ cần bảo vệ khẩn cấp của di sản văn hóa phi vật thể
Nghệ thuật làm gốm của người Chăm:
* Năm 2023 - 2025 (đã thực hiện):
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa phối hợp với các Sở, ban
ngành và UBND xã Ninh Phước đã tổ chức các hoạt động nhằm bảo vệ khẩn cấp
nghệ thuật làm gốm của người Chăm như sau:
25
- Mở 4 lớp truyền dạy (cơ bản và nâng cao) tại cộng đồng với hơn 150 học viên;
trong đó, có mời họa sỹ, giảng viên tuyền dạy nâng cao phương pháp sáng tạo mẫu
mã mới, cách trang trí, tạo hình sản phẩm…
- Tuyên truyền và giới thiệu giá trị di sản văn hóa phi vật thể Nghệ thuật làm
gốm của người Chăm trên các phương tiện truyền thông đại chúng, các sự kiện và
không gian hoạt động của Vườn hoa xuân chào mừng Tết Nguyên đán; xây dựng
không gian trưng bày chuyên đề giới thiệu về Nghệ thuật làm gốm của người Chăm
tại Bảo tàng tỉnh và Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Chăm…
- Tổ chức cuộc thi “Thiết kế sản phẩm gốm Chăm làm quà tặng”: Tổ chức tuyển
chọn 6 mẫu sản phẩm gốm Chăm dùng làm quà tặng của tỉnh, đồng thời tổ chức cuộc
thi “Thiết kế sản phẩm gốm Chăm làm quà tặng của tỉnh”, Ban tổ chức cuộc thi đã
nhận 33 mẫu sản phẩm/tác phẩm dự thi của 13 tác giả trong và ngoài tỉnh. Trong đó
có 5/33 sản phẩm/tác phẩm được Ban giám khảo xét chọn vào vòng chung khảo năm
2024. Bên cạnh đó, cũng đã tổ chức bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu
biểu của tỉnh, trong đó có 1 sản phẩm “Tháp Chăm” của HTX gốm Chăm Bàu Trúc
được công nhận là sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh (năm 2023);
đồng thời HTX gốm Chăm Bàu Trúc cũng có 2 sản phẩm được công nhận sản phẩm
công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp khu vực miền Trung - Tây Nguyên (sản phẩm
“Tháp Chăm gốm”, năm 2024) và 1 sản phẩm “Đèn Shiva” cũng được công nhận
sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp quốc gia (năm 2023).
- Quảng bá và giới thiệu nghệ thuật làm gốm Chăm trong các Liên hoan trình
diễn các di sản văn hóa phi vật thể, trình diễn tại Làng văn hóa Du lịch các dân tộc
Việt Nam, ngày văn hóa, du lịch tỉnh Ninh Thuận tại TP. Hà Nội, TP. Cần Thơ, TP.
Đà Nẵng, Hội chợ Công thương khu vực Nam Trung Bộ - Ninh Thuận, Hội chợ triển
lãm hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu khu vực miền Trung - Tây Nguyên, 50
năm giải phóng Ninh Thuận (16/4/1075-16/4/2025) và 50 năm ngày thống nhất đất
nước (30/4/1975-30/4/2025) có tổ chức trưng bày và giới thiệu sản phẩm gốm
Chăm….
- Xây dựng hồ sơ đề nghị xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ
nhân ưu tú” (xem xét và công nhận trong năm 2025).
- Hỗ trợ đầu tư quảng bá và phát triển làng nghề gốm Bàu Trúc từ nguồn hoạt
động xúc tiến, quảng bá và hỗ trợ phát triển du lịch cấp cho Quỹ hỗ trợ phát triển du
lịch Việt Nam và nguồn vốn đối ứng của tỉnh như: không gian trình diễn, trải nghiệm
nghệ thuật làm gốm Chăm (nhà thực nghiệm); lắp đặt cụm mô hình sản phẩm gốm
Bàu Trúc nhằm quảng bá và tạo điểm check in cho du khách; sản xuất phim ngắn 5
phút quảng bá, giới thiệu Nghệ thuật làm gốm của người Chăm và các sản phẩm gốm
Chăm đến du khách trong nước và quốc tế…
- Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030, trong đó có Quy hoạch vùng
nguyên liệu (đất, cát) để khai thác làm gốm.
- Các ngân hàng thương mại, doanh nghiệp, nhà nước, hộ gia đình và cá nhân
đã hỗ trợ vốn đầu tư phát triển làng nghề như đầu tư sửa chữa các hạng mục đảm bảo
việc trưng bày, trải nghiệm làm gốm, biểu diễn văn nghệ… tại Nhà trưng bày gốm
Bàu Trúc. Qua đó nâng cao khai thác hiệu quả thiết chế Nhà trưng bày gắn với các
lớp tuyên truyền, vận động thành lập Hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã năm 2012.
26
Đồng thời mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực cho cán bộ
quản lý chủ chốt của Hợp tác xã tại làng nghề.
- Mở rộng khuôn viên Đài liệt sĩ huyện Ninh Phước (nay là xã Ninh Phước) tạo
không gian mở, đồng thời tiếp nhận nguồn xã hội hóa từ Công ty Nutifood đầu tư hạ
tầng cổng chào làng nghề gốm Bàu Trúc.
- Công tác kiểm kê, sưu tầm và tư liệu hóa tiếp tục được quan tâm, triển khai
và cập nhật. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh phối hợp với Đài phát thanh –
Truyền hình tỉnh (nay là Báo tỉnh Khánh Hòa) xây dựng phim tài liệu “Ninh Thuận
nỗ lực hỗ trợ bảo tồn Nghệ thuật gốm Chăm” phục vụ tuyên truyền, quảng bá về
Nghệ thuật làm gốm và sản phẩm của làng nghề gốm Bàu Trú (thời lượng 26 phút
và có phụ đề tiếng Anh)…
* Năm 2026:
1). Quý I (từ tháng 1-3):
- UBND tỉnh chủ trì họp các ban ngành liên quan, triển khai kế hoạch thực hiện
các mục tiêu việc bảo vệ và phát huy gốm Chăm.
- Bước đầu củng cố và nâng cao năng lực Ban quản lý làng nghề gốm Bàu Trúc
(5 thành viên).
- Tổ chức truyền dạy gốm Chăm cơ bản và nâng cao tại làng gốm Bàu Trúc (4
lớp với 120 học viên tham gia).
2). Quý II - III (từ tháng 4-9):
- Quy hoạch khoảng 5ha vùng nguyên liệu (đất sét, cát, củi) và 0,5ha đất trống
làm địa điểm nung gốm.
- Mở lớp cho nghệ nhân truyền dạy làm gốm và tri thức bản địa về nghề gốm
tại làng gốm Bàu Trúc (2 lớp với 60 học viên tham gia).
- Củng cố và hỗ trợ cộng đồng sắp xếp, hoàn chỉnh Nhà trưng bày tại làng gốm
Bàu Trúc.
- Tổ chức kiểm kê khoa học và hoàn thiện cơ sở dữ liệu gốm Chăm.
- Xây dựng website, xuất bản sách, phim giới thiệu và quảng bá di sản gốm
Chăm.
- Xây dựng hồ sơ đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân làm gốm
(Nghệ nhận ưu tú, Nghệ nhân nhân dân).
- Quy hoạch mô hình du lịch phát triển cộng đồng làng nghề gốm Bàu Trúc
(thiết kế mô hình du lịch homestay khoảng 20 hộ điển hình, tập huấn cộng đồng làm
du lịch, đào tạo hướng dẫn viên địa phương, hình thành nhóm văn nghệ - ẩm thực -
trò chơi dân gian, tái hiện một số nghi lễ hội hè… phục vụ du khách và ban đầu có
thể đóng cổng bán vé, thu ngân sách cho địa phương).
3). Quý IV (từ tháng 10-12):
- Tổ chức các cuộc thi sáng tác, thiết kế mẫu mã sản phẩm, tham gia hội chợ.
- Xây dựng tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, đăng ký nhãn hiệu “Gốm Chăm”
cho sản phẩm gốm Chăm Bàu Trúc và chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm gốm Chăm; tìm
kiếm thị trường tiêu thụ gốm trong nước và ngoài nước.
- Các cơ quan chính quyền địa phương cùng làng gốm Bàu Trúc triển khai quy
hoạch vùng nguyên liệu làm gốm (đất sét, cát) và địa điểm nung gốm.
27
- Nghiên cứu chính sách hỗ trợ nghệ nhân, người làm gốm.
- Sơ kết 2 năm thực hiện Đề án và đề xuất phương hướng giai đoạn tiếp theo.
- Báo cáo định kỳ quốc gia gửi UNESCO (2023-2026).
❖ Phân kỳ hướng đến việc ghi danh Nghệ thuật làm gốm của người Chăm
là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
* Năm 2027:
1). Quý I (từ tháng 1-3):
- Tổ chức truyền dạy gốm (nâng cao) tại làng gốm Bàu Trúc (2 lớp với 70 học
viên tham gia).
2). Quý II (từ tháng 4-6):
- Xây dựng hồ sơ đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa xếp hạng Đền thờ
Po Klaong Can (vị tổ nghề gốm) là Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.
3). Quý III, IV (từ tháng 7-12):
- Tổ chức các cuộc thi sáng tác, thiết kế mẫu mã sản phẩm, tham gia hội chợ
(lần 2).
* Năm 2028:
1). Quý I (từ tháng 1-3):
- Tổ chức truyền dạy gốm (nâng cao) tại làng gốm Bàu Trúc (2 lớp nâng cao
với 70 học viên tham gia).
2). Quý II (từ tháng 4-6):
- Hoàn thiện trưng bày Bảo tàng gốm Chăm.
3). Quý III (từ tháng 7-9):
- Xây dựng kế hoạch, tổ chức Liên hoan Nghệ thuật làm gốm Chăm nhân dịp
lễ hội Katê Chăm tại làng.
4). Quý IV (từ tháng 10-12):
- Sơ kết 2 năm Đề án và đề xuất phương hướng giai đoạn tiếp theo nhằm hướng
đến đưa nghệ thuật làm gốm của người Chăm ra khỏi danh sách di sản văn hóa phi
vật thể cần bảo vệ khẩn cấp và được ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật
thể đại diện của nhân loại (trong đợt báo cáo định kỳ quốc gia lần 2 trình UNESCO
vào năm 2030).
* Năm 2029 - 2030:
- Duy trì các lớp truyền dạy (cơ bản và nâng cao) trong cộng đồng (4 lớp với
120 học viên tham gia).
- Tiếp tục mở rộng thị trường tiêu thụ gốm và gắn với phát triển du lịch cộng
đồng làng nghề.
- Giới thiệu và quảng bá di sản nghệ thuật làm gốm của người Chăm ra quốc tế.
- Thiết lập các chương trình kết nối di sản và giao lưu quốc tế với các di sản
đồng dạng với nghệ thuật làm gốm của người Chăm.
- Mời gọi đầu tư và tài trợ nguồn lực để bảo vệ và phát huy từ các nguồn trong
nước và quốc tế.
- Sơ kết 4 năm thực hiện Đề án và hoàn thiện Báo cáo định kỳ quốc gia trình
UNESCO đưa nghệ thuật làm gốm của người Chăm ra khỏi danh sách di sản văn hóa
28
phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp và được ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi
vật thể đại diện của nhân loại.
2.2.2. Các dự án thuộc lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ quản
lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản Nghệ thuật làm gốm của người Chăm
2.2.2.1. Mục tiêu: Cải tạo, xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng, cảnh quan và
bộ nhận diện di sản nghệ thuật làm gốm của người Chăm.
- Quy hoạch không gian phát triển của làng nghề tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp đầu tư trong lĩnh vực sản xuất gốm bao gồm cả gốm truyền thống và các sản
phẩm ứng dụng công nghệ vào lĩnh vực sản xuất gốm.
- Quy hoạch vùng khai thác nguyên liệu để đảm bảo ổn định nguồn tài nguyên
lâu dài kết hợp xây dựng hạ tầng cơ sở kết nối vùng nguyên liệu với khu vực sản
xuất. Quy mô ban đầu dự kiến khoảng 5ha. Giai đoạn 2 cần xác định vùng nguyên
liệu với quy mô lớn hơn để đáp ứng nhu cầu sản xuất.
- Xây dựng Bảo tàng gốm Chăm gắn với lịch sử.
- Xây dựng các quy định đảm bảo vệ sinh môi trường cho các cơ sở sản xuất.
- Đầu tư xây dựng khu xử lý rác thải sản xuất, xử lý môi trường theo quy định.
- Đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước phòng cháy chữa cháy chung theo tiêu
chuẩn Quy định đối với làng nghề đặc trưng.
- Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng liên kết làng Bàu Trúc với các điểm Du
lịch khác lân cận như: Làng dệt Mỹ Nghiệp, Đền thờ tổ nghề Po Klaong Can, vùng
trồng táo, khu khai thác nguyên liệu đất làm gốm, nghề chạm bạc, khu du lịch Tháp
Chàm…
2.2.2.2. Công tác chuẩn bị xây dựng cơ sở hạ tầng:
- Khảo sát xác định đối tượng áp dụng, phân công quản lý thực hiện; ranh giới,
quy mô diện tích, tính chất, dân số khu vực lập quy hoạch. Quy định chung về hạ
tầng khu du lịch (nhóm nhà ở, công cộng, du lịch, thể thao, công cộng, thương mại
dịch vụ, cây xanh, du lịch…). Các quy định chủ yếu về kết nối giữa hệ thống hạ tầng
kỹ thuật trong khu vực với hệ thống hạ tầng kỹ thuật chung của đô thị.
- Xác định ranh giới, quy mô diện tích, quy định về mật độ dân cư, chỉ tiêu sử
dụng đất quy hoạch đô thị, nguyên tắc kiểm soát phát triển, quản lý về không gian,
kiến trúc; yêu cầu hạ tầng kỹ thuật đối với từng ô (đến đường cấp khu vực), từng khu
chức năng; quy định chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng, cốt xây dựng và các yêu
cầu về kỹ thuật đối với từng tuyến đường; phạm vi bảo vệ, hành lang an toàn công
trình hạ tầng kỹ thuật và công trình ngầm (nếu có). Quy định về nguyên tắc tổ chức
không gian, kiến trúc, cảnh quan đối với trục đường chính, không gian mở, điểm
nhấn, công viên cây xanh.
- Lập, thẩm định báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng & thực hiện các
công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị các dự án thành phần và trình cấp
thẩm quyền phê duyệt, đảm bảo đồng bộ, thống nhất phục vụ công tác quản lý, bảo
vệ và phát huy giá trị di sản nghệ thuật làm gốm của người Chăm.
2.2.2.3. Kinh phí thực hiện các dự án thành phần: 162,5 tỷ đồng (trước thuế),
bao gồm 13 dự án (dự án 7.1 - 7.13), như sau:
• Dự án 7.1: Dự án đầu tư xây dựng cổng làng và cụm công trình biểu tượng
gốm Bàu Trúc
29
- Đầu tư và xây dựng Cổng làng nghề gốm Bàu Trúc mang tính biểu trưng về
gốm Bàu Trúc và văn hoá đặc trưng của người Chăm, tại vị trí cổng làng hiện có với
diện tích 1200m
2
. Bao gồm các hạng mục: Cổng làng Bàu Trúc, phù điêu nghệ thuật
gốm Chăm, không gian trưng bày sản phẩm gốm Bàu Trúc …
- Hình thành biểu tượng riêng biệt độc đáo của làng gốm truyền thống Bàu Trúc.
Là lời chào thân thuộc của nhân dân Bàu Trúc đến với du khách. Mang vai trò như
một thương hiệu của nghệ thuật gốm người Chăm ở Bàu Trúc trong thị trường du
lịch tỉnh Khánh Hòa nói riêng và của cả nước nói chung.
- Kinh phí thực hiện dự án: 15 tỷ đồng
• Dự án 7.2: Dự án cải tạo khu tưởng niệm liệt sỹ xã Ninh Phước
30
- Cải tạo khu tưởng niệm Liệt sỹ xã Ninh Phước kết hợp với chức năng công
viên cây xanh, dịch vụ, trưng bày các sản phẩm gốm Bàu Trúc với diện tích 1,8ha.
- Trên cơ sở khu công viên tưởng niệm hiện trạng, tháo bỏ phần tường rào ngăn
cách với khu cổng làng và con đường gốm, tạo thành một không gian công cộng tổng
hợp có diện tích cây xanh lớn, kết hợp cùng khu bảo tàng Gốm Chăm tạo ra điểm
nhấn không gian đặc trưng mang đậm nét văn hoá Chăm, mang sức cuốn hút du
khách ngay từ cái nhìn đầu tiên khi đến với Bàu Trúc. Đây cũng là không gian nghỉ
ngơi thư giãn của người dân Bàu Trúc sau nhưng giờ lao động sáng tạo với tác phẩm
gốm. Góp phần nâng cao đời sống xã hội và văn hoá tinh thần của người dân địa
phương.
- Kinh phí thực hiện dự án: 10 tỷ đồng
• Dự án 7.3: Dự án đầu tư xây dựng con đường gốm
- Đầu tư xây dựng con đường gốm trưng bày các sản phẩm đặc trưng mang nội
dung ý nghĩa theo từng chủ đề được phê duyệt. Cụ thể là tường và vỉa hè đường Thủ
Khoa Huân dài 350m.
- Trên vỉa hè hai bên con đường gốm sẽ được trưng bày các tác phẩm gốm độc
đáo do chính những nghệ nhân Bàu trúc làm ra, giưới thiệu với du khách một cách
trực quan và sống động nhất về nghệ thuật gốm Bàu Trúc. Đây cũng là nơi vinh danh
những tác phẩm đạt giải trong các hội thi tay nghề nhằm thúc đẩy tính sáng tạo và
long đam mê cống hiến cho nghệ thuật gốm truyền thống của địa phương.
- Kinh phí thực hiện dự án: 10 tỷ đồng
• Dự án 7.4: Dự án đầu tư xây dựng cải tạo và bảo vệ hồ Bàu Súc
- Sản phẩm gốm là sự kết tinh của đất, nước và lửa, thăng hoa cùng đôi bàn tay
và khối óc của nghệ nhân để tạo ra tác phẩm mang đậm linh hồn của văn hoá Chăm.
Chính vì vậy, hồ Bàu Súc, nơi lắng đọng nguồn nước làm gốm từ xa xưa, đóng vai
trò hết sức quan trọng trong quá trình làm gốm của người dân nơi đây. Để hướng tới
một không gian văn hoá Chăm đặc sắc, đậm đà bản sắc dân tộc, thì hồ Bàu Súc còn
mang thêm sứ mệnh là nơi lưu giữ cảnh quan thiên nhiên từ truyền thống, kết hợp
với không gian tuyến phố đi bộ để tạo ra một điểm dừng chân, nơi lắng đọng cảm
xúc và thăng hoa văn hoá nghệ thuật gốm Chăm.
- Hiện nay khu vực hồ bị xâm chiếm nhiều trong quá trình phát triển đô thị,
nguồn nước tù đọng không được lưu thông nên dẫn tới hiện tượng ô nhiễm mặt nước.
Dự án cải tạo cần xây dựng hệ thống thu gom nước thải sinh hoạt, xây dựng tuyến đi
bộ quanh hồ, trồng them cây xanh và tạo các khoảng dừng nghỉ phù hợp. Kết hợp
với nghệ thuật trưng bày ngoài trời để tạo sức hấp dẫn cho du khách. Góp phần cải
tạo môi trường sống cho người dân làng gốm Bàu Trúc.
- Quy mô Dự án Đầu tư xây dựng cải tạo và bảo vệ không gian cảnh quan khu
vực hồ Bàu Súc có diện tích khoảng 0,66 ha.
- Kinh phí thực hiện dự án: 25 tỷ đồng
• Dự án 7.5: Dự án cải tạo và chỉnh trang tuyến phố đi bộ
- Đầu tư cải tạo và chỉnh trang tuyến phố đi bộ thương mại, khuyến khích các
hộ gia đình cải tạo mặt tiền, tạo các không gian mở kết nối hoạt động trưng bày sản
phẩm với khu sản xuất một cách đồng bộ và mang tính đặc trưng của làng nghề gốm
31
Bàu Trúc. Phạm vi nghiên cứu cụ thể của dự án là tuyến phố Nguyễn Thị Định giới
hạn từ đường Thủ Khoa Huân đến đường Đổng Dậu và tuyến đường Đổng Dậu.
- Trên tuyến phố đi bộ tổ chức các không gian cửa hàng kết hợp với nơi sản
xuất, tổ chức các hoạt động cho du khách có thể tham gia trực tiếp vào quá trình sản
xuất gốm truyền thống. Giúp du khách có điều kiện giao lưu trực tiếp với người dân
bản địa, góp phần quảng bá văn hoá gốm Chăm đặc sắc của Bàu Trúc đến với du
khách trong nước và quốc tế (Ví dụ: Nhà theo kiến trúc văn hoá Chăm 2 tầng với
công năng tầng 1 kinh doanh, tầng 2 sinh hoạt).
- Kinh phí thực hiện dự án: 15 tỷ đồng
• Dự án 7.6: Dự án đầu tư xây dựng chợ gốm Bàu Trúc
- Đầu tư xây dựng chợ gốm Bàu Trúc kết hợp bãi gửi xe và Logistic. Cụ thể sẽ
nằm trên đất trung tâm dạy nghề là 1,35 ha.
- Đáp ứng nhu cầu của hoạt động thương mại và tạo ra một thị trường cho hoạt
động bán buôn sản phẩm. Phục vụ cho việc mua sắm của khách được thuận lợi, đảm
bảo vận chuyển đến nhà của khách một cách nhanh chóng với giá thành cạnh tranh.
Giải quyết khó khan về thể tích của sản phẩm gốm Bàu Trúc vốn có kích thước to và
nặng, tránh được tâm lý ngại vận chuyển của du khách.
- Đây đồng thời là địa điểm diễn ra các hội chợ thương mại, xúc tiến du lịch,
kết hợp với khu công viên và con đường gốm tạo nên sự sôi động cho làng gốm Bàu
Trúc.
- Kinh phí thực hiện dự án: 15 tỷ đồng
• Dự án 7.7: Dự án đầu tư cải tạo tuyến phố ẩm thực và dịch vụ
- Đầu tư cải tạo tuyến phố ẩm thực và dịch vụ phục vụ khách thăm quan, cụ thể
nằm trên đường Bàu Trúc chiều dài khoảng 450m. Đáp ứng nhu cầu về ăn uống của
du khách, nhằm giữ chân du khách ở lại lâu hơn với làng gốm, góp phần tang them
thu nhập cho người dân.
- Kinh phí thực hiện dự án: 10 tỷ đồng
• Dự án 7.8: Dự án đầu tư xây dựng Bảo tàng gốm Chăm Bàu Trúc
- Quy hoạch không gian xây dựng bảo tàng gốm Bàu Trúc tại chính nơi sinh ra
nghề gốm. Đây là nơi lưu giữ và trưng bày các tác phẩm gốm đặc sắc, có dấu ấn nổi
bật trong quá trình sinh ra và phát triển của gốm Chăm. Mô hình này cũng đã được
nhiều nơi xây dựng hết sức thành công, góp phần không nhỏ tới sự thành công của
quá trình lưu trữ và bảo vệ nền văn hoá dân tộc.
- Kinh phí thực hiện dự án: 20 tỷ đồng
• Dự án 7.9: Dự án đầu tư xây dựng Trung tâm trưng bày sản phẩm và trình
diễn nghệ thuật làm gốm người Chăm
- Cải tạo không gian trưng bày ngoài trời và phân khu chức năng trong Trung
tâm trưng bày gốm Bàu Trúc hiện có.
- Tận dụng chức năng Sân vận động hiện có thành không gian trưng bày ngoài
trời các sản phẩm gốm Bàu Trúc có ứng dụng cho sân vườn tiểu cảnh và phân khu
tổ chức Nghệ thuật làm gốm người Chăm cùng với các hoạt động Lễ hội trong các
dịp kỷ niệm đặc biệt.
- Kinh phí thực hiện dự án: 7,5 tỷ đồng
32
• Dự án 7.10: Dự án đầu tư xây dựng khu xử lý rác thải
- Xây dựng khu xử lý rác thải theo quy định (chủ yếu từ phụ phẩm từ nghề gốm)
để bảo vệ cảnh quan và môi trường của làng nghề phát triển bền vững.
- Kinh phí thực hiện dự án: 5 tỷ đồng
• Dự án 7.11: Dự án đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước, phòng cháy chữa
cháy
- Xây dựng và hoàn thiện đồng bộ hệ thống hạ tầng cấp nước và phòng cháy
chữa cháy theo tiêu chuẩn quy định đối với làng nghề đặc trưng trong khu vực làng
gốm Bàu Trúc và vùng phụ cận thuộc hệ sinh thái bảo vệ và phát huy giá trị nghệ
thuật làm gốm Bàu Trúc.
- Kinh phí thực hiện dự án: 5 tỷ đồng
• Dự án 7.12: Dự án xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông liên kết
làng Bàu Trúc với các điểm du lịch khác lân cận
- Xây dựng và hoàn thiện đồng bộ hạ tầng liên kết làng gốm Bàu Trúc với các
điểm du lịch như: đền thời Po Klaong Can (vị tổ nghề gốm), tham quan điểm khai
thác nguyên liệu, làng dệt thổ cẩm Mỹ nghiệp, nghề chạm bạc, vùng trồng táo, nho…
- Kinh phí thực hiện dự án: 20 tỷ đồng
• Dự án 7.13: Dự án quy hoạch vùng nguyên liệu và nung gốm
- Quy hoạch và mở rộng vùng nguyên liệu hiện có để đảm bảo ổn định nguồn
tài nguyên lâu dài kết hợp với xây dựng hạ tầng cơ sở kết nối vùng nguyên liệu với
khu vực sản xuất, quy mô khoảng 5ha và nơi nung gốm khoảng 0,5ha.
- Kinh phí thực hiện dự án: 5 tỷ đồng
Các dự án trên cần được triển khai đồng bộ với sự phối hợp chặt chẽ giữa cộng
đồng người Chăm, chính quyền địa phương, các tổ chức phi chính phủ và UNESCO
nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong việc bảo vệ và phát huy giá trị nghệ thuật làm gốm
của người Chăm.
33
PHÂN VÙNG KHÔNG GIAN CHỨC NĂNG
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC DÂY CHUYỀN CÔNG NĂNG
34
QUY HOẠCH VÙNG NGUYÊN LIỆU
2.3. Kinh phí thực hiện và phân kỳ đầu tư đề án:
2.3.1. Kinh phí thực hiện đề án
- Tổng kinh phí khai toán: 205.216.149.300 đồng (sau thuế)
+ Nhu cầu vốn xây dựng các hạng mục công trình, bảo vệ và phát huy giá trị
di sản văn hóa: 178.750.000.000 đồng (87%)
+ Nhu cầu vốn cho các hoạt động chuẩn bị đầu tư: 5.676.149.300 đồng (3%)
+ Nhu cầu vốn cho truyền dạy, đào tạo, phát triển thị trường: 20.790.000.000
đồng (10%)
- Trong đó:
+ Ngân sách Trung ương và địa phương: 163.500.000.000 đồng (80%)
+ Nguồn vốn xã hội hóa, huy động từ các tổ chức trong nước và quốc tế:
41.716.149.300 đồng (20%)
2.3.2. Phân kỳ đầu tư:
• Năm 2026: 93.000.000.000 đồng (45%)
- Nguồn vốn từ NSNN: 78.000.000.000 đồng
Trong đó:
+ Ngân sách Trung ương: 70.000.000.000 đồng
+ Ngân sách địa phương: 8.000.000.000 đồng
- Nguồn vốn xã hội hóa: 15.000.000.000 đồng
• Năm 2027: 62.864.000.000 đồng (31%)
- Nguồn vốn từ NSNN: 50.000.000.000 đồng
Trong đó:
35
+ Ngân sách Trung ương: 45.000.000.000 đồng
+ Ngân sách địa phương: 5.000.000.000 đồng
- Nguồn vốn xã hội hóa: 12.8864.000.000 đồng
• Năm 2028: 30.352.149.300 đồng (15%)
- Nguồn vốn từ NSNN: 22.000.000.000 đồng
Trong đó:
+ Ngân sách Trung ương: 17.000.000.000 đồng
+ Ngân sách địa phương: 5.000.000.000 đồng
- Nguồn vốn xã hội hóa: 8.352.149.300 đồng
• Năm 2029-2030: 19.000.000.000 đồng (9%)
- Nguồn vốn từ NSNN: 13.500.000.000 đồng
Trong đó:
+ Ngân sách Trung ương: 10.000.000.000 đồng
+ Ngân sách địa phương: 3.500.000.000 đồng
- Nguồn vốn xã hội hóa: 5.000.000.000 đồng
2.3.3. Nguồn kinh phí
- Từ nguồn vốn ngân sách Trung ương phân bổ hàng năm cho địa phương, vốn
đầu tư công thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa, vốn đối
ứng ngân sách của địa phương và vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án, đề án
khoảng 153 tỷ đồng.
- Vốn các nhà đầu tư, vốn xã hội hoá khoảng 41,716 tỷ đồng (bao gồm vốn tự
có của các doanh nghiệp, huy động từ các tổ chức tín dụng, đầu tư trực tiếp nước
ngoài, liên doanh liên kết và các nguồn vốn hợp pháp khác).
36
Phần thứ ba
HỆ THỐNG GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI ĐỀ ÁN
Nghệ thuật làm gốm truyền thống của người Chăm là một di sản văn hóa quý
báu, mang giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật sâu sắc, có bề dày lịch sử hàng ngàn
năm. Tuy nhiên, trước sự phát triển của xã hội hiện đại, nghề làm gốm truyền thống
này đang đối mặt với nguy cơ mai một. Dưới đây, Đề án đưa ra một số giải pháp
quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị nghệ thuật của nghề này.
3.1. Giải pháp về các hoạt động bảo vệ khẩn cấp đối với di sản văn hóa phi
vật thể Nghệ thuật làm gốm của người Chăm
3.1.1. Tăng cường giáo dục và truyền dạy nghề
- Xây dựng và thực hiện các chương trình truyền dạy nghề tại chỗ: Các lớp
truyền dạy kỹ thuật gốm Chăm cần được tổ chức ngay trong cộng đồng để dễ dàng
tiếp cận và truyền tải kiến thức cho người trẻ. Khuyến khích người Chăm truyền dạy
kỹ thuật làm gốm cho thế hệ trẻ qua các hình thức như dạy nghề trong gia đình hoặc
mở lớp học truyền thống. Việc truyền dạy có thể được thực hiện qua các lớp học do
chính các nghệ nhân địa phương đứng lớp, phối hợp với sự hỗ trợ về mặt chuyên
môn và tài chính từ các tổ chức văn hóa và chính quyền.
- Giáo dục trong trường học: Đưa nghề làm gốm vào chương trình giáo dục ở
các trường học địa phương, giúp học sinh hiểu và tự hào về văn hóa dân tộc.
3.1.2. Cấp kinh phí hỗ trợ cho nghệ nhân và hộ sản xuất gốm
Nhiều nghệ nhân gốm Chăm gặp khó khăn về tài chính để duy trì nghề truyền
thống. Cấp kinh phí hỗ trợ không chỉ giúp các nghệ nhân có điều kiện làm nghề mà
còn khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động bảo vệ di sản.
3.1.3. Quảng bá và tăng cường giá trị thương mại của gốm Chăm
Tạo điều kiện để các sản phẩm gốm Chăm được quảng bá và tiếp cận rộng rãi
với thị trường. Các sản phẩm có thể được đưa vào chương trình giới thiệu văn hóa
Việt Nam, hoặc có các gian hàng giới thiệu gốm Chăm trong các sự kiện du lịch, văn
hóa. Việc hợp tác với các công ty và kênh bán hàng trực tuyến cũng là một giải pháp
hiệu quả để mở rộng thị trường cho gốm Chăm.
3.1.4. Hỗ trợ công nghệ và cải tiến sản xuất
Các nghệ nhân cần được hỗ trợ công nghệ và trang thiết bị hiện đại hơn, nhưng
vẫn giữ được các yếu tố truyền thống của nghề. Việc áp dụng các kỹ thuật mới có
thể giúp nâng cao hiệu suất và chất lượng sản phẩm mà không làm mất đi tính bản
sắc của gốm Chăm.
3.1.5. Xây dựng hồ sơ tài liệu hóa di sản
Các nghiên cứu về kỹ thuật, phong cách, và văn hóa gốm Chăm cần được thực
hiện một cách bài bản, có hệ thống để lưu giữ lại những giá trị truyền thống. Việc tài
liệu hóa này có thể bao gồm việc quay phim, ghi âm, chụp ảnh và ghi chép lại các
quy trình, công đoạn làm gốm từ các nghệ nhân.
3.1.6. Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng và tổ chức sự kiện văn hóa
Cộng đồng địa phương nên được khuyến khích và hỗ trợ để tham gia vào các
sự kiện văn hóa, lễ hội tôn vinh gốm Chăm. Đây cũng là dịp để cộng đồng người
37
Chăm thể hiện niềm tự hào về di sản văn hóa của mình và khơi dậy tình yêu, trách
nhiệm gìn giữ nghề truyền thống.
Những giải pháp trên có thể giúp nâng cao ý thức bảo vệ và phát triển nghề gốm
Chăm, đồng thời cung cấp các công cụ cần thiết để gìn giữ giá trị của di sản này một
cách bền vững.
3.2. Giải pháp về nghiên cứu, sáng tạo, thiết kế mẫu mã và mở rộng thị
trường tiêu thụ
Để phát huy và mở rộng thị trường tiêu thụ nghệ thuật làm gốm của người
Chăm, cần tập trung vào các giải pháp nghiên cứu, sáng tạo và thiết kế mẫu mã, nhằm
tăng tính cạnh tranh và giá trị kinh tế cho sản phẩm gốm Chăm. Dưới đây là những
giải pháp cụ thể:
3.2.1. Nghiên cứu văn hóa và lịch sử để làm nền tảng sáng tạo
- Đẩy mạnh nghiên cứu về lịch sử, biểu tượng, và ý nghĩa văn hóa trong nghệ
thuật gốm Chăm để lấy cảm hứng cho sáng tạo mẫu mã mới. Việc dựa trên các giá
trị văn hóa cốt lõi không chỉ giúp sản phẩm mang đậm bản sắc mà còn tạo ra nét độc
đáo, dễ nhận diện.
- Có thể hợp tác với các viện nghiên cứu văn hóa, các trường đại học nghệ thuật
để thực hiện các dự án nghiên cứu sâu sắc và bài bản.
3.2.2. Thiết kế và sáng tạo mẫu mã mới phù hợp với thị hiếu hiện đại
- Tạo ra các thiết kế phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng hiện đại, ví dụ
như các sản phẩm trang trí nội thất, vật dụng gia đình hoặc đồ lưu niệm với các họa
tiết đặc trưng của gốm Chăm. Các mẫu mã cần đa dạng về hình dáng, kích thước, và
công dụng để phù hợp với các không gian và phong cách sống khác nhau.
- Sử dụng các kỹ thuật thiết kế 3D, công nghệ số để thử nghiệm và tạo mẫu
nhanh chóng trước khi sản xuất hàng loạt, nhằm giảm chi phí và tối ưu hóa quy trình
sáng tạo.
3.2.3. Khuyến khích sự tham gia của các nhà thiết kế trẻ
- Tổ chức các cuộc thi thiết kế nhằm tìm kiếm ý tưởng mới cho gốm Chăm và
khuyến khích các nhà thiết kế trẻ đóng góp sáng tạo. Các thiết kế đoạt giải có thể
được sản xuất và đưa vào thị trường, giúp tạo động lực cho các tài năng trẻ trong
cộng đồng.
- Tạo điều kiện để các nhà thiết kế hợp tác với các nghệ nhân Chăm để tìm hiểu
kỹ thuật và phong cách truyền thống, từ đó kết hợp hài hòa giữa yếu tố truyền thống
và hiện đại.
3.2.4. Xây dựng thương hiệu và chiến lược tiếp thị cho gốm Chăm
- Xây dựng thương hiệu mạnh, truyền tải thông điệp về giá trị văn hóa, lịch sử
và nghệ thuật của gốm Chăm để nâng cao giá trị sản phẩm. Mỗi sản phẩm có thể đi
kèm câu chuyện về nghệ nhân, quá trình chế tác và ý nghĩa văn hóa, tạo ấn tượng
mạnh mẽ cho khách hàng.
- Đưa gốm Chăm vào các kênh thương mại điện tử, hợp tác với các nền tảng
bán hàng trực tuyến, hoặc các thương hiệu lớn để tiếp cận người tiêu dùng quốc tế.
Quảng bá gốm Chăm tại các sự kiện văn hóa quốc tế hoặc triển lãm thủ công mỹ
nghệ cũng là cách để mở rộng thị trường.
3.2.5. Phát triển du lịch gắn với nghệ thuật gốm Chăm
38
- Phát triển các làng nghề gốm Chăm thành điểm đến du lịch văn hóa, nơi du
khách có thể tham quan và trải nghiệm làm gốm cùng nghệ nhân. Điều này không
chỉ giúp quảng bá trực tiếp sản phẩm mà còn tạo nguồn thu nhập mới cho người dân
địa phương.
- Tổ chức các chương trình tham quan kết hợp trải nghiệm làm gốm, nơi du
khách tự tay chế tác và mang về những sản phẩm do chính họ tạo ra, qua đó tăng
thêm giá trị và sự gần gũi với sản phẩm gốm Chăm.
3.2.6. Bảo vệ và cải tiến kỹ thuật sản xuất
- Trong quá trình sáng tạo và cải tiến, cần giữ vững các kỹ thuật truyền thống
cốt lõi của gốm Chăm, như kỹ thuật tạo hình thủ công và sử dụng lò nung truyền
thống. Tuy nhiên, có thể cải tiến quy trình hoặc áp dụng một số công nghệ mới vào
khâu hoàn thiện sản phẩm, miễn là không làm mất đi bản sắc và chất lượng thủ công.
- Hỗ trợ nghệ nhân tiếp cận các công nghệ thân thiện với môi trường và nguồn
nguyên liệu bền vững để giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường sản xuất.
Bằng cách thực hiện các giải pháp trên, nghệ thuật làm gốm của người Chăm
không chỉ được bảo vệ mà còn phát triển theo hướng hiện đại và bền vững, góp phần
mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước.
3.3. Giải pháp về quản lý, quảng bá và trưng bày gốm Chăm
Để bảo vệ khẩn cấp và phát huy giá trị nghệ thuật làm gốm của người Chăm,
cần có các giải pháp quản lý, quảng bá và trưng bày chuyên nghiệp, nhằm nâng cao
nhận thức và tạo sức hấp dẫn cho di sản này. Các giải pháp cụ thể bao gồm:
3.3.1. Xây dựng hệ thống quản lý và lưu trữ thông tin về nghệ thuật gốm Chăm
- Tạo cơ sở dữ liệu quốc gia về các nghệ nhân, kỹ thuật, mẫu mã và lịch sử gốm
Chăm, phục vụ cho công tác nghiên cứu và bảo vệ lâu dài. Hệ thống quản lý cần bao
gồm thông tin chi tiết về các quy trình chế tác, hình ảnh, video và tư liệu liên quan
để lưu trữ và truy cập dễ dàng. Tận dụng các nền tảng thương mại điện tử để quảng
bá và bán sản phẩm gốm, giúp mở rộng thị trường tiêu thụ.
- Phân loại và lưu trữ các tác phẩm gốm Chăm đặc sắc và có giá trị văn hóa,
lịch sử trong các bảo tàng hoặc trung tâm văn hóa tại địa phương để đảm bảo chúng
không bị mai một hay thất lạc.
3.3.2. Quảng bá thông qua các kênh truyền thông hiện đại và truyền thống
- Sử dụng mạng xã hội, website và các kênh truyền thông hiện đại để giới thiệu
về nghệ thuật gốm Chăm đến đối tượng người trẻ và khách hàng quốc tế. Nội dung
quảng bá có thể bao gồm video, bài viết, hoặc các bộ ảnh chuyên sâu về quy trình
làm gốm và cuộc sống của nghệ nhân, giúp tạo sự gần gũi và hứng thú cho công
chúng.
- Đưa gốm Chăm vào chương trình truyền thông truyền thống như truyền hình,
báo chí và tài liệu văn hóa, để quảng bá rộng rãi đến người dân Việt Nam và quốc tế
về giá trị và tình trạng nguy cấp của di sản.
3.3.3. Trưng bày gốm Chăm trong các bảo tàng và triển lãm văn hóa nghệ thuật
- Đưa nghệ thuật gốm Chăm vào các bảo tàng văn hóa, viện bảo tàng nghệ thuật
dân gian, và triển lãm văn hóa, thủ công mỹ nghệ, cả trong và ngoài nước, để người
xem có cơ hội tiếp xúc trực tiếp và hiểu rõ hơn về giá trị của gốm Chăm.
39
- Phối hợp với các trung tâm văn hóa và bảo tàng quốc tế tổ chức triển lãm lưu
động hoặc không gian trưng bày thường xuyên dành riêng cho gốm Chăm, nhằm giới
thiệu rộng rãi đến công chúng quốc tế.
3.3.4. Tổ chức các hội thảo và chương trình giáo dục cộng đồng
- Tổ chức hội thảo về nghệ thuật gốm Chăm dành cho các nhà nghiên cứu, sinh
viên và người dân địa phương để nâng cao hiểu biết và nhận thức về giá trị di sản
này. Các chương trình giáo dục cộng đồng có thể bao gồm các lớp học, hướng dẫn
và hội thảo chuyên đề về kỹ thuật làm gốm.
- Kết hợp với các trường học và tổ chức văn hóa để tổ chức các chương trình
trải nghiệm làm gốm, từ đó khơi dậy tình yêu và niềm tự hào về di sản văn hóa cho
các thế hệ trẻ.
- Tổ chức các sự kiện, hội chợ, triển lãm về gốm Chăm để giới thiệu rộng rãi
sản phẩm đến với người tiêu dùng trong nước và quốc tế.
3.3.5. Phát triển du lịch văn hóa gắn với trưng bày và trải nghiệm làm gốm
Chăm
- Xây dựng các tour du lịch văn hóa tới làng gốm Chăm, nơi du khách có thể
tham quan quy trình làm gốm, gặp gỡ nghệ nhân, và trải nghiệm trực tiếp các công
đoạn chế tác gốm. Việc này không chỉ tạo nguồn thu nhập cho cộng đồng mà còn
nâng cao nhận thức và quảng bá trực tiếp đến khách du lịch.
- Tạo dựng các không gian trưng bày, phòng trưng bày cố định hoặc lưu động
tại các khu vực du lịch, nơi có đông đảo du khách, để tăng cường khả năng tiếp cận
và nhận diện gốm Chăm.
3.3.6. Xây dựng các chương trình giới thiệu gốm Chăm qua quà tặng lưu niệm
và đồ trang trí
- Phát triển các sản phẩm gốm Chăm làm quà lưu niệm, bao gồm các vật dụng
trang trí nhỏ, đồ lưu niệm, hoặc sản phẩm trang trí nội thất độc đáo với thiết kế gọn
nhẹ, dễ mang theo, để phù hợp với nhu cầu mua sắm của khách du lịch.
- Cộng tác với các thương hiệu lưu niệm văn hóa, các cửa hàng tại điểm du lịch,
và các trang thương mại điện tử để mở rộng kênh phân phối, giúp khách hàng dễ
dàng tiếp cận và sở hữu sản phẩm gốm Chăm.
3.3.7. Đẩy mạnh vai trò của chính quyền và tổ chức văn hóa trong việc quản lý
và bảo trợ di sản
- Các cơ quan văn hóa cần xây dựng chính sách bảo vệ và hỗ trợ hợp lý, đảm
bảo nguồn lực cho hoạt động bảo vệ và phát triển nghệ thuật gốm Chăm, đồng thời
giám sát các hoạt động quảng bá để đảm bảo tính chính xác, không làm mất đi giá trị
truyền thống của di sản.
- Tạo cơ chế khuyến khích các tổ chức văn hóa, doanh nghiệp và nhà đầu tư
tham gia vào các hoạt động bảo vệ, trưng bày và quảng bá gốm Chăm một cách bền
vững.
Các giải pháp này sẽ giúp bảo vệ và phát huy nghệ thuật gốm Chăm một cách
toàn diện, vừa tôn vinh giá trị văn hóa truyền thống, vừa phát triển để phù hợp với
nhu cầu hiện đại, mang lại hiệu quả kinh tế và nâng cao nhận thức của cộng đồng về
di sản.
40
3.4. Giải pháp về nâng cao năng lực thực hành và chính sách đãi ngộ cho
các nghệ nhân
Để bảo vệ khẩn cấp nghệ thuật làm gốm của người Chăm, cần chú trọng nâng
cao năng lực thực hành và có chính sách đãi ngộ hợp lý cho các nghệ nhân, nhằm
đảm bảo sự tiếp nối và phát triển bền vững di sản này. Các giải pháp cụ thể bao gồm:
3.4.1. Chương trình đào tạo và nâng cao kỹ thuật làm gốm truyền thống
- Tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu: Các nghệ nhân lớn tuổi cần được mời
giảng dạy trong các khóa đào tạo kỹ thuật làm gốm truyền thống cho thế hệ trẻ. Nội
dung đào tạo nên bao gồm các kỹ năng đặc trưng của gốm Chăm như tạo hình thủ
công, trang trí họa tiết và quy trình nung lò.
- Khuyến khích nghệ nhân trẻ và người kế thừa: Chính quyền địa phương có
thể tạo điều kiện để nghệ nhân trẻ được học tập, thực hành và nhận sự truyền dạy từ
các bậc thầy có kinh nghiệm. Điều này giúp truyền tải kỹ năng và kinh nghiệm lâu
đời, đồng thời giúp bảo đảm thế hệ kế thừa cho nghệ thuật gốm Chăm.
3.4.2. Đưa nghệ thuật làm gốm vào chương trình giáo dục cộng đồng và trường
học
- Lồng ghép vào chương trình giáo dục địa phương: Các trường học ở khu vực
có cộng đồng người Chăm nên đưa nghệ thuật làm gốm vào chương trình ngoại khóa
hoặc các môn học về văn hóa. Điều này giúp thế hệ trẻ từ sớm hiểu rõ và yêu quý
nghệ thuật truyền thống của dân tộc.
- Tổ chức các hoạt động thực hành trải nghiệm cho người dân và du khách: Các
chương trình trải nghiệm làm gốm không chỉ tạo cơ hội để người tham gia tìm hiểu
về quy trình làm gốm mà còn giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị và
sự cần thiết của việc bảo vệ nghề truyền thống.
3.4.3. Chính sách đãi ngộ và hỗ trợ tài chính cho các nghệ nhân làm gốm
- Trợ cấp cho nghệ nhân cao tuổi và nghệ nhân trẻ tài năng: Nhà nước cần xem
xét cấp trợ cấp cho các nghệ nhân lớn tuổi hoặc có tay nghề cao, nhằm giúp họ duy
trì hoạt động làm gốm mà không bị áp lực kinh tế. Đối với các nghệ nhân trẻ tài năng,
có thể cấp học bổng hoặc tài trợ để họ tiếp tục phát triển kỹ năng.
- Chế độ đãi ngộ xứng đáng: Chính quyền cần có chế độ đãi ngộ phù hợp cho
các nghệ nhân tham gia giảng dạy và đào tạo. Những nghệ nhân đóng vai trò “bảo
vệ viên” nên được xem xét phong tặng danh hiệu hoặc được hỗ trợ về thu nhập, đảm
bảo sự công nhận từ phía xã hội.
3.4.4. Khuyến khích sáng tạo và cải tiến kỹ thuật để thích nghi với thị trường
hiện đại
- Tạo điều kiện để các nghệ nhân thử nghiệm và phát triển mẫu mã mới: Nhà
nước và các tổ chức có thể tạo quỹ hỗ trợ cho các nghệ nhân tham gia vào việc nghiên
cứu, sáng tạo và cải tiến mẫu mã mới, giúp sản phẩm gốm Chăm phù hợp hơn với
nhu cầu thị trường hiện đại mà vẫn giữ được bản sắc.
- Khuyến khích nghệ nhân ứng dụng kỹ thuật hiện đại: Dù cần bảo vệ kỹ thuật
truyền thống, nghệ nhân cũng nên được khuyến khích tìm hiểu và thử nghiệm các
công nghệ hiện đại, như việc cải tiến lò nung thân thiện với môi trường hoặc kỹ thuật
trang trí mới. Điều này giúp tăng năng suất và giảm thiểu chi phí sản xuất.
41
3.4.5. Xây dựng các hợp tác và liên kết để hỗ trợ tài chính và thị trường cho
nghệ nhân
- Liên kết với doanh nghiệp và các tổ chức văn hóa: Chính quyền có thể khuyến
khích các doanh nghiệp và tổ chức văn hóa đầu tư vào nghệ thuật làm gốm của người
Chăm, hỗ trợ nghệ nhân về tài chính, đầu ra sản phẩm và tiếp cận thị trường rộng
lớn.
- Phát triển các mô hình hợp tác xã hoặc làng nghề: Các nghệ nhân có thể thành
lập hợp tác xã hoặc các mô hình làng nghề để hỗ trợ lẫn nhau về nguyên liệu, kỹ
thuật và thị trường. Điều này không chỉ tạo sức mạnh cộng đồng mà còn giúp tăng
cường khả năng cạnh tranh và bảo vệ nghề.
3.4.6. Vinh danh và quảng bá hình ảnh nghệ nhân qua các sự kiện và danh hiệu
văn hóa
- Phong tặng danh hiệu và vinh danh nghệ nhân: Các nghệ nhân xuất sắc và có
đóng góp lớn trong việc bảo vệ nghề làm gốm Chăm nên được vinh danh và phong
tặng các danh hiệu văn hóa từ cấp địa phương đến quốc gia. Điều này khuyến khích
họ và thế hệ trẻ yêu nghề hơn, đồng thời nâng cao uy tín và giá trị của gốm Chăm.
- Tổ chức các sự kiện và hội thảo vinh danh nghề gốm Chăm: Chính quyền và
các tổ chức văn hóa nên tổ chức các sự kiện hoặc hội thảo để quảng bá hình ảnh nghệ
nhân, đồng thời giúp cộng đồng nhận ra vai trò quan trọng của họ trong việc bảo vệ
văn hóa.
3.4.7. Bảo vệ quyền lợi và bảo hộ thương hiệu cho nghệ nhân làm gốm
- Đăng ký bản quyền và bảo hộ thương hiệu: Các sản phẩm gốm Chăm nên
được đăng ký bảo hộ thương hiệu, nhằm bảo vệ quyền lợi cho các nghệ nhân và tránh
tình trạng sao chép, sản xuất kém chất lượng làm mất giá trị di sản.
- Xây dựng chính sách hỗ trợ và bảo vệ quyền lợi nghề thủ công: Nhà nước có
thể xem xét các chính sách hỗ trợ nghề thủ công, bảo vệ quyền lợi nghệ nhân, bao
gồm quyền sở hữu trí tuệ đối với mẫu mã, kiểu dáng và quyền lợi từ sản phẩm của
họ.
Các giải pháp này không chỉ giúp nâng cao năng lực thực hành cho nghệ nhân
gốm Chăm mà còn đảm bảo một chính sách đãi ngộ phù hợp, giúp nghệ nhân yên
tâm phát huy và truyền dạy nghề cho các thế hệ sau. Đây là bước đi cần thiết để bảo
vệ và phát huy nghệ thuật làm gốm của người Chăm một cách bền vững và hiệu quả.
3.5. Giải pháp về huy động và đầu tư kinh phí
Để bảo vệ và phát huy nghệ thuật làm gốm của người Chăm, việc huy động và
đầu tư kinh phí đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nghệ nhân, cải thiện điều
kiện sản xuất, mở rộng thị trường và duy trì các hoạt động bảo vệ lâu dài. Dưới đây
là một số giải pháp huy động và đầu tư kinh phí hiệu quả:
3.5.1. Huy động ngân sách từ các cấp chính quyền địa phương và quốc gia
- Đưa nghệ thuật làm gốm Chăm vào kế hoạch phát triển kinh tế văn hóa của
địa phương: Các tỉnh thành có cộng đồng Chăm nên xây dựng và tích hợp kế hoạch
bảo vệ gốm Chăm vào chương trình phát triển văn hóa và kinh tế, từ đó dành nguồn
ngân sách hàng năm cho hoạt động bảo vệ, phát triển.
42
- Xây dựng các quỹ hỗ trợ đặc thù cho di sản văn hóa phi vật thể: Nhà nước có
thể tạo các quỹ hỗ trợ riêng cho nghệ thuật làm gốm Chăm, giúp cấp kinh phí cho
các dự án bảo vệ, nghiên cứu và phát triển nghề gốm.
3.5.2. Thu hút đầu tư từ các tổ chức quốc tế và quỹ văn hóa toàn cầu
- Kêu gọi tài trợ từ UNESCO và các tổ chức văn hóa quốc tế: Vì nghệ thuật
gốm Chăm là di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, các tổ chức như
UNESCO, Quỹ Châu Á, và các quỹ văn hóa phi chính phủ khác có thể cung cấp tài
trợ hoặc viện trợ không hoàn lại cho các hoạt động bảo vệ.
- Hợp tác với các quỹ văn hóa, nghệ thuật và phát triển cộng đồng: Các quỹ
quốc tế và tổ chức phi lợi nhuận tập trung vào bảo vệ văn hóa hoặc hỗ trợ phát triển
cộng đồng có thể trở thành nguồn đầu tư để bảo vệ gốm Chăm, đồng thời tạo ra nhiều
lợi ích bền vững cho cộng đồng nghệ nhân.
3.5.3. Huy động đầu tư từ khu vực tư nhân và doanh nghiệp
- Khuyến khích các doanh nghiệp văn hóa và du lịch đầu tư: Chính quyền địa
phương có thể kêu gọi các doanh nghiệp văn hóa, du lịch và thủ công mỹ nghệ đầu
tư vào việc phát triển sản phẩm gốm Chăm như quà tặng du lịch, đồ trang trí nội thất,
hoặc các sản phẩm lưu niệm mang đậm bản sắc văn hóa.
- Áp dụng mô hình hợp tác công - tư (PPP): Mô hình PPP có thể giúp kết nối
các doanh nghiệp với cộng đồng làng nghề, hỗ trợ về vốn, công nghệ, và phát triển
thị trường cho sản phẩm gốm Chăm, trong khi vẫn đảm bảo giá trị văn hóa và bản
sắc truyền thống của di sản.
Vận dụng linh hoạt các cơ chế, chính sách huy động vốn của mọi thành phần
vào đầu tư, đặc biệt là thu hút đầu tư cơ sở hạ tầng làng nghề phục vụ cho phát triển
nghề gốm và phục vụ thương mại dịch vụ và du lịch.
Áp dụng chính sách hỗ trợ tài chính, tín dụng thông qua sự can thiệp của Nhà
nước vào thị trường bằng công cụ lãi suất và tín dụng; tăng cường công tác huy động
vốn tại địa phương của các ngân hàng quốc doanh và tổ chức tín dụng, hướng luồng
vốn vào các ngành, các lĩnh vực cần ưu tiên; chuyển hình thức cho vay bằng thế chấp
tài sản sang cho vay theo dự án, đặc biệt ưu tiên ngành công nghiệp hỗ trợ. Sản xuất
hàng xuất khẩu, sử dụng nhiều lao động và có tỷ lệ giá trị gia tăng cao.
Tìm kiếm các doanh nghiệp, các nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước có năng
lực đầu tư các ngành nghề, lĩnh vực mà đề án đặt ra ưu tiên để tiếp cận, mời gọi đầu
tư.
Thay đổi cách thức xúc tiến đầu tư, từ bị động (chờ nhà đầu tư đến) sang chủ
động (chủ động tìm kiếm nhà đầu tư). Kiện toàn đầu mối xúc tiến đầu tư, để thống
nhất đầu mối xúc tiến đầu tư trên địa bàn toàn tỉnh và cả nước, nâng cao hiệu quả
công tác xúc tiến đầu tư. Xây dựng thông tin xúc tiến đầu tư với các thông tin cần
thiết mà các nhà đầu tư thường quan tâm để tăng cường hiệu quả quảng bá và xúc
tiến đầu tư; số hóa bản đồ quy hoạch đất dành cho các hạng mục đầu tư trên địa bàn;
công khai giá thuê đất và các doanh nghiệp đã đầu tư trên địa bàn để các nhà đầu tư
có nhiều cơ hội lựa chọn, tiếp cận đất đai.
Phối hợp với các Sở, Ngành nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án đối
với các dự án ngoài ngân sách có sử dụng diện tích đất lớn, dự án đầu tư công để
đảm bảo thu hút được các dự án có hiệu quả kinh tế - xã hội lớn; bảo đảm sử dụng
43
hiệu quả nguồn vốn đầu tư công, tạo tiền đề để thu hút các dự án đầu tư ngoài ngân
sách
Khuyến khích phát triển loại hình công ty cổ phần để tạo cơ sở cho việc tham
gia vào thị trường chứng khoán; khơi dậy tiềm năng tài chính trong nhân dân phục
vụ cho phát triển sản xuất, huy động nguồn lực từ mọi thành phần kinh tế tham gia
sản xuất công nghiệp và xây dựng hạ tầng cơ sở…
3.5.4. Xây dựng quỹ phát triển nghề gốm dựa vào cộng đồng và nguồn tài trợ
cá nhân
- Thiết lập quỹ cộng đồng tại làng nghề: Các làng nghề gốm Chăm có thể thành
lập quỹ phát triển nghề, trong đó người dân và nghệ nhân đóng góp để phục vụ các
hoạt động bảo vệ và phát triển nghề. Quỹ này cũng có thể nhận tài trợ từ các tổ chức,
doanh nghiệp và cá nhân yêu thích văn hóa gốm Chăm.
- Kêu gọi đóng góp từ các cá nhân và mạnh thường quân: Các cá nhân yêu thích
và có khả năng tài chính, bao gồm cả kiều bào người Chăm ở nước ngoài, có thể
đóng góp vào quỹ bảo vệ để hỗ trợ nghệ nhân, cơ sở hạ tầng và tổ chức các sự kiện
văn hóa.
3.5.5. Tận dụng nguồn thu từ du lịch văn hóa và dịch vụ trải nghiệm làm gốm
- Phát triển các tour du lịch trải nghiệm tại làng gốm: Mở rộng các hoạt động
du lịch văn hóa tại các làng nghề gốm Chăm, cho phép du khách tham gia trải nghiệm
làm gốm và mua các sản phẩm trực tiếp từ nghệ nhân. Nguồn thu từ hoạt động du
lịch này sẽ được trích lại để đầu tư vào bảo vệ nghề gốm.
- Tổ chức các sự kiện văn hóa và lễ hội gốm: Tạo các lễ hội, triển lãm hoặc sự
kiện về gốm Chăm để thu hút du khách, nguồn tài trợ từ các nhà tài trợ lớn và quảng
bá thương hiệu gốm Chăm ra ngoài khu vực. Nguồn thu từ sự kiện có thể được sử
dụng để hỗ trợ hoạt động bảo vệ lâu dài.
3.5.6. Mở rộng kênh bán hàng và thương mại điện tử để tăng nguồn thu
- Xây dựng thương hiệu và bán hàng trực tuyến: Các sản phẩm gốm Chăm nên
được quảng bá và bán trên các kênh thương mại điện tử trong nước và quốc tế. Điều
này không chỉ giúp tăng nguồn thu mà còn mở rộng thị trường, giúp nghề gốm Chăm
tiếp cận với nhiều đối tượng khách hàng mới.
- Liên kết với các cửa hàng, trung tâm thương mại và thương hiệu lớn: Việc
hợp tác với các cửa hàng lưu niệm, trung tâm thương mại và các thương hiệu lớn có
thể giúp đưa sản phẩm gốm Chăm đến gần hơn với công chúng, đồng thời tạo điều
kiện thuận lợi cho việc quảng bá và mở rộng thị trường.
3.5.7. Xây dựng chính sách ưu đãi về thuế và tín dụng cho nghệ nhân và doanh
nghiệp đầu tư vào gốm Chăm
- Chính quyền và các tổ chức nên cung cấp hỗ trợ tài chính cho các nghệ nhân
để họ duy trì và phát triển nghề gốm.
- Miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp đầu tư vào gốm Chăm: Nhà nước có
thể áp dụng chính sách miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất và
quảng bá gốm Chăm, nhằm khuyến khích họ đầu tư và phát triển ngành nghề truyền
thống này.
44
- Hỗ trợ vay vốn với lãi suất ưu đãi cho nghệ nhân: Các nghệ nhân cần được hỗ
trợ vay vốn với lãi suất thấp hoặc nhận các khoản tài trợ đặc biệt từ ngân hàng, giúp
họ cải thiện cơ sở hạ tầng sản xuất và phát triển các dòng sản phẩm mới.
- Giải pháp về phát triển các cơ sở sản xuất gốm Chăm.
- Phát triển, thu hút đầu tư và bố trí nhà đầu tư cá nhân, tổ chức theo đúng quy
hoạch, đảm bảo hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững. Định kỳ hàng năm tổ chức
rà soát, đánh giá quy hoạch các hạng mục đầu tư có thời gian dài để có phương án
điều chỉnh phù hợp; đặc biệt quan tâm tới việc thu hút các dự án đầu tư liên quan đến
lĩnh vực xử lý môi trường trong các khu vực làng nghề; ưu tiên thu hút các dự án đầu
tư có công nghệ tiên tiến, hiện đại, thân thiện với môi trường.
- Phối hợp với các Sở, Ban, ngành của tỉnh để phê duyệt quy hoạch và kêu gọi
đầu tư vào các hạng mục đầu tư đã được phê duyệt trên địa bàn.
3.5.8. Chính sách bảo trợ và bảo vệ quyền lợi nghệ nhân để thu hút tài trợ
- Công nhận danh hiệu và bảo vệ quyền lợi: Việc công nhận danh hiệu và bảo
vệ quyền lợi cho nghệ nhân là yếu tố quan trọng để đảm bảo họ có một cuộc sống ổn
định, thu hút các nguồn đầu tư và hỗ trợ dài hạn từ các tổ chức. Các nghệ nhân xuất
sắc có thể được phong tặng danh hiệu hoặc hưởng trợ cấp đặc biệt từ chính quyền.
- Chính sách bảo trợ thương hiệu gốm Chăm: Nhà nước và chính quyền địa
phương cần bảo vệ thương hiệu gốm Chăm khỏi các sản phẩm giả mạo, không đảm
bảo chất lượng, đồng thời bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các mẫu mã và kỹ thuật
truyền thống, từ đó giúp tăng giá trị và sự tin tưởng vào sản phẩm.
Với các giải pháp huy động và đầu tư kinh phí này, nghệ thuật làm gốm của
người Chăm sẽ có điều kiện phát triển vững chắc, đảm bảo bảo vệ giá trị truyền
thống, đồng thời mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng nghệ
nhân.
3.5.9. Nghiên cứu và ứng dụng khoa học
- Nghiên cứu kỹ thuật: Đầu tư nghiên cứu các kỹ thuật làm gốm truyền thống,
từ đó cải tiến quy trình sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm. Đổi mới thiết kế
sản phẩm để phù hợp với nhu cầu thị trường hiện đại nhưng vẫn giữ được nét truyền
thống, từ đó tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.
- Ứng dụng khoa học: Áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất để
tối ưu hóa năng suất mà vẫn giữ nguyên giá trị truyền thống.
+ Chủ động nắm bắt nhu cầu về công nghệ và kỹ thuật của các doanh nghiệp
nhỏ và vừa, các làng nghề; tận dụng tối đa kinh phí khuyến công của tỉnh và các
chương trình chuyển giao khoa học công nghệ của sở KHCN, các chương trình xúc
tiến thương mại của sở Công thương, và một phần ngân sách địa phương để hỗ trợ
cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm,
tạo thêm giá trị gia tăng làm cơ sở phát triển bền vững.
+ Tập trung củng cố, nâng cao chất lượng các cơ sở nghề hiện có, đặc biệt là
các cơ sở có uy tín và năng lực sản xuất: kiện toàn Ban quản lý làng nghề, xây dựng
quy chế hoạt động, xây dựng kế hoạch phát triển làng nghề; sử dụng kinh phí khuyến
công, kinh phí sự nghiệp khoa học công nghệ, kinh phí xúc tiến thương mại tập trung
hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa: nâng cao năng lực quản lý; đào tạo, truyền
45
và phát triển nghề; xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, thương mại điện tử; hỗ trợ
thiết bị, máy móc, chuyển giao công nghệ và tiến bộ khoa học kỹ thuật;
+ Khai thác kinh phí khuyến công và các nguồn xã hội hóa lập quy hoạch chi
tiết, xây dựng hạ tầng các cụm công nghiệp và vùng nguyên liệu.
+ Kêu gọi, khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư vào
làng nghề, tuyên truyền, vận động thành lập HTX trong làng nghề để làm hạt nhân,
đầu tầu thúc đẩy làng nghề phát triển. Xây dựng, nhân rộng các cơ sở tạo điểm nhấn,
làm gương tiêu biểu.
3.5.10. Giải pháp về giải phóng mặt bằng
Nâng cao năng lực, hiệu quả trong quá trình tổ chức thực hiện của Ban
BTGPMB huyện, đặc biệt là trong công tác tuyên truyền, thuyết phục, phổ biến, giải
thích các chủ trương chính sách của Nhà nước đến nhân dân vì đây là lực lượng đại
diện cho nhà nước trực tiếp, hàng ngày tiếp xúc với nhân dân trong công tác giải
phóng mặt bằng.
46
Phần thứ tư
TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
4.1. Địa phương
4.1.1. Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chỉ đạo, triển khai thực
hiện các dự án thành phần của đề án theo quy định của pháp luật hiện hành.
- Phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng các giải pháp cân đối các nguồn lực để
thực hiện đề án.
- Phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch vận động, thu
hút nguồn vốn tài trợ, đầu tư trong nước và nước ngoài.
- Ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ bảo vệ di sản như cấp kinh phí, đất đai
và điều kiện sản xuất cho làng nghề gốm.
- Phê duyệt lộ trình, ngân sách và các dự án ưu tiên bảo vệ di sản.
- Tổ chức giám sát thực hiện đề án.
4.1.2. Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa
- Tham mưu triển khai các hoạt động bảo vệ và quảng bá di sản, gồm: nghiên
cứu, tư liệu hóa kỹ thuật làm gốm truyền thống; Hỗ trợ các nghệ nhân, thợ gốm trong
việc truyền dạy và duy trì nghề gốm. Tổ chức các chương trình truyền dạy làm gốm
cho thế hệ trẻ, kết nối nghệ nhân với các trung tâm dạy nghề.
- Xây dựng các tuyến du lịch trải nghiệm tại làng gốm, kết hợp quảng bá văn
hóa Chăm và nghệ thuật làm gốm. Hỗ trợ các dự án tạo chuỗi giá trị bền vững, từ sản
xuất đến tiêu thụ sản phẩm, kết nối với thị trường trong nước và quốc tế. Hỗ trợ đưa
sản phẩm gốm Chăm vào các hội chợ, triển lãm và thị trường du lịch.
- Tôn vinh các nghệ nhân qua các giải thưởng, danh hiệu, hoặc chương trình tri
ân, qua đó khuyến khích họ tiếp tục bảo vệ nghề. Hỗ trợ nghệ nhân tham gia các
chương trình giao lưu văn hóa, hội chợ thủ công mỹ nghệ để giới thiệu sản phẩm
gốm.
- Phối hợp với các viện nghiên cứu, trường đại học để thực hiện tư liệu hóa và
bảo vệ khoa học Nghệ thuật làm gốm; đề xuất các mô hình bảo vệ và phát huy bền
vững.
- Phối hợp với các cơ sở đào tạo và các sở ngành khác để tổ chức các khóa học
nghề làm gốm, truyền nghề cho thế hệ trẻ, đặc biệt là người Chăm. Tổ chức các hoạt
động giáo dục cộng đồng để nâng cao nhận thức về vai trò của di sản trong phát triển
văn hóa và kinh tế.
- Phối hợp đề xuất xây dựng không gian trưng bày, phòng trưng bày tiến tới xây
dựng đề án, thành lập Bảo tàng Nghệ thuật gốm Chăm tỉnh Khánh Hòa.
- Phối hợp thành lập các câu lạc bộ sáng tác và thực hành gốm để nghệ nhân và
các thế hệ trẻ có môi trường học tập, trao đổi kỹ năng và sáng tạo nghệ thuật mới từ
gốm. Kết nối với các nghệ sĩ đương đại để sáng tạo các sản phẩm gốm mang giá trị
hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc truyền thống.
- Phối hợp hỗ trợ xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm gốm, tạo điều kiện
để gốm Chăm trở thành một biểu tượng văn hóa nghệ thuật của Khánh Hòa. Phối
47
hợp quảng bá sản phẩm qua các nền tảng trực tuyến, đưa sản phẩm gốm Chăm tiếp
cận thị trường trong và ngoài nước.
- Đánh giá định kỳ hiệu quả của đề án, đồng thời báo cáo tình hình thực hiện
lên UBND tỉnh và các cơ quan cấp trên có liên quan.
4.1.3. Sở Tài chính tỉnh Khánh Hòa
- Tham mưu phân bổ kinh phí (từ các nguồn ngân sách tỉnh, Trung ương; nguồn
huy động xã hội hóa từ các doanh nghiệp, tổ chức quốc tế (nếu có)) để triển khai thực
hiện đề án; tập trung ưu tiên cho các hoạt động bảo vệ, truyền dạy, quảng bá nghệ
thuật làm gốm, cơ sở hạ tầng, các chương trình hỗ trợ nghệ nhân làm gốm.
- Phối hợp tham mưu đề xuất phân bổ ngân sách phù hợp, ưu tiên bố trí nguồn
vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng,
xây dựng trung tâm trưng bày hoặc hỗ trợ sản xuất gốm, mở rộng quy mô làng nghề
gốm Bàu Trúc.
- Kêu gọi, khuyến khích các nhà đầu tư tham gia các dự án hợp tác công - tư
(PPP) vào phát triển làng nghề gốm Bàu Trúc.
- Theo dõi, giám sát việc sử dụng nguồn ngân sách, đảm bảo kinh phí được sử
dụng đúng mục đích, hiệu quả và minh bạch. Định kỳ phối hợp rà soát các hoạt động
thuộc đề án để điều chỉnh ngân sách phù hợp với thực tế.
4.1.4. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa
- Tham gia cùng UBND xã Ninh Phước thực hiện đảm bảo nguồn nguyên liệu
đất sét cần thiết cho nghệ thuật làm gốm, bao gồm việc quy hoạch và bảo vệ các mỏ
đất sét chất lượng cao phục vụ sản xuất gốm truyền thống. Nghiên cứu và áp dụng
các giải pháp tận dụng phụ phẩm nông nghiệp làm nhiên liệu sạch vào quá trình sản
xuất gốm.
- Theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động bảo vệ môi trường của các cơ sở sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ sử dụng nguyên liệu và quy trình sản xuất thân thiện với
môi trường, hạn chế khí thải từ việc nung gốm theo đúng quy định. Thực hiện các
chương trình tuyên truyền nâng cao ý thức cộng đồng về bảo vệ môi trường, gắn liền
với việc gìn giữ nghề gốm.
- Kết hợp các chương trình phát triển nông nghiệp với triển khai các hoạt động
sản xuất gốm, giúp người dân làng gốm có thể ổn định cuộc sống từ nhiều nguồn thu
nhập. Hỗ trợ đào tạo các kỹ thuật nông nghiệp và phát triển kinh tế hộ gia đình, tạo
điều kiện để nghệ nhân chuyên tâm vào nghề gốm.
- Phối hợp với UBND xã Ninh Phước tăng cường kiểm tra, giám sát việc khai
thác tài nguyên đảm bảo không gây tác động xấu đến môi trường tự nhiên và bản sắc
văn hóa.
- Phối hợp với Sở Xây dựng nghiên cứu, đánh giá tiềm năng vùng nguyên liệu
đất sét đáp ứng tiêu chuẩn cần thiết cho nghệ thuật làm gốm để tham mưu cấp có
thẩm quyền phê duyệt các điểm quy hoạch khoáng sản đất sét trong phương án thăm
dò, khai thác và sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường của địa
phương theo chức năng, nhiệm vụ pháp luật quy định.
- Nghiên cứu đặc tính các loại đất sét trong khu vực để cung cấp thông tin khoa
học phục vụ sản xuất gốm. Dự báo nguy cơ suy thoái tài nguyên và xây dựng các
biện pháp ngăn ngừa.
48
4.1.5. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Khánh Hòa
- Xây dựng, đăng ký bảo hộ, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận gốm
Chăm Bàu Trúc.
- Hướng dẫn cộng đồng người Chăm ở địa phương xác lập bảo hộ quyền sở hữu
trí tuệ (kiểu dáng công nghiệp) đối với các sản phẩm gốm Chăm Bàu Trúc.
4.1.6. Sở Công Thương tỉnh Khánh Hòa
Phối hợp với Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại và Du lịch tỉnh và UBND
xã Ninh Phước tổ chức thực hiện:
- Quảng bá, hỗ trợ đưa sản phẩm gốm Chăm tham gia các hội chợ, triển lãm
trong nước và quốc tế.
- Hỗ trợ ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, chuyển giao công nghệ, tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất để tạo ra các sản phẩm mới, vừa giữ được bản sắc,
vừa đáp ứng nhu cầu thị trường.
4.1.7. Sở Xây dựng tỉnh Khánh Hòa
- Tổ chức lập, thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt và quản lý việc thực hiện
Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng của tỉnh, trong đó bao gồm quy hoạch khoáng
sản làm vật liệu sản xuất gốm.
- Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường trong việc tham mưu, đề xuất
các khu vực nguyên liệu đất sét nhằm phục vụ ổn định và lâu dài cho việc phát triển
nghề gốm Chăm Bàu Trúc, đảm bảo hài hòa giữa bảo tồn di sản và quản lý tài nguyên.
- Nghiên cứu, tham mưu các giải pháp khuyến khích ứng dụng công nghệ tái
chế, tái sử dụng phế thải công nghiệp làm nguyên liệu sản xuất gốm nhằm giảm thiểu
sự phụ thuộc vào tài nguyên khoáng sản tự nhiên.
4.1.8. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Khánh Hòa
- Nghiên cứu đưa nội dung liên quan đến nghệ thuật làm gốm của người Chăm
vào chương trình giáo dục địa phương để phổ biến, giáo dục cho học sinh tại các
trường học trên địa bàn tỉnh.
- Ngoại khoá cho học sinh trải nghiệm Nghệ thuật làm gốm của người Chăm.
4.1.9. Báo và Phát thanh, Truyền hình tỉnh Khánh Hòa
- Tăng cường truyền thông về ý nghĩa và giá trị của nghệ thuật làm gốm qua
các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội.
- Thực hiện các nhiệm vụ, chức năng liên quan tới quản lý thông tin, tăng cường
nội dung và thời lượng phát thanh, tuyền hình về Nghệ thuật làm gốm của người
Chăm để quảng bá giá trị di sản gốm Chăm phục vụ công chúng trong nước, người
Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế.
4.1.10. Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Khánh Hòa
- Tổ chức sưu tầm và biên soạn tài liệu: Ghi chép các câu chuyện, truyền thuyết
và kinh nghiệm làm gốm truyền thống của người Chăm nhằm lưu giữ những tri thức
quý báu cho thế hệ mai sau.
- Nghiên cứu nghệ thuật tạo hình gốm: Đánh giá và phân tích giá trị nghệ thuật,
thẩm mỹ trong các sản phẩm gốm Chăm, từ đó phát triển các tác phẩm nghiên cứu
khoa học về nghề gốm.
49
- Quảng bá di sản gốm thông qua văn học, nghệ thuật. Sáng tác các tác phẩm
văn học, thơ ca, âm nhạc, hội họa và nhiếp ảnh phản ánh nét đẹp của nghề làm gốm
cũng như văn hóa Chăm. Tạo dựng các phim tài liệu, phóng sự về nghệ thuật làm
gốm để quảng bá trên các phương tiện truyền thông.
- Phối hợp triển lãm và trưng bày gốm Chăm: phối hợp tổ chức các buổi triển
lãm, trưng bày sản phẩm gốm tại địa phương và quốc gia để giới thiệu nghệ thuật
làm gốm độc đáo.
- Phối hợp tổ chức Festival văn hóa nghệ thuật: Lồng ghép nghề làm gốm vào
các sự kiện văn hóa lớn, tạo sân chơi cho nghệ nhân và cơ hội quảng bá nghề gốm
đến du khách.
4.1.11. Trường Cao đẳng Công nghệ - Năng lượng tỉnh Khánh Hòa
- Tổ chức các hoạt động liên kết, phối hợp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ
năng sư phạm cho nghệ nhân, thợ lành nghề gốm Bàu Trúc để truyền dạy cho thế hệ
kế cận; xây dựng chương trình, giáo trình truyền dạy nghề gốm trong cộng đồng và
trường học.
- Phối hợp với Ban Quản lý làng nghề và thôn Bàu Trúc đưa sinh viên/học viên
về thực hành làm gốm tại cộng đồng; mời nghệ nhân làm gốm giới thiệu, hướng
nghiệp và tham gia giảng dạy nghề tại Trường.
4.1.12. Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại và Du lịch tỉnh Khánh Hòa
- Tổ chức quảng bá, đưa sản phẩm gốm Chăm vào các hội chợ, triển lãm quốc
gia và quốc tế.
- Hỗ trợ tìm kiếm cơ hội đầu tư, thương mại, khuyến công và du lịch di sản làng
nghề gốm Bàu Trúc trong và ngoài tỉnh.
- Hỗ trợ, tư vấn và cung cấp dịch vụ phát triển doanh nghiệp, HTX, cơ sở sản
xuất và kinh doanh gốm Chăm trên địa bàn tỉnh.
4.1.13. Ủy ban Nhân dân xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa
- Phối hợp triển khai các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị Nghệ thuật làm
gốm; đầu tư phát triển làng nghề gốm truyền thống Chăm Bàu Trúc.
- Đảm bảo quyền lợi và hỗ trợ các nghệ nhân, cộng đồng làm gốm; thành lập
các câu lạc bộ sáng tác và thực hành gốm để nghệ nhân và thế hệ trẻ có môi trường
học tập, trao đổi kỹ năng và sáng tạo nghệ thuật mới từ gốm.
- Đầu tư cơ sở hạ tầng tại làng nghề: cảnh quan môi trường, không gian làng
nghề di sản, đường sá, khu sản xuất, điểm trưng bày sản phẩm.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho nghệ nhân tiếp cận nguồn nguyên liệu, thị trường
tiêu thụ.
- Quy hoạch vùng nguyên liệu, triển khai trồng cây xanh hai bên bờ sông Quao
tạo cảnh quan cho làng gốm di sản và khai thác làm nhiên liệu.
- Tiếp tục triển khai các nhiệm vụ, dự án liên quan đầu tư, bảo tồn làng nghề
gốm Bàu Trúc do UBND huyện Ninh Phước thực hiện (trước khi sắp xếp đơn vị
hành chính).
4.1.14. Cộng đồng người Chăm và nghệ nhân làm gốm tỉnh Khánh Hòa
- Nghệ nhân và thợ làm gốm Chăm: chủ thể di sản, đóng vai trò trung tâm trong
việc truyền dạy và duy trì, bảo vệ các kỹ thuật làm gốm truyền thống. Kết hợp giữa
50
kỹ thuật truyền thống và sáng tạo để phát triển sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu thị
trường nhưng không làm mất đi bản sắc. Tham gia vào các dự án bảo vệ và sáng tạo
để thích ứng với nhu cầu hiện đại mà vẫn giữ được giá trị truyền thống. Kết nối các
thế hệ để bảo đảm sự kế thừa di sản.
- Thành lập Câu lạc bộ nghệ nhân Gốm Chăm.
- Cộng đồng địa phương: Hỗ trợ, tham gia bảo vệ di sản bằng cách gìn giữ
phong tục, tập quán, lễ hội liên quan đến nghề gốm. Tổ chức và tham gia các hoạt
động quảng bá, lễ hội hoặc sự kiện gắn liền với nghệ thuật làm gốm, nâng cao giá trị
tinh thần và văn hóa của di sản.
- Kết nối nghệ nhân với thế hệ trẻ, người trong gia đình để đảm bảo tính kế
thừa.
4.2. Đề nghị Bộ, ngành Trung ương và các tổ chức
4.2.1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Chủ trì, ban hành các chính sách, kế hoạch hành động quốc gia để thực hiện
cam kết bảo vệ di sản với UNESCO.
- Tổ chức thỏa thuận, tổng hợp và trình Thủ tướng Chính phủ về Đề án do Chủ
tịch UBND tỉnh Khánh Hòa đề nghị; kiểm tra, giám sát, tổng hợp tình hình thực hiện
đề án; sơ kết, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ các nội dung cần kịp thời sửa đổi, bổ
sung.
- Chỉ đạo và phối hợp với UBND tỉnh Khánh Hòa quản lý có hiệu quả thực hiện
các biện pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Nghệ thuật làm
gốm của người Chăm theo Công ước 2003 và Luật Di sản văn hóa.
- Chỉ đạo và phối với các Bộ, ngành bố trí nguồn vốn đầu tư công thuộc Chương
trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035 liên quan đến
đầu tư cơ sở hạ tầng bảo vệ, phát huy giá trị di sản “Nghệ thuật làm gốm của người
Chăm ở tỉnh Khánh Hòa”.
- Tạo điều kiện để địa phương làm việc với UNESCO và các tổ chức quốc tế để
chia sẻ kinh nghiệm, nhận hỗ trợ kỹ thuật và tài chính.
- Giám sát và báo cáo định kỳ cho UNESCO vệc việc Chính phủ Việt Nam thực
hiện các cam kết triển khai Chương trình hành động quốc gia về Bảo vệ và phát huy
giá trị di sản văn hoá phi vật thể Nghệ thuật làm gốm của người Chăm theo yêu cầu
của Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003.
4.2.2. Bộ Ngoại giao
- Phối hợp với Bộ VHTTDL, UBND tỉnh Khánh Hòa tổ chức ngoại giao văn
hóa, tổ chức các chuyến thăm quan và làm việc của các tùy viên văn hóa, các Đại sứ
nước ngoài tại Việt Nam đến tìm hiểu tiềm năng du lịch, khả năng hợp tác kinh tế,
giao lưu văn hóa ở tỉnh Khánh Hòa. Tăng cường phối hợp tổ chức các đoàn nghệ
nhân làm gốm đi giao lưu, tuyên truyền quảng bá ra nước ngoài, các nước ASEAN
và hỗ trợ mời chuyên gia UNESCO đến tập huấn bảo vệ nghệ thuật làm gốm của
người Chăm.
4.2.3. Các tổ chức phi chính phủ (NGOs)
- Các NGOs cung cấp nguồn tài trợ hoặc tổ chức các chương trình hợp tác quốc
tế để bảo vệ di sản, hỗ trợ kinh phí để thợ gốm Chăm mua nguyên liệu, cải thiện công
cụ sản xuất, tổ chức các lớp truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ.
51
- Thúc đẩy nghiên cứu và triển khai các mô hình bảo vệ bền vững.
- Hỗ trợ các thợ gốm tham gia triển lãm trong nước và quốc tế, đưa sản phẩm
gốm Chăm đến với thị trường lớn hơn. Tạo mạng lưới liên kết giữa thợ gốm và các
nhà bán lẻ, khách hàng tiềm năng, đưa sản phẩm vào các kênh thương mại điện tử.
- Kết nối các tổ chức trong và ngoài nước để trao đổi kinh nghiệm và kỹ thuật
bảo vệ di sản. Tổ chức hội thảo quốc tế để quảng bá và thảo luận về phương pháp
bảo vệ di sản gốm Chăm. Giới thiệu làng gốm Chăm như một điểm đến du lịch, giúp
tăng nguồn thu nhập cho cộng đồng.
52
KẾT LUẬN
Quản lý, bảo vệ và phát huy di sản văn hoá phi vật thể Nghệ thuật làm gốm của
người Chăm đã là một quá trình lâu dài. Việc UNESCO ghi danh Nghệ thuật làm
gốm của người Chăm là di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp cũng là
một sự ghi nhận những nỗ lực của chính quyền, các sở ban ngành tỉnh Khánh Hòa,
và trước hết là của cộng đồng, của chủ thể di sản, những người thợ, doanh nghiệp đã
duy trì, vượt qua không ít khó khăn để Nghệ thuật gốm độc đáo của người Chăm
không bị mai một, thất truyền.
Đề án Quản lý, bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể Nghệ thuật làm
gốm của người Chăm, khi đã được UNESCO ghi danh là di sản cần bảo vệ khẩn cấp
đã đánh giá tổng thể hiện trạng di sản. Xác định tình trạng hiện tại của Nghệ thuật
làm gốm Chăm, từ sự suy giảm số lượng nghệ nhân, những tác động đến quy trình
kỹ thuật, truyền thống văn hóa liên quan và những yếu tố đang đe dọa sự tồn tại. Đề
án phân tích nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm, bao gồm thay đổi xã hội, kinh tế,
môi trường và thiếu sự quan tâm của cộng đồng.
Để bảo vệ và duy trì các giá trị văn hóa, nghệ thuật truyền thống đặc sắc của
nghề làm gốm Chăm, Đề án đã đưa ra hệ thống giải pháp lâu dài là truyền dạy và
phát huy di sản này trong cộng đồng, đặc biệt là với thế hệ trẻ; đưa nghệ thuật làm
gốm Chăm trở thành một yếu tố thúc đẩy kinh tế, văn hóa địa phương thông qua du
lịch và sáng tạo văn hóa. Phát triển chương trình truyền dạy nghề làm gốm trong
cộng đồng Chăm, đặc biệt tại các trường học và trung tâm văn hóa. Kết hợp di sản
này vào chương trình giáo dục văn hóa tại địa phương.
Đề án đã đưa ra các giải pháp bảo vệ khẩn cấp, đó là: bảo vệ nguyên bản, lưu
giữ và phục hồi các kỹ thuật làm gốm truyền thống, bao gồm vật liệu, công cụ và quy
trình sản xuất. Hỗ trợ nghệ nhân về đào tạo, hỗ trợ kinh tế và tôn vinh các nghệ nhân
để họ tiếp tục thực hành và truyền dạy nghề, sống bằng nghề. Củng cố cộng đồng
thực hành: tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương trong việc bảo vệ di
sản, khuyến khích làng nghề tiếp tục duy trì truyền thống.
Quảng bá nghệ thuật làm gốm Chăm thông qua các sự kiện văn hóa, lễ hội, triển
lãm trong và ngoài nước là nhiện vụ thường xuyên bằng nhiều cách và nhiều phương
tiện cũng như các hoạt động khác nhau. Phát triển sản phẩm gốm Chăm thành thương
hiệu văn hóa, kết hợp yếu tố truyền thống với sáng tạo để tăng tính ứng dụng và giá
trị kinh tế.
Cần xây dựng cơ chế hỗ trợ dài hạn. Đề xuất cơ chế, chính sách hỗ trợ từ nhà
nước, địa phương và các tổ chức quốc tế để bảo vệ và phát triển di sản. Thiết lập các
quỹ tài trợ cho việc bảo vệ và truyền dạy nghề làm gốm.
Thực hiện các chương trình trao đổi kinh nghiệm bảo vệ với các quốc gia có di
sản tương tự. Phối hợp với UNESCO và các tổ chức văn hóa quốc tế để thực hiện
các dự án bảo vệ.
Định kỳ kiểm tra và đánh giá tiến độ thực hiện đề án, từ đó điều chỉnh các giải
pháp nếu cần thiết.
Báo cáo tình trạng di sản lên UNESCO và các cơ quan quản lý văn hóa để đảm
bảo tính minh bạch và hiệu quả.
53
Bên cạnh đó, để dự án thành công cũng cần có các bên liên quan với di sản tham
gia (nhà nước, nhân dân, doanh nghiệp, các nhà khoa học) trong đó nhà nước cần
quan tâm luy ý thuê chuyên gia, những nhà khoa học hiểu biết về địa phương, hiểu
biết về làng nghề, có đủ uy tín để làm cầu nối giữa người dân và các bên tham gia để
làm tư vấn, thiết kế và làm cố vấn trong suốt quá trình thực hiện đề án, có như vậy
thì đề án mới đảm bảo thành công và phát triển bền vững.
Với Đề án này, Chính quyền, các sở ban ngành tỉnh Khánh Hòa, cộng đồng
đồng bào Chăm và nghệ nhân, trong bối cảnh, điều kiện bảo vệ khẩn cấp sẽ nỗ lực,
quyết tâm thực hiện bảo vệ và phát huy di sản văn hoá phi vật thể Nghệ thuật làm
gốm Chăm truyền thống như một phần không thể tách rời của văn hóa dân tộc và
nhân loại.
54
PHỤ LỤC 1
DỰ TOÁN KINH PHÍ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
QUẢN LÝ, BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA
PHI VẬT THỂ “NGHỆ THUẬT LÀM GỐM CỦA NGƯỜI CHĂM”
GIAI ĐOẠN 2025 - 2028 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO
- Tổng kinh phí khái toán: 205.216.149.300 đồng (sau thuế)
+ Nhu cầu vốn xây dựng các hạng mục công trình, bảo vệ và phát huy giá trị
di sản văn hóa: 178.750.000.000 đồng (87%)
+ Nhu cầu vốn cho các hoạt động chuẩn bị đầu tư: 5.676.149.300 đồng (3%)
+ Nhu cầu vốn cho truyền dạy, đào tạo, phát triển thị trường: 20.790.000.000
đồng (10%)
- Trong đó:
+ Ngân sách Trung ương và địa phương: 163.500.000.000 đồng (80%)
+ Nguồn vốn xã hội hóa, huy động từ các tổ chức trong nước và quốc tế:
41.716.149.300 đồng (20%)
Hàng năm, căn cứ vào tình hình khả năng ngân sách của tỉnh, huyện và các
nguồn xã hội hóa (nếu có) và nhiệm vụ của Đề án, các cơ quan hữu quan có trách
nhiệm bố trí kinh phí để thực hiện Đề án này.
55
Biểu số 1
BẢNG TỔNG HỢP KHÁI TOÁN
QUẢN LÝ, BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY NGHỆ THUẬT LÀM GỐM CỦA NGƯỜI CHĂM
(từ cần bảo vệ khẩn cấp hướng đến ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể
đại diện của nhân loại)
Đơn vị tính: nghìn đồng
TT
Nội dung
(Dự án thành phần)
Tổng
kinh phí
(sau thuế)
Các nguồn kinh phí thực hiện
Ghi chú
Vốn
đầu tư
Vốn
sự nghiệp
Vốn
xã hội hóa
1
Truyền dạy nghệ thuật làm
gốm
1.512.500
1.000.000
512.000
500
2
Nghiên cứu và tư liệu hóa
Nghệ thuật làm gốm
825.000
500.000
300.000
25.000
3
Phát triển thị trường và nâng
cao giá trị kinh tế nghề làm
gốm
5.500.000
4.000.000
1.000.000
500.000
4
Bảo vệ không gian văn hóa
làng gốm Bàu Trúc
3.162.500
2.500.000
662.500
-
5
Hợp tác Quốc tế
1.320.000
700.000
300.000
320.000
6
Hỗ trợ chính sách và tài chính
Nghệ thuật làm gốm
770.000
400.000
250.000
120.000
7
Kế hoạch đưa gốm Chăm vào
danh sách Di sản văn hóa
PVT đại diện của nhân loại
7.700.000
5.000.000
2.000.000
700.000
Tổng cộng:
20.790.000
14.100.000
5.024.500
1.665.500
56
Biểu số 2:
KHÁI TOÁN ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG PHỤC VỤ QUẢN LÝ, BẢO VỆ
VÀ PHÁT HUY NGHỆ THUẬT LÀM GỐM CỦA NGƯỜI CHĂM
STT
NỘI DUNG
CHI PHÍ
KHỐI
LƯỢNG
ĐƠN
GIÁ
CHI PHÍ TRƯỚC
THUẾ
THUẾ GTGT
10%
CHI PHÍ
SAU THUẾ
CHI PHÍ ĐẦU TƯ
167.660.135.727
16.766.013.573
184.426.149.300
I
CHI PHÍ DỰ ÁN
ĐẦU TƯ XÂY
DỰNG
162.500.000.000
16.250.000.000
178.750.000.000
1
Đầu tư xây dựng
cổng làng gốm và
phù điêu văn hóa
Chăm- làng gốm
Bàu Trúc
1.200m2
tt
15.000.000.000
1.500.000.000
16.500.000.000
2
Đầu tư cải tạo khu
tưởng niệm liệt sỹ
xã Ninh Phước
1.800m2
tt
10.000.000.000
1.000.000.000
11.000.000.000
3
Đầu tư xây dựng
con đường gốm
trưng bày sản phẩm
gốm
350md
tt
10.000.000.000
1.000.000.000
11.000.000.000
4
Đầu tư xây dựng cải
tạo và bảo vệ không
gian cảnh quan khu
vực hồ Bàu Súc
6.600m2
tt
25.000.000.000
2.500.000.000
27.500.000.000
5
Đầu tư cải tạo và
chỉnh trang tuyến
phố đi bộ thương
mại
450md
tt
15.000.000.000
1.500.000.000
16.500.000.000
6
Đầu tư xây dựng
khu trung tâm
thương mại Chợ
Gốm Bàu Trúc
13.500m2
tt
15.000.000.000
1.500.000.000
16.500.000.000
7
Đầu tư cải tạo tuyến
phố ẩm thực và dịch
vụ phục vụ khách
thăm quan
450md
tt
10.000.000.000
1.000.000.000
11.000.000.000
57
8
Đầu tư xây dựng
Bảo tàng gốm
Chăm
1720m2
tt
20.000.000.000
2.000.000.000
22.000.000.000
9
Đầu tư xây dựng và
cải tạo trung tâm
trưng bày sản phẩm
và trình diễn nghệ
thuật làm gốm
người Chăm
9.800m2
tt
7.500.000.000
750.000.000
8.250.000.000
10
Đầu tư xây dựng
khu xử lý rác thải
tạm tính
tt
5.000.000.000
500.000.000
5.500.000.000
11
Đầu tư xây dựng hệ
thống cấp nước,
phòng cháy chữa
cháy
tạm tính
tt
5.000.000.000
500.000.000
5.500.000.000
12
Xây dựng và hoàn
thiện cơ sở hạ tầng
giao thông liên kết
làng Bàu Trúc với
các điểm Du lịch
khác lân cận
tạm tính
tt
20.000.000.000
2.000.000.000
22.000.000.000
13
Quy hoạch vùng
nguyên liệu
tạm tính
tt
5.00.000.000
500.000.000
5.500.000.000
II
CHI PHÍ CHUẨN
BỊ ĐẦU TƯ
5.160.135.727
516.013.573
5.676.149.300
1
Chi phí khảo sát
tt
181.818.182
18.181.818
200.000.000
2
Chi phí lập nhiệm
vụ khảo sát
Gks*
3%
5.454.545
545.455
6.000.000
3
Chi phí tư vấn lập
đề án đầu tư xây
dựng tu bổ tôn tạo
Không gian văn hóa
làng nghề gốm Bàu
trúc
61,3ha
700.000.000
70.000.000
770.000.000
4
Chi phí tư vấn Lập
quy hoạch tỉ lệ
1/500
61,3ha
1.022.863.000
102.286.300
1.125.149.300
5
Chi phí tư vấn khác
(tạm tính 2%xXL)
3.250.000.000
325.000.000
3.575.000.000

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Quyết định 2332/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa về việc phê duyệt Đề án Quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” giai đoạn 2025 - 2028 và những năm tiếp theo

văn bản tiếng việt

downloadQuyết định 2332/QĐ-UBND (Bản PDF)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

văn bản TIẾNG ANH

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

văn bản cùng lĩnh vực

văn bản mới nhất

CHÍNH SÁCH BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN
Yêu cầu hỗ trợYêu cầu hỗ trợ
Chú thích màu chỉ dẫn
Chú thích màu chỉ dẫn:
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng các màu sắc:
Sửa đổi, bổ sung, đính chính
Thay thế
Hướng dẫn
Bãi bỏ
Bãi bỏ cụm từ
Bình luận
Click vào nội dung được bôi màu để xem chi tiết.
×