- Tổng quan
- Nội dung
- Dự thảo PDF
- Hồ sơ dự án
- Lược đồ
- Tải về
Dự thảo Nghị định quy định tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam cho hàng hóa lưu thông trong nước
Ngày cập nhật: Thứ Tư, 10/06/2026 10:30 (GMT+7)
| Lĩnh vực: | Thương mại-Quảng cáo | Nhóm dự thảo: | Dự thảo văn bản Trung ương |
| Lần ban hành: | Lần 6 | Loại dự thảo: | Nghị định |
| Hạn gửi góp ý: | Đang cập nhật... | Link góp ý: | Đang cập nhật... |
| Cơ quan chủ trì dự thảo: | Bộ Công Thương | Trạng thái: |
Chưa thông qua
|
| Ngày cập nhật: | Đang cập nhật... |
Phạm vi điều chỉnh
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tình trạng hiệu lực:
Chưa thông qua
Tình trạng: Chưa thông qua

BỘ TƯ PHÁP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 138/BCTĐ-BTP
Hà Nội, ngày 08 tháng 4 năm 2026
BÁO CÁO THẨM ĐỊNH
Dự thảo Nghị định quy định tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam
đối với hàng hóa lưu thông trong nước
Kính gửi: Bộ Công Thương
Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số
64/2025/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 (Luật
BHVBQPPL), Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ quy
định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật
BHVBQPPL, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP (Nghị
định số 78/2025/NĐ-CP), theo đề nghị của Bộ Công Thương tại Công văn số
1724/BCT-XNK ngày 17/3/2026 (Bộ Tư pháp nhận đủ hồ sơ ngày 30/3/2026)
1
,
trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ dự thảo Nghị định, kết quả cuộc họp Hội đồng thẩm
định ngày 03/4/2026
2
, Bộ Tư pháp có ý kiến thẩm định đối với dự thảo Nghị
định quy định tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông
trong nước (sau đây gọi tắt là dự thảo Nghị định) như sau:
I. VỀ SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH, TÊN GỌI, PHẠM
VI ĐIỀU CHỈNH, ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG CỦA NGHỊ ĐỊNH
1. Sự cần thiết ban hành Nghị định
1.1. Tại mục 2.4 Nghị quyết số 109/2023/QH15 về tiếp tục thực hiện một
số nghị quyết của Quốc hội khóa XIV và từ đầu nhiệm kỳ khóa XV đến hết kỳ
họp thứ 4 về giám sát chuyên đề, chất vấn, Quốc hội giao Chính phủ nhiệm vụ
“Khẩn trương nghiên cứu, xây dựng Bộ tiêu chí xác định sản phẩm, hàng hóa
của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam; ngăn chặn hiệu quả tình trạng hàng
giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng”. Tại Văn bản số 4241/VPCP-KTTH ngày
15/5/2025, Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn giao “Bộ Công Thương
1
Ngày 25/3/2026, Bộ Tư pháp mới nhận được hồ sơ đề nghị thẩm định dự thảo Nghị định này trên Hệ thống quản
lý văn bản và điều hành tác nghiệp của Bộ Tư pháp. Ngày 27/3/2026, Bộ Tư pháp đã có Công văn số 1928/BTP-
PLDSKT gửi Bộ Công Thương đề nghị hoàn thiện hồ sơ thẩm định dự thảo Nghị định quy định tiêu chí xác định
xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước.
2
Hội đồng thẩm định được thành lập theo Quyết định số 903/QĐ-BTP ngày 01/4/2026 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp;
họp theo Giấy mời số 329/GM-BTP ngày 31/03/2026 của Bộ Tư pháp. Tại cuộc họp thẩm định (ngày 03/4/2026)
có mặt 16/19 thành viên; vắng 03/19 thành viên (đại diện: Hiệp hội Chủ hàng Việt Nam; Hiệp hội Cà phê - Ca cao
Việt Nam và Bộ Ngoại giao). Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo là đồng chí Trịnh Thị Thu Hiền, Phó Cục trưởng
Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương.

2
chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương liên quan xây dựng
Nghị định quy định tiêu chí xác định hàng hóa có xuất xứ Việt Nam đối với hàng
hóa lưu thông trong nước, trình Chính phủ trong Quý III năm 2025”. Do đó,
việc Bộ Công Thương soạn thảo dự thảo Nghị định là thực hiện đúng theo
nhiệm vụ được giao.
1.2. Để có căn cứ, cơ sở và làm rõ sự cần thiết xây dựng, trình Chính phủ
ban hành dự thảo Nghị định, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo:
a) Nêu và phân tích kỹ lưỡng hơn về cơ sở chính trị, pháp lý để làm rõ sự
cần thiết xây dựng, ban hành dự thảo Nghị định bởi tại Mục I dự thảo Tờ trình
(trang 1 đến trang 3) mới chỉ liệt kê sơ sài danh mục các Nghị quyết, văn bản mà
chưa trích dẫn, phân tích nội dung; do đó, nhận định “Việc xây dựng và ban
hành Nghị định quy định tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa
lưu thông trong nước nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng, đường lối, chính
sách của nhà nước, hoàn thiện hệ thống pháp lý minh bạch, đầy đủ hơn, phù
hợp hơn với thực tiễn thương mại quốc tế, Luật Quản lý ngoại thương và thực
tiễn thương mại trong tình hình mới” là chưa thuyết phục.
b) Cơ quan chủ trì soạn thảo chưa làm rõ và chỉ ra được cơ sở pháp lý để
xây dựng, trình Chính phủ dự thảo nghị định là thuộc trường hợp quy định tại
điểm b hay điểm c khoản 1 Điều 14 Luật BHVBQPPL trong khi đây là vấn đề
rất quan trọng quyết định về nội dung, trình tự thủ tục hồ sơ xây dựng, trình dự
thảo Nghị định
3
và trên cơ sở xác định của cơ quan chủ trì soạn thảo, Hội đồng
thẩm định mới có thể rà soát, đánh giá; Chính phủ xem xét, quyết định. Trường
hợp cơ quan chủ trì soạn thảo xác định dự thảo Nghị định thuộc trường hợp quy
định biện pháp cụ thể để tổ chức, thi hành luật (thuộc điểm b khoản 1 Điều 14
Luật BHVBQPPL) thì cần phân tích rõ Nghị định quy định biện pháp thi hành
luật nào (tại phần căn cứ ban hành, Bộ Công Thương nêu ra nhiều luật nhưng
qua rà soát cho thấy chưa có luật nào trực tiếp đề cập đến tiêu chí xác định xuất
xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước
4
).
3
Cụ thể: (1) nếu dự thảo Nghị định quy định quy định các biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật
(thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 14 Luật BHVBQPPL) thì hồ sơ như cơ quan chủ trì soạn thảo
nộp là phù hợp, tuy nhiên nội dung dự thảo Nghị định phải đảm bảo phù hợp với quy định của các luật có liên
quan; (2) nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 14 Luật BHVBQPPL thì hồ sơ còn cần phải có
“Báo cáo đánh giá tác động của dự thảo văn bản” (điểm e khoản 1 Điều 28 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP), nội
dung dự thảo Nghị định có thể có những nội dung về “vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý
nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội”, thủ tục trước khi ban hành phải “được sự đồng ý của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội”.
4
Chẳng hạn:
- Điểm l khoản 1 Điều 320 Luật Thương mại năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Quản lý ngoại thương số
05/2017/QH14 ngày 12/6/2017 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018; Luật Phòng, chống tác hại của
rượu, bia số 44/2019/QH14 ngày 14/6 /2019 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2020) quy định hành vi vi
phạm pháp luật về thương mại bao gồm “vi phạm quy định về xuất xứ hàng hóa”.

3
c) Đề nghị làm rõ mối quan hệ của dự thảo Nghị định với quy định pháp luật
có liên quan như pháp luật về quản lý ngoại thương (liên quan đến quy định nhập
khẩu sản phẩm, hàng hóa để lưu thông trong nước)
5
, pháp luật về ghi nhãn hàng
hóa
6
…
d) Trong bối cảnh Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2018/NĐ-CP
ngày 08/3/2018 về quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng
hóa (Bộ Công Thương cũng đang soạn thảo dự thảo Nghị định thay thế Nghị định
số 31/2018/NĐ-CP), dự thảo Nghị định lại có khá nhiều nội dung tương đồng
với quy định của Nghị định số 31/2018/NĐ-CP (xin xem phân tích tại Mục
III.2.1 của Báo cáo thẩm định này). Do đó, Hội đồng thẩm định và Bộ Tư pháp
đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cân nhắc về phương án mở rộng phạm vi điều
chỉnh của dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 31/2018/NĐ-CP (bao gồm
những quy định về tiêu chí xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu và hàng hóa lưu
thông trong nước). Trường hợp cơ quan chủ trì soạn thảo tham mưu Chính phủ
xây dựng 02 Nghị định riêng thì đề nghị có giải pháp giải quyết vấn đề trùng lặp
giữa các văn bản, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.
Đồng thời, đề nghị làm rõ mục đích của việc ban hành 02 Nghị định là như thế
nào? Ví dụ, nếu để hưởng ưu đãi là sản phẩm, hàng hóa xuất xứ trong nước (như
sản phẩm công nghệ số theo Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025
7
) mà
loại trừ (theo dự thảo Nghị định) thì sẽ áp dụng như thế nào? Do đó, cơ quan
chủ trì soạn thảo cần rà soát pháp luật công nghiệp công nghệ số và khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo có quy định về ưu đãi.
2. Về phạm vi điều chỉnh
2.1. Cơ quan chủ trì soạn thảo xác định phạm vi điều chỉnh của dự thảo
Nghị định là quy định về “tiêu chí xác định hàng hóa có xuất xứ Việt Nam đối
với hàng hóa lưu thông trong nước” căn cứ vào nhiệm vụ được lãnh đạo Chính
phủ giao (Văn bản số 4241/VPCP-KTTH), tuy nhiên, đề nghị cơ quan chủ trì
soạn thảo báo cáo rõ về việc phạm vi điều chỉnh này khác như thế nào với nhiệm
- Khoản 2 Điều 4 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định về quyền của người tiêu dùng, bao
gồm: “được thông tin kịp thời, chính xác, đầy đủ về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, nội dung giao dịch, nguồn gốc,
xuất xứ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ”.
- Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 (được sửa đổi, bổ sung năm 2018 và năm 2025) quy định:
“Thông tin, quảng cáo sai sự thật hoặc có hành vi gian dối về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, về nguồn gốc và
xuất xứ hàng hóa” (khoản 9 Điều 8); “Thông tin trung thực về chất lượng và nguồn gốc xuất xứ sản phẩm, hàng
hóa” (khoản 3 Điều 16); “Được truy xuất nguồn gốc, tra cứu, đối chiếu thông tin đầy đủ, minh bạch về đặc tính
chất lượng, nguồn gốc xuất xứ, tiêu chuẩn áp dụng và kết quả đánh giá sự phù hợp của sản phẩm, hàng hóa thông
qua nhãn hàng hóa, nhãn điện tử, mã số, mã vạch hoặc các phương tiện phù hợp khác” (khoản 7 Điều 17).
5
Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, Nghị định số 31/2018/NĐ-CP ngày 08/3/2018 của Chính phủ về quy định
chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa.
6
Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007, Nghị định số 37/2026/NĐ-CP ngày 23/01/2026 của Chính phủ
quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
7
Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 quy định về sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng điểm (Điều 14);
hỗ trợ, ưu đãi đầu tư đối với sản xuất sản phẩm, cung cấp dịch vụ công nghệ số (Điều 28); ưu đãi thuê, mua sắm
sản phẩm, dịch vụ công nghệ số sử dụng vốn ngân sách nhà nước (Điều 31).

4
vụ mà Quốc hội giao Chính phủ (bởi Nghị quyết số 109/2023/QH15 giao Chính
phủ quy định Bộ tiêu chí về “sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hoặc sản xuất
tại Việt Nam”) để Chính phủ xem xét, quyết định.
2.2. Như đã đề cập tại Mục I.2.1.b của Báo cáo thẩm định này, trường hợp
dự thảo Nghị định thuộc dạng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 14 Luật
BHVBQPPL thì cần xác định rõ tại Điều 1 dự thảo Nghị định là Nghị định quy
định biện pháp thi hành luật nào và nêu “nội dung chính” (thay cho cách viết
nhắc lại chính tên của dự thảo Nghị định như khoản 1 Điều 1) để đảm bảo yêu
cầu quy định tại khoản 1 Điều 65 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP
8
.
2.3. Khoản 2 Điều 1 dự thảo Nghị định quy định theo hướng liệt kê các
hàng hóa không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định. Đề nghị cơ quan chủ
trì soạn thảo làm rõ và cân nhắc nội dung sau:
a) Làm rõ căn cứ quy định loại trừ các loại hàng hóa này; ví dụ: việc loại trừ
“hàng hóa đã qua sử dụng” (điểm e khoản 2 Điều 1) có thể không bảo đảm quyền
được cung cấp thông tin của người tiêu dùng theo pháp luật về bảo vệ quyền lợi
của người tiêu dùng; việc loại trừ “phần mềm, nội dung số” (điểm b khoản 2 Điều
1) có thể tạo ra khoảng trống quản lý về xuất xứ đối với sản phẩm hàng hóa số...
Ngoài ra, đề nghị rà soát với pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng
tạo, pháp luật về chuyển giao công nghệ, pháp luật về công nghiệp công nghệ số
và pháp luật về chuyển đổi số (như khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 67 Luật Khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số
133/2025/QH15
9
; khoản 3 Điều 9 Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017, được
sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 115/2025/QH15
10
…) để đảm bảo phù hợp, thống
nhất.
b) Cân nhắc việc quy định loại trừ một số loại hàng hóa các hàng hóa như:
“bất động sản” (điểm a khoản 2 Điều 1) bởi về cơ bản trong hoạt động xuất
nhập khẩu, lưu thông hàng hóa và theo quy định của Luật Hải quan năm 2014
11
8
Điều 65 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định: “Phạm vi điều chỉnh của văn bản phải nêu các nội dung chính
của văn bản”.
9
Khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 67 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quy định: “1. Sản phẩm công
nghệ chiến lược thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ cao thuộc Danh mục
sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển được sản xuất bởi doanh nghiệp công nghệ chiến lược,
doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao; sản phẩm, hàng hóa từ kết quả
của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đặc biệt; sản phẩm, hàng hóa từ kết quả của nhiệm vụ
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nước được ưu đãi theo quy định của pháp luật về đấu thầu.
2. Nhà nước xem xét tài trợ chi phí thử nghiệm, kiểm định, đánh giá chất lượng sản phẩm tham gia trong mua
sắm sử dụng ngân sách nhà nước trong các trường hợp sau đây:.. b) Sản phẩm của tổ chức, doanh nghiệp là kết
quả tạo ra từ kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nước”.
10
Khoản 3 Điều 9 Luật Chuyển giao công nghệ quy định: “Công nghệ; máy móc, thiết bị kèm theo công nghệ
quy định tại điểm d khoản 1 Điều 4 của Luật này hiện có ở Việt Nam trừ công nghệ quy định tại khoản 1 và
khoản 2 Điều này, khoản 2 Điều 10 của Luật này; công nghệ sử dụng nguyên liệu là sản phẩm, bán sản phẩm,
vật tư sản xuất trong nước được khuyến khích chuyển giao ra nước ngoài”.
11
Luật Hải quan năm 2014 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 71/2014/QH13, Luật số 35/2018/QH14, Luật số
07/2022/QH15, Luật số 90/2025/QH15 (sau đây gọi là Luật Hải quan năm 2014).

5
hàng hóa đã không bao gồm bất động sản
12
và theo quy định của Luật Thương
mại hàng hóa chỉ bao gồm những vật gắn liền với đất đai
13
; “hàng hóa tạm nhập
tái xuất; hàng hóa quá cảnh, hàng hóa chuyển khẩu; hàng hóa trung chuyển”,
“hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh;…”, “hàng hóa xuất khẩu, không tiêu
thụ nội địa”, “các hàng hóa khác sản xuất tại Việt Nam không nhằm mục đích
lưu thông trong nước” (điểm c, d, g và i khoản 2 Điều 1) vì không thực sự cần
thiết (do các hàng hóa này không thuộc diện được lưu thông trong nước).
2.4. Quy định về phạm vi điều chỉnh tại Điều 1 và nội dung dự thảo Nghị
định chưa làm rõ được phạm vi, mối quan hệ với các quy định có liên quan,
chẳng hạn Nghị định số 31/2018/NĐ-CP quy định về “xuất xứ hàng hóa xuất
khẩu, xuất xứ hàng hóa nhập khẩu” (Điều 1), trong khi đó, quy định tại khoản 1
Điều 1, Điều 2 dự thảo Nghị định cho thấy Nghị định cũng quy định (không loại
trừ) về tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng nhập khẩu để lưu thông
trong nước; Nghị định số 37/2026/NĐ-CP quy định về ghi nhãn hàng hóa, tuy
nhiên dự thảo Nghị định cũng có nội dung quy định. Mặt khác, một số nội dung
quan trọng chưa được làm rõ như nếu coi việc xác định xuất xứ là tự nguyện thì
có cần thiết ban hành Nghị định?; nếu là tự xác định xuất xứ nhưng thương nhân
phải chịu trách nhiệm (như cách thể hiện tại Điều 11 dự thảo Nghị định) thì cần
có quy định cụ thể hơn về trách nhiệm, chế tài.
3. Về đối tượng áp dụng
3.1. Trên cơ sở hoàn thiện phạm vi điều chỉnh, đề nghị cơ quan chủ trì
soạn thảo rà soát, hoàn thiện quy định về đối tượng áp dụng tại Điều 2 dự thảo
Nghị định cho phù hợp, thống nhất với phạm vi điều chỉnh (và nội dung dự thảo
Nghị định), trong đó cần xác định đối tượng áp dụng trực tiếp của Nghị định và
cá nhân, tổ chức có liên quan.
3.2. Đề nghị làm rõ, cân nhắc về việc quy định đối tượng “tổ chức, cá
nhân nhập khẩu hàng hóa phục vụ lưu thông trong nước” tại Điều 2 dự thảo
Nghị định cho hợp lý, khả thi, đúng phạm vi điều chỉnh (bởi vì về logic liệu có
loại hàng hóa thuần túy nhập khẩu mà được xác định xuất xứ tại Việt Nam hay
không? hay chỉ có nguyên liệu, bộ phận, cấu thành để hình thành hàng hóa rồi
sau đó hàng hóa đó mới được xác định là xuất xứ tại Việt Nam khi đáp ứng đủ
tiêu chí?).
II. VỀ SỰ PHÙ HỢP CỦA NỘI DUNG DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH VỚI
CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG
12
Khoản 6 Điều 4 Luật Hải quan năm 2014 quy định: “Hàng hóa bao gồm động sản có tên gọi và mã số theo
Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc được lưu giữ
trong địa bàn hoạt động hải quan”.
13
Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Hàng hóa bao gồm: a) Tất cả các loại động sản, kể cả
động sản hình thành trong tương lai; b) Những vật gắn liền với đất đai”.
6
1. Tại Phụ lục kèm theo Báo cáo số 150/BC-BCT ngày 26/3/2026 của Bộ
Công Thương về đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến dự thảo Nghị
định, cơ quan chủ trì soạn thảo chưa thực hiện việc rà soát, phân tích một cách
đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng liên quan đến về phát triển thị trường
trong nước, hoạt động thương mại, bảo vệ người tiêu dùng, hoạt động nhập
khẩu, chống hàng hóa gian lận về xuất xứ (mặc dù tại Công văn số 1928/BTP-
PLDSKT, Bộ Tư pháp đã đề nghị thực hiện đúng mẫu) nên Hội đồng thẩm định
và Bộ Tư pháp chưa có đủ thông tin, cơ sở để đánh giá về sự phù hợp của nội
dung dự thảo Nghị định với chủ trương, đường lối của Đảng.
2. Để hoàn thiện hồ sơ dự thảo Nghị định, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo
tiếp tục cập nhật, bám sát các chủ trương, đường lối của Đảng có liên quan để làm
rõ (và cần khẳng định) dự thảo Nghị định đã phù hợp, thể chế hóa đúng và đầy đủ
đường lối, chủ trương của Đảng tại Phụ lục kèm theo Báo cáo rà soát các chủ
trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế có
liên quan đến dự thảo (và chịu trách nhiệm về vấn đề này). Ví dụ, đề nghị bổ sung
việc rà soát nội dung dự thảo Nghị định với: (i) Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày
04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (liên quan đến “Hoàn
thiện hệ thống pháp luật, xoá bỏ các rào cản tiếp cận thị trường đảm bảo môi
trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, rõ ràng, nhất quán, ổn định lâu dài,
dễ tuân thủ, chi phí thấp. Minh bạch hoá, số hoá, thông minh hoá, tự động hoá,
áp dụng triệt để trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong thực hiện các quy trình, thủ
tục hành chính, nhất là về gia nhập, rút lui khỏi thị trường, đất đai, quy hoạch,
đầu tư…”); (ii) Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về
đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc
gia; (iii) Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV. Đồng thời, đề nghị bám
sát định hướng của Đảng tại Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 Hội nghị lần
thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm
2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”.
Ngoài ra, đề nghị bổ sung các chủ trương của Đảng về phát triển thị trường
trong nước, hoạt động thương mại, bảo vệ người tiêu dùng, chống hàng kém chất
lượng, như Kết luận số 207-KL/TW ngày 10/11/2025 của Ban Bí thư về tiếp tục
thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 22/01/2019 của Ban Bí thư Trung ương
Đảngcủa Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và trách nhiệm quản lý
của Nhà nước đối với công tác bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
3. Bên cạnh đó, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát toàn bộ hồ sơ dự
thảo Nghị định, đảm bảo tuân thủ đúng và đầy đủ: (i) Quy định số 178-QĐ/TW
ngày 27/6/2024 của Bộ Chính trị quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống
tham nhũng tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật; (ii) Nghị quyết số

7
110/2023/QH15 ngày 29/11/2023 của Quốc hội về kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa
XV (yêu cầu: “ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, tiêu
cực, “lợi ích nhóm”, “lợi ích cục bộ” trong công tác xây dựng và tổ chức thi
hành pháp luật” - Mục 3); và (iii) Nghị quyết số 126/NQ-CP ngày 14/8/2023
của Chính phủ về một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn
thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật nhằm ngăn ngừa tình
trạng tham nhũng, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ...
III. VỀ TÍNH HỢP HIẾN, TÍNH HỢP PHÁP, TÍNH THỐNG NHẤT
VỚI HỆ THỐNG PHÁP LUẬT
1. Về tính hợp hiến
Hội đồng thẩm định và Bộ Tư pháp chưa phát hiện quy định tại dự thảo
Nghị định gửi thẩm định trái với Hiến pháp năm 2013 (được sửa đổi, bổ sung
bởi Nghị quyết số 203/2025/QH15).
2. Về tính hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật
Tại Bản so sánh, thuyết minh nội dung dự thảo Nghị định gửi kèm hồ sơ
dự thảo Nghị định, cơ quan chủ trì soạn thảo chưa thực hiện việc rà soát, phân
tích một cách đầy đủ nội dung dự thảo Nghị định với các văn bản quy phạm
pháp luật có liên quan (mặc dù tại Công văn số 1928/BTP-PLDSKT, Bộ Tư
pháp đã đề nghị thực hiện đúng mẫu).
Qua nghiên cứu, rà soát, Hội đồng thẩm định và Bộ Tư pháp thấy rằng để
đảm bảo tính hợp pháp, tính thống nhất, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo rà
soát lại dự thảo Nghị định với quy định tại các luật: Luật Quản lý ngoại thương
năm 2017, Luật Thương mại năm 2005; Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa
năm 2007
14
; Luật Hải quan năm 2014; Luật BHVBQPPL; Nghị định số
31/2018/NĐ-CP ngày 08/3/2018 của Chính phủ về quy định chi tiết Luật Quản
lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa, Nghị định số 37/2026/NĐ-CP ngày
23/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức,
hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và các văn bản quy
phạm pháp luật có liên quan, trong đó cân nhắc một số nội dung sau:
2.1. Liên quan đến pháp luật quản lý ngoại thương
a) Theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số 31/2018/NĐ-CP: “Bộ
Công Thương ban hành Danh mục Quy tắc cụ thể mặt hàng nêu tại Khoản 1
Điều này và hướng dẫn cách xác định các tiêu chí xuất xứ hàng hóa”. Hiện nay,
Thông tư số 05/2018/TT-BCT ngày 03/4/2018 của Bộ trưởng Bộ Công Thương
về xuất xứ hàng hóa đã hướng dẫn quy tắc xuất xứ hàng hóa và kê khai xuất xứ
đối với hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu. Do đó, đề nghị cơ quan chủ trì
14
Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 được sửa đổi, bổ sung năm 2018 và năm 2025 (sau đây gọi là
Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007).
8
soạn thảo rà soát, làm rõ phạm vi điều chỉnh của dự thảo Nghị định, đảm bảo
không chồng chéo với các nội dung tại Nghị định số 31/2018/NĐ-CP.
b) Dự thảo Nghị định có nhiều nội dung nhắc lại, trùng lặp với Nghị định
số 31/2018/NĐ-CP, cụ thể:
(i) Quy định về giải thích các thuật ngữ như: “sản xuất”, “gia công, chế
biến hàng hóa”, “thay đổi cơ bản”, “hoạt động đơn giản”, “nguyên liệu”,
“chuyển đổi mã số hàng hóa”, “trị giá CIF” (khoản 1 đến 4, khoản 7, 13 và 15
Điều 3) đã được quy định tại khoản 9, 11, 12, 13, 14, 15 Điều 3 Nghị định số
31/2018/NĐ-CP, khoản 5 Điều 3 Thông tư số 05/2018/TT-BCT; dự thảo Nghị
định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành
Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa (thay thế Nghị định số
31/2018/NĐ-CP) cũng quy định các thuật ngữ nêu trên.
(ii) Điều 4, Điều 5 và Điều 6 dự thảo Nghị định quy định về hàng hóa
được coi là có xuất xứ Việt Nam, gồm: (i) Hàng hóa có xuất xứ thuần túy Việt
Nam; (ii) Hàng hoá được sản xuất tại Việt Nam từ toàn bộ nguyên liệu có xuất
xứ Việt Nam; (iii) Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy Việt Nam, trong khi nội
dung này đã được quy định tại Điều 7, Điều 8 Nghị định số 31/2018/NĐ-CP.
(iii) Điều 7, Điều 8, Điều 9 và Điều 10 dự thảo Nghị định cũng nhắc lại
quy định tại Điều 9, khoản 1 đến khoản 4 Điều 10, Điều 11, Điều 12 Nghị định
số 31/2018/NĐ-CP. Nội dung tại Chương II dự thảo Nghị định về cách xác định
xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước về cơ bản tương đồng
với quy định của Nghị định số 31/2018/NĐ-CP, Thông tư số 05/2018/TT-BCT
Do đó, như đã đề cập tại Mục I.1.2.d của Báo cáo thẩm định này, đề nghị
cân nhắc phương án báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định việc mở rộng phạm
vi điều chỉnh của Nghị định số 31/2018/NĐ-CP thay cho việc xây dựng một
Nghị định riêng quy định về tiêu chí xuất xứ hàng hóa Việt Nam với hàng hóa
lưu thông trong nước (với phần lớn các điều khoản tương đồng với quy định của
Nghị định số 31/2018/NĐ-CP) hoặc cần có phương án xử lý vấn đề trùng lặp
giữa các Nghị định.
Bên cạnh đó, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với chuyên gia,
người làm thực tiễn, các tổ chức đại diện doanh nghiệp, nhà đầu tư… nghiên
cứu, cân nhắc về việc quy định xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu
thông trong nước với tiêu chí cao như đối với hàng hóa xuất khẩu.
2.2. Liên quan đến pháp luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa
a) Dự thảo Nghị định quy định khái niệm “sản phẩm”, “hàng hóa”
(khoản 8, 9 Điều 3), trong khi các khái niệm này cũng đã được quy định tại

9
khoản 1 và 2 Điều 3 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa
15
, ngoài ra, như đã đề
cập ở trên, Luật Hải quan cũng có quy định về khái niệm hàng hóa. Do đó, đề
nghị cân nhắc về việc quy định khái niệm nêu trên để tránh chồng chéo, mâu
thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật.
b) Điều 11 dự thảo Nghị định quy định: “1. Trường hợp thể hiện nội dung
xuất xứ hàng hóa Việt Nam trên nhãn hàng hóa và/hoặc trên tài liệu, vật phẩm
chứa đựng thông tin liên quan đến hàng hóa, thương nhân có nghĩa vụ tuân thủ
quy định tại Nghị định này, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về thông tin cung
cấp và công bố, lưu trữ hồ sơ liên quan xuất xứ hàng hóa để phục vụ hậu kiểm; 2.
Thương nhân, tổ chức, cá nhân thể hiện nội dung xuất xứ Việt Nam trên nhãn
hàng hóa và/hoặc trên tài liệu, vật phẩm chứa đựng thông tin liên quan đến hàng
hóa có trách nhiệm chứng minh sự phù hợp của nội dung do mình cung cấp với
các quy định tại Nghị định này khi được cơ quan có thẩm quyền yêu cầu”. Theo
quy định trên, thương nhân, tổ chức, cá nhân thể hiện nội dung xuất xứ hàng hóa
Việt Nam trên nhãn hàng hóa có nghĩa vụ tuân thủ quy định tại Nghị định này.
Tuy nhiên, nội dung về ghi nhãn hàng hóa đang được điều chỉnh tại Nghị
định số 37/2026/NĐ-CP. Vì vậy, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo làm rõ mối
quan hệ giữa Nghị định này và Nghị định số 37/2026/NĐ-CP, tránh sự chồng
lấn, mâu thuẫn quy định giữa các văn bản. Đồng thời, cân nhắc bổ sung quy
định “hậu kiểm” đối với nội dung này.
2.3. Liên quan đến pháp luật về thương mại
a) Khoản 14 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Xuất xứ hàng
hoá là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hoá hoặc nơi thực
hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hoá trong trường hợp có
nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất hàng hoá đó”. Vì
vậy, việc dự thảo Nghị định quy định về tiêu chí hàng hóa để xác định xuất xứ
Việt Nam có thể tạo ra 02 hệ thống tiêu chí chồng chéo với nhau. Vì vậy, đề nghị
cơ quan chủ trì soạn thảo làm rõ căn cứ để Chính phủ quy định về tiêu chí xác
định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước. Trong đó, đề nghị
làm rõ “xuất xứ” theo dự thảo Nghị định có khác với “xuất xứ” theo quy định
của Luật Thương mại năm 2005 hay không? Nếu khác thì mục đích như thế nào,
có phân biệt đối xử (hàng trong nước và hàng xuất khẩu/ nhập khẩu) hay không?
b) Luật Thương mại năm 2005 đã có quy định về hàng hóa và phân loại
rõ các loại hàng hóa (khoản 2 Điều 3). Việc quy định các loại hàng hóa và loại
15
Khoản 8 Điều 3 dự thảo Nghị định quy định: “Sản phẩm là thành phẩm được sản xuất, bao gồm cả thành phẩm
được sản xuất với mục đích sử dụng cho quá trình sản xuất khác sau này”, trong khi Luật Chất lượng sản phẩm,
hàng hóa năm 2007 quy định như sau: “Sản phẩm là kết quả đầu ra của quá trình chế tạo, sản xuất hoặc kết quả
đầu ra không tồn tại dưới dạng vật chất được tạo ra từ các hoạt động dịch vụ” (khoản 1 Điều 3); khoản 9 Điều 3
dự thảo Nghị định quy định “Hàng hóa bao gồm nguyên liệu và sản phẩm”, trong khi Luật Chất lượng sản phẩm,
hàng hóa năm 2007 quy định như sau: “Hàng hóa là sản phẩm được đưa vào lưu thông trên thị trường, phục vụ
mục đích tiêu dùng, sử dụng hoặc kinh doanh” (khoản 2 Điều 3).

10
trừ các loại hàng hóa không xem xét tiêu chí xuất xứ có thể chồng chéo với Luật
Thương mại năm 2005.
c) Khoản 3 Điều 4 dự thảo Nghị định quy định: “Hàng hóa có xuất xứ
không thuần túy Việt Nam hoặc không được sản xuất tại Việt Nam từ toàn bộ
nguyên liệu có xuất xứ Việt Nam nhưng trải qua công đoạn gia công, chế biến
cuối cùng tại Việt Nam làm thay đổi cơ bản tính chất của hàng hóa theo quy
định tại Điều 6 Nghị định này”. Tuy nhiên, Luật Thương mại năm 2005 quy
định về “xuất xứ hàng hóa là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ
hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng
hóa trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình
sản xuất hàng hóa đó” (khoản 14 Điều 3). Như vậy, Luật Thương mại năm 2005
định nghĩa xuất xứ hàng hóa căn cứ vào “nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ
bản cuối cùng”, không quy định là nơi gia công. Do đó, đề nghị cơ quan chủ trì
soạn thảo chỉnh sửa khoản 3 Điều 4 dự thảo Nghị định đảm bảo phù hợp với
Luật Thương mại năm 2005.
2.4. Liên quan đến pháp luật hải quan
Theo quy định tại Điều 86 Luật Hải quan năm 2014 được sửa đổi, bổ sung
bởi Luật số 90/2025/QH15 thì trị giá hải quan chỉ áp dụng với hàng hóa xuất nhập
khẩu, Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) 1994 và Hiệp định
về Trị giá Hải quan cũng chỉ áp dụng cho việc tính thuế xuất nhập khẩu. Vì vậy,
đề nghị cân nhắc việc sử dụng thuật ngữ “trị giá hải quan cho hàng hóa lưu thông
trong nước” (Điều 6 dự thảo Nghị định) để tránh nhầm lẫn giữa trị giá hải quan và
giá trị kế toán/doanh nghiệp, hoặc có thể cân nhắc thay thế bằng các thuật ngữ
chuẩn pháp luật về kế toán như “giá mua thực tế”, “chi phí sản xuất”.
2.5. Liên quan đến Luật BHVBQPPL
Khoản 2 Điều 13 dự thảo Nghị định quy định: “Căn cứ yêu cầu thực tiễn
quản lý đối với hàng hóa thuộc lĩnh vực chuyên ngành được phân công, quy
định theo pháp luật chuyên ngành, các bộ, cơ quan ngang bộ hướng dẫn chi tiết
cách xác định và kiểm tra xuất xứ đáp ứng quy định tại Nghị định này và các
quy định pháp luật liên quan, sau khi thống nhất với Bộ Công Thương”. Đề nghị
cơ quan chủ trì soạn thảo cân nhắc quy định này vì theo quy định của Luật
BHVBQPPL, Nghị định số 78/2025/NĐ-CP, việc ban hành Thông tư của Bộ
trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ không có yêu cầu thống nhất về nội dung
với bộ, ngành nào khác.
IV. VỀ TÍNH TƯƠNG THÍCH VỚI ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ CÓ
LIÊN QUAN MÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
LÀ THÀNH VIÊN; BẢO ĐẢM YÊU CẦU VỀ QUỐC PHÒNG, AN NINH;
NGUỒN TÀI CHÍNH; NGUỒN NHÂN LỰC

11
1. Về tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Hội đồng thẩm định (Bộ Ngoại giao có ý kiến bằng văn bản
16
) cho rằng:
“Qua rà soát, các ý kiến của Bộ Ngoại giao cơ bản đã được Bộ Công Thương
tiếp thu, có điều chỉnh phù hợp tại dự thảo Nghị định. Bộ Công Thương cũng đã
bổ sung đánh giá về việc các quy định tại Nghị định không xung đột, vi phạm
các cam kết tại WTO và các FTA mà Việt Nam là thành viên”. Tuy nhiên, Phụ
lục kèm theo Báo cáo số 150/BC-BCT chưa thể hiện rõ việc rà soát, phân tích
một cách đầy đủ các cam kết quốc tế của Việt Nam (như Điều ước quốc tế liên
quan đến hàng hóa nhập khẩu) (mặc dù tại Công văn số 1928/BTP-PLDSKT, Bộ
Tư pháp đã đề nghị thực hiện đúng mẫu) nhưng đã khẳng định: “Các cam kết
WTO và FTA (CPTPP, EVFTA, RCEP” không điều chỉnh việc quy định tiêu chí
xác định xuất xứ thuần túy Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước” và
đánh giá “không xung đột, không vi phạm cam kết quốc tế” là chưa đảm bảo
tính thuyết phục. Phụ lục kèm theo Báo cáo số 150/BC-BCT cũng chưa nêu tiêu
chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước được xây
dựng trên cơ sở tham khảo Điều ước quốc tế, thông lệ quốc tế nào. Cơ quan chủ
trì soạn thảo cũng cũng chưa khẳng định được dự thảo Nghị định có tính tương
thích với điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên hay không? Do đó, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo phối
hợp với Bộ Ngoại giao để rà soát, hoàn thiện nội dung đánh giá tính tương thích
của dự thảo Nghị định với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên tại Báo cáo rà soát đường lối chủ trương của
Đảng, văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế có liên quan đến dự thảo
Nghị định (và chịu trách nhiệm về vấn đề này).
2. Về bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh
Hội đồng thẩm định (trong đó có đại diện Bộ Quốc phòng và Bộ Công an)
chưa phát hiện dự thảo Nghị định có nội dung không bảo đảm yêu cầu về quốc
phòng, an ninh. Tại cuộc họp Hội đồng thẩm định, đại diện Bộ Quốc phòng, Bộ
Công an khẳng định dự thảo Nghị định bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an
ninh. Tuy nhiên, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, bổ sung nội
dung đánh giá về quốc phòng, an ninh tại Tờ trình Chính phủ (và chịu trách
nhiệm về vấn đề này).
3. Về nguồn tài chính, nguồn nhân lực
Mục VI.1 (trang 8) dự thảo Tờ trình về dự thảo Nghị định chỉ nêu chung
chung về dự kiến nguồn lực mà chưa có giải trình về dự kiến nguồn lực (tài
chính và nhân lực) để đảm bảo thực hiện dự thảo Nghị định. Do đó, Hội đồng
16
Ngày 03/4/2026, Bộ Ngoại giao đã có Công văn số 2305/BNG-NGKT về thẩm định dự thảo Nghị định quyđịnh
tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước.
12
thẩm định và Bộ Tư pháp chưa có đủ thông tin, cơ sở để đánh giá tính hợp lý về
nguồn lực để triển khai Nghị định. Đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo trong quá
trình nghiên cứu hoàn thiện dự thảo Nghị định tiếp tục thực hiện việc đánh giá
về nguồn lực đảm bảo thi hành Nghị định, phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính
và Bộ Nội vụ tính toán và bố trí đầy đủ các nguồn lực, các điều kiện hợp lý đảm
bảo thực hiện dự thảo Nghị định sau khi được ban hành và thể hiện phù hợp tại
nội dung Tờ trình Chính phủ.
V. VỀ SỰ CẦN THIẾT, TÍNH HỢP LÝ CỦA THỦ TỤC HÀNH
CHÍNH; VIỆC PHÂN CẤP; VIỆC ỨNG DỤNG, THÚC ĐẨY PHÁT
TRIỂN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ CHUYỂN
ĐỔI SỐ
1. Về sự cần thiết, tính hợp lý của thủ tục hành chính (TTHC)
Mục IV.3.2 (trang 8) dự thảo Tờ trình nêu “Dự thảo Nghị định không quy
định thủ tục hành chính”. Hội đồng thẩm định nhận thấy, dự thảo Nghị định
không quy định về thủ tục hành chính. Tuy nhiên, đề nghị cơ quan chủ trì soạn
thảo tiếp tục rà soát các thủ tục nội bộ giữa các cơ quan nhà nước trong việc triển
khai, hướng dẫn thi hành Nghị định này, tiếp tục hoàn thiện và cắt giảm, đơn giản
hóa tối đa các thủ tục nội bộ để tạo thuận lợi cho quá trình triển khai thực hiện.
2. Về việc phân cấp
Mục IV.3.3 (trang 8) dự thảo Tờ trình nêu và Mục II.2 (trang 6) Bản đánh
giá thủ tục hành chính, việc phân quyền, phân cấp, việc ứng dụng, thúc đẩy phát
triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong dự thảo
Nghị định nêu: “Dự thảo Nghị định không có nội dung quy định về phân quyền,
phân cấp mà chỉ phân công rõ trách nhiệm giữa các Bộ”. Hội đồng thẩm định
(trong đó có đại diện Bộ Nội vụ) nhận thấy, dự thảo Nghị định không có quy
định phân cấp. Tuy nhiên, sau khi hoàn thiện các quy định theo Báo cáo thẩm
định này, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát, đánh giá kỹ về việc phân cấp
tại dự thảo Nghị định, đảm bảo phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách của Nhà nước có liên quan đến phân cấp, đảm bảo phân cấp tối đa
theo yêu cầu của Kết luận số 155-KL/TW ngày 17/5/2025 của Bộ Chính trị, Ban
Bí thư về một số nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung thực hiện về sắp xếp tổ chức
bộ máy và đơn vị hành chính từ nay đến ngày 30/6/2025; phù hợp với các
nguyên tắc quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa
phương và hoàn thiện việc đánh giá này tại Tờ trình Chính phủ.
3. Về việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số
Mục II.3 (trang 06) Bản đánh giá thủ tục hành chính, việc phân quyền,
phân cấp, việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng

13
tạo và chuyển đổi số trong dự thảo Nghị định nêu: “Dự thảo Nghị định không có
quy định liên quan đến ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số”. Hội
đồng thẩm định (trong đó có đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ) nhận thấy, dự
thảo Nghị định không quy định nội dung liên quan đến việc ứng dụng, thúc đẩy
phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Do đó, đề
nghị cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát, hoàn thiện việc đánh giá này tại Tờ trình
Chính phủ hoặc Bản đánh giá thủ tục hành chính, việc phân cấp nhiệm vụ,
quyền hạn, việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số (nếu có).
VI. VỀ NGÔN NGỮ, THỂ THỨC, KỸ THUẬT TRÌNH BÀY VÀ
TRÌNH TỰ, THỦ TỤC SOẠN THẢO
1. Về ngôn ngữ, thể thức, kỹ thuật trình bày
Đề nghị rà soát chỉnh lý lại kỹ thuật soạn thảo văn bản cho chính xác, rõ
ràng, dễ hiểu và thống nhất; đảm bảo tuân thủ quy định tại Điều 7 Luật
BHVBQPPL; Điều 60 đến Điều 71, các mẫu ban hành kèm theo Phụ lục IV Nghị
định số 78/2025/NĐ-CP. Trong đó, đề nghị lưu ý hoàn thiện các nội dung sau:
(i) Đề nghị chỉnh lý một số cụm từ dự thảo Nghị định, đảm bảo diễn đạt
thống nhất, rõ ràng, dễ hiểu như chỉnh lý cụm từ “hàm lượng giá trị Việt Nam”
(tại khoản 14 Điều 3, khoản 2 Điều 8) thành “tỷ lệ phần trăm giá trị Việt Nam”;
chỉnh lý cụm từ “chi phí phân bổ trực tiếp”, “chi phí nhà xưởng có liên quan
đến quá trình sản xuất” (tại điểm c khoản 4 Điều 6) thành “chi phí phân bổ có
liên quan trực tiếp đến sản xuất”, “chi phí sản xuất phân bổ”;
(ii) Chỉnh lý một số cụm từ tại dự thảo Nghị định, đảm bảo chính xác như
chỉnh sửa cụm từ “trọng lượng” (tại điểm b khoản 1 Điều 9) thành cụm từ "khối
lượng" để phù hợp với Luật Đo lường năm 2012; chỉnh sửa cụm từ “cơ quan có
thẩm yêu cầu” thành “cơ quan có thẩm quyền yêu cầu” tại khoản 2 Điều 11;
(iii) Bổ sung ngày, tháng, năm cụ thể tại quy định “Nghị định này có hiệu
lực từ ngày… tháng… năm….” tại Điều 15 dự thảo Nghị định để phù hợp với
quy định “Văn bản phải xác định cụ thể ngày, tháng, năm có hiệu lực thi hành”
tại khoản 2 Điều 67 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP.
2. Về trình tự, thủ tục soạn thảo và hồ sơ dự thảo Nghị định
Trên cơ sở thông tin được cung cấp tại hồ sơ gửi thẩm định
17
và tại cuộc
họp Hội đồng thẩm định, hồ sơ đã bảo đảm đầy đủ theo quy định tại Điều 28
17
Hồ sơ dự thảo Nghị định gửi thẩm định bao gồm: (1) Công văn số 1724/BCT-XNK; (2) Dự thảo Tờ trình; (3)
Dự thảo Nghị định; (4) Bản tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý; bản sao ý kiến góp ý của các Bộ, cơ
quan Trung ương; (5) Bản so sánh, thuyết minh dự thảo Nghị định với văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; (6)
Báo cáo đánh giá thực trạng quan h ệ xã hội liên quan đến dự thảo Nghị định quy định tiêu chí xác định xuất xứ
Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước; (7) Bản đánh giá thủ tục hành chính, việc phân cấp nhiệm vụ,
quyền hạn, việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

14
Nghị định số 78/2025/NĐ-CP (trong trường hợp được xây dựng theo điểm b
khoản 1 Điều 14 Luật BHVBQPPL). Đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục
hoàn thiện hồ sơ như sau:
(i) Về dự thảo Tờ trình, cần hoàn thiện nội dung theo các ý kiến đã được
nêu tại Báo cáo thẩm định, đảm bảo đủ nội dung theo quy định tại khoản 1, 3
Điều 6 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP
18
, hoàn thiện hình thức theo Mẫu số 2 Phụ
lục IV ban hành kèm theo Nghị định số 78/2025/NĐ-CP và bổ sung nội dung vấn
đề xin ý kiến Chính phủ (nếu cần thiết). Bên cạnh đó, đề nghị trích dẫn Công văn
số 10416/VPCP-KTTH ngày 27/10/2025 của Văn phòng Chính phủ về xây dựng
Nghị định của Chính phủ quy định tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với
hàng hóa lưu thông trong nước, trong đó Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh
Sơn có ý kiến chỉ đạo: “Đồng ý điều chỉnh thời gian trình Nghị định theo đề nghị
của Bộ Công Thương tại văn bản số 7708/BCT-XNK nêu trên. Bộ Công Thương
chịu trách nhiệm về nội dung báo cáo và tiến độ đề xuất; rà soát các nội dung
trong quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế, bảo đảm các chính sách đồng bộ,
thống nhất của hệ thống pháp luật; trình Chính phủ trong quý I năm 2026”.
(ii) Về Bản so sánh, thuyết minh nội dung dự thảo Nghị định, cần phải thể
hiện đúng mẫu số 12 Phụ lục IV kèm theo Nghị định số 187/2025/NĐ-CP ngày
01/7/2025 của Chính phủ; đồng thời, nghiên cứu bổ sung một cách đầy đủ, kỹ
lưỡng quy định của các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đồng thời
thuyết minh đầy đủ rõ ràng tính phù hợp, thống nhất của dự thảo Nghị định với
các văn bản đó (và chịu trách nhiệm về vấn đề này).
(iii) Về Bản tổng hợp ý kiến và tiếp thu giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý
đối với dự thảo Nghị định, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục cập nhật,
tổng hợp đầy đủ và nghiên cứu, tiếp thu ý kiến góp ý để hoàn thiện dự thảo Nghị
định; từ đó, cần hoàn thiện Bản tổng hợp ý kiến và tiếp thu giải trình đảm bảo
đúng với nội dung dự thảo Nghị định, tránh việc thể hiện đã tiếp thu hoàn thiện
nhưng dự thảo Nghị định vẫn giữ nguyên
19
.
(iv) Về Phụ lục về chủ trương đường lối của Đảng, Điều ước quốc tế (kèm
theo Báo cáo số 150/BC-BCT), thể hiện còn sơ sài, không đúng Mẫu số 7 Phụ
lục IV ban hành kèm theo Nghị định số 78/2024/NĐ-CP, chưa thể hiện được
18
Khoản 1, 3 Điều 6 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định: “Tờ trình dự án, dự thảo văn bản trình Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ bao gồm các nội dung sau: sự cần thiết ban hành văn bản; mục đích ban hành, quan điểm
xây dựng dự án, dự thảo văn bản; quá trình xây dựng dự án, dự thảo văn bản; bố cục và nội dung cơ bản của dự
án, dự thảo văn bản, trong đó phải nêu rõ các nội dung quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này; những nội
dung bổ sung mới so với dự thảo văn bản gửi thẩm định (nếu có); dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc
thi hành văn bản và thời gian trình thông qua hoặc ban hành; vấn đề xin ý kiến (nếu có)”; “Đối với tờ trình dự án,
dự thảo văn bản ban hành mới phải nêu rõ: việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà
nước; vấn đề chưa được pháp luật quy định hoặc đã có quy định nhưng chưa phù hợp; vướng mắc, bất cập từ thực
tiễn; nội dung cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính; nội dung phân quyền, phân cấp; vấn đề còn ý kiến khác
nhau cần xin ý kiến cấp có thẩm quyền và kiến nghị phương án giải quyết”.
19
Ý kiến của đại diện Bộ Quốc phòng đã nêu tại cuộc họp thẩm định.

15
chủ trương, đường lối của Đảng, điều ước quốc tế cụ thể có liên quan đến dự
thảo cần đánh giá, vì vậy, đề nghị hoàn thiện Báo cáo số 150/BC-BCT và Phụ
lục rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật,
điều ước quốc tế có liên quan đến dự thảo Nghị định gửi kèm.
(v) Đề nghị bổ sung Báo cáo đánh giá tác động chính sách của dự thảo
Nghị định (trong trường hợp dự thảo Nghị định thuộc trường hợp quy định tại
điểm c khoản 1 Điều 14 Luật BHVBQPPL), thực hiện theo Mẫu số 03 Phụ lục
IV ban hành kèm theo Nghị định số 78/2025/NĐ-CP, trong đó cần đánh giá ưu
điểm, nhược điểm của từng phương án; đánh giá tác động của từng phương án
đến kinh tế - xã hội. Trên cơ sở đó, cơ quan chủ trì soạn thảo đề xuất phương án
tối ưu để trình Chính phủ xem xét, quyết định.
VII. VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁC
Đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, hoàn thiện các quy định tại dự
thảo Nghị định đảm bảo tính khả thi, hạn chế việc phát sinh khó khăn, vướng mắc
của văn bản sau khi ban hành, giảm thiểu chi phí tuân thủ pháp luật, công khai,
minh bạch, tránh lạm dụng (nếu có); trong đó cần xem xét một số nội dung sau:
1. Về giải thích từ ngữ hàng hóa có xuất xứ Việt Nam, hàng hóa
không có xuất xứ Việt Nam (khoản 10 và 11 Điều 3, Điều 4)
1.1. Đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, cân nhắc tích hợp quy
định về phân loại hàng hóa có xuất xứ Việt Nam tại Điều 4 vào quy định về khái
niệm hàng hóa có xuất xứ Việt Nam tại khoản 10 Điều 3 dự thảo Nghị định để
bảo đảm chính xác, phổ thông, thống nhất, diễn đạt rõ ràng, dễ hiểu.
1.2. Về hàng hóa không có xuất xứ Việt Nam (khoản 11 Điều 3), đề nghị
lược bỏ khái niệm này vì việc quy định một cặp từ đối nghĩa với cách thể hiện
nội dung về cơ bản chỉ khác nhau chữ “không” là không cần thiết.
2. Về hàng hoá có xuất xứ thuần túy Việt Nam (Điều 5)
Đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu đưa ra quy định tiêu chí cụ
thể để xác định được chính xác hàng hoá có xuất xứ thuần tuý đối với sản phẩm
thuỷ sản tại khoản 7, 8 Điều 5 dự thảo Nghị định
20
; đồng thời, đề nghị bổ sung
thêm “Thực vật rừng, động vật rừng và các sản phẩm của chúng có nguồn gốc
từ tự nhiên hoặc trồng cấy hoặc được sinh ra và nuôi dưỡng tại các cơ sở nuôi
sinh sản, nuôi sinh trưởng tại Việt Nam” (ý kiến của đại diện Bộ Nông nghiệp
và Môi trường tại cuộc họp Hội đồng thẩm định).
3. Về hàng hoá có xuất xứ không thuần túy Việt Nam (Điều 6)
20
Hiện nay, việc xác minh xuất xứ thuần túy phải dựa trên việc tra cứu và đối chiếu với Hệ thống quản lý tàu cá,
cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá, hệ thống truy xuất nguồn gốc do Bộ Nông nghiệp và Môi trường
quản lý, nhằm đảm bảo hàng hóa không phải là sản phẩm của hoạt động khai thác hải sản bất hợp pháp, không
khai báo và không theo quy định (IUU).

16
3.1. Điều 6 dự thảo Nghị định có quy định về hàng hoá có xuất xứ không
thuần túy Việt Nam, trong đó quy định về: (1) hàng hóa có xuất xứ không thuần
túy Việt Nam hoặc không được sản xuất tại Việt Nam từ toàn bộ nguyên liệu có
xuất xứ Việt Nam vẫn được coi là hàng hóa có xuất xứ Việt Nam nếu đáp ứng
tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam quy định tại Phụ lục Quy tắc cụ thể mặt hàng
ban hành kèm theo Nghị định này; (2) các tiêu chí nêu tại Phụ lục ban hành kèm
theo Nghị định này. Tuy nhiên, dự thảo Tờ trình chưa làm rõ cơ sở để đề xuất
các tiêu chí quy định tại các Phụ lục ban hành kèm theo dự thảo Nghị định này.
Vì vậy, đề nghị làm rõ nội dung nêu trên.
Ngoài ra, Điều 9 dự thảo Nghị định quy định về tỷ lệ nguyên liệu không
đáp ứng tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa, dự thảo Tờ trình chưa làm rõ cơ sở
để đề xuất tỷ lệ nguyên liệu không đáp ứng tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa
này. Vì vậy, đề nghị làm rõ nội dung nêu trên.
3.2. Điểm b khoản 3 Điều 6 quy định về công thức tính gián tiếp tỷ lệ phần
trăm giá trị Việt Nam (VVC) có thể bị lợi dụng, do đó, đề nghị nghiên cứu công
thức tính phù hợp, đảm bảo tính khả thi hoặc quy định loại trừ không áp dụng công
thức tính gián tiếp đối với một số mặt hàng. (Ví dụ: trường hợp doanh nghiệp nhập
khẩu muối công nghiệp chỉ sơ chế đơn giản chuyển đổi mã số hàng hóa thành muối
tinh hoặc muối thực phẩm để kinh doanh, lưu thông trên thị trường là có thể hợp
thức hóa thành “muối Việt Nam” do đạt VVC > 30%
21
). Điều này không phản ánh
đúng bản chất sản phẩm muối, gây thiệt hại cho diêm dân trong nước vốn đang gặp
khó khăn về tiêu thụ, giá thành và tồn kho. Do đó, cần cân nhắc bổ sung khoản
riêng tại Điều 6 dự thảo Nghị định hoặc Phụ lục Chương II quy định đối với mặt
hàng muối và sản phẩm từ muối, tiêu chí xác định xuất xứ áp dụng theo chuyển đổi
mã HS 4 số (CTH) hoặc theo công thức trực tiếp dựa trên tỷ lệ nguyên liệu muối
nội địa trong tổng nguyên liệu muối sử dụng).
4. Về trách nhiệm của Bộ Công Thương, các bộ, cơ quan ngang bộ
(Điều 12, Điều 13)
4.1. Khoản 1 Điều 13 dự thảo Nghị định quy định: “Các bộ, cơ quan
ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công Thương thực hiện quản lý
về xuất xứ hàng hóa Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước”. Quy
định này còn chung chung, do vậy, đề nghị lược bỏ hoặc bổ sung quy định cụ
thể về trách nhiệm của Bộ Công Thương, của các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh. Ngoài ra, đề nghị bổ sung quy định “hậu kiểm” để tăng cường hiệu
quả công tác quản lý nhà nước đối với Nghị định này.
21
Ý kiến của đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường tại cuộc họp Hội đồng thẩm định.

17
4.2. Đề nghị chỉnh lý quy định “Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với
các cơ quan có thẩm quyền liên quan tổ chức thực hiện việc kiểm tra, xử lý các
vi phạm trong quá trình thực thi Nghị định này và quy định pháp luật có liên
quan” thành “Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền
liên quan tổ chức thực hiện việc kiểm tra, xử lý các vi phạm theo thẩm quyền
trong quá trình thực thi Nghị định này và quy định pháp luật có liên quan”
(thêm cụm từ “theo thẩm quyền”) để đảm bảo tính chặt chẽ.
5. Về một số quy định cần được nghiên cứu, bổ sung
5.1. Dự thảo Nghị định được xây dựng theo hướng thương nhân tự chịu
trách nhiệm trước pháp luật về nội dung xuất xứ hàng hóa Việt Nam trên nhãn
hàng hóa, chứng minh sự phù hợp của nội dung do mình cung cấp (Điều 11), tuy
nhiên chưa nêu rõ trách nhiệm, chế tài nếu xác định xuất xứ không đúng. Do đó,
đề nghị bổ sung quy định rõ hơn về trách nhiệm của thương nhân trong trường
hợp xác định xuất xứ hàng hóa không đúng quy định của Nghị định này (chẳng
hạn đây là căn cứ để xác định hành vi (i) vi phạm quy định về xuất xứ hàng hóa
quy định tại điểm l khoản 1 Điều 320 Luật Thương mại năm 2005; (ii) vi phạm
quyền của người tiêu dùng quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng năm 2023; (iii) thông tin, quảng cáo sai sự thật, gian dối, thiếu
trung thực quy định tại khoản 9 Điều 8, khoản 3 Điều 16 Luật Chất lượng sản
phẩm, hàng hóa). Đồng thời, cần bổ sung quy định tùy mức độ vi phạm mà
thương nhân phải chịu trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm
hình sự theo quy định pháp luật.
5.2. Đề nghị bổ sung quy định để xử lý trong trường hợp hàng hóa đã
được xác định xuất xứ Việt Nam, được dán nhãn để lưu thông trong nước (theo
quy định của Nghị định này) nhưng sau đó cần xác định xuất xứ để xuất khẩu.
5.3. Về quy định chuyển tiếp, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên
cứu, bổ sung quy định chuyển tiếp đối với trường hợp xác định xuất xứ Việt
Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước trước ngày Nghị định này có hiệu
lực thi hành.
VIII. KẾT LUẬN
Căn cứ hồ sơ gửi thẩm định và ý kiến tại cuộc họp thẩm định, Hội đồng
thẩm định và Bộ Tư pháp thấy rằng:
(1) Cơ quan chủ trì soạn thảo chưa xác định dự thảo Nghị định thuộc
trường hợp quy định biện pháp thi hành luật nào, về nội dung gì theo quy định
tại điểm b khoản 1 Điều 14 Luật BHVBQPPL hoặc Nghị định có thuộc điểm c
khoản 1 Điều 14 Luật BHVBQPPL hay không?

18
(2) Phạm vi điều chỉnh của dự thảo Nghị định chưa thực sự rõ ràng, có sự
chồng lấn với quy định pháp luật có liên quan, có thể chưa đảm bảo đúng nhiệm
vụ mà Quốc hội giao Chính phủ nghiên cứu xây dựng tại Nghị quyết số
109/2023/QH15.
(3) Phần lớn nội dung của dự thảo Nghị định là tương đồng, nhắc lại quy
định của Nghị định số 31/2018/NĐ-CP. Do đó, trong bối cảnh dự thảo Nghị
định thay thế Nghị định số 31/2018/NĐ-CP đang được soạn thảo, đề nghị cân
nhắc đến phương án mở rộng phạm vi dự thảo này hoặc có cách thức thiết kế
hợp lý để đảm bảo tính đồng bộ của pháp luật. Bên cạnh đó, từng điều khoản
của dự thảo Nghị định đều có những nội dung cần được nghiên cứu, chỉnh sửa
do chưa đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật và chưa đảm
bảo tính khả thi. Đồng thời, đảm bảo không phân biệt 02 hệ thống (theo dự thảo
Nghị định và theo Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định số 31/2018/NĐ-
CP). Ngoài ra, dự thảo Nghị định chưa làm rõ xử lý cơ chế “hậu kiểm” như thế
nào? nếu hưởng “ưu đãi” thì xử lý như thế nào?
(4) Tài liệu tại hồ sơ chưa đảm bảo yêu cầu về chất lượng, trong đó (i)
Bản so sánh, thuyết minh nội dung dự thảo Nghị định không nêu các quy định
pháp luật có liên quan đến dự thảo Nghị định (theo từng điều khoản), nội dung
thuyết minh còn sơ sài, (ii) Phụ lục kèm theo Báo cáo số 150/BC-BCT (nội dung
rà soát chủ trương đường lối của Đảng, Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam là thành viên còn thiếu thông tin); (iii) Dự thảo Tờ trình chưa
phân tích rõ cơ sở chính trị, pháp lý của việc xây dựng, ban hành Nghị định,
chưa đánh giá nguồn lực thực hiện.
Từ các nội dung nêu trên, Hội đồng thẩm định và Bộ Tư pháp chưa có đủ
thông tin, cơ sở để đánh giá từng tiêu chí theo 6 tiêu chí thẩm định dự thảo văn
bản quy phạm pháp luật quy định tại khoản 7 Điều 28 Nghị định số
78/2025/NĐ-CP, trong đó có những tiêu chí quan trọng như: (i) Sự cần thiết ban
hành văn bản, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của văn bản; (ii) Sự phù
hợp của nội dung dự thảo văn bản với chủ trương, đường lối của Đảng; (iii) Tính
hợp pháp và tính thống nhất với hệ thống pháp luật của dự thảo; (iv) Tính tương
thích với điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên, nguồn lực thực hiện.
Từ các lý do nêu trên, Hội đồng thẩm định và Bộ Tư pháp thấy rằng dự thảo
Nghị định chưa đủ điều kiện trình Chính phủ
22
. Đề nghị Bộ Công Thương nghiên
cứu, tiếp thu chỉnh lý dự thảo Nghị định và gửi hồ sơ dự thảo Nghị định đến Bộ Tư
pháp để thẩm định lại.
22
13/16 Thành viên Hội đồng thẩm định có mặt, trong tổng số 19 Thành viên Hội đồng thẩm định (theo Quyết
định số 903/QĐ-BTP) bỏ phiếu đánh giá dự thảo Nghị định chưa đủ điều kiện trình Chính phủ.
19
Trên đây là báo cáo thẩm định của Bộ Tư pháp đối với dự thảo Nghị định
quy định tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong
nước, xin gửi Bộ Công Thương./.
Nơi nhận:
- Như trên;
- Văn phòng Chính phủ (để phối hợp);
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Vụ CTXDVBQPPL (để biết và đăng tải);
- Lưu: VT, PLDSKT (DSTM&KHCN, lttnga)
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Thanh Tú
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!
Hồ sơ dự án
Hồ sơ dự án tổng hợp toàn bộ tài liệu liên quan đến quá trình xây dựng Dự thảo đang xem.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Hồ sơ dự án
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Dự thảo Nghị định quy định tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài
phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.