• Tổng quan
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung hợp nhất 

    Tính năng này chỉ có tại LuatVietnam.vn. Nội dung hợp nhất tổng hợp lại tất cả các quy định còn hiệu lực của văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính... trên một trang. Việc hợp nhất văn bản gốc và những văn bản, Thông tư, Nghị định hướng dẫn khác không làm thay đổi thứ tự điều khoản, nội dung.

    Khách hàng chỉ cần xem Nội dung hợp nhất là có thể nắm bắt toàn bộ quy định hiện hành đang áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

    =>> Xem hướng dẫn chi tiết cách sử dụng Nội dung hợp nhất

  • Tải về
Lưu
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Theo dõi VB
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Ghi chú
Báo lỗi
In

Quyết định 2284/QĐ-UBND Thanh Hóa 2026 Đề án thu gom, vận chuyển xử lý chất thải rắn sinh hoạt

Ngày cập nhật: Thứ Tư, 21/10/2026 15:57 (GMT+7)
Cơ quan ban hành: Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa
Số công báo:
Số công báo là mã số ấn phẩm được đăng chính thức trên ấn phẩm thông tin của Nhà nước. Mã số này do Chính phủ thống nhất quản lý.
Đang cập nhật
Số hiệu: 2284/QĐ-UBND Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Quyết định Người ký: Cao Văn Cường
Trích yếu: Về việc ban hành Đề án thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2026 - 2030
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
28/07/2026
Ngày hết hiệu lực:
Ngày hết hiệu lực là ngày, tháng, năm văn bản chính thức không còn hiệu lực (áp dụng).
Đang cập nhật
Ngày áp dụng:
Ngày áp dụng là ngày, tháng, năm văn bản chính thức có hiệu lực (áp dụng).
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Lĩnh vực: Tài nguyên-Môi trường

TÓM TẮT QUYẾT ĐỊNH 2284/QĐ-UBND

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải Quyết định 2284/QĐ-UBND

Tải văn bản tiếng Việt (.pdf) Quyết định 2284/QĐ-UBND PDF (Bản có dấu đỏ)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA
Số: /QĐ-UBND
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Thanh Hóa, ngày tháng năm 2026
QUYẾT ĐỊNH
Về việc ban hành Đề án thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn
sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2026 - 2030
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16/6/2025;
Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường ngày 17/11/2020;
Căn cứ Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của 15 Luật trong lĩnh vực nông
nghiệp và môi trường ngày 10/12/2025;
Căn cứ Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 của Thủ tướng Chính
phủ về việc phê duyệt điều chỉnh Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất
thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050;
Căn cứ Chỉ thị số 41/CT-TTg ngày 01/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ
về một số giải pháp cấp bách tăng cường quản lý chất thải rắn;
Căn cứ Quyết định số 450/QĐ-TTg ngày 13/4/2022 của Thủ tướng Chính
phủ về việc phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2030,
tầm nhìn đến năm 2050;
Căn cứ các Nghị định của Chính phủ: Số 08/2022/NĐ-CP ngày
10/01/2022 quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; số
05/2025/NĐ-CP ngày 06/01/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
08/2022/NĐ-CP ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ quy định chi tiết
một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; số 48/2026/NĐ-CP ngày 29/01/2026
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10 tháng
01 năm 2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi
trường được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 05/2025/NĐ-CP ngày 06 tháng
01 năm 2025;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tại Tờ trình số
1198/TTr-SNNMT ngày 25/7/2026.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Đề án thu gom, vận chuyển và
xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2026 - 2030.
2284
28 7
2
Điều 2. Tổ chức thực hiện
1. Giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, đôn đốc, đánh giá kết quả
thực hiện Đề án.
2. Các sở, ban, ngành và các cơ quan liên quan căn cứ chức năng, nhiệm
vụ và nội dung được giao trong Đề án chủ động thực hiện các nội dung được
phân công đảm bảo theo lộ trình của Đề án.
3. Giao UBND các xã, phường:
- Xây dựng kế hoạch chi tiết triển khai các nội dung, nhiệm vụ thuộc trách
nhiệm mình và chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc các đơn vị liên quan để tổ chức thực
hiện các nội dung theo Đề án được ban hành.
- Báo cáo kết quả thực hiện với Sở Nông nghiệp và Môi trường theo yêu
cầu để tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh theo quy định.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc các sở, ban, ngành,
đơn vị cấp tỉnh; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các xã, phường, Thủ trưởng các cơ
quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết
định này./.
Nơi nhận:
- Như Điều 3 QĐ;
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường
- Thường trực: Tỉnh uỷ, HĐND tỉnh (để b/c);
- Chủ tịch UBND tỉnh
- Các PCT UBND tỉnh
- Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh;
- Chánh Văn phòng, các PCVP UBND tỉnh;
- Lưu: VT, NNMT.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Cao Văn Cường
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐỀ ÁN
Thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn
tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2026 - 2030
(Ban hành kèm theo Quyết định số /QĐ-UBND ngày tháng năm 2026
của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa)
PHẦN I
SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH ĐỀ ÁN
I. CĂN CỨ PHÁP LÝ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1. Các văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Trung ương
- Luật Bảo vệ môi trường ngày 17/11/2020.
- Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 Luật trong lĩnh vực nông
nghiệp và môi trường ngày 10/12/2025.
- Luật Giá ngày 19/6/2023.
- Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giá ngày 10/12/2025.
- Các Nghị định của Chính phủ: Số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 quy
định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; số 05/2025/NĐ-CP ngày
06/01/2025 bổ sung, sửa đổi một số điều của Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày
10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi
trường; số 48/2026/NĐ-CP ngày 29/01/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 05/2025/NĐ-CP ngày 06/01/2025 của Chính phủ bổ sung, sửa đổi
một số điều của Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ
quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
- Các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Số 491/QĐ-TTg ngày
07/5/2018 về việc phê duyệt điều chỉnh Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp
chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050; số 450/QĐ-TTg ngày
13/4/2022 về việc phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm
2030, tầm nhìn đến năm 2050; số 153/QĐ-TTg ngày 27/02/2023 phê duyệt Quy
hoạch tỉnh Thanh Hóa thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045; số 611/QĐ-
TTg ngày 08/07/2024 phê duyệt Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia thời kỳ
2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; số 929/QĐ-TTg ngày 31/8/2024 về việc
ban hành Kế hoạch thực hiện Quy hoạch tỉnh Thanh Hóa thời kỳ 2021 - 2030,
tầm nhìn đến năm 2045.
- Các Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ: Số 41/CT-TTg ngày 01/12/2020
về một số giải pháp cấp bách tăng cường quản lý chất thải rắn; số 33/CT-TTg
ngày 20/8/2020 về tăng cường quản lý, tái sử dụng, tái chế, xử lý và giảm thiểu
2
chất thải nhựa; số 20/CT-TTg ngày 12/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ về một số
nhiệm vụ cấp bách, quyết liệt ngăn chặn, giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường.
- Các Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ
Nông nghiệp và Môi trường): Số 02/2022/TT-BTNMT ngày 10/01/2022 quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; số 07/2025/TT-
BTNMT ngày 28/02/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số
02/2022/TT-BTNMT ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
số 35/2024/TT-BTNMT ngày 19/12/2024 về việc ban hành quy trình kỹ thuật
thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt; số 36/2024/TT-BTNMT
ngày 20/12/2024 về việc ban hành định mức thu gom, vận chuyển, xử lý chất
thải rắn sinh hoạt.
- Thông tư số 09/2026/TT-BNNMT ngày 29/01/2026 của Bộ trưởng Bộ
Nông nghiệp và Môi trường sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số
02/2022/TT-BTNMT ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường
được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 07/2025/TT-BTNMT ngày 28 tháng 02
năm 2025 và Thông tư số 07/2025/TT-BNNMT ngày 16 tháng 6 năm 2025.
- Quyết định số 1062/QĐ-BTNMT ngày 19/4/2024 của Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về việc ban hành
Kế hoạch triển khai thực hiện các quy định về quản lý CTRSH theo quy định tại
Luật Bảo vệ môi trường.
- Quyết định số 2616/QĐ-BNNMT ngày 09/7/2025 của Bộ trưởng Bộ
Nông nghiệp và Môi trường về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Quy hoạch
bảo vệ môi trường quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
- Quyết định số 592/QĐ-BXD ngày 30/5/2014 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng
công bố định mức dự toán thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn đô thị.
- Công văn số 1760/BNNMT-MT ngày 06/5/2025 của Bộ Nông nghiệp và
Môi trường về việc hướng dẫn mô hình xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại đô thị và
nông thôn.
2. Các văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của địa phương
- Nghị quyết số 17/2026/NQ-HĐND ngày 17/7/2026 của Hội đồng nhân
dân tỉnh Thanh Hóa về việc ban hành chính sách phát triển nông nghiệp và môi
trường trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2026 - 2030.
- Các Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh: Số 21/2019/QĐ-UBND ngày
04/7/2019 về việc ban hành quy định mức giá tối đa dịch vụ thu gom, vận
chuyển và xử lý CTRSH trên địa bàn tỉnh; số 13/2022/QĐ-UBND ngày
02/3/2022 về việc ban hành Quy định chi tiết quản lý CTRSH của hộ gia đình,
cá nhân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; số 732/QĐ-UBND ngày 16/3/2026 bãi bỏ
một phần nội dung quy định chi tiết về quản lý CTRSH của hộ gia đình, cá nhân
trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá ban hành kèm theo Quyết định số 13/2022/QĐ-
3
UBND ngày 02/3/2022 của UBND tỉnh; số 47/2026/QĐ-UBND ngày 16/6/2026
ban hành quy định tuyến đường và thời gian vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt,
chất thải rắn công nghiệp thông thường, chất thải rắn nguy hại trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa; số 22/2026/QĐ-UBND ngày 20/3/2026 về việc Quy định định mức
kinh tế - kỹ thuật dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, vệ
sinh công cộng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
- Các Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh: Số 177/KH-UBND ngày
25/8/2025 về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 12/7/2025 của
Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ cấp bách, quyết liệt ngăn chặn, giải
quyết tình trạng ô nhiễm môi trường; số 144/KH-UBND ngày 06/8/2018 thực
hiện Chiến lược quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm
2050 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
- Quyết định số 1592/QĐ-UBND ngày 01/6/2026 của Chủ tịch UBND
tỉnh về việc ban hành quy chế điều phối công tác vận chuyển và xử lý chất thải
rắn sinh hoạt khi một trong các khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt tập trung trên
địa bàn tỉnh phải dừng hoặc tạm dừng tiếp nhận chất thải rắn sinh hoạt.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1. Đặc điểm tình hình
Thanh Hoá có diện tích tự nhiên 11.114,71 km
2
, đứng thứ 12/34 tỉnh,
thành (trước sáp nhập đứng thứ 5). Tỉnh Thanh Hóa có số đơn vị hành chính
nhiều thứ hai cả nước với 166 phường, xã, gồm: 19 phường, 147 xã. Tốc độ
tăng dân số của tỉnh giai đoạn 2021- 2025 duy trì ở mức dưới 1%, đạt mục tiêu
Quy hoạch tỉnh và thấp hơn mức bình quân cả nước (0,95% năm 2025). Năm
2025, dân số tỉnh là 3,786 triệu người, đứng thứ 8 cả nước, tốc độ tăng dân số
ước đạt 0,66%.
Trong những năm qua, tỉnh Thanh Hóa đã có sự phát triển về kinh tế xã
hội ngày càng tích cực; đời sống của Nhân dân ngày một được cải thiện hơn.
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, nhu cầu của người dân về lương thực, thực
phẩm, hàng hóa tiêu dùng phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày ngày một tăng cao,
kéo theo lượng chất thải sinh hoạt ngày càng lớn và đa dạng về chủng loại, trong
khi công tác phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt (sau
đây viết tắt là “CTRSH”) mặc dù có sự quan tâm và chuyển biến nhưng vẫn
chưa đáp ứng được yêu cầu, dẫn đến vẫn còn tình trạng ô nhiễm môi trường gây
bức xúc trong Nhân dân, một số vụ việc gây mất an ninh trật tự xã hội đã xảy ra
có liên quan đến công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH.
Đặc biệt, sau dịp Tết nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 vừa qua, công tác xử
lý CTRSH gặp nhiều khó khăn, CTRSH chậm được thu gom, xử lý dẫn đến tình
trạng ùn ứ nhiều ngày tại các điểm tập kết nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, mất
an ninh trật tự và mất mỹ quan đô thị. Mặc dù đến nay, tình trạng trên cơ bản đã
được khắc phục tuy nhiên do các nhà máy xử lý CTRSH trọng điểm chưa đi vào
hoạt động trong khi các bãi chôn lấp CTRSH đã bị quá tải nên nguy cơ ách tắc
4
trong công tác xử lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) trên địa bàn tỉnh vẫn còn rất
lớn, đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ và triệt để trong thời gian tới.
2. Thực trạng phát sinh, phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất
thải rắn sinh hoạt
2.1. Thực trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt CTRSH
Trên cơ sở kết quả thực hiện của UBND các xã, phường, ước tính tổng
lượng CTRSH phát sinh trong năm 2025 là 920.178,25 tấn (tương đương
2.521,04 tấn/ngày). Lượng CTRSH phát sinh có sự khác biệt rõ rệt giữa các khu
vực đô thị và nông thôn. Tại khu vực đô thị, mức phát sinh trung bình: khoảng
1,2 kg/người/ngày (chủ yếu tập trung tại các trung tâm đô thị và khu vực phát
triển dịch vụ, du lịch). Một số địa phương có lượng CTRSH phát sinh cao như:
Phường Hạc Thành (khoảng 187 tấn/ngày); phường Sầm Sơn (khoảng 99,87
tấn/ngày); phường Quảng Phú (khoảng 62 tấn/ngày). Đây là các khu vực có mật
độ dân cư cao, hoạt động thương mại - dịch vụ phát triển mạnh nên lượng
CTRSH phát sinh lớn. Khu vực nông thôn, mức phát sinh trung bình khoảng 0,5
kg/người/ngày đến 0,8 kg/người/ngày; lượng CTRSH phát sinh thấp hơn nhiều
so với khu vực đô thị, điển hình: Nông Cống (khoảng 30 tấn/ngày); Hoằng Hóa
(khoảng 27 tấn/ngày); Mường Lát (khoảng 2,38 tấn/ngày); Pù Nhi (khoảng 2,07
tấn/ngày); Mường Lý (khoảng 2,06 tấn/ngày).
CTRSH có thành phần đa dạng, không đồng nhất giữa các khu vực do phụ
thuộc vào mức sống của người dân và sự phát triển của mỗi vùng, khu vực. Các
nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy CTRSH thường có tỷ lệ như sau:
- Đối với nhóm chất thải hữu cơ chiếm khoảng 65% - 70%: Một phần
được phân loại để tận dụng làm thức ăn chăn nuôi hoặc phân bón cho cây trồng
(chủ yếu tại các hộ gia đình nông thôn và các cửa hàng kinh doanh ăn uống),
phần còn lại vẫn thu gom cùng với nhóm chất thải rắn sinh hoạt khác.
- Đối với nhóm chất thải có khả năng tái sử dụng, tái chế chiếm 30%:
Hiện chỉ được phân loại một phần đối với các loại chất thải như: nhựa thải, kim
loại thải, giấy thải, thiết bị điện, điện tử, đồ vải để tái sử dụng hoặc bán phế liệu.
Đối với các loại chất thải như thủy tinh thải, đồ gỗ, cao su hầu như chưa được
phân loại mà để chung cùng với chất thải rắn sinh hoạt khác.
- Đối với nhóm chất thải rắn sinh hoạt khác (CTRSH vô cơ như thuỷ tinh,
kim loại, … chiếm 7% - 10% và CTRSH nguy hại chiếm 1% - 2%): Việc phân
loại, thu gom, xử lý chất thải nguy hại chưa được quan tâm thực hiện đúng mức.
Đối với chất thải vô cơ cồng kềnh, một phần được các tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân tháo dỡ để tái chế và xử lý, một phần không được tháo dỡ hoặc tháo dỡ
không hoàn toàn sau đó vứt bỏ tại các khu vực trống, vắng, gây mất mỹ quan.
2.2. Công tác phân loại
Tại khu vực đô thị, phần lớn, các hộ dân thực hiện việc phân loại CTRSH
thành 02 nhóm: (i) Chất thải rắn có khả năng tái chế, tái sử dụng (nhựa, sắt,
thép, giấy báo,…) và (ii) chất thải rắn còn lại (chất thải thực phẩm, chất thải rắn
5
sinh hoạt khác). Phần chất thải rắn có khả năng tái chế, tái sử dụng được các hộ
thu gom, bán phế liệu; phần chất thải rắn còn lại được đơn vị có chức năng trên
địa bàn thu gom, vận chuyển xử lý theo quy định; chỉ một bộ phận nhỏ các hộ có
diện tích đất vườn trồng cây tận dụng một phần CTRSH hữu cơ làm phân bón.
Việc phân loại CTRSH nguy hại cũng đã được người dân quan tâm, thu gom
vào các chai, hộp nhựa và lưu giữ tại góc kín trong nhà.
Tại khu vực nông thôn, việc thu gom và phân loại CTRSH tại nguồn đã
được các địa phương quan tâm, tập trung chỉ đạo với nhiều giải pháp đồng bộ,
như: (i) Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động đến các hộ dân (người dân
nâng cao ý thức và chủ động thực hiện); (ii) Triển khai và nhân rộng một số mô
hình về phân loại rác, tăng cường tái chế, tái sử dụng, giảm thiểu CTRSH; (iii)
Chất thải rắn có khả năng tái sử dụng, tái chế được thu gom và bán cho đơn vị
thu gom phế liệu; Các loại chất thải rắn còn lại được hợp đồng với đơn vị có
chức năng thu gom vận chuyển xử lý theo quy định. Đối với chất thải rắn sinh
hoạt tại các khu vực vùng sâu, vùng xa và những khu vực chưa có đơn vị cung
cấp dịch vụ thu gom CTRSH, phần lớn được phân loại và xử lý trong khuôn
viên gia đình bằng hình thức đốt hoặc chôn lấp theo hướng dẫn.
Tuy nhiên, hiện nay phân loại CTRSH tại nguồn mới chỉ được thực hiện
tại một số địa phương và mang tính khuyến khích, chưa có tính cưỡng chế bắt
buộc. Nhiều địa phương thực hiện thí điểm đang nhân rộng mô hình nhưng chưa
nhận được nhiều sự ủng hộ của người dân. Mặt khác, các địa phương chưa có
thiết bị, phương tiện thu gom riêng đối với từng loại chất thải được phân loại,
hầu hết chất thải được vận chuyển chung với các thiết bị, phương tiện khác. Do
đó, việc phân loại tại nguồn chưa đạt được kết quả cao.
2.3. Công tác thu gom CTRSH
- Tỷ lệ thu gom và xử lý CTRSH toàn tỉnh đã có những chuyển biến tích
cực qua từng năm. Tỷ lệ thu gom tăng dần qua các năm: Năm 2021 đạt 88,99%;
năm 2022 đạt 89,02%; năm 2023 đạt 91,80%; năm 2024 đạt 91,20%; năm 2025
đạt mức cao nhất là 93,68%; qua đó tiến gần đến các mục tiêu chiến lược của tỉnh.
- Khu vực đô thị (các phường) là khu vực có tỷ lệ thu gom bình quân cao
nhất toàn tỉnh. Hầu hết các phường như: Hạc Thành, Quảng Phú, Đông Quang,
Hàm Rồng đều đạt 99,00%; các phường khác như: Sầm Sơn đạt 95%, Bỉm Sơn
đạt 97%, Nghi Sơn đạt 94% cũng duy trì mức thu gom rất tốt.
- Khu vực nông thôn tỷ lệ thu gom thường dao động ổn định từ 90% đến
98%, một số xã điển hình như: Hoằng Hoá đạt 98%, Thiệu Hoá đạt 96%, Yên
Định đạt 98%.
- Khu vực miền núi: Đây là khu vực có tỷ lệ thu gom CTRSH thấp nhất,
thường chỉ dao động từ 70% đến 82%; một số xã có tỷ lệ thấp tiêu biểu: Mường
Chanh đạt 71%, Tam Chung đạt 70%, Mường Lý đạt 70%, Nhi Sơn đạt 70%.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn có một số xã có tỷ lệ thu gom đạt mức khá, như Bá
Thước đạt 80,47% hay Ngọc Lặc đạt 86,79%.
6
Có thể thấy hệ thống thu gom ngày càng hiệu quả, tỷ lệ thu gom chung
tăng thêm gần 5% trong vòng 5 năm qua. Khu vực đô thị và đồng bằng đã hình
thành được mạng lưới thu gom rất chuyên nghiệp với độ bao phủ gần như hoàn
toàn. Tuy nhiên, khoảng cách giữa đô thị (99%) và miền núi (70%) vẫn còn rất
lớn (chênh lệch gần 30%). Một số xã như Xuân Thái đạt 62,75% hay Vạn Xuân
đạt 67% vẫn là những “vùng lõm” về dịch vụ thu gom CTRSH cần được quan
tâm đầu tư hạ tầng trong giai đoạn tới.
2.4. Năng lực thu gom, vận chuyển CTRSH
- Đơn vị cung ứng dịch vụ thu gom, vận chuyển CTRSH: Toàn tỉnh hiện
có 39 công ty, 24 hợp tác xã, 91 tổ dịch vụ và 03 hộ gia đình nhận khoán tham
gia công tác thu gom, vận chuyển CTRSH với khoảng 4.000 phương tiện thực
hiện thu gom, vận chuyển CTRSH. Các phương tiện phục vụ thu gom, vận
chuyển CTRSH tương đối đa dạng từ thủ công, thô sơ đến cơ giới như xe ép rác
chuyên dụng, ô tô tải, xe thùng, xe ba bánh ... Các cơ sở hoạt động theo mô hình
Công ty cổ phần, Công ty TNHH theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật
Hợp tác xã và theo cơ chế xã hội hóa.
- Phương tiện thu gom, vận chuyển CTRSH: CTRSH thông thường trên
địa bàn tỉnh được thu gom, vận chuyển bằng các phương tiện xe chở rác chuyên
dụng, xe ô tô tải, xe đẩy tay. Tại khu vực đô thị mới có các phương tiện chuyên
dụng như các thùng chứa CTRSH, các xe chuyên dụng chở CTRSH được các
Công ty môi trường đô thị sử dụng, còn tại các vùng nông thôn thường không có
các phương tiện vận chuyển chuyên dụng. Phương tiện thu gom rác gồm các
loại: Xe đẩy tay, xe gom rác cải tiến... Phương tiện vận chuyển rác gồm các loại
xe: Xe ép rác, ô tô tải, xe công nông, xe tự chế, xe ba bánh, xe kéo,... Hiện nay,
số lượng xe được trang bị chưa đáp ứng nhu cầu nên một số địa phương vẫn sử
dụng xe tải loại nhỏ, xe công nông, xe kéo hoặc các phương tiện thô sơ khác.
Việc thu gom vận chuyển được thực hiện khác nhau giữa đô thị và nông thôn,
giữa các địa phương.
+ Tại các phường/khu vực đô thị, CTRSH phát sinh tại các hộ gia đình
thông thường được các đơn vị thu gom theo giờ nhất định. Các Công ty môi
trường đô thị, đơn vị thu gom dùng xe đẩy tay hở (loại 0,4 m
3
đến 0,6 m
3
) vận
chuyển đến các điểm tập kết hoặc điểm trung chuyển; chất thải rắn từ xe đẩy tay
(tại các điểm tập kết, điểm trung chuyển ...) được đưa lên xe ép rác tải trọng 3,5
tấn đến 9,5 tấn rồi vận chuyển đến khu xử lý tập trung.
+ Tại các xã/khu vực nông thôn, nhiều địa phương có các tổ tự quản, hội
phụ nữ, hội cựu chiến binh thu gom chất thải theo tần suất nhất định và chuyển
đến điểm tập kết để các công ty môi trường vận chuyển về cơ sở xử lý; tuy nhiên
nhiều trường hợp không được thu gom dẫn đến việc hình thành các bãi rác tạm
gây ô nhiễm môi trường tại các khu vực nông thôn.
- Lao động tham gia thu gom, vận chuyển: Theo thống kê có khoảng
1.000 lao động trực tiếp tham gia hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH
thông thường. Trong đó, chủ yếu ở các Công ty: Công ty cổ phần Môi trường và
Công trình đô thị Thanh Hóa (khoảng 200 lao động, lương gồm BHXH từ 9
7
triệu/tháng đến 15 triệu/tháng); Công ty cổ phần Môi trường và Công trình đô
thị Bỉm Sơn (khoảng 110 lao động, lương gồm BHXH từ 10 triệu/tháng đến 12
triệu/tháng); Công ty cổ phần Môi trường Nghi Sơn (khoảng 93 lao động, lương
gồm BHXH từ 11 triệu/tháng đến 16 triệu/tháng). Các doanh nghiệp thu gom,
vận chuyển có khoảng 10 đến 20 người, lương gồm BHXH từ 10 triệu/tháng đến
12 triệu/tháng; còn lại các hợp tác xã, tổ vệ sinh môi trường ở xã có số lao động
khoảng 3 đến 5 người/đơn vị tuỳ từng địa phương. Thu nhập của lao động thực
hiện thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH đã được quan tâm tăng so với nhiều
năm trước tuy nhiên vẫn còn thấp so với mặt bằng chung hiện nay. Tại các hợp
tác xã, dịch vụ vệ sinh mức thu nhập thấp hơn nhiều (dao động khoảng 5
triệu/người/tháng đến 7 triệu/người/tháng) do gặp nhiều khó khăn khác nhau
trong quá trình thu gom; chi phí bố trí cho công tác thu gom, vận chuyển của các
xã thấp. Đô thị thì tần suất thu gom ngày 1 đến 2 lần, còn khu vực nông thôn, ở
các địa phương có diện tích nhỏ tần suất thu gom 1 đến 2 ngày/lần; địa phương
có diện tích rộng, phương tiện thiếu thì tần suất thu gom khoảng 3 đến 5
ngày/lần, thậm chí khoảng 1 tuần/lần.
2.5. Hạ tầng thu gom CTRSH
Theo số liệu tổng hợp tại các xã, phường, tổng số điểm tập kết rác hiện
nay khoảng 377 điểm với tổng diện tích khoảng 347.700 m². Mạng lưới điểm tập
kết đã được hình thành tại hầu hết các xã/phường; quy mô diện tích tương đối
phân tán, phần lớn điểm tập kết có diện tích nhỏ hoặc trung bình, phù hợp với
mô hình thu gom rác nông thôn. Hệ thống điểm tập kết CTRSH thông thường có
sự chênh lệch rất lớn về quy mô diện tích tùy thuộc vào chức năng và địa điểm.
Các khu vực có diện tích lớn thường đóng vai trò là bãi rác hoặc khu xử lý liên
xã như xã Mường Mìn (5.000 m
2
), xã Yên Định (23.000 m
2
) ... Các điểm tập kết
nhỏ (dưới 200 m
2
) phổ biến tại các khu vực đô thị như phường Nguyệt Viên,
Đông Quang và Quảng Phú... Các điểm này thường nằm rải rác trên các trục
đường (như đường Thanh Chương, Trịnh Kiểm) hoặc vỉa hè chợ để thuận tiện
cho việc thu gom hàng ngày.
Mức độ đầu tư hạ tầng: Một số điểm đã được xây tường bao và nền bê
tông, nhưng vẫn còn nhiều nơi chỉ là bãi đất trống chưa được đầu tư hạng mục
che chắn hay ngăn cách với khu vực xung quanh. Khoảng cách từ các điểm tập
kết đến khu xử lý tập trung có sự dao động rất lớn, gây áp lực khác nhau lên chi
phí vận chuyển.
Nhìn chung, hệ thống hạ tầng thu gom và trung chuyển CTRSH trên địa
bàn tỉnh đã được hình thành tương đối rộng, mạng lưới này cơ bản đáp ứng nhu
cầu trước mắt và góp phần nâng tỷ lệ thu gom chất thải rắn của tỉnh lên trên
90%. Tuy nhiên, chất lượng hạ tầng còn hạn chế, phần lớn các điểm tập kết là
bãi tập kết tạm, chưa được đầu tư đồng bộ về nền bãi, mái che, hệ thống thu gom
nước rỉ rác và thiết bị vận hành. Khoảng cách từ điểm tập kết đến các khu xử lý
tập trung còn khá xa, đặc biệt tại các khu vực miền núi, dẫn đến chi phí vận
chuyển cao và giảm hiệu quả công tác thu gom, vận chuyển chất thải. Trong khi
đó, mức phí vệ sinh môi trường (giá dịch vụ thu gom, vận chuyển) thu từ các hộ
8
gia đình hiện nay mới chỉ chi trả được một phần cho hoạt động thu gom chất
thải, không đủ để chi trả cũng như duy trì cho hoạt động vận chuyển. Ngoài ra,
năng lực vận chuyển của một số địa phương còn hạn chế, phương tiện vận
chuyển còn gây rò rỉ, rơi vãi chất thải trong quá trình vận chuyển.
2.6. Công tác xử lý CTRSH
2.6.1. Hoạt động xử lý chất thải rắn sinh hoạt
Trong giai đoạn 2021 - 2025, tỷ lệ thu gom và xử lý chung đã được nâng
cao đáng kể từ 88,99% lên 93,68%. Cơ cấu công nghệ xử lý CTRSH tại tỉnh
Thanh Hoá đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ phương pháp chôn lấp sang tái
chế và làm mùn vi sinh, trong khi công nghệ đốt duy trì ở mức ổn định.
Xử lý bằng công nghệ chôn lấp có xu hướng giảm mạnh, đây là thay đổi
tích cực nhất trong cơ cấu xử lý chất thải của tỉnh. Tỷ lệ giảm liên tục từ mức
chiếm ưu thế tuyệt đối là 71,97% vào năm 2021, tỷ lệ chôn lấp đã giảm dần qua
các năm (71% năm 2022; 68% năm 2023; 62,6% năm 2024) và xuống còn
49,58% tổng khối lượng vào năm 2025. Việc giảm hơn 22% tỷ lệ chôn lấp trong
vòng 5 năm cho thấy sự nỗ lực của tỉnh trong việc giảm thiểu ô nhiễm đất và tiết
kiệm tài nguyên quỹ đất, phù hợp với định hướng hạn chế tối đa việc chôn lấp
trực tiếp đã đặt ra trong các đề án trước đó.
Xử lý bằng giải pháp tái chế và làm mùn vi sinh có sự đột phá, đóng vai
trò là động lực chính thay thế cho việc chôn lấp. Từ mức khởi điểm rất thấp là
0,40% năm 2021, tỷ lệ này đã tăng lên 23,72% vào năm 2025. Tỷ lệ này bắt đầu
tăng nhanh từ năm 2024 (12%) và đạt mức gần 1/4 tổng lượng rác được xử lý
vào năm 2025. Sự chuyển dịch tỷ lệ xử lý này chứng tỏ hiệu quả của việc triển
khai các chương trình phân loại rác tại nguồn đang đi đúng hướng.
Xử lý bằng công nghệ đốt duy trì ổn định, không có sự biến động lớn,
luôn duy trì trong khoảng từ 25,40% đến 27,63%. Năm 2021 đạt 27,63%, giảm
nhẹ vào năm 2024 (25,40%) và đạt 26,70% vào năm 2025. Công nghệ đốt hiện
đóng vai trò là phương pháp bổ trợ quan trọng, xử lý khoảng hơn 1/4 tổng lượng
rác thu gom, giúp tiêu hủy nhanh và giảm thể tích CTRSH đáng kể.
2.6.2. Hạ tầng và công nghệ xử lý CTRSH
a) Xử lý bằng phương pháp chôn lấp
Trên địa bàn tỉnh có 21 khu chôn lấp tập trung quy mô cấp huyện trước
đây. Các khu chôn lấp này được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách tỉnh và ngân
sách huyện. Hiện nay, có 4 khu đã dừng tiếp nhận rác và 17 khu đang hoạt động
(trong đó, 03/17 khu chuyển đổi công nghệ sang hình thức không chôn lấp trực
tiếp, 08/17 khu chưa quá tải đang tiếp nhận rác, 06/17 khu đã quá tải). Ngoài ra,
còn có khoảng hơn 92 khu chôn lấp CTRSH cấp xã (quy mô nhỏ) hoặc tự phát
(trong đó có 46 khu chôn lấp quá tải).
Tổng diện tích của 21 khu chôn lấp là 59,92 ha, tổng lượng rác đang lưu
chứa gần 4 triệu tấn. Trong đó, diện tích 17 khu chôn lấp đang hoạt động hiện
nay là 40,02 ha, lượng rác hiện tại đang lưu chứa 2,26 triệu tấn rác; các khu
9
chôn lấp hiện đang tiếp nhận trung bình 591 tấn/ngày, chiếm khoảng 25% lượng
rác của toàn tỉnh. Ngoài các khu chôn lấp CTRSH tập trung, còn 92 khu chôn
lấp CTRSH nhỏ lẻ ở các xã với tổng công suất xử lý 597,86 tấn/ngày. Tổng
lượng rác xử lý bằng biện pháp chôn lấp trên địa bàn tỉnh là 1.170,86 tấn/ngày
(chiếm 49,58% tống khối lượng CTRSH được xử lý).
Hiện nay tại các bãi rác quy mô lớn (cấp huyện trước dây) là đang trong
tình trạng quá tải hoặc gần quá tải không còn khả năng tiếp nhận CTRSH, điển
hình là: Bãi chôn lấp CTRSH phường Đông Sơn, thị xã Bỉm Sơn (nay là phường
Bỉm Sơn); Bãi chôn lấp CTRSH phường Trung Sơn, TP Sầm Sơn (nay là
phường Sầm Sơn); ...
Hoạt động xử lý rác chủ yếu là đổ đống, đầm nén, phun hóa chất diệt côn
trùng, khử mùi nên chưa được xử lý triệt để. Phần lớn các bãi chôn lấp hiện tiếp
nhận CTRSH chưa được phân loại tại nguồn, có thành phần hữu cơ cao nên tính
ổn định thấp, chiếm nhiều diện tích đất, phát sinh lượng lớn nước rỉ rác; nhiều
bãi chôn lấp không hợp vệ sinh đã và đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường và
ảnh hưởng đến sức khỏe, hoạt động sản xuất của cộng đồng xung quanh.
b) Xử lý bằng phương pháp đốt
Trên địa bàn tỉnh đã đầu tư 23 khu xử lý bằng lò đốt thủ công với tổng số
lò đốt là 24 lò, trung bình từ 10 tấn/ngày đến 20 tấn/ngày; trong đó: 07 khu xử lý
đang hoạt động với 8 lò đốt (xã Nga Thắng có 2 lò đốt) và 16 khu xử lý đã dừng
hoạt động; cụ thể như sau:
- 07 khu xử lý đang hoạt động, gồm: 05 khu xử lý tại các xã: Nga Thắng,
Hoa Lộc (thôn Giữa), Nông Cống, Xuân Giang, Định Công có thể duy trì, cải
tạo, nâng cấp các lò đốt để hoạt động nâng công suất nhằm xử lý hiệu quả
CTRSH trong thời gian chờ các khu xử lý lớn của tỉnh đi vào hoạt động; khu xử
lý tại xã Hoằng Tiến có khoảng cách khá gần với khu dân cư, đề nghị tiếp tục
duy trì cho đến khi có phương án mới; khu xử lý tại xã Hoằng Hóa thuộc quy
hoạch khu đô thị của xã, đề nghị tiếp tục duy trì cho đến khi nhà nước thu hồi
đất thực hiện dự án. Tổng công suất thiết kế 210 tấn/ngày; công suất xử lý thực
tế 192 tấn/ngày. Hiện nay có một số khu lò đốt đã được đơn vị quản lý chuyển
đổi sang mô hình ủ mùn vi sinh kết hợp phân loại rác trước khi đưa vào đốt. Mô
hình này bước đầu mang lại hiệu quả tích cực, giúp duy trì ổn định hoạt động
của lò đốt và nâng cao hiệu quả xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Điển hình như tại
xã Nông Cống và xã Nga Thắng, việc áp dụng mô hình trên cho thấy khả năng
nâng cao công suất và hiệu quả xử lý CTRSH.
- 16 khu xử lý hiện không hoạt động, gồm:
+ 03 khu xử lý không hoạt động do Cơ quan công an điều tra, làm việc,
doanh nghiệp không tiếp tục hoạt động (khu xử lý tại xã Hòa Lộc cũ (nay là xã
Hoa Lộc), hiện Công an tỉnh đang điều tra; 02 khu xử lý Doanh nghiệp không có
nguyện vọng tiếp tục hoạt động (Công ty cổ phần xây dựng môi trường xanh
sạch đẹp Thành Tâm tại xã Yên Định; Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ
môi trường tại xã Lưu Vệ).
10
+ 07 khu xử lý UBND xã đề nghị dừng hoàn toàn hoạt động (tại xã Định
Tân và xã Yên Trường, UBND xã đề nghị dừng hoạt động do quá trình hoạt
động có nhiều kiến nghị của người dân, UBND xã đã hợp đồng với Công ty Cổ
phần sản xuất và thương mại BIMIVINA xử lý CTRSH cho xã; tại xã Quảng
Bình do xung quanh quy hoạch khu hành chính và CCN; tại phường Tân Dân do
CTRSH chuyển đến Công ty Cổ phần môi trường Nghi Sơn xử lý; xã Thọ Xuân
(xã Xuân Trường và Xuân Thành trước đây) do hư hỏng không đốt được rác
ướt; xã Kim Tân chuyển sang mô hình ủ mùn vi sinh).
+ 05 khu xử lý UBND xã đề nghị cải tạo nâng cấp hoặc kêu gọi đầu tư, mở
rộng (03 khu (tại xã Yên Ninh; xã Thường Xuân; xã Xuân Bình) UBND xã đề
nghị cấp kinh phí để cải tạo, nâng cấp lò đốt; 01 khu (tại xã Triệu Lộc) UBND xã
đề xuất kêu gọi đầu tư mở rộng khu xử lý, Sở đã báo cáo đưa vào Dự thảo điều
chỉnh quy hoạch tỉnh; 01 khu (tại xã Định Bình, nay là xã Định Hoà), UBND xã
đề nghị xem xét cải tạo lò đốt và mời đơn vị xử lý theo hình thức hỗn hợp.
+ 01 lò đốt (tại xã Như Thanh) UBND xã Như Thanh và Doanh nghiệp đề
nghị được hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ để tiếp tục hoạt động.
Ngoài ra, các lò đốt quy mô lớn do các doanh nghiệp tư nhân đầu tư, vận
hành, nổi bật có 02 lò đốt của 02 doanh nghiệp tư nhân đầu tư với công suất
thiết kế 220 tấn/ngày.đêm (thực tế hoạt động 180 tấn/ngày), cụ thể:
- Khu xử lý chất thải Nghi Sơn tại xã Trường Lâm (giai đoạn 1): Lò đốt
chất thải rắn sinh hoạt với công suất 120 tấn/ngày đêm, hoạt động ổn định từ
tháng 6 năm 2021, hiện đang xử lý rác thải sinh hoạt bình thường. Ngày
08/9/2025, Công ty cổ phần Môi trường Nghi Sơn đã được UBND tỉnh chấp
thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án khu xử lý chất thải tập trung Nghi Sơn
tại Khu kinh tế Nghi Sơn tại Quyết định số 3000/QĐ-UBND công suất xử lý
chất thải rắn sinh hoạt 620 tấn/ngày gồm 01 lò đốt chất thải rắn sinh hoạt công
suất 120 tấn/ngày và 01 lò đốt rác công suất 500 tấn/ngày, phát điện 12 MW.
Hiện Công ty đang triển khai thực hiện dự án.
- Nhà máy xử lý chất thải Vĩnh Lộc: Do Công ty cổ phần sản xuất và
thương mại Bimivina đầu tư hiện có 01 lò đốt rác thải sinh hoạt chính công suất
thiết kế 100 tấn/ngày và 01 lò đốt dự phòng, công suất 50 tấn/ngày, đi vào hoạt
động từ tháng 01/2020, đang hoạt động với công suất 70 tấn/ngày đến 75
tấn/ngày phục vụ xử lý rác thải cho các xã Vĩnh Lộc, Biện Thượng, Tây Đô và
tiếp nhận rác thải của xã phụ cận (xã Định Tân, Yên Định). Công ty dự kiến tiếp
tục đầu tư 01 lò đốt rác có công suất 50 tấn/ngày để đảm bảo nhà máy vận hành
liên tục cả trong trường hợp lượng rác về nhà máy vượt quá công suất tiếp nhận.
Hiện các lò đốt quy mô lớn đang hoạt động ổn định, cơ bản đáp ứng yêu
cầu xử lý. Tuy nhiên, các lò đốt quy mô nhỏ đang gặp thách thức lớn khi nhiều
cơ sở đã dừng hoạt động do xuống cấp (Thường Xuân, Yên Trường…) hoặc gặp
rào cản về pháp lý (Yên Định, Như Thanh). Mặt khác, các lò đốt có công suất
xử lý rác nhỏ (dưới 10 tấn/ngày), được sản xuất và lắp ráp trong nước, chưa lắp
đặt đầy đủ hệ thống cấp rác tự động, điều chỉnh nhiệt độ lò đốt và hệ thống xử lý
khí thải; quá trình vận hành chủ yếu là thủ công, khó kiểm soát việc phát thải.
11
c) Xử lý bằng phương pháp ủ vi sinh, tái chế
Trong những năm gần đây, tỷ lệ CTRSH được tái chế tăng mạnh: năm
2021 tỷ lệ này chỉ ở mức không đáng kể là 0,40%; đến năm 2025, tỷ lệ này đã
tăng lên 23,72%, giảm đáng kể lượng CTRSH phải đưa đi xử lý. Đây là động
lực chính thay thế cho chôn lấp. Đặc biệt trong năm 2025, qua thống kê của các
xã, phường, việc tái chế không chỉ dừng lại ở việc tái sử dụng CTRSH mà còn
sử dụng chất thải thực phẩm làm mùn vi sinh. Tỷ lệ tái sử dụng và tái chế năm
2025 đạt 11,11% (khoảng 95.781,28 tấn/năm); tỷ lệ chất thải thực phẩm làm
mùn vi sinh đạt 12,61% (khoảng 108.717,82 tấn/năm). Tỷ lệ này có sự khác biệt
lớn giữa các khu vực, tại khu vực nông thôn tỷ lệ này cao hơn khu vực đô thị:
- Tại các phường nội thành như Hạc Thành, Quảng Phú, tỷ lệ tái chế, tái
sử dụng đạt khoảng 9,09%, trong khi đó, ở một số xã nông thôn như Nga An hay
Tân Tiến, tỷ lệ này ghi nhận mức rất cao, lên tới 52,28% - 52,30%.
- Tại các khu vực đô thị, tỷ lệ chất thải thực phẩm làm mùn vi sinh thường
dao động từ 3,03% (phường Hạc Thành) đến 5,26% (phường Sầm Sơn), một số
khu vực như xã Quảng Yên đạt tỷ lệ 10,52%. Đặc biệt, tại các địa phương đang
áp dụng công nghệ xử lý tiên tiến như thị xã Nghi Sơn (các xã Ngọc Sơn, Tân
Dân...), tỷ lệ này đạt ổn định ở mức 5,32%.
Trên địa bàn tỉnh hiện nay có 02 khu xử lý CTRSH thông thường bằng
công nghệ ủ vi sinh với công suất từ 600 tấn/ngày đến 650 tấn/ngày, cụ thể:
- Nhà máy xử lý CTRSH Đông Nam tại phường Đông Quang do Công ty
cổ phần Đầu tư và Phát triển Công nghệ môi trường Ecotech làm chủ đầu tư với
công suất 500 tấn/ngày sử dụng công nghệ hỗn hợp (sản xuất phân hữu cơ, tái
chế phế liệu, đốt, chôn lấp tro xỉ và rác trơ). Hiện nay, nhà máy mới vận hành
dây chuyền phân loại rác, ủ mùn hữu cơ cung cấp cho cơ sở sản xuất phân bón
và thu hồi nguyên liệu đốt cung cấp cho nhà máy sản xuất xi măng. Nhược điểm
của công nghệ này là chưa khống chế mùi hôi được một cách triệt để.
- Mô hình thí điểm của Công ty cổ phần Xây dựng môi trường DM “Xử lý
CTRSH bằng thiết bị tự động kết hợp với công nghệ vi sinh” tại trạm xử lý
CTRSH tại Đồi Cà, Thôn Đự, xã Kim Tân. Quy mô công suất xử lý từ 100
tấn/ngày đến 150 tấn/ngày, công nghệ là quy trình ủ men vi sinh. Rác được ủ
đống từ 30 ngày đến 45 ngày bằng men vi sinh sau đó được nạp vào hệ thống
máy phân loại tự động thành 03 dòng sản phẩm: Mùn hữu cơ, CTRSH vô cơ,
nilon, nhựa và rác hữu cơ không thể tái chế. CTRSH vô cơ đưa đi san lấp hoặc
san lấp mặt bằng; nilon và nhựa đưa đi tái chế thành hạt nhựa; mùn hữu cơ đưa
đi làm nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ phục vụ trồng trọt.
2.7. Kinh phí và chính sách hỗ trợ công tác thu gom, vận chuyển và xử
lý chất thải rắn sinh hoạt
Ngày 04/7/2019, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 21/2019/QĐ-
UBND về việc ban hành quy định về mức giá tối đa dịch vụ thu gom, vận
chuyển và xử lý CTRSH sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn
tỉnh Thanh Hóa; theo đó, giá tối đa dịch vụ thu gom, vận chuyển CTRSH (đã
12
bao gồm thuế giá trị gia tăng) áp dụng cho đối tượng hộ gia đình, cá nhân không
có hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ thu với mức giá 11.000
đồng/người/tháng; khu vực nông thôn vùng đồng bằng, trung du, ven biển thu
với mức giá 6.000 đồng/người/tháng; khu vực nông thôn miền núi khó khăn thu
với mức giá 4.000 đồng/người/tháng.
Giá dịch vụ tối đa xử lý CTRSH áp dụng cho 02 đối tượng như sau:
- Đơn vị cung cấp dịch vụ từ nguồn ngân sách tỉnh dựa trên ba nhóm công
nghệ chính gồm: Công nghệ đốt: 210.000 đồng/m³; công nghệ hỗn hợp (chế biến
phân vi sinh, tái chế kết hợp đốt): 170.000 đồng/m³; công nghệ chôn lấp hợp vệ
sinh: 70.000 đồng/m³.
- Nhà đầu tư tại khu xử lý (tính theo tấn) gồm: Xử lý bằng công nghệ đốt
với mức 480.000 đồng/tấn (thiết bị nước ngoài) và 440.000 đồng/tấn (thiết bị
trong nước); xử lý bằng công nghệ hỗn hợp: Mức giá dao động từ 300.000
đồng/tấn đến 390.000 đồng/tấn; xử lý bằng công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh:
mức giá là 140.000 đồng/tấn nếu có tính khấu hao và 130.000 đồng/tấn nếu
không tính khấu hao.
Để khuyến khích đầu tư các dự án xử lý CTRSH với công nghệ tiến tiến
hiện đại, hạn chế chôn lấp; ngày 12/12/2019, HĐND tỉnh Thanh Hóa ban hành
Nghị quyết số 236/2019/NQ-HĐND về chính sách hỗ trợ xử lý CTRSH trên địa
bàn tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2020 - 2025, sửa đổi tại Nghị quyết số 21/NQ-
HĐND ngày 21/7/2025.
Sau hơn 04 năm thực hiện, Nghị quyết đã góp phần hạn chế tình trạng ô
nhiễm môi trường do CTRSH gây ra, tỷ lệ CTRSH được thu gom xử lý tăng dần
qua các năm; đồng thời, đã giảm số lượng các bãi chôn lấp rác tạm thời và các
bãi rác ô nhiễm môi trường ở các xã.
Trong thời gian từ ngày 01/01/2020 đến ngày 15/6/2025, UBND tỉnh ban
hành các quyết định phê duyệt cấp kinh phí hỗ trợ xử lý CTRSH cho các huyện,
thị xã: Nghi Sơn, Nông Cống, Như Thanh, Yên Định, Vĩnh Lộc, Lang Chánh,
Quan Sơn, Mường Lát và thành phố Thanh Hóa (cũ) với tổng số tiền là
176.413,4 triệu đồng.
2.8. Phân tích cơ sở thực tiễn xây dựng Đề án
Thực tiễn cho thấy, nền kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hoá đang có những
biến động sâu sắc dẫn đến nhiều thách thức cấp bách về môi trường mà tỉnh phải
đối mặt trong thời gian tới.
Áp lực từ tốc độ đô thị hóa và dịch chuyển cơ cấu kinh tế đã làm tăng
đáng kể khối lượng CTRSH và sản phẩm dùng một lần khiến thành phần
CTRSH trở nên đa dạng và khó xử lý hơn; thời gian tới, lượng rác sẽ ngày càng
gia tăng tạo áp lực lớn lên hệ thống hạ tầng xử lý CTRSH đang quá tải hiện nay.
Mặc dù hệ thống thu gom của tỉnh đã đạt được những bước tiến dài khi nâng tỷ
lệ thu gom toàn tỉnh lên 93,68% vào năm 2025. Tuy nhiên, thực tế mạng lưới
này vẫn bộc lộ những bất cập mang tính hệ thống: Hạ tầng điểm tập kết yếu
13
kém, phần lớn các điểm tập kết là bãi tạm, tận dụng lề đường, vỉa hè, không
được đầu tư bài bản gây ô nhiễm thứ cấp; phương tiện thu gom chưa đồng bộ
chủ yếu vẫn sử dụng xe thô sơ trong khu vực nông thôn để vận chuyển.
Vấn đề quan trọng cấp bách đáng quan tâm nhất hiện nay là hạ tầng xử
lý CTRSH đang quá tải và xuống cấp. Hầu hết các bãi chôn lấp hiện nay đang
hết khả năng tiếp nhận, lượng rác tồn lưu lớn cùng với công nghệ xử lý lạc hậu
chủ yếu là đổ đống, phun khử mùi khiến nguy cơ ô nhiễm nguồn nước, đất là
rất lớn. Việc đầu tư dàn trải các lò đốt CTRSH quy mô nhỏ tại cấp xã trong
thời gian qua nhìn chung chưa mang lại hiệu quả như kỳ vọng, đồng thời phát
sinh nhiều bất cập trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường. Phần lớn các
công trình có công suất nhỏ, công nghệ xử lý đơn giản, chưa bảo đảm yêu cầu
kỹ thuật về nhiệt độ đốt và hệ thống xử lý khí thải, dẫn đến hiệu quả xử lý
thấp, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh ô nhiễm thứ cấp trong khi các nhà máy xử lý
rác lớn (Đông Quang, Bỉm Sơn) triển khai chậm hơn so với nhu cầu thực tế
cho thấy sự mong manh của hệ thống quản lý hiện tại. Tình trạng phát sinh rác
tăng đột biến vào những dịp cao điểm như Tết, ngày nghỉ lễ dẫn đến vượt quá
công suất xử lý của các nhà máy rác cũng dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi
trường khi các nhà máy chưa kịp thời có các phương án dự phòng. Điển hình
như tình trạng Nhà máy rác Đông Nam tại phường Đông Quang đã xảy ra vừa
qua trong dịp sau Tết 2026.
Cơ chế tài chính và mô hình quản lý hiện nay cũng đang bộc lộ nhiều bất
cập. Giá dịch vụ thu gom hiện nay (4.000 đồng/người đến 11.000 đồng/người)
chỉ đủ chi trả một phần chi phí thu gom tại chỗ, không đủ để duy trì vận chuyển
rác đi xa về các khu xử lý tập trung. Việc chuyển đổi từ chính quyền cấp huyện
sang mô hình quản lý hai cấp làm phát sinh các lúng túng trong việc thanh quyết
toán và điều phối rác liên xã, liên huyện.
Từ những thực tiễn nêu trên cho thấy, công tác quản lý CTRSH hiện nay
của tỉnh Thanh Hóa đang cần có các giải pháp đồng bộ, cấp bách để hiện đại hóa
công nghệ, đóng cửa các bãi rác ô nhiễm và hoàn thiện cơ chế tài chính cho giai
đoạn 2026 - 2030.
II. ĐÁNH GIÁ CHUNG
1. Kết quả đạt được
Trong thời gian qua, với sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các
ngành, công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH trên địa bàn tỉnh đã đạt
được nhiều kết quả tích cực. Tỷ lệ thu gom và xử lý chung đã được nâng cao
đáng kể từ 88,99% lên 93,68%; mạng lưới thu gom được mở rộng, công nghệ xử
lý có bước chuyển dịch theo hướng giảm chôn lấp và tăng cường tái chế, góp
phần cải thiện môi trường và nâng cao chất lượng đời sống của người dân. Việc
triển khai phân loại rác gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới và đô thị
văn minh bước đầu đã mang lại nhiều kết quả tốt, nhất là khu vực nông thôn; ý
thức của người dân dần được tăng lên, tình trạng vứt rác bừa bãi giảm đáng kể.
Hệ thống chính sách ngày càng hoàn thiện tạo điều kiện khuyến khích các thành
phần kinh tế tham gia đầu tư cho các hoạt động xử lý môi trường; tổng kinh phí
14
hỗ trợ xử lý CTRSH giai đoạn 2020 - 2025 lên tới 176.413,4 triệu đồng, ngày
càng tăng cao hơn so với giai đoạn trước góp phần giảm số lượng các bãi chôn
lấp rác tạm thời và các bãi rác gây ô nhiễm tại khu vực nông thôn.
2. Tồn tại, hạn chế
2.1. Trong công tác phân loại và tái chế
- Việc phân loại và tái chế CTRSH chưa có sự đồng bộ. Rác sau phân loại
vẫn bị thu gom chung dẫn đến hiệu quả phân loại tại nguồn rất thấp. Hiện nay,
việc phân loại rác mới chỉ mang tính khuyến khích, chưa có tính cưỡng chế cao
và chủ yếu tập trung vào các phế liệu có giá trị kinh tế.
- Công nghệ tái chế hiện nay đang bộc lộ nhược điểm là phát sinh nhiều
mùi hôi, không phù hợp với các nhà máy xử lý có vị trí gần khu dân cư. Điển
hình là Nhà máy xử lý rác tại phường Đông Quang, từ ngày 01/01/2026 đến nay
đã 03 lần người dân tập trung phản đối do phát tán ra khu vực dân cư xung
quanh, đến nay Nhà máy đang xin dừng tiếp nhận rác từ ngày 15/5/2026 để
nghiên cứu thay đổi công nghệ nhằm xử lý triệt để mùi phát sinh.
2.2. Trong công tác thu gom và vận chuyển
- Tỷ lệ thu gom CTRSH giữa đô thị và miền núi có khoảng chênh lệch
lớn; đặc biệt tại các xã vùng sâu vùng xa, địa hình phức tạp, mật độ dân số thưa
thớt, tỷ lệ thu gom là khá thấp.
- Phương tiện, trang thiết bị và lực lượng tham gia công tác thu gom, vận
chuyển chưa đáp ứng nhu cầu hiện nay. Chủ yếu các phường, các công ty môi
trường đô thị đầu tư xe cuốn, ép rác chuyên dụng, còn lại khu vực nông thôn chủ
yếu sử dụng xe đẩy tay, xe tự chế hoặc xe công nông để vận chuyển rác.
- Hạ tầng các điểm tập kết chưa đạt chuẩn; hầu hết là bãi tập kết tạm, chưa
được đầu tư nền bãi, mái che hay hệ thống thu gom nước rỉ rác; một số điểm đã
rơi vào tình trạng quá tải; một số nơi xảy ra tình trạng đốt rác thủ công tại các
điểm trung chuyển.
2.3. Công tác xử lý và hạ tầng xử lý CTRSH
- Tình trạng các khu xử lý CTRSH bằng công nghệ chôn lấp bị quá tải
đang diễn ra tại hầu hết các địa phương. Phần lớn các bãi chôn lấp tập trung đã
hết khả năng tiếp nhận, nước rỉ rác không được thu gom xử lý tiềm ẩn nhiều
nguy cơ ô nhiễm.
- Các dự án trọng điểm, liên huyện đã được chấp thuận chủ trương thực
hiện triển khai chậm tiến độ so với kế hoạch do nhiều nguyên nhân khác nhau,
dẫn đến tình trạng dự án cũ thì đã quá tải, dự án mới chưa được triển khai.
- Các lò đốt quy mô xã đang xuống cấp. Các lò đã dừng hoạt động do hư
hỏng hoặc không có kinh phí vận hành; một số lò đang hoạt động nhưng không
đáp ứng các quy chuẩn kỹ thuật về môi trường, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm.
- Công nghệ xử lý hiện tại vẫn còn lạc hậu, chưa có công nghệ tiên tiến
hiện đại được áp dụng. Việc xử lý chủ yếu vẫn là đổ đống, phun hóa chất khử
15
mùi nên chưa triệt để, gây ô nhiễm môi trường đất, nước và phát sinh mùi hôi
ảnh hưởng đến khu dân cư.
2.4. Bất cập về cơ chế tài chính và nguồn nhân lực
- Số lượng các địa phương được thụ hưởng chính sách hỗ trợ còn ít. Nghị
quyết số 236/2019/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của HĐND tỉnh về chính sách
hỗ trợ xử lý CTRSH trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2020-2025 quy định
ngân sách tỉnh hỗ trợ các địa phương kinh phí xử lý CTRSH bằng lò đốt có công
suất từ 50 tấn/ngày trở lên. Do vậy, các lò đốt nhỏ, các bãi chôn lấp rác nhỏ ở
các xã đều không được hỗ trợ kinh phí.
- Kinh phí vận hành hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH thiếu
hụt. Mức phí vệ sinh môi trường thu từ hộ gia đình hiện chỉ đủ chi trả một phần
cho hoạt động thu gom, không đủ để duy trì hoạt động vận chuyển rác đi xa.
- Xã hội hoá dịch vụ môi trường còn chậm, hình thức hợp tác công – tư
trong đầu tư các khu xử lý khó được triển khai do các thủ tục pháp lý còn phức
tạp, cơ chế xã hội hoá chưa tạo động lực thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào xử
lý CTRSH, chưa huy động được sự tham gia của cộng đồng dân cư ...
3. Nguyên nhân
3.1. Nguyên nhân khách quan
- Áp lực từ phát triển kinh tế và dân số: Sự gia tăng dân số nhanh chóng,
quá trình đô thị hoá mạnh mẽ cùng với sự phát triển về công nghiệp, dịch vụ, du
lịch... đã tạo ra áp lực lớn lên hạ tầng quản lý chất thải. Xu hướng tiêu dùng các
sản phẩm dùng một lần tăng cao khiến khối lượng CTRSH khó phân huỷ phát
sinh ngày càng nhiều, thành phần CTRSH ngày càng đa dạng.
- Hệ thống văn bản pháp luật thay đổi liên tục: Các quy định pháp lý về
quản lý CTRSH thường xuyên thay đổi, tạo ra thách thức lớn cho địa phương
trong việc cập nhật và thực thi đồng bộ.
- Đặc thù địa hình và khoảng cách vận chuyển: Tại các xã miền núi hoặc
khu vực xa trung tâm, rác phải vận chuyển quãng đường rất xa, từ 25 km đến
hơn 35 km mới đến được khu xử lý tập trung trong khi mật độ dân cư thì thưa
thớt. Điều này dẫn đến thu không bù chi và là rào cản lớn đối với việc bao phủ
dịch vụ tại các vùng sâu, vùng xa.
- Thay đổi mô hình quản lý hành chính: Việc chuyển đổi từ mô hình quản
lý cấp huyện sang chính quyền hai cấp (giao về cho xã/phường quản lý, vận
hành khu xử lý tập trung) khiến cơ chế phối hợp và thanh, quyết toán chi phí xử
lý CTRSH chưa được hướng dẫn rõ ràng, kịp thời.
- Công tác lựa chọn địa điểm xây dựng các khu xử lý chất thải rắn gặp
nhiều khó khăn do ảnh hưởng đến đời sống Nhân dân khu vực lân cận, phát sinh
ý kiến chưa đồng thuận của người dân.
- Các dự án xử lý rác tập trung đã được chấp thuận chủ trương đầu tư
chậm tiến độ do nhà đầu tư chưa tập trung nguồn lực sớm các hồ sơ thủ tục liên
16
quan để triển khai dự án; chưa nghiên cứu kỹ công nghệ thực hiện dự án dẫn đến
mất nhiều thời gian để khảo sát, lựa chọn giải pháp thiết kế, công nghệ cùng với
việc vướng mắc trong khâu bồi thường giải phóng mặt bằng trong khi không thể
kêu gọi các nhà đầu tư mới do lượng rác phát sinh trên địa bàn toàn tỉnh đã phù
hợp với số dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư.
- Một số nhà đầu tư (có cam kết chỉ đầu tư ngắn hạn cho đến khi các nhà
máy lớn đi vào vận hành chính thức sẽ dừng hoạt động) mong muốn tiếp nhận
để quản lý, vận hành khu xử lý chất thải của các huyện đã đầu tư trước đây
nhưng còn vướng mắc về các thủ tục liên quan đến việc thanh toán vốn đầu tư
của ngân sách nhà nước.
- Theo quy định tại khoản 2 Điều 78 Luật Bảo vệ môi trường, UBND các
cấp lựa chọn cơ sở xử lý CTRSH thông qua hình thức đấu thầu theo quy định
của pháp luật về đấu thầu; trường hợp không thể lựa chọn thông qua hình thức
đấu thầu thì thực hiện theo hình thức đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ theo quy định
của pháp luật. Tuy nhiên, việc thực hiện theo hình thức đầu thầu đang gặp không
ít khó khăn do nguồn kinh phí của các xã/phường ngay từ đầu năm để đấu thầu
cho hoạt động xử lý CTRSH là không có hoặc không đủ.
3.2. Nguyên nhân chủ quan
- Công tác quản lý CTRSH chưa chú trọng đúng mức đến kinh tế tuần
hoàn, tái sử dụng và thu hồi năng lượng từ chất thải. Việc phân loại rác tại
nguồn hiện nay mới chỉ dừng lại ở mức độ khuyến khích, chưa có tính cưỡng
chế cao đối với người dân.
- Việc phân bổ kinh phí từ nguồn ngân sách của tỉnh để xây dựng hạ tầng
thu gom CTRSH và các khu xử lý tập trung còn thấp, chưa đáp ứng được yêu
cầu thực tế.
- Việc quy hoạch các khu xử lý rác theo phạm vi mỗi huyện tối thiểu 1
khu xử lý rác (trước đây) đến nay khi thực hiện chính quyền 2 cấp đã bộc lộ
nhiều điểm bất cập. Các xã tiếp nhận và quản lý các khu xử lý rác hiện hữu này
cơ bản chỉ muốn xử lý rác cho xã đó, không muốn xử lý rác cho các xã khác,
đặc biệt khi các khu xử lý rác đang rơi vào tình trạng quá tải hoặc gần quá tải.
- Vốn ngân sách bố trí cho sự nghiệp môi trường nói chung và cho xử lý
CTRSH nói riêng còn thấp. Kinh phí dành cho hoạt động thu gom, vận chuyển,
xử lý CTRSH chủ yếu từ 02 nguồn: (1) Từ nguồn thu giá dịch vụ thu gom, vận
chuyển CTRSH; (2) Từ nguồn ngân sách nhà nước.
Đối với nguồn thu giá dịch vụ thu gom, vận chuyển CTRSH: Theo Quyết
định số 21/2019/QĐ-UBND ngày 04/7/2019 của UBND tỉnh ban hành quy định
về mức giá tối đa dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH sử dụng nguồn
vốn ngân sách, mức thu ở khu vực đô thị là 11.000 đồng/người/tháng, ở khu vực
nông thôn vùng đồng bằng, trung du, ven biển là 6.000 đồng/người/tháng, ở khu
vực nông thôn miền núi khó khăn là 4.000 đồng/người/tháng; các đối tượng
khác, mức giá áp dụng theo các bậc, mức khác nhau tùy thuộc vào quy mô, tính
chất, loại hình hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nhìn chung, mức giá này còn
17
thấp, trong khi việc thu còn rất khó khăn, nên việc trang trải cho chi phí hoạt
động là không ổn định.
Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước: Hiện chưa có cơ chế hỗ trợ riêng
cho hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý chôn lấp hợp vệ sinh mà chủ yếu
được lấy từ trong tổng nguồn chi sự nghiệp môi trường được phân bổ cho các
địa phương theo các Nghị quyết số 177/2021/NQ-HĐND ngày 10/12/2021 và
Nghị quyết số 48/2025/NQ-HĐND ngày 09/12/2025 của Hội đồng nhân dân
tỉnh Thanh Hóa. Theo đó, căn cứ Nghị quyết số 48/2025/NQ-HĐND, định mức
phân bổ chi sự nghiệp môi trường hàng năm cho các xã (cũ) là 82 triệu
đồng/năm (đảm bảo tối thiểu cấp 200 triệu/xã/năm) cho tất cả các hoạt động bảo
vệ môi trường trên địa bàn xã; chưa bảo đảm nguồn lực để tổ chức thu gom, vận
chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Đây cũng là một trong những nguyên nhân
chính dẫn đến chất lượng dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH ở các địa
phương khác nhau, địa phương nào quan tâm dành phần phần nhiều mức phân
bổ hàng năm từ nguồn sự nghiệp môi trường cho hoạt động thu gom, vận
chuyển và xử lý CTRSH thì chất lượng công tác quản lý CTRSH ở địa phương
ấy được tốt hơn.
- Một số địa phương chưa thực sự quan tâm đúng mức đến công tác quản
lý, vận hành các khu xử lý chất thải; việc kiểm tra, giám sát hoạt động bảo vệ
môi trường chưa được thực hiện thường xuyên.
IV. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH ĐỀ ÁN
Giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh Thanh Hóa đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng
trưởng GRDP bình quân từ 11%/năm trở lên; GRDP bình quân đầu người đạt
khoảng 7.900 USD; kinh tế số đóng góp khoảng 30% GRDP, trở thành động lực
tăng trưởng quan trọng. Cùng với quá trình đô thị hóa nhanh, gia tăng dân số và
phát triển kinh tế - xã hội, khối lượng CTRSH phát sinh ngày càng lớn, gây áp
lực đáng kể lên hệ thống hạ tầng thu gom, vận chuyển, xử lý và môi trường. Tuy
nhiên, công tác quản lý CTRSH trên địa bàn tỉnh hiện vẫn còn nhiều hạn chế,
bất cập như đã đề cập ở trên.
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
lần thứ XX, nhiệm kỳ 2025 - 2030 đã xác định mục tiêu đến năm 2030 tỷ lệ
CTRSH được thu gom, xử lý đạt 95%. Đây là chỉ tiêu quan trọng nhưng có tính
thách thức cao, đòi hỏi phải có lộ trình, giải pháp đồng bộ và sự vào cuộc quyết
liệt của các cấp, các ngành.
Từ những cơ sở nêu trên, việc xây dựng và ban hành Đề án thu gom, vận
chuyển và xử lý CTRSH trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2026 - 2030 là
hết sức cần thiết và cấp bách. Đề án sẽ là cơ sở để xác định rõ mục tiêu, nhiệm
vụ, giải pháp và phân công trách nhiệm cụ thể cho các cấp, các ngành; từng
bước hoàn thiện hệ thống thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH theo hướng hiện
đại, hiệu quả, bền vững; góp phần cải thiện môi trường, nâng cao chất lượng
cuộc sống của người dân và thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh.
18
PHẦN THỨ II
NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN
I. DỰ BÁO TÌNH HÌNH
Với mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng của tỉnh hàng năm ở mức 02 con
số, đưa Thanh Hóa trở thành một trong những trung tâm lớn của cả nước về
công nghiệp, năng lượng cùng với sự gia tăng dân số, đô thị hoá nhanh chóng đã
và đang làm tăng lượng chất thải sinh hoạt, gây sức ép lớn lên hạ tầng quản lý
chất thải và ô nhiễm môi trường. Dự báo giai đoạn từ năm 2026 - 2030, công tác
quản lý CTRSH trên địa bàn tỉnh sẽ đối diện với một số vấn đề khó khăn, bất
cập như sau:
- Gia tăng lượng CTRSH cần xử lý: Theo quy hoạch tỉnh Thanh Hoá thời
kỳ 2021 - 2030, tốc độ tăng dân số trung bình toàn tỉnh khoảng 0,5%/năm đến
0,75%/năm; tỷ lệ đô thị hoá dự kiến đến năm 2030 đạt 50%; ước tính lượng
CTRSH phát sinh tăng trung bình 5% đến 6% mỗi năm; định mức phát sinh
CTRSH đối với đô thị từ 0,9 kg/người.ngày đến 1,1 kg/người.ngày; đối với khu
vực nông thôn là 0,5 kg/người.ngày đến 0,6 kg/người.ngày; theo đó, tổng lượng
rác phát sinh toàn tỉnh được dự báo sẽ tăng từ 2.521,04 tấn/ngày vào năm 2025
lên mức 3.294,9 tấn/ngày vào năm 2030.
- Tình trạng quá tải tại các khu xử lý CTRSH: Hiện nay hạ tầng xử lý
CTRSH chưa theo kịp tốc độ CTRSH gia tăng, phát sinh. Trong trường hợp các
nhà máy xử lý quy mô lớn chậm tiến độ đầu tư, vận hành không ổn định, không
đảm bảo năng lực hoặc phát sinh sự cố môi trường, sẽ dẫn đến nguy cơ thiếu hụt
công suất xử lý. Khi đó, hạ tầng hiện hữu, đặc biệt là các ô chôn lấp không đủ
khả năng tiếp nhận bổ sung, làm gia tăng nguy cơ CTRSH không được thu gom
và xử lý kịp thời.
- Các dự án đầu tư xử lý CTRSH trọng điểm không đảm bảo tiến độ đầu
tư: Quá trình đầu tư các dự án xử lý hiện đang gặp không ít khó khăn do nhiều
yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau. Trong giai đoạn tới, hệ thống văn bản
quy phạm pháp luật dự kiến sẽ được điều chỉnh, hoàn thiện theo mô hình tổ chức
chính quyền địa phương 02 cấp, dẫn đến sự thay đổi về thẩm quyền, trình tự, thủ
tục đầu tư. Điều này có thể tiếp tục ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các dự án
nếu không được hướng dẫn kịp thời, thống nhất. Bên cạnh đó, yêu cầu ngày
càng cao về công nghệ xử lý, tiêu chuẩn môi trường và sự đồng thuận của người
dân cũng đặt ra thêm thách thức đối với việc triển khai các dự án xử lý CTRSH.
- Tình trạng ô nhiễm môi trường tại các bãi chôn lấp CTRSH: Hiện lượng
CTRSH đang lưu chứa và tồn đọng tại các bãi chôn lấp CTRSH trên địa bàn tỉnh
ước tính lên đến hơn 4 triệu tấn. Hiện nay, các bãi chôn lấp vẫn đang tiếp tục
hoạt động trong khi chờ các dự án lớn đầu tư, xây dựng do đó lượng CTRSH
tiếp nhận hằng ngày vẫn tiếp tục gia đăng. Công nghệ chôn lấp lạc hậu, chủ yếu
đổ đống, đầm nén, phun hóa chất diệt côn trùng, khử mùi nên hầu hết CTRSH
chưa được xử lý triệt để, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường gây mất cảnh
quan, ảnh hưởng đến đời sống Nhân dân.
19
II. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, PHẠM VI
1. Quan điểm
- Nâng cao công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với
CTRSH, gắn với trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, huy động sự
vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trên địa
bàn tỉnh và trách nhiệm của toàn xã hội.
- Thiết lập mạng lưới các cơ sở xử lý chất thải rắn tập trung theo hướng
liên vùng; đẩy mạnh áp dụng các công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường,
đồng xử lý, xử lý kết hợp với thu hồi năng lượng; từng bước hạn chế chôn lấp
trực tiếp chất thải rắn sinh hoạt.
- Công tác quản lý, thu gom, xử lý CTRSH từng bước hướng đến nguyên
tắc: cơ quan, tổ chức cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân được hưởng lợi
từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho hoạt động bảo vệ môi trường;
- Huy động mọi nguồn lực đầu tư, tăng cường xã hội hóa công tác thu
gom, vận chuyển, tái chế và xử lý CTRSH, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng
giữa các thành phần kinh tế.
- Định hướng quản lý CTRSH theo mô hình kinh tế tuần hoàn, thúc đẩy
giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải; từng bước coi chất thải là tài nguyên,
giảm thiểu phát sinh chất thải phải xử lý cuối cùng, góp phần tiết kiệm tài
nguyên và bảo vệ môi trường.
2. Mục tiêu đến năm 2030
2.1. Mục tiêu chung
Tổ chức thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH đảm bảo tỷ lệ CTRSH
được thu gom, xử lý đạt từ 95% trở lên vào năm 2030; trong đó, khu vực đô thị
đạt 97% trở lên, khu vực nông thôn đạt 93% trở lên. Không để xảy ra tình trạng
ùn ứ CTRSH trong khu dân cư đặc biệt là các khu đô thị.
2.2. Mục tiêu cụ thể
2.2.1. Về thu gom, vận chuyển
- 100% các xã/phường bố trí các điểm tập kết CTRSH từ các hộ gia đình,
cá nhân đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường, đáp ứng nhu cầu
của địa phương; bố trí các điểm trung chuyển CTRSH phù hợp với khoảng cách
đến các nhà máy xử lý rác đảm bảo từ các điểm tập kết đến điểm trung
chuyển/nhà máy xử lý rác không quá 50 km.
- Hoàn thiện mạng lưới dịch vụ thu gom, vận chuyển CTRSH; khuyến
khích các tổ chức, cá nhân có năng lực tham gia thu gom, vận chuyển CTRSH;
tăng cường số lượng các đơn vị, hợp tác xã, tổ đội vệ sinh môi trường thu gom,
vận chuyển CTRSH tại các địa phương miền núi.
- Trang bị thiết bị, phương tiện thu gom, vận chuyển CTRSH đầy đủ,
đồng bộ đảm bảo phục vụ tốt công tác phân loại CTRSH.
20
2.2.2. Về xử lý
- Giảm dần hình thức chôn lấp trực tiếp CTRSH đảm bảo tỷ lệ chôn lấp
dưới 10% (chỉ áp dụng cho một số xã miền núi vùng sâu vùng xa có mật độ dân cư
sống thưa thớt); giảm dần và tiến tới chấm dứt hoạt động các lò đốt quy mô nhỏ.
- Đóng cửa tất cả các bãi chôn lấp CTRSH đã quá tải, không đáp ứng yêu
cầu về môi trường nằm trong phạm vi thu gom, xử lý của các nhà máy rác tập
trung khi các nhà máy đi vào hoạt động chính thức; có lộ trình cải tạo, khắc
phục tình trạng ô nhiễm và phục hồi môi trường tại các bãi chôn lấp CTRSH.
3. Phạm vi của Đề án
- Phạm vi của Đề án tập trung đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả
công tác quản lý nhà nước đối với CTRSH. Trên cơ sở đó phân công trách
nhiệm cụ thể cho các cấp, các ngành; từng bước hoàn thiện hệ thống thu gom,
vận chuyển, xử lý CTRSH theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững; góp phần
cải thiện môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và thực hiện
thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
- Nội dung về định mức, đơn giá dịch vụ, cơ chế hỗ trợ ngân sách nhà
nước không nằm trong phạm vi của Đề án.
III. CÁC NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI THỰC HIỆN
1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng; quản lý, điều
hành của cơ quan các cấp; phát huy vai trò của MTTQ, các tổ chức chính
trị, người dân và doanh nghiệp trong thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH
a) Nâng cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ
chức chính trị, chính trị - xã hội các cấp theo thẩm quyền tổ chức, chỉ đạo thực
hiện và vận động, giám sát việc thực hiện thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH;
chịu trách nhiệm trước cấp trên trong tổ chức, chỉ đạo thực hiện và các tồn tại, vi
phạm liên quan.
b) Huy động sự tham gia của toàn xã hội về bảo vệ môi trường, trong đó
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các xã, phường và các tổ chức thành viên
như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Công
đoàn đóng vai trò nòng cốt trong tổ chức, hướng dẫn, giám sát, thực hiện giảm
thiểu khối lượng phát sinh, phân loại.
c) Rà soát, đánh giá hiệu quả công tác đào tạo, truyền thông và nâng cao
nhận thức cộng đồng về giảm thiểu, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển và
xử lý CTRSH và chất thải nhựa; sửa đổi, xây dựng chương trình, tài liệu tuyên
truyền và đầu tư các phương tiện, thiết bị đảm bảo hoạt động thường xuyên,
hiệu quả.
d) Tăng cường công tác truyền thông, giáo dục và nâng cao nhận thức để
các cơ quan, doanh nghiệp, cộng đồng và Nhân dân tự giác thực hiện nếp sống
văn minh, không xả rác bừa bãi, bỏ rác đúng nơi, đúng thời gian quy định; hạn
chế, tiến tới chấm dứt sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần, túi ni lông khó
phân hủy; đồng thời đẩy mạnh thời lượng tuyên truyền về bảo vệ môi trường
21
trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm lan tỏa sâu rộng, khuyến khích và
động viên toàn dân tích cực tham gia.
e) Thực hiện các chương trình đào tạo, truyền thông nâng cao nhận thức
cộng đồng ở các trường học, cộng đồng dân cư, cơ quan nhà nước, các cơ sở sản
xuất, kinh doanh dịch vụ về giảm thiểu, phân loại tại nguồn, tái chế, tái sử dụng
CTRSH, thải bỏ CTRSH đúng nơi quy định.
g) Biểu dương, khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích
xuất sắc, đồng thời nhắc nhở, phê bình các địa phương, đơn vị thực hiện chưa
nghiêm túc, nhằm tạo chuyển biến thực chất, bền vững trong toàn dân về ý thức
giữ gìn môi trường sống.
2. Quy hoạch hạ tầng xử lý CTRSH phù hợp với thực tiễn, định
hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
a) Duy trì các khu xử lý CTRSH tập trung có các dự án đã được chấp thuận
chủ trương đầu tư, đã đi vào hoạt động hoặc đang thi công xây dựng gồm các khu
xử lý tại xã Vĩnh Lộc (100 tấn/ngày); phường Đông Quang (500 tấn/ngày); xã
Trường Lâm (620 tấn/ngày); phường Bỉm Sơn (1.000 tấn/ngày), phường Nam
Sầm Sơn (300 tấn/ngày); xã Sao Vàng (1.000 tấn/ngày); với tổng công suất xử lý
là 3.520 tấn/ngày, đảm bảo xử lý CTRSH cho cả tỉnh đến năm 2030.
b) Bổ sung vào quy hoạch tỉnh 04 khu xử lý CTRSH tập trung có công
suất từ 300 tấn/ngày tại các xã: Hà Trung, Triệu Lộc, Yên Thọ, Nông Cống; bên
cạnh đó, nâng công suất khu xử lý rác xã Vĩnh Lộc từ 100 tấn/ngày lên 300
tấn/ngày. Đây là một trong các khu xử lý rác tập trung cho tỉnh đến năm 2045,
đồng thời, là phương án quy hoạch dự phòng khi một trong các dự án xử lý rác
không đảm bảo tiến độ đầu tư/thu hồi do không đảm bảo năng lực hoặc gặp sự
cố về môi trường; cụ thể như sau:
- Phương án dự phòng cho trường hợp đến hết năm 2026 khi các dự án rác
tại các phường: Bỉm Sơn, Sầm Sơn không thể đi vào hoạt động: Trong năm
2026, lập hồ sơ chủ trương kêu gọi dự án điện rác tại xã Hà Trung với công suất
từ 500 tấn/ngày trở lên; tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án
trong năm 2027.
- Phương án dự phòng cho trường hợp Nhà máy xử lý rác Đông Nam
không thể hoạt động ổn định trở lại: Trong năm 2027, lập chủ trương kêu gọi dự
án xử lý rác thải tại xã Nông Cống với công suất từ 500 tấn/ngày trở lên.
- Dự phòng thêm 02 khu xử lý có công suất lớn tại xã Triệu Lộc và xã
Yên Thọ khi các dự án đã được chấp thuận chủ trương có nguy cơ không triển
khai hoặc triển khai quá chậm.
- Các xã, phường còn lại tuỳ tình hình thực tế, khoảng cách vận chuyển để
lựa chọn đưa về các khu xử lý hiện hữu hoặc quy hoạch tại các xã hoặc các xã
lân cận cho phù hợp.
c) Dự phòng các khu chôn lấp CTRSH tại các xã: Sao Vàng, Hà Trung,
Yên Cát, Lương Sơn, Đồng Lương, Yên Thắng … với diện tích mở rộng khoảng
22
26,5 ha (đảm bảo lưu chứa cho khoảng 3 triệu tấn rác) khi các dự án rác chưa đi
vào hoạt động ổn định.
d) Duy trì và phát triển các khu xử lý (trong phạm vi xã và liên xã), điểm
tập kết, trạm trung chuyển trên địa bàn các phường, xã đáp ứng yêu cầu về bảo
vệ môi trường để xử lý khi các khu xử lý CTRSH tập trung chưa hoạt động
đồng bộ hoặc để tập kết tạm thời trước khi vận chuyển về các khu xử lý
CTRSH tập trung.
3. Hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật thu gom, tập kết và vận chuyển CTRSH
a) Rà soát, tổng hợp danh mục các dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật về thu
gom, vận chuyển, xử lý CTRSH vào kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn
2026 - 2030, báo cáo đề xuất cơ quan có thẩm quyền xem xét, thẩm định, cân
đối kinh phí theo đúng quy định trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê
duyệt để triển khai thực hiện.
b) Rà soát, đầu tư bổ sung hoặc chuyển đổi các điểm tập kết CTRSH tại
các xã, phường trước khi vận chuyển về khu xử lý tập trung đảm bảo 02 - 03
khu dân cư tập trung có ít nhất 01 điểm tập kết CTRSH đáp ứng yêu cầu kỹ
thuật về bảo vệ môi trường theo quy định.
c) Ưu tiên đầu tư bổ sung hoặc chuyển đổi phù hợp các khu xử lý đã dừng
tiếp nhận CTRSH hoặc đã đóng cửa thành trạm trung chuyển CTRSH đáp ứng
yêu cầu kỹ thuật về bảo vệ môi trường trên địa bàn các xã miền núi, các xã có
khoảng cách vận chuyển CTRSH đến khu xử lý lớn: 01 trạm trung chuyển tại xã
Nông Cống trước khi vận chuyển về khu xử lý CTRSH Nghi Sơn; 01 trạm trung
chuyển tại xã Ngọc Lặc và 01 trạm trung chuyển tại xã Lương Sơn trước khi vận
chuyển về khu xử lý CTRSH xã Sao Vàng.
d) Nâng cao năng lực tổ chức và hoạt động của các đơn vị cung cấp dịch
vụ thu gom, vận chuyển CTRSH tại các địa phương; khuyến khích thành lập
mới các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thu gom, vận chuyển CTRSH,
đảm bảo các khu dân cư đều được cung cấp dịch vụ thu gom, xử lý.
e) Hoạt động thu gom, vận chuyển CTRSH phải sử dụng thiết bị,
phương tiện được thiết kế phù hợp đối với từng loại CTRSH đã được phân
loại, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật về bảo vệ môi trường theo quy định; việc vận
chuyển CTRSH phải thực hiện theo tuyến đường, thời gian theo quy định của
cấp có thẩm quyền.
g) Phân vùng xử lý CTRSH trên địa bàn tỉnh làm cơ sở cho các xã,
phường thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà thầu thực hiện dịch vụ thu gom, vận
chuyển và xử lý CTRSH theo quy định của pháp luật (Phụ lục 2).
4. Tiếp tục đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp các công trình xử lý
CTRSH đáp ứng nhu cầu xử lý
a) Lựa chọn nhà đầu tư vào các dự án xử lý CTRSH trên địa bàn tỉnh theo
đúng quy định pháp luật về đầu tư và các quy định pháp luật có liên quan. Giám
sát, theo dõi tổ chức thực hiện đầu tư dự án theo lộ trình đã xác định.
23
b) Lựa chọn cơ sở thu gom, vận chuyển CTRSH thông qua hình thức đấu
thầu, trường hợp không thực hiện được qua đấu thầu thì thực hiện theo hình thức
đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ theo quy định.
c) Có cơ chế chính sách thu hút đầu tư, khuyến khích xã hội hóa công tác
thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH, nhất là thu hút doanh nghiệp đầu tư khu xử
lý CTRSH quy mô tập trung, công nghệ tiên tiến, theo đó; ngân sách nhà nước
cân đối để hỗ trợ kinh phí thu gom và xử lý CTRSH phát sinh tại các hộ gia
đình, cá nhân.
d) Phân vùng xử lý CTRSH trên địa bàn tỉnh làm cơ sở cho các xã,
phường thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà thầu thực hiện dịch vụ thu gom, vận
chuyển và xử lý CTRSH theo quy định của pháp luật.
e) Xem xét chuyển đổi công nghệ của Nhà máy xử lý CTRSH tại phường
Đông Quang từ công nghệ hỗn hợp sang công nghệ đốt CTRSH có thu hồi năng
lượng để phát điện có công suất trên 500 tấn/ngày.
g) Các dự án đầu tư xử lý CTRSH đầu tư bổ sung hoặc đầu tư mới phải
đáp ứng các tiêu chí công nghệ theo Điều 28 Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT
ngày 10/01/2022 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường:
- Có khả năng tiếp nhận, phân loại chất thải, xử lý mùi, nước rỉ rác, khí
thải, linh hoạt trong kết hợp các công nghệ khác, xử lý các loại chất thải rắn
khác nhau; có khả năng mở rộng công suất, thu hồi năng lượng, xử lý các chất
thải thứ cấp; mức độ phù hợp về quy mô xử lý.
- Mức độ tự động hóa, nội địa hóa của dây chuyền thiết bị, tỷ lệ xử lý, tái
sử dụng, tái chế, chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt; mức độ tiên tiến của công nghệ
xử lý; độ bền của thiết bị, dây chuyền công nghệ; xuất xứ của các trang thiết bị;
tính đồng bộ của thiết bị trong dây chuyền công nghệ, khả năng sử dụng, thay
thế các loại linh kiện, phụ tùng trong nước, tỷ lệ nội địa hóa của hệ thống công
nghệ, thiết bị.
- Ưu tiên công nghệ đã được ứng dụng thành công, đạt tiêu chuẩn, quy
chuẩn kỹ thuật môi trường về thiết bị xử lý, tái chế chất thải và phù hợp với điều
kiện Việt Nam và được cơ quan có thẩm quyền đánh giá, thẩm định theo quy
định của pháp luật về khoa học và công nghệ, pháp luật về chuyển giao công
nghệ; công nghệ thuộc Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao theo quy
định của pháp luật về chuyển giao công nghệ.
5. Khắc phục, xử lý, cải tạo, phục hồi môi trường tại các bãi chôn lấp
CTRSH, khu xử lý đã quá tải, dừng hoạt động
a) Rà soát, lập danh mục, xây dựng kế hoạch, lộ trình đóng cửa, cải tạo,
phục hồi môi trường các bãi chôn lấp CTRSH không hợp vệ sinh, bãi rác tự phát
gây ô nhiễm môi trường. Định hướng xử lý rác thải tồn đọng tại các bãi chôn lấp
trên địa bàn tỉnh được lựa chọn theo hướng tận dụng làm nguồn nguyên liệu dự
trữ phục vụ các nhà máy điện rác trên địa bàn tỉnh. Nguồn kinh phí phục vụ
công tác xử lý, thu hồi và vận chuyển rác thải tồn đọng được xem xét cân đối từ
24
doanh thu bán điện của các nhà máy điện rác nhằm giảm áp lực ngân sách nhà
nước và phù hợp với điều kiện thực tế .
b) Rà soát, chuyển đổi công nghệ hoặc chuyển đổi sang mô hình trạm
trung chuyển/điểm tập kết CTRSH đối với các bãi chôn lấp CTRSH đã được bốc
xúc đưa đi xử lý, trả lại mặt bằng sạch.
c) Rà soát, xây dựng phương án xử lý tài sản công đối với các lò đốt
CTRSH cũ, quy mô nhỏ đã dừng hoạt động do không đảm bảo quy định hoặc cải
tạo các lò đốt còn khả năng hoạt động, thực hiện dự án đầu tư mới trên địa điểm
khu xử lý cũ.
d) Kiểm tra, kiểm soát, chấn chỉnh hoạt động của các khu xử lý chất thải
nhất là vấn đề xử lý nước rỉ rác, mùi hôi, xây dựng mảng xanh, tạo cảnh quan
môi trường đảm bảo các khu xử lý hoạt động đạt quy chuẩn cho phép.
e) Sau khi các dự án lớn đi vào hoạt động ổn định, dừng hoạt động tất cả
bãi chôn lấp CTRSH trên địa bàn tỉnh (các xã thuộc vùng sâu, vùng xa có dân cư
sống thưa thớt tùy tình hình thực tế để quyết định việc xử lý CTRSH bằng công
nghệ chôn lấp hợp vệ sinh, công nghệ đốt hoặc công nghệ hỗn hợp).
6. Giải pháp về tài chính
a) Chuyển dịch từ bao cấp sang nguyên tắc thị trường “Người gây ô
nhiễm phải trả tiền” tuy nhiên vẫn bảo đảm được tính nhân văn và an sinh xã hội
đối với khu vực nông thôn, đặc biệt là các khu vực miền núi.
b) Kinh phí về thu gom, vận chuyển CTRSH một phần từ người dân chi
trả thông qua việc thu giá dịch vụ công ích và một phần từ nguồn ngân sách tỉnh.
c) Căn cứ tình hình thực tế, tham mưu UBND tỉnh ban hành giá cụ thể đối
với cơ quan, tổ chức, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp, hộ gia đình, cá nhân sử dụng dịch vụ
thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH trên địa bàn tỉnh hoặc tham mưu UBND
tỉnh phân cấp cho UBND cấp xã thực hiện định giá cụ thể trên địa bàn quản lý.
d) Đa dạng hoá nguồn lực đầu tư, đẩy mạnh xã hội hoá và huy động sự
tham gia của cộng đồng trong công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH.
Thực thi có hiệu quả một số chính sách ưu đãi đầu tư cho các dự án về xử lý
CTRSH như bảo lãnh vay vốn tín dụng của các ngân hàng nước ngoài; ưu tiên
khai thác các nguồn vốn ODA từ các Chính phủ và các tổ chức quốc tế; vay
vốn với lãi suất ưu đãi từ các quỹ hỗ trợ phát triển của Nhà nước và các quỹ
môi trường.
e) Đẩy mạnh thu hút các doanh nghiệp tư nhân và tổ chức kinh tế ngoài
quốc doanh tham gia đầu tư công trình xử lý CTRSH theo Quy hoạch tỉnh
Thanh Hóa thời kỳ 2021 - 2030 tầm nhìn đến năm 2045 được UBND tỉnh phê
duyệt tại Quyết định số 1575/QĐ-UBND ngày 30/5/2026.
7. Tăng cường giám sát, kiểm tra, xử lý vi phạm
25
a) Vận hành có hiệu quả đường dây nóng ở địa phương để tiếp nhận và xử
lý kịp thời thông tin phản ánh về khó khăn, vướng mắc, các trường hợp xả rác
bừa bãi, đổ CTRSH không đúng nơi quy định; vi phạm trong phân loại, thu
gom, vận chuyển, xử lý CTRSH trên địa bàn.
b) Lắp đặt, khai thác hệ thống camera giám sát, đặc biệt tại các tuyến
đường giao thông, điểm thu gom CTRSH, khu vực nhạy cảm về môi trường;
đồng bộ hạ tầng kỹ thuật với hệ thống camera an ninh để phát hiện kịp thời các
hành vi xả rác bừa bãi, đổ CTRSH không đúng nơi quy định; vi phạm trong
phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH gây ô nhiễm môi trường.
c) Tăng cường công tác phối hợp của Công an xã và chính quyền địa
phương trong việc kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi
phạm về đổ trộm, xả CTRSH không đúng nơi quy định, xả chất thải gây ô nhiễm
môi trường...; đẩy mạnh xử phạt hành vi vi phạm qua hệ thống camera an ninh,
camera giám sát tại các tuyến đường giao thông, các khu vực tập trung.
IV. DỰ ÁN, NHIỆM VỤ ƯU TIÊN THỰC HIỆN QUẢN LÝ CTRSH
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẾN NĂM 2030
1. Trong năm 2026
- Rác thải tiếp tục được đưa về các khu xử lý hiện hữu của tỉnh (các bãi
chôn lấp, các lò đốt thủ công và các nhà máy xử lý rác tại Vĩnh Lộc, Nghi Sơn,
Đông Quang, Nông Cống, Kim Tân).
- Thực hiện quy chế điều phối công tác vận chuyển và xử lý CTRSH khi
một trong các khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt tập trung trên địa bàn tỉnh phải
dừng hoặc tạm dừng tiếp nhận rác theo Quyết định số 1592/QĐ-UBND ngày
01/6/2026 của Chủ tịch UBND tỉnh; theo đó, hiện nay, do Nhà máy xử lý rác
thải Đông Nam đang tạm dừng tiếp nhận rác để chuyển đổi, nâng cấp công nghệ,
khối lượng rác phát sinh hàng ngày trên địa bàn các xã, phường: Hạc Thành,
Đông Quang, Đông Sơn, Quảng Phú, Đông Tiến, Hàm Rồng, Nguyệt Viên, Tiên
Trang, Quảng Yên đang đưa thu gom, vận chuyển về Khu xử lý chất thải Nghi
Sơn để xử lý.
- Cải tạo các khu xử lý rác hiện hữu bằng các biện pháp kỹ thuật (lu lèn,
đầm nén …) để tăng sức chứa bãi rác tại các phường: Bỉm Sơn; Sầm Sơn; các
bãi rác tập trung cấp huyện (trước đây) như: Lang Chánh, Quan Sơn, Minh Sơn,
Sao Vàng …
- Đầu tư mở rộng bãi chôn lấp CTRSH tại xã Sao Vàng, Hà Trung để đảm
bảo phương án dự phòng xử lý khi các khu xử lý rác trên địa bàn tỉnh bị quá
tải/tạm dừng hoạt động (dự kiến tổng diện tích mở rộng khoảng 6 ha).
- Đôn đốc để đưa các dự án xử lý rác tập trung đi vào hoạt động trong
năm 2026; cụ thể: Nhà máy đốt rác Nam Sầm Sơn trước tháng 8/2026; nhà máy
điện rác Bỉm Sơn trong tháng 12/2026, cải tiến dây chuyền, công nghệ xử lý
CTRSH bằng công nghệ hỗn hợp của Nhà máy xử lý CTRSH tại phường Đông
Quang trước tháng 9/2026.
26
- Đối với Nhà máy rác Đông Nam: Đôn đốc Nhà máy rác Đông Nam khẩn
trương cải tiến công nghệ, chỉ cho phép đi vào hoạt động khi đáp ứng yêu cầu về
môi trường.
- Căn cứ tình hình thực tế, chuẩn bị các điều kiện để lập hồ sơ chấp
thuận chủ trương dự án đầu tư nhà máy điện rác với công suất từ 500 tấn/ngày
trở lên vào 02 khu vực xử lý CTRSH đã có trong quy hoạch tỉnh (Hà Trung,
Nông Cống).
- Chuẩn bị các bước đầu tư để lựa chọn, mở rộng thêm 02 khu chôn lấp
CTRSH tại các xã nằm trong bán kính 60 km quanh khu vực phường Hạc Thành.
2. Trong giai đoạn từ năm 2027 - 2029
- Hoàn thành và đưa vào hoạt động ổn định các dự án lớn trên địa bàn
tỉnh, gồm: Khu xử lý CTRSH Nghi Sơn của Công ty cổ phần môi trường Nghi
Sơn; Nhà máy đốt CTRSH phát điện tại phường Bỉm Sơn do Công ty TNHH
Năng lượng môi trường Tianyu Thanh Hóa và Khu xử lý chất thải tập trung cấp
vùng tại xã Sao Vàng.
- Giao chủ đầu tư nghiên cứu, rà soát và lập phương án chuyển đổi công
nghệ của Nhà máy xử lý CTRSH tại phường Đông Quang theo hướng đốt
CTRSH có thu hồi năng lượng để phát điện, với quy mô, công suất phù hợp;
đánh giá đầy đủ tính khả thi về nguồn cung cấp CTRSH, công nghệ, môi trường,
hiệu quả kinh tế và phương án đấu nối điện; thực hiện việc thẩm định hoặc có ý
kiến về công nghệ và các thủ tục về đầu tư, xây dựng, bảo vệ môi trường, điện
lực theo quy định của pháp luật
- Khuyến khích Nhà máy xi măng Long Sơn xử lý rác sinh hoạt với khối
lượng khoảng 300 tấn/ngày đến 500 tấn/ngày, dự kiến hoạt động trong năm 2027
(hiện Nhà máy đang xin chủ trương thực hiện đồng xử lý trong lò nung xi măng).
- Trường hợp các dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư không có
khả năng tiếp tục hoặc triển khai không theo đúng với kế hoạch đã cam kết,
trong năm 2027 tiến hành các bước mời thầu kêu gọi nhà đầu tư dự án điện rác
vào 2 khu xử lý tại xã Hà Trung và xã Nông Cống.
- Chuẩn bị các bước kêu gọi nhà đầu tư vào khu xử lý tại xã Triệu Lộc,
Yên Thọ (nếu các dự án đã được chấp thuận chủ trương chậm triển khai).
- Trường hợp các Nhà máy lớn chưa đi vào hoạt động ổn định, tiếp tục cân
đối quỹ đất dự phòng mở rộng các bãi chôn lấp tại các xã, phường: Sao Vàng; Hà
Trung và một số xã, phường còn quỹ đất để xử lý dự phòng cho các xã, phường
thuộc khu vực đồng bằng và ven biển. Đối với các xã khu vực miền núi: Các xã
chủ động đề xuất đầu tư mới/mở rộng các khu xử lý hiện hữu để đảm bảo xử lý
rác cho địa phương cho đến khi các nhà máy lớn đi vào hoạt động.
- Đầu tư xây dựng mới, cải tạo các điểm tập kết, điểm trung chuyển
CTRSH đảm bảo vệ sinh môi trường.
- Thực hiện quy trình xử lý các bãi chôn lấp CTRSH đã dừng hoạt động,
quá tải, tồn đọng và ô nhiễm môi trường như: Bãi rác Cồn Quán tại phường Hạc
27
Thành, bãi rác Núi Voi tại phường Bỉm Sơn, bãi chôn lấp CTRSH Đông Nam
tại phường Đông Quang, bãi CTRSH tại phường Sầm Sơn, bãi rác Đồi Mốc tại
xã Minh Sơn, các bãi chôn lấp có quy mô cấp huyện trước đây.
3. Giai đoạn từ năm 2030 trở đi
- Duy trì các nhà máy xử lý CTRSH tập trung đã đi vào hoạt động ổn định.
- Chấm dứt hoạt động chôn lấp rác thải và các lò đốt thủ công hoạt động
không hiệu quả tại các khu vực nằm trong phạm vi xử lý rác của các nhà máy xử
lý CTRSH tập trung.
- Tiếp tục xử lý triệt để các bãi chôn lấp đã dừng hoạt động để đáp ứng
yêu cầu về bảo vệ môi trường
- Đối với các xã thuộc vùng sâu, vùng xa có dân cư sống thưa thớt tùy
tình hình thực tế để quyết định việc xử lý CTRSH bằng công nghệ chôn lấp hợp
vệ sinh, công nghệ đốt hoặc công nghệ hỗn hợp.
(Danh mục các dự án, nhiệm vụ ưu tiên thực hiện giai đoạn 2026 - 2030
chi tiết tại Phụ lục 1 kèm theo)
V. NHU CẦU KINH PHÍ THỰC HIỆN ĐẾN NĂM 2030
1. Tổng như cầu kinh phí
Nhu cầu kinh phí thực hiện Đề án thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải
rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 5.707
tỷ đồng, trong đó:
- Ước tính kinh phí nhiệm vụ tuyên truyền nâng cao ý thức về bảo vệ môi
trường, ứng dụng hệ thống quản lý CTRSH thông minh, giảm thiểu phát sinh,
phân loại, thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý CTRSH giai đoạn 2026 - 2030
khoảng 10 tỷ đồng.
- Ước tính kinh phí cho hoạt động thu gom, vận chuyển CTRSH giai đoạn
2026 - 2030 khoảng 5.397 tỷ đồng.
- Kinh phí hỗ trợ đầu tư bổ sung điểm tập kết tạm CTRSH mới, cải tạo các
điểm tập kết tạm đã xuống cấp, ô nhiễm môi trường khoảng 300 tỷ đồng.
- Kinh phí cho các nhiệm vụ khác: Do các sở, ngành, UBND các xã,
phường căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương và lộ trình thực hiện Đề án
để đề xuất UBND tỉnh xem xét hàng năm hoặc theo giai đoạn.
2. Nguồn kinh phí thực hiện: Dự kiến từ nguồn Ngân sách tỉnh, xã và từ
các nguồn huy động hợp pháp khác.
VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Sở Nông nghiệp và Môi trường
a) Là cơ quan đầu mối, chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành cấp tỉnh,
các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan, đơn vị có liên quan và Ủy ban nhân dân
28
các xã, phường tổ chức triển khai thực hiện Đề án đảm bảo kịp thời, chặt chẽ,
đúng quy định pháp luật hiện hành.
b) Tham mưu ban hành các văn bản có liên quan đến quản lý CTRSH trên
địa bàn tỉnh; thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác quản lý CTRSH
trên địa bàn tỉnh.
c) Rà soát, tham mưu UBND tỉnh phân luồng CTRSH tạm thời tại khu
vực bị quá tải, ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới người dân tới các khu xử lý
trong và ngoài tỉnh đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế trên địa bàn tỉnh và
đúng theo quy định, trong quá trình thực hiện, trường hợp phát sinh khó khăn
vướng mắc vượt thẩm quyền (nếu có) thì tham mưu đề xuất cấp có thẩm quyền
xem xét, chỉ đạo xử lý.
d) Chủ trì đôn đốc, yêu cầu các chủ đầu tư các dự án Nhà máy xử lý rác đã
được UBND tỉnh chấp thuận chủ trương khẩn trương hoàn thành đưa nhà máy đi
vào hoạt động theo đúng tiến độ; phối hợp với các đơn vị liên quan kịp thời tháo
gỡ vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện dự án; thường xuyên kiểm tra,
giám sát công tác xử lý CTRSH tại các nhà máy đang hoạt động.
đ) Phối hợp với các Sở, ngành, UBND cấp xã rà soát, xây dựng phương
án phân vùng phạm vi thu gom, xử lý CTRSH cụ thể khi các dự án xử lý
CTRSH tập trung đi vào hoạt động ổn định.
e) Tổng hợp nhu cầu sử dụng đất để phát triển khu xử lý chất thải trên địa
bàn tỉnh, tham mưu phê duyệt, điều chỉnh theo đúng quy định, trình Ủy ban
nhân dân tỉnh xem xét, quyết định.
g) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tăng cường công
tác kiểm tra hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải trên địa bàn tỉnh;
kiểm tra, giám sát các đơn vị thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH trên địa bàn
tỉnh theo quy định; việc khắc phục ô nhiễm môi trường đối với các khu xử lý rác
trên địa bàn tỉnh.
h) Chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ
chức chính trị - xã hội, Ủy ban nhân dân các xã, phường triển khai thực hiện kế
hoạch thí điểm mô hình phân loại CTRSH tại nguồn trên địa bàn các xã, phường.
i) Tham mưu ban hành giá tối đa dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất
thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh; căn cứ tình hình thực tế, tham mưu UBND
tỉnh ban hành giá cụ thể đối với cơ quan, tổ chức, cơ sở sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp, hộ gia
đình, cá nhân sử dụng dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH trên địa
bàn tỉnh hoặc tham mưu UBND tỉnh phân cấp cho UBND cấp xã thực hiện định
giá cụ thể.
k) Chủ trì tổng kết, đánh giá, kiểm tra, giám sát việc thực hiện đề án trên
địa bàn tỉnh; chịu trách nhiệm theo dõi, giám sát, đôn đốc các sở, ban, ngành, Ủy
ban nhân dân các xã, phường và các cơ quan, đơn vị có liên quan trong quá trình
thực hiện Đề án này; định kỳ hàng năm (trước ngày 05/12) hoặc đột xuất tổng
29
hợp báo cáo kết quả thực hiện Đề án về Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Tỉnh ủy
và đồng gửi Ủy ban nhân dân tỉnh; tham mưu sơ kết, tổng kết và kịp thời đề xuất
hoặc kiến nghị với cấp có thẩm quyền biện pháp xử lý đối với những khó khăn,
vướng mắc phát sinh vượt thẩm quyền (nếu có).
2. Sở Tài chính
a) Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, đơn vị có liên quan tham mưu
Ủy ban nhân dân tỉnh lựa chọn nhà đầu tư vào các dự án xử lý CTRSH trên
địa bàn tỉnh theo đúng quy định pháp luật về đầu tư và các quy định pháp luật
có liên quan.
b) Chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan tham mưu trình phân bổ,
hỗ trợ kinh phí khi đảm bảo điều kiện để triển khai thực hiện các nội dung của
Đề án; hướng dẫn các đơn vị, địa phương quản lý, sử dụng, quyết toán nguồn
kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện các nhiệm vụ, dự án thuộc Đề án theo
quy định.
c) Tham mưu UBND tỉnh thu hồi chứng nhận đầu tư/đăng ký đầu tư đối
với các dự án xử lý CTRSH chậm tiến độ và xử lý những vấn đề có liên quan về
thực thi đầu tư các dự án.
d) Hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện quy định về đấu thầu, cơ
chế đặt hàng dịch vụ công ích thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH theo đúng
quy định.
3. Sở Công Thương
a) Nghiên cứu các cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư, miễn giảm các
thủ tục đấu nối và bán điện dưới lưới đối với nhà máy phát điện sử dụng chất
thải rắn sinh hoạt, sinh khối khi có hướng dẫn của Bộ Công Thương để triển
khai thực hiện trên địa bàn tỉnh.
b) Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan hướng dẫn doanh nghiệp
thuộc phạm vi quản lý xây dựng kế hoạch, lộ trình hạn chế và tiến tới cấm sử
dụng túi nhựa khó phân hủy tại các trung tâm thương mại, siêu thị, chợ dân sinh;
có biện pháp giám sát và xử lý (nếu có) các trung tâm thương mại, siêu thị, cửa
hàng tiện ích thực hiện theo kế hoạch đã xây dựng.
c) Chủ trì, tham mưu UBND tỉnh báo cáo Chính phủ điều chỉnh, cập nhập
dự án xử lý CTRSH phát điện tại phường Đông Quang, phường Nam Sầm Sơn,
xã Hà Trung, xã Triệu Lộc, Nông Cống, Yên Thọ vào quy hoạch phát triển điện
lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
4. Sở Khoa học và Công nghệ
a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan có ý kiến về
công nghệ đối với dự án xử lý chất thải đối với các trường hợp trong giai đoạn
chấp thuận chủ trương đầu tư dự án không có cấu phần xây dựng quy định tại
điểm c khoản 2 Điều 3 và điểm c khoản 3 Điều 3 Nghị định số 101/2026/NĐ-CP
ngày 31/3/2026 của Chính phủ.
30
b) Tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ, dự án nghiên cứu khoa học
công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt; tái chế, xử lý chất thải nhựa thành
nguyên liệu, nhiên liệu; sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường thay
thế cho sản phẩm nhựa dùng một lần và túi nhựa khó phân hủy.
c) Nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng công nghệ thân thiện với môi
trường trong tái chế, xử lý chất thải kết hợp với thu hồi năng lượng; tham mưu
giải pháp khoa học chuyển đổi công nghệ xử lý chất thải tại các khu xử lý theo
hướng xử lý chất thải có kết hợp với thu hồi năng lượng.
5. Sở Xây dựng
a) Phối hợp với UBND các xã, phường và các đơn vị liên quan để xem
xét, bố trí điểm tập kết, khu xử lý CTRSH đảm bảo khoảng cách an toàn và yêu
cầu về bảo vệ môi trường theo quy định trong quá trình thực hiện thẩm định,
tham gia ý kiến các hồ sơ quy hoạch đô thị và nông thôn.
b) Phối hợp với Sở Tài chính và Ủy ban nhân dân cấp xã tham mưu Ủy
ban nhân dân tỉnh triển khai các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông kết
nối khu đất mời gọi đầu tư Nhà máy xử lý chất thải rắn với hệ thống hạ tầng
giao thông hiện hữu.
6. Sở Giáo dục và Đào tạo
a) Chỉ đạo các trường, cơ sở giáo dục hướng dẫn, hình thành thói quen
cho học sinh bỏ rác đúng quy định; hướng dẫn kỹ thuật giảm thiểu CTRSH,
phân loại CTRSH theo quy định; bố trí đẩy đủ thùng rác trong khuôn viên
trường học; vệ sinh sạch sẽ trong và xung quanh khuôn viên trường học.
b) Giám sát việc tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đối
với CTRSH tại các trường học, cơ sở giáo dục; kịp thời nhắc nhở, chấn chỉnh
công tác quản lý CTRSH của các đơn vị thuộc phạm vi quản lý.
7. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
a) Chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu các cơ sở thuộc
phạm vi quản lý, như: Cơ sở lưu trú, khu di tích, khu du lịch … thực hiện phân
loại, thu gom, lưu giữ, chuyển giao CTRSH theo quy định.
b) Chỉ đạo rà soát, cập nhật, lồng ghép nội dung quản lý CTRSH vào quy
chế quản lý các khu di tích, khu du lịch trên địa bàn tỉnh.
c) Giám sát việc tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đối
với CTRSH tại các cơ sở lưu trú, khu di tích, khu du lịch …; kịp thời nhắc nhở,
chấn chỉnh công tác quản lý CTRSH của các đơn vị thuộc phạm vi quản lý.
8. Công an tỉnh
a) Tăng cường hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm về môi trường
trong hoạt động vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt; kiểm tra chấp hành
pháp luật về bảo vệ môi trường đối với các phương tiện vận chuyển CTRSH trên
địa bàn tỉnh.
31
b) Phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan trong việc phòng ngừa,
đấu tranh và ngăn chặn việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công
nghệ xử lý chất thải lạc hậu không đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường trên
địa bàn tỉnh.
9. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức
chính trị - xã hội
a) Xây dựng kế hoạch giám sát việc phân loại, tiếp nhận, thu gom, vận
chuyển, xử lý CTRSH của tổ chức, cá nhân, không để CTRSH tồn đọng gây mất
vệ sinh công cộng, ô nhiễm môi trường, nhất là tại khu dân cư, nơi công cộng,
khu du lịch, đường phố, đường làng, ngõ xóm, kênh mương, ao hồ, sông ngòi,
bờ biển.
b) Chỉ đạo các tổ chức thành viên tham gia giám sát việc phân loại, tiếp
nhận, thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH của tổ chức, cá nhân theo kế hoạch đã
được ban hành; phát hiện và kịp thời báo cáo các trường hợp vi phạm cho cơ
quan nhà nước có thẩm quyền để xem xét, xử lý nghiêm theo quy định.
c) Phối hợp với chính quyền các cấp tăng cường công tác thông tin tuyên
truyền, hướng dẫn, vận động toàn thể hội viên, đoàn viên và các tầng lớp Nhân
dân tích cực tham gia công tác phân loại, thu gom, xử lý CTRSH và vệ sinh
môi trường.
d) Xây dựng và nhân rộng các mô hình phân loại rác tại nguồn; phát triển
các phong trào tự quản bảo vệ môi trường gắn với xây dựng nông thôn mới,
nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu, xây dựng khu dân cư văn
minh góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân.
10. Ủy ban nhân dân các xã, phường
a) Chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nội dung Đề án tại địa phương
theo đúng lộ trình; ban hành và tổ chức thực hiện kế hoạch triển khai thực hiện
Đề án.
b) Căn cứ tình hình thực tế địa phương, chủ trì, phối hợp với các đơn vị
liên quan định giá cụ thể đối với cơ quan, tổ chức, cơ sở sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp, hộ gia
đình, cá nhân sử dụng dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH trên địa
bàn quản lý trong trường hợp được UBND tỉnh phân cấp thực hiện.
c) Chủ trì lựa chọn các đơn vị thực hiện dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử
lý CTRSH và vệ sinh công cộng trên địa bàn quản lý theo quy định của pháp
luật về bảo vệ môi trường, ngân sách nhà nước, đấu thầu và các luật có liên
quan. Chịu trách nhiệm quản lý, kiểm tra, giám sát, đánh giá chất lượng vệ sinh,
nghiệm thu khối lượng công việc thực hiện của các cơ sở thu gom, vận chuyển
chất thải rắn sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân.
d) Trong quá trình lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch đô thị và nông
thôn theo thẩm quyền phải thực hiện lựa chọn, bố trí hạ tầng kỹ thuật đối với các
điểm tập kết, khu xử lý CTRSH đảm bảo khoảng cách an toàn và yêu cầu về bảo
32
vệ môi trường theo quy định; chủ trì rà soát, bố trí, phê duyệt các điểm tập kết,
trạm trung chuyển CTRSH đảm bảo thuận tiện và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật về
bảo vệ môi trường theo quy định; xây dựng kế hoạch xoá bỏ các điểm tập kết
không đúng quy định, chấm dứt tình trạng xả CTRSH bừa bãi, đốt CTRSH tại
các điểm tập trung; cải tạo, bổ sung các điểm tập kết CTRSH đảm bảo quy định;
e) Chủ trì xác định vị trí, thời gian hoạt động, tuyến thu gom và quy mô
tiếp nhận CTRSH phù hợp với địa phương; hướng dẫn các hộ gia đình chuyển
giao CTRSH cho cơ sở thu gom, vận chuyển hoặc đến điểm tập kết đúng quy
định; xem xét giải quyết kiến nghị của tổ chức, cộng động dân cư, hộ gia đình,
cá nhân có liên quan đến phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH.
f) Đề xuất đầu tư các khu xử lý chất thải trên địa bàn quản lý bằng công
nghệ hiện đại, tiên tiến. Tổ chức rà soát dừng hoạt động các bãi chôn lấp, lò đốt
thủ công không phù hợp quy hoạch gây ô nhiễm môi trường.
g) Chủ động thực hiện rà soát để cải tạo, nâng cấp mở rộng các khu chôn
lấp CTRSH hiện có trên địa bàn hoặc đề xuất quy hoạch các khu xử lý rác mới
trong trường hợp các nhà máy xử lý rác tập trung chưa đi vào hoạt động.
h) Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin nâng cao nhận
thức của người dân về trách nhiệm chi trả các dịch vụ thu gom, xử lý CTRSH;
về công tác phân loại CTRSH tại nguồn, tăng cường tái chế, tái sử dụng; vận
động, tạo sự đồng thuận của người dân trong việc triển khai xây dựng các khu
xử lý CTRSH trên địa bàn; phối hợp tốt với các ngành, cơ quan liên quan trong
đền bù, giải phóng mặt bằng triển khai xây dựng các khu xử lý theo quy định.
i) Bố trí kinh phí đảm bảo cho công tác thu gom, vận chuyển, xử lý
CTRSH phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
k) Chỉ đạo Công an xã phối hợp với phòng chuyên môn, lực lượng chức
năng tăng cường kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi
phạm về đổ trộm, xả CTRSH không đúng nơi quy định, xả chất thải gây ô nhiễm
môi trường ...; đẩy mạnh xử phạt hành vi vi phạm qua hệ thống camera an ninh,
camera giám sát tại các tuyến đường giao thông, các khu vực tập trung
l) Đối với Ủy ban nhân dân các xã, phường được Chủ tịch Ủy ban nhân dân
tỉnh giao dự án, nhiệm vụ ưu tiên theo Đề án có trách nhiệm: Thực hiện công tác
xử lý CTRSH trên địa bàn quản lý và địa bàn được phân công phụ trách cho đến
khi thực hiện mô hình thống nhất trên địa bàn tỉnh hoặc theo chỉ đạo của cấp có
thẩm quyền; kịp thời, chủ động trong công tác cải tạo, tăng khả năng chứa của các
bãi chôn lấp rác tạm trên địa bàn quản lý, đảm bảo không để ùn ứ CTRSH.
m) Sau khi có Nhà máy xử lý CTRSH trọng điểm đi vào vận hành, UBND
cấp xã xây dựng phương án cải tạo, nâng cấp, đóng cửa, xử lý và phục hồi môi
trường các bãi chôn lấp CTRSH đảm bảo yêu cầu về bảo vệ môi trường
11. Đơn vị thực hiện việc thu gom, vận chuyển CTRSH
a) Bố trí và sử dụng thiết bị, phương tiện thu gom, vận chuyển được thiết
kế phù hợp đối với từng loại CTRSH đã được phân loại, đáp ứng các quy định
33
và yêu cầu kỹ thuật về bảo vệ môi trường; thường xuyên kiểm tra, nâng cấp,
sửa chữa.
b) Thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các quy định về bảo vệ môi trường đối
với hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH theo quy định của Luật Bảo
vệ môi trường và các quy định pháp luật có liên quan. Trong quá trình thực hiện
nếu có khó khăn, vướng mắc phải kịp thời báo cáo đến Ủy ban nhân dân cấp xã
để được hướng dẫn, giải quyết; không tự ý ngừng cung cấp dịch vụ.
c) Có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện khu dân
cư trong việc xác định thời gian, địa điểm, tần suất và tuyến thu gom CTRSH và
công bố rộng rãi cho các hộ dân trên địa bàn biết và thực hiện.
d) Trang bị bảo hộ lao động, tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho
người lao động tham gia thực hiện thu gom, vận chuyển CTRSH theo quy định.
e) Thực hiện vệ sinh, khử mùi, phòng ngừa rò rỉ nước rỉ rác từ phương
tiện, thiết bị và điểm tập kết trong quá trình thu gom, vận chuyển; bảo đảm
không gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị, khu dân cư.
g) Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động thu gom, vận
chuyển (theo dõi lộ trình, khối lượng, tần suất thu gom…); thực hiện chế độ
thống kê, báo cáo định kỳ theo quy định.
12. Đơn vị thực hiện việc xử lý CTRSH
a) Tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường đảm bảo không gây ô
nhiễm môi trường trong quá trình hoạt động, thực hiện chương trình giám sát môi
trường (nếu có); công khai một số thông tin môi trường cơ bản để cộng đồng
giám sát; có kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường theo quy định.
b) Thực hiện đóng bãi chôn lấp CTRSH sau khi kết thúc hoạt động theo
đúng quy định, thông báo cho Sở Nông nghiệp và Môi trường về thời gian đóng
bãi chôn lấp để giám sát; bàn giao mặt bằng cho Sở Nông nghiệp và Môi trường
sau khi hoàn thành đóng bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt; đồng thời, thực
hiện đầu tư tái sử dụng bãi chôn lấp theo đúng quy định.
c) Thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các quy định về bảo vệ môi trường đối
với hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH theo quy định của Luật Bảo
vệ môi trường và các quy định pháp luật có liên quan. Trong quá trình thực hiện
nếu có khó khăn, vướng mắc phải kịp thời báo cáo đến Ủy ban nhân dân cấp xã
để được hướng dẫn, giải quyết; không tự ý ngừng cung cấp dịch vụ.
d) Tiếp nhận, phân loại, xử lý CTRSH đúng quy trình, công nghệ đã được
phê duyệt; bảo đảm phù hợp với đặc tính của từng loại chất thải đã được phân
loại tại nguồn.
e) Ưu tiên áp dụng các công nghệ xử lý tiên tiến, thân thiện môi trường
(tái chế, tái sử dụng, thu hồi năng lượng…); giảm thiểu tối đa lượng chất thải
phải chôn lấp.
34
g) Quản lý chặt chẽ chất thải thứ cấp phát sinh trong quá trình xử lý (tro
xỉ, bùn thải, nước rỉ rác …); bảo đảm được thu gom, xử lý đạt quy chuẩn kỹ
thuật môi trường.
h) Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất về tình hình tiếp nhận, xử
lý CTRSH; kịp thời thông tin khi xảy ra sự cố môi trường và phối hợp với cơ
quan chức năng để xử lý./.
PHỤ LỤC 1
DANH MỤC CÁC NHIỆM VỤ, DỰ ÁN ƯU TIÊN THỰC HIỆN GIAI ĐOẠN 2026 - 2030
(Ban hành kèm theo Quyết định số /QĐ-UBND ngày tháng năm 2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh)
STT
Nhiệm vụ
Thời gian
thực hiện
Sản phẩm
Kinh phí
thực hiện (tỷ
đồng)
Đơn vị thực
hiện/chủ trì thực
hiện
Nguồn vốn
thực hiện
I
Giải pháp tuyên truyền nâng cao ý thức về bảo vệ môi trường, giảm thiểu phát sinh, phân loại, thu gom,
vận chuyển, tái chế, xử lý CTRSH
1
Tuyên truyền nâng cao
nhận thức và trách nhiệm
cộng đồng về quản lý
CTRSH
Hàng năm
Các chương
trình,
mitting, hội
thảo, lớp tập
huấn, tài liệu
hướng dẫn
về quản lý
CTR
3,0
Sở Nông nghiệp và
Môi trường; Ủy
ban Mặt trận Tổ
Quốc các cấp, tổ
chức chính trị - xã
hội; UBND các xã,
phường
Từ nguồn ngân
sách cấp xã,
ngân sách tỉnh
hỗ trợ và các
nguồn huy động
hợp pháp khác
2
Rà soát, đánh giá, biên
soạn và đưa vào nội dung
giáo dục về môi trường,
trong đó có nội dung về
quản lý CTRSH vào
chương trình của các cấp
học; thực hiện các chương
trình đào tạo, truyền
thông nâng cao nhận thức
cộng đồng ở các trường
học
Hàng năm
Chương
trình trình
đào tạo,
truyền thông
3,0
Sở Giáo dục và
Đào tạo chủ trì
Từ nguồn ngân
sách cấp xã,
ngân sách tỉnh
hỗ trợ và các
nguồn huy động
hợp pháp khác
II
Hoàn thiện chính sách, văn bản triển khai thi hành Luật Bảo vệ môi trường về quản lý CTRSH
2
STT
Nhiệm vụ
Thời gian
thực hiện
Sản phẩm
Kinh phí
thực hiện (tỷ
đồng)
Đơn vị thực
hiện/chủ trì thực
hiện
Nguồn vốn
thực hiện
1
Xây dựng, hoàn thiện và
ban hành quy định về
quản lý chất thải rắn sinh
hoạt của hộ gia đình, cá
nhân trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa thay thế Quyết
định số 13/2022/QĐ-
UBND ngày 02/3/2022
của UBND tỉnh
Trong năm
2026
Quyết định
Sở Nông nghiệp và
Môi trường chủ trì
2
Xây dựng và bổ sung
chính sách hỗ trợ xử lý
chất thải rắn sinh hoạt
vào Nghị quyết quy định
chính sách phát triển
nông nghiệp và môi
trường trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa, giai đoạn
2026 – 2030
Trong năm
2026
Quyết
định/Nghị
Quyết
3
Rà soát, điều chỉnh
phương án phát triển các
khu xử lý chất thải rắn,
phân vùng thu gom
CTRSH cho các dự án
trong quy hoạch tỉnh
Thanh Hóa thời kỳ 2021-
2030, tầm nhìn đến năm
Trong năm
2026
Tích hợp nội
dung trong
quy hoạch
tỉnh Thanh
Hóa thời kỳ
2021 - 2030,
tầm nhìn đến
năm 2045
3
STT
Nhiệm vụ
Thời gian
thực hiện
Sản phẩm
Kinh phí
thực hiện (tỷ
đồng)
Đơn vị thực
hiện/chủ trì thực
hiện
Nguồn vốn
thực hiện
2045 trình cấp có thẩm
quyền quyết định
4
Ban hành giá tối đa áp
dụng đối với chủ đầu tư,
cơ sở cung cấp dịch vụ
thu gom, vận chuyển và
xử lý chất thải rắn sinh
hoạt và dịch vụ vệ sinh
công cộng (trừ trường hợp
thực hiện theo quy định
của pháp luật về đấu thầu)
2026 - 2027
Quyết định
Sở Nông nghiệp và
Môi trường chủ trì
5
Định giá cụ thể đối với cơ
quan, tổ chức, cơ sở sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ,
khu sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ tập trung, cụm
công nghiệp, hộ gia đình,
cá nhân sử dụng dịch vụ
thu gom, vận chuyển và
xử lý chất thải rắn sinh
hoạt
Sau khi được
UBND tỉnh
phân cấp
Quyết định
UBND các
phường, xã chủ trì
6
Ban hành Quyết định sửa
đổi, thay thế Quyết định
số 51/2022/QĐ-UBND
ngày 19/10/2022 của
UBND tỉnh ban hành quy
Tháng 6/2026
Quyết định
Sở Xây dựng chủ
trì, phối hợp với
các sở, ban, ngành,
UBND các xã
phường
4
STT
Nhiệm vụ
Thời gian
thực hiện
Sản phẩm
Kinh phí
thực hiện (tỷ
đồng)
Đơn vị thực
hiện/chủ trì thực
hiện
Nguồn vốn
thực hiện
định tuyến đường và thời
gian vận chuyển chất thải
rắn sinh hoạt, chất thải rắn
công nghiệp thông
thường, chất thải rắn nguy
hại trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa
III
Hoàn thiện hạ tầng, mạng lưới thu gom, vận chuyển CTRSH; phân vùng xử lý CTRSH trên địa bàn tỉnh
1
Hỗ trợ cho các xã,
phường cải tạo các điểm
tập kết CTRSH tạm thời
trước khi vận chuyển về
nơi xử lý.
Hàng năm
Công trình
các điểm tập
kết CTRSH
tạm thời
được cải tạo,
nâng cấp
Kinh phí do
UBND xã,
phường đề
xuất
- Sở Tài chính cân
đối, bố trí từ nguồn
vốn sự nghiệp môi
trường
- UBND các xã
phường rà soát
thực tế và đề xuất
Từ nguồn ngân
sách cấp xã,
ngân sách tỉnh
hỗ trợ và các
nguồn huy động
hợp pháp khác
2
Điều tra, thống kê số
lượng và quy mô nguồn
thải, tuyến đường thu
gom; xác định vị trí, thời
gian hoạt động, tuyến thu
gom và quy mô tiếp nhận
CTRSH phù hợp với địa
phương
Năm 2026 -
2030
Kinh phí do
UBND xã,
phường đề
xuất
- UBND các xã,
phường chủ trì
- Sở Xây dựng
hướng dẫn thực
hiện
- Các sở, ban,
ngành, phối hợp
Từ nguồn ngân
sách cấp xã,
ngân sách tỉnh
hỗ trợ và các
nguồn huy động
hợp pháp khác
3
Bố trí, phê duyệt các điểm
tập kết, trạm trung chuyển
chất thải rắn sinh hoạt
Năm 2026 -
2027
Kế
hoạch/Quyết
định của
- UBND các xã,
phường chủ trì
- Các sở, ban,
Từ nguồn ngân
sách cấp xã,
ngân sách tỉnh
5
STT
Nhiệm vụ
Thời gian
thực hiện
Sản phẩm
Kinh phí
thực hiện (tỷ
đồng)
Đơn vị thực
hiện/chủ trì thực
hiện
Nguồn vốn
thực hiện
đảm bảo thuận tiện và đáp
ứng yêu cầu kỹ thuật về
bảo vệ môi trường theo
quy định; xây dựng kế
hoạch xoá bỏ các điểm
tập kết không đúng quy
định, chấm dứt tình trạng
xả CTRSH bừa bãi, đốt
CTRSH tại các điểm tập
trung;
UBND cấp
xã
ngành, phối hợp
hỗ trợ và các
nguồn huy động
hợp pháp khác
4
Bổ sung hoặc chuyển đổi
phù hợp các khu xử lý đã
đóng cửa thành trạm trung
chuyển chất thải rắn sinh
hoạt: 01 Trạm trung
chuyển tại xã Nông Cống
trước khi vận chuyển về
khu xử lý CTRSH Nghi
Sơn; 01 trạm trung
chuyển tại xã Ngọc Lặc
và 01 trạm trung chuyển
tại xã Lương Sơn trước
khi vận chuyển về khu xử
lý CTRSH xã Sao Vàng.
Năm 2026 -
2030
Công trình
các trạm
trung truyển
được đầu tư,
xây dựng
Kinh phí do
UBND xã,
phường đề
xuất tùy quy
mô thực hiện
của từng địa
phương
- UBND các xã:
Nông Cống, Ngọc
Lặc và Sao Vàng
- Sở Xây dựng
hướng dẫn thực
hiện
- Các sở, ban,
ngành, phối hợp
Từ nguồn ngân
sách cấp xã,
ngân sách tỉnh
hỗ trợ và các
nguồn huy động
hợp pháp khác
IV
Quy hoạch hạ tầng xử lý chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với thực tiễn, định hướng phát triển kinh tế - xã
hội của tỉnh
6
STT
Nhiệm vụ
Thời gian
thực hiện
Sản phẩm
Kinh phí
thực hiện (tỷ
đồng)
Đơn vị thực
hiện/chủ trì thực
hiện
Nguồn vốn
thực hiện
1
Tổ chức rà soát đánh giá
các lò đốt để có hướng cải
tạo các lò đốt có thể hoạt
động
Trong năm
2026 - 2027
Chương
trình/Kế
hoạch
Kinh phí do
UBND xã,
phường đề
xuất
UBND các xã,
phường
Từ nguồn ngân
sách cấp xã,
ngân sách tỉnh
hỗ trợ và các
nguồn huy động
hợp pháp khác
2
Cải tạo, áp dụng các biện
pháp kỹ thuật để tăng sức
chứa bãi rác tại phường
như: Bỉm Sơn; Sầm Sơn;
các bãi rác tập trung cấp
huyện (trước đây) như:
Nông Cống, Lang Chánh,
Quan Sơn…
Trong năm
2026
Công trình,
dự án
Kinh phí do
UBND xã,
phường đề
xuất
UBND các xã,
phường
Từ nguồn ngân
sách cấp xã,
ngân sách tỉnh
hỗ trợ và các
nguồn huy động
hợp pháp khác
3
Trường hợp khi các nhà
máy xử lý CTRSH lớn
chưa đi vào hoạt động
hoặc không đảm bảo đầu
tư theo đúng cam kết, cần
đầu tư bổ sung mở rộng
các bãi chôn lấp đảm bảo
tổng khả năng tiếp nhận
khoảng 2 triệu tấn rác và
kêu gọi nhà đầu tư các dự
án xử lý CTRSH có quy
mô công suất từ 300
7
STT
Nhiệm vụ
Thời gian
thực hiện
Sản phẩm
Kinh phí
thực hiện (tỷ
đồng)
Đơn vị thực
hiện/chủ trì thực
hiện
Nguồn vốn
thực hiện
tấn/ngày trở lên
3.1
Đầu tư mở rộng bãi chôn
lấp CTRSH tại xã Sao
vàng, Hà Trung để đảm
bảo phương án dự phòng
xử lý khi các khu xử lý
rác trên địa bàn tỉnh bị
quá tải/tạm dừng hoạt
động
Công trình,
dự án
Kinh phí do
UBND xã,
phường đề
xuất tùy quy
mô thực hiện
của từng địa
phương
UBND các xã,
phường
Giai đoạn 1: Mở rộng
diện tích chôn lấp khoảng
06 ha
Năm 2026
Giai đoạn 1: Mở rộng
diện tích chôn lấp lên 15
ha
Năm 2027 -
2028
3.2
Đầu tư bổ sung, mở rộng
Bãi chôn lấp CTRSH tại
các xã: Lương Sơn, Đồng
Lương, Yên Thọ, Cẩm
Thuỷ, Như Xuân, Bá
Thước, Hồi Xuân, Mường
Lát, Na Mèo …
Trong năm
2027 - 2029
Công trình,
dự án
UBND các xã,
phường
3.3
Kêu gọi nhà đầu tư vào
các khu xử lý rác công
suất xử lý từ 300 tấn/ngày
trở lên
Công trình,
dự án
UBND các xã,
phường
8
STT
Nhiệm vụ
Thời gian
thực hiện
Sản phẩm
Kinh phí
thực hiện (tỷ
đồng)
Đơn vị thực
hiện/chủ trì thực
hiện
Nguồn vốn
thực hiện
Dự án xử lý rác tại
phường Nam Sầm Sơn; xã
Hà Trung (công nghệ đốt
phát điện), xã Nông Cống
(công nghệ đốt).
Năm 2026
Dự án xử lý rác tại xã
Vĩnh Lộc, xã Yên Thọ, xã
Triệu Lộc
Trong giai
đoạn 2027-
2030 và các
năm tiếp theo
4
Hoàn thành và đưa vào
hoạt động ổn định các dự
án Nhà máy đốt rác Nam
Sầm Sơn trước tháng
8/2026, Nhà máy điện rác
Bỉm Sơn tháng 12/2026
Trong năm
2026
-
- Sở Nông nghiệp
và Môi trường chủ
trì theo dõi, giám
sát việc thực hiện
các dự án
- UBND phường
Nam Sầm Sơn,
Bỉm Sơn phối hợp
Các dự án đã
được đầu tư
5
Hoàn thành và đưa vào
hoạt động ổn định nhà
máy điện rác Nghi sơn
Trong năm
2028
-
Kinh phí do
doanh nghiệp
đầu tư
6
Hoàn thành và đưa vào
hoạt động ổn định Khu xử
lý chất thải tập trung cấp
vùng tại xã Sao Vàng
Trong năm
2029
Công trình
-
Sở Nông nghiệp và
Môi trường chủ trì
đấu thầu lựa chọn
nhà đầu tư và theo
dõi, giám sát việc
thực hiện các dự
9
STT
Nhiệm vụ
Thời gian
thực hiện
Sản phẩm
Kinh phí
thực hiện (tỷ
đồng)
Đơn vị thực
hiện/chủ trì thực
hiện
Nguồn vốn
thực hiện
án
7
Rà soát chuyển đổi công
nghệ xử lý chất thải tại
các KXL theo hướng xử
lý chất thải có kết hợp với
thu hồi năng lượng. Xem
xét chuyển đổi công nghệ
của Nhà máy xử lý
CTRSH tại phường Đông
Quang từ công nghệ hỗn
hợp thành sang công nghệ
đốt CTRSH có thu hồi
năng lượng để phát điện
có công suất trên 500
tấn/ngày
Năm 2026 -
2030
Công
nghệ/dự án
-
Sở Khoa học và
Công nghệ, các
chủ dự án khu xử
lý
V
Khắc phục, xử lý, cải tạo, phục hồi môi trường tại các bãi chôn lấp CTRSH, khu xử lý đã quá tải, dừng hoạt
động
1
Xử lý tài sản công đối với
các lò đốt CTRSH cũ, quy
mô nhỏ đã dừng hoạt
động tại các các xã: Triệu
Lộc, Hoa Lộc, Hoằng
Lộc, Định Tân, Yên
Trường, Định Hòa,
Thường Xuân, Thọ Xuân,
Xuân Bình, Quảng Bình,
Trong
năm 2027 -
2028
Kinh phí do
UBND xã,
phường đề
xuất tùy quy
mô thực hiện
của từng địa
phương
UBND các xã:
Triệu Lộc, Hoa
Lộc, Hoằng Lộc,
Định Tân, Yên
Trường, Thường
Xuân, Thọ Xuân,
Xuân Bình, Quảng
Bình, Tân Dân
Từ nguồn ngân
sách cấp xã,
ngân sách tỉnh
hỗ trợ và các
nguồn huy động
hợp pháp khác
10
STT
Nhiệm vụ
Thời gian
thực hiện
Sản phẩm
Kinh phí
thực hiện (tỷ
đồng)
Đơn vị thực
hiện/chủ trì thực
hiện
Nguồn vốn
thực hiện
Tân Dân ...
2
Thực hiện xử lý triệt để ô
nhiễm môi trường tại các
bãi chôn lấp CTRSH đã
dừng hoạt động gồm: bãi
rác Cồn Quán phường
Hạc Thành, bãi chôn lấp
CTRSH xã Đông Quang,
Bãi rác núi Voi Bỉm Sơn,
bãi CTRSH phường
Trung Sơn cũ (phường
Sầm Sơn), bãi rác Đồi
Mốc và các bãi chôn lấp
CTRSH nhỏ lẻ tại các xã.
Từ năm 2027
trở đi
Công trình,
dự án
UBND xã, phường
chủ trì chỉ đạo Chủ
dự án khu xử lý
thực hiện; Sở
Nông nghiệp và
Môi trường hướng
dẫn
Từ nguồn ngân
sách cấp xã,
ngân sách tỉnh
hỗ trợ và các
nguồn huy động
hợp pháp khác
VI
Giảm thiểu phát sinh và đẩy mạnh tái chế CTRSH; ứng dụng khoa học, kỹ thuật trong xử lý CTRSH
1
Xây dựng, vận hành, kết
nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu
về quản lý chất thải trên
địa bàn; đẩy mạnh ứng
dụng hệ thống quản lý
CTRSH thông minh dựa
trên dữ liệu số để theo
dõi, đánh giá và cải thiện
Năm 2027
Cơ sở dữ
liệu
3,0
Sở Nông nghiệp và
Môi trường chủ trì
Từ nguồn ngân
sách cấp xã,
ngân sách tỉnh
hỗ trợ và các
nguồn huy động
hợp pháp khác
11
STT
Nhiệm vụ
Thời gian
thực hiện
Sản phẩm
Kinh phí
thực hiện (tỷ
đồng)
Đơn vị thực
hiện/chủ trì thực
hiện
Nguồn vốn
thực hiện
hiệu quả hoạt động phân
loại, thu gom, vận
chuyển, tái chế và xử lý
CTRSH
2
Xây dựng và nhân rộng
các mô hình phân loại rác
tại nguồn; phát triển các
phong trào tự quản bảo vệ
môi trường
Hàng năm
Mô
hình/chương
trình
1,0
Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam
tỉnh và các tổ chức
chính trị - xã hội
Từ nguồn ngân
sách cấp xã,
ngân sách tỉnh
hỗ trợ và các
nguồn huy động
hợp pháp khác
VII
Tăng cường giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm
1
Lắp đặt, khai thác hệ
thống camera giám sát,
đặc biệt tại các tuyến
đường giao thông, điểm
thu gom CTRSH, khu vực
nhạy cảm về môi trường
Từ năm 2027
- 2030
Hệ thống
thông tin
camera
Kinh phí do
UBND xã,
phường đề
xuất tùy quy
mô thực hiện
của từng địa
phương
UBND các xã,
phường
PHỤ LỤC 2
DỰ KIẾN PHÂN VÙNG THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT CHO CÁC NHÀ MÁY XỬ LÝ
CTRSH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẾN NĂM 2030
(Ban hành kèm theo Quyết định số /QĐ-UBND ngày tháng năm 2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh)
STT
Khu vực các huyện, thị xã, thành phố trước đây
Phân vùng về các nhà máy/khu
xử lý CTRSH
Cự ly vận
chuyển
trung bình
(km)
1
Khu vực thành phố Thanh Hóa trước đây (gồm 05 phường
hiện nay: Hạc Thành, Đông Tiến, Đông Sơn, Hàm Rồng,
Đông Quang)
Nhà máy xử lý rác Đông Nam tại
phường Đông Quang: Công suất
500 tấn/ngày (đang chuyển đổi
sang loại hình đốt phát điện)
15
2
Khu vực thành phố Thanh Hóa trước đây (phường Nguyệt
Viên hiện nay)
Nhà máy đốt rác phát điện phường
Bỉm Sơn: Công suất đốt 1.000
tấn/ngày; tổng công suất phát điện
18 MW
32
Khu vực thị xã Bỉm Sơn trước đây (gồm 02 phường hiện
nay: Bỉm Sơn, Quang Trung)
05
Khu vực huyện Hà Trung trước đây (gồm 05 xã hiện nay:
Hà Long, Hà Trung, Tống Sơn, Hoạt Giang, Lĩnh Toại)
10
Khu vực huyện Hậu Lộc trước đây (gồm 05 xã hiện nay:
Triệu Lộc, Đông Thành, Hậu Lộc, Hoa Lộc, Vạn Lộc)
26
Khu vực huyện Nga Sơn trước đây (gồm 06 xã hiện nay:
Nga Sơn, Nga Thắng, Hồ Vương, Tân Tiến, Nga An, Ba
Đình)
15
Khu vực huyện Hoằng Hóa trước đây (gồm 08 xã hiện nay:
Hoằng Hoá, Hoằng Tiến, Hoằng Thanh, Hoằng Lộc, Hoằng
Châu, Hoằng Sơn, Hoằng Phú, Hoằng Giang)
34
2
STT
Khu vực các huyện, thị xã, thành phố trước đây
Phân vùng về các nhà máy/khu
xử lý CTRSH
Cự ly vận
chuyển
trung bình
(km)
Khu vực huyện Thạch Thành trước đây (gồm 06 xã hiện
nay: Thạch Quảng, Thạch Bình, Thành Vinh, Vân Du,
Ngọc Trạo, Kim Tân)
35
3
Khu vực huyện Nông Cống trước đây (gồm 07 xã hiện nay:
Nông Cống, Thắng Lợi, Trung Chính, Trường Văn, Thăng
Bình, Tượng Lĩnh, Công Chính)
Khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt
Nghi Sơn: Công suất xử lý 620
tấn/ngày
37
Khu vực huyện Như Thanh trước đây (gồm 06 xã hiện nay:
Xuân Thái, Xuân Du, Mậu Lâm, Như Thanh, Yên Thọ,
Thanh Kỳ)
55
Khu vực thị xã Nghi Sơn trước đây (gồm 10 xã, phường
hiện nay: Ngọc Sơn, Tân Dân, Hải Lĩnh, Tĩnh Gia, Đào
Duy tư, Hải Bình, Trúc Lâm, Nghi Sơn, Các Sơn, Trường
Lâm)
16
Khu vực huyện Quảng Xương trước đây (gồm 07 xã hiện
nay: Lưu Vệ, Quảng Yên, Quảng Ngoc, Quảng Bình, Tiên
Trang, Quảng Chính)
50
4
Khu vực thành phố Sầm Sơn trước đây (gồm 02 phường
hiện nay: Sầm Sơn, Nam Sầm Sơn)
Nhà máy xử lý rác hỗn hợp tại
phường Nam Sầm Sơn: Công suất
300 tấn/ngày.
9
Khu vực thành phố Thanh Hoá trước đây (phường Quảng
Phú hiện nay)
5
5
Khu vực huyện Vĩnh Lộc trước đây (gồm 03 xã hiện nay:
Vĩnh Lộc, Tây Đô, Biện Thượng)
Nhà máy đốt CTRSH tại xã Vĩnh
Lộc: Công suất 100 tấn/ngày
6
6
Khu vực huyện Như Xuân trước đây (gồm 06 xã hiện nay:
Như Xuân, Thượng Ninh, Hoá Quỳ, Thanh Quân, Xuân
Bình, Thanh Phong)
Nhà máy đốt rác phát điện tại xã
Sao Vàng: Công suất đốt 1.000
tấn/ngày, phát điện 12 MW
42
3
STT
Khu vực các huyện, thị xã, thành phố trước đây
Phân vùng về các nhà máy/khu
xử lý CTRSH
Cự ly vận
chuyển
trung bình
(km)
Khu vực huyện Thiệu Hóa trước đây (gồm 05 xã hiện nay:
Thiệu Hoá, Thiệu Quang, Thiệu Tiến, Thiệu Toán, Thiệu
Trung)
27
Khu vực huyện Yên Định trước đây (gồm 07 xã hiện nay:
Quý Lộc, Yên Định, Yên Trường, Yên Phú, Yên Ninh,
Định Tân, Định Hoà)
26
Khu vực huyện Thọ Xuân trước đây (gồm 08 xã hiện nay:
Thọ Xuân, Thọ Long, Xuân Hoà, Sao Vàng, Lam Sơn, Thọ
Lập, Xuân Tín, Xuân Lập)
8
Khu vực huyện Thường Xuân trước đây (gồm 09 xã hiện
nay: Bát Mọt, Vạn Xuân, Yên Nhân, Lương Sơn, Thường
Xuân, Luận Thành, Tân Thành, Thắng Lộc, Xuân Chinh)
18
Khu vực huyện Triệu Sơn trước đây (gồm 08 xã hiện nay:
Thọ Bình, Triệu Sơn, Thọ Ngọc, Thọ Phú, Hợp Tiến, An
Nông, Tân Ninh, Đồng Tiến)
18
Khu vực huyện Ngọc Lặc trước đây (gồm 06 xã hiện nay:
Ngọc Lặc, Thạch Lập, Ngọc Liên, Minh Sơn, Nguyệt Ấn,
Kiên Thọ)
35
Khu vực huyện Cẩm Thủy trước đây (gồm 05 xã hiện nay:
Cẩm Thuỷ, Cẩm Thạch, Cẩm Tú, Cẩm Vân, Cẩm Tân)
56
Khu vực huyện Lang Chánh trước đây (gồm 06 xã hiện
nay: Linh Sơn, Đồng Lương, Giao An, Văn Phú, Yên
Thắng, Yên Khương)
53
7
Khu vực huyện Bá Thước trước đây (gồm 08 xã hiện nay:
Bá Thước, Thiết Ống, Văn Nho, Điền Quang, Điền Lư,
Xử lý tại các bãi chôn lấp/lò đốt
của xã, liên xã
15
4
STT
Khu vực các huyện, thị xã, thành phố trước đây
Phân vùng về các nhà máy/khu
xử lý CTRSH
Cự ly vận
chuyển
trung bình
(km)
Quý Lương, Cổ Lũng, Pù Luông)
8
Khu vực huyện Quan Hóa trước đây (gồm 08 xã hiện nay:
Phú Xuân, Trung Sơn, Hồi Xuân, Nam Xuân, Thiên Phủ,
Hiền Kiệt, Phú Lệ, Trung Thành)
Xử lý tại các bãi chôn lấp/lò đốt
của xã, liên xã
15
9
Khu vực huyện Quan Sơn trước đây (gồm 08 xã hiện nay:
Tam Thanh, Sơn Điện, Mường Mìn, Sơn Thuỷ, Na Mèo,
Trung Hạ, Quan Sơn, Tam Lư)
Xử lý tại các bãi chôn lấp/lò đốt
của xã, liên xã
15
10
Khu vực huyện Mường Lát trước đây (gồm 08 xã hiện nay:
Quang Chiểu, Mường Lát, Pù nhi, Nhi Sơn, Mường Lý,
Trung Lý, Mường Chanh, Tam Chung)
Xử lý tại các bãi chôn lấp/lò đốt
của xã, liên xã
15

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Quyết định 2284/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc ban hành Đề án thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2026 - 2030

văn bản tiếng việt

downloadQuyết định 2284/QĐ-UBND (Bản PDF)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

văn bản TIẾNG ANH

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

  • Văn bản liên quan Quyết định 2284/QĐ-UBND
  • Văn bản cùng chủ đề

văn bản cùng lĩnh vực

văn bản mới nhất

CHÍNH SÁCH BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN
Yêu cầu hỗ trợYêu cầu hỗ trợ
Chú thích màu chỉ dẫn
Chú thích màu chỉ dẫn:
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng các màu sắc:
Sửa đổi, bổ sung, đính chính
Thay thế
Hướng dẫn
Bãi bỏ
Bãi bỏ cụm từ
Bình luận
Click vào nội dung được bôi màu để xem chi tiết.
×