- Tổng quan
- Nội dung
- Dự thảo PDF
- Hồ sơ dự án
- Lược đồ
- Tải về
Dự thảo Thông tư hướng dẫn kiểm tra giám sát hoạt động nhận chìm ở biển
Ngày cập nhật: Thứ Sáu, 24/07/2026 11:34 (GMT+7)
| Lĩnh vực: | Tài nguyên-Môi trường Hàng hải | Nhóm dự thảo: | Dự thảo văn bản Trung ương |
| Lần ban hành: | Lần 1 | Loại dự thảo: | Thông tư |
| Hạn gửi góp ý: | 01/08/2026 | Link góp ý: | Gửi góp ý |
| Cơ quan chủ trì dự thảo: | Cục Biển và Hải đảo Việt Nam | Trạng thái: |
Chưa thông qua
|
| Ngày cập nhật: | 22/07/2026 |
Phạm vi điều chỉnh
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tình trạng hiệu lực:
Chưa thông qua
Tình trạng: Chưa thông qua

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG
CC BIN V HI ĐO VIT NAM
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: /BC-BHĐ
Hà Nội, ngày tháng năm 2026
BN ĐÁNH GIÁ THỦ TC HNH CHÍNH, VIC PHÂN QUYỀN, PHÂN
CẤP, VIC ỨNG DNG, THÚC ĐẨY PHÁT TRIN KHOA HỌC, CÔNG
NGH, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO V CHUYN ĐỔI SỐ, BO ĐM BÌNH
ĐẲNG GIỚI, VIC THỰC HIN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRONG DỰ
ÁN, DỰ THO THÔNG TƯ HƯỚNG DẪN VIC KIM TRA, GIÁM
SÁT HOẠT ĐỘNG NHẬN CHÌM Ở BIN
Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Quy
chế công tác pháp chế của Bộ Nông nghiệp và Môi trường được ban hành tại Quyết
định số 4479/QĐ-BNNMT ngày 29/10/2025 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và
Môi trường và các quy định pháp luật có liên quan, Cục Biển và Hải đảo Việt Nam
đã tiến hành đánh giá thủ tục hành chính, việc phân quyền, phân cấp, việc ứng dụng,
thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, việc
bảo đảm bình đẳng giới, việc thực hiện chính sách dân tộc trong dự án, dự thảo
Thông tư hướng dẫn việc kiểm tra, giám sát hoạt động nhận chìm ở biển, kết quả
như sau:
I. TỔ CHỨC THỰC HIN ĐÁNH GIÁ
1. Bối cảnh xây dựng dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
I.1.1. Bối cảnh quốc tế:
Vấn đề nhận chìm ở biển vật, chất từ hoạt động nạo vét trên thế giới cũng
như Việt Nam vẫn được thực hiện thường xuyên, phục vụ cho việc duy tu, nạo
vét bảo đảm cho hoạt động của cảng biển và luồng hàng hải. Theo số liệu của Tổ
chức hàng hải quốc tế (IMO) lập năm 2016, từ năm 1973 - 2010, 44 nước trên thế
giới đã cho phép nhận chìm khoảng 30 tỷ tấn vật, chất từ hoạt động nạo vét xuống
biển. Tổng khối lượng vật, chất trong thời gian nêu trên có xu hướng tăng dần, từ
100 triệu tấn/năm (năm 1972) lên 800 triệu tấn/năm (năm 2010). Trong năm 2012,
Trung Quốc đã cho phép nhận chìm xuống biển khoảng 246 triệu tấn vật, chất từ
hoạt động nạo vét (trong đó có khoảng 59,5 triệu tấn xuống biển Đông); Mỹ
khoảng 55 triệu tấn; Hà Lan khoảng 25 triệu tấn; Anh khoảng 13 triệu tấn. Cũng
theo IMO, khối lượng chất nạo vét được cấp phép nhận chìm ở biển chiếm khoảng
80 - 90% khối lượng vật, chất được phép nhận chìm ở biển.
Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 mà Việt Nam là thành
viên đã quy định về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia liên quan đến biển, đại
2
dương, bao gồm việc nhận chìm ở biển. Theo đó, tại Công ước này định nghĩa
“Sự nhận chìm” là: (1) Mọi sự trút bỏ có ý thức xuống biển các loại chất thải hoặc
chất khác từ tàu, thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hoặc công trình khác được bố
trí ở biển; (2) Mọi sự đánh chìm tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hoặc công
trình khác được bố trí ở biển.
Bên cạnh đó, vấn đề nhận chìm cũng được quy định cụ thể trong Công ước
Luân Đôn năm 1972 - Công ước mang tính toàn cầu nhằm ngăn chặn việc nhận
chìm chất thải cũng như các chất khác có thể ảnh hưởng xấu tới môi trường biển;
Nghị định thư Luân Đôn năm 1996 về ngăn ngừa ô nhiễm biển do nhận chìm chất
thải và các chất khác. Trong đó có quy định chất nạo vét được phép đổ xuống biển
dựa trên cơ sở đây là chất được đưa lên từ đáy biển, vì vậy, việc đưa trở lại biển
là một điều rất tự nhiên nếu chất này không chứa những chất độc hại có khả năng
làm môi trường biển thay đổi theo chiều hướng xấu đi.
I.1.2. Bối cảnh trong nước
Hoạt động nhận chìm ở biển trên thực tế cũng đã diễn ra tại Việt Nam từ
trước khi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo ra đời, như: Nạo vét để tạo
đường cho tàu biển ra vào khi xây dựng cảng Cái Lân, gần khu vực cầu Bãi Cháy;
vật, chất từ hoạt động nạo vét cảng trung chuyển Lạch Huyện, Hải Phòng với tổng
khối lượng vật, chất nhận chìm gần 40 triệu m3 và thực hiện theo cơ chế xin -
cho.
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu nhận chìm, đặc biệt là nhận
chìm chất nạo vét từ luồng hàng hải, cảng xuống biển tại Việt Nam trong thời gian
qua đang tăng nhanh.
Khu vực biển phía Bắc bao gồm các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình,
Nam Định, Ninh Bình đều có hoạt động hàng hải, cùng với đó là nhu cầu nạo vét
các tuyến luồng hàng hải, cảng biển. Mặc dù nhu cầu nạo vét tại các tuyến luồng
hàng hải khu vực biển phía Bắc lớn đến gần 40 triệu m
3
, nhất là khu vực Quảng
Ninh và Hải Phòng, nhưng cho đến nay, số lượng tỉnh có Giấy phép nhận chìm
chất nạo vét ở biển mới chỉ được cấp tại vùng biển Hải Phòng (3 Giấy phép với
khối lượng nhận chìm gần 6 triệu m
3
), còn lại các tỉnh đều chọn phương án đổ
chất nạo vét trên bờ.
Sau khi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015; Nghị định
số 40/2016/NĐ-CP và các quy định pháp luật liên quan có hiệu lực, Bộ TN&MT
(nay là Bộ NN&MT) đã cấp 47 Giấy phép với khối lượng nhận chìm khoảng 107
triệu m
3
chất nạo vét cảng, luồng; địa phương có biển cấp phép khoảng 15 Giấy
phép nhận chìm ở biển.
3
2. Mục đích, yêu cầu đánh giá
Làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm giữa cơ quan quản lý nhà nước ở Trung
ương (Bộ, Cục chuyên ngành) và chính quyền địa phương (UBND cấp tỉnh, Sở
Tài nguyên và Môi trường/Nông nghiệp và Môi trường).
Tăng cường tính chủ động, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý tại địa bàn,
đồng thời khắc phục tình trạng chồng chéo hoặc bỏ trống trách nhiệm giữa các
lực lượng chức năng trên biển (Cảnh sát biển, Biên phòng, Kiểm ngư, Cảng vụ
hàng hải).
Hiện đại hóa công tác kiểm tra, giám sát hoạt động nhận chìm; nâng cao độ
chính xác, tính khách quan và giảm thiểu chi phí quản lý trực tiếp trên biển.
Xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa đồng bộ về hoạt động nhận chìm để phục vụ
quản lý tổng hợp và công khai, minh bạch thông tin.
II. KẾT QU ĐÁNH GIÁ
1. Đánh giá thủ tục hành chính (nếu trong dự thảo văn bản có quy định
thủ tục hành chính)
Dự thảo Thông tư không phát sinh thủ tục hành chính.
2. Việc phân quyền, phân cấp (nếu trong dự thảo văn bản có quy định
về phân quyền, phân cấp)
Trong dự thảo Thông tư, việc phân quyền, phân cấp được định hướng gắn
chặt với yêu cầu tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy chính quyền 02 cấp,
bảo đảm hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Dự thảo quán
triệt nguyên tắc phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm giữa Trung ương và địa
phương và giữa các cấp chính quyền địa phương, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền
theo tinh thần Kết luận số 183-KL/TW ngày 01/8/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí
thư về tích cực triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và
Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác
xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ
nguyên mới đặt ra mục tiêu đến năm 2030.
Rõ ràng về nhiệm vụ: Phân định cụ thể thẩm quyền kiểm tra, giám sát theo
quy mô dự án, khối lượng nhận chìm hoặc phân vùng quản lý vùng biển.
Phù hợp năng lực thực thi: Phân cấp phải đi kèm với điều kiện bảo đảm
năng lực chuyên môn, hạ tầng và trang thiết bị cho các cơ quan địa phương.
Tránh chồng chéo: Đảm bảo nguyên tắc một việc chỉ giao một cơ quan chủ
trì, các đơn vị khác phối hợp kiểm tra, giám sát nhằm giảm áp lực kiểm tra trùng
lặp lên doanh nghiệp.
4
Tuy nhiên, trong Dự thảo Thông tư hướng dẫn việc kiểm tra, giám sát hoạt
động nhận chìm ở biển quy định về thẩm quyền giám sát cụ thể: Cơ quan nào cấp
phép thì cơ quan đó có thẩm quyền giám sát.
3. Việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số (nếu trong dự thảo văn bản có quy định về việc ứng
dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số)
Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ
Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số quốc gia, Dự thảo Thông tư quy định về nền tảng số nhằm quản lý môi
trường dựa trên dữ liệu theo thời gian thực, liên thông giữa trung ương và địa
phương và chủ dự án, cụ thể:
Chuẩn hóa công nghệ giám sát: Đưa vào quy định bắt buộc việc kết nối,
chia sẻ dữ liệu giám sát hành trình (GPS, AIS), thiết bị đo đạc, camera ghi hình
tự động/từ xa trên các phương tiện vận chuyển vật, chất nhận chìm.
Khả năng tích hợp dữ liệu: Đánh giá tính sẵn sàng của hệ thống hạ tầng
công nghệ thông tin trong việc thu thập, lưu trữ, xử lý dữ liệu giám sát theo thời
gian thực.
Thúc đẩy đổi mới sáng tạo: Khuyến khích ứng dụng các công nghệ mới
trong quan trắc môi trường biển, mô phỏng lan truyền chất nhận chìm và cảnh báo
sớm rủi ro sự cố môi trường.
Trên đây là bản đánh giá thủ tục hành chính, việc phân cấp nhiệm vụ, quyền
hạn, việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số trong dự thảo Thông tư hướng dẫn việc kiểm tra, giám sát hoạt động
nhận chìm ở biển./.
Nơi nhận:
- Như trên;
- Cục trưởng Nguyễn Quốc Toản (để báo cáo);
- Lưu: VT, KSMTB, MH.
KT. CC TRƯỞNG
PHÓ CC TRƯỞNG
Nguyễn Việt Dũng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!
Hồ sơ dự án
Hồ sơ dự án tổng hợp toàn bộ tài liệu liên quan đến quá trình xây dựng Dự thảo đang xem.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Hồ sơ dự án
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Dự thảo Thông tư hướng dẫn việc kiểm tra, giám sát hoạt động nhận chìm ở biển
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài
phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.