Nghị quyết 51/2005/NQ-QH11 của Quốc hội về nhiệm vụ năm 2006

Thuộc tính Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng:Đã biết

NGHỊ QUYẾT

CỦA QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
SỐ 51/2005/QH11 NGÀY 29 THÁNG 11 NĂM 2005
VỀ NHIỆM VỤ NĂM 2006

 

QUỐC HỘI
NƯỚC CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

 

Căn cứ Điều 84 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;

Trên cơ sở xem xét Báo cáo của Chính phủ, Báo cáo của các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan hữu quan và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội;

QUYẾT NGHỊ:

 

Quốc hội cơ bản tán thành đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2005, phương hướng, nhiệm vụ năm 2006 với các mục tiêu, chỉ tiêu, giải pháp được nêu trong Báo cáo của Chính phủ, Báo cáo của các cơ quan của Quốc hội và các cơ quan hữu quan; đồng thời nhấn mạnh một số vấn đề sau:

 

I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH NĂM 2005

 

Năm 2005, mặc dù trong nước có nhiều khó khăn, ngoài nước có nhiều diễn biến phức tạp, nhưng với quyết tâm tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới, sự nỗ lực vượt qua khó khăn của Đảng và Nhà nước, của các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở, của cộng đồng các doanh nghiệp, của toàn quân và toàn dân, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu theo Nghị quyết của Quốc hội đều đạt và vượt, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao nhất trong 5 năm qua, đạt bước tiến tương đối toàn diện về phát triển kinh tế - xã hội; quốc phòng, an ninh giữ được ổn định; vị thế của nước ta trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao…

Tuy vậy, chất lượng tăng trưởng kinh tế, năng lực cạnh tranh của nhiều sản phẩm, nhiều ngành hàng còn thấp so với các nước trong khu vực. Giá cả nhiều mặt hàng tăng mạnh đã tác động bất lợi đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Cơ cấu hàng xuất khẩu chậm được cải thiện, nhập siêu vẫn lớn. Tình trạng lãng phí, thất thoát, tham nhũng trong sử dụng nguồn lực tài chính nhà nước chưa được ngăn chặn có kết quả. Việc quản lý và sử dụng đất đai còn nhiều hạn chế. Chất lượng dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu. Trật tự, kỷ cương xã hội chưa nghiêm. Tai nạn giao thông xảy ra còn nhiều. Môi trường sinh thái xuống cấp khá nghiêm trọng.

 

 

 

II. MỤC TIÊU, CÁC CHỈ TIÊU CỦA NĂM 2006

 

1- Mục tiêu tổng quát:

Phát triển kinh tế nhanh, bền vững. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội và bảo vệ, cải thiện môi trường; coi trọng phát triển con người, mở rộng dân chủ. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.

2- Các chỉ tiêu chủ yếu:

- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 8%;

- Giá trị tăng thêm của ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng 3,8%; ngành công nghiệp và xây dựng tăng 10,2%; ngành dịch vụ tăng 8%;

- Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 16,4%;

- Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội chiếm 38,6% GDP;

- Tốc độ tăng giá tiêu dùng thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế;

- Tạo việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động; trong đó, xuất khẩu lao động và chuyên gia 7,5 vạn người;

- Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 20% (theo chuẩn mới);

- Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống 24%;

- Giảm tỷ lệ sinh 0,4‰;

- Hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở 35 tỉnh. Tuyển mới đại học, cao đẳng tăng 10%; trung học chuyên nghiệp tăng 15% và đào tạo nghề dài hạn tăng 13%;

- Nâng tỷ lệ che phủ rừng lên 38%;

- Cung cấp nước sạch cho 67% dân số nông thôn và 75% ở đô thị;

- Xử lý được 40% cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

 

III. CÁC NHIỆM VỤ HÀNH CHÍNH

 

1. Rà soát, tiếp tục hoàn chỉnh các quy định pháp luật, chính sách để huy động mọi nguồn lực về vốn, lao động, đất đai, tài nguyên, khoa học, công nghệ cho phát triển kinh tế - xã hội. Nâng cao chất lượng tăng trưởng; phấn đấu tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) cao hơn 8%. Phát huy tốt nhất tiềm năng kinh tế dân doanh, các nguồn đầu tư nước ngoài; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, nhanh chóng xóa bỏ độc quyền, xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế.

Rà soát để tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đồng bộ hệ thống chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn.

Áp dụng các biện pháp kiên quyết khắc phục tình trạng dàn trải, thất thoát, lãng phí, tham nhũng trong đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn nhà nước, xử lý nợ tồn đọng trong xây dựng cơ bản theo Nghị quyết của Quốc hội. Tăng cường các nguồn lực đầu tư đồng bộ có hiệu quả cho vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long.

Bảo đảm việc sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước theo đề án được duyệt; chỉ đạo và sơ kết kịp thời việc thí điểm thành lập các tập đoàn kinh tế mạnh.

Phát triển mạnh hơn, đồng bộ hơn các loại thị trường, nhất là thị trường bất động sản, thị trường tài chính; thị trường công nghệ; mở rộng thị trường trong nước và ngoài nước.

Tích cực thực hiện lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh đàm phán để gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO).

Tiếp tục cải cách tài chính nhà nước và hoàn thiện hệ thống thuế theo yêu cầu phát triển đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế. Hiện đại hóa công tác quản lý thu, chi ngân sách nhà nước. Điều hành linh hoạt tỷ giá và lãi suất, kiểm soát lạm phát, giữ ổn định kinh tế vĩ mô. Nâng cao độ an toàn của hệ thống ngân hàng và chất lượng tín dụng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu tăng trưởng bền vững; đa dạng hóa hoạt động dịch vụ và sức cạnh tranh của hệ thống ngân hàng.

Đổi mới cơ chế tài chính, cơ chế quản lý khoa học và công nghệ. Thúc đẩy việc gắn kết hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ với doanh nghiệp, với thực tiễn sản xuất và đời sống; ứng dụng và phát triển công nghệ cao. Đổi mới, sắp xếp lại hệ thống tổ chức, đầu tư chiều sâu nhằm nâng cao tiềm lực các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

Đẩy mạnh công tác kiểm tra, đánh giá và xử lý vi phạm quy định về môi trường. Xử lý nghiêm các cơ sở gây ô nhiễm. Quản lý chặt chẽ hoạt động khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

2. Huy động mọi nguồn lực, áp dụng nhiều giải pháp, chính sách đồng bộ để giảm hộ nghèo theo chuẩn mới; tập trung hỗ trợ vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao; có giải pháp phù hợp để người nghèo tự vượt khó vươn lên.

Đổi mới cơ chế, đầu tư tập trung cho các xã đặc biệt khó khăn nhằm tạo sự chuyển biến nhanh về trình độ phát triển sản xuất, thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc. Tăng khả năng hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn.

Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động y tế; đảm bảo thực hiện thống nhất, đầy đủ các chính sách về khám, chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi và người nghèo. Triển khai các biện pháp tích cực để tiếp tục giảm tỷ lệ tăng dân số. Tập trung chỉ đạo, ưu tiên sử dụng các nguồn lực phòng chống, ngăn chặn có hiệu quả dịch cúm gia cầm và dịch cúm ở người.

Giải quyết cơ bản các tồn đọng về chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng. Triển khai thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về người cao tuổi, người tàn tật. áp dụng các cơ chế, chính sách tạo việc làm cho nông dân có đất thu hồi chuyển sang làm công nghiệp, phát triển đô thị; giải quyết những vấn đề bức xúc phát sinh đối với người lao động di chuyển đến các khu công nghiệp và đô thị.

Triển khai kiên quyết, đồng bộ các biện pháp đẩy lùi các tệ nạn xã hội, nhất là buôn bán và sử dụng ma túy trái phép.

3. Thúc đẩy xã hội hóa và coi trọng nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Củng cố kết quả xóa mù chữ; thực hiện tốt phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Giải quyết đồng bộ các điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, sách giáo khoa, đảm bảo yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Phát triển mạnh hệ thống dạy nghề gồm nhiều trình độ. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình kiên cố hóa trường, lớp học.

Chuyển phần lớn cơ sở công lập cung cấp dịch vụ văn hóa sang hoạt động theo cơ chế tài chính áp dụng cho hoạt động dịch vụ công ích hoặc doanh nghiệp. Tăng thời lượng, nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình nói chung và bằng tiếng dân tộc nói riêng.

Triển khai đề án thể dục, thể thao cơ sở nhằm phát triển mạnh mẽ, rộng khắp phong trào rèn luyện sức khỏe trong nhân dân. Chú trọng phát triển các môn thể thao thành tích cao.

Phát huy tốt nhất tiềm năng của thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lập thân, lập nghiệp.

4. Củng cố quốc phòng, an ninh, tăng khả năng bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Nâng cao chất lượng huấn luyện của lực lượng vũ trang. Ngăn chặn các loại tội phạm; kiềm chế tai nạn giao thông.

Thực hiện có hiệu quả đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Củng cố và hoàn thiện khuôn khổ quan hệ đã được thiết lập với các nước láng giềng, các nước trong khu vực và các đối tác quan trọng. Tăng cường hoạt động trên các diễn đàn đa phương khu vực và thế giới. Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền đối ngoại và công tác ngoại vụ địa phương. Chuẩn bị và tổ chức tốt các hội nghị quốc tế do nước ta đăng cai và chủ trì.

5. Tập trung giải quyết đúng và kịp thời những khiếu nại, tố cáo về tham nhũng, đất đai, nhà ở; những vụ việc phức tạp, bức xúc, kéo dài, sắp hết thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm. Hạn chế khiếu kiện đông người, vượt cấp. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.

6. Nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; phòng chống vi phạm pháp luật và tội phạm phức tạp; làm rõ trách nhiệm và khắc phục tình trạng vi phạm thời hạn tố tụng, xử lý oan, sai.

Củng cố, kiện toàn về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; coi trọng công tác giáo dục, rèn luyện về chính trị, tư tưởng, đạo đức và nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan tư pháp.

7. Đẩy nhanh tiến trình cải cách hành chính; kịp thời loại bỏ các thủ tục hành chính bất hợp lý; kiện toàn và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy quản lý hành chính nhà nước; giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật công vụ. Tăng cường kiểm tra, thanh tra để phát hiện, xử lý nghiêm các cán bộ, công chức vi phạm pháp luật, thoái hóa biến chất. Triển khai kiên quyết, có hiệu quả các quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tham nhũng. Sớm ban hành và thực hiện nghiêm chế độ công vụ. Nâng cao đạo đức, trách nhiệm, ý thức phục vụ của cán bộ, công chức nhà nước, trước hết đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị.

Nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ, công tác hòa giải ở cơ sở và công tác tiếp dân. Phát huy hơn nữa vai trò giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

 

Chính phủ chỉ đạo, điều hành các ngành, các cấp chủ động tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2006; phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức thực hiện việc kiện toàn một bước, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp.

Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.

Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác thực hiện giám sát và động viên mọi tầng lớp nhân dân thực hiện tốt Nghị quyết của Quốc hội.

Quốc hội kêu gọi đồng bào, chiến sỹ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài nêu cao tinh thần thi đua yêu nước, đoàn kết, động viên mọi nguồn lực, vượt qua khó khăn, phấn đấu lập thành tích chào mừng Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2006.

 

Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005.

 

Chủ tịch Quốc hội

Nguyễn Văn An

 

Thuộc tính văn bản
Nghị quyết 51/2005/NQ-QH11 của Quốc hội về nhiệm vụ năm 2006
Cơ quan ban hành: Quốc hội Số công báo: Đã biết
Số hiệu: 51/2005/NQ-QH11 Ngày đăng công báo: Đã biết
Loại văn bản: Nghị quyết Người ký: Nguyễn Văn An
Ngày ban hành: 29/11/2005 Ngày hết hiệu lực: Đang cập nhật
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực: Chính sách
Tóm tắt văn bản
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Để được hỗ trợ dịch thuật văn bản này, Quý khách vui lòng nâng cấp gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao.

Tôi muốn dịch văn bản này (Request a translation)
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Văn bản này chưa có chỉ dẫn thay đổi
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!