Quyết định 12/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về điều hành xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân bón năm 1998

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung MIX

    - Tổng hợp lại tất cả các quy định pháp luật còn hiệu lực áp dụng từ văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính…

    - Khách hàng chỉ cần xem Nội dung MIX, có thể nắm bắt toàn bộ quy định pháp luật hiện hành còn áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

  • Tải về
Mục lục
Tìm từ trong trang
Tải văn bản
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
Lưu
Theo dõi hiệu lực VB

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký phần mềm.

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản LuatVietnam và đăng ký sử dụng Phần mềm tra cứu văn bản.

Báo lỗi
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

QUYẾT ĐỊNH

CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 12/1998/QĐ-TTG
NGÀY 23 THÁNG 01 NĂM 1998 VỀ ĐIỀU HÀNH XUẤT KHẨU GẠO VÀ NHẬP KHẨU PHÂN BÓN NĂM 1998

 

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

 

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 30 thàng 9 năm 1992;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thương mại và Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,

QUYẾT ĐỊNH:

I. XUẤT KHẨU GẠO:

 

Điều 1. Hạn ngạch xuất khẩu gạo 4,0 triệu tấn trong năm 1998 được giao như sau:

- Các địa phương: 2,8 triệu tấn (bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh, thành phố).

- Các Công ty của Trung ương: 1,2 triệu tấn (kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài).

Căn cứ sản lượng lúa hàng hóa cần tiêu thụ, kết quả xuất khẩu gạo năm 1997 và sau khi thống nhất với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trước mắt, Bộ trưởng Bộ Thương mại ra quyết định phân một lần 90% hạn ngạch xuất khẩu gạo nói trên cho các tỉnh, các doanh nghiệp Trung ương và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngay trong tháng 1 năm 1998 để tổ chức thực hiện.

Đến tháng 9 năm 1998, nếu tình hình sản xuất thuận lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét việc giao tiếp hạn ngạch xuất khẩu gạo còn lại của năm 1998.

Việc xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện theo giấy phép đầu tư được cấp.

 

Điều 2. Đối với gạo sản xuất ở miền Bắc và miền Trung: Cho phép các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu. Bộ Thương mại có hướng dẫn cụ thể để thực hiện.

 

Điều 3. Đối với gạo sản xuất ở miền Nam: ngoài các doanh nghiệp xuất khẩu gạo trực tiếp năm 1997, nay mở rộng thêm:

 

+ Các tỉnh có sản lượng lúa trên 1 triệu tấn, nếu chưa có 02 doanh nghiệp xuất khẩu gạo trực tiếp, được bổ sung 01 doanh nghiệp.

+ Cho phép Tổng công ty thương mại tổng hợp Sài gòn, Tổng công ty vật tư nông nghiệp, Công ty xuất nhập khẩu ngũ cốc thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Nông trường Cờ Đỏ Cần Thơ được xuất khẩu gạo trực tiếp.

+ Ngoài số doanh nghiệp Nhà nước được ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết định theo quy định tại Điều này, Bộ Thương mại cho phép thí điểm một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh chế biến xay xát lúa gạo được xuất khẩu gạo trực tiếp nếu có đủ điều kiện.

 

Điều 4. Việc phân bổ hạn ngạch và điều chỉnh hạn ngạch xuất khẩu gạo (trong tổng hạn ngạch xuất khẩu gạo đã giao cho tỉnh) cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, bao gồm cả doanh nghiệp xuất khẩu gạo là thành viên của Tổng công ty lương thực miền Nam, do Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định cụ thể.

 

Điều 5. Căn cứ tình hình cung cầu lương thực trong cả nước và diễn biến thị trường gạo thế giới, Bộ Tài chính điều chỉnh thuế suất thuế xuất khẩu gạo phù hợp tình hình thực tế. Trước mắt áp dụng mức thuế suất thuế xuất khẩu gạo là 0% để khuyến khích việc tiêu thụ lúa gạo ngay từ đầu năm 1998.

 

II. NHẬP KHẨU PHÂN BÓN:

 

Điều 6. Căn cứ chỉ tiêu nhập khẩu phân bón các loại năm 1998 (Phân ure 1.600.000 tấn: Phân DAP 300.000 tấn; Phân SA 250.000 tấn; Phân NPK 350.000 tấn; Phân KCL 240.000 tấn), Bộ Thương mại phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phân bổ một lần chỉ tiêu nhập phân bón các loại cho các tỉnh và các doanh nghiệp Trung ương trong tháng 1 năm 1998 để các tỉnh và doanh nghiệp chủ động trong kế hoạch nhập khẩu và tiêu thụ phân bón.

 

Điều 7. Để bảo đảm nhu cầu phân bón cho sản xuất trong cả nước, ngoài các doanh nghiệp nhập khẩu phân bón trong năm 1997, bổ sung các doanh nghiệp sau đây được nhập khẩu phân bón:

- Công ty xuất nhập khẩu Khoáng sản (Minexport) Bộ Thương mại

- Tổng công ty hoá chất - Bộ Công nghiệp

- 01 doanh nghiệp nhà nước của tỉnh Gia Lai

- 01 doanh nghiệp nhà nước của tỉnh Nam Định

- Bộ Thương mại trình Thủ tướng Chính phủ cho phép một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh đủ điều kiện được nhập khẩu và kinh doanh phân bón.

 

Điều 8. Giao chỉ tiêu nhập khẩu khoảng 300.000 tấn phân bón các loại cho Công ty thương mại và dịch vụ Hachimex Hải Phòng (ngoài chỉ tiêu nêu tại Quyết định này), để thực hiện phương án kinh doanh theo phương thức lập kho dự trữ thường xuyên đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý về nguyên tắc tại văn bản số 5271/KTTH ngày 20 tháng 10 năm 1997.

Căn cứ các quy định hiện hành, giao Bộ Thương mại và Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét việc cho phép Công ty Liên doanh HYDRO AGRI Việt Nam (HAV) tổ chức tạo nguồn, đáp ứng nhu cầu phân bón ổn định cho các doanh nghiệp Việt Nam theo phương thức lập kho nói trên.

 

Điều 9. Đối với các loại phân bón đặc chủng khác trong nước chưa sản xuất (phân vi sinh, phân bón qua lá) đã được phép sử dụng tại Việt nam, các doanh nghiệp có Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu ngành hàng phù hợp được nhập khẩu theo nhu cầu sản xuất và kinh doanh.

Đối với các loại phân hoá học là nguyên liệu sản xuất phân bón tổng hợp, giao Bộ Thương mại thống nhất với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công nghiệp cho phép một số doanh nghiệp quy định tại Điều 7 của Quyết định này bảo đảm nhập đủ nguồn nguyên liệu, cung ứng cho các cơ sở sản xuất phân bón trong nước đã được Bộ Công nghiệp cấp giấy phép sản xuất và Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường cấp giấy chứng nhận chất lượng hàng hoá;

Bộ Công nghiệp cần rà soát, chấn chỉnh lại các doanh nghiệp sản xuất phân bón tổng hợp, nhằm mục đích bảo đảm chất lượng hàng hoá và cân đối cung cầu về phân bón tổng hợp.

 

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

 

Điều 10. Căn cứ Quyết định này và Quyết định của Bộ trưởng Bộ Thương mại giao hạn ngạch xuất khẩu gạo và chỉ tiêu nhập phân bón năm 1998 cho các tỉnh, trong đầu tháng 2 năm 1998, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh thông báo tên doanh nghiệp và hạn mức xuất khẩu gạo , nhập khẩu phân bón theo quy định tại Điều 3 và Điều 7 của Quyết định này cho Bộ Thương mại, Tổng cục Hải quan, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư để phối hợp trong chỉ đạo thực hiện.

 

Điều 11. Căn cứ Quyết định giao hạn ngạch xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân bón của Bộ Thương mại (cho các tỉnh, các doanh nghiệp của Trung ương, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài), Quyết định của Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh (giao hạn ngạch xuất khẩu gạo và chỉ tiêu nhập khẩu phân bón cho các doanh nghiệp thuộc tỉnh), Tổng cục Hải quan hướng dẫn hải quan cửa khẩu làm thủ tục xuất - nhập hàng hoá cho các doanh nghiệp. Bãi bỏ việc cấp giấy phép xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân bón.

 

Điều 12. Đối với hạn ngạch xuất khẩu gạo và chỉ tiêu nhập khẩu phân bón năm 1997, các doanh nghiệp được phép thực hiện đến hết ngày 31 tháng 3 năm 1998.

Đối với những thị trường gạo trước đây đã giao cho một số doanh nghiệp, nếu các doanh nghiệp khác ký được hợp đồng có các điều kiện thương mại và giá có lợi theo chỉ đạo của Bộ Thương mại, thì cũng được phép trực tiếp xuất khẩu hoặc xuất khẩu qua khách hàng thứ ba vào các thị trường này.

Ngoài các doanh nghiệp được kinh doanh xuất khẩu gạo thường xuyên, doanh nghiệp nhà nước khác tìm được thị trường mới và xét thấy nếu có hiệu quả thì Bộ trưởng các Bộ, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương kiến nghị để Bộ Thương mại xem xét, giải quyết cho xuất khẩu.

 

Điều 13. ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thường xuyên phối hợp với Bộ Thương mại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chỉ đạo chặt chẽ các doanh nghiệp tổ chức mua hết lúa hàng hoá cho nông dân; xuất khẩu có hiệu quả và bảo đảm cung ứng kịp thời vật tư với giá cả hợp lý cho sản xuất nông nghiệp; kết hợp việc kinh doanh lương thực với việc cung ứng phân bón và các dịch vụ khác cho sản xuất nông nghiệp.

y ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải kiểm tra, giám sát và chịu trách nhiệm về việc thực hiện các chỉ tiêu xuất - nhập khẩu được giao; không cho phép mua bán, chuyển nhượng hạn ngạch dưới bất kỳ hình thức nào.

 

Điều 14. Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng thương mại, bảo đảm cho các doanh nghiệp vay đủ vốn và kịp thời để mua lúa, gạo và nhập khẩu phân bón theo Quyết định này.

 

Điều 15. Thành lập Ban chỉ đạo để điều hành hoạt động xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân bón do một Thứ trưởng Bộ Thương mại làm Trưởng Ban, bao gồm đại diện của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Tổng cục Hải quan một số tỉnh có sản lượng lúa hàng hóa lớn và Hiệp hội xuất nhập khẩu lương thực Việt Nam.

 

Điều 16. Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày ký đến hết ngày 31 tháng 3 năm 1999. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch y ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

thuộc tính Quyết định 12/1998/QĐ-TTg

Quyết định 12/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về điều hành xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân bón năm 1998
Cơ quan ban hành: Thủ tướng Chính phủSố công báo:Đang cập nhật
Số hiệu:12/1998/QĐ-TTgNgày đăng công báo:Đang cập nhật
Loại văn bản:Quyết địnhNgười ký:Phan Văn Khải
Ngày ban hành:23/01/1998Ngày hết hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Ngày hết hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Áp dụng:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản để xem Ngày áp dụng. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Tình trạng hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Lĩnh vực:Xuất nhập khẩu , Nông nghiệp-Lâm nghiệp
TÓM TẮT VĂN BẢN

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

tải Quyết định 12/1998/QĐ-TTg

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tình trạng hiệu lực: Đã biết

THE PRIME MINISTER OF GOVERNMENT
-----
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom – Happiness
----------
No. 12/1998/QD-TTg
Hanoi, January 23, 1998
 
DECISION
THE MANAGEMENT OF RICE EXPORT AND FERTILIZER IMPORT IN 1998
THE PRIME MINISTER
Pursuant to the Law on Organization of the Government of September 30, 1992;
At the proposals of the Minister of Trade and the Minister of Agriculture and Rural Development,
DECIDES:
I. ON THE RICE EXPORT:
Article 1.- The 1998 rice export quota of 4 (four) million tons shall be allocated as follows:
- Localities: 2.8 million tons (including State enterprises, non-State enterprises and foreign-invested enterprises in provinces and cities).
- Centrally-run companies: 1.2 million tons (including foreign-invested enterprises).
On the basis of the volume of commodity rice that need to be sold and the 1997 rice export result, and after consulting the Ministry of Agriculture and Rural Development, the Minister of Trade shall decide to allocate at one time 90% of the above-said rice export quota to provinces, the centrally-run enterprises and foreign-invested enterprises immediately in January 1998 so that they can organize the implementation thereof.
If by September 1998, the rice production goes well, the Ministry of Agriculture and Rural Development shall propose the Prime Minister to consider the allocation of the remaining 1998 rice export quota.
The export of rice by foreign-invested enterprises shall comply with the investment licenses granted to them.
Article 2.- For rice produced in Northern and Central Vietnam: To allow enterprises of all economic sectors to take part in the export thereof. The Ministry of Trade shall provide detailed guidance for the implementation.
Article 3.- For rice produced in Southern Vietnam: In addition to the enterprises engaged in direct rice export in 1997, new ones shall be added:
- For provinces that have achieved the annual rice output of over one million tons and each has had less than 2 enterprises conducting direct rice export, 01 (one) more enterprise shall be added;
- To permit the Saigon General Trade Corporation, the Agricultural Supplies Corporation, the Cereal Export-Import Company under the Ministry of Agriculture and Rural Development and the Red Flag Farm of Can Tho province to conduct direct rice export;
- In addition to a number of State enterprises decided by the provincial/municipal People's Committees under the provisions of this Article, the Ministry of Trade shall experimentally permit a number of non-State enterprises currently engaged in rice processing and grinding to conduct direct rice export if they are fully qualified therefor.
Article 4.- The allocation and adjustment of rice export quotas (included in the total rice export quotas already allocated to provinces) to enterprises located in provinces, including rice export enterprises which are members of the Southern Food Corporation, shall be considered and decided by the presidents of the People's Committee of such province on the case-by-case basis.
Article 5.- Basing itself on the food demand and supply in the country and the world's rice market, the Ministry of Finance shall readjust the rice export tax rates compatible with the practical situation. In the immediate future, a rice export tax rate of 0% shall be applied so as to encourage the rice sale right from the beginning of 1998.
II. ON THE FERTILIZER IMPORT:
Article 6.- Basing itself on the 1998 quotas for import of fertilizers of various kinds (Urea fertilizer: 1,600,000 tons; DAP fertilizer: 300,000 tons; SA fertilizer 250,000 tons; NPK fertilizer: 350,000 tons and KCL fertilizer: 240,000 tons), the Ministry of Trade shall coordinate with the Ministry of Agriculture and Rural Development in allocating at one time the quotas for import of fertilizers of various kinds to provinces and centrally-run enterprises in January 1998 so that such provinces and enterprises can take initiative in planning the import and consumption of fertilizers.
Article 7.- To meet the country's demand for fertilizers in service of production, in addition to the enterprises that imported fertilizers in 1997, the following enterprises shall also be permitted to import fertilizers:
- The Mineral Export and Import Company (Minexport) under the Ministry of Trade;
- The Chemicals Corporation under the Ministry of Industry;
- 1 (one) State enterprise of Gia Lai province;
- 1 (one) State enterprise of Nam Dinh province;
The Ministry of Trade shall propose the Prime Minister to permit a number of qualified non-State enterprises to import and trade in fertilizers.
Article 8.- An import quota of 300,000 tons of fertilizers of various kinds shall be allocated to Hai Phong Trade and Service Company (Hachimex) (besides the quotas defined in this Decision), in order to realize the business plan by the mode of setting up a regular reserve storehouse which has already been agreed upon in principle by the Prime Minister in Document No.5271/KTTH of October 20, 1997.
Basing themselves on current regulations, the Ministry of Trade and the Ministry of Planning and Investment shall consider to permit joint venture HYDRO AGRI Vietnam (HAV) to create sources to meet in a stable manner Vietnamese enterprises' demand for fertilizers by the above said mode of setting up storehouses.
Article 9.- For fertilizers of other special types, which have not been produced in the country (micro-biological fertilizer, leaf fertilizer) but already permitted to be used in Vietnam, the enterprises having permits for export and/or import of goods in such appropriate commodity group shall be entitled to import them according to production and business demand.
For chemical fertilizers used as raw materials for the production of composite fertilizers, the Ministry of Trade shall consult the Ministry of Agriculture and Rural Development and the Ministry of Industry before permitting a number of enterprises defined in Article 7 of this Decision to sufficiently import such raw materials and supply them to domestic fertilizer production establishments which have been granted production permits by the Ministry of Industry and goods quality certificates by the Ministry of Science, Technology and Environment;
The Ministry of Industry should scan then reorganize the enterprises manufacturing composite fertilizers with a view to ensuring the goods quality and balancing the composite fertilizer demand and supply.
III. THE ORGANIZATION OF IMPLEMENTATION:
Article 10.- Basing themselves on this Decision and the Minister of Trade's decisions to allocate the 1998 rice export and fertilizer import quotas to the provinces, in early February 1998, the presidents of the provincial People's Committees shall notify the names of designated enterprises with their respective rice export quotas or fertilizer import quotas allocated under the provisions of Articles 3 and 7 of this Decision to the Ministry of Trade, the General Department of Customs, the State Bank, the Ministry of Finance and the Ministry of Planning and Investment for their coordination in directing the implementation.
Article 11.- Basing itself on the decisions of the Ministry of Trade on the allocation of rice export and fertilizer import quotas (to provinces, the centrally-run enterprises, foreign-invested enterprises), the decisions of the presidents of the provincial People's Committees (on the allocation of rice export and fertilizer import quotas to provincial enterprises), the General Department of Customs shall guide the border-gate customs offices to process the goods export or import procedures for enterprises. The granting of rice export permits and fertilizer import permits shall be canceled.
Article 12.- For the 1997 rice export and fertilizer import quotas, the concerned enterprises are allowed to fulfill them till March 31, 1998.
With respect to rice markets previously assigned to a number of enterprises, if other enterprises have concluded contracts with lucrative commercial terms and prices, under the guidelines of the Ministry of Trade, they shall be allowed to export rice directly or through a third party to such markets.
Apart from the enterprises permitted to conduct regular rice export activities, those State enterprises that have found new markets which may yield results, the concerned ministers or presidents of the People's Committees of the provinces and cities directly under the Central Government shall propose the Ministry of Trade to consider and permit the export.
Article 13.- The People's Committees of the provinces and cities directly under the Central Government shall have to regularly coordinate with the Ministry of Trade and the Ministry of Agriculture and Rural Development in closely directing the enterprises to buy all commodity rice from farmers; to export rice with efficiency and ensure the timely supply of materials at reasonable prices for the agricultural production, combine the food trading with the supply of fertilizers and other services for agricultural production.
The People's Committees of the provinces and cities directly under the Central Government shall have to inspect, supervise and bear responsibility for the fulfillment of the allocated export and import quotas; and shall not permit the sale, purchase or transfer of quotas in any forms.
Article 14.- The State Bank shall direct the commercial banks in satisfactorily and promptly providing loans for enterprises to buy rice and to import fertilizers under this Decision.
Article 15.- To set up the Steering Committee for the management of rice export and fertilizer import activities, which shall be headed by a Vice Minister of Trade and composed of representatives from the Ministry of Agriculture and Rural Development, the Ministry of Finance, the State Bank, the General Department of Customs, some provinces with high commercial rice output and the Vietnam Food Exporters-Importers' Association.
Article 16.- This Decision takes effect from the date of its signing to the end of March 31, 1999. The ministers, the heads of the ministerial-level agencies, the heads of the agencies attached to the Government and the presidents of the People's Committees of the provinces and cities directly under the Central Government shall have to implement this Decision.
 

 
THE PRIME MINISTER OF GOVERNMENT




Phan Van Khai

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.
văn bản TIẾNG ANH
Bản dịch tham khảo
download Decision 12/1998/QD-TTg DOC (Word)
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao để tải file.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi

19006192

Theo dõi LuatVietnam trên YouTube

TẠI ĐÂY

văn bản cùng lĩnh vực

Nghị định 51/2022/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với mặt hàng xăng thuộc nhóm 27.10 tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo Danh mục mặt hàng chịu thuế ban hành kèm theo Nghị định 57/2020/NĐ-CP ngày 25/5/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 122/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan và Nghị định 125/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 122/2016/NĐ-CP

Nghị định 51/2022/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với mặt hàng xăng thuộc nhóm 27.10 tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo Danh mục mặt hàng chịu thuế ban hành kèm theo Nghị định 57/2020/NĐ-CP ngày 25/5/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 122/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan và Nghị định 125/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 122/2016/NĐ-CP

Thuế-Phí-Lệ phí , Xuất nhập khẩu

Vui lòng đợi