• Tổng quan
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung hợp nhất 

    Tính năng này chỉ có tại LuatVietnam.vn. Nội dung hợp nhất tổng hợp lại tất cả các quy định còn hiệu lực của văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính... trên một trang. Việc hợp nhất văn bản gốc và những văn bản, Thông tư, Nghị định hướng dẫn khác không làm thay đổi thứ tự điều khoản, nội dung.

    Khách hàng chỉ cần xem Nội dung hợp nhất là có thể nắm bắt toàn bộ quy định hiện hành đang áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

    =>> Xem hướng dẫn chi tiết cách sử dụng Nội dung hợp nhất

  • Tải về
Lưu
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Theo dõi VB
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Ghi chú
Báo lỗi
In

Quyết định 3279/QĐ-UBND Huế 2026 phê duyệt Kế hoạch phòng chống thiên tai 2026-2030

Ngày cập nhật: Thứ Năm, 08/10/2026 20:22 (GMT+7)
Cơ quan ban hành: Ủy ban nhân dân thành phố Huế
Số công báo:
Số công báo là mã số ấn phẩm được đăng chính thức trên ấn phẩm thông tin của Nhà nước. Mã số này do Chính phủ thống nhất quản lý.
Đang cập nhật
Số hiệu: 3279/QĐ-UBND Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Quyết định Người ký: Nguyễn Văn Mạnh
Trích yếu: Phê duyệt Kế hoạch phòng chống thiên tai thành phố Huế giai đoạn 2026-2030
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
06/10/2026
Ngày hết hiệu lực:
Ngày hết hiệu lực là ngày, tháng, năm văn bản chính thức không còn hiệu lực (áp dụng).
Đang cập nhật
Ngày áp dụng:
Ngày áp dụng là ngày, tháng, năm văn bản chính thức có hiệu lực (áp dụng).
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Lĩnh vực: Tài nguyên-Môi trường

TÓM TẮT QUYẾT ĐỊNH 3279/QĐ-UBND

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải Quyết định 3279/QĐ-UBND

Tải văn bản tiếng Việt (.pdf) Quyết định 3279/QĐ-UBND PDF (Bản có dấu đỏ)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HUẾ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 3279 /QĐ-UBND
Huế, ngày 06 tháng 10 năm 2026
QUYẾT ĐỊNH
Phê duyệt Kế hoạch phòng chống thiên tai thành phố Huế
giai đoạn 2026-2030
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Luật Phòng, chống thiên tai ngày 19 tháng 6 năm 2013; Luật Sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều ngày
17 tháng 6 năm 2020;
Căn cứ Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực Nông
nghiệp và Môi trường ngày 11 tháng 12 năm 2025;
Căn cứ Luật Phòng thủ dân sự ngày 20 tháng 6 năm 2023;
Căn cứ Luật Tình trạng khẩn cấp ngày 03 tháng 12 năm 2025;
Căn cứ Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24 tháng 3 năm 2020 của Ban Bí thư
Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng
ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai; Kết luận số 213-KL/TW ngày
21/11/2025 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày
24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai; Thông báo số 117-TB/VPTW
ngày 04/7/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng về việc thông báo Kết luận
của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với đại diện
Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan liên quan về công tác phòng, chống bão, lũ,
thiên tai cực đoan và biến đổi khí hậu từ nay đến hết năm 2026;
Căn cứ Nghị định số 66/2021/NĐ-CP ngày 06 tháng 7 năm 2021 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống thiên tai
và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật
Đê điều; Nghị định số 53/2026/NĐ-CP ngày 05 tháng 02 năm 2026 sửa đổi, bổ
sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực Đê điều và Phòng, chống
thiên tai;
Căn cứ Nghị định số 200/2025/NĐ-CP ngày 9 tháng 7 năm 2025 của
Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng thủ dân sự;
Căn cứ Nghị định 190/2026/NĐ-CP ngày 29 tháng 5 năm 2026 của Chính
phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Tình trạng khẩn cấp;
2
Căn cứ Nghị định số 131/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của
Chính phủ quy định phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp
trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
Căn cứ Nghị định số 136/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính
phủ quy định phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường;
Căn cứ Nghị quyết số 210/NQ-CP ngày 06 tháng 8 năm 2026 của Chính
phủ về Kế hoạch hành động thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ
tịch nước Tô Lâm tại Thông báo số 117-TB/VPTW ngày 04 tháng 7 năm 2026
của Văn phòng Trung ương Đảng về công tác phòng, chống bão, lũ, thiên tai
cực đoan và biến đổi khí hậu;
Căn cứ Thông tư số 02/2021/TT-BNNPTNT ngày 07 tháng 6 năm 2021 của
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và
Môi trường) về hướng dẫn xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai các cấp;
Căn cứ Thông tư số 18/2025/TT-BNNPTNT ngày 19 tháng 6 năm 2025 của
Bộ Nông nghiệp và Môi trường về phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền
quản lý nhà nước trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống thiên tai;
Căn cứ Kế hoạch số 24-KH/TU, ngày 09 tháng 02 năm 2026 của Ban
Thường vụ Thành ủy về việc thực hiện Kết luận số 213-KL/TW, ngày 21 tháng
11 năm 2025 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW, ngày 24
tháng 3 năm 2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tại Tờ trình số
8067/TTr- SNNMT ngày 29 tháng 9 năm 2026.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Kế hoạch phòng, chống thiên tai thành phố Huế giai
đoạn 2026-2030 kèm theo Quyết định này.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Điều 3. Tổ chức thực hiện
1. Giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan,
đơn vị và Ủy ban nhân dân các xã, phường tổ chức triển khai Kế hoạch; theo
dõi, kiểm tra, tổng hợp kết quả thực hiện; tham mưu Ủy ban nhân dân thành phố
cập nhật, điều chỉnh Kế hoạch hằng năm theo quy định; thực hiện chế độ báo
cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Quốc phòng theo quy định.
2. Các Sở, ban, ngành và Ủy ban nhân dân các xã, phường căn cứ chức
năng, nhiệm vụ và Kế hoạch được phê duyệt xây dựng nhiệm vụ thực hiện hằng
năm; chủ động bố trí, đề xuất nguồn lực theo quy định.
3
3. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố; Giám đốc Sở Nông
nghiệp và Môi trường; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường; Thủ trưởng
các cơ quan, đơn vị và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi
hành Quyết định này./.
Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
- Đảng ủy UBND thành phố;
- CT và các PCT UBND thành phố;
- Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố;
- Công an thành phố;
- Các Sở, ban, ngành thành phố;
- UBND các phường/xã;
- Báo và Phát thanh, Truyền hình Huế;
- Cổng TTĐT thành phố;
- VP: LĐ và các CV;
- Lưu: VT, NN.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Nguyễn Văn Mạnh
Số: 3279/QĐ-UBND
Thời gian ký: 2026-10-06T13:34:55+07:00
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ
PHẦN I: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI ......................................1
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN................................................................................1
1.1. Vị trí địa lý, đặc điểm địa hình, địa chất ................................................1
1.2. Đặc điểm khí hậu....................................................................................4
1.3. Đặc điểm sông ngòi................................................................................4
1.4. Thảm phủ thực vật..................................................................................7
1.5. Đặc điểm bờ biển, nước dâng.................................................................7
II. ĐẶC ĐIỂM DÂN SINH, KINH TẾ - XÃ HỘI, HẠ TẦNG........................8
2.1 Đặc điểm dân sinh ...................................................................................8
2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội .....................................................................12
2.3 Tác động của thiên tai đến các ngành kinh tế........................................13
2.4. Đặc điểm cơ sở hạ tầng ........................................................................17
PHẦN II: ĐẶC ĐIỂM THIÊN TAI VÀ ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC PHÒNG
CHỐNG THIÊN TAI ..........................................................................................30
I. ĐẶC ĐIỂM, DIỄN BIẾN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI GIAI ĐOẠN
2020-2025........................................................................................................30
1.1. Tình hình thiên tai (giai đoạn 2020 -2025)
..........................................30
1.2. Tổng hợp thiệt hại do thiên tai .............................................................39
II. HIỆN TRẠNG VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC PHÒNG
CHỐNG THIÊN TAI GIAI ĐOẠN 2020-2025..............................................41
2.1 Hệ thống văn bản pháp luật về phòng chống thiên tai ..........................41
2.2 Hệ thống phòng thủ dân sự....................................................................42
2.3 Công tác dự báo, cảnh báo sớm thiên tai...............................................43
2.4 Phương tiện, vật tư, trang thiết bị phục vụ phòng, chống thiên tai .......44
2.5 Công tác ứng phó thiên tai và tìm kiếm, cứu nạn..................................45
2.6 Thông tin, truyền thông về phòng, chống thiên tai ...............................46
2.7 Năng lực và nhận thức của cộng đồng về phòng, chống thiên tai.........47
2.8 Cơ sở hạ tầng phòng, chống thiên tai ....................................................48
2.9 Lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai..........................................49
2.10 Công tác phục hồi, tái thiết sau thiên tai .............................................49
2.11 Nguồn lực tài chính thực hiện công tác phòng, chống thiên tai..........50
III. ĐÁNH GIÁ RỦI RO THIÊN TAI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU ĐẾN CÁC NGÀNH, ĐỊA PHƯƠNG ...................................................51
3.1 Cách tiếp cận và phương pháp đánh giá rủi ro......................................51
3.2 Đánh giá rủi ro với Áp thấp nhiệt đới và bão........................................53
3.3 Đánh giá rủi ro với mưa lớn, lũ và ngập lụt ..........................................62
3.4 Rủi ro với lũ quét và sạt lở đất ..............................................................73
3.5 Rủi ro xói lở bờ sông, bờ biển...............................................................77
3.6 Rủi ro hạn hán .......................................................................................81
3.7 Rủi ro xâm nhập mặn ............................................................................86
3.8 Rủi ro nắng nóng cực đoan....................................................................88
3.9 Rủi ro dông, lốc, sét...............................................................................93
3.10 Rủi ro động đất....................................................................................95
3.11 Rủi ro sóng thần ................................................................................100
3.12 Phân tích rủi ro đa thiên tai và tổng hợp mức độ rủi ro.....................102
IV. TỔNG HỢP ĐIỂM MẠNH, ĐIỂM HẠN CHẾ, VẤN ĐỀ ƯU TIÊN ...108
4.1 Những tồn tại, hạn chế trong công tác Phòng chống thiên tai.............108
4.2 Những vấn đề rủi ro trọng tâm trong giai đoạn 2026-2030.................113
PHẦN III. KẾ HOẠCH PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI THÀNH PHỐ GIAI
ĐOẠN 2026-2030 .............................................................................................119
I. CƠ SỞ PHÁP LÝ, MỤC TIÊU .................................................................119
1.1. Cơ sở pháp lý......................................................................................119
1.2. Mục đích, yêu cầu ..............................................................................121
1.3. Mục tiêu..............................................................................................122
II. NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP ..................................................................123
2.1 Hoàn thiện quản trị, thể chế, lập kế hoạch và lồng ghép quản lý rủi ro
...................................................................................................................124
2.2 Hoàn thiện dữ liệu, khoa học công nghệ, dự báo và cảnh báo sớm đa
thiên tai......................................................................................................125
2.3 Quản lý rủi ro lũ, ngập lụt và tiêu thoát nước .....................................126
2.4 Quản lý rủi ro bão, nước dâng, sạt lở bờ sông, bờ biển .....................127
2.5 Quản lý rủi ro lũ quét, sạt lở đất tại miền núi......................................128
2.6 Quản lý rủi ro nắng nóng, hạn hán, thiếu nước, cháy rừng.................129
2.7 Bảo đảm khả năng chống chịu và tính liên tục của hạ tầng, dịch vụ thiết
yếu .............................................................................................................130
2.8 Nâng cao năng lực chuẩn bị, sơ tán, cứu hộ cứu nạn và khả năng chống
chịu cộng đồng ..........................................................................................131
2.9 Huy động nguồn lực và tăng cường hợp tác........................................132
2.10. Nguồn lực và tiến độ hàng năm và 05 năm để thực hiện kế hoạch
phòng, chống thiên tai ...............................................................................132
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN.........................................................................134
3.1. Nguyên tắc tổ chức thực hiện.............................................................134
3.2 Vai trò trách nhiệm..............................................................................134
3.3 Theo dõi, báo cáo và điều chỉnh Kế hoạch..........................................138
PHẦN IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.........................................................139
PHỤ LỤC KÈM THEO KẾ HOẠCH...............................................................140
Phụ lục I. Kết quả thực hiện Kế hoạch phòng, chống thiên tai thành phố đến
năm 2025 .......................................................................................................140
Phụ Lục II. Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 ..............149
Phụ lục III. Các nhiệm vụ, chương trình, dự án phòng, chống thiên tai .......153
Phụ lục IV. Danh mục dự án trọng điểm, cấp bách mang tính chiến lược, lâu
dài nhằm thích ứng với tình hình thiên tai ....................................................161
Phụ lục V. Kịch bản, phương án huy động lực lượng, vật tư, phương tiện,
phương án sơ tán dân.....................................................................................164
Phụ lục VI. Phương án sơ tán dân ứng phó thiên tai.....................................191
Phụ lục VII: Danh mục chi tiết các nhiệm vụ, dự án cụ thể..........................200
Phụ lục VIII. Các bản đồ rủi ro thiên tai .......................................................220
Phụ lục VIII. Các bản đồ rủi ro thiên tai .......................................................221
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1. Địa bàn cần ưu tiên theo nhóm DBTT..................................................10
Bảng 2. Tổng diện tích sàn nhà ở năm 2020 và năm 2024 ................................10
Bảng 3. Hiện trạng tỷ lệ chất lượng nhà ở năm 2024.........................................11
Bảng 4. Tổng lượng mưa tại một số trạm, giai đoạn 2020-2025 .......................32
Bảng 5. Diện tích và tốc độ bồi, xói bờ biển thành phố Huế giai đoạn 2018-
2023.....................................................................................................................35
Bảng 6. Tổng hợp đặc điểm thiên tai theo loại hình ..........................................38
Bảng 7. Một số thiệt hại chính về người và nhà ở giai đoạn 2020-2025 ...........40
Bảng 8. Tổng hợp mức độ rủi ro với áp thấp nhiệt đới và bão ..........................61
Bảng 9. Đối chiếu một số trận lũ lớn..................................................................63
Bảng 10. Các kịch bản mưa................................................................................64
Bảng 11. Tổng hợp rủi ro do lũ ..........................................................................73
Bảng 12. Tổng hợp rủi ro lũ quét, sạt lở đất.......................................................77
Bảng 13. Tổng hợp rủi ro xói lở bờ sông, bờ biển .............................................81
Bảng 14. Tổng hợp mức độ rủi ro đa thiên tai theo địa bàn.............................106
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1. Vị trí của Thành phố Huế.........................................................................1
Hình 2. Sơ đồ các lưu vực sông (nguồn: Công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu
vực sông Hương mùa cạn năm 2026)....................................................................6
Hình 3. Tổng lượng mưa tại một số trạm, giai đoạn 2020-2025.......................32
Hình 4. Bản đồ ngập lũ vùng hạ lưu trong trận lũ tháng 11/2023......................33
Hình 5. Bản đồ bồi tụ và xói lở đường bờ giai đoạn 2017-2022........................35
Hình 6. Ước tính tổng thiệt hại do thiên tai theo năm........................................41
1
PHẦN I: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1.1. Vị trí địa lý, đặc điểm địa hình, địa chất
1.1.1 Vị trí địa lý: Thành phố Huế nằm ở ven biển miền Trung của vùng
Bắc Trung Bộ, bao gồm phần đất liền và phần lãnh hải thuộc thềm lục địa biển
Đông, có diện tích tự nhiên 4.947,11km
2
, có tọa độ địa lý từ 16
0
-16,8
0
vĩ Bắc, và
107,8
0
-108,2
0
kinh Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía Nam giáp thành
phố Đà Nẵng, phía Tây giáp tỉnh Salavan và tỉnh Sekong, CHDCND Lào (có 81
km biên giới với Lào), phía Đông giáp với biển Đông với đường bờ biển dài 112
km. Phía Tây và phía Nam thành phố Huế được dãy núi Trường Sơn và Bạch
Mã bao bọc.
Hình 1.Bản đồ hành chính Việt Nam
1
Thành phố Huế nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc - Nam, trục
hành lang Đông - Tây nối Thái Lan - Lào - Việt Nam theo đường 9. Theo trục
Nam Bắc, tính theo đường bộ, dọc quốc lộ 1A, thành phố Huế cách thủ đô Hà
Nội 658km và cách thành phố Hồ Chí Minh 1075km là hai trung tâm lớn của hai
vùng kinh tế phát triển nhất nước ta và là cửa ngõ phía Đông của Hành lang kinh
tế Đông - Tây, giữ vai trò chiến lược trong thương mại - logistic - giao thông
vùng. Thành phố có cảng Thuận An và cảng nước sâu Chân Mây với độ sâu 18 -
1
Nguồn hình bản đồ hành chính Việt Nam: Báo cáo Kế hoạch phòng chống thiên tai Quốc gia 2026-2030; hình
bản đồ thành phố Huế https://hue.gov.vn/
20m đủ điều kiện để đón các tàu trọng tải lớn, có Sân bay quốc tế Phú Bài nằm
trên đường Quốc lộ 1 và đường sắt xuyên Việt chạy dọc theo thành phố.
Ngày nay, thành phố Huế có các đầu mối giao thông quan trọng, gồm cả
đường bộ, đường sắt, hàng không và đường biển, cửa mở thông thương với quốc
tế. là một trong những thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung; là
nơi giao thoa giữa điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của cả hai miền Nam -
Bắc; giữ vai trò trọng yếu về an ninh quốc phòng của cả nước.
Xét về vị trí liên kết vùng thành phố Huế có tầm chiến lược trong liên kết
vùng, kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng
thời tăng cường khả năng kết nối quốc tế qua trục hành lang kinh tế Đông - Tây.
Cùng với thành phố Đà Nẵng, Huế trở thành vùng trung tâm và là cửa ngõ cho
cả vùng Duyên hải miền Trung, vùng Tây Nguyên, xa hơn nữa là cửa ngõ cho cả
vùng phía Nam của nước CHDCND Lào.
So với các địa phương khác, thành phố Huế có những điểm khác biệt nổi
bật về vị trí địa lý, vị thế địa - chiến lược và chức năng trong phát triển kinh tế -
xã hội của Vùng duyên hải miền Trung và của cả nước.
1.1.2 Đặc điểm địa hình: Thành phố Huế nằm ở vùng có địa hình rất phức
tạp, có nhiều dãy núi cao hiểm trở. Mạng lưới sông suối phân bố đều trên các
loại địa hình khác nhau, độ dốc lớn làm cho địa hình bị chia cắt mạnh. Địa hình
của thành phố thấp dần từ Tây sang Đông, có chiều rộng trung bình từ biên giới
Việt - Lào ra biển khoảng 60km, được chia thành 4 vùng: Vùng núi, vùng gò
đồi, vùng đồng bằng và vùng đầm phá cồn cát ven biển. Từ vùng núi cao ở phía
Tây đến vùng đồng bằng, nơi có cao độ dưới 20m, cao độ dao động từ +500-
1000m
2
.
Địa hình vùng núi cao: Chủ yếu tập trung ở các xã thuộc dãy Trường Sơn
Đông, ở độ cao từ 300m ÷ 1.774m; có nhiều dãy núi cao hiểm trở, trong đó có
những dãy núi cao trên 1000m so với mặt biển, như dãy Bạch Mã cao 1700m.
Dãy Trường Sơn Bắc chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, khi đến địa phận
thành phố Huế, dãy núi chuyển hướng, hình thành ba nhánh đâm ra biển, trong
đó lớn nhất là dãy Bạch Mã.
Địa hình đồng bằng: Đồng bằng của Huế điển hình cho kiểu đồng bằng mài
mòn, tích tụ, có cồn cát, đầm phá, chủ yếu là vùng đồng bằng lưu vực sông
Hương và sông Ô Lâu. Ngăn cách giữa hệ thống đầm phá và biển là cồn cát, đụn
cát có chiều dài 70 km với độ cao từ 3-30m chạy song song với đường bờ biển
như một con đê chắn sóng tự nhiên đồng thời ngăn nước lũ thoát ra biển, làm
chậm quá trình tiêu thoát lũ.
Hệ đầm phá: Đầm phá Tam Giang - Cầu Hai dài khoảng 68 km, rộng từ
0,6-8 km, và có tổng diện tích lưu vực 4.000 km
2
. Về mặt địa lý, hệ đầm này
2
Nguồn Báo cáo thuyết minh Quy hoạch chung thành phố Huế 2026
3
được cấu thành từ bốn đầm nối tiếp nhau từ Bắc xuống Nam gồm: Phá Tam
Giang; Đầm Sam; Đầm Hà Trung-Thủy Tú; Đầm Cầu Hai.
Phá Tam Giang chạy dài khoảng 27 km bắt đầu từ cửa sông Ô Lâu đến cửa
sông Hương với diện tích 5.200 ha. Phá thông với biển bằng mỗi cửa Thuận An.
Đầm Sam nhỏ hơn với diện tích 1.620 ha, không thông ra biển. Đầm Hà Trung-
Thủy Tú dài và hẹp với diện tích 3.600 ha cũng là đầm kín không thông ra biển.
Đầm Cầu Hai lớn nhất với diện tích 11.200 ha và thông ra biển qua cửa Tư Hiền.
Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là nơi tiếp nhận và điều hòa dòng chảy
của hầu hết các con sông lớn của thành phố Huế trước khi thoát ra biển. Hệ đầm
phá góp phần giảm ngập lụt của vùng ven bờ, giảm ngập, điều hòa độ mặn, hạn
chế xâm nhập mặn vào nội đồng, đồng thời bảo vệ sản xuất, sinh kế và hệ sinh
thái đất ngập nước giàu đa dạng sinh học.
Nhìn chung, địa hình thành phố Huế vừa tạo nhiều tiềm năng phát triển
sinh thái, cảnh quan và kinh tế, vừa đặt ra những thách thức lớn đối với công tác
bảo vệ môi trường, tổ chức không gian phát triển và phòng, chống thiên tai. Với
đặc điểm địa hình đa dạng gồm vùng núi cao, trung du, đồng bằng, đầm phá và
bờ biển dài, thành phố thường xuyên chịu tác động tổng hợp của nhiều loại hình
thiên tai như bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, lũ, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất, xói
lở bờ biển, nước dâng do bão và xâm nhập mặn. Do đó, việc triển khai các giải
pháp phòng ngừa, ứng phó và thích ứng với thiên tai cần được thực hiện đồng
bộ, phù hợp với đặc điểm của từng vùng địa hình và từng loại hình thiên tai.
1.1.3 Địa chất: Địa chất thành phố Huế có cấu tạo khá phức tạp chia làm 4
vùng đặc trưng:
(1) Vùng núi cao: chủ yếu là núi đá vôi và đá biến chất, tàn tích, sườn tích,
thành phần là dăm sạn lẫn đá tảng, đá gốc, sạn kết, cát kết lẫn sét pha bị phong
hoá mạnh. Các khu vực ven sông, ven suối có lớp nền là lũ tích, sườn tích, đất
đá có dạng bở rời liên kết không chặt nên làm tăng nguy cơ sạt lở khi có mưa
lớn kéo dài.
(2) Vùng gò đồi, núi trọc: Có lớp nền là sườn tích, thành phần sét pha dăm
sạn đôi chỗ lẫn đá tảng. Lớp dưới là sạn kết, cát kết đá gốc phong hoá mạnh.
Vùng này có một số khu vực thung lũng hẹp, các núi đất có thể xây dựng đô thị,
các điểm dân cư nông thôn, tuy nhiên đất ở đây có dạng bở rời, khi xây dựng
phải san ủi và kè mái dốc ta luy chống trượt lở;
(3) Vùng đồng bằng: Khu vực đồng bằng ven biển là trầm tích sông và
biển, có cấu tạo nền là lớp đất màu, thành phần cát pha, sét pha lẫn cuội sỏi. Lớp
dưới là cát pha sỏi sạn lẫn xác động thực vật ven biển. Khu vực này thuận lợi
cho xây dựng và phát triển các đô thị và các điểm dân cư nông thôn, tuy nhiên
thường bị ngập lũ hàng năm trong mùa mưa;
(4) Vùng đầm phá, sông hồ, biển: Nền đất rất trũng gồm lớp bùn, lớp dưới
là cát pha lẫn sỏi sạn, xác động thực vật. Khu vực này thuận lợi cho việc phát
triển nuôi trồng đánh bắt thuỷ hải sản, phát triển cảng như khu vực Chân Mây,
phát triển du lịch, bãi tắm như cửa biển Thuận An, Lăng Cô.
Nhìn chung, cấu trúc địa chất đa dạng của thành phố vừa tạo điều kiện
thuận lợi cho phát triển không gian đô thị - dịch vụ - kinh tế biển, vừa đặt ra yêu
cầu cao về kiểm soát rủi ro thiên tai, sạt lở và ngập lụt trong quá trình tổ chức
không gian và phát triển hạ tầng.
1.2. Đặc điểm khí hậu
Thành phố Huế có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, được chia làm 2
mùa rõ rệt: Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9, nhiệt độ cao từ 35°C đến 40°C,
chịu ảnh hưởng gió phơn Tây Nam; mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau,
nhiệt độ trung bình về mùa lạnh ở vùng đồng bằng là 20°C - 22°C do chịu ảnh
hưởng gió mùa Đông Bắc.
Lượng mưa trung bình hàng năm của toàn thành phố là khoảng trên 2.700
mm, có nơi trên 4.000 mm như Bạch Mã, Thừa Lưu; Mưa tập trung từ tháng 9
đến tháng 2 năm sau; riêng tháng 11 tập trung 70% tổng lượng mưa trong năm.
Lượng mưa phân bố không đều, tăng dần từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam
và tập trung vào một số tháng với cường độ lớn do đó dễ gây ra lũ lụt cực đoan
và xói lở.
Độ ẩm trung bình năm cao, đạt 82-86%, có thời điểm vượt 90% vào các
tháng mưa nhiều.
Gió mùa:
+ Gió mùa Tây Nam (tháng 4-8): mang không khí khô nóng, góp phần làm
gia tăng tác động của nắng nóng trong mùa hè.
+ Gió mùa Đông Bắc (tháng 10-3): gây thời tiết lạnh ẩm, có mưa phùn,
sương mù và biển động mạnh ở khu vực ven biển - đầm phá.
1.3. Đặc điểm sông ngòi
Thành phố Huế có nhiều sông, suối với tổng chiều dài sông suối đạt tới
1.055km với tổng diện tích lưu vực tới 4.195km2. Mật độ sông suối dao động
trong khoảng 0,3-1km/km2, có nơi tới 1,5-2,5 km/km2. Vì thế, Huế có lượng
nước ngọt rất dồi dào. Tuy nhiên, do lượng mưa phân bố không đều trong năm
nên lũ lụt cực đoan thường xảy ra ở đồng bằng vào mùa mưa trong khi tình trạng
thiếu nước ở các khu vực núi cao, các khu vực ít công trình hồ chứa lại xảy ra
vào mùa khô.
Hệ thống sông ở Huế được phân bố đều trên lãnh thổ của thành phố, đa số
các sông chảy theo hướng Nam - Tây Nam đến Bắc - Đông Bắc và đổ vào hệ
đầm phá Tam Giang - Cầu Hai trước khi chảy ra biển qua cửa Thuận An và Tư
Hiền. Riêng sông A Sáp chảy sang đất Lào. Toàn thành phố có 7 con sông chính
là sông Ô Lâu, sông Bồ, sông Hương, sông Nong, sông Truồi, sông Cầu Hai, và
sông Bù Lu. Trong đó, sông Hương lớn nhất gồm 3 nhánh hợp thành là sông Bồ,
sông Hữu Trạch và sông Tả Trạch.
(1) Sông A Sáp: Là nhánh nhỏ của sông Mê Kông, xuất phát từ dãy núi
cao hướng chảy sang Lào. Sông chảy hoàn toàn trên vùng núi thành phố Huế,
sông có nguồn nước khá dồi dào, nhưng chủ yếu tập trung vào mùa mưa, mùa
5
khô lượng nước thấp nên cần phải phát triển các hồ chứa nhỏ mới đủ khả năng
cấp nước cho khu vực vùng cao.
(2) Sông Ô Lâu: Bắt nguồn từ vùng núi cao từ 900-1000 m, chiều dài sông
chính 66 km, độ cao bình quân đầu nguồn 900 m, ở cửa ra +0m, độ cao bình
quân lưu vực 192 m; độ dốc bình quân lưu vực 13.1o/oo, mật độ lưới sông
0.81km/km2, dòng sông được chia làm 3 phần chính như sau: Phần đầu nguồn
gồm 2 nhánh sông chính là sông Mỹ Chánh và sông Ô Lâu.
(3) Hệ thống sông Hương: Là sông lớn nhất của thành phố Huế. Hệ thống
sông này có 3 sông nhánh lớn là sông Tả Trạch, sông Hữu Trạch, sông Bồ đều
bắt nguồn từ dãy Bạch Mã đổ vào đầm phá và chảy ra biển qua cửa Thuận An
và Tư Hiền. Hệ thống sông Hương dài khoảng 104km, độ dốc bình quân lưu vực
2,85%, mật độ lưới sông khoảng 0,6km/km2. Lưu vực sông Hương có dạng hình
nan quạt, các sông chính ngắn và dốc, đoạn trung lưu hầu như không có. Vùng
đồng bằng ở hạ lưu sông Hương có địa hình thấp (độ cao +0,00 đến +10,00m),
không bằng phẳng, bị chia cắt bởi nhiều kênh rạch nên thường bị ngập lụt trong
mùa mưa. Chế độ lũ trên sông Hương gồm lũ tiểu mãn, thường xuất hiện vào
tháng 5-6, và lũ chính vụ tập trung từ tháng 9 đến tháng 12, đặc biệt trong các
tháng 10-11.
(4) Sông Truồi: bắt nguồn từ dãy núi Bạch Mã có độ cao từ 1186m đến
1444m, sông Truồi chảy theo hướng Nam-Bắc đổ vào đầm Cầu Hai tại Bàng
Môn. Chiều dài sông 24 km, độ cao bình quân đầu nguồn +820m, độ cao bình
quân lưu vực 253 m, độ cao tại cửa ra là +0.00 m, độ dốc bình quân lưu vực
27.44 o/oo, chiều dài lưu vực 20km, chiều rộng bình quân lưu vực 7.4km. Độ
dốc lòng sông là 39km/km2. Sông Truồi chảy qua vùng đồi trọc cây thưa thớt,
hạ lưu sông Truồi là vùng đồng bằng rộng khoảng 2000ha nối liền với đồng
bằng sông Hương.
(5) Sông Nong: Là một con sông nhỏ bắt nguồn từ vùng đồi núi giữa sông
Tả Trạch và sông Truồi, chảy qua Quốc Lộ 1A đổ vào đầm Cầu Hai. Chiều dài
sông chính là 30 km, độ dốc lòng sông 37,4 m/km2, độ cao bình quân lưu vực
đầu nguồn là +1000m. Lưu vực sông Nông chảy qua chủ yếu là rừng trồng, còn
lại là các bụi rậm. Lòng sông dốc thường gây ra lũ quét dọc bờ sông.
(6) Sông Cầu Hai: Là một con sông nhỏ, ngắn và dốc. Chiều dài dòng
chính chỉ khoảng 5 km, xuất phát từ dãy Bạch Mã và đổ vào đầm Cầu Hai. Vùng
đồng bằng thuộc lưu vực sông Cầu Hai có diện tích khoảng 700-800ha.
(7) Sông Bù Lu: là con sông bắt nguồn từ sườn Bắc Bạch Mã - Hải Vân tại
nơi có độ cao tuyệt đối khoảng 500 m, chảy theo hướng gần Nam Tây Nam -
Bắc Đông Bắc. Từ thượng nguồn có hai nhánh Thừa Lưu và Nước Ngọt. Đến
cách cửa biển Cảnh Dương chừng 7 km hai nhánh sông này hội lưu thành sông
chính mang tên Bù Lu và chảy ra biển Đông. Sông Bù Lu có chiều dài dòng
chính 17km, diện tích lưu vực 118km2 và độ dốc bình quân lòng sông
58,8m/km (so với độ dốc lòng sông vùng đồi núi 129,4m/km).
Ngoài các sông tự nhiên, xung quanh thành phố Huế còn có nhiều sông đào
như: Sông An Cựu (có tên là Lợi Nông) dài 27km nối sông Hương với đầm Cầu
Hai ở Cống Quan thông qua sông Đại Giang. Sông Đông Ba dài khoảng 3km
nối cầu từ Gia Hội đến Bao Vinh. Sông Kẻ Vạn dài 5,5km nối sông Hương (cầu
Bạch Hổ) với sông Bạch Yến và sông An Hòa, vòng ngoài kinh thành Huế rồi
lại đổ vào sông Hương ở Bao Vinh. Ngoài ra, còn có một số hói như hói Bảy
Xã, hói Hàng Tổng nối sông Hương với sông Bồ, hói Phát Lát, hói Như Ý, hói
Chợ Mai.
Hệ thống thuỷ văn ở Huế hết sức phức tạp và độc đáo thể hiện ở chỗ hầu
hết các con sông đan nối vào nhau thành một mạng lưới chằng chịt: sông Ô Lâu
- phá Tam Giang - sông Hương - sông Lợi Nông - sông Đại Giang - sông Hà Tạ
- sông Cống Quan - sông Truồi- sông Nong - đầm Cầu Hai. Các con sông đều
hội tụ trước khi đổ ra biển (trừ sông A Sáp chạy về phía Tây và sông Bu Lu
chảy trực tiếp ra biển qua cửa Cảnh Dương), hình thành hệ đầm phá Tam Giang
- Cầu Hai kéo dài khoảng 68 km dọc theo bờ biển. Hệ đầm phá Tam Giang -
Cầu Hai có diện tích lớn nhất Đông Nam Á và là một trong những đầm phá lớn
nhất thế giới với tổng diện tích là 22.000ha. Mạng lưới sông - đầm phá này còn
liên kết với rất nhiều trằm, bàu tự nhiên, có tên và không tên, với các hồ, đập
lớn, nhỏ. Tổng diện tích mặt nước của hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai khoảng
231km2 và tổng lượng nước mặt của các sông bắt nguồn từ Đông Trường Sơn
lên tới hơn 9 tỷ mét khối. Nhìn chung, hệ thống sông ngòi của thành phố Huế có
mạng lưới dày đặc, lưu vực ngắn và độ dốc lớn, kết hợp với lượng mưa tập trung
trong thời gian ngắn làm cho quá trình tập trung dòng chảy diễn ra nhanh, là
nguyên nhân chính gây lũ, ngập lụt, lũ quét và sạt lở bờ sông trên địa bàn thành
phố. Bên cạnh đó, hệ thống hồ chứa và công trình thủy lợi có vai trò quan trọng
trong điều tiết dòng chảy, cắt giảm lũ và bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất,
sinh hoạt trong mùa khô.
Hình 2. Sơ đồ các lưu vực sông
3
3
Nguồn hình và bảng: Báo cáo Công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hương mùa cạn năm 2026
7
1.4. Thảm phủ thực vật
1.4.1 Tài nguyên rừng: Diện tích đất có rừng trên toàn thành phố tính đến
ngày 31/7/2025 là 305.665ha, trong đó: rừng tự nhiên là 205.550,08ha; rừng
trồng đã thành rừng là 77.331,52ha; diện tích đất đã trồng chưa đạt tiêu chí
thành rừng là 22.783.40ha. Tỷ lệ che phủ rừng toàn thành phố đạt 57,18%.
1.4.2 Thực vật: Hệ thực vật có sự giao thoa giữa hệ thực vật phía Bắc và hệ
thực vật phía Nam nên đa dạng về thành phần, chủng loại và hệ sinh thái; có thể
phân theo các kiểu địa hình như sau:
- Vùng núi đồi (có độ cao từ 300m): chiếm trên 60% tổng diện tích tự nhiên
của thành phố, chủ yếu phân bố ở phía Tây và kéo dài từ phía Bắc giáp ranh với
tỉnh Quảng Trị đến phía Nam giáp ranh với thành phố Đà Nẵng. Địa hình ôm
trọn dãy Trường Sơn Bắc, thuộc núi cao trung bình và núi thấp, trong đó khối
núi trung bình Bạch Mã - Hải Vân với đỉnh cao Bạch Mã 1.444m, kéo dài ra tới
biển Đông. Xét phân bố thực vật có thể chia ra 2 tiểu vùng sinh thái: Tiểu vùng
sinh thái rừng nguyên sinh; tiểu vùng sinh thái rừng thứ sinh.
- Vùng gò đồi (độ cao tuyệt đối dưới 300m): chiếm khoảng 14% tổng diện
tích tự nhiên của thành phố, chủ yếu bao gồm cây gỗ nhỏ, cây bụi và cây thân
thảo như niệt gió, sim, mua, ba bét, bồ cu vẽ, tràm, cỏ tranh, lau, lách. Rừng
trồng tập trung chủ yếu là bạch đàn, thông, keo lá tràm, keo tai tượng, ngoài ra
còn có các loài cây ăn quả như: mít, dứa, cam, chuối và một số cây công nghiệp
như cọ dầu, chè, hồ tiêu,...
- Vùng đồng bằng duyên hải: chiếm khoảng 11% diện tích, độ cao bình
quân 10 - 15m, phân bố xen giữa vùng gò đồi ở phía Tây và trảng cát nội đồng,
cồn cát ven biển và đầm phá về phía Đông. Thảm thực vật có tre, keo lá tràm,
keo tai tượng, bạch đàn,...
- Vùng gò - đụn cát, đầm phá, biển: chiếm khoảng 15% diện tích, thực vật
phần lớn bao gồm các loài ô rô, găng, cát đằng. Ngoài thực vật tự nhiên, còn có
các loài cây trồng phòng hộ chống cát bay như: trôi, keo lưỡi liềm, keo tai
tượng, keo lá tràm,... Thực vật đầm phá ven bờ rất đa dạng, bao gồm: Thực vật
ngập mặn có 31 loài với nhiều loài đặc trưng như sú, vẹt, đước, mắm, bần,
giá,...; thực vật phù du, cỏ thủy sinh, thực vật rừng ngập mặn.
1.5. Đặc điểm bờ biển, nước dâng
Vùng bờ biển thành phố Huế thuộc khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng
của bão, áp thấp nhiệt đới và các hiện tượng thời tiết cực đoan trên Biển Đông, là
một trong những khu vực có mức độ rủi ro thiên tai cao ở Việt Nam. Trung bình
mỗi năm, khu vực này chịu tác động trực tiếp và gián tiếp của 3-5 cơn bão, áp thấp
nhiệt đới. Khi lũ rất lớn xảy ra, chênh lệch mực nước giữa sông và biển tạo thành
áp lực phá vỡ các cồn cát, dải cát ven biển làm mở rộng cửa sông, thậm chí tạo ra
cửa biển mới (cửa Hòa Duân trong trận lũ năm 1999). Hiện tượng xói lở, bồi tụ bờ
biển xảy ra thường xuyên hàng năm cả trong mùa lũ và trong mùa kiệt với cường
độ và tốc độ khác nhau.
Trước đây, bên cạnh tình trạng xói, sạt bờ biển, hiện tượng bồi lấp, dịch
chuyển các cửa biển thường diễn ra tại những nơi có biên độ triều nhỏ, động lực
sóng ven bờ chiếm ưu thế và lưu lượng dòng chảy từ sông ra biển có sự biến đổi rõ
rệt theo mùa. Các cửa biển này có thể bị bồi lấp theo chu kỳ vài tháng trong một
năm hoặc vài năm trong một chu kỳ dài hơn. Trong những năm gần đây, các công
trình ổn định cửa biển Thuận An và Tư Hiền được xây dựng đã giúp kiểm soát hiện
tượng bồi lấp cửa biển.
Nước dâng do bão là hiện tượng thường xuyên xảy ra tại vùng ven biển của
thành phố Huế. Nước dâng do bão kết hợp triều cường đã từng gây ngập lụt sâu
trên diện rộng tại các khu vực cửa sông, ven biển. Trong quá khứ, cơn bão Cecil
gây nước dâng khoảng 1,9 m ở biển Thuận An, 1,7 m ở Lăng Cô. Nước biển
tràn qua đê ngăn mặn, đi sâu vào đất liền 2 - 3 km, cuốn trôi nhiều nhà cửa, ghe
thuyền. Giá trị mực nước cao nhất đạt 2,66 m vào lúc 8 giờ ngày 29/09/2009
(chịu ảnh hưởng cơn bão số 9 - bão Ketsana).
II. ĐẶC ĐIỂM DÂN SINH, KINH TẾ - XÃ HỘI, HẠ TẦNG
2.1 Đặc điểm dân sinh
2.1.1 Đặc điểm dân cư: Dân số toàn thành phố năm 2024 ước tính đạt
1.178.550 người, bằng 1,16% dân số cả nước, mật độ dân số 238,2 người/km2
trong đó: Dân số nam 587.414 người, chiếm 49,84% tổng dân số; dân số nữ
591.136 người, chiếm 50,16%; dân số khu vực thành thị 622.593 người, chiếm
52,83%; khu vực nông thôn là 555.957 người, chiếm 47,17%. Tổng tỷ suất sinh
năm 2024 đạt 2,07 con/phụ nữ, tiếp tục duy trì ở mức sinh thay thế. Tỷ suất sinh
thô là 15,55‰, trong khi đó tỷ suất chết thô là 5,50‰; tỷ lệ tăng tự nhiên
10,05%. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi và 5 tuổi lần lượt là 13,6‰ và
20,4‰.
Trong giai đoạn 2021-2025, tốc độ tăng dân số trung bình đạt 1,03%/năm,
thấp hơn tốc độ tăng trung bình của toàn quốc trong cùng giai đoạn
(1,10%/năm). Điều này chủ yếu là do ảnh hưởng của việc di cư ra các vùng
khác ngoài thành phố. Tỷ lệ tăng trưởng dân số tự nhiên của thành phố không có
nhiều khác biệt so với bình quân chung cả nước và của vùng.
Mật độ dân số/diện tích đất tự nhiên chung toàn Thành phố năm 2024 là
238,2 người/Km2 thấp hơn mật độ trung bình của cả nước (300 người/km2).
Mật độ dân số không đồng đều giữa các xã nông thôn và khu vực đô thị: Mật độ
cao tại khu vực xung quanh lõi trung tâm (như Phú Xuân, Thuận Hóa, Thuận
An, An Cựu, Kim Long…) và giảm dần ra phía ngoại vi.
Trên địa bàn Huế có nhiều dân tộc trong đó dân tộc Kinh chiếm 95,12%
dân số thành phố, dân tộc thiểu số chiếm khoảng 4,88% dân số thành phố trong
đó dân tộc Tà Ôi chiếm 3,1%, dân tộc Cơ Tu chiếm 1,48%, dân tộc Bru Vân
Kiều, Thái, Mường Hoa, Tày, Gia Rai, Thổ, Ê đê, Nừng, Xơ Đăng, Gié
Triêng,... chiếm tỷ lệ nhỏ. Nhóm các dân tộc thiểu số sống tập trung ở một số
khu vực miền núi như A Lưới, Nam Đông, Khe Tre, Long Quảng, và Bình Điền.
Đây là địa bàn cần nhận được sự quan tâm, hỗ trợ tăng cường về phòng chống
9
thiên tai do sự giao thoa với nghèo, khả năng tiếp cận dịch vụ, thông tin cảnh
báo và mức độ phơi nhiễm trước thiên tai.
2.1.2 Các nhóm dễ bị tổn thương
Theo Luật Phòng thủ dân sự 2023, các đối tượng dễ bị tổn thương (DBTT)
bao gồm: Trẻ em; Người cao tuổi; Phụ nữ đang mang thai hoặc đang nuôi con
dưới 36 tháng tuổi (rộng hơn mức dưới 12 tháng tuổi của Luật Phòng chống
Thiên tai); Người khuyết tật; Người bị bệnh hiểm nghèo; Người nghèo; Người
mất năng lực hành vi dân sự; Người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn.
Theo kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025 theo chuẩn nghèo
đa chiều giai đoạn 2022-2025, tổng số hộ nghèo toàn thành phố: 3.713 hộ
(10.910 khẩu), tỷ lệ 1,08%, tổng số hộ cận nghèo toàn thành phố: 6.057 hộ
(18.510 khẩu), tỷ lệ 1,77%. Khu vực có tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo cao tập trung
ở các xã thuộc huyện A Lưới cũ, đặc biệt là các xã A Lưới 1, A Lưới 5, A Lưới
4 và A Lưới 2, trong đó A Lưới 1 và A Lưới 5 có tỷ lệ lần lượt là 9,49% và
7,89%.
Số người khuyết tật là 31.600 người và số người cao tuổi (trên 60 tuổi):
203.320 người. Theo số liệu thống kê từ các xã tính đến ngày 25 tháng 07 2026,
một số khu vực có số người khuyết tật cao nhất là: Hương Thủy, Thanh Thủy,
Chân Mây - Lăng Cô và Đan Điền
4
.
Về đối tượng người tạm trú (như lao động di cư, sinh viên và người thuê
trọ…), đây là những người có ít hiểu biết về đặc điểm thiên tai tại địa bàn và có
thể gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin cảnh báo sớm. Theo số liệu tổng
hợp từ các xã tính đến tháng 7, 2025, một số địa bàn có số lượng người tạm trú
cao là An Cựu, Thủy Xuân, Hương An, Phong Phú, trong đó Phong Phú có tỷ lệ
hộ tạm trú cao nhất (gần 7%).
Nếu tính đến đồng thời nhiều tiêu chí như khu vực có đông người dân tộc
thiểu số sông ở khu vực kinh tế đặc biệt khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo/cận nghèo và
tỷ lệ hộ sống ở vùng rủi ro cao thì các xã thuộc khu vực miền núi phía tây thành
phố cần được quan tâm nhất. Cụ thể là:
A Lưới 1: 89,4% dân số là người dân tộc thiểu số; 9,49% hộ nghèo và
cận nghèo; 16,99% hộ nằm trong vùng rủi ro cao. Đây là địa bàn có sự hội tụ rõ
nhất của nhiều yếu tố bất lợi.
A Lưới 2: 69,4% dân tộc thiểu số; 3,70% hộ nghèo và cận nghèo; 6,62%
hộ trong vùng rủi ro cao.
A Lưới 4 và A Lưới 5: tỷ lệ dân tộc thiểu số trên 90%, đồng thời tỷ lệ hộ
nghèo và cận nghèo lần lượt là 4,01% và 7,89%.
Long Quảng: 85,7% dân tộc thiểu số, tỷ lệ nghèo và cận nghèo 1,20%,
khoảng 4,16% hộ trong vùng rủi ro cao.
4
Cơ sở dữ liệu PCTT chung của thành phố
Nam Đông: 45,5% dân tộc thiểu số và 8,11% hộ nằm trong vùng rủi ro cao.
Khe Tre: 13% dân tộc thiểu số nhưng có tới 13,95% số hộ nằm trong
vùng rủi ro cao.
Bảng 1. Địa bàn cần ưu tiên theo nhóm DBTT
Nhóm đối tượng DBTT
Địa bàn cần quan tâm
Vấn đề cần tập trung
Dân tộc thiểu số, nghèo và
rủi ro cao
A Lưới 1, A Lưới 2, Nam
Đông, Long Quảng, Khe
Tre
Tiếp cận cảnh báo, hỗ trợ
ngôn ngữ, nhà ở, sinh kế,
khả năng sơ tán
Dân số lớn và nhiều hộ
trong vùng rủi ro
Thanh Thủy, Thuận An,
Hương Thủy, Phong Điền,
Phú Lộc
Quy mô sơ tán, nơi trú
tránh, năng lực cung cấp
dịch vụ thiết yếu
Dân tạm trú tương đối lớn
Phong Phú, An Cựu, Thủy
Xuân, Hương An
Bao phủ cảnh báo, quản lý
nhà trọ, cập nhật danh sách
dân cư
Nhiều đối tượng phụ
thuộc hoặc hạn chế khả
năng tự ứng phó
Hương Thủy, Thanh
Thủy, Chân Mây-Lăng
Cô, Đan Điền, Kim Long
Hỗ trợ sơ tán, y tế, chăm
sóc, phương tiện và người
hỗ trợ
2.1.3 Điều kiện nhà ở: Hàng năm thành phố dành nguồn ngân sách lớn để
đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn, hỗ trợ nông dân, xây nhà đại đoàn kết,
trợ giúp người nghèo, hộ nghèo, các vùng khó khăn.
a) Số lượng và diện tích nhà ở
Theo kết quả điều tra tổng điều tra dân số về công tác phát triển nhà ở,
hiện trạng tính đến 31/12/2024 trên địa bàn thành phố ước tính tổng diện tích là
29.404.934 m² sàn nhà ở, trong đó:
Khu vực đô thị với tổng diện tích 15.689.344 m² sàn nhà ở; Khu vực nông
thôn có khoảng 400.000 căn nhà với tổng diện tích 13.715.590 m² sàn nhà ở.
Bảng 2. Tổng diện tích sàn nhà ở năm 2020 và năm 2024
Năm 2020
Năm 2024
Đơn vị hành chính
Diện tích bình
quân đầu
người (m2 /
người)
Tổng diện
tích sàn (m2
sàn)
Diện tích bình
quân đầu người
(m2 / người)
Tổng diện
tích sàn (m2
sàn)
Toàn thành phố
24,20
27.435.855
24,95
29.404.934
Khu vực đô thị
24,40
13.724.508
25,20
15.689.344
Khu vực nông thôn
24,0
13.711.347
24,67
13.715.590
(Nguồn: CTPTNO, niên giám thống kê và tính toán của HRC)
11
b) Chất lượng nhà ở
Chất lượng nhà ở của thành phố luôn đạt ở mức cao và duy trì, tính đến hết
năm 2024 chất lượng nhà ở kiên cố và bán kiên cố đạt tỷ lệ 98,38%. Bên cạnh
đó, tỷ lệ nhà thiếu kiên cố và đơn sơ giảm còn 1,62%. Chất lượng nhà ở chi tiết
như sau:
Bảng 3. Hiện trạng tỷ lệ chất lượng nhà ở năm 2024
STT
Khu vực
Nhà ở kiên cố và
bán kiên cố
Nhà thiếu kiên
cố và đơn sơ
Toàn thành phố
98,38%
1,62%
1
Khu vực đô thị
99,24%
0,76%
2
Khu vực nông thôn
97,40%
2.60%
(Nguồn: Kết quả chủ yếu điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ 01/04/2024 và tính toán của HRC)
Kể từ thời điểm năm 2020 đến nay, chất lượng nhà ở của người dân tiếp
tục được cải thiện, chất lượng nhà ở kiên cố và bán kiên cố tăng thêm, một phần
là nhà ở do người dân xây dựng mới và một phần là nhà ở thiếu kiên cố và đơn
sơ được người dân cải tạo, nâng cấp hoặc xây dựng lại. Ngoài ra, các chính sách
về việc cải tạo và xây dựng nhà ở mới cho người dân trên địa bàn thành phố
được đẩy mạnh, dẫn tới số lượng nhà ở thiếu kiên cố và đơn sơ giảm đáng kể
qua các thời kỳ.
Theo số liệu tổng hợp từ các phường xã tính đến tháng 07 năm 2026, tỷ lệ
nhà kiên cố và bán kiên cố của toàn thành phố chiếm tỷ trọng chủ đạo và đạt
khoảng 95,7%. Tuy nhiên, tỷ lệ nhà thiếu kiên cố hoặc đơn sơ vẫn chiếm khoảng
4,3% tổng số nhà được thống kê. Đây là nhóm nhà có khả năng chịu tác động
lớn hơn trước bão, gió mạnh, ngập sâu, lũ quét, sạt lở và các hiện tượng thiên tai
cực đoan.
Phân bố nhà ở có mức độ an toàn thấp
Nhà thiếu kiên cố và nhà đơn sơ phân bố không đồng đều mà tập trung rõ
tại một số địa bàn. Long Quảng là địa bàn nổi bật nhất, với 911 nhà thiếu kiên
cố và 22 nhà đơn sơ, chiếm khoảng 43,9% tổng số nhà của xã. Tiếp theo là Lộc
An với 1.231 căn, chiếm 15,2%; A Lưới 1 với 488 căn, chiếm 14,3%; và Kim
Trà với 917 căn, chiếm khoảng 11,3%.
Một số địa bàn khác cũng có tỷ lệ nhà thiếu kiên cố và đơn sơ tương đối
cao, gồm Phú Vang khoảng 8,8%, Quảng Điền 8,7%, Bình Điền và A Lưới 5
cùng khoảng 8,2%, Phú Lộc 8,1% và Phú Vinh khoảng 6,7%. Xét về số lượng
tuyệt đối, các địa bàn có nhiều nhà thuộc nhóm này gồm Lộc An, Long Quảng,
Kim Trà, Quảng Điền và Phú Vinh, cho thấy nhu cầu hỗ trợ gia cố, sửa chữa
hoặc bố trí sơ tán có thể tương đối lớn.
Ngoài nhóm nhà thiếu kiên cố và đơn sơ, tỷ lệ nhà bán kiên cố cũng khá
cao tại một số địa bàn như A Lưới 5 với 68,4%, Phú Vang 59,3%, A Lưới 1
44,2%, Phú Lộc 42,8%, Kim Trà 42,6%, Lộc An 41,5%, Đan Điền 41,1% và
Quảng Điền 39,6%. Nhà bán kiên cố không đồng nghĩa với nhà không an toàn,
nhưng tỷ lệ cao cho thấy cần tiếp tục đánh giá cụ thể về vật liệu, kết cấu mái,
nền móng, cao độ nền và khả năng chống chịu đối với từng loại hình thiên tai.
Khả năng sử dụng nhà ở làm nơi sơ tán
Theo số liệu báo cáo, có 24.903 căn nhà có thể sử dụng làm nơi sơ tán,
với tổng sức chứa khoảng 145.318 người. Việc sử dụng nhà dân làm nơi sơ tán
có thể bổ sung đáng kể cho hệ thống công trình trú tránh tập trung, nhất là tại
những khu vực dân cư phân tán hoặc xa trung tâm. Tuy nhiên, các nhà được lựa
chọn cần đáp ứng các yêu cầu tối thiểu về độ an toàn kết cấu, vị trí ngoài vùng
nguy hiểm, cao độ nền, đường tiếp cận, điện, nước, vệ sinh và khả năng tiếp
nhận người dễ bị tổn thương. Đồng thời, cần có danh sách cụ thể, sự thống nhất
với chủ hộ và phương án tổ chức, quản lý khi sơ tán.
Nhìn chung, chất lượng nhà ở của thành phố tương đối tốt khi hơn ba
phần tư số nhà được phân loại là kiên cố. Tuy nhiên, mức bình quân này che
khuất sự chênh lệch đáng kể giữa các địa bàn. Nhà ở có mức độ an toàn thấp tập
trung tại một số xã miền núi, vùng nông thôn và khu vực ven biển, nơi người
dân có thể đồng thời chịu bất lợi về thu nhập, tiếp cận hạ tầng và khả năng phục
hồi sau thiên tai. Vì vậy, các chương trình nâng cao an toàn nhà ở cần được ưu
tiên theo hướng có trọng điểm, dựa trên sự giao thoa giữa chất lượng nhà, mức
độ rủi ro trước thiên tai và khả năng tự ứng phó của hộ gia đình.
2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
Trong giai đoạn 2020-2025, thành phố Huế phải đối mặt với nhiều khó
khăn, thách thức, đặc biệt là tác động kéo dài của đại dịch COVID-19 từ đầu
năm 2020 đến giữa năm 2022, những diễn biến phức tạp, khó lường của tình
hình thế giới và khu vực, cùng với các đợt bão, lũ xảy ra liên tiếp. Những yếu tố
này đã ảnh hưởng đáng kể đến việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương.
Trong bối cảnh đó, dưới sự lãnh đạo của Trung ương, Đảng bộ, chính
quyền, Nhân dân thành phố Huế đã đoàn kết, thống nhất, nỗ lực phấn đấu và đạt
được những thành tựu nổi bật. Kinh tế của thành phố Huế từng bước phục hồi và
phát triển khá nhanh, toàn diện và theo hướng bền vững; quy mô kinh tế ngày
càng mở rộng, tạo nền tảng thuận lợi cho giai đoạn phát triển tiếp theo. GRDP
theo giá hiện hành của thành phố năm 2025 ước đạt 91 nghìn tỷ đồng (gấp 1,65
lần so với năm 2020), chiếm 10% GRDP của Vùng Bắc Trung Bộ và chiếm
0,7% GDP cả nước.
- Khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản (KV 1): Giá trị tăng thêm
(VA) theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 8.722 tỷ đồng, gấp 1,35 lần so với
năm 2020; đồng thời chiếm tỷ trọng 9,6% trong GRDP (thấp hơn so với năm
2020 là 11,7%).
13
- Khu vực công nghiệp - xây dựng (KV 2): Công nghiệp là một trong
những ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố, phát triển công nghiệp với những
sản phẩm chủ lực, đóng góp quan trọng vào phát triển của kinh tế thành phố. Hệ
thống kết cấu hạ tầng công nghiệp được quan tâm đầu tư để thu hút các doanh
nghiệp trong nước và quốc tế. Bên cạnh đó, hoạt động xây dựng tập trung cao
trong giai đoạn 2021-2025 góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng thành phố trực
thuộc trung ương. Quy mô VA khu vực công nghiệp và xây dựng theo giá hiện
hành của Huế năm 2025 ước đạt 28.423 tỷ đồng, gấp 1,61 lần so với năm 2020,
chiếm tỷ trọng 31,3% trong GRDP (thấp hơn so với năm 2020 là 32,1%).
- Khu vực dịch vụ (KV 3): Ngành du lịch của thành phố có xu hướng
phục hồi mạnh và phát triển khởi sắc sau đại dịch Covid-19, giữ vai trò là động
lực tăng trưởng kinh tế đồng thời là ngành kinh tế mũi nhọn góp phần phát triển
khu vực dịch vụ và kinh tế. Quy mô khu vực dịch vụ theo giá hiện hành của
thành phố năm 2025 ước đạt 46.009 tỷ đồng, gấp 1,76 lần so với năm 2020,
chiếm 50,7% trong GRDP (cao hơn so với năm 2020 là 47,6%).
- Khu vực thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm (KV 4): Quy mô KV 4
theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 7.582 tỷ đồng, gấp 1,6 lần so với năm
2020, chiếm 8,4% trong GRDP (thấp hơn so với năm 2020 là 8,6%).
Như vậy, trong giai đoạn 2021-2025, cơ cấu kinh tế thành phố ở năm cuối
kỳ KV 3 (50,7%) - KV 2 (31,3%) - KV 1 (9,6%) - KV 4 (8,4%) dịch chuyển
tích cực, theo hướng giảm tỷ trọng KV 1, tăng tỷ trọng KV 2 và KV 3 cơ bản ổn
định so với đầu kỳ.
Khi so sánh với các thành phố trực thuộc Trung ương thì tỷ trọng đóng
góp của ngành nông nghiệp của thành phố Huế vẫn còn khá lớn
5
. Tuy nhiên,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn thành phố theo hướng hiện đại và tập
trung vào khu vực dịch vụ hơn so với cơ cấu kinh tế của cả nước. Nhờ chuyển
dịch đúng hướng, các khu vực kinh tế đã có nhiều đóng góp vào tăng trưởng
kinh tế. Trong giai đoạn 2020-2025, bình quân mỗi năm khu vực nông, lâm
nghiệp và thủy sản đóng góp 5,38%; khu vực công nghiệp và xây dựng đóng
góp 40,73%; khu vực dịch vụ đóng góp 53,89% vào tăng trưởng chung của toàn
thành phố.
2.3 Tác động của thiên tai đến các ngành kinh tế
Trong những năm qua, thiên tai như bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt, sạt lở và
xâm nhập mặn gây ra thiệt hại đáng kể cho các ngành kinh tế trọng điểm như
nông nghiệp, giao thông, xây dựng, thương mại và du lịch. Khu kinh tế ven biển
như Chân Mây - Lăng Cô đặc biệt dễ bị tổn thương trước mực nước biển dâng
và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Trong tương lai, tác động của thiên tai đối
với nền kinh tế của thành phố có khả năng ngày càng lớn do tác động của Biến
đổi khí hậu. Điều này đặt ra yêu cầu buộc Huế phải tích hợp khả năng chống
5
Năm 2024, tỷ trọng ngành Nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của Hà Nội chiếm 1,96%; Hải Phòng chiếm
3,15%; Đà Nẵng chiếm 1,77%; Hồ Chí Minh chiếm 0,47%; Cần Thơ chiếm 9,96%.
chịu vào mọi quy hoạch và chính sách, đồng thời tìm kiếm cơ hội từ kinh tế
xanh và các công nghệ hỗ trợ thích ứng. Thay vì chỉ tập trung vào các giải pháp
phòng chống ngắn hạn đơn thuần, thành phố cần lồng ghép yếu tố thích ứng biến
đổi khí hậu vào quy hoạch phát triển đô thị, khuyến khích đầu tư vào năng lượng
tái tạo và các ngành kinh tế xanh.
2.3.1 Tác động của thiên tai đến nông, lâm nghiệp và thủy sản
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản là lĩnh vực chịu ảnh hưởng nặng nề
nhất của thiên tai do hơn 70% dân số thành phố Huế sinh sống ở khu vực nông
thôn và phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp. Diện tích sản xuất lúa chủ yếu tập
trung tại các vùng đồng bằng thấp trũng, ven hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
và các cửa biển Thuận An, Tư Hiền, nơi thường xuyên chịu tác động của ngập
lụt, bão và xâm nhập mặn.
Các hiện tượng nắng nóng, hạn hán, mưa lớn, lũ lụt, bão và áp thấp nhiệt
đới gây thiệt hại lớn đối với cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng thủy sản, làm suy
giảm năng suất, chất lượng sản phẩm, gia tăng dịch bệnh, ảnh hưởng đến sinh kế
và thu nhập của người dân.
Trong giai đoạn 2020-2025, nông nghiệp là lĩnh vực chịu thiệt hại thường
xuyên và nhạy cảm nhất với mưa lũ trái mùa. Năm 2022, mưa lớn từ cuối tháng
3 đến đầu tháng 5 xảy ra đúng thời kỳ lúa Đông Xuân gần thu hoạch, làm
20.093,3 ha lúa bị thiệt hại, 7.813 ha lúa đổ ngã và gần 2.000 ha cây trồng khác
bị ngập; giá trị thiệt hại nông, lâm nghiệp đạt khoảng 715 tỷ đồng, chiếm gần
một nửa tổng thiệt hại năm. Đây là điểm nhấn quan trọng cho thấy một đợt thiên
tai không nhất thiết đạt mức lũ lịch sử vẫn có thể gây tổn thất kinh tế rất lớn nếu
xảy ra không đúng mùa vụ và đúng thời điểm cây trồng có giá trị cao.
Năm 2023, mưa lớn bất thường tháng 2 làm ngập 5.951 ha lúa; các đợt lũ
tháng 10-11 tiếp tục làm ngập rau, hoa vụ Đông tại Phong Điền, Quảng Điền,
thành phố Huế và Hương Thủy. Năm 2024, 1.287,5 ha lúa bị đổ ngã; riêng Phú
Lộc có 1.201 ha rừng trồng keo bị gãy đổ. Năm 2025, quy mô thiệt hại tiếp tục
tăng mạnh với khoảng 22.418 ha lúa bị ngập, 7.000 ha phải gieo sạ lại, 1.831 ha
rau màu, 255 ha cây ăn quả, 277 ha rừng bị ảnh hưởng; 91 con trâu, bò, dê, 149
con lợn và 13.393 con gia cầm bị chết hoặc cuốn trôi. Các vùng sản xuất thấp
trũng ven sông, ven phá và các địa bàn chuyên canh rau, hoa chịu tác động lớn;
vùng núi và Phú Lộc chịu thiệt hại đáng kể đối với rừng trồng và cây lâu năm.
Trong lĩnh vực thủy sản, sinh kế ven biển, nuôi trồng và khai thác thủy
sản chịu tác động đồng thời của ngập, dòng chảy mạnh, thay đổi độ mặn, bồi
lấp, sóng lớn và hư hỏng lồng bè, ghe thuyền. Năm 2022, thiệt hại của ngành
thủy sản được ước tính khoảng 408,5 tỷ đồng; nhiều diện tích nuôi trồng tại
Quảng Điền, Hương Phong, Phong Điền, Phú Vang và Phú Lộc bị tràn, ngập.
Năm 2024, riêng Phú Lộc ghi nhận 377 ha ao hồ nuôi thủy sản bị ngập, 10,8 ha
nuôi tôm thiệt hại, 105 lồng bè và 91 ghe thuyền bị hư hỏng hoặc chìm.
Năm 2025, khoảng 6.000 ha nuôi trồng thủy sản trong đầm phá và nước
ngọt bị ngập hoàn toàn; ước thiệt hại khoảng 57,87 tấn cá nuôi và 60.000 con cá
15
giống. Dải đầm phá Tam Giang-Cầu Hai, các cửa biển Thuận An, Tư Hiền và
khu vực Chân Mây-Lăng Cô là các vùng nhạy cảm do sinh kế phụ thuộc trực
tiếp vào điều kiện thủy văn, độ mặn, dòng chảy và khả năng ra vào cửa biển.
Xói lở bờ biển và bồi lấp cửa biển còn làm tăng chi phí duy trì sản xuất, an toàn
tàu thuyền và phục hồi sinh kế sau thiên tai.
2.3.2 Tác động của thiên tai đến thương mại, dịch vụ
Đối với thương mại và dịch vụ, tác động chủ yếu là ngập cửa hàng, hư
hỏng hàng hóa và thiết bị; đình trệ vận chuyển, giao nhận; đóng cửa tạm thời;
mất điện, nước và thông tin; giảm lượng khách; cùng chi phí vệ sinh, sửa chữa
và khôi phục sau lũ.
Các khu vực thương mại nội đô và vùng thấp trũng thường bị ảnh hưởng
trực tiếp khi lũ sông Hương-sông Bồ dâng cao. Ngập đường giao thông làm gián
đoạn hoạt động của chợ, cửa hàng, nhà hàng, vận tải, giao hàng và các dịch vụ
phục vụ. Giai đoạn 2023-2025, tác động thể hiện rõ tính dây chuyền hơn: ngập
lụt dẫn đến mất điện, mất liên lạc, hạn chế giao thông và gián đoạn đồng thời
nhiều dịch vụ đô thị.
Năm 2024, bão số 6 gây thiệt hại tập trung tại Phú Lộc-Lăng Cô; nhiều
nhà hàng, quán ăn ven biển ở Lộc Vĩnh, Giang Hải, Vinh Mỹ và Lăng Cô bị tốc
mái hoặc hư hỏng nặng do cây đổ. Đây là nhóm cơ sở quy mô nhỏ, thường có
khả năng dự phòng tài chính và bảo hiểm hạn chế, nên thời gian phục hồi có thể
kéo dài hơn so với giá trị tài sản hư hỏng ban đầu.
Sau lũ năm 2025, các doanh nghiệp và hộ kinh doanh phản ánh khó khăn
về thiệt hại hàng hóa, cơ sở vật chất và dòng tiền. Thành phố đã tổng hợp kiến
nghị liên quan đến gia hạn nghĩa vụ thuế, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giãn nợ và
giảm lãi suất cho các cơ sở bị ảnh hưởng. Điều này cho thấy tác động không chỉ
dừng ở tài sản bị ngập mà còn ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản và phục hồi
kinh doanh.
Thương mại và dịch vụ có mức phơi nhiễm cao tại khu vực đô thị trung
tâm, các tuyến phố thấp trũng, chợ, khu dịch vụ ven biển và các cơ sở kinh
doanh nhỏ. Thiệt hại thực tế có khả năng bị đánh giá thấp do báo cáo hiện chưa
thống kê đầy đủ hàng hóa tồn kho, doanh thu mất đi, ngày đóng cửa, thu nhập
của người lao động và chi phí phục hồi.
Bên cạnh đó, du lịch Huế chịu tác động đồng thời từ ngập lụt đô thị, bão
và gió mạnh ven biển, sạt lở tại khu vực miền núi, gián đoạn giao thông và thiệt
hại đối với di tích, cảnh quan và cơ sở dịch vụ. Rủi ro du lịch tập trung tại ba
không gian chính: khu di sản và đô thị trung tâm; dải du lịch biển Thuận An-Phú
Lộc-Chân Mây-Lăng Cô; và các điểm du lịch sinh thái miền núi tại Nam Đông,
A Lưới và Bạch Mã. Ngoài thiệt hại công trình, ngành còn chịu tổn thất do đóng
cửa điểm đến, hủy dịch vụ, giảm doanh thu, chi phí hỗ trợ khách và suy giảm
hình ảnh điểm đến sau sự kiện.
Năm 2022, nhiều điểm di tích và du lịch ghi nhận cây gãy đổ, tốc mái các
công trình phục vụ. Riêng khu du lịch EcoYesHue-Thác Mơ tại Nam Đông bị
hư hỏng cổng vào, trạm bảo vệ, chòi và quầy bar ngoài trời, với thiệt hại ước
khoảng 300 triệu đồng.
Trong đợt lũ ngày 14-16/11/2023, trên địa bàn có khoảng 40.000 lượt
khách, gồm khoảng 32.000 khách nội địa và 8.000 khách quốc tế. Các tác động
bao gồm hạn chế đi lại, đóng cửa hoặc giảm hoạt động tại điểm tham quan, hủy
hoặc điều chỉnh chương trình và tăng yêu cầu bảo đảm an toàn cho khách.
Năm 2025, mưa lũ làm các điểm tham quan thuộc Quần thể Di tích Cố đô
Huế phải tạm ngừng đón khách để bảo đảm an toàn và khắc phục hậu quả trước
khi mở cửa trở lại. Mưa lũ cũng làm sập một đoạn tường Hoàng Thành dài
khoảng 15 m, cho thấy thiên tai có thể gây tổn thất đối với chính nguồn tài
nguyên cốt lõi của du lịch Huế—các công trình di sản có giá trị lịch sử và văn
hóa không dễ thay thế.
2.3.3 Tác động của thiên tai đến công nghiệp
Tác động đến công nghiệp diễn ra theo hai dạng chính: hư hỏng trực tiếp
đối với nhà xưởng và hạ tầng khu công nghiệp; và gián đoạn sản xuất do mất
điện, ngập đường, thiếu nước, gián đoạn thông tin hoặc người lao động không
thể đến nơi làm việc.
Năm 2022, lốc và bão làm tốc mái khoảng 20 m² kho hóa chất, nghiêng
khoảng 30 m tường rào nhà máy xử lý nước thải, hư hỏng 1.160 m đường trong
khu công nghiệp, làm nghiêng 15 cột điện và gãy 55 cây xanh. Thiệt hại gộp đối
với điện lực và khu công nghiệp được ước tính khoảng 10,82 tỷ đồng. Bão số 4
cũng làm 147.000 khách hàng mất điện; bốn nhà máy thủy điện phải tạm dừng
phát do sự cố đường dây, ảnh hưởng đến tính liên tục của nguồn điện phục vụ
sản xuất.
Năm 2023, mưa lũ gây sạt lở và đất đá tràn vào các tuyến đường tại Khu
kinh tế Chân Mây-Lăng Cô và khu vực cửa khẩu A Đớt, ảnh hưởng đến vận
chuyển hàng hóa và khả năng tiếp cận các cơ sở sản xuất. Đồng thời, 196 trạm
BTS bị mất liên lạc do mất điện và ngập sâu, làm tăng nguy cơ gián đoạn điều
hành, giao dịch và thông tin của doanh nghiệp.
Tác động rõ nhất xảy ra trong trận lũ lịch sử năm 2025. Ngành điện thực
hiện ba đợt cắt điện diện rộng; tại thời điểm cao nhất có khoảng 297.765 khách
hàng, tương đương 86,6%, bị ngừng cấp điện. Sản lượng điện không cung cấp
được ước khoảng 14,5 triệu kWh; tổng thiệt hại của ngành điện khoảng 38,48 tỷ
đồng, gồm hư hỏng lưới điện và giảm doanh thu bán điện. Nhà máy thủy điện
Rào Trăng 4 phải tạm ngừng hoạt động do nước tràn vào sàn nhà máy.
Hầu hết doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đã phải cho công nhân
nghỉ làm trong các ngày 28-30/10/2025; chỉ duy trì một số bộ phận trực và các
công đoạn bắt buộc phải vận hành liên tục. Mưa lũ còn gây 11 sự cố nguồn
nước, mất điện hơn 90 giờ tại một số nhà máy nước, tạo thêm áp lực đối với các
cơ sở sản xuất phụ thuộc vào nguồn nước và điện ổn định.
17
Nhìn chung, thiệt hại trực tiếp đối với nhà xưởng chưa phải nhóm lớn
nhất trong cơ cấu thiệt hại, nhưng công nghiệp chịu rủi ro hệ thống cao do phụ
thuộc vào điện, nước, viễn thông, giao thông, logistics và sự có mặt của người
lao động. Các khu công nghiệp ở vùng thấp, các cơ sở ven biển Chân Mây-Lăng
Cô, nhà máy thủy điện và doanh nghiệp có dây chuyền liên tục là những đối
tượng cần đặc biệt lưu ý.
2.4. Đặc điểm cơ sở hạ tầng
2.4.1 Hệ thống hạ tầng giao thông
Về đường không: Sân bay quốc tế Phú Bài với đường băng dài 2.700m,
có các đường bay có thể kết nối với các nước Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn
Quốc, Trung Quốc), các nước ASEAN, tới một số nước châu Âu; nhà ga T2 của
Cảng hàng không quốc tế Phú Bài đã hoàn thành đưa vào khai thác ngày
28/4/2023 với công suất 5 triệu hành khách/năm, đáp ứng tốt nhu cầu vận
chuyển hành khách bằng đường hàng không.
Về đường biển: Cảng nước sâu tự nhiên Chân Mây, hiện đã đưa vào sử
dụng 3 bến (các bến số 1, số 2, số 3) với công suất 4,5 đến 9 triệu tấn/năm, với
cỡ tàu hàng 50-70 ngàn tấn và lớn hơn, tàu khách đến 3.500 khách đang mở ra
cơ hội lớn cho phát triển ngành dịch vụ vận tải logistic phục vụ vận chuyển hàng
hóa cho thành phố Huế, các địa phương lân cận, kể cả khu vực trên các nước
bạn thuộc hành lang kinh tế Đông - Tây ra với thế giới.
Về đường bộ: Thành phố đã tập trung đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng
điểm, có tác động lan tỏa, kết nối, tạo không gian, động lực phát triển mới như:
Tuyến đường bộ ven biển đoạn qua thành phố Huế và cầu qua cửa Thuận An, đê
chắn sóng cảng Chân Mây (giai đoạn 2), đường Nguyễn Hoàng và cầu vượt qua
sông Hương, đường Tố Hữu nối dài đi sân bay Phú Bài, Đường vành đai 3,
Đường cứu hộ, cứu nạn thị trấn Phong Điền - Điền Lộc, đường HCM nhánh Tây
được đầu tư cộng với nâng cấp thảm nhựa QL 49B từ trung tâm thành phố Huế
lên A Lưới; hệ thống đường ven phá, ven biển cũng đã được quan tâm đầu tư,
như QL49B từ Mỹ Chánh - Quảng Trị đến Phú Lộc (95km). Hệ thống kết cấu hạ
tầng giao thông đường bộ bao gồm cao tốc, quốc lộ, đường tỉnh, đường đô thị,
mạng lưới đường giao thông nông thôn và đường chuyên dùng đã tạo thành
mạng lưới đường gồm các trục ngang, trục dọc quan trọng và tương đối hoàn
chỉnh. Tổng chiều dài đường bộ khoảng 8480 km, gồm:
+ Cao tốc (1 tuyến): dài 127 km, chiếm 2%;
+ Quốc lộ (04 tuyến): dài 485,260 km, chiếm 5%;
+ Đường tỉnh (41tuyến): dài 620,655 km, chiếm 7%;
+ Đường đô thị (500 tuyến): dài 238,870 km, chiếm 3%;
+ Đường huyện (104 tuyến): dài 699,350 km, chiếm 8%;
+Đường xã (3.839 tuyến): dài 2163 km chiếm 26%;
+Đường chuyên dùng (96 tuyến): dài 332,03 km chiếm 4%;
+ Đường GTNT, đường khác (6.544 tuyến): dài 3845,66 km, chiếm 45%.
Theo số liệu thống kê từ cấp xã đến tháng 7, 2026, nhìn chung, hệ thống
quốc lộ và đường đô thị có chất lượng tương đối tốt hơn, trong khi các điểm yếu
tập trung chủ yếu tại đường xã, đường thôn và ngầm tràn. Ví dụ như, đường
thôn có tỷ lệ xuống cấp cao nhất, 13,8%, tương ứng 239 km; tiếp đến là đường
xã với 11,2%, tương ứng 113,6 km. Đây là những tuyến và công trình trực tiếp
phục vụ cộng đồng nhưng thường có mức độ dự phòng thấp, dễ trở thành điểm
nghẽn khi thiên tai xảy ra. Việc nâng cấp cần ưu tiên các tuyến độc đạo, tuyến
kết nối khu dân cư có nguy cơ bị cô lập, cơ sở y tế, trường học, nơi sơ tán và các
khu vực tập trung nhiều nhóm dễ bị tổn thương.
2.4.2. Hệ thống điện
Thành phố Huế có khá nhiều các dạng nguồn điện: thủy điện, nhiệt điện,
năng lượng tái tạo. Lưới điện trên địa bàn đã được đầu tư xây dựng, cải tạo đảm
bảo an toàn và ổn định trong cung cấp điện, đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất
kinh doanh và sinh hoạt cho người dân tại địa phương. Đến nay điện đã phủ
100% xã, phường trên địa bàn toàn thành phố.
Chất lượng điện cung cấp cho thành phố hiện nay là khá tốt, điện áp vận
hành bảo đảm tiêu chuẩn ở mức tương đối cao do được bù công suất phản kháng
nhiều nên đã giảm được tổn thất công suất và điện áp. Tổn thất điện năng giảm
liên tục qua các năm, ước năm 2025 đạt mức 4,56% thấp hơn mục tiêu tổn thất
theo quy hoạch điện đã được phê duyệt.
Thủy điện: Trên địa bàn thành phố Huế có 13 nhà máy thủy điện đang
hoạt động với tổng công suất 459,3MW, với sản lượng điện theo công suất thiết
kế 1.747,56 triệu kWh, trong đó công suất lớn nhất là nhà máy thủy điện A Lưới
(2x85) MW, với sản lượng điện phát hàng năm đạt 690 triệu kWh, nhỏ nhất là
nhà máy thủy điện Alin thượng, công suất thiết kế khoảng 3MW, sản lượng điện
phát hàng năm đạt khoảng 9 triệu kWh.
Nhiệt điện: Theo số liệu của Sở Công Thương, tính đến tháng 12/2025,
trên địa bàn Thành phố có 02 dự án nhiệt điện là (i) nhà máy điện đốt rác sinh
hoạt phát điện, đặt xã Phú Sơn công suất 12MW, đã đi vào hoạt động trong năm
2023; (ii) Hệ thống phát điện tận dụng nhiệt khí thải tại Nhà máy xi măng Đồng
Lâm, công suất 8MW đã đi vào hoạt động từ tháng 11/2025.
Điện mặt trời: Theo số liệu của Sở Công Thương, trên địa bàn Huế có
530 hệ thống điện mặt trời mái nhà (ĐMTMN) với tổng công suất 61 MWp,
gồm: (i) 71 hệ thống có công suất >100kWp, với tổng công suất 56,3MWp
(trong đó: Hệ thống tại các trang trại nông nghiệp: có 31 hệ thống với tổng công
suất 28,8MWp; Hệ thống tại các công trình công nghiệp:có 34 hệ thống với tổng
công suất 26,7MWp; Hệ thống tại các công trình dân dụng: có 06 hệ thống với
tổng công suất 0,8 MWp); (ii) 459 hệ thống ĐMTMN (nhà dân, văn phòng...) có
công suất < 100 kWp với tổng công suất khoảng 4,7MWp.
Mạng lưới cấp điện: Tính đến thời điểm này, trên địa bàn Huế có
319,9km đường dây 500kV chạy qua (bao gồm mạch 1 dài 104,4km, mạch 2 dài
19
104,5km, mạch 3 dài 111km), nhưng chưa có trạm biến áp 500kV. Ngoài ra lưới
điện TP. Huế còn được hỗ trợ, liên kết với lưới điện các Tỉnh lân cận như Quảng
Trị, TP. Đà Nẵng… thông qua các đường dây 220-110kV. Lưới điện cấp cho
phụ tải của TP. Huế bao gồm lưới truyền tải 220kV và lưới phân phối từ 110kV
trở xuống. Trong đó lưới truyền tải 220kV thuộc quyền quản lý của Công ty
truyền tải điện 1 (PTC1), lưới 110kV trở xuống thuộc quyền quản lý của Công
ty điện lực thành phố Huế.
2.4.3 Hệ thống thông tin liên lạc
Hạ tầng thông tin và truyền thông phát triển nhanh cả về số lượng và chất
lượng, đáp ứng tốt dịch vụ thông tin liên lạc thông suốt trong nước và quốc tế,
dần bắt nhịp với xu hướng phát triển kinh tế tri thức và cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ 4 với doanh thu bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin đạt
gần 5.600 tỷ đồng (năm 2025), giai đoạn 2021-2025 tăng bình quân 7,5%/năm.
Hiện có 07 công trình viễn thông quan trọng liên quan đến an ninh quốc
gia. Trong đó, 04 công trình thuộc hệ thống quản lý, điều khiển, định tuyến,
chuyển mạch viễn thông quốc tế, đường dài liên tỉnh và khu vực (cáp quang biển
và trạm cập bờ; Đài thông tin duyên hải), 03 công trình viễn thông phục vụ sự
chỉ đạo điều hành trực tiếp của các cơ quan Đảng, Nhà nước. Các công trình
gồm Trung tâm phát sóng tín hiệu phát thanh, truyền hình quốc gia trực tiếp phát
sóng các kênh chương trình phục vụ nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền thiết yếu
của Đảng và Nhà nước được bảo vệ an toàn tuyệt đối chống lại việc phá hoại,
xâm nhập khai thác thông tin, khống chế chiếm quyền điều khiển để tuyên
truyền chống đối lật đổ chế độ, xuyên tạc. Các công trình viễn thông phục vụ sự
chỉ đạo điều hành trực tiếp của các cơ quan Đảng, Nhà nước: Mạng viễn thông
dùng riêng bảo đảm thông tin chỉ đạo, điều hành của các cơ quan Trung ương
Đảng và Nhà nước đến thành phố Huế (kết nối đến các Sở/ban/ngành, UBND
các xã/ phường); Mạng viễn thông dùng riêng phục vụ nhiệm vụ quốc phòng
thuộc Binh chủng Thông tin liên lạc; Mạng viễn thông dùng riêng trong ngành
Công an do Cục Viễn thông và cơ yếu - Bộ Công an và Công an thành phố quản
lý, vận hành. Mạng viễn thông dùng riêng bảo đảm thông tin chỉ đạo, điều hành
của các cơ quan Trung ương Đảng và Nhà nước đến thành phố Huế. Hạ tầng sử
dụng chung hạ tầng của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT).
Mạng viễn thông dùng riêng phục vụ nhiệm vụ quốc phòng thuộc Binh chủng
Thông tin Liên lạc có các hệ thống đường truyền bảo đảm thông tin, liên lạc chỉ
đạo, chỉ huy từ Bộ Quốc phòng đến Bộ Chỉ huy quân sự thành phố. Các công
trình viễn thông quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia được đặt tại các vị trí
đảm bảo an toàn và được bảo vệ chống phá hoại xâm nhập, đó là: Bộ Chỉ huy
Quân sự thành phố, các đồn Biên phòng, các tòa nhà do Viettel làm chủ.
Thông tin trên biển: Thành phố có đài thông tin duyên hải Huế trực thuộc
Công ty TNHH MTV Thông tin Điện tử Hàng hải Việt Nam - Cục Hàng hải
Việt Nam, làm nhiệm vụ cung cấp các loại thông tin phục vụ hàng hải, thông tin
cấp cứu - cứu nạn (trực canh 24/24h), thông tin dự báo thời tiết biển và cảnh báo
thiên tai, hướng dẫn các tàu cách phòng và trú bão, thực hiện các chương trình
thông tin duyên hải và phục vụ nhu cầu thông tin liên lạc của ngư dân với đất
liền.
Một số kết quả nổi bật bao gồm:
Toàn thành phố có khoảng 1.700 trạm BTS, mạng băng rộng cố định (cáp
quang FTTH) và băng rộng di động đã phủ sóng 100% thôn trên địa bàn thành
phố;
100% số điểm phục vụ của mạng bưu chính công cộng có kết nối internet
băng rộng cố định;
Tỷ lệ thuê bao băng rộng di động/100 dân đạt 85%;
Tỷ lệ hộ gia đình có kết nối Internet băng rộng cáp quang đạt 84%;
đã đầu tư 672km hệ thống cống bể ngầm, đã hoàn thành ngầm hóa cáp,
dây thuê bao đến nhà dân đạt 48 tuyến/khu vực;
100% UBND cấp xã có hạ tầng công nghệ thông tin đáp ứng mô hình một
cửa điện tử hiện đại.
Hệ thống hội nghị truyền hình được triển khai đồng bộ, 100% UBND cấp
xã có phòng họp trực tuyến. Hoàn thành nền tảng phát triển và tích hợp chính
quyền điện tử.
Đang triển khai thí điểm kết nối nền tảng Điện toán đám mây Chính phủ.
Xây dựng, cập nhật và triển khai Khu kiến trúc số thành phố phù hợp với yêu
cầu phát triển Chính phủ số và Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số. Hạ tầng kỹ
thuật được đầu tư đồng bộ, đáp ứng tốt yêu cầu chuyển đổi số và vận hành chính
quyền điện tử.
Về công tác đảm bảo thông tin truyền thông khi thiên tai xảy ra, thành phố
đã triển khai một số nội dung sau: Ban chỉ huy Phòng thủ dân sự vận hành tổng
đài 112. Hàng năm, Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức diễn tập công tác bảo
đảm an bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt trong mọi tình huống phục vụ công
tác chỉ đạo, chỉ huy ứng phó với bão; chỉ đạo Trung tâm IOC ứng dụng công
nghệ thông tin như: Hue-S, tổng đài 19001075, truyền thanh thông minh phục
vụ phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, tăng cường tuyên truyền, phổ
biến các thông tin về dự báo, cảnh báo, chỉ đạo ứng phó với thiên tai.
Trong các tình huống thiên tai, Viễn Thông Huế triển khai hệ thống thông
tin liên lạc phục vụ công tác PCTT và TKCN (02 điện thoại vệ tinh; hệ thống vô
tuyến sóng ngắn CODAN công suất 100 WW; hệ thống vô tuyến sóng cực ngắn
Kenwood có thể liên lạc cự ly 30km đến 50km). Ngoài ra, đã bố trí máy bộ đàm
Kenwood cầm tay, máy liên lạc vệ tinh cho Ban chỉ huy PTDS thành phố.
Các nhà mạng Vinaphone, Viettel, Mobiphone được yêu cầu cập nhật một
giờ/một lần tin nhắn qua điện thoại di động về tình hình diễn biến của bão, lụt
cho lãnh đạo thành phố và người dân trên địa bàn thành phố biết để chủ động
phòng tránh.
21
2.4.4 Hệ thống cấp nước và vệ sinh môi trường
Thành phố Huế là một trong những địa phương đi đầu trong cung cấp
nước sạch. Đến nay, tỷ lệ người dân dùng nước đạt 96,2%, với 98,71% người
dân đô thị và 93,38% nông thôn (đây là tỷ lệ rất cao so với cả nước). Với quy
mô hiện tại gồm 30 nhà máy sản xuất nước sạch trực thuộc công ty cấp nước
Huế (HueWACO, đơn vị đảm nhiệm việc cấp nước cho cả địa bàn đô thị và
nông thôn trên địa bàn) với tổng công suất thiết kế đạt trên 220.000 m3/ngày
đêm, đảm bảo cung cấp đủ nguồn nước sạch, an toàn phục vụ đời sống và sản
xuất của nhân dân trên toàn thành phố Huế. Tỷ lệ sử dụng nước hợp vệ sinh của
người dân nông thôn đạt 100%.
Đến 6/2026, tỷ lệ chất thải rắn được thu gom, xử lý đạt 97%, bằng kế
hoạch đề ra. Tỷ lệ hộ nông thôn sử dụng nước sạch đạt 93,5% (KH cả năm 2026
đạt 94%). Chất thải công nghiệp nguy hại được thu gom đạt 100%, tỷ lệ xử lý
đạt trên 98%, tuy nhiên toàn vùng chưa có khu xử lý CTR công nghiệp tập
trung; việc xử lý chủ yếu thông qua lò đốt và bãi chôn lấp hiện có. HEPCO đã
xây dựng lò đốt để bắt đầu xử lý chất thải nguy hại tại Thủy Phương. Lò đốt này
có thể được sử dụng để xử lý chất thải công nghiệp nguy hại. Đến năm 2025,
100% chất thải y tế phát sinh được phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và
giao cho đơn vị có chức năng để xử lý.
Về nước thải. Tổng lượng nước thải sinh hoạt phát sinh ước tính khoảng
121.674 m³/ngày, trong đó lượng xả thẳng ra sông khoảng 85.000 m³/ngày
(chiếm 69,1%). Tỷ lệ nước thải sinh hoạt được xử lý tại các đô thị chỉ đạt
khoảng 20-30%, chủ yếu qua bể tự hoại. Thành phố Huế (khu vực nội thành cũ)
đã có nhà máy xử lý nước thải (công suất 30.000 m³/ngđ) và Khu kinh tế Chân
Mây - Lăng Cô có trạm xử lý (4.900 m³/ngđ), tuy nhiên các khu vực đô thị mới
sáp nhập và vùng nông thôn phần lớn chưa có hệ thống xử lý tập trung,.
Nước thải công nghiệp: Các Khu công nghiệp (KCN) lớn như Phú Bài,
Tứ Hạ, Phong Điền, La Sơn đã và đang đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập
trung. Tuy nhiên, nhiều Cụm công nghiệp (CCN) và làng nghề chưa có hệ thống
xử lý đồng bộ. Nguy cơ ô nhiễm cao từ các ngành dệt nhuộm, chế biến thủy sản,
và sản xuất giấy nếu không kiểm soát chặt chẽ. Nước thải y tế: Khối lượng phát
sinh lớn (khoảng 237.156 m³/năm) có tỷ lệ xử lý đạt khoảng 96%.
2.4.5 Hệ thống thoát nước
Trên địa bàn toàn thành phố, hệ thống thoát nước mới chỉ được đầu tư tại
các khu vực đô thị, đặc biệt là trung tâm thành phố. Hiện trạng hệ thống thoát
nước tại các khu vực như sau:
Khu vực phường Phú Xuân, phường An Cựu, phường Thuận Hóa,
phường Vỹ Dạ: Tổng chiều dài đường ống thoát nước chính là 123,8km (khu
vực phía Bắc Sông Hương 65,5km, khu vực phía Nam Sông Hương 60,33km).
Là hệ thống thoát nước chung giữa nước thải và nước mưa. Nước mưa được thu
gom sau đó thoát ra hệ thống kênh mương và các sông: Kim Long, Bạch Yến,
Ngự Hà, An Cựu, sông Hương.
Khu vực các phường Hóa Châu, phường Hương Trà, phường Kim Trà,
phường Hương An và xã Bình Điền: Hệ thống thoát nước ở khu vực nội thị mới
được đầu tư bước đầu kết hợp với thoát nước tự nhiên, thoát cục bộ đáp ứng
được yêu cầu trước mắt. Mật độ đường ống thoát nước chính mới đạt 3,8
km/km2. Hệ thống thoát nước chung được xây dựng chủ yếu ở khu vực Phường
Tứ Hạ trên các tuyến và trục đường chính với hệ thống mương cống, có đường
kính từ 400, 600 ÷ 1000 mm.
Khu vực các phường Phong Điền, phường Phong Thái, phường Phong
Dinh, phường Phong Phú: Hiện nay, hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt vẫn sử
dụng chung với hệ thống thoát nước mưa. Tổng chiều dài đường cống thoát
nước chính khu vực nội thị là 20.452 km. Tổng chiều dài đường cống thoát nước
chính khu vực ngoại thị là 10,5km, tổng chiều dài mương không đan 72,105km.
Khu vực các phường Phong Quảng và xã Quảng Điền, xã Đan Điền: xã
Quảng Điền đã xây dựng hệ thống thoát nước đường kính D800-1200 dọc các
trục đường chính. Các khu dân cư hiện trạng hầu như chưa được đầu tư xây
dựng, nước chủ yêu tự thấm hoặc, chảy theo địa hình tự nhiên xuống sông Sịa.
Khu vực các xã A Lưới 1, xã A Lưới 2, xã A Lưới 3, xã A Lưới 4, xã A
Lưới 5: Thoát nước mặt của khu vực chủ yếu dựa vào hệ thống các công trình
thủy lợi, đã được đầu tư xây dựng và đang phát huy tác dụng tích cực. Hệ thống
kênh mương có tổng chiều dài kênh tưới trên toàn huyện là 105,0 km, đã kiên cố
được 83,0 km, đạt 79,0%.
Khu vực các xã Phú Lộc, xã Hưng Lộc, xã Vinh Lộc, xã Lộc An, xã Chân
Mây - Lăng Cô: Trên địa bàn khu vực trung tâm: Hệ thống thoát nước mặt chủ
yếu được xây dựng trên các trục đường chính. Các khu vực khác và vùng nông
thôn: Hầu như chưa được đầu tư xây dựng, thoát nước tự chảy theo địa hình tự
nhiên xuống sông suối.
Khu vực các phường Dương Nỗ, phường Thuận An, phường Mỹ Thượng
và các xã Phú Hồ, xã Phú Vinh, xã Phú Vang: Hệ thống thoát nước mặt chủ yếu
được xây dựng trên các trục đường chính. Các khu vực khác và vùng nông thôn:
hầu như chưa được đầu tư xây dựng, vấn đề thoát nước tự chảy theo địa hình tự
nhiên xuống sông suối.
Nhận định chung: Hệ thống thoát nước của thành phố đã từng bước
được cải thiện nhưng hiện vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu trong bối cảnh mưa
lũ ngày càng cực đoan. Nhiều khu vực đô thị vẫn bị ngập cục bộ khi mưa lớn.
2.4.6 Hệ thống y tế
Thành phố Huế được xem là trung tâm y tế của khu vực Bắc Trung Bộ và
Tây Nguyên, với hệ thống Đại học Huế, Đại học Y Dược Huế và Bệnh viện
Trung ương Huế; Thành phố có 82 cơ sở y tế, trong đó 23 bệnh viện, 2 Bệnh
viện điều dưỡng và phục hồi chức năng, 01 Bệnh viện da liễu, 40 Trạm y tế xã,
phường, 16 cơ sở y tế khác với 8556 giường bệnh. Các cơ sở này đóng vai trò
quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và cung cấp dịch vụ y
23
tế chuyên sâu, phục vụ cho nhu cầu phát triển của nền kinh tế tri thức và công
tác phòng chống thiên tai.
Theo số liệu thống kê từ các phường xã, tỷ lệ các cơ sở y tế cấp xã nằm
trong vùng rủi ro thiên tai cao là khoảng 19,4% và khoảng 55,8% cơ sở chưa
có điện dự phòng. Một số địa bàn có toàn bộ cơ sở y tế nằm trong vùng rủi ro
cao gồm Dương Nỗ, Hóa Châu, Kim Long, A Lưới 4 và Phong Dinh; đặc biệt
tại A Lưới 4, cả 4 cơ sở y tế vừa nằm trong vùng rủi ro cao vừa chưa có điện dự
phòng. Nhiều địa bàn khác cũng có 100% cơ sở y tế chưa được trang bị điện dự
phòng, như A Lưới 1, A Lưới 2, Chân Mây-Lăng Cô, Long Quảng, Nam Đông,
Phú Vang, Thuận An và Thuận Hóa. Mặc dù không có cơ sở y tế cấp xã nào
trong tình trạng xuống cấp, tỷ lệ thiếu điện dự phòng cao và sự hiện diện của
nhiều cơ sở trong vùng rủi ro cho thấy khả năng duy trì liên tục dịch vụ khám
chữa bệnh, bảo quản thuốc, vận hành thiết bị và chăm sóc người bệnh khi xảy ra
thiên tai còn là vấn đề đáng quan tâm.
2.4.7 Hệ thống giáo dục
Toàn thành phố có 16 trường đại học và cao đẳng với tổng số 54.898 sinh
viên đại học và cao đẳng; Tính đến năm 2026, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên,
nhân viên các cơ sở giáo dục và đào tạo toàn thành phố có 18.545 người, trong
đó: 15.788 cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên các trường mầm non, phổ thông
thuộc Ủy ban nhân dân 40 xã, phường và 2.757 người các đơn vị trực thuộc Sở
Giáo dục và Đào tạo.
Có 566 trường, phân hiệu, điểm trường mầm non và phổ thông (Mầm
non: 206 trường; Tiểu học: 191 trường; THCS: 129 trường; THPT: 40 trường);
04 Trung tâm GDNN - GDTX khu vực 1, 2, 3, 4; 01 Trung tâm GDTX thành
phố. Trong đó, có 26 trường ngoài công lập (21 trường mầm non; 01 trường tiểu
học; 01 trường TH&THCS; 01 trường THPT; 02 trường TH, THCS&THPT).
Tổng số lớp học: 9.211 lớp.
Tổng số học sinh: 287.826.
- Mầm non: 59.175 trẻ (49.919 công lập, 9.256 ngoài công lập);
- Tiểu học: 107.263 học sinh (106.794 công lập, 469 ngoài công lập);
- THCS: 81.350 học sinh (81.076 công lập, 274 ngoài công lập);
- THPT: 36.791 học sinh (36.750 công lập, 41 ngoài công lập);
- GDTX cấp THPT: 3.247 học sinh.
Theo số liệu thống kê từ các phường xã, tỷ lệ số trường học nằm trong
vùng rủi ro cao là khoảng 25,2% và 189 phòng học, tương đương 2,3%, được
ghi nhận xuống cấp. Tỷ lệ trường nằm trong vùng rủi ro cao khá lớn ở tất cả các
cấp học, cao nhất là THPT với 28,6%, tiếp đến là tiểu học 26,6%, mầm non
26,2%, THCS 22,7% và trường liên cấp 16,7%. Số phòng học xuống cấp tập
trung chủ yếu ở bậc mầm non và tiểu học, lần lượt là 76 và 71 phòng, chiếm gần
78% tổng số phòng học xuống cấp. Đây là nhóm cơ sở cần được ưu tiên kiểm tra
an toàn công trình và xây dựng phương án đóng trường, sơ tán, bảo đảm chăm
sóc trẻ em khi xảy ra thiên tai.
2.4.8 Hệ thống công trình phòng chống thiên tai, thủy lợi
Hiện nay toàn thành phố đã xây dựng được 914 công trình thủy lợi lớn
nhỏ, trong đó có 106 hồ chứa, 275 đập dâng 520 trạm bơm tưới tiêu, 13 cống
các loại. Tổng chiều dài kênh mương là 1.816km, cứng hoá được 1.357 km, chủ
yếu là kênh liên xã. Hiện Công ty TNHH MTV KTCTTL Thành phố Huế quản
lý 255 công trình thuỷ lợi; 38 hồ chứa (08 hồ chứa lớn, 07 hồ chứa vừa và 23 hồ
chứa nhỏ), 133 đập chắn nước; 77 trạm bơm điện; 10 cống trên đê; trên 604 km
kênh trục chính và kênh cấp I, cấp II; 659 công trình còn lại phân cấp cho
UBND xã quản lý vận hành và khai thác.
Hồ chứa
Toàn thành phố hiện có 106 hồ chứa nước thủy lợi, thiết kế tưới 6.456ha,
thực tưới là 4.393ha. Ngoài ra, hiện có 3 công trình hồ chứa thượng nguồn có
nhiệm vụ khai thác tổng hợp là hồ Tả Trạch, hồ Bình Điền và hồ Hương Điền.
Hồ Tả Trạch có nhiệm vụ tạo nguồn nước tưới cho 34.782 ha canh tác
vùng đồng bằng hạ du sông Hương, chống lũ Wpl=435x10
6
m3; cấp nước cho
sinh hoạt và công nghiệp Q=2,0m3/s; phát điện với công suất lắp máy
Nlm=21MW.
Hồ Bình Điền trên nhánh Hữu Trạch đảm bảo lưu lượng mùa kiệt là 21,99
m3/s; có nhiệm vụ chống lũ tiểu mãn, lũ sớm, giảm lũ chính vụ cho hệ thống
sông Hương; xả bổ sung cho mùa kiệt lưu lượng 21,99m3/s; phát điện với công
suất lắp máy Nlm=44MW.
Hồ Hương Điền trên nhánh sông Bồ với nhiệm vụ phát điện với
Nlm=54MW; Xả bổ sung nước cho hạ du (lưu lượng xả trong mùa kiệt là
33,1m3/s) và kết hợp cắt giảm lũ cho hạ du.
Hệ thống đê
Trên địa bàn Thành phố Huế hiện có 19 tuyến đê với tổng chiều dài
khoảng 184,174 km, hầu hết là đê cấp IV, cấp V, với nhiệm vụ chính là ngăn
mặn, chống lũ tiểu mãn hoặc lũ sớm để bảo vệ sản xuất nông nghiệp (lúa Đông
Xuân và Hè Thu), đồng thời phải đảm bảo tiêu thoát nhanh lũ chính vụ.
Đê đầm phá và đê cửa sông: Hệ thống đê bao quanh phá Tam Giang - Cầu
Hai có vai trò quan trọng bảo vệ vùng sản xuất và dân cư ven đầm phá (nay
thuộc các phường/xã mới như Phong Chương, Điền Hòa, Quảng Thái, Phú
Xuân...). Các tuyến chính gồm: Đê Ô Lâu (Đông và Tây), Đê phá Tam Giang
(Đông và Tây), Đê phá Đông, Đê phá Cầu Hai. Hiện trạng: Nhiều đoạn đê có
cao trình thấp (0,7÷1,5m), mặt cắt chưa đảm bảo, thường xuyên bị tràn đê gây
ngập trong lũ chính vụ.
Đê biển: Theo chương trình củng cố nâng cấp đê biển từ Quảng Ninh đến
Quảng Nam, địa bàn có 181km được phê duyệt nhưng mới đầu tư nâng cấp được
85,13km (khoảng 47%), còn lại 95,44km đê và 133 cống chưa được đầu tư, nâng cấp.
25
Đập dâng: toàn thành phố có 275 đập dâng có quy mô nhỏ được xây
dựng tại vùng trung du gò đồi do công ty và các địa phương quản lý; như A
Lưới, Phú Lộc, Phong Điền, Hương Trà. Thiết kế tưới cho 4.650ha, thực tế tưới
được 3.042ha.
Trạm bơm: Hiện có 385 trạm bơm tưới, tiêu, tưới tiêu kết hợp, tưới cho
đồng bằng Nam - Bắc sông Hương thông qua các kênh trục: sông Lợi Nông,
sông Như Ý, hói 5 xã, hói 7 xã. Tổng diện tích tưới thiết kế là 21.362ha, thực
tưới 15.563ha.
Kênh mương: Toàn thành phố có 1.874 km kênh mương, hiện đã cứng
hóa được 1.376 km, đạt 73,5% gồm kênh chính, cấp I, II. Tỷ lệ cứng hóa kênh
nội đồng còn thấp góp phần làm tăng tổn thất nước.
Công trình tiêu úng: Vùng diện tích cần tiêu là 494.711 ha, trong đó
vùng đồi núi chiếm khoảng 70% tổng diện tích tự nhiên được tiêu thoát tự chảy
bằng hệ thống kênh rạch tự nhiên. Ở vùng đồng bằng, việc tiêu thoát chủ yếu là
tiêu tự chảy kết hợp với động lực (tiêu bằng bơm cho khoảng 15.506 ha) tại
những trũng thấp có cao độ +0,0 ÷ +0,5m. Hiện đã xây dựng được 134 công
trình tiêu động lực thiết kế tiêu cho 13.065,5 ha.
Khu vực đô thị mới phía đông nam thành phố Huế hiện trạng đang trong
quá trình xây dựng phát triển mở rộng đã xảy ra hiện tượng ngập úng sâu, kéo
dài cần nghiên cứu cải tạo lại hệ thống tiêu thoát nước. Hiện khoảng 50% trạm
bơm chưa được nâng cấp, sửa chữa không đảm bảo tiêu thoát. Vì vậy, toàn
thành phố vẫn còn 5.224 ha diện tích có nguy cơ bị ngập khi có mưa lớn kéo dài.
Công trình ngăn mặn: Thành phố đã xây dựng một số công trình ngăn
mặn như đập Thảo Long nhằm ngăn mặn giữ ngọt trên dòng chính sông Hương;
đập Cửa Lác ngăn mặn, tiêu thoát cho vùng Hải Lăng, Phong Điền và một số
cống, đập ngăn mặn, tiêu úng nhỏ như đập Đá, cống Diên Trường An Xuân, Hà
Đồ, Quán Cửa, Cầu Long, Cống Quan, Phú Cam, La Ỷ, Đập Truồi 1, 2, 3. Nhìn
chung, các công trình ngăn mặn trên địa bàn thành phố Huế phát huy tốt hiệu
quả. Mặn trên lưu vực sông Hương hầu như được khống chế.
Một số tồn tại, hạn chế
Về cấp nước, xâm nhập mặn: Hàng năm vẫn còn khoảng 2.800-3.200 ha
đất canh tác chưa được cấp nước ổn định gồm vùng cát Phong, Quảng Điền,
vùng ngoài phá ven biển Phong, Quảng Điền, Phú Vang, Phú Lộc, vùng núi
Nam Đông, A Lưới;
Về tiêu thoát: Hệ thống công trình tiêu mới đảm bảo tiêu thoát với tần
suất mưa 10%. Theo thống kê diện tích úng ngập hàng năm khoảng 5.224 ha tập
trung tại các xã Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang, Phú Lộc, Hương Thuỷ;
Các công trình thuỷ lợi lớn đã được cải tạo nâng cấp nhưng chưa đồng bộ
từ đầu mối đến kênh mương; nhiều công trình thuỷ lợi nhỏ (hồ chứa, đập dâng
và trạm bơm) được đầu tư từ những năm 80, 90 đến nay nhiều công trình xuống
cấp không đảm bảo an toàn hồ chứa, nhất là trong điều kiện ảnh hưởng biến đổi
khí hậu, cạn kiệt nguồn nước, xâm nhập mặn;
Việc ứng dụng công nghệ cao để nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác
công trình thuỷ lợi; ứng dụng công nghệ tiên tiến để tiết kiệm và tái sử dụng
nước, ứng dụng công nghệ tiên tiến nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo diễn
biến nguồn nước, hạn hán, ngập lụt... còn hạn chế; chưa có phần mềm hỗ trợ,
quản lý điều hành, điều tiết nước trên địa bàn phục vụ công tác tưới tiêu;
2.4.9 Hệ thống cảnh báo thiên tai
Thành phố Huế đã từng bước hình thành hệ thống hạ tầng cảnh báo sớm
phục vụ theo dõi bão, mưa lớn, lũ và ngập lụt, gồm mạng quan trắc tự động,
camera giám sát, nền tảng dữ liệu số và các thiết bị phát cảnh báo tại cộng đồng.
Hiện nay, mạng quan trắc do thành phố và các đơn vị liên quan đầu tư
gồm 54 trạm đo mưa tự động Vrain, 2 trạm đo gió bão tại Cảng cá Thuận An và
Cảng cá Tư Hiền, 10 trạm giám sát ngập lụt và 5 trạm quan trắc mực nước trên
sông Hương, sông Bồ và sông Ô Lâu. Dữ liệu được truyền trực tuyến và tích
hợp trên các nền tảng Vrain, VWind, VFass, Hue-S và Trung tâm Điều hành đô
thị thông minh, tạo điều kiện theo dõi lượng mưa, gió, mực nước và tình trạng
ngập gần thời gian thực.
Ngoài mạng trạm, hệ thống có hơn 100 camera giám sát tại các khu vực
trọng điểm như Đập Đá, cầu Lòn, hai bờ sông Hương, các điểm ngập sâu và sạt
lở. Camera tại một số hồ thủy điện cũng được kết nối để theo dõi tình trạng công
trình và hỗ trợ giám sát vận hành trong mùa mưa lũ. Các lớp dữ liệu về hồ chứa,
vùng ngập, khu vực có nguy cơ sạt lở, phương án sơ tán và điểm dừng đỗ
phương tiện khi ngập đã được tích hợp trên GIS-Hue, hỗ trợ hiển thị và chia sẻ
thông tin phục vụ chỉ huy.
Hạ tầng truyền tin cảnh báo đến cộng đồng gồm hệ thống truyền thanh cơ
sở, truyền thanh thông minh kết nối với IOC và Hue-S, các kênh viễn thông và
còi hú cảnh báo. Giai đoạn 2024-2025, thành phố đã thí điểm 4 còi cảnh báo
công suất lớn, với bán kính khoảng 5 km. Thành phố dự kiến tiếp tục lắp đặt còi
cảnh báo tại 40 xã, phường trong thời gian tới.
Để bảo đảm thông tin khi mất điện hoặc gián đoạn mạng viễn thông, hệ
thống phòng thủ dân sự còn được trang bị phương tiện thông tin dự phòng như
hệ thống truyền hình hội nghị, thiết bị thông tin vệ tinh, xe thông tin chuyên
dụng và bộ đàm. Tuy nhiên, số lượng và sự phân bố thiết bị giữa các đơn vị, địa
bàn chưa được tổng hợp thành một hệ thống kiểm kê thống nhất.
Nhìn chung, hạ tầng cảnh báo sớm của Huế tương đối phát triển đối với
mưa, lũ, ngập lụt và giám sát hồ chứa, với ưu thế là quan trắc tự động, truyền
trực tuyến và tích hợp trên các nền tảng số. Tuy nhiên, độ phủ chưa đồng đều
giữa các địa bàn và loại hình thiên tai. Hạ tầng giám sát lũ quét, sạt lở đất, dông
sét, nắng nóng và khu vực ven biển còn hạn chế.
27
Trong giai đoạn tới, thành phố cần ưu tiên là hoàn thiện mạng quan trắc,
đặc biệt tại miền núi và ven biển; bổ sung thiết bị cảnh báo lũ quét, sạt lở và
nắng nóng; mở rộng địa bàn lắp đặt còi hú và truyền thanh tại các khu vực rủi ro
cao; đồng thời bảo đảm nguồn điện, đường truyền dự phòng và khả năng kết nối
thống nhất giữa trạm quan trắc, cơ sở dữ liệu, trung tâm chỉ huy và thiết bị cảnh
báo tại cộng đồng.
2.4.10 Công trình sơ tán
Theo số liệu tổng hợp từ cấp xã đến tháng 07, 2026, trên địa bàn các xã có
480 điểm sơ tán, di dời với tổng sức chứa khoảng 85.752 người. Trong đó, 274
điểm, chiếm 57,1%, được xác định sử dụng theo cấp siêu bão, với sức chứa
61.371 người, tương đương 71,6% tổng năng lực sơ tán. Tuy nhiên, năng lực
phân bố không đồng đều; một số địa bàn có nhiều điểm nhưng sức chứa nhỏ,
trong khi một số nơi phụ thuộc vào ít công trình có sức chứa rất lớn.
Theo số liệu hiện có, Hương Thủy, Mỹ Thượng, Phong Điền, Thủy Xuân,
A Lưới 1, A Lưới 2, Nam Đông, Phú Hồ và Phú Vinh chưa có điểm nào được
xác định theo cấp siêu bão. Một số địa bàn khác có tỷ lệ rất thấp, như Phong
Thái chỉ 1/23 điểm, A Lưới 5 là 1/17 điểm, Phong Phú 1/7 điểm, Quảng Điền
1/5 điểm và Hương An 2/10 điểm. Đây là những địa bàn cần rà soát xem năng
lực hiện tại có đáp ứng các kịch bản bão mạnh và gió cực đoan hay không, đồng
thời xác định phương án sơ tán liên địa bàn nếu cần thiết.
Điều kiện thiết yếu tại các điểm sơ tán còn hạn chế: 79,4% có nước sinh
hoạt, 70,8% có nhà vệ sinh riêng cho nam và nữ, nhưng chỉ 40,8% có bếp nấu và
49,8% tiếp cận được bằng xe lăn. Theo dữ liệu hiện có, chỉ có năm địa bàn mà
toàn bộ điểm sơ tán đồng thời có nhà vệ sinh riêng, nước sinh hoạt, bếp nấu và
tiếp cận bằng xe lăn, gồm Dương Nỗ, Hóa Châu, Thanh Thủy, Chân Mây - Lăng
Cô và Phong Quảng. Trong đó, Hóa Châu nổi bật với 26 điểm, sức chứa 4.520
người, toàn bộ được xác định theo cấp siêu bão và có đủ bốn điều kiện trên.
Một số địa bàn chưa có hoặc có rất ít điểm đáp ứng cấp siêu bão, trong
khi nhiều điểm chưa bảo đảm khả năng tiếp cận cho người khuyết tật và điều
kiện lưu trú kéo dài. Vì vậy, cần tiếp tục rà soát mức độ an toàn của từng điểm,
đối chiếu sức chứa với số người phải sơ tán theo từng kịch bản thiên tai và ưu
tiên nâng cấp các điều kiện nước, vệ sinh, bếp nấu, tiếp cận và phương án dự
phòng.
2.4.11 Tác động của thiên tai đến hệ thống hạ tầng
Tác động của thiên tai đến hệ thống hạ tầng giao thông, xây dựng,
điện, thông tin liên lạc và cấp nước
Đối với lĩnh vực giao thông vận tải, thiên tai gây ảnh hưởng đến tất cả các
loại hình giao thông gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng
không; làm hư hỏng kết cấu hạ tầng, gián đoạn lưu thông, chậm tiến độ thi công
các công trình và ảnh hưởng đến hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương. Các hiện tượng mưa lớn, lũ lụt, sạt lở đất, bão và áp thấp nhiệt đới
thường xuyên gây chia cắt giao thông tại nhiều khu vực.
Đối với hệ thống hạ tầng thiết yếu như giao thông, điện, thông tin, cấp
nước, thiên tai gây hư hỏng và phá hủy nhiều công trình trọng điểm. Trong giai
đoạn 2020-2025, giao thông là nhóm hạ tầng chịu thiệt hại lớn và có tác động
dây chuyền đến cứu hộ, cứu nạn và khôi phục kinh tế. Năm 2022, thiệt hại giao
thông ước khoảng 173,3 tỷ đồng; nhiều tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, đường sắt và
đường Hồ Chí Minh bị ngập, sạt lở hoặc chia cắt. Năm 2025, kinh phí dự kiến
khắc phục các tuyến giao thông khoảng 134 tỷ đồng, tập trung ở Quốc lộ 49,
Quốc lộ 49B, các đường tỉnh miền núi, các tuyến dọc sông, đầm phá và khu vực
Chân Mây-Lăng Cô. Những địa bàn miền núi A Lưới, Nam Đông, Bình Điền,
Khe Tre và các tuyến qua đèo có nguy cơ sạt lở, cô lập cao; khu vực ven phá và
ven biển thường bị xói lề đường, hư hỏng taluy và bồi lấp mặt đường.
Điện lực và thông tin liên lạc thường bị gián đoạn do ngập, gãy đổ cột,
cây đổ và mất nguồn điện cho trạm BTS. Năm 2022, bão số 4 làm 147.000
khách hàng mất điện; năm 2023 có 196 trạm BTS mất liên lạc trong đợt lũ tháng
11. Năm 2025, tại cao điểm, số khách hàng phải sa thải điện chiếm tới 86,6%;
thiệt hại ngành điện ước khoảng 38,48 tỷ đồng.
Mưa lũ cũng gây 11 sự cố nguồn nước, nhiều sự cố mất điện tại nhà máy
nước và ảnh hưởng cấp nước cho 2.487 hộ dân. Đây là nhóm tổn thất có tính hệ
thống vì khi điện, viễn thông và cấp nước đồng thời bị gián đoạn, khả năng chỉ
huy, cảnh báo, y tế, vận hành công trình và phục hồi dân sinh đều bị suy giảm.
Tác động của thiên tai đến hạ tầng thủy lợi, đê điều
Trong giai đoạn 2020-2025, đây là nhóm hạ tầng bị hư hỏng lặp lại qua
nhiều năm và tạo ra chi phí tích lũy lớn. Năm 2021, thiệt hại thủy lợi khoảng
50,5 tỷ đồng, chiếm gần 59% tổng thiệt hại năm. Năm 2022, thiên tai làm sạt lở
hơn 21,7 km bờ sông, bờ biển, hư hỏng khoảng 38 km đê bao nội đồng và 20 km
kênh mương. Năm 2023 tiếp tục ghi nhận 24.020 m đê, bờ bao bị hư hỏng,
25.736 m kênh mương bị sạt trôi, cùng nhiều cống, đập và trạm bơm bị ảnh
hưởng.
Năm 2025, quy mô hư hỏng tăng mạnh: hơn 30 km kênh mương, 20 km
đê bao nội đồng, 50 trạm bơm, 35 đập dâng và nhiều hồ, đập thủy lợi bị xuống
cấp; hơn 15 km bờ sông và khoảng 7 km bờ biển bị sạt lở. Các điểm nóng tập
trung dọc sông Hương, sông Bồ, sông Ô Lâu, sông Bù Lu-Nước Ngọt, Tả Trạch,
Khe Tre và dải bờ biển Thuận An-Phú Thuận, Phú Hải, Vinh Lộc. Thiệt hại tại
các công trình này không chỉ làm phát sinh chi phí sửa chữa mà còn làm suy
giảm năng lực tiêu thoát lũ, tưới tiêu, ngăn mặn và bảo vệ khu dân cư trong các
mùa thiên tai tiếp theo.
Tác động của thiên tai đến hạ tầng giáo dục, y tế, văn hóa-di sản và
môi trường
Thiệt hại do thiên tai đối với các dịch vụ công và tài sản xã hội ngày càng
được ghi nhận rõ hơn. Năm 2024 có 14 trường học, 2 trạm y tế và 3 nhà văn hóa
bị ảnh hưởng. Năm 2025, 47 cơ sở y tế bị ngập, thiệt hại khoảng 7 tỷ đồng;
ngành giáo dục thiệt hại trên 18 tỷ đồng, trong đó 2.648 bộ sách giáo khoa cùng
29
nhiều thiết bị, bàn ghế và vật dụng bán trú bị hư hỏng. Học sinh tại vùng thấp
trũng phải nghỉ học trên 10 ngày, phản ánh tổn thất không chỉ ở tài sản mà còn ở
thời gian học tập và khả năng cung cấp dịch vụ thiết yếu.
Đối với văn hóa và di sản, mưa lũ năm 2025 làm sập một đoạn tường
Hoàng Thành dài khoảng 15 m, cho thấy rủi ro thiên tai có thể gây tổn thất đối
với tài sản văn hóa không dễ thay thế. Du lịch, thương mại và doanh nghiệp bị
gián đoạn do giao thông, ngập lụt và mất điện; nhiều doanh nghiệp tại khu công
nghiệp phải tạm dừng hoạt động để bảo đảm an toàn. Sau lũ năm 2025, hơn
15.000 tấn bùn, rác phát sinh cần thu gom và xử lý, làm tăng đáng kể chi phí vệ
sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh và phục hồi đô thị.
PHẦN II: ĐẶC ĐIỂM THIÊN TAI VÀ ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC
PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI
I. ĐẶC ĐIỂM, DIỄN BIẾN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI GIAI
ĐOẠN 2020-2025
1.1. Tình hình thiên tai (giai đoạn 2020 -2025)
6
Tại thành phố Huế, các loại thiên tai đặc trưng gồm bão và áp thấp nhiệt
đới; mưa lớn, lũ, ngập lụt; lũ quét, sạt lở đất; sạt lở bờ sông, bờ biển và nước
dâng do bão; nắng nóng; không khí lạnh, rét đậm, rét hại; dông, lốc, sét, mưa đá;
và động đất. Mưa lớn, lũ và ngập lụt là nhóm thiên tai xảy ra thường xuyên, có
phạm vi ảnh hưởng rộng và gây hậu quả nghiêm trọng nhất.
Phần này tổng hợp diễn biến thiên tai trên địa bàn thành phố Huế trong giai
đoạn 2020-2025. Việc đánh giá tập trung vào xu thế, cường độ, tần suất, quy
luật xuất hiện và các khu vực thường xuyên chịu tác động.
1.1.1 Diễn biến chung tình hình thiên tai giai đoạn 2020-2025
Giai đoạn 2020-2025 ghi nhận đầy đủ các loại thiên tai đặc trưng của Huế,
gồm bão và áp thấp nhiệt đới; mưa lớn, lũ, ngập lụt; lũ quét, sạt lở đất; sạt lở bờ
sông, bờ biển và nước dâng do bão; nắng nóng; không khí lạnh, rét đậm, rét hại;
dông, lốc, sét, mưa đá; và động đất cường độ nhỏ. Mưa lớn, lũ và ngập lụt tiếp
tục là nhóm thiên tai xảy ra thường xuyên, có phạm vi ảnh hưởng rộng và gây
hậu quả nghiêm trọng nhất.
Tần suất thiên tai biến động mạnh giữa các năm và không thể hiện xu thế
tăng đều. Tuy nhiên, mức độ cực đoan và tính tổ hợp của các hiện tượng trở nên
rõ nét hơn: bão hoặc hoàn lưu bão thường đồng thời tương tác với không khí
lạnh, dải hội tụ nhiệt đới và nhiễu động gió Đông, gây ra mưa rất lớn, lũ lên
nhanh, ngập sâu và sạt lở trên diện rộng. Hai năm nổi bật nhất là năm 2020 với
chuỗi “bão chồng bão, lũ chồng lũ” và năm 2025 với các đợt mưa, lũ đặc biệt
lớn cả trái mùa và chính vụ.
Về cường độ, nhiều giá trị quan trắc đã đạt hoặc vượt mức lịch sử. Năm
2020, đỉnh lũ sông Bồ tại Phú Ốc đạt 5,24 m, vượt đỉnh lũ năm 1999; năm 2024,
nhiệt độ tại Nam Đông đạt 42,2°C; năm 2025, lượng mưa 24 giờ tại Bạch Mã
đạt gần 1.739,6 mm, được ghi nhận là kỷ lục của Việt Nam, đứng thứ hai thế
giới
7
. Trong đợt lũ cuối tháng 10 và đầu tháng 11/2025, sông Hương tại Kim
Long đạt 5,05 m và sông Bồ tại Phú Ốc đạt 5,33 m.
Về quy luật mùa vụ, thiên tai vẫn tập trung chủ yếu trong mùa mưa bão từ
tháng 9 đến tháng 12, đặc biệt trong tháng 10-11. Tuy nhiên, quy luật này đã
6
Báo cáo tình hình thiên tai giai đoạn 2015-2025, Nguyễn Văn Hùng và nnk
7
Báo cáo số 562/BC-UBND ngày 09/11/2025 của UBND thành phố Huế
31
xuất hiện nhiều ngoại lệ đáng chú ý: các đợt mưa, lũ trái mùa vào cuối tháng 3,
đầu tháng 4 và cuối tháng 4, đầu tháng 5/2022; lũ tiểu mãn đặc biệt lớn do hoàn
lưu bão số 1 vào tháng 6/2025. Nói cách khác, diễn biến mưa, lũ lớn cực đoan
không còn giới hạn hoàn toàn trong mùa mưa truyền thống.
Phân bố tác động có tính không gian rõ rệt. Khu vực miền núi phía Tây,
gồm A Lưới, Nam Đông, Khe Tre và các tuyến giao thông qua địa hình dốc,
thường chịu tác động chính của mưa rất lớn, lũ quét và sạt lở đất. Vùng hạ lưu
sông Hương, sông Bồ, khu vực đô thị trung tâm và các vùng thấp trũng quanh
đầm phá Tam Giang-Cầu Hai thường xuyên bị ngập sâu, kéo dài. Dải ven biển
và cửa sông từ Phong Quảng, Thuận An đến Vinh Lộc, Chân Mây-Lăng Cô chịu
tác động tổng hợp của gió mạnh, sóng lớn, nước dâng và xói lở bờ biển.
Nhìn chung, xu thế nổi bật của giai đoạn này không phải là sự gia tăng
tuyến tính về số lượng mọi loại hình thiên tai, mà là sự gia tăng tính cực đoan,
bất thường, xuất hiện trái mùa và đồng thời của nhiều hiểm họa. Đặc điểm này
làm tăng nguy cơ thiên tai kép và thiên tai liên hoàn, đồng thời rút ngắn thời
gian chuẩn bị và phục hồi giữa các đợt thiên tai.
1.1.2 Diễn biến theo loại hình thiên tai
Bão và áp thấp nhiệt đới
Bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Huế chủ yếu trong giai đoạn
tháng 9-11. Số cơn bão đổ bộ trực tiếp không lớn và biến động theo từng năm,
nhưng phạm vi ảnh hưởng thực tế rộng hơn do hoàn lưu bão có thể gây gió
mạnh, sóng lớn và mưa rất lớn ngay cả khi tâm bão không đi qua địa bàn.
Năm 2020, Huế liên tiếp chịu ảnh hưởng trực tiếp của các bão số 5, 9, 13
và hoàn lưu các bão số 6, 7, 8, 12. Năm 2024, bão số 6 (Trà Mi) gây gió mạnh
cấp 8-9 trên đất liền, khu vực ven biển giật cấp 10-11. Năm 2025, địa bàn tiếp
tục chịu tác động của hoàn lưu nhiều cơn bão, đáng chú ý gồm các bão số 1, 5,
6, 10, 12 và 13.
Đặc trưng cần lưu ý là thiệt hại tại Huế trong 5 năm vừa qua thường
không chỉ do gió bão mà chủ yếu do mưa lớn sau bão hoặc do tổ hợp hoàn lưu
bão với không khí lạnh, dải hội tụ nhiệt đới và gió Đông. Vùng ven biển, cửa
sông và đầm phá chịu rủi ro cao đối với gió mạnh, sóng lớn và nước dâng; vùng
núi phía Tây và hạ lưu các sông chịu tác động gián tiếp nhưng nghiêm trọng
thông qua mưa, lũ, lũ quét, sạt lở và ngập lụt.
Mưa lớn, lũ và ngập lụt
Mưa lớn, lũ và ngập lụt là loại hình thiên tai chủ đạo trên địa bàn. Địa
hình hẹp ngang, dốc từ Tây sang Đông, lưu vực sông ngắn, độ dốc lớn, lượng
mưa rất cao ở vùng núi, cùng với vùng hạ lưu thấp trũng và hệ đầm phá rộng
làm cho lũ thường lên nhanh, phạm vi ngập rộng và thời gian ngập lũ kéo dài.
Năm 2020 xảy ra đợt mưa lũ lịch sử trong giai đoạn 06-17/10. Đỉnh lũ
sông Bồ tại Phú Ốc đạt 5,24 m; sông Hương tại Kim Long đạt 4,17 m, vượt báo
động III 0,67 m. Các năm 2021-2024 tiếp tục xuất hiện nhiều đợt mưa lớn diện
rộng; tổng lượng mưa năm tại các trạm chính đều ở mức cao nhưng dao động
đáng kể giữa các năm, không thể hiện xu thế tăng đều trong chuỗi.
Năm 2025 có diễn biến đặc biệt cực đoan. Tháng 6 xuất hiện đợt mưa lũ
tiểu mãn lịch sử với lượng mưa phổ biến 600-800 mm, nhiều nơi trên 1.000 mm.
Tất cả các trạm khí tượng đều ghi nhận lượng mưa ngày lớn nhất trong tháng 6
kể từ năm 1976. Từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 11 tiếp tục xảy ra mưa đặc biệt
lớn kéo dài. Trong 24 giờ từ 19 giờ ngày 26/10 đến 19 giờ ngày 27/10, Bạch Mã
ghi nhận 1.739,6 mm, là kỷ lục lượng mưa 24 giờ của Việt Nam. Trong các đợt
lũ liên tiếp, sông Hương tại Kim Long đạt đỉnh 5,05 m ngày 27/10; sông Bồ tại
Phú Ốc đạt đỉnh 5,33 m ngày 03/11. Ngập lụt ảnh hưởng 32/40 xã, phường và
phát sinh 38 điểm sạt lở đất. Tính đến hết tháng 11/2025, tổng lượng mưa tại
trạm Huế đạt 4.909 mm (144,2% TBNN), Nam Đông đạt 6.185 mm (158%
TBNN) và A Lưới đạt 6.926,3 mm (173,6% TBNN), đều ở mức rất cao so với
trung bình nhiều năm.
Diễn biến giai đoạn 2020-2025 cho thấy mưa lớn có xu thế tập trung hơn
theo từng đợt, cường suất cao và có thể kéo dài qua nhiều hình thế thời tiết liên
tiếp. Mưa, lũ trái mùa xuất hiện rõ vào năm 2022 và 2025, làm gia tăng rủi ro
đối với sản xuất nông nghiệp, công trình đang thi công và cộng đồng.
Hình 3. Tổng lượng mưa tại một số trạm, giai đoạn 2020-2025
8
Bảng 4. Tổng lượng mưa tại một số trạm, giai đoạn 2020-2025
Năm
Huế (mm)
Nam Đông (mm)
A Lưới (mm)
2020
4.792,8
6.436,6
7.051,0
8
Tổng hợp từ số liệu trong các báo cáo tổng kết khí tượng thủy văn và phòng chống thiên tai hàng năm của
thành phố Huế
33
Năm
Huế (mm)
Nam Đông (mm)
A Lưới (mm)
2021
3.816,0
4.771,0
4.347,3
2022
3.913,9
5.546,5
5.516,9
2023
4.951,0
5.112,5
4.433,4
2024
3.686,9
5.127,0
4.536,2
2025
5.188,5
5.127,0
7.328,7
Theo số liệu thống kê lũ tại các trạm chính, trong giai đoạn 2020-2025,
sông Hương và sông Bồ đều ghi nhận 30 trận lũ, trung bình 5 trận/năm. Trên
sông Hương, 5/30 trận đạt từ báo động III trở lên (16,7%); trên sông Bồ, tỷ lệ
này là 9/30 trận (30%). Kết quả cho thấy sông Bồ có tần suất lũ cực đoan lớn
hơn trong giai đoạn thống kê. Những năm có hiện tượng Lanina số đợt lũ và
đỉnh lũ lớn hơn rất rõ rệt. Nguyên nhân hình thành lũ chủ yếu là mưa lớn do
không khí lạnh, bão hoặc áp thấp nhiệt đới, dải hội tụ nhiệt đới, nhiễu động gió
Đông và sự kết hợp giữa các hình thế này.
Số trận lũ hàng năm trên các sông thành phố Huế có xu thế tăng so với
thời kỳ 1981-2019 về tổng số trận (tăng 12% ở sông Hương, 1,6% ở sông Bồ).
Tuy nhiên, nhờ việc xây dựng và vận hành hồ chứa hợp lý nên số trận lũ đặc biệt
lớn các sông giảm (giảm 72% ở sông Hương, 44% ở sông Bồ). Đỉnh lũ lớn nhất
giảm 13% ở sông Hương, tăng 2,5% ở sông Bồ.
Hình 4. Bản đồ ngập lũ vùng hạ lưu trong trận lũ tháng 11/2023
9
9
Đề tài Nghiên cứu đánh giá diễn biến lũ và tính toán xác định hành lang thoát lũ hạ lưu trên hệ thống các sông
chính thuộc địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Lũ quét và sạt lở đất
Lũ quét và sạt lở đất tập trung tại khu vực miền núi phía Tây, trước đây
thuộc các huyện A Lưới và Nam Đông, khu vực Khe Tre, các sườn dốc tự nhiên
và dọc các tuyến giao thông qua đèo, đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 49 và các
đường tỉnh, đường liên xã miền núi. Nguy cơ tăng nhanh khi mưa lớn kéo dài
làm đất bão hòa, đặc biệt sau các chuỗi mưa liên tiếp hoặc khi khu vực đã chịu
ảnh hưởng của một đợt mưa trước đó. Hoạt động đào, cắt mái dốc, xây dựng
đường giao thông và công trình trên sườn dốc cũng có thể làm tăng mức độ mất
ổn định tại một số vị trí.
Trong giai đoạn 2020-2025, nhiều điểm sạt lở đã làm ách tắc giao thông,
hư hỏng công trình và đe dọa khu dân cư. Riêng đợt mưa lũ cuối tháng 10 - đầu
tháng 11/2025 ghi nhận 38 điểm sạt lở trên địa bàn thành phố.
Các tuyến và khu vực cần đặc biệt lưu ý gồm Quốc lộ 49, đường Hồ Chí
Minh, tuyến La Sơn - Túy Loan, các đường tỉnh và đường liên xã miền núi; khu
vực A Lưới, Nam Đông, Khe Tre, Bình Điền, Chân Mây - Lăng Cô và các khu
dân cư ven sườn dốc, ven sông suối miền núi.
Sạt lở bờ sông, bờ biển
Sạt lở bờ sông và bờ biển là quá trình diễn biến thường xuyên, chịu tác
động tổng hợp của dòng chảy lũ, sóng và dòng chảy ven bờ, bão và áp thấp nhiệt
đới, biến động nguồn bùn cát, các công trình chỉnh trị và bảo vệ bờ và nước biển
dâng. Trong các trận lũ rất lớn, chênh lệch mực nước giữa sông, đầm phá và
biển có thể phá vỡ cồn cát, mở rộng cửa sông hoặc hình thành cửa biển mới, như
cửa Hòa Duân trong trận lũ năm 1999.
Đối với bờ sông, trong khoảng 1.056 km bờ các sông chính, hơn 64 km
đang bị sạt lở, trong đó hơn 44 km sạt lở nặng, tập trung trên sông Hương, sông
Bồ, sông Ô Lâu và một số sông, suối khác. Sạt lở ảnh hưởng trực tiếp đến hơn
1.000 hộ dân, làm mất trên 60 ha đất canh tác và đe dọa đường giao thông, trạm
bơm, đường điện, công trình di tích và hạ tầng ven sông.
Đối với bờ biển, khoảng gần 30 km trong tổng số khoảng 128 km đường bờ
biển có biểu hiện xói lở, trong đó trên 10 km xói lở nặng. Các khu vực thường
xuyên chịu tác động lớn gồm Quảng Công, Quảng Ngạn (Phong Quảng); Hải
Dương, Thuận An, Phú Thuận; Giang Hải và Vinh Hiền (Vinh Lộc).
Phân tích đường bờ giai đoạn 2017-2022 và số liệu diện tích giai đoạn
2018-2023 đều cho thấy bồi tụ và xói lở diễn ra đan xen nhưng xói lở vẫn là
vấn đề nổi bật tại nhiều đoạn. Thuận An có biên độ biến động lớn nhất, với tốc
độ bồi ngang cực đại 26,64 m/năm nhưng đồng thời tốc độ xói ngang cực đại
đạt -11,25 m/năm. Các đoạn Giang Hải, Lộc Vĩnh, Vinh Hiền, Quảng Công và
Phú Thuận cũng có tốc độ xói cực đại tương đối lớn. Điều này cho thấy đường
bờ không chỉ lùi đều mà có sự tái phân bố bùn cát mạnh theo không gian và
thời gian.
35
Hình 5. Bản đồ bồi tụ và xói lở đường bờ giai đoạn 2017-2022
10
Bảng 5. Diện tích và tốc độ bồi, xói bờ biển thành phố giai đoạn 2018-2023
Đoạn bờ biển
Chiều
dài bờ
biển
(km)
Diện
tích
bồi
(ha)
Diện tích
xói (ha)
Tốc độ
bồi trung
bình
(ha/năm)
Tốc độ
xói trung
bình
(ha/năm)
Tốc độ bồi
ngang lớn
nhất
(m/năm)
Tốc độ xói
ngang lớn
nhất
(m/năm)
Phong Phú
4,75
0,54
2,06
0,04
0,15
1,73
-3,13
Phong Hải
5,38
2,82
2,84
0,28
0,28
3,19
-2,26
Lăng Cô
20,1
8,39
0,71
0,84
0,07
2,62
-1,20
Lộc Vĩnh
21,4
13,97
3,15
1,40
0,32
3,95
-5,69
Giang Hải
3,57
0,21
11,04
0,02
1,10
1,73
-5,55
Vinh Hiền
3,04
5,96
5,94
0,60
0,59
9,05
-5,22
10
Nguồn hình và bảng: Báo cáo nghiên cứu dựa trên phân tích ảnh viễn thám của Phòng Thí nghiệm trọng điểm
Quốc gia về Động lực học sông biển
Vinh Mỹ
3,13
1,62
1,09
0,16
0,11
1,92
-2,17
Thuận An
10,78
32,84
10,02
2,14
0,81
26,64
-11,25
Phú Thuận
4,19
0,21
6,54
0,02
0,65
1,11
-4,45
Phú Diên
7,68
4,22
1,97
0,42
0,20
2,86
-1,77
Phú Hải
1,92
0,64
0,82
0,06
0,08
1,27
-1,88
Vinh An
4,95
4,53
0,78
0,45
0,08
3,81
-1,90
Vinh Thanh
2,38
0,75
2,27
0,08
0,23
2,20
-2,98
Vinh Xuân
4,63
2,49
1,20
0,25
0,12
2,09
-2,14
Quảng Công
6,08
1,97
4,36
0,20
0,44
2,91
-4,50
Quảng Ngạn
3,7
3,75
1,71
0,38
0,17
4,05
-2,96
Nước dâng
Nước dâng do bão là nguy cơ đáng lưu ý tại các cửa sông và vùng ven
biển. Theo số liệu lịch sử, bão Cecil từng gây nước dâng khoảng 1,9 m tại Thuận
An và 1,7 m tại Lăng Cô; nước biển tràn qua đê ngăn mặn, đi sâu 2-3 km vào
đất liền. Nguy cơ lớn nhất xuất hiện khi nước dâng do bão trùng với triều cao,
sóng lớn và lũ từ thượng nguồn, làm tăng ngập vùng cửa sông, đầm phá và khả
năng phá vỡ cồn cát ven biển.
Khu vực Thuận An, Tư Hiền, Phú Thuận, Vinh Lộc và Chân Mây - Lăng
Cô cần đặc biệt lưu ý tổ hợp bão, sóng lớn, nước dâng, triều cường và lũ từ
thượng nguồn.
Nắng nóng và hạn hán
Nắng nóng xảy ra hầu hết các năm nhưng số đợt biến động mạnh. Năm
2020 ghi nhận 6 đợt; năm 2022 có 16 đợt; năm 2025 có 7 đợt và thời gian xuất
hiện ngắn hơn do các hình thế gây mưa hoạt động mạnh. Vì vậy, chuỗi 2020-
2025 chưa cho thấy tần suất nắng nóng tăng đều, nhưng cường độ cực đoan đã
thể hiện rõ.
Mặc dù số đợt không tăng liên tục, cường độ nắng nóng đã đạt mức đặc
biệt cao trong một số năm. Năm 2023, nhiệt độ tại Nam Đông đạt 41,5°C, vượt
giá trị lịch sử trước đó. Báo cáo năm 2024 ghi nhận nhiệt độ cao nhất 42,2°C tại
cả trạm Huế và Nam Đông, đồng thời A Lưới đạt 39,2°C; đây là đợt nắng nóng
gay gắt, kéo dài từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 5. Năm 2025, nắng nóng xuất
hiện muộn và kết thúc sớm hơn trung bình nhiều năm; số đợt và cường độ thấp
hơn do hoạt động mưa diễn ra mạnh.
37
Nắng nóng cực đoan tại khu vực đô thị tại Huế có xu hướng nghiêm trọng
hơn dưới tác động đồng thời của biến đổi khí hậu và quá trình đô thị hóa nhanh.
Trong giai đoạn 2014-2024, diện tích xanh tại 12 phường trung tâm giảm
khoảng 20%, làm gia tăng hiệu ứng đảo nhiệt: nhiệt độ bề mặt mùa hè tại khu
vực nội đô thường cao hơn trung bình toàn thành phố khoảng 4-8°C, vùng ven
đô cao hơn 1-4°C, trong khi khu vực nông thôn có nhiều cây xanh và mặt nước
thường mát hơn
11
. Đáng chú ý, các khu vực suy giảm không gian xanh luôn có
nhiệt độ bề mặt cao hơn, mức chênh lệch đạt khoảng 1,5°C vào năm 2024 và
nền nhiệt cao có xu hướng duy trì kéo dài, làm gia tăng rủi ro đối với sức khỏe
cộng đồng, nhu cầu năng lượng và hạ tầng đô thị.
Nắng nóng gay gắt làm tăng nhu cầu sử dụng điện và nước, nguy cơ cháy
rừng, suy giảm sức khỏe người lao động ngoài trời, người cao tuổi và các nhóm
dễ bị tổn thương. Tuy nhiên, hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu, đánh giá và số
liệu chi tiết về tác động của nắng nóng đến sức khỏe và các hoạt động sản xuất,
kinh doanh.
Không khí lạnh, rét đậm, rét hại và gió mạnh trên biển
Trong giai đoạn 2020-2025, Huế chịu ảnh hưởng khoảng 11-21 đợt không
khí lạnh và không khí lạnh tăng cường mỗi năm. Các đợt rét thường xảy ra từ
cuối năm trước đến những tháng đầu năm sau; rét đậm, rét hại tập trung chủ yếu
tại khu vực A Lưới và các vùng núi cao.
Không khí lạnh không chỉ gây giảm nhiệt độ mà còn là một trong những
hình thế quan trọng gây mưa lớn tại Huế. Khi kết hợp với hoàn lưu bão, áp thấp
nhiệt đới, dải hội tụ nhiệt đới hoặc nhiễu động gió Đông, không khí lạnh có thể
làm gia tăng cường độ và kéo dài thời gian mưa. Vì vậy, tác động lớn nhất của
không khí lạnh trong nhiều trường hợp không phải là rét mà là vai trò thúc đẩy
các đợt mưa, lũ nghiêm trọng trong mùa thu - đông.
Trên biển, bão và các đợt không khí lạnh tăng cường gây gió mạnh, sóng
lớn, biển động, ảnh hưởng đến tàu thuyền, khu neo đậu, hoạt động khai thác và
nuôi trồng thủy sản. Các khu vực Thuận An, Tư Hiền, Chân Mây - Lăng Cô và
toàn bộ dải ven biển cần đặc biệt lưu ý trong thời kỳ chuyển mùa và các đợt gió
mùa Đông Bắc mạnh.
Dông, lốc, sét và mưa đá
Dông, lốc, sét và mưa đá xảy ra hầu như hằng năm. Đây là nhóm thiên tai
có quy mô không gian tương đối nhỏ nhưng hình thành nhanh, thời gian tồn tại
ngắn, khó dự báo chính xác vị trí và thời điểm, có thể gây thiệt hại đáng kể đối
với nhà ở, trường học, cây trồng, cây xanh, lưới điện và tàu thuyền.
Năm 2023 ghi nhận các trận dông, lốc gây tốc mái nhiều nhà tại A Lưới
và khu vực ven biển. Năm 2024 có 8 đợt dông, lốc, sét, mưa đá, mưa lớn cục bộ
11
Nguồn: Báo cáo Phân tích tác động của suy giảm không gian xanh đến gia tăng nắng nóng tại thành phố Huế,
2025, ISET
và gió giật mạnh. Năm 2025 ghi nhận 3 trận lốc mạnh tại khu vực A Lưới; riêng
ngày 23/4, gió giật đạt 26 m/s, tương đương cấp 10, làm tốc mái nhà dân và
trường học, kèm theo mưa đá có đường kính khoảng 4-17 mm.
Các khu vực miền núi, vùng chuyển tiếp địa hình và nơi có đối lưu phát
triển mạnh như A Lưới có nguy cơ cao hơn đối với lốc và mưa đá. Tuy nhiên,
dông, sét và gió giật có thể xảy ra trên phạm vi toàn thành phố, kể cả khu vực đô
thị, đồng bằng và ven biển.
Động đất
Động đất không phải là loại hình thiên tai thường xuyên tại Huế, nhưng
hoạt động địa chấn tập trung tại khu vực A Lưới cần được tiếp tục theo dõi.
Theo chuỗi số liệu từ năm 2014 đến năm 2025, khu vực Huế và vùng lân cận ghi
nhận 28 trận động đất, có độ lớn từ 2,1 đến 4,7 và độ sâu chấn tiêu khoảng 3,9-
17,1 km. Phần lớn là động đất rất nhỏ đến động đất nhẹ. Trận mạnh nhất đạt độ
lớn 4,7 xảy ra ngày 15/5/2014 tại A Lưới; trong giai đoạn 2020-2025, có một
trận động đất độ lớn 4,0 xảy ra ngày 7/11/2025 tại khu vực A Lưới.
Các trận động đất chưa gây thiệt hại đáng kể, nhưng việc phân bố tập
trung tại vùng miền núi, gần một số hồ chứa và công trình thủy điện, thủy lợi
cho thấy cần duy trì quan trắc địa chấn và đánh giá an toàn đối với các công
trình hạ tầng quan trọng.
Bảng 6. Tổng hợp đặc điểm thiên tai theo loại hình
Loại hình
Xu thế và đặc điểm
nổi bật
Quy luật chính
Khu vực thường
xuyên chịu tác
động
Bão, áp thấp
nhiệt đới
Số cơn biến động,
không tăng đều; tác
động mưa sau bão và
thiên tai liên hoàn ngày
càng đáng lưu ý
Chủ yếu tháng 9-
11; có thể xuất hiện
sớm, muộn hoặc
gây mưa trái mùa
Dải ven biển, cửa
sông; vùng núi phía
Tây và hạ lưu sông
chịu tác động gián
tiếp
Mưa lớn, lũ,
ngập lụt
Loại hình chủ đạo;
cường độ, lượng mưa
cực đại và tính liên tiếp
có xu hướng cực đoan
hơn
Tập trung tháng 10-
11 nhưng đã xuất
hiện nhiều đợt trái
mùa
Hạ lưu sông
Hương, Bồ, Ô Lâu,
đô thị Huế, vùng
thấp trũng và ven
đầm phá
Lũ quét, sạt
lở đất
Nguy hiểm tăng mạnh
trong các chuỗi mưa
lớn kéo dài; chưa đủ số
liệu xác định xu thế tần
suất
Trong và sau mưa
lớn, đặc biệt khi đất
đã bão hòa
A Lưới, Nam Đông,
Khe Tre, Bình
Điền, các tuyến
đường miền núi
39
Sạt lở bờ
sông, bờ biển
Diễn ra thường xuyên,
tích lũy và tái diễn tại
các điểm xung yếu
Mạnh trong mùa
mưa lũ, bão, triều
cường và gió mùa
Đông Bắc
Sông Hương, Bồ, Ô
Lâu; Phong Quảng,
Thuận An, Phú
Thuận, Vinh Lộc
Nắng nóng
Số đợt không tăng đều
nhưng đã xuất hiện
nhiệt độ cực trị lịch sử
Chủ yếu tháng 4-8
Đô thị Huế, đồng
bằng và thung lũng
Nam Đông
Không khí
lạnh, rét
Biến động giữa các
năm; đáng chú ý ở vai
trò tăng cường mưa lớn
Cuối năm và đầu
năm; kết hợp các
hình thế khác trong
mùa mưa bão
A Lưới chịu rét;
vùng biển chịu gió
mạnh, sóng lớn
Dông, lốc,
sét, mưa đá
Quy mô nhỏ, xuất hiện
nhanh, gây thiệt hại cục
bộ; chưa đủ số liệu xác
định xu thế tần suất
Thường trong thời
kỳ chuyển mùa và
các ngày đối lưu
mạnh
A Lưới và vùng
chuyển tiếp địa
hình; sét có thể xảy
ra toàn thành phố
Động đất
Chủ yếu động đất nhỏ;
chưa ghi nhận thiệt hại
đáng kể
Xuất hiện không
theo mùa
Tập trung tại khu
vực A Lưới
1.2. Tổng hợp thiệt hại do thiên tai
Phần này tổng hợp tình hình thiệt hại do thiên tai trên địa bàn thành phố
Huế trong giai đoạn 2020-2025. Số liệu được rà soát từ các báo cáo tổng kết
công tác phòng, chống thiên tai hằng năm và các bảng thống kê thiệt hại đến
năm 2025.
Giai đoạn 2020-2025, thành phố Huế ghi nhận mức thiệt hại do thiên tai rất
lớn và biến động mạnh giữa các năm. Tổng giá trị thiệt hại ước tính theo các báo
cáo hằng năm đạt khoảng 8.333,4 tỷ đồng. Thiệt hại không tăng đều theo thời
gian mà tập trung vào một số năm có thiên tai đặc biệt cực đoan: năm 2025
chiếm khoảng 43,0% tổng thiệt hại của cả giai đoạn; năm 2020 chiếm 27,3%; và
năm 2022 chiếm 17,3%. Riêng ba năm này chiếm gần 88% tổng giá trị thiệt hại.
Thiệt hại về người vẫn ở mức cao. Theo số liệu thống kê và các báo cáo
năm, giai đoạn này ghi nhận 72 người chết và ít nhất 176 người bị thương. Năm
2020 có số người chết và bị thương cao nhất; năm 2025 tiếp tục ghi nhận 18
người chết trong bối cảnh lũ lớn kéo dài. Phần lớn các trường hợp tử vong là do
bị nước cuốn, đuối nước khi đi lại hoặc đánh bắt trong lũ, lật ghe, sét đánh và tai
nạn trong quá trình chằng chống, bảo vệ tài sản. Điều này cho thấy thiệt hại về
người không chỉ phụ thuộc cường độ thiên tai mà còn gắn với ý thức của người
dân và khả năng kiểm soát tiếp cận các tuyến đường, sông suối, vùng ngập sâu.
Về không gian, các vùng hạ lưu sông Hương, sông Bồ, khu vực đô thị và
các vùng thấp trũng ven đầm phá Tam Giang-Cầu Hai thường xuyên chịu ngập
sâu, kéo dài, gây thiệt hại lớn về nhà ở, tài sản hộ gia đình, nông nghiệp, giao
thông và dịch vụ công. Dải ven biển và cửa sông từ Phong Quảng, Thuận An,
Phú Vang đến Vinh Lộc, Chân Mây-Lăng Cô chịu tác động tổng hợp của bão,
sóng lớn, nước dâng, xói lở và ngập mặn, gây thiệt hại cho nhà ở, hạ tầng ven
biển, nuôi trồng thủy sản và du lịch. Khu vực miền núi A Lưới, Nam Đông và
các tuyến qua đèo, sườn dốc thường xuyên chịu sạt lở đất, chia cắt giao thông,
hư hỏng công trình thủy lợi, cấp nước và thiệt hại rừng trồng.
Cơ cấu thiệt hại cho thấy nông nghiệp, thủy lợi-đê điều, giao thông và nhà
ở là các nhóm chịu tác động trực tiếp lớn nhất. Tuy nhiên, từ năm 2023-2025,
thiệt hại ngày càng thể hiện rõ tính liên ngành và dây chuyền: ngập lụt làm mất
điện, gián đoạn trạm viễn thông, ảnh hưởng cấp nước, y tế, giáo dục, hoạt động
doanh nghiệp, vận tải, xử lý chất thải và bảo tồn di sản. Năm 2025 là minh
chứng rõ nhất khi thiên tai không chỉ phá hỏng tài sản mà còn làm gián đoạn
chức năng của hệ thống đô thị trong nhiều ngày, làm tăng mạnh chi phí khôi
phục và tổn thất gián tiếp.
Bảng 7. Một số thiệt hại chính về người và nhà ở giai đoạn 2020-2025
Năm
Người
chết/bị
thương
Thiệt hại về nhà ở
Ước
tổng
thiệt hại
(tỷ đồng)
Đặc điểm chính
2020
41/42
137.205 hộ bị ngập;
46 nhà sập; 27.663
nhà tốc mái
2.273,0
Chuỗi bão, mưa lũ lịch sử; thiệt
hại diện rộng và rất lớn.
2021
29 nhà tốc mái; ngập
cục bộ tại 52 xã,
phường, thị trấn
85,8
Thiệt hại thấp nhất giai đoạn; tập
trung ở thủy lợi, giao thông và sạt
lở.
2022
7/17
7 nhà sập; khoảng 452
nhà tốc mái theo báo
cáo chi tiết
1.439,9
Mưa lũ trái mùa gây thiệt hại đặc
biệt lớn cho nông nghiệp; bão gây
hư hỏng nhà ở, điện và giao thông.
2023
4/10
165 nhà hư hỏng;
22.342 nhà bị ngập
755,1
Hai đợt lũ lớn tháng 10-11; thiệt
hại đô thị, nông nghiệp và hạ tầng.
2024
2/4
1.002 nhà bị tốc
mái/hư hỏng; 01
trường học bị ảnh
hưởng
200,0
Thiệt hại tập trung mạnh tại Phú
Lộc-Lăng Cô do bão số 6.
41
Năm
Người
chết/bị
thương
Thiệt hại về nhà ở
Ước
tổng
thiệt hại
(tỷ đồng)
Đặc điểm chính
2025
18/3
64 nhà thiệt hại nặng;
61 nhà thiệt hại một
phần; 46.489 nhà bị
ngập
3.579,6
Mưa lũ lịch sử, kéo dài; thiệt hại
đa ngành, gián đoạn hệ thống đô
thị.
Hình 6. Ước tính tổng thiệt hại do thiên tai theo năm
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi Luật Phòng,
chống thiên tai số 60/2020/QH14, thiên tai là hiện tượng tự nhiên bất thường
có thể gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt
động kinh tế - xã hội, bao gồm bão, áp thấp nhiệt đới, gió mạnh trên biển, lốc,
sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt; sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng
chảy hoặc hạn hán; nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, cháy
rừng do tự nhiên, rét hại, mưa đá, sương mù, sương muối, động đất, sóng thần
và các loại thiên tai khác.
II. HIỆN TRẠNG VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC PHÒNG
CHỐNG THIÊN TAI GIAI ĐOẠN 2020-2025
12
2.1 Hệ thống văn bản pháp luật về phòng chống thiên tai
Giai đoạn 2020-2025, thành phố Huế đã triển khai đầy đủ các quy định
của Luật Phòng, chống thiên tai và các văn bản hướng dẫn; đồng thời tổ chức
12
Báo cáo số 16059/UBND-NN ngày 06/11/2025 của UBND thành phố về Báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch
PCTT đến 2025 và đề xuất giai đoạn 2025-2030
thực hiện Chiến lược quốc gia phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn
đến năm 2050, Chương trình tổng thể phòng, chống thiên tai quốc gia và hướng
dẫn xây dựng kế hoạch PCTT các cấp tại Thông tư số 02/2021/TT-BNNPTNT.
Thành phố đã ban hành Kế hoạch PCTT và TKCN giai đoạn 2021-2025, duy trì
kế hoạch công tác hằng năm, cập nhật các phương án ứng phó theo loại hình và
cấp độ rủi ro, kiểm tra an toàn hồ đập, đê điều, khu dân cư và công trình trọng
điểm trước mùa mưa bão. Các định hướng này phù hợp với Chiến lược quốc gia
tại Quyết định số 379/QĐ-TTg và quy trình lập kế hoạch địa phương theo Thông
tư số 02/2021/TT-BNNPTNT
Năm 2025, Bộ máy chỉ huy được điều chỉnh theo Luật Phòng thủ dân sự
và mô hình chính quyền địa phương hai cấp. UBND thành phố ban hành Quyết
định số 2431/QĐ-UBND về tổ chức lại Ban Chỉ huy PCTT và TKCN thành Ban
Chỉ huy Phòng thủ dân sự thành phố và Quyết định số 2525/QĐ-UBND về Quy
chế hoạt động; đồng thời thành lập Văn phòng Ban Chỉ huy và ban hành quy chế
hoạt động của Văn phòng tại các Quyết định số 149 và 150/QĐ-BCHPTDS.
Việc kiện toàn này phù hợp với Luật Phòng thủ dân sự, Nghị định số
200/2025/NĐ-CP và Nghị định số 131/2025/NĐ-CP về phân định thẩm quyền
trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Công tác phổ biến pháp luật và nâng cao năng lực được duy trì. Năm
2025, cán bộ của 40 xã, phường được hướng dẫn nghiệp vụ PCTT và tập huấn
thực hiện Nghị định số 200/2025/NĐ-CP; Chi cục Thủy lợi và Biến đổi khí hậu
tổ chức 17 đợt tuyên truyền, phổ biến pháp luật với 2.225 lượt người, cùng 5 lớp
sơ cấp cứu cho 150 thành viên lực lượng xung kích.
2.2. Hệ thống phòng thủ dân sự
Năm 2025, thành phố Huế đã kiện toàn hệ thống chỉ huy theo mô hình
phòng thủ dân sự. UBND thành phố ban hành Quyết định số 2431/QĐ-UBND
ngày 04/8/2025 về tổ chức lại Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự thành phố và
Quyết định số 2525/QĐ-UBND ngày 10/8/2025 ban hành Quy chế hoạt động.
Ban Chỉ huy tiếp tục ban hành Quyết định số 149/QĐ-BCHPTDS và số
150/QĐ-BCHPTDS ngày 23/9/2025 về thành lập và quy chế hoạt động của Văn
phòng Ban Chỉ huy.
Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố là cơ quan thường trực về phòng thủ dân
sự; Văn phòng thường trực Ban Chỉ huy đặt tại Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố.
Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì tham mưu về công tác PCTT, sử dụng bộ
máy, cơ sở vật chất và trang thiết bị của Chi cục Thủy lợi và Biến đổi khí hậu
cùng các đơn vị chuyên môn trực thuộc. Các thành viên Ban Chỉ huy triển khai
nhiệm vụ theo phân công; quân sự, công an, biên phòng, y tế, giao thông, điện
lực, thông tin, chính quyền địa phương và các đơn vị liên quan trên địa bàn phối
hợp theo phương án đã được phê duyệt.
Ở cấp xã, phường, Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự do chính quyền cùng
cấp kiện toàn. Ban Chỉ huy do Chủ tịch UBND xã, phường làm Trưởng ban;
Ban Chỉ huy Quân sự là cơ quan thường trực về phòng thủ dân sự; cơ quan
chuyên môn về kinh tế, hạ tầng hoặc đô thị giúp việc và chủ trì tham mưu về
43
PCTT. Ban chỉ huy có trách nhiệm xây dựng phương án ứng phó theo cấp độ rủi
ro, phân công thành viên phụ trách từng địa bàn, kiểm tra việc chuẩn bị lực
lượng, phương tiện, sơ tán và tổ chức thực hiện theo chỉ đạo của cấp trên.
Đến năm 2025, toàn bộ 40 xã, phường đã rà soát phương án ứng phó đối
với bão, mưa lớn, ngập lụt, lũ quét, sạt lở và vận hành hồ chứa theo phương
châm “bốn tại chỗ”.
2.3. Công tác dự báo, cảnh báo sớm thiên tai
Thông tin dự báo, cảnh báo thiên tai tại Huế được tiếp nhận chủ yếu từ
Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, Đài Khí tượng Thủy văn
thành phố Huế và các cơ quan chuyên ngành có trách nhiệm theo dõi hồ chứa,
địa chất, và các loại hình sự cố. Việc dự báo, cảnh báo và truyền tin được thực
hiện theo Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg, trong đó quy định nội dung, tần suất,
trách nhiệm ban hành và truyền phát bản tin đối với từng loại hình thiên tai.
Bên cạnh đó, thành phố đã phát triển mạng lưới quan trắc tự động và nền
tảng số tương đối mạnh. Hiện thành phố có 54 trạm đo mưa Vrain, 2 trạm đo gió
bão, 10 trạm giám sát ngập thông minh và 5 trạm đo mực nước tự động trên các
sông Hương, Bồ và Ô Lâu. Dữ liệu được truyền trực tuyến qua một số kênh như
Vrain, GIS-Hue, Hue-S và IOC. Hơn 100 camera tại các điểm ngập, sạt lở và hồ
chứa hỗ trợ theo dõi tình hình thực tế. Thành phố cũng đã xây dựng được một
bản đồ mạng lưới các tháp cảnh báo ngập thông minh làm cơ sở cho việc ra
quyết định đầu tư trong tương lai.
Thông tin cảnh báo được phát qua nhiều kênh như Hue-S, IOC, truyền
thanh thông minh, website, báo chí, mạng xã hội, tin nhắn, còi hú cảnh báo, tổng
đài 19001075, tổng đài 112 và chức năng SOS. Giai đoạn 2024-2025 thành phố
đã lắp đặt thí điểm 4 còi cảnh báo công suất lớn, bán kính hữu dụng khoảng 5
km. Thành phố dự kiến triển khai lắp đặt cho tất cả 40 xã, phường trong tương
lai. Tính đến giữa 2026, việc lắp đặt đã được triển khai ở một số xã.
Xét theo các yêu cầu của một hệ thống cảnh báo sớm, hệ thống hiện nay
của thành phố có những đặc điểm sau:
Tính kịp thời: hệ thống hiện cung cấp tương đối tốt thông tin mưa, gió,
mực nước và tình trạng ngập tại các điểm có trạm. Bản tin trước các đợt bão,
mưa lớn thường được truyền sớm khoảng 48-72 giờ; dữ liệu quan trắc được cập
nhật gần thời gian thực. Cơ quan tham mưu còn tham khảo các mô hình quốc tế
và xây dựng nhiều kịch bản mưa lũ, vận hành hồ để hỗ trợ ra quyết định.
Độ tin cậy: được cải thiện nhờ kết hợp dữ liệu quốc gia, địa phương,
camera và mô hình; nhưng hiện chưa có dữ liệu đánh giá định lượng về sai số dự
báo, tỷ lệ cảnh báo đúng và cảnh báo bỏ sót.
Tính đầy đủ và liên tục: hệ thống đa nguồn và đa kênh tạo khả năng dự
phòng tương đối tốt; song mất điện, mất sóng và sự cố trạm BTS trong bão, lũ
lớn vẫn có thể làm gián đoạn truyền tin; yêu cầu ngầm hóa hạ tầng cáp viễn
thông và các trạm BTS dùng chung; trang bị nguồn điện dự phòng đủ công suất.
Tính chi tiết: khá tốt đối với mưa, mực nước và ngập tại khu vực có trạm
nhưng độ phủ vẫn còn hạn chế; dự báo chi tiết đối với lũ quét, sạt lở, dông lốc,
sét, nắng nóng và tác động theo từng khu dân cư còn hạn chế.
Tính dễ hiểu và khả năng hành động: thông tin tiếp cận rộng, nhưng
một số bản tin vẫn thiên về mô tả hiện tượng; cần chuyển mạnh sang cảnh báo
tác động, địa bàn ảnh hưởng, thời gian phải hành động và hướng dẫn cụ thể cho
từng nhóm đối tượng; trong thời gian đến cần nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân
tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) trong việc tự động phân tích kịch bản ngập lụt
và đưa ra cảnh báo tác động đến từng khu vực dân cư.
Tóm lại, năng lực quan trắc, cảnh báo và truyền tin của Huế thuộc nhóm
tương đối phát triển, đặc biệt đối với mưa, lũ và vận hành hồ chứa. Khoảng
trống chính là chuẩn hóa dữ liệu, tăng dự phòng khi mất điện-mất internet, mở
rộng cảnh báo cho các hiểm họa mang tính cục bộ và chuyển từ cảnh báo hiện
tượng sang cảnh báo tác động, lấy người dân làm trung tâm.
2.4. Phương tiện, vật tư, trang thiết bị phục vụ phòng, chống thiên tai
Việc quản lý vật tư, phương tiện và trang thiết bị chuyên dùng PCTT
được thực hiện theo Quyết định số 20/2021/QĐ-TTg. Văn bản này yêu cầu xác
định danh mục, đơn vị quản lý, địa điểm bố trí, chế độ kiểm tra, bảo quản, bảo
dưỡng, điều động và sử dụng đúng mục đích.
Bộ Chỉ huy Quân sự ghi nhận các trang bị chính như ô tô các loại, xe chở
quân, xe cứu thương, xe thiết giáp; các xuồng chữa cháy-cứu nạn, xuồng đa
năng; áo phao, phao tròn, phao bè, nhà bạt và bộ vượt sông nhẹ. Biểu kiểm kê
tại thời điểm 01/01/2026 còn ghi nhận các phương tiện chỉ huy, hệ thống hội
nghị trực tuyến, thông tin vệ tinh, máy phát điện, thiết bị khoan-cắt, cứu sập đổ
và thiết bị chữa cháy (xem chi tiết ở Phụ lục V).
Công an thành phố Huế đã trang bị, thường xuyên kiểm tra, đánh giá thực
trạng, kịp thời sửa chữa, bảo dưỡng đảm bảo hoạt động ổn định hơn 1.320
phương tiện bộ, 175 phương tiện thủy, 8.200 trang thiết bị kỹ thuật khác phục vụ
công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiểm cứu nạn, cứu hộ và phòng thủ dân sự;
trong đó có các phương tiện, trang thiết bị chuyên dụng như: xe chữa cháy, xe
cứu nạn cứu hộ, xe thang, xe củứu thương, ca nô, xuồng máy, tàu tuần tra, thiết
bị bay không người lái, bộ thiết bị cứu hộ đường thủy, dụng cụ phá dỡ, đồ bảo
hộ đặc chủng... kịp thời điều chuyển, trang cấp bổ sung phương tiện, trang thiết
bị phù hợp với thực tế địa bàn, vùng miễn phục vụ hiệu quả công tác ứng phó
khi có tình huống xảy ra (xem chi tiết ở Phụ lục V).
Ở cấp xã, thống kê được phân theo ba nhóm chính: trang thiết bị hỗ trợ
chỉ huy tại trụ sở; phương tiện, thiết bị PCTT tại xã, phường; và vật tư dự
phòng. Theo dữ liệu báo cáo từ cấp xã đến cuối tháng 07 2026, tổng hợp sơ bộ
ghi nhận khoảng 15.731 trang thiết bị trong đó 460 đơn vị cần sửa chữa và nhu
cầu bổ sung khoảng 19.020 thiết bị. Tuy nhiên, một số địa phương chưa nhập số
liệu hoặc chưa nhập đầy đủ nên cần phải tiếp tục cập nhật.
45
Hiện phương tiện và vật tư được phân tán cho quân sự, công an, biên
phòng, cơ quan chuyên môn, đơn vị quản lý công trình, doanh nghiệp điện-
nước-viễn thông và UBND cấp xã. Cơ chế huy động theo phương châm “bốn tại
chỗ” đã phát huy hiệu quả, nhưng việc phân tán cũng gây khó khăn trong kiểm
kê, điều phối và xác định khả năng sẵn sàng tại từng địa bàn.
Nhìn chung, thành phố có một lượng phương tiện và vật tư tương đối đa
dạng, nhưng chưa có cơ sở dữ liệu tài sản thống nhất, cập nhật. Cần lập phụ lục
kiểm kê riêng, xác định cho từng thiết bị: chủng loại, số lượng, tình trạng, địa
điểm, đơn vị và người quản lý, khả năng cơ động, lịch bảo dưỡng và nguồn
nhiên liệu. Nhu cầu tương lai cần xác định theo nhóm địa bàn: cứu nạn vùng
ngập sâu; cứu nạn biển-đầm phá; sạt lở và chia cắt miền núi; thông tin, điện dự
phòng; vệ sinh môi trường.
2.5. Công tác ứng phó thiên tai và tìm kiếm, cứu nạn
Lực lượng nòng cốt ứng phó thiên tai và tìm kiếm, cứu nạn gồm Bộ Chỉ
huy Quân sự, Công an, Bộ đội Biên phòng, lực lượng y tế, lực lượng chuyên
ngành giao thông, điện, nước, viễn thông và lực lượng xung kích PCTT cấp xã.
Ngoài ra còn có Mặt trận Tổ quốc, Hội Chữ thập đỏ, các đoàn thể, doanh
nghiệp, tổ chức xã hội, tình nguyện viên và người dân tham gia cứu trợ, sơ tán,
hậu cần và khắc phục hậu quả.
Giai đoạn 2021-2025, Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố đã cử 28 cán bộ
tham gia 10 khóa đào tạo nghiệp vụ tìm kiếm cứu nạn; các đơn vị quân sự tổ
chức 8 lớp với 928 lượt cán bộ, chiến sĩ và dân quân tự vệ. Công an thành phố
báo cáo đã tổ chức tập huấn phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cho
86.549 lượt người. Năm 2025, thành phố tổ chức thêm 5 lớp sơ cấp cứu cho 150
thành viên lực lượng xung kích tại Quảng Điền, Đan Điền, An Cựu, Dương Nỗ.
Thành phố cũng đã xây dựng các phương án hỗ trợ khẩn cấp và xác định
lực lượng và phương tiện cho các trọng điểm lớn. Ví dụ, Nam Đông dự kiến huy
động 960 người và 17 phương tiện; Chân Mây-Lăng Cô 624 người và 15
phương tiện; Phú Vinh 634 người và 15 phương tiện; Phong Quảng 548 người
và 17 phương tiện; A Lưới 2 có 674 người và 13 phương tiện. Lực lượng được
tổ chức thành ba lớp: tại chỗ, cơ động của thành phố và tăng cường từ đơn vị
cấp trên.
Năng lực huy động đã được kiểm chứng trong thực tế. Năm 2025, thành
phố đã sơ tán 7.422 hộ với 20.202 người trong ba đợt lũ lớn và bão số 13; toàn
bộ 1.049 phương tiện với 7.247 lao động trên biển được hướng dẫn vào nơi neo
đậu an toàn. Cũng trong đợt lũ năm 2025, lực lượng Công an hỗ trợ di dời 2.133
hộ, cứu nạn 487 trường hợp và hỗ trợ di chuyển hơn 120 bệnh nhân cùng thiết bị
y tế tại Bệnh viện Trung ương Huế.
Sự tham gia của lực lượng dân sự và cộng đồng tương đối mạnh, nhất là
trong chằng chống nhà cửa, kiểm soát điểm ngập, di chuyển tài sản, tiếp tế, dọn
vệ sinh và phục hồi trường học, cơ sở y tế. Tuy nhiên, khả năng tham gia còn
phụ thuộc kinh nghiệm, phương tiện cá nhân và sự chỉ huy tại chỗ; chưa phải tất
cả lực lượng đều được đào tạo và trang bị đồng đều.
Nhìn chung, thành phố có khả năng huy động lực lượng lớn, phản ứng
nhanh và phối hợp nhiều ngành trong các tình huống bão, lũ. Năng lực cần tiếp
tục củng cố đối với cứu nạn nước chảy xiết, vùng ngập sâu, cứu nạn trên biển,
tìm kiếm tại khu vực sạt lở và tiếp cận vùng bị chia cắt.
2.6. Thông tin, truyền thông về phòng, chống thiên tai
Huế đã hình thành hệ thống thông tin PCTT đa kênh, kết hợp phương tiện
truyền thống và nền tảng số. Các kênh chính gồm Hue-S, IOC, hệ thống truyền
thanh cơ sở và truyền thanh thông minh, báo chí, truyền hình, website PCTT,
mạng xã hội, Zalo, điện thoại, tin nhắn, còi hú cảnh báo, tổng đài 19001075,
tổng đài 112 và chức năng SOS.
Hue-S đã tích hợp dữ liệu mưa, mực nước, ngập lụt, hồ chứa, sơ tán và
phản ánh hiện trường. Tài liệu chuyên đề ghi nhận hơn 900.000 tài khoản Hue-
S, hơn 162.000 người theo dõi Fanpage HueIOC và hơn 100.000 người quan
tâm Zalo HueIOC. Riêng trong năm 2025, các kênh IOC và Hue-S ghi nhận
hàng triệu lượt tiếp cận và truy cập, cho thấy nền tảng số đã trở thành kênh
truyền tin quan trọng trong thiên tai.
Để duy trì thông tin khi mạng thông thường bị gián đoạn, thành phố và
doanh nghiệp viễn thông đã bố trí điện thoại vệ tinh, hệ thống vô tuyến sóng
ngắn CODAN, vô tuyến sóng cực ngắn và bộ đàm cầm tay. Một số phường xã
đã được trang bị máy phát điện dự phòng. Hệ thống hội nghị trực tuyến đã được
triển khai đến 100% UBND cấp xã.
Tuy nhiên, dữ liệu cấp xã cho thấy vẫn còn khoảng 13.170 hộ không có
phương tiện tiếp cận phát thanh, truyền hình; 18.119 hộ không tiếp cận được hệ
thống truyền thanh xã, phường; 3.009 hộ gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông
tin kịp thời về thiên tai; 11.057 hộ chưa tiếp cận Internet. Các con số này cần
được kiểm tra lại về phạm vi và đối tượng nhưng cho thấy cảnh báo không thể
phụ thuộc hoàn toàn vào nền tảng số.
Về cơ sở dữ liệu, các lớp dữ liệu hồ chứa, sơ tán, bản đồ ngập, vết lũ, sạt
lở, điểm dừng đỗ phương tiện trong thời gian ngập lụt đã được tích hợp trên
GIS-Hue. Hiện thành phố đã bắt đầu triển khai hệ thống thông tin phòng chống
thiên tai liên thông từ cấp thành phố đến cấp xã.
Nhìn chung, Huế có năng lực truyền thông và ứng dụng số khá mạnh,
phạm vi tiếp cận rộng và nhiều kênh dự phòng. Hạn chế chính là chất lượng dữ
liệu chưa đồng đều; một bộ phận dân cư vẫn khó tiếp cận cảnh báo; một phần hệ
thống truyền thanh cơ sở xuống cấp; và thông tin giữa các nền tảng chưa hoàn
toàn đồng bộ. Cần duy trì đồng thời các kênh số, truyền thanh, còi hú, loa di
động và liên lạc trực tiếp tại cộng đồng và các phương án dự phòng toàn diện
trong trường hợp mất điện hay hệ thống thông tin liên lạc chính gặp sự cố.
47
2.7. Năng lực và nhận thức của cộng đồng về phòng, chống thiên tai
Người dân thành phố Huế có nhiều kinh nghiệm trong ứng phó với bão,
mưa lớn, lũ và ngập lụt, thể hiện qua việc chủ động theo dõi cảnh báo, kê cao tài
sản, chằng chống nhà cửa, dự trữ nhu yếu phẩm, di chuyển phương tiện và hỗ
trợ sơ tán. Lực lượng xung kích, tổ dân phố, thôn, đoàn thể và người dân tiếp tục
giữ vai trò quan trọng trong truyền tin, kiểm soát điểm nguy hiểm, cứu trợ và hỗ
trợ các nhóm dễ bị tổn thương.
Giai đoạn 2021-2025, các cơ quan, ban ngành và địa phương đã tổ chức
nhiều hoạt động phổ biến pháp luật, tập huấn và nâng cao kỹ năng. Chi cục
Thủy lợi và Biến đổi khí hậu báo cáo tổ chức 160 lớp với 12.093 lượt người
tham dự và 374 lớp nâng cao nhận thức với 13.223 lượt người; ngành giáo dục
tổ chức 79 lớp cho 11.151 lượt người. Thành phố cũng đã triển khai Đề án
“Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng
đến năm 2030” theo Quyết định số 553/QĐ-TTg; tổ chức diễn tập cấp xã, tập
huấn lập kế hoạch, sơ tán, sơ cấp cứu và hướng dẫn tiếp cận thông tin mưa, mực
nước, ngập lụt.
Theo số liệu tổng hợp từ các phường xã theo bốn nhóm năng lực của cộng
đồng gồm: nhận thức và hiểu biết rủi ro; chuẩn bị và ứng phó; phục hồi và thích
ứng; tổ chức và phối hợp cộng đồng, kết quả trung bình toàn thành phố lần lượt đạt:
Nhận thức và hiểu biết rủi ro: 68,32%;
Chẩn bị và ứng phó: 53,34%;
Phục hồi và thích ứng: 60,46%;
Tổ chức và phối hợp cộng đồng: 55,99%;
Điểm trung bình chung: 59,53%.
Ngoài ra, còn 23,28% người dân chưa được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ
năng cơ bản về phòng, chống thiên tai; 19,98% hộ gia đình chưa có phương án
dự phòng khẩn cấp; 61,51% phụ nữ và 57,70% trẻ em chưa biết bơi hoặc chưa
được tập huấn kỹ năng an toàn trong môi trường nước
13
.
Kết quả cho thấy cộng đồng có nhận thức về rủi ro tương đối tốt, trong
khi năng lực chuẩn bị, ứng phó và tổ chức phối hợp còn thấp hơn. Điều này
phản ánh khoảng cách giữa việc người dân biết về thiên tai với khả năng chuyển
kiến thức thành kế hoạch hộ gia đình, kỹ năng thực hành, nguồn lực dự phòng
và cơ chế phối hợp tại cộng đồng.
Một số địa phương có kết quả cao và khá đồng đều ở cả bốn nhóm tiêu
chí, như Phong Phú 98,63%; Hương An 92,08%; Hương Thủy 90,83%; Kim
Long 89,38%; Thuận Hóa 88,75% và Khe Tre 87,67%.
13
Theo số liệu báo cáo từ cấp xã tính đến cuối tháng 07, 2026
Ngược lại, một số địa phương có kết quả thấp hoặc mất cân đối giữa các
nhóm năng lực, ví dụ như: Lộc An đạt 34,88%, đặc biệt thấp về chuẩn bị-ứng
phó và tổ chức-phối hợp; Quảng Điền đạt 58,13%, với phục hồi-thích ứng chỉ
đạt 30%; Hương Trà và Nam Đông có nhận thức khá cao nhưng năng lực phục
hồi-thích ứng chỉ đạt 30%.
Nhìn chung, năng lực cộng đồng về PCTT của thành phố được đánh giá ở
mức trung bình và phân hóa rõ giữa các địa bàn. Nhận thức về các loại hình
thiên tai quen thuộc như bão, lũ tương đối tốt, nhưng khả năng chuẩn bị thực tế,
phục hồi sau thiên tai và phối hợp cộng đồng chưa tương xứng. Kỹ năng ứng
phó với các hiểm họa ít thường xuyên hơn như lũ quét, sạt lở đất, dông sét, nắng
nóng, động đất và sóng thần còn hạn chế.
2.8. Cơ sở hạ tầng phòng, chống thiên tai
Hệ thống công trình PCTT của thành phố gồm hồ chứa, đập dâng, trạm
bơm, kênh mương, đê, kè, công trình ngăn mặn, hệ thống thoát lũ, trạm quan
trắc, hệ thống thông tin, cảnh báo, khu neo đậu tàu thuyền, điểm sơ tán và hạ
tầng giao thông phục vụ cứu hộ (chi tiết xem ở mục 2.4).
Giai đoạn 2021-2025, khoảng 2.497 tỷ đồng được bố trí cho các hạng mục
thuộc Kế hoạch PCTT, tập trung vào:
Khoảng 400 tỷ đồng cho cảng cá và khu neo đậu Thuận An, Tư Hiền và
Phú Hải;
Khoảng 826,9 tỷ đồng cho đê điều, trạm bơm, kênh và hệ thống tiêu thoát lũ;
Khoảng 905,1 tỷ đồng cho kè chống sạt lở bờ sông, bờ biển;
Khoảng 97,7 tỷ đồng cho hồ đập, chống hạn và công trình thủy lợi;
Khoảng 3,3 tỷ đồng cho hệ thống hỗ trợ vận hành hồ chứa và quản lý lũ.
Ngoài ra thành phố có 25 khu vực, âu thuyền và bến neo đậu tránh trú
bão, với sức chứa từ 20 đến 560 tàu. Trong đó, khu neo đậu Phú Hải và Cảng cá
Thuận An có khả năng tiếp nhận khoảng 500 tàu mỗi nơi; âu thuyền Lộc Điền
khoảng 560 tàu.
Số liệu báo cáo của cấp xã cho thấy, hiện có 480 điểm sơ tán cấp xã, tổng
sức chứa khoảng 85.752 người; trong đó 274 điểm được xác định sử dụng theo
tình huống siêu bão, sức chứa khoảng 61.371 người. Tuy nhiên, chỉ khoảng
79,4% số điểm có nước sinh hoạt, 70,8% có nhà vệ sinh riêng cho nam và nữ,
40,8% có bếp nấu và 49,8% tiếp cận được bằng xe lăn.
Mạng quan trắc và cảnh báo đã được đầu tư với trạm mưa, gió, mực nước,
ngập, camera và nền tảng GIS. Hạ tầng thông tin có hệ thống hội nghị trực
tuyến, mạng viễn thông dùng riêng, điện thoại vệ tinh, vô tuyến và trung tâm
IOC. Hệ thống giao thông cơ bản kết nối các địa bàn, nhưng nhiều tuyến miền
núi, ven sông và ven biển thường bị ngập, sạt lở hoặc chia cắt, làm hạn chế khả
năng cứu hộ.
49
2.9. Lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai
Việc lồng ghép PCTT được thực hiện trong Quy hoạch tỉnh Thừa Thiên
Huế thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, được phê duyệt tại Quyết định
số 1745/QĐ-TTg ngày 30/12/2023, và Kế hoạch thực hiện Quy hoạch tại Quyết
định số 1481/QĐ-TTg ngày 29/11/2024. Các sở, ngành được hướng dẫn xem xét
yêu cầu PCTT trong quy hoạch, kế hoạch và danh mục đầu tư theo hướng phù
hợp với rủi ro và điều kiện tự nhiên.
Giai đoạn 2021-2025, thành phố triển khai khoảng 24 công trình, dự án
chuyển tiếp với tổng mức đầu tư khoảng 1.827 tỷ đồng và phê duyệt 38 dự án
khởi công mới với tổng mức đầu tư khoảng 1.622 tỷ đồng. Danh mục gồm xử lý
sạt lở bờ sông, bờ biển; nâng cao an toàn đập; sửa chữa đê, trạm bơm, đê bao;
nạo vét trục thoát lũ và nâng cấp công trình thủy lợi.
Kết quả lồng ghép thể hiện qua việc kết hợp: Khu neo đậu tránh trú bão
với cảng cá và dịch vụ hậu cần nghề cá; Đê điều với giao thông và bảo vệ dân
cư; Kênh, trạm bơm với tưới tiêu và thoát lũ; Kè sông, kè biển với bảo vệ khu
dân cư và hạ tầng; Rừng phòng hộ với giảm sóng, bảo vệ bờ và sinh kế; An toàn
hồ đập với cấp nước, chống hạn và giảm lũ; Quan trắc, dữ liệu và cảnh báo với
chuyển đổi số và quản lý vận hành hồ. Các dự án FMCR, JICA 2, WB8 và hệ
thống thông tin quản lý thiên tai do Nhật Bản hỗ trợ là những ví dụ về kết hợp
PCTT với quản lý rừng, an toàn công trình, thích ứng khí hậu và hiện đại hóa
quản lý.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (trước đây) đã ban hành Công
văn số 3090/SNNPTNT-TL ngày 21/11/2024, yêu cầu thực hiện tiêu chuẩn và
quy chuẩn bảo đảm an toàn trước thiên tai trong quản lý công trình, khai thác tài
nguyên, đô thị, du lịch, công nghiệp, di tích và khu dân cư. Thông tư số
02/2021/TT-BNNPTNT cũng yêu cầu kế hoạch PCTT phải gắn với quy hoạch,
kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và đầu tư của địa phương.
Kết quả cho thấy PCTT đã được lồng ghép rõ nhất trong đầu tư thủy lợi,
đê điều, giao thông, sạt lở và an toàn hồ đập. Tuy nhiên, mức độ lồng ghép trong
quy hoạch đô thị, công nghiệp, du lịch, y tế, giáo dục và đầu tư công chưa được
theo dõi bằng chỉ tiêu thống nhất. Việc đánh giá rủi ro khí hậu và thiên tai tương
lai chưa được thực hiện có hệ thống đối với tất cả dự án, hoặc có cơ chế theo dõi
riêng phần kinh phí lồng ghép.
2.10. Công tác phục hồi, tái thiết sau thiên tai
Sau các đợt thiên tai, thành phố thường xuyên huy động lực lượng khôi
phục giao thông, điện, cấp nước, thông tin, trường học, cơ sở y tế; vệ sinh môi
trường; hỗ trợ người bị thương, gia đình có người chết và hộ khó khăn. Các địa
phương thực hiện phương châm nước rút đến đâu vệ sinh đến đó; lực lượng
quân sự, công an, biên phòng, đơn vị môi trường và cộng đồng cùng tham gia.
Công tác thống kê thiệt hại được triển khai từ cấp xã, tổng hợp hằng ngày
trong các đợt thiên tai lớn. Năm 2025, Quỹ PCTT thành phố tạm xuất 200 triệu
đồng để hỗ trợ gia đình có người chết, cung cấp nước uống và thuốc; thành phố
đồng thời tiếp nhận gạo, thực phẩm, thiết bị cứu sinh, máy bơm, máy phát điện
và hàng hỗ trợ quốc tế. Năm 2023, các nguồn hỗ trợ gồm hàng cứu trợ, máy lọc
nước và đóng góp qua Mặt trận Tổ quốc.
Việc sửa chữa công trình được thực hiện thông qua ngân sách, dự phòng,
hỗ trợ Trung ương và các dự án đầu tư công. Một số dự án ổn định dân cư đã
được đề xuất, như di dời 34 hộ tại Bình An 2, xã Lộc Vĩnh và 89 hộ tại các thôn
Lấp, Tà Rinh, A Tin thuộc Nam Đông, với nhu cầu vốn khoảng 52 tỷ đồng
Hạn chế lớn là số liệu thiệt hại giữa các năm chưa hoàn toàn thống nhất.
Thiệt hại gián tiếp, mất thu nhập, gián đoạn dịch vụ và nhu cầu phục hồi sinh kế
chưa được phản ánh đầy đủ. Phục hồi chủ yếu tập trung khôi phục nhanh trạng
thái hoạt động, trong khi nguyên tắc phục hồi tốt hơn như nâng cao cao trình,
tăng khả năng chịu ngập, dự phòng điện-nước và di chuyển khỏi vùng rủi ro
chưa được áp dụng có hệ thống.
2.11. Nguồn lực tài chính thực hiện công tác phòng, chống thiên tai
Nguồn lực tài chính cho PCTT tại Huế được huy động từ ngân sách chi
thường xuyên, ngân sách đầu tư phát triển, dự phòng ngân sách, hỗ trợ của
Trung ương, Quỹ PCTT, các chương trình mục tiêu, vốn ODA, tài trợ quốc tế,
đóng góp của doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng.
Theo số liệu kết quả thực hiện Kế hoạch PCTT, tổng kinh phí được bố trí
giai đoạn 2021-2025 khoảng 2.497,76 tỷ đồng, gồm: Ngân sách Trung ương:
khoảng 870 tỷ đồng; Ngân sách địa phương: khoảng 1.067,214 tỷ đồng; Vốn
ODA: khoảng 159,912 tỷ đồng; Nguồn vốn khác: khoảng 400 tỷ đồng (Phụ lục
I). Vốn ODA tập trung vào dự án rừng phòng hộ, an toàn đập và quản lý lũ trong
khi ngân sách Trung ương và địa phương chủ yếu đầu tư đê, kè, thoát lũ, trạm
bơm, hồ đập và xử lý sạt lở.
Quỹ PCTT được sử dụng cho truyền thông, lực lượng tại chỗ, hoạt động
phòng ngừa và hỗ trợ khẩn cấp. Tuy nhiên, quy mô Quỹ còn nhỏ so với nhu cầu
sửa chữa, phục hồi hạ tầng sau các sự kiện lớn. Nguồn tài trợ của các tổ chức
quốc tế và dự án đã có vai trò đáng kể. Thành phố đã huy động hỗ trợ từ JICA,
WB, ADB, UNDP, KOICA, các cơ quan hợp tác của Pháp, Đức, Luxembourg,
Hoa Kỳ, ISET, Hội Chữ thập đỏ, Quỹ Cộng đồng phòng tránh thiên tai và nhiều
tổ chức khác để đầu tư quan trắc, cảnh báo, quản lý hồ chứa, nâng cao an toàn
công trình, xây dựng năng lực, hỗ trợ cộng đồng và phục hồi sau thiên tai.
Các báo cáo trước đây cho thấy nhu cầu vốn khắc phục hậu quả thường
lớn hơn khả năng cân đối tại chỗ. Năm 2021 thành phố đã đề nghị hỗ trợ khoảng
735 tỷ đồng để xử lý kè biển, hồ chứa và các công trình dân sinh, hạ tầng.
Nhìn chung, thành phố có nguồn tài chính tương đối đa dạng và đã huy
động được nguồn ngoài ngân sách, nhưng nguồn lực còn phân tán và tập trung
mạnh vào xây dựng công trình. Kinh phí thường xuyên cho vận hành hệ thống
cảnh báo, bảo trì thiết bị, trực ban, tập huấn, diễn tập, lực lượng tại chỗ và cập
nhật dữ liệu chưa được tổng hợp rõ.
51
III. ĐÁNH GIÁ RỦI RO THIÊN TAI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN
ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN CÁC NGÀNH, ĐỊA PHƯƠNG
3.1 Cách tiếp cận và phương pháp đánh giá rủi ro
3.1.1. Cách tiếp cận đánh giá rủi ro
Rủi ro thiên tai được đánh giá trên cơ sở tổ hợp giữa: tần suất và cường độ
của hiểm họa; mức độ phơi nhiễm và năng lực phòng ngừa, ứng phó, phục hồi
của dân cư, nhà ở, hạ tầng, hoạt động kinh tế xã hội.
Các cấp độ rủi ro là kết quả đánh giá định tính phục vụ lập kế hoạch phòng,
chống thiên tai, không phải cấp độ cảnh báo theo Quyết định số 18/2021/QĐ-
TTg.
Đánh giá cũng tham khảo các Bản đồ phân vùng rủi ro do Bộ Nông Nghiệp
và Môi trường xây dựng. Phân vùng này được sử dụng làm nền không gian cho
các phân tích nhưng mức rủi ro của thành phố và các ngành còn phụ thuộc vào các
yếu tố như mức độ dễ bị tổn thương và năng lực của các phường xã và các ngành.
3.1.2. Phương pháp đánh giá rủi ro
Rủi ro thiên tai được đánh giá trên cơ sở xem xét tổng hợp đặc điểm và khả
năng xảy ra của hiểm họa, mức độ phơi nhiễm, tính dễ bị tổn thương và năng lực
phòng ngừa, ứng phó, phục hồi. Mức rủi ro được xác định bằng phương pháp định
tính có cấu trúc, trên cơ sở đối chiếu các yếu tố nêu trên với thang đánh giá thống
nhất. Đối với rủi ro đa thiên tai, việc tổng hợp xem xét hiểm họa chi phối, khả năng
các hiểm họa xảy ra đồng thời hoặc liên tiếp và nguy cơ phát sinh tác động dây
chuyền.
Năng lực phòng ngừa, quan trắc, dự báo, cảnh báo, sơ tán, ứng phó và phục
hồi được xem xét như một thành phần của đánh giá tổng hợp. Năng lực tốt có tác
dụng hạn chế thiệt hại và làm giảm rủi ro thực tế; ngược lại, những hạn chế về công
trình, dữ liệu, nguồn lực, điểm sơ tán, khả năng dự phòng và duy trì các dịch vụ
thiết yếu có thể làm gia tăng rủi ro. Báo cáo không thực hiện quy đổi cơ học năng
lực thành số điểm hoặc số bậc điều chỉnh.
Kết quả đánh giá được chia thành 5 bậc, sử dụng thống nhất cho các loại
hình thiên tai trong báo cáo.
Thang đánh giá rủi ro:
Bậc
Mức
rủi ro
Nội hàm
1
Thấp
Tác động chủ yếu mang tính cục bộ; ít đối tượng phơi nhiễm; chưa làm gián
đoạn đáng kể hoạt động và dịch vụ thiết yếu.
2
Trung
bình
Có thể ảnh hưởng đến một số khu vực, nhóm dân cư, ngành hoặc công trình;
việc ứng phó và khắc phục nhìn chung nằm trong năng lực thường xuyên của
địa phương.
3
Cao
Ảnh hưởng đến nhiều đối tượng hoặc trên phạm vi tương đối rộng; có thể
gây gián đoạn một số hạ tầng, dịch vụ thiết yếu và cần huy động phối hợp
nhiều lực lượng.
4
Rất cao
Ảnh hưởng diện rộng hoặc nghiêm trọng đến dân cư, tài sản và hoạt động
kinh tế; có thể làm gián đoạn đồng thời nhiều hệ thống thiết yếu và gây quá
tải cục bộ năng lực ứng phó.
5
Đặc biệt
cao
Kịch bản có hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, có khả năng gây thiệt hại lớn về
người hoặc làm gián đoạn kéo dài nhiều hệ thống; có nguy cơ vượt năng lực
ứng phó thông thường của thành phố.
Nguyên tắc tổng hợp rủi ro đa thiên tai
Rủi ro đa thiên tai không được xác định bằng cách cộng điểm hoặc lấy trung
bình cơ học mức rủi ro của các hiểm họa riêng lẻ, mà được tổng hợp trên cơ sở xem
xét:
Mức rủi ro của các hiểm họa chi phối tại từng địa bàn;
Khả năng các hiểm họa xảy ra đồng thời, liên tiếp hoặc kích hoạt lẫn nhau;
Mức độ tập trung dân cư, tài sản, hoạt động kinh tế và hạ tầng thiết yếu;
Các yếu tố dễ bị tổn thương chung đối với nhiều loại hình thiên tai;
Khả năng xảy ra gián đoạn dây chuyền giữa giao thông, điện, viễn thông,
cấp nước, y tế, cảnh báo và các dịch vụ thiết yếu;
Khả năng duy trì ứng phó và phục hồi khi nhiều địa bàn hoặc hệ thống cùng
bị ảnh hưởng.
3.1.3. Mức độ đầy đủ của dữ liệu và độ tin cậy của kết quả đánh giá
Đánh giá rủi ro trong Kế hoạch được thực hiện trên cơ sở các thông tin, số
liệu và tài liệu hiện có tại thời điểm lập Kế hoạch, bao gồm số liệu quan trắc khí
tượng thủy văn, báo cáo tổng kết tình hình thiên tai hàng năm và báo cáo thiệt
hại, cơ sở dữ liệu về dân cư, hạ tầng, kinh tế của thành phố và cấp xã, bản đồ
phân vùng hiểm họa hiện có, kết quả khảo sát thực tế, các nghiên cứu và dự án
liên quan. Do mức độ sẵn có, thời gian quan trắc, độ chi tiết theo không gian và
mức độ cập nhật của dữ liệu khác nhau giữa các loại hình thiên tai, độ tin cậy
của kết quả đánh giá cũng có sự khác biệt.
Đối với bão, mưa lớn, lũ và ngập lụt, thành phố có tương đối nhiều số liệu
quan trắc, hồ sơ các sự kiện lịch sử, số liệu thiệt hại, khảo sát vết lũ và dữ liệu
không gian nên có thể đánh giá tương đối rõ về tần suất, phạm vi và các khu vực
chịu tác động. Trong khi đó, đối với lũ quét, sạt lở đất và sạt lở bờ sông, bờ biển,
dữ liệu đã cho phép xác định các khu vực trọng điểm nhưng còn thiếu chuỗi theo
dõi đồng nhất, bản đồ chi tiết và dữ liệu về điều kiện kích hoạt tại từng vị trí.
Đối với hạn hán, xâm nhập mặn, động đất và sóng thần, dữ liệu của địa
phương còn hạn chế nên một phần đánh giá phải dựa vào hiện trạng nguồn nước,
công trình, các nghiên cứu chuyên ngành, bản đồ hoặc kịch bản cấp quốc gia. Ví
53
dụ, số liệu thiệt hại do hạn hán và xâm nhập mặn chưa được thống kê riêng đầy
đủ. Riêng đối với động đất còn thiếu phân vùng địa chấn chi tiết và đánh giá khả
năng chịu động đất của công trình. Đối với sóng thần chưa có mô phỏng ngập
chi tiết cập nhật theo địa hình và dân cư hiện nay.
Vì vậy, các mức rủi ro trong Kế hoạch cần được hiểu là đánh giá tương
đối phục vụ xác định ưu tiên quản lý và đầu tư, dựa trên bằng chứng tốt nhất
hiện có, không phải là kết quả định lượng có cùng mức độ chắc chắn đối với
mọi loại hiểm họa. Đối với các hiểm họa có dữ liệu hạn chế nhưng hậu quả tiềm
tàng lớn, Kế hoạch áp dụng cách tiếp cận thận trọng, đồng thời ưu tiên bổ sung
các giải pháp điều tra, quan trắc, bản đồ và cải thiện cơ sở dữ liệu trong giai
đoạn 2026-2030 để cập nhật kết quả đánh giá.
3.2 Đánh giá rủi ro với Áp thấp nhiệt đới và bão
Nhận định chung về rủi ro do bão
Bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Huế chủ yếu từ tháng 9 đến tháng
11. Trong giai đoạn 2020-2025, năm nào địa bàn cũng chịu ảnh hưởng của ít
nhất một cơn bão, áp thấp nhiệt đới hoặc hoàn lưu bão. Tuy nhiên, số cơn đổ bộ
trực tiếp không nhiều và không thể hiện xu thế tăng đều. Đặc điểm quan trọng
hơn là hoàn lưu bão thường tương tác với không khí lạnh, dải hội tụ nhiệt đới
hoặc nhiễu động gió Đông, gây mưa rất lớn, lũ, ngập lụt và sạt lở trên phạm vi
rộng. Vì vậy, rủi ro do bão tại Huế không chỉ là rủi ro do gió mà là rủi ro đa
hiểm họa, gồm gió mạnh, sóng lớn, nước dâng, mưa lớn, ngập lụt, sạt lở và gián
đoạn hạ tầng thiết yếu.
Các sự kiện lịch sử cho thấy bão mạnh có khả năng tác động trực tiếp đến
khu vực Huế. Bão Xangsane năm 2006 đạt cấp 13 khi vào bờ gần Huế, gây thiệt
hại lớn cho Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng và Quảng Nam. Báo cáo của IFRC
14
ghi
nhận riêng Thừa Thiên Huế có 422 nhà bị phá hủy và 14.201 nhà bị hư hỏng và
khoảng 50.000 người phải sơ tán. Sự kiện này cho thấy quy mô thiệt hại có thể
tăng rất nhanh khi bão mạnh tác động trực tiếp, ngay cả khi năng lực sơ tán đã
được huy động ở quy mô lớn..
Gần đây hơn, bão số 5 năm 2020 cho thấy ngay một cơn bão không thuộc
nhóm cực đoan nhất cũng có thể gây thiệt hại đáng kể: 1 người chết, 23 người bị
thương và 2.447 nhà bị tốc mái. Năm 2024, bão số 6 gây gió cấp 8-9 tại khu vực
gần tâm và giật cấp 10-11 tại ven biển; 999 nhà bị hư hỏng, trong đó 964 nhà
thuộc Phú Lộc cũ và riêng Lăng Cô có 484 nhà bị ảnh hưởng
15
. Những bằng
chứng này cho thấy tác động của bão với Huế hiện ở mức cao, mặc dù bão rất
mạnh không xảy ra thường xuyên.
Trường hợp 01: Áp thấp nhiệt đới và bão cấp 8-9; Bão mạnh cấp 10,
cấp 11 hoạt động ở vùng biển ven bờ; Bão rất mạnh cấp 12 đến cấp 13 hoạt
động trên Biển Đông
14
Typhoon Xangsane, Information Bulletin No. 1, 02 October 2006, IFRC
15
Theo báo cáo tổng kết công tác PCTT hàng năm
Tần suất và cường độ
Đây là nhóm tình huống có khả năng ảnh hưởng đến Huế thường xuyên
nhất. Trong giai đoạn 2020-2025, Huế hầu như năm nào cũng chịu ảnh hưởng
của bão, áp thấp nhiệt đới hoặc hoàn lưu bão, dù số cơn đổ bộ trực tiếp không
nhiều và biến động lớn giữa các năm. Bão thường ảnh hưởng trong tháng 9-11,
nhưng hoàn lưu có thể gây mưa lớn ngoài mùa chính, như đợt mưa lũ tháng
6/2025 do bão số 1.
Tác động không chỉ phụ thuộc cấp bão trên Biển Đông. Một bão cấp 10-
13 ngoài khơi có thể chưa gây gió mạnh trực tiếp trên đất liền Huế, nhưng vẫn
tạo sóng lớn, biển động, gián đoạn hoạt động trên biển và mưa lớn nếu hoàn lưu
rộng hoặc kết hợp với không khí lạnh, dải hội tụ nhiệt đới và nhiễu động gió
Đông. Năm 2025, Biển Đông có 15 cơn bão và 7 áp thấp nhiệt đới; Huế chịu
ảnh hưởng của hoàn lưu sáu cơn bão, cho thấy tần suất tác động gián tiếp có thể
cao hơn nhiều so với tần suất đổ bộ.
Bão số 6 năm 2024 là chỉ báo rõ về hậu quả của kịch bản này: gió cấp 8-9,
ven biển giật cấp 10-11 đã làm 999 nhà hư hỏng, trong đó 964 nhà thuộc địa bàn
Phú Lộc cũ và 484 nhà tại Lăng Cô.
Mức độ phơi nhiễm
Ở kịch bản này, phạm vi phơi nhiễm trực tiếp tập trung chủ yếu tại dải
ven biển, cửa sông và ven đầm phá, nhưng tác động do hoàn lưu, mưa lớn, cây
đổ và gián đoạn dịch vụ có thể mở rộng trên toàn thành phố.
Vùng phơi nhiễm trực tiếp cao nhất tập trung tại:
Dải ven biển và cửa sông: Phong Quảng, Thuận An, Phú Vinh, Phú Vang,
Vinh Lộc, Phú Lộc và Chân Mây-Lăng Cô;
Vùng ven đầm phá và đồng bằng thấp: Quảng Điền, Đan Điền, Phú Hồ,
Dương Nỗ, Hóa Châu và các vùng sản xuất ven phá;
Khu vực đô thị: Phú Xuân, Thuận Hóa, An Cựu, Vỹ Dạ, Thanh Thủy và
Hương Thủy, nơi tập trung đông dân cư, nhà ở, bệnh viện, trường học, thương
mại, di sản và hạ tầng thiết yếu.
Về người và nhà ở, các khu vực phơi nhiễm cao gồm Phong Quảng,
Thuận An, Quảng Điền, Đan Điền, Phú Vang, Phú Vinh, Vinh Lộc, Phú Lộc và
Chân Mây-Lăng Cô. Đây là những địa bàn có dân cư tập trung dọc biển, cửa
sông hoặc phía trong dải cồn cát, nơi có thể đồng thời chịu gió mạnh, sóng, nước
dâng và xói lở. Khu vực đô thị Phú Xuân, Thuận Hóa, An Cựu, Vỹ Dạ, Hóa
Châu, Dương Nỗ và Thanh Thủy ít chịu sóng và nước dâng trực tiếp hơn nhưng
có mật độ dân cư, nhà ở và tài sản lớn, nên số người và giá trị tài sản bị ảnh
hưởng bởi cây đổ, tốc mái, mất điện và gián đoạn giao thông có thể cao.
Về hạ tầng, các tài sản phơi nhiễm trực tiếp gồm đường ven biển, Quốc
lộ 49B, cầu và đường kết nối cửa Thuận An, cảng cá, khu neo đậu, hệ thống
điện, trạm BTS, trường học, trạm y tế và công trình công cộng. Các tuyến đường
xã, đường thôn và ngầm tràn tại vùng ven biển, ven phá và nông thôn có thể bị
55
ngập hoặc hư hỏng, ảnh hưởng đến sơ tán và cứu hộ. Mất điện cục bộ có thể kéo
theo gián đoạn viễn thông, cấp nước, hoạt động y tế và truyền tin cảnh báo.
Về kinh tế, thủy sản là lĩnh vực phơi nhiễm cao nhất vì tàu nhỏ, thuyền
nan, lồng bè, chòi canh và ao nuôi nằm trực tiếp trên biển và đầm phá. Du lịch
ven biển tại Thuận An, Vinh Lộc và Chân Mây-Lăng Cô; rừng trồng tại Phú Lộc
và miền núi; sản xuất nông nghiệp tại đồng bằng phía Bắc và ven phá; cùng các
cơ sở thương mại, dịch vụ khu vực này cũng có mức phơi nhiễm cao. Cảng
Chân Mây và sân bay Phú Bài có thể không chịu hư hỏng kết cấu lớn trong kịch
bản này nhưng vẫn có thể phải tạm dừng hoạt động, gây thiệt hại gián tiếp.
Mức phơi nhiễm tổng hợp: cao trên toàn thành phố; rất cao tại ven biển,
cửa sông, ven phá và các khu vực dân cư, tài sản tập trung nằm gần đường đi
của bão.
Mức độ dễ bị tổn thương và Năng lực phòng ngừa, ứng phó
Dữ liệu nhà ở cho thấy, đa số nhà ở thuộc nhóm kiên cố hoặc bán kiên cố,
nhưng vẫn còn khoảng 19,6% nhà bán kiên cố, 3,9% nhà thiếu kiên cố và 0,4%
nhà đơn sơ. Tỷ lệ nhà thiếu kiên cố hoặc đơn sơ cao tại Long Quảng, Lộc An, A
Lưới 1, Kim Trà, Quảng Điền, Bình Điền, Phú Lộc, Phú Vinh và Vinh Lộc.
Mức dễ bị tổn thương thực tế còn cao hơn tại những nhà nằm riêng lẻ, ở khu vực
trống trải, sát biển, ven sông.
Theo hướng dẫn an toàn nhà ở của Bộ Xây dựng, các hộ ở nhà đơn sơ
phải sơ tán khi bão trên cấp 8; các nhà thiếu kiên cố phải gia cố khi gió đạt cấp
8-10 và nhà bán kiên cố tại vị trí trống trải phải gia cố khi bão cấp 9-10. Như
vậy, ngay trong kịch bản 1, các hộ sống trong nhà đơn sơ, nhà thiếu kiên cố và
một phần nhà bán kiên cố đã cần gia cố hoặc sơ tán.
Thiệt hại năm 2024 cho thấy tính dễ bị tổn thương tập trung rõ tại Phú
Lộc-Lăng Cô. Nhiều nhà ở, quán ăn và công trình dịch vụ ven biển bị tốc mái
hoặc hư hỏng do cây đổ, dù sự kiện chưa đạt mức bão rất mạnh trên đất liền.
Đây là bằng chứng cho thấy chất lượng mái, vị trí công trình, mức độ che chắn
và khả năng gia cố có vai trò quyết định.
Về hạ tầng, theo thống kê từ cấp xã đến cuối tháng 07 năm 2026, hiện nay
cơ sở hạ tầng vẫn còn một số hạn chế góp phần làm gia tăng tính dễ bị tổn
thương như:
11,3% cột điện sau công tơ hộ gia đình được báo cáo là tạm bợ hoặc thiếu
an toàn;
25,2% trường học nằm trong vùng rủi ro cao;
55,8% cơ sở y tế chưa có điện dự phòng;
Đường thôn, đường xã và ngầm tràn có tỷ lệ xuống cấp tương đối cao.
Các nhóm dễ bị tổn thương gồm người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em,
phụ nữ mang thai, người nghèo và người tạm trú (thường ít hiểu biết về điều
kiện địa hình, đặc điểm thiên tai tại địa phương). Dữ liệu hiện có về các nhóm
này còn thiếu và chưa đồng đều giữa các xã, phường, nên quy mô thực tế có thể
lớn hơn số đã tổng hợp trên cơ sở dữ liệu PCTT.
Thành phố có năng lực cảnh báo và chỉ huy tương đối tốt đối với các tình
huống thường gặp, với hệ thống Hue-S, IOC, tổng đài 112, truyền thanh cơ sở,
tin nhắn của các nhà mạng, mạng xã hội, điện thoại vệ tinh và vô tuyến dự
phòng. Việc kiểm đếm, kêu gọi tàu thuyền và sơ tán dân đã được triển khai thực
tế trong nhiều năm.
Theo số liệu tổng hợp từ cấp xã, hiện các địa phương có 480 điểm sơ tán
với tổng sức chứa khoảng 85.752 người. Tuy nhiên, điều kiện phục vụ chưa
đồng đều: 381 điểm có nước sinh hoạt, 340 điểm có nhà vệ sinh riêng, 196 điểm
có bếp nấu và 239 điểm tiếp cận được bằng xe lăn. Năng lực cũng phân bố
không tương xứng hoàn toàn với rủi ro; Thuận An, Chân Mây-Lăng Cô, Phong
Quảng và Phú Vinh có số điểm hoặc sức chứa tập trung tương đối thấp so với
quy mô dân cư.
Kinh nghiệm ứng phó cho thấy thành phố có khả năng tổ chức sơ tán hàng
nghìn hộ khi dự báo đủ sớm. Tuy nhiên, thiệt hại năm 2024 vẫn cho thấy hạn chế
trong gia cố nhà ở, công trình dịch vụ, rừng trồng và bảo vệ tài sản ngoài trời.
Kết luận mức độ rủi ro
Kết quả phân vùng rủi ro theo kịch bản này thể hiện tại Bản đồ VIII.1,
Phụ lục VIII
Rủi ro chung của thành phố ở mức cao nhưng rủi ro cục bộ tại các khu
vực Phú Lộc-Chân Mây-Lăng Cô và các khu vực sát biển, cửa sông thuộc Thuận
An, Phong Quảng, Phú Vinh và Vinh Lộc được xem là rất cao.
Rủi ro cao: phần lớn đồng bằng, đô thị, ven biển và ven phá; Rủi ro trung
bình đến cao: vành đai Hương Trà-Kim Trà-Hương An-Kim Long-Bình Điền;
Rủi ro gió trực tiếp thấp: miền núi phía Tây; tuy nhiên có thể tăng lên cao nếu
tính mưa lớn, sạt lở, cây đổ và chia cắt giao thông.
Theo ngành, thủy sản và nhà ở chất lượng thấp có rủi ro rất cao; lâm
nghiệp, du lịch ven biển, điện-viễn thông và giao thông có rủi ro cao; công
nghiệp, thương mại, y tế và giáo dục có rủi ro trung bình đến cao, chủ yếu do
gián đoạn hoạt động.
Bão cấp 12-15 hoạt động trên vùng biển ven bờ; hoặc bão từ cấp 14
trở lên hoạt động trên Biển Đông
Tần suất và cường độ
Kịch bản này ít xảy ra hơn nhưng đã có cơ sở thực tế rõ. Yagi năm 2024
đạt cấp 15-16 trên Bắc Biển Đông; vùng biển ven bờ và đất liền chịu gió thấp
hơn nhưng vẫn xảy ra sóng rất lớn, nước dâng, mưa cực đoan và thiệt hại dây
chuyền. Kalmaegi năm 2025 đạt cấp 12-14 ở vùng ven bờ khu vực Nam Trung
Bộ. Hai sự kiện này cho thấy bão rất mạnh có thể xảy ra và thậm chí khi suy yếu
trước khi vào bờ vẫn gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng do hoàn lưu rộng, tốc
độ di chuyển, sóng lớn và tác động liên hoàn.
57
Đối với Huế, bão từ cấp 14 trở lên trên Biển Đông chưa chắc gây gió trực
tiếp nghiêm trọng nếu còn xa hoặc lệch hướng. Rủi ro tăng mạnh khi bão tiếp
tục hướng vào Trung Trung Bộ, duy trì cấp 12-15 trên vùng biển ven bờ hoặc
trùng với triều cao và mưa lớn.
Mức độ phơi nhiễm
Trong kịch bản này, trường gió rộng hơn và cường độ lớn hơn làm phạm
vi phơi nhiễm trực tiếp mở rộng từ ven biển vào toàn bộ vùng đồng bằng, đô thị
và vành đai phía Tây thành phố.
Về dân số, phần lớn dân cư của thành phố có thể chịu tác động trực tiếp
hoặc gián tiếp. Dải Phong Quảng-Thuận An-Phú Vinh-Vinh Lộc-Phú Lộc-Chân
Mây-Lăng Cô chịu ảnh hưởng của gió, sóng và nước dâng mạnh nhất. Các khu
đô thị Phú Xuân, Thuận Hóa, An Cựu, Vỹ Dạ và Phú Bài có mật độ dân cư,
công trình và tài sản lớn, nên tổn thất kinh tế, hạ tầng và số người bị ảnh hưởng
có thể rất cao. Phạm vi dân cư cần sơ tán có thể mở rộng từ các hộ nhà yếu sang
cả các hộ sống trong nhà kiên cố nhưng ở vị trí trống trải, ven biển, ven sông
hoặc trong vùng nước dâng.
Về nhà ở và công trình dân dụng, hàng trăm nghìn căn nhà, công trình
phụ, nhà trọ, khách sạn, trường học, bệnh viện, chợ và công trình công cộng
nằm trong vùng ảnh hưởng. Các khu vực có nhiều nhà bán kiên cố và thiếu kiên
cố như Long Quảng, Lộc An, A Lưới 1, Kim Trà, Quảng Điền, Phú Lộc, Phú
Vinh, Phong Phú và Đan Điền có mức phơi nhiễm cần đặc biệt lưu ý.
Về hạ tầng thiết yếu, cảng Chân Mây, sân bay Phú Bài, Quốc lộ 1,
đường sắt Bắc-Nam, cao tốc, các tuyến đường ven biển, hệ thống điện 110-220
kV, lưới phân phối, khoảng 1.700 trạm BTS, các nhà máy nước và cơ sở y tế
đều nằm trong phạm vi có thể bị tác động. Rủi ro không chỉ là nguy cơ gây hư
hỏng trực tiếp mà còn là tác động và gián đoạn dây chuyền. Chẳng hạn, mất điện
có thể làm gián đoạn BTS, trạm bơm nước, cơ sở y tế, sản xuất công nghiệp và
hệ thống cảnh báo; đường bị cây đổ hoặc ngập có thể làm chậm khôi phục điện
và cứu hộ. Các báo cáo về thiệt hại cũng cho thấy điện, viễn thông, cấp nước và
giao thông có quan hệ phụ thuộc, làm tổn thất gián tiếp tăng nhanh khi một hệ
thống bị gián đoạn.
Về kinh tế, phần lớn các ngành chủ lực đều bị phơi nhiễm:
Cảng, logistics và công nghiệp tại Chân Mây-Lăng Cô, Phú Bài và Phong
Điền;
Du lịch, thương mại và dịch vụ tại khu vực đô thị, di sản, Thuận An và
Lăng Cô;
Nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản tại ven biển và đầm phá;
Nông nghiệp tại đồng bằng phía Bắc, vùng ven phá và phía Nam thành phố;
Lâm nghiệp và rừng trồng tại Phú Lộc, Bình Điền, Nam Đông, Long
Quảng và A Lưới.
Do khu vực dịch vụ và công nghiệp-xây dựng chiếm trên 80% GRDP,
việc cảng, sân bay, khu công nghiệp, trung tâm thương mại, cơ sở lưu trú và
giao thông ngừng hoạt động có thể tạo ra tổn thất kinh tế lớn hơn nhiều so với
giá trị tài sản hư hỏng trực tiếp.
Về hệ sinh thái, đầm phá Tam Giang-Cầu Hai, cửa Thuận An, cửa Tư
Hiền, dải cồn cát, bãi biển, rừng phòng hộ và vùng cửa sông đều phơi nhiễm
trước sóng, nước dâng, xói lở và thay đổi độ mặn. Tổn thương hệ sinh thái có
thể làm giảm khả năng bảo vệ tự nhiên và ảnh hưởng kéo dài đến thủy sản, du
lịch và sinh kế.
Mức phơi nhiễm tổng hợp: rất cao tại toàn bộ đồng bằng, đô thị, ven
biển và ven phá; đặc biệt cao tại các đầu mối dân cư, kinh tế và hạ tầng ven biển.
Mức độ dễ bị tổn thương và Năng lực phòng ngừa, ứng phó
Khi bão cấp 12-15 xảy ra, khả năng chịu gió của nhiều loại nhà bị vượt
ngưỡng. Theo hướng dẫn về nhà ở an toàn, các hộ dân sống ở nhà đơn sơ và
thiếu kiên cố, nhà bán kiên cố ở vị trí trống trải phải sơ tán khi bão trên cấp 10,
nhà kiên cố ở vị trí trống trải phải sơ tán khi bão trên cấp 11. Ngay cả nhà kiên
cố xây thành cụm, có che chắn cũng phải gia cố ở cấp 12. Vì vậy, nhu cầu sơ tán
không chỉ giới hạn ở khoảng 4,3% nhà thiếu kiên cố và đơn sơ mà có thể bao
gồm phần lớn nhà bán kiên cố và nhiều nhà được phân loại kiên cố nhưng không
được thiết kế theo tiêu chuẩn chịu bão tương ứng.
Các địa bàn dễ bị tổn thương cao nhất là nơi đồng thời có vị trí ven biển,
dân cư đông, tỷ lệ nhà bán kiên cố hoặc thiếu kiên cố đáng kể và năng lực trú
tránh hạn chế, gồm Phú Lộc, Phú Vinh, Vinh Lộc, Quảng Điền, Đan Điền, Phú
Vang, Phong Quảng, Thuận An và Chân Mây-Lăng Cô.
Đối với hạ tầng, nguy cơ chính là gián đoạn đồng thời nhiều hệ thống và
dịch vụ. Việc 55,8% cơ sở y tế chưa có điện dự phòng, một phần trường học
nằm trong vùng rủi ro cao và mạng lưới giao thông cơ sở còn nhiều điểm xuống
cấp làm tăng khả năng gián đoạn cứu hộ, y tế và cung ứng thiết yếu.
Thủy sản có mức dễ bị tổn thương đặc biệt cao vì phần lớn tàu nhỏ, lồng
bè và tài sản nuôi trồng không thể chịu gió, sóng cấp 12-15. Lâm nghiệp, du lịch
ven biển, cảng-logistics, điện, viễn thông và cấp nước cũng có nguy cơ thiệt hại
diện rộng hoặc ngừng hoạt động kéo dài.
Số liệu thiệt hại giai đoạn 2020-2025 cho thấy tổn thất tại Huế khi thiên
tai cực đoan xảy ra là rất lớn. Riêng các năm 2020, 2022 và 2025 chiếm gần
88% tổng giá trị thiệt hại giai đoạn.
Thành phố có hệ thống chỉ huy, cảnh báo đa kênh và kinh nghiệm sơ tán
quy mô lớn. Tuy nhiên, khả năng đáp ứng giảm đáng kể khi bão cấp 12-15 ảnh
hưởng đồng thời nhiều xã, phường.
Trong 480 điểm sơ tán thống kê tại cấp xã, chỉ 274 điểm với sức chứa
khoảng 61.371 người được địa phương xác định có thể sử dụng theo cấp siêu
59
bão. Bên cạnh đó, phân bố điểm sơ tán rất không đều, một số địa bàn rủi ro cao
chỉ có vài điểm hoặc sức chứa nhỏ.
Chỉ tiêu “điểm sơ tán theo cấp siêu bão” hiện là số liệu tổng hợp của địa
phương, chưa đồng nghĩa với việc công trình đã được kiểm định đầy đủ về kết
cấu, mái, cửa và vị trí theo từng cấp gió. Điều kiện duy trì lưu trú nhiều ngày
cũng còn hạn chế, nhất là bếp nấu, điện dự phòng và khả năng tiếp cận cho
người khuyết tật.
Năng lực thông tin có dự phòng nhưng có thể suy giảm khi mất điện diện
rộng. Báo cáo thiệt hại ghi nhận mất điện và mất sóng tại trạm viễn thông có thể
làm gián đoạn truyền lệnh và cảnh báo; việc khắc phục hạ tầng hư hỏng đôi khi
kéo dài qua mùa thiên tai tiếp theo.
Kết luận mức độ rủi ro
Kết quả phân vùng rủi ro theo kịch bản này được thể hiện tại Bản đồ
VIII.2, Phụ lục VIII
Rủi ro chung của thành phố: rất cao. Tần suất thấp hơn kịch bản 1
nhưng hậu quả tăng nhanh, phạm vi sơ tán lớn và nguy cơ gián đoạn đồng thời
nhiều hệ thống có thể làm năng lực địa phương bị quá tải.
Rủi ro đặc biệt cao: Chân Mây-Lăng Cô, Phú Lộc, Vinh Lộc, Phú Vinh,
Phú Vang, Thuận An và Phong Quảng khi chịu tác động trực tiếp.
Rủi ro rất cao: toàn bộ đồng bằng, đô thị, ven biển và ven phá.
Rủi ro hệ thống rất cao: Phú Xuân, Thuận Hóa, An Cựu, Vỹ Dạ, Phú
Bài và các đầu mối cảng, sân bay, điện, viễn thông, y tế và cấp nước.
Rủi ro cao: vành đai phía Tây đô thị; miền núi có thể chịu rủi ro cao do
cây đổ, mất điện, sạt lở và cô lập dù cường độ gió thấp hơn ven biển.
Theo ngành, thủy sản và an toàn nhà ở có rủi ro đặc biệt cao; điện-viễn
thông-cấp nước, giao thông, cảng-logistics, lâm nghiệp và du lịch có rủi ro rất
cao; y tế, giáo dục, công nghiệp, thương mại và di sản có rủi ro cao đến rất cao.
Siêu bão từ cấp 16 trở lên hoạt động trên vùng biển ven bờ hoặc trên
đất liền
Tần suất và cường độ
Đây là kịch bản có tần suất rất thấp hoặc chưa xác định từ chuỗi quan trắc
tại địa phương. Một số trận bão lớn như Yagi đạt cấp 16 trên Biển Đông hay
Kalmaegi đạt cấp 14-15 trên biển cho thấy khả năng siêu bão xảy ra không phải
là kịch bản không tưởng. Hai sự kiện này cũng cho thấy bão có thể đạt cường độ
cực lớn gần Việt Nam và giảm cấp khi vào gần bờ nhưng vẫn gây hậu quả đặc
biệt nghiêm trọng.
Siêu bão duy trì cấp 16 đến vùng biển ven bờ hoặc đất liền Huế là kịch
bản hậu quả cực đại, có thể thiệt hại nghiêm trọng về người, hạ tầng, tài sản và
nền kinh tế.
Mức độ phơi nhiễm
Trong kịch bản siêu bão, toàn bộ thành phố sẽ bị ảnh hưởng nặng mặc
dù mức độ tác động có sự khác nhau giữa ven biển, đô thị và miền núi.
Toàn bộ cư dân của thành phố có thể chịu tác động trực tiếp. Tất cả các
ngành kinh tế đều có mức độ phơi nhiễm rất cao. Thủy sản và tài sản ngoài trời
có thể bị mất gần như hoàn toàn tại vùng tác động trực tiếp; du lịch, thương mại,
công nghiệp và logistics có thể đình trệ dài ngày; di sản và hệ sinh thái có thể
chịu những tổn thất khó phục hồi.
Về hạ tầng, gần như toàn bộ hệ thống thiết yếu đều nằm trong vùng có
khả năng bị gián đoạn: cảng Chân Mây, sân bay Phú Bài, đường bộ, đường sắt,
mạng điện, viễn thông, cấp nước, thoát nước, bệnh viện, trường học, kho dự trữ,
trung tâm chỉ huy và điểm sơ tán. Nguy cơ lớn nhất là nhiều hệ thống hạ tầng
thiết yếu có thể bị phá hủy đồng thời. Các tuyến giao thông ven biển và miền núi
có thể bị chia cắt; cảng và sân bay có thể ngừng hoạt động; điện, thông tin và
nước sạch có thể bị gián đoạn kéo dài.
Mức phơi nhiễm tổng hợp: đặc biệt cao trên phạm vi toàn thành phố; tập
trung cao nhất tại dải ven biển-cửa sông-ven phá, khu vực đô thị trung tâm và
các đầu mối hạ tầng, kinh tế cấp thành phố và cấp vùng.
Mức độ dễ bị tổn thương và Năng lực phòng ngừa, ứng phó
Theo hướng dẫn an toàn nhà ở, toàn bộ nhà phi tiêu chuẩn được coi là
không an toàn trong siêu bão. Ngay cả nhà được cấp xã thống kê là kiên cố cũng
không chắc chắn chịu được cấp 16 nếu chưa xác định tiêu chuẩn thiết kế, liên
kết mái-tường-móng, chất lượng cửa, tuổi công trình và tình trạng xuống cấp.
Thiệt hại giai đoạn 2020-2025 cho thấy ngay các sự kiện thấp hơn siêu
bão đã có thể gây hàng chục nghìn nhà tốc mái, ngập diện rộng và gián đoạn
chức năng đô thị trong nhiều ngày.
Hệ thống chỉ huy, cảnh báo đa kênh, lực lượng quân đội-công an-biên
phòng và kinh nghiệm sơ tán là nền tảng quan trọng. Tuy nhiên, năng lực hiện
có nhiều khả năng bị vượt ngưỡng trong siêu bão.
Sức chứa khoảng 61.371 người tại các điểm sơ tán do cấp xã báo cáo theo
cấp siêu bão thấp hơn nhiều so với quy mô dân số có thể phải sơ tán. Phân bố
điểm trú tránh không đồng đều, điều kiện lưu trú dài ngày còn hạn chế và mức
an toàn kết cấu chưa được xác nhận đầy đủ.
Kết luận mức độ rủi ro
Kết quả phân vùng rủi ro theo kịch bản này được thể hiện tại Bản đồ
VIII.3, Phụ lục VIII
Mức rủi ro theo sự kiện: đặc biệt cao, có khả năng gây hậu quả nghiêm
trọng trên phạm vi toàn thành phố.
Do tần suất rất thấp hoặc chưa xác định, nhưng đây là kịch bản có hậu quả
tiềm tàng lớn nhất và có khả năng vượt năng lực ứng phó tại chỗ.
61
Rủi ro đặc biệt cao trực tiếp: toàn bộ dải ven biển, cửa sông và ven phá;
Rủi ro hệ thống đặc biệt cao: đô thị trung tâm, cảng Chân Mây, sân bay
Phú Bài và các đầu mối điện, viễn thông, cấp nước, y tế;
Rủi ro rất cao: đồng bằng phía Bắc, vùng ven phá và vành đai phía Tây
đô thị;
Rủi ro cao đến rất cao: miền núi phía Tây do khả năng cô lập và mất
dịch vụ kéo dài.
Tất cả các ngành đều có rủi ro rất cao hoặc đặc biệt cao; ưu tiên hàng đầu
là an toàn dân cư và nhà ở, thủy sản, điện-viễn thông-cấp nước, giao thông,
y tế, cảng và logistics.
Mức rủi ro của ngành hoặc khu vực đặc thù có thể cao hơn mức chung
của thành phố do tập trung đồng thời nhiều yếu tố bất lợi. Chẳng hạn, trong
kịch bản 1, rủi ro chung của thành phố được xếp cao, nhưng thủy sản hoặc nhà
yếu tại Phú Lộc-Lăng Cô có thể ở mức rất cao do phơi nhiễm trực tiếp và khả
năng chịu gió thấp. Trong kịch bản 2, rủi ro chung là rất cao, nhưng các khu
dân cư sát biển, cảng-logistics và hệ thống điện-viễn thông có thể ở mức đặc
biệt cao do nguy cơ thiệt hại trực tiếp và gián đoạn dây chuyền.
Các mức này là đánh giá định tính tương đối. Chúng không thay thế kết
quả mô hình trường gió, nước dâng, kiểm định công trình và tính toán số người
phải sơ tán theo đường đi cụ thể của từng cơn bão.
Bảng 8. Tổng hợp mức độ rủi ro với áp thấp nhiệt đới và bão
Kịch bản
Mức rủi ro chung của thành
phố
Rủi ro đối với ngành, khu vực
đặc thù so với mức chung
1. ATNĐ, bão cấp
8-9; bão cấp 10-11
hoạt động vùng
biển ven bờ; bão
cấp 12-13 hoạt
động trên Biển
Đông
Cao. Năng lực hiện tại có thể
giảm đáng kể thiệt hại về người
nếu cảnh báo và sơ tán sớm,
nhưng tổn thất nhà ở, sản xuất,
rừng trồng, thủy sản và điện vẫn
có thể lớn.
Rất cao, cao hơn mức chung:
thủy sản; nhà đơn sơ, thiếu kiên cố
tại vị trí trống trải; Phú Lộc-Chân
Mây-Lăng Cô và các khu sát biển
thuộc Thuận An, Phong Quảng,
Phú Vinh, Vinh Lộc khi gần đường
đi của bão.
Cao: lâm nghiệp, du lịch ven biển,
điện-viễn thông, giao thông ven
biển; đồng bằng, đô thị và ven phá.
2. Bão cấp 12-15
hoạt động trên
vùng biển ven bờ;
hoặc bão từ cấp 14
trở lên hoạt động
trên Biển Đông
Rất cao. Tần suất thấp hơn kịch
bản 1 nhưng quy mô người, tài
sản và hệ thống bị ảnh hưởng
lớn hơn nhiều; nguy cơ quá tải
năng lực sơ tán, cứu hộ và khôi
phục khi nhiều địa bàn đồng thời
chịu tác động.
Đặc biệt cao hoặc rất cao, cao
hơn mức chung: Chân Mây-Lăng
Cô, Phú Lộc, Vinh Lộc, Phú Vinh,
Phú Vang, Thuận An, Phong
Quảng; thủy sản; nhà ở phi tiêu
chuẩn; cảng-logistics; điện-viễn
thông-cấp nước.
Rất cao: giao thông, lâm nghiệp,
du lịch, đô thị Phú Xuân-Thuận
Hóa-An Cựu-Vỹ Dạ và các cơ sở y
tế, giáo dục quan trọng.
3. Siêu bão từ cấp
16 trở lên hoạt
động trên vùng
biển ven bờ hoặc
trên đất liền
Đặc biệt cao nếu xảy ra, có khả
năng gây hậu quả nghiêm
trọng trên toàn thành phố. Rủi
ro thường niên chưa thể định
lượng do xác suất thấp, nhưng
đây là kịch bản có hậu quả tiềm
tàng lớn nhất.
Đặc biệt cao: an toàn dân cư và
nhà ở; thủy sản; dải ven biển-cửa
sông-ven phá; cảng Chân Mây;
điện-viễn thông-cấp nước; giao
thông và logistics.
Đặc biệt cao về rủi ro hệ thống:
đô thị trung tâm, sân bay Phú Bài,
bệnh viện, trung tâm chỉ huy và
các đầu mối dịch vụ thiết yếu.
Rất cao: tất cả các ngành còn lại,
gồm công nghiệp, thương mại, du
lịch, giáo dục, lâm nghiệp, nông
nghiệp, di sản và môi trường.
3.3 Đánh giá rủi ro với mưa lớn, lũ và ngập lụt
Mưa lớn là tác nhân trực tiếp gây ngập do mưa tại chỗ, đồng thời hình
thành lũ sông, lũ quét, sạt lở đất. Tuy nhiên, lượng mưa không quyết định hoàn
toàn mức ngập ở hạ lưu. Diễn biến lũ còn phụ thuộc phân bố mưa trên từng lưu
vực, trạng thái bão hòa của đất, mực nước sông và đầm phá trước mưa, thủy
triều, khả năng thoát lũ, vận hành các hồ Tả Trạch, Bình Điền, Hương Điền và
việc xuất hiện một hay nhiều đỉnh lũ liên tiếp.
Vì vậy, đánh giá rủi ro trong phần này được tổ chức theo hai lớp:
Bốn kịch bản mưa lớn theo cường độ mưa cực đoan được dùng để phân
loại mức hiểm họa, nhận diện ngập do mưa, lũ quét, sạt lở và làm đầu vào cho
công tác cảnh báo, vận hành hồ và ứng phó.
Hai kịch bản lũ, ngập lụt được sử dụng để đánh giá đầy đủ rủi ro:
1. Kịch bản chính: Mực nước tại Kim Long và/hoặc Phú Ốc đạt hoặc
vượt báo động III; đồng thời ngập ảnh hưởng trên hơn một nửa số xã, phường
hoặc làm gián đoạn đáng kể các hệ thống thiết yếu; thời gian ngập phổ biến
khoảng 2-4 ngày.
2. Kịch bản cực đoan: lũ nhiều đỉnh, ngập sâu và kéo dài tương tự chuỗi
lũ cuối tháng 10-đầu tháng 11/2025.
Cách tiếp cận này phù hợp với mục tiêu của Kế hoạch PCTT 5 năm: đủ
nghiêm trọng để nhận diện điểm yếu, nhưng không tạo ra quá nhiều kịch bản
phức tạp và trùng lặp.
Cơ sở để lựa chọn báo động III làm ngưỡng của kịch bản chính: Theo
Quyết định số 05/2020/QĐ-TTg, mực nước báo động III tại trạm Kim Long
trên sông Hương là 3,50 m và tại trạm Phú Ốc trên sông Bồ là 4,50 m. Báo
động III là ngưỡng phản ánh tình trạng lũ nguy hiểm cao, đòi hỏi triển khai rộng
các biện pháp bảo vệ dân cư, công trình và hoạt động kinh tế.
63
Việc lựa chọn báo động III làm ngưỡng đánh giá không có nghĩa đây là
một tần suất lũ cố định. Báo động III là ngưỡng vận hành và ứng phó, còn tần
suất là xác suất thống kê của mực nước đỉnh lũ. Một mực nước báo động III tại
Kim Long và báo động III tại Phú Ốc có thể ứng với các tần suất khác nhau.
Tuy nhiên, số liệu thực tế giai đoạn 2020-2025 cho thấy báo động III là
ngưỡng phù hợp cho một kế hoạch 5 năm:
Sông Hương ghi nhận 30 trận lũ, trong đó 5 trận đạt từ báo động III trở
lên, tương đương trung bình khoảng 0,8 trận/năm;
Sông Bồ ghi nhận 30 trận lũ, trong đó 9 trận đạt từ báo động III trở lên,
tương đương khoảng 1,5 trận/năm.
Như vậy, lũ vượt báo động III không phải tình huống quá hiếm và có khả
năng xuất hiện nhiều lần trong chu kỳ kế hoạch. Bên cạnh đó, bản đồ ngập 2023
cho thấy, đây không phải trận có tần suất 1% đồng thời trên cả hai sông, nhưng
việc hai trạm cùng vượt báo động III vẫn gây ngập hơn 20 nghìn nhà và phải sơ
tán trên 17 nghìn người. Điều này cho thấy báo động III kết hợp phạm vi ngập và
thời gian kéo dài là ngưỡng thực tiễn phù hợp để đánh giá rủi ro cấp thành phố.
Mực nước ứng với các tần suất lũ và đối chiếu các trận lịch sử
Mục này đối chiếu mực nước đỉnh lũ tại các trạm Kim Long trên sông
Hương và Phú Ốc trên sông Bồ với các mức tần suất lũ đặc trưng, qua đó làm rõ
khả năng xuất hiện và quy mô tương đối của các trận lũ lịch sử. Việc đối chiếu
được thực hiện riêng cho từng trạm, vì trong cùng một sự kiện, tần suất lũ trên
sông Hương và sông Bồ có thể khác nhau đáng kể. Kết quả giúp đặt các trận lũ
năm 1999, 2020, 2022, 2023 và 2025 trong cùng một khung tham chiếu, đồng
thời hỗ trợ giải trình việc lựa chọn ngưỡng báo động III cho kịch bản lũ lớn của
Kế hoạch. Tuy nhiên, tần suất mực nước đỉnh chỉ phản ánh một khía cạnh của
mức độ nguy hiểm; phạm vi, độ sâu và thời gian ngập, số đỉnh lũ liên tiếp, mưa
trực tiếp ở hạ du và tác động điều tiết của các hồ chứa cũng cần được xem xét
khi đánh giá rủi ro tổng thể.
Bảng 9. Đối chiếu một số trận lũ lớn
Trận
lũ
Kim Long -
sông Hương
Tần suất
tham
chiếu
Phú Ốc -
sông Bồ
Tần suất
tham chiếu
Nhận xét
1999
5,81 m
Xấp xỉ P =
1%
5,18 m
Xấp xỉ P =
7%
Lũ lịch sử trên sông
Hương; xảy ra trước khi
hệ thống hồ lớn hiện nay
vận hành đầy đủ
2020
4,17 m
Xấp xỉ P =
25 %
5,24 m
Xấp xỉ P =
1%
Đặc biệt lớn trên sông Bồ;
nhiều đợt lũ liên tiếp và
ngập diện rộng
2022
4,00 m
Xấp xỉ P =
30%
5,00 m
Xấp xỉ P =
15%
Thiệt hại lớn do mưa lũ
và thời điểm sản xuất
nhạy cảm
2023
4,34 m
Xấp xỉ P =
20%
5,00 m
Xấp xỉ P =
15%
Hai sông cùng vượt báo
động III; ngập rộng tại
đồng bằng và đô thị
2025
5,05 m
Xấp xỉ P =
7%
5,31 m
Xấp xỉ P =
1%
Ba đỉnh lũ liên tiếp; ngập
32/40 xã, phường và kéo
dài nhiều ngày
Phân loại hiểm họa mưa lớn
Bốn kịch bản mưa dưới đây được sử dụng để nhận diện mức hiểm họa và
dạng tác động có thể phát sinh, không được quy đổi cơ học thành một tần suất
hoặc một cấp lũ cụ thể.
Bảng 10. Các kịch bản mưa
Kịch bản mưa
Đặc điểm hiểm
họa
Tác động chính và khu vực cần
lưu ý
KB01: Mưa 100-200 mm/24 giờ
hoặc 50-100 mm/12 giờ, kéo dài
1-2 ngày, trên dưới 1/2 số xã,
phường
Tương đối thường
xuyên, phạm vi
cục bộ hoặc theo
một phần lưu vực
Ngập cục bộ tại đô thị và vùng
trũng; ngập đường, ruộng và ao
nuôi; sạt lở nhỏ, nước lên nhanh
tại suối và ngầm tràn. Cần lưu ý
đô thị trung tâm, Hương Thủy,
vùng hạ lưu sông Bồ-Ô Lâu,
vùng ven phá và các tuyến miền
núi
KB02: Mưa 100-200 mm/24 giờ
hoặc 50-100 mm/12 giờ kéo dài
trên 2-4 ngày ở trung du, miền
núi và trên 2 ngày ở đồng bằng,
ven biển trên hơn 1/2 số xã,
phường; hoặc mưa trên 200-400
mm/24 giờ kéo dài 1-2 ngày trên
hơn 1/2 số xã, phường
Mưa lớn diện
rộng, kéo dài hoặc
có cường suất cao;
khả năng hình
thành lũ lớn rõ rệt
Lũ trên các sông chính, ngập
rộng ở đồng bằng-đô thị-ven phá;
sạt lở, chia cắt tại A Lưới, Nam
Đông, Khe Tre, Long Quảng và
Bình Điền
KB03: Mưa 100-200 mm/24 giờ
hoặc 50-100 mm/12 giờ kéo dài
trên 4 ngày ở trung du, miền núi;
mưa trên 200-400 mm/24 giờ kéo
dài trên 2-4 ngày ở miền núi hoặc
trên 2 ngày ở đồng bằng, ven
Mưa rất lớn hoặc
đặc biệt lớn, kéo
dài; đất bão hòa và
nhiều lưu vực
đồng thời sinh lũ
Ngập sâu, lũ lớn nhiều đỉnh, ngập
đô thị kéo dài; lũ quét, sạt lở và
cô lập ở miền núi; nguy cơ mất
đồng thời điện, giao thông, nước
và thông tin
65
biển; hoặc mưa trên 400 mm/24
giờ kéo dài 1-2 ngày ở miền núi
hoặc 1-4 ngày ở đồng bằng, ven
biển
KB04: Mưa trên 200-400 mm/24
giờ kéo dài trên 4 ngày ở trung
du, miền núi; hoặc mưa trên 400
mm/24 giờ kéo dài trên 2 ngày ở
miền núi hoặc trên 4 ngày ở đồng
bằng, ven biển
Hiểm họa cực
đoan, rất hiếm; có
khả năng vượt các
giá trị lịch sử và
ngưỡng vận hành
thông thường
Lũ đặc biệt lớn, ngập kéo dài, lũ
quét và sạt lở diện rộng; nguy cơ
vượt khả năng ứng phó tại chỗ
Diễn biến thiên tai năm 2025 cho thấy kịch bản cực đoan hoàn toàn có thể
phát sinh từ chuỗi hình thế thời tiết liên tiếp. Bạch Mã ghi nhận 1.739,6 mm/24
giờ; ngập ảnh hưởng 32/40 xã, phường và phát sinh 38 điểm sạt lở. Đồng thời,
mưa lũ trái mùa tháng 6/2025 và các đợt bất thường năm 2022 cho thấy thời
gian có nguy cơ không còn giới hạn trong tháng 9-12.
Đánh giá rủi ro với kịch bản chính
Mô tả kịch bản
Lũ trên sông Hương, sông Bồ hoặc các sông chính đạt hoặc vượt báo động
III; ngập xảy ra trên hơn một nửa số xã, phường, tập trung tại vùng hạ lưu, đồng
bằng, đô thị và ven đầm phá; thời gian ngập phổ biến khoảng 2-4 ngày, một số
vùng thấp trũng có thể kéo dài hơn.
Kịch bản này không gắn cố định với một tần suất duy nhất, vì tần suất mực
nước khác nhau giữa sông Hương, sông Bồ và các lưu vực khác. Đây là kịch bản
vận hành có khả năng xảy ra trong chu kỳ kế hoạch 5 năm và đủ nghiêm trọng
để bộc lộ các điểm yếu của hệ thống PCTT.
Tần suất và cường độ
Lũ lớn từ báo động III trở lên xảy ra tương đối thường xuyên, đặc biệt trên
sông Bồ. Giai đoạn 2020-2025, trung bình mỗi năm có khoảng 0,8 trận trên sông
Hương và 1,5 trận trên sông Bồ đạt từ báo động III. Năm 2023 có hai đợt lũ trên
báo động III, với đỉnh tại Kim Long 4,34 m và Phú Ốc 5,00 m; 22.342 nhà bị
ngập và thiệt hại khoảng 755,1 tỷ đồng.
Mức độ ngập phụ thuộc mạnh vào sự đồng thời giữa mưa trên các lưu vực,
mực nước nền, vận hành các hồ Tả Trạch, Bình Điền và Hương Điền, mực nước
đầm phá, triều và khả năng tiêu thoát. Vì vậy, ngay trong cùng một cấp báo
động, phạm vi và thời gian ngập có thể khác đáng kể.
Mức độ phơi nhiễm
Thành phố có dân cư, nhà ở, hạ tầng và tài sản tập trung cao tại vùng đồng
bằng, đô thị và vùng ven đầm phá, cũng là khu vực thường xuyên bị ngập lặp lại
trong các trận lũ năm 2020, 2023 và 2025.
Các khu vực phơi nhiễm cao nhất gồm:
Hạ lưu sông Ô Lâu-sông Bồ: Phong Điền, Phong Dinh, Phong Phú,
Phong Quảng, Quảng Điền, Đan Điền và Hương Trà;
Hạ lưu sông Hương và đô thị: Hóa Châu, Kim Long, Phú Xuân, Thuận
Hóa, Vỹ Dạ, Dương Nỗ, An Cựu, Thanh Thủy và Hương Thủy;
Đồng bằng thấp trũng ven phá: Thuận An, Phú Hồ, Phú Vang, Phú
Vinh, Vinh Lộc, Hưng Lộc, Lộc An và một phần Phú Lộc;
Miền núi và trung du: Bình Điền, Khe Tre, Nam Đông, Long Quảng và
A Lưới phơi nhiễm ít hơn đối với ngập hạ lưu nhưng cao đối với lũ suối, sạt lở
và chia cắt.
Hạ tầng phơi nhiễm gồm khu dân cư, trường học, cơ sở y tế, chợ, công
trình hành chính-cộng đồng, hệ thống điện, cấp nước, viễn thông, đường bộ,
đường sắt, sân bay Phú Bài và các tuyến kết nối đô thị-ven biển. Mạng lưới
đường xã, đường thôn và ngầm tràn trực tiếp phục vụ cộng đồng nhưng có mức
dự phòng thấp; riêng đường thôn có khoảng 239 km xuống cấp và đường xã
khoảng 113,6 km.
Về kinh tế, nông nghiệp và thủy sản có tài sản trực tiếp nằm trong vùng
ngập; dịch vụ, du lịch, thương mại, công nghiệp và vận tải chịu tổn thất lớn do
ngừng hoạt động, gián đoạn lao động, điện, nước và chuỗi cung ứng. Năm 2022
cho thấy mưa lũ không cần đạt mức lịch sử vẫn có thể gây thiệt hại rất lớn nếu
trùng thời điểm lúa sắp thu hoạch: hơn 20.000 ha lúa bị ảnh hưởng và thiệt hại
nông nghiệp khoảng 715 tỷ đồng.
Mức độ dễ bị tổn thương và năng lực phòng ngừa, ứng phó
Các yếu tố làm tăng mức dễ bị tổn thương gồm:
Nhà nằm ở địa hình thấp, tầng nền thấp, ven sông hoặc ven phá; đồ dùng,
phương tiện và thiết bị điện thường đặt ở tầng thấp;
Đường giao thông, ngầm tràn và cầu cống cơ sở dễ bị ngập, nước chảy
xiết hoặc trở thành điểm chia cắt;
Cơ sở y tế, trường học và nhà cộng đồng vừa phơi nhiễm với ngập vừa
phải duy trì chức năng cấp cứu, trú tránh và cứu trợ;
Nông nghiệp, thủy sản, chăn nuôi và các hộ kinh doanh nhỏ có khả năng
tự bảo vệ và phục hồi tài chính hạn chế;
Người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em, phụ nữ mang thai, hộ nghèo và
người tạm trú gặp khó khăn hơn trong tiếp cận cảnh báo, di chuyển và phục hồi.
Theo số liệu thống kê từ các xã đến cuối tháng 07 2026, thành phố có
khoảng 31.600 người khuyết tật và 203.320 người cao tuổi; khoảng 3.713 hộ
nghèo và 6.057 hộ cận nghèo
16
; Một số địa bàn có số người khuyết tật cao gồm
16
Nguồn hình: Quyết định số 133/QĐ-UBND ngày 09/01/2026 của UBND thành phố Huế
67
Hương Thủy, Thanh Thủy, Chân Mây-Lăng Cô và Đan Điền. Tuy nhiên, số liệu
nhóm dễ bị tổn thương trong cơ sở dữ liệu cấp xã chưa được nhập đồng đều, nên
chưa phản ánh đầy đủ nhu cầu hỗ trợ theo từng địa bàn.
Mức dễ bị tổn thương còn thể hiện qua sự phụ thuộc giữa các hệ thống.
Ngập lụt có thể gây mất điện, mất sóng viễn thông, ảnh hưởng cấp nước, y tế,
giáo dục, vận tải, xử lý chất thải và hoạt động doanh nghiệp. Các năm 2023-
2025 cho thấy tổn thất ngày càng mang tính liên ngành, trong đó thiệt hại gián
tiếp và thời gian ngừng dịch vụ chưa được thống kê đầy đủ. Báo cáo thiệt hại
năm 2023 cho thấy chỉ một đợt lũ vượt báo động III đã làm hơn 20 nghìn nhà
ngập, trạm y tế vùng thấp bị ngập và hư hỏng thiết bị, hoạt động giáo dục phải
điều chỉnh trên toàn địa bàn.
Về năng lực ứng phó, Thành phố có năng lực quan trắc, cảnh báo và điều
hành tương đối tốt, gồm mạng trạm mưa, trạm mực nước, radar, Hue-S, IOC,
truyền thanh, hệ thống thông tin dự phòng, lực lượng xung kích và kinh nghiệm
chốt chặn, sơ tán, cứu hộ. Thành phố có nền tảng dự báo và cảnh báo khá tốt với:
Radar X-band, 54 trạm đo mưa tự động;
14 trạm giám sát ngập và 05 trạm đo mực nước trên sông Hương, sông Bồ
và Ô Lâu;
Hệ thống Hue-S, IOC, truyền thanh thông minh, còi hú cảnh báo khẩn cấp
và các kênh thông tin dự phòng;
Năng lực cảnh báo trước các đợt mưa lũ khoảng 24-48 giờ;
Công cụ hỗ trợ theo dõi mưa, mực nước và vận hành liên hồ chứa.
Lực lượng công an, giao thông và chính quyền cơ sở đã có kinh nghiệm
chốt chặn tuyến đường ngập sâu, cấm phương tiện qua khu vực nước chảy xiết,
huy động lực lượng xung kích và tổ chức di dời.
Thành phố báo cáo 480 điểm sơ tán, sức chứa khoảng 85.752 người. Tuy
nhiên, chỉ 381 điểm có nước sinh hoạt, 340 điểm có nhà vệ sinh riêng, 196 điểm
có bếp nấu và 239 điểm tiếp cận được bằng xe lăn. Đặc biệt, phần “số liệu sơ tán
tránh thiên tai” trong cơ sở dữ liệu hiện mới được tổng hợp chủ yếu cho bão;
nhiều địa phương chưa nhập đầy đủ phương án và số người sơ tán do lũ. Vì vậy,
chưa thể khẳng định sức chứa và vị trí các điểm hiện có phù hợp với phạm vi
ngập của từng kịch bản lũ.
Về năng lực điều tiết lũ của hệ thống hồ chứa, hệ thống hồ Tả Trạch, Bình
Điền và Hương Điền đã làm thay đổi đáng kể chế độ lũ hạ du. So với năm 1999,
khi hệ thống hồ lớn hiện nay chưa vận hành đầy đủ, các sự kiện gần đây có thể
có lượng mưa hoặc lưu lượng đến hồ rất lớn nhưng đỉnh và phạm vi ngập hạ lưu
được giảm hoặc làm chậm đáng kể.
Trong đợt lũ năm 2020, tổng lượng mưa và tổng lượng nước trên lưu vực
được đánh giá tương đương đợt lũ lịch sử 1999. Tổng lượng nước về các hồ
khoảng 3,7 tỷ m³, trong đó các hồ giữ lại gần 1 tỷ m³. Tả Trạch và Bình Điền
được ước tính làm giảm đỉnh lũ Kim Long khoảng 0,6-0,8m và làm chậm đỉnh
lũ hạ du khoảng 43 giờ; trên sông Bồ, Hương Điền làm chậm lũ khoảng 30 giờ,
mặc dù Phú Ốc vẫn vượt đỉnh năm 1999 do xuất hiện nhiều đợt lũ liên tiếp.
Trong một đợt lũ tháng 10/2022, hồ Hương Điền cắt khoảng 84% lưu
lượng đỉnh và 59% tổng lượng lũ đến hồ. Mực nước thực tế tại Phú Ốc là 2,81
m; báo cáo ước tính nếu không có hồ, mực nước có thể vượt 4,70 m, tức trên
báo động III.
Như vậy, hồ chứa đóng vai trò giảm rủi ro rất quan trọng, thông qua ba tác
dụng: Giảm đỉnh lũ; Làm chậm thời gian xuất hiện đỉnh, tạo thêm thời gian cảnh
báo và sơ tán; và giảm tổng lượng nước xuống hạ du trong giai đoạn nguy hiểm
nhất. Tuy nhiên, hồ không thể loại bỏ hoàn toàn ngập lụt. Hiệu quả phụ thuộc
vào dung tích phòng lũ còn lại, dự báo mưa, điều tiết trước lũ, lưu lượng đến hồ,
mưa trực tiếp ở hạ du, thủy triều và số đỉnh lũ liên tiếp. Các hồ cũng có hiệu quả
khác nhau giữa lưu vực sông Hương và sông Bồ.
Kết luận về mức độ rủi ro
Kết quả phân vùng rủi ro theo kịch bản này thể hiện tại Bản đồ VIII.4, Phụ
lục VIII
Năng lực hồ chứa, dự báo, cảnh báo và tổ chức ứng phó giúp giảm đáng kể
thiệt hại, đặc biệt là làm chậm lũ và giảm đỉnh. Tuy nhiên, do phạm vi dân cư,
hạ tầng và hoạt động kinh tế phơi nhiễm rất lớn, lũ vượt báo động III vẫn có thể
gây ngập hàng chục nghìn nhà, chia cắt giao thông và gián đoạn nhiều dịch vụ
thiết yếu.
Rủi ro rất cao so với mức chung: Quảng Điền-Đan Điền; hạ lưu sông
Bồ-Ô Lâu; Hương Trà-Hóa Châu; các khu vực đô thị thấp trũng; Hương Thủy;
Thuận An, Phú Vang, Phú Vinh, Vinh Lộc và các vùng thấp ven đầm phá.
Rủi ro cao: Phong Điền, Dương Nỗ, Phú Hồ, Hưng Lộc, Lộc An và phần
thấp của Phú Lộc.
Ngành có rủi ro rất cao: nhà ở vùng ngập sâu, nông nghiệp, thủy sản,
giao thông cơ sở và hệ thống thoát nước.
Ngành có rủi ro cao: điện, viễn thông, cấp nước, y tế, giáo dục, thương
mại, du lịch và dịch vụ đô thị.
Đánh giá rủi ro với kịch bản cực đoan
Mô tả kịch bản
Mưa đặc biệt lớn xảy ra trên nhiều lưu vực, tạo nhiều đỉnh lũ liên tiếp; mực
nước trên sông Hương và sông Bồ vượt báo động III kéo dài; ngập ảnh hưởng
phần lớn đồng bằng và đô thị; giao thông, điện, viễn thông, nước sạch, y tế và
sản xuất bị gián đoạn đồng thời; một số khu vực miền núi và vùng thấp bị cô lập
nhiều ngày. Đây là kịch bản kiểm tra giới hạn năng lực, không phải một trận lũ
có tần suất thống nhất cho toàn thành phố.
Tần suất và cường độ
69
Đây là tình huống ít xảy ra hơn nhưng đã có tiền lệ thực tế. Trong tám ngày
cuối tháng 10-đầu tháng 11/2025, thành phố chịu ba đỉnh lũ lớn liên tiếp. Kim
Long đạt 5,05 m, tương ứng sơ bộ khoảng P = 5-10%; Phú Ốc đạt 5,31 m, cao
hơn mực nước P = 1%. Ngập ảnh hưởng 32/40 xã, phường và phát sinh 38 điểm
sạt lở. Đặc trưng nguy hiểm không chỉ là đỉnh lũ mà còn là:
Nhiều đỉnh xuất hiện trong thời gian ngắn;
Mực nước trên báo động III kéo dài;
Đất và công trình đã bão hòa, suy yếu sau đợt trước;
Người dân, lực lượng ứng phó và hệ thống hạ tầng chưa kịp phục hồi thì
lại xuất hiện thêm các đợt lũ khác;
Các vùng ngập tiếp tục chịu tác động khi nguồn dự trữ và năng lực tự ứng
phó giảm dần.
Mức độ phơi nhiễm
Phơi nhiễm ở mức rất cao trên toàn bộ đồng bằng, đô thị, ven sông và ven
phá. Các bản đồ năm 2025 cho thấy vùng ngập hình thành một dải rộng và khá
liên tục từ đồng bằng phía Bắc, hạ lưu sông Bồ-sông Hương, khu vực đô thị đến
các vùng thấp phía Đông và Đông Nam.
Đối tượng phơi nhiễm gồm:
Hàng trăm nghìn người và nhà ở tại vùng thấp;
Bệnh viện, trường học, chợ, cơ quan hành chính và điểm sơ tán;
Các tuyến giao thông đô thị, quốc lộ, đường sắt và đường kết nối vùng
ven biển;
Hệ thống điện, viễn thông, cấp nước và thoát nước;
Nông nghiệp, thủy sản, thương mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp và
logistics;
Đầm phá, cửa sông, bờ sông và các vùng đất ngập nước.
Năm 2025 có 46.489 nhà bị ngập; học sinh toàn thành phố phải nghỉ học 4
đợt, riêng vùng thấp trũng nghỉ trên 10 ngày. Điều này cho thấy phơi nhiễm
không chỉ là tài sản bị ngập mà còn bao gồm thời gian mất dịch vụ và gián đoạn
sinh hoạt, học tập, việc làm.
Mức độ dễ bị tổn thương và năng lực phòng ngừa, ứng phó
Mức dễ bị tổn thương tăng mạnh khi lũ cực đoan, lặp lại nhiều lần và kéo
dài do một số nguyên nhân sau:
Người dân chưa kịp vệ sinh, phục hồi nhà ở và bổ sung nhu yếu phẩm
trước khi đỉnh lũ tiếp theo xuất hiện;
Điện, nước, viễn thông và giao thông bị suy giảm theo thời gian, làm
giảm dần khả năng tự ứng phó;
Tài sản, phương tiện và thiết bị điện bị ngập lặp lại, làm tăng chi phí phục
hồi hộ gia đình;
Điểm sơ tán và cơ sở y tế phải duy trì hoạt động nhiều ngày trong khi điều
kiện điện, nước, vệ sinh và bếp nấu còn hạn chế;
Hộ nghèo, người khuyết tật, người cao tuổi và người bệnh khó duy trì sơ
tán kéo dài;
Sinh kế nông nghiệp, thủy sản, thương mại và lao động tự do bị gián đoạn
dài ngày.
Năm 2025 ghi nhận 18 người chết, 46.489 nhà ngập và thiệt hại khoảng
3.579,6 tỷ đồng. Thiệt hại không chỉ tập trung ở tài sản vật chất mà lan sang vận
tải, y tế, giáo dục, doanh nghiệp, xử lý môi trường và chức năng đô thị.
Miền núi phía Tây có thể không ngập diện rộng như hạ lưu nhưng dễ bị tổn
thương rất cao do sạt lở, đường độc đạo, mất điện và cô lập. Các tuyến cần đặc
biệt lưu ý gồm Quốc lộ 49, đường Hồ Chí Minh, La Sơn-Túy Loan, đường tỉnh
và đường liên xã tại A Lưới, Nam Đông, Khe Tre, Bình Điền và Long Quảng.
Về năng lực ứng phó, hệ thống cảnh báo, quan trắc, vận hành hồ chứa và
chỉ huy của thành phố đã phát huy vai trò quan trọng trong năm 2025. Thành
phố ban hành các lệnh vận hành hồ, cảnh báo trước thiên tai, sử dụng radar, trạm
mưa, trạm mực nước và Hue-S để hỗ trợ ra quyết định. Tuy nhiên, kịch bản
nhiều đỉnh và kéo dài làm lộ rõ giới hạn năng lực:
Sức chứa điểm sơ tán chưa được đối chiếu với số người cần di dời trong
32/40 xã, phường;
Nhiều điểm sơ tán thiếu bếp nấu, điện dự phòng và khả năng tiếp cận cho
người khuyết tật;
Hệ thống giao thông có thể bị chia cắt đồng thời tại nhiều nơi, làm chậm
cứu trợ và sửa chữa hạ tầng;
Lực lượng, phương tiện, lương thực và thuốc men phải duy trì trong thời
gian dài;
Mất điện và mất sóng có thể làm giảm hiệu quả cảnh báo sau các đỉnh lũ
đầu tiên;
Nhu cầu cứu trợ và phục hồi vượt quá nguồn lực tại chỗ của một số xã,
phường.
Hồ chứa tiếp tục có vai trò giảm đỉnh lũ trong kịch bản cực đoan. Trong đợt
lũ cuối tháng 10/2025, báo cáo thành phố ước tính Tả Trạch và Bình Điền đã
giảm mực nước đỉnh tại Kim Long khoảng 0,55-0,65 m; nếu không có điều tiết,
mực nước có thể đạt khoảng 5,6-5,7 m thay vì 5,05 m. Trên sông Bồ, hồ Hương
Điền được ước tính làm giảm đỉnh tại Phú Ốc khoảng 0,15-0,35 m trong đợt lũ
cuối tháng 10; nếu không có hồ, mực nước có thể đạt khoảng 5,4-5,6 m.
Tuy nhiên, năng lực của hồ chứa không phải là tuyệt đối. Trong chuỗi lũ
nhiều đỉnh, dung tích phòng lũ giảm dần khi hồ đã giữ một lượng nước lớn; việc
71
xả điều tiết trở nên khó khăn hơn nếu mưa tiếp tục kéo dài và lưu lượng đến hồ
tăng nhanh. Năm 2025, mặc dù các hồ đã giảm đáng kể đỉnh lũ, mực nước tại
Kim Long và Phú Ốc vẫn ở mức đặc biệt cao và ngập xảy ra tại 32/40 xã,
phường. Điều này cho thấy hồ chứa giúp giảm mức độ nghiêm trọng, nhưng
không thể loại bỏ rủi ro ngập trong tình huống cực đoan.
Kết luận mức độ rủi ro
Kết quả phân vùng rủi ro theo kịch bản này thể hiện tại Bản đồ VIII.5, Phụ
lục VIII
Rủi ro chung của thành phố: Rất cao.
Rủi ro đặc biệt cao: hạ lưu sông Bồ-sông Hương; Quảng Điền-Đan
Điền; vùng đô thị thấp trũng; Hương Thủy; Thuận An, Phú Vang, Phú Vinh,
Vinh Lộc và các khu vực ven phá ngập kéo dài.
Rủi ro đặc biệt cao tại miền núi: các khu dân cư, tuyến đường và công
trình tại A Lưới, Nam Đông, Khe Tre, Long Quảng và Bình Điền có nguy cơ sạt
lở hoặc cô lập.
Ngành có rủi ro đặc biệt cao: an toàn dân cư và nhà ở; giao thông; điện-
viễn thông-cấp nước; y tế; nông nghiệp và thủy sản.
Ngành có rủi ro rất cao: giáo dục, thương mại, du lịch, công nghiệp, vận
tải, di sản, môi trường và quản lý chất thải.
Nếu lượng mưa hoặc thời gian ngập vượt đáng kể năm 2025, rủi ro có thể
chuyển sang mức đặc biệt cao trên phạm vi toàn thành phố và vượt năng lực ứng
phó thông thường.
Rủi ro gắn với lũ nhỏ hoặc trung bình nhưng xảy ra trái mùa
Đặc điểm và diễn biến
Bên cạnh lũ chính vụ từ tháng 9 đến tháng 12, Huế đã xuất hiện các đợt
mưa, lũ bất thường vào thời kỳ vốn có xác suất lũ thấp. Điển hình là các đợt từ
ngày 31/3-03/4 và 30/4-02/5/2022, cùng đợt lũ tiểu mãn từ ngày 10-14/6/2025.
Các sự kiện này cho thấy mùa rủi ro mưa lũ không còn giới hạn hoàn toàn trong
mùa mưa truyền thống.
Trong đợt cuối tháng 3-đầu tháng 4/2022, tổng lượng mưa phổ biến 200-
500 mm, nhiều điểm miền núi đạt 500-800 mm. Thủy triều cao khoảng 1,04 m,
kết hợp tình trạng bồi lắng sông, hói làm chậm thoát lũ, gây ngập và tràn các đê
bao nội đồng.
Đợt tháng 6/2025 có tổng lượng mưa phổ biến 500-900 mm, một số nơi
trên 1.000 mm; riêng Bạch Mã đạt 1.277 mm trong cả đợt. Mực nước tại Kim
Long đạt 2,14 m, trên báo động II; tại Phú Ốc đạt 3,84 m và chưa đến báo động
III. Lũ lên nhanh nhưng xuống tương đối nhanh sau khi mưa kết thúc. Đây là
trận lũ rất hiếm gặp trong tháng 6, mặc dù đỉnh lũ hạ lưu thấp hơn đáng kể so
với các trận chính vụ năm 2020.
Đợt mưa lũ từ ngày 10-13/6/2025 có tính chất đặc biệt nghiêm trọng về
nông nghiệp. Mưa cả đợt phổ biến 500-900 mm, nhiều nơi trên 1.000 mm; lũ và
ngập xảy ra đúng thời điểm lúa Hè Thu mới gieo sạ, phần lớn còn ở giai đoạn
mạ nên khả năng chịu ngập kéo dài rất thấp. Khoảng 22.418 ha trong tổng số
25.126 ha lúa Hè Thu bị ngập, tương đương gần 90% diện tích gieo trồng; báo
cáo tổng kết năm xác định khoảng 7.000 ha phải gieo sạ lại. Đợt lũ cũng gây
thiệt hại lớn cho rau màu, vật nuôi, nuôi trồng thủy sản và tài sản sản xuất của
người dân tại vùng hạ lưu, mặc dù báo cáo tổng kết thành phố chưa tách đầy đủ
các chỉ tiêu thiệt hại này khỏi các đợt thiên tai xảy ra sau đó trong năm. Kết quả
đánh giá ban đầu ngay sau sự kiện cũng xác nhận quy mô 22.418 ha lúa bị ngập
và dự báo từ 5.000-10.000 ha có nguy cơ phải gieo sạ lại.
Tuy nhiên, năng lực ứng phó với lũ trái mùa còn một số hạn chế:
Kế hoạch, lực lượng và vật tư thường tập trung cao nhất trong mùa mưa bão;
Vận hành hồ trong mùa khô còn phải cân đối đồng thời cấp nước, phát
điện và duy trì dòng chảy hạ du;
Phương án bảo vệ sản xuất chưa luôn gắn với dự báo mưa lũ theo thời
gian thực;
Khả năng thu hoạch sớm, tiêu úng, vận hành cống và gia cố đê bao phụ
thuộc thời gian cảnh báo;
Cộng đồng có thể đánh giá thấp nguy cơ do sự kiện xảy ra ngoài mùa;
Chưa có đầy đủ ngưỡng kích hoạt riêng cho bảo vệ lúa, thủy sản, công
trình thi công và hoạt động du lịch trong mùa khô.
Do đó, yêu cầu quan trọng không nhất thiết là sơ tán dân, mà là kích hoạt
sớm các biện pháp bảo vệ sản xuất và kiểm soát an toàn, gồm tiêu nước đệm, vận
hành cống, tăng cường năng lực bơm, tiêu, điều chỉnh mùa vụ, di chuyển vật tư và
máy móc, kiểm soát ngầm tràn, cảnh báo sạt lở và điều chỉnh vận hành hồ chứa.
Kết luận mức độ rủi ro
Rủi ro chung đối với toàn thành phố: Trung bình. Phạm vi ngập dân cư
và mức gián đoạn hệ thống thường thấp hơn kịch bản lũ từ báo động III. Tuy
nhiên, rủi ro có thể ở mức cao đến rất cao theo ngành và khu vực, cụ thể:
Rất cao đối với nông nghiệp khi xảy ra vào cuối vụ Đông Xuân hoặc
ngay sau gieo sạ;
Cao đối với nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi, thủy lợi và đê bao nội đồng;
Cao tại các vùng sản xuất nông nghiệp thấp trũng thuộc Phong Điền,
Quảng Điền, Hương Trà, Hóa Châu, Phú Vang, Phú Hồ, Phú Vinh, Vinh Lộc và
Phú Lộc;
Có thể tăng lên trung bình-cao đối với toàn thành phố khi mưa trái mùa
xảy ra diện rộng, trùng với triều cao hoặc kéo dài qua nhiều ngày.
Tổng hợp về rủi ro do lũ và ngập lụt
73
Trên cơ sở tần suất và cường độ lũ, phạm vi phơi nhiễm, mức độ dễ bị tổn
thương và năng lực phòng ngừa, ứng phó, rủi ro lũ và ngập lụt của thành phố
được tổng hợp theo ba tình huống đại diện.
- Lũ nhỏ hoặc trung bình nhưng xảy ra trái mùa có rủi ro chung ở mức
trung bình-cao, do phạm vi ngập dân cư thường hạn chế hơn nhưng có thể gây
thiệt hại rất lớn cho nông nghiệp, thủy sản và sinh kế nếu trùng với giai đoạn sản
xuất nhạy cảm, như các sự kiện năm 2022 và tháng 6/2025.
- Lũ lớn từ báo động III trở lên, gây ngập diện rộng từ 2-4 ngày có rủi
ro chung ở mức cao, do có khả năng xảy ra trong chu kỳ kế hoạch 5 năm và
phơi nhiễm lớn về dân cư, nhà ở, hạ tầng và kinh tế tại đồng bằng, đô thị, hạ lưu
sông và ven đầm phá.
- Lũ cực đoan, nhiều đỉnh và kéo dài tương tự năm 2025 có rủi ro rất
cao, do ngập sâu, ngập lặp lại và sự gián đoạn đồng thời của giao thông, điện,
nước, viễn thông, y tế và các hoạt động kinh tế có thể làm suy giảm hoặc vượt
quá năng lực ứng phó tại chỗ. Hệ thống hồ Tả Trạch, Bình Điền và Hương Điền,
cùng với năng lực quan trắc, dự báo, cảnh báo và tổ chức ứng phó, đã góp phần
đáng kể trong việc giảm đỉnh, làm chậm lũ và giảm ngập hạ du; tuy nhiên, hiệu
quả này bị giới hạn khi mưa đặc biệt lớn, lũ có nhiều đỉnh liên tiếp, hồ đã sử
dụng phần lớn dung tích phòng lũ hoặc mưa trực tiếp tại đồng bằng và đô thị
vẫn tiếp tục. Vì vậy, mức rủi ro của từng khu vực và ngành có thể cao hơn mức
chung của thành phố, đặc biệt tại vùng ngập sâu, vùng sản xuất thấp trũng, khu
vực ven sông-ven phá, các tuyến giao thông dễ chia cắt và đối với nông nghiệp,
thủy sản, nhà ở, hạ tầng thiết yếu và các nhóm dân cư dễ bị tổn thương.
Bảng 11. Tổng hợp rủi ro do lũ
Nội dung
Tình huống lũ nhỏ
hoặc trung bình, trái
mùa
Kịch bản chính: lũ ≥
BĐIII, ngập 2-4 ngày
Kịch bản cực đoan: nhiều
đỉnh tương tự 2025
Đặc điểm
Đỉnh lũ thường dưới
BĐIII hoặc phạm vi
ngập không lớn,
nhưng xảy ra ngoài
mùa mưa
Lũ đạt/vượt BĐIII, ngập
hơn 1/2 số xã, phường
Lũ đặc biệt lớn, nhiều đỉnh,
ngập kéo dài
Rủi ro
chung
Trung bình; cao theo
ngành và thời điểm
Cao
Rất cao
Rủi ro
cao hơn
mức
chung
Nông nghiệp rất cao;
thủy sản, đê bao, thủy
lợi và vùng sản xuất
thấp trũng cao
Vùng hạ lưu, đô thị thấp
trũng, ven phá; nhà ở,
giao thông, nông nghiệp
và thủy sản rất cao
Vùng ngập sâu và khu vực
cô lập; dân cư, giao thông,
điện-nước-viễn thông, y tế,
nông nghiệp và thủy sản đặc
biệt cao
3.4 Rủi ro với lũ quét và sạt lở đất
Cách tiếp cận và các tình huống đánh giá
Lũ quét và sạt lở đất có liên hệ chặt chẽ với mưa lớn nhưng chịu tác động
đồng thời của lượng mưa tích lũy, cường suất mưa, độ dốc, địa chất-thổ nhưỡng,
thảm phủ, tình trạng thoát nước và các hoạt động đào cắt mái dốc. Do đó, cùng
một lượng mưa, mức độ nguy hiểm có thể khác nhau đáng kể giữa các lưu vực
suối nhỏ, mái dốc tự nhiên, taluy giao thông và khu vực xây dựng.
Để phục vụ Kế hoạch PCTT 5 năm, rủi ro được xem xét theo ba tình
huống tăng dần:
Tình huống 1 - mưa cục bộ: mưa lớn trong thời gian ngắn, gây lũ quét
nhỏ, sạt taluy và trượt đất phân tán;
Tình huống 2 - mưa diện rộng: mưa lớn hoặc kéo dài làm đất bão hòa,
phát sinh nhiều điểm sạt lở, lũ quét và chia cắt giao thông;
Tình huống 3 - mưa cực đoan: mưa đặc biệt lớn hoặc nhiều đợt liên tiếp,
có khả năng gây sạt lở quy mô lớn, lũ bùn đá, cô lập kéo dài và thảm họa cục bộ.
Các ngưỡng mưa chỉ được sử dụng làm điều kiện tham chiếu. Những mái
dốc đã nứt, bị đào cắt, thoát nước kém hoặc từng sạt trượt có thể mất ổn định ở
lượng mưa thấp hơn.
Phân bố hiểm họa
Lũ quét và sạt lở đất tập trung chủ yếu tại miền núi phía Tây, các lưu vực
sông suối nhỏ có độ dốc lớn, sườn núi và các tuyến giao thông qua địa hình dốc.
Những khu vực cần ưu tiên gồm A Lưới 1-5, Nam Đông, Long Quảng, Khe Tre
và Bình Điền; ngoài ra còn có các vùng đồi núi thuộc Hương Trà, Kim Trà,
Phong Điền, Phong Phú, Phong Thái, Phú Lộc và Chân Mây-Lăng Cô. Các hành
lang đặc biệt nhạy cảm gồm Quốc lộ 49, đường Hồ Chí Minh, tuyến La Sơn-Túy
Loan, các tuyến qua Bạch Mã-Phước Tượng-Phú Gia-Hải Vân và đường tỉnh,
đường liên xã miền núi.
Bản đồ phân vùng rủi ro do Bộ Nông nghiệp Môi trường xây dựng cho
thấy cấp rủi ro trung bình đến cao bao phủ rộng khu vực miền núi phía Tây; các
vùng cấp cao và rất cao có quy mô nhỏ hơn nhưng phân bố rải rác dọc sườn dốc,
khe suối và hành lang giao thông. Đây là bản đồ rủi ro tổng hợp tỷ lệ 1:50.000,
phù hợp để xác định xã và hành lang ưu tiên, nhưng chưa đủ chi tiết để xác định
vùng an toàn cho từng hộ dân hoặc từng mái dốc. Rủi ro cũng không đồng đều
trong phạm vi một xã mà thường tập trung tại chân dốc, cửa khe, ven suối, taluy
đường và vị trí sạt lở cũ.
Giai đoạn 2020-2025 ghi nhận nhiều điểm sạt lở gây ách tắc giao thông,
hư hỏng công trình và đe dọa khu dân cư. Riêng chuỗi mưa lũ cuối tháng 10-đầu
tháng 11/2025 làm phát sinh 38 điểm sạt lở; lượng mưa 24 giờ tại Bạch Mã đạt
gần 1.740 mm, cho thấy khả năng xuất hiện tình huống vượt xa điều kiện mưa
thông thường.
Mức độ phơi nhiễm
Dân cư và nhà ở. Các hộ sống dưới chân dốc, trên sườn dốc, ven khe
suối hoặc tại cửa ra của lưu vực nhỏ có thể chịu tác động trực tiếp của đất đá và
75
dòng lũ. Dân cư miền núi thường phân bố phân tán, trong đó người dân tộc thiểu
số tập trung nhiều tại A Lưới, Nam Đông, Khe Tre, Long Quảng và Bình Điền.
Một số địa bàn còn có tỷ lệ hộ nghèo, nhà bán kiên cố hoặc thiếu kiên cố tương
đối cao, làm tăng nhu cầu hỗ trợ cảnh báo, sơ tán và phục hồi.
Giao thông và khả năng tiếp cận. Quốc lộ, đường tỉnh, đường xã, đường
thôn, cầu, ngầm tràn và các tuyến độc đạo miền núi vừa là đối tượng chịu sạt lở
vừa là tuyến sơ tán, cứu hộ và tiếp tế. Cơ sở dữ liệu cho thấy khoảng 11,2%
đường xã, 13,8% đường thôn và 18,8% ngầm tràn được báo cáo xuống cấp; khi
nhiều điểm sạt lở xảy ra đồng thời, một khu dân cư có thể bị cô lập dù nhà ở
không bị tác động trực tiếp.
Hạ tầng và công trình. Các công trình thủy điện-thủy lợi, hồ chứa, cấp
nước, điện, viễn thông, trường học, trạm y tế, điểm sơ tán và công trình đang thi
công có thể bị đất đá vùi lấp, mất đường tiếp cận hoặc gián đoạn vận hành.
Hoạt động kinh tế và môi trường. Rừng trồng, đất sản xuất, du lịch
miền núi, công trường xây dựng và các tuyến vận tải hàng hóa có mức phơi
nhiễm đáng kể. Thiệt hại giao thông và sạt lở tại miền núi thường kéo theo gián
đoạn sản xuất, cấp nước, điện, thông tin và tiếp cận dịch vụ công.
Mức độ dễ bị tổn thương và năng lực phòng ngừa, ứng phó
Mức dễ bị tổn thương không chỉ phụ thuộc mức độ phơi nhiễm mà còn do
vị trí và điều kiện, năng lực cụ thể của đối tượng phơi nhiễm và của thành phố.
Các yếu tố chính gồm:
Nhà ở và công trình nằm trực tiếp dưới chân dốc, ven suối hoặc trong
hành lang dòng chảy.
Mái dốc đã có vết nứt, sạt lở cũ, bị đào cắt hoặc thiếu hệ thống thoát
nước.
Dân cư phân tán, đường độc đạo và khoảng cách xa cơ sở y tế, lực lượng
cứu hộ.
Nhà và công trình nhỏ không có khả năng chịu lực va đập của bùn, đá và
cây gỗ.
Hộ nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em và hộ không có
phương tiện di chuyển.
Công trường, đường công vụ và người lao động hoạt động trong khu vực
chưa được đánh giá ổn định mái dốc.
Khả năng xảy ra thiên tai thứ cấp như sạt lở chặn dòng, hình thành hồ tạm
và vỡ điểm nghẽn gây lũ quét xuống hạ lưu.
Tính dễ bị tổn thương tăng nhanh theo thời gian mưa. Trong giai đoạn
đầu, sự cố thường tập trung ở taluy yếu và điểm sạt cũ; khi đất bão hòa, các vị trí
mới có thể mất ổn định, số tuyến bị chia cắt tăng lên và khả năng tiếp cận hiện
trường giảm. Trong mưa cực đoan kéo dài, chính lực lượng cứu hộ và khắc phục
giao thông cũng có thể trở thành đối tượng phơi nhiễm.
Thành phố đã có bản đồ phân vùng rủi ro cấp thành phố tỷ lệ 1:50.000,
mạng lưới quan trắc mưa, cảnh báo khí tượng thủy văn, Hue-S, truyền thanh cơ
sở và cơ chế cảnh báo theo địa bàn. Chính quyền, công an, quân đội và ngành
giao thông có kinh nghiệm kiểm soát tuyến nguy hiểm, sơ tán người dân, huy
động máy móc và giải phóng đất đá. Báo cáo năm 2021 cho thấy các địa phương
đã tổ chức sơ tán người dân tại vùng có nguy cơ lũ quét, sạt lở trong nhiều đợt
mưa lũ. Tuy nhiên, năng lực hiện tại còn các giới hạn quan trọng:
Bản đồ tỷ lệ 1:50.000 chưa đủ chi tiết cho từng thôn, hộ dân và khu vực.
Bản đồ này cũng chưa thể hiện năng lực ứng phó và đặc điểm dân sinh, kinh tế,
xã hội, hạ tầng tại các khu vực.
Cảnh báo thường xác định vùng nguy cơ rộng, chưa chỉ rõ vị trí và thời
điểm sạt lở.
Chưa có cơ sở dữ liệu thống nhất về vị trí, quy mô, nguyên nhân, trạng
thái xử lý và khả năng tái hoạt động của các điểm sạt lở.
Ngưỡng mưa kích hoạt chưa được hiệu chỉnh đầy đủ theo địa chất và điều
kiện mái dốc.
Phương án sơ tán riêng cho lũ quét, sạt lở và tuyến sơ tán thay thế còn
thiếu ở một số địa bàn.
Thiết bị, máy móc và lực lượng có thể bị phân tán khi nhiều điểm sạt lở
xảy ra đồng thời;
Số liệu trang thiết bị PCTT cấp xã cho thấy một số địa bàn miền núi vẫn
còn nhu cầu sửa chữa, bổ sung phương tiện và vật tư đáng kể.
Như vậy, năng lực hiện tại nhìn chung có thể xử lý các sự cố nhỏ, phân
tán; có nguy cơ quá tải cục bộ trong mưa diện rộng; và có thể bị vượt ngưỡng
trong tình huống sạt lở quy mô lớn, nhiều tuyến bị chia cắt đồng thời.
Kết luận về rủi ro do lũ quét, sạt lở đất
Kết quả phân vùng rủi ro do lũ quét, sạt lở đất thể hiện tại Bản đồ VIII.6,
Phụ lục VIII
Rủi ro lũ quét và sạt lở đất của thành phố có mức trung bình trong các
đợt mưa cục bộ, cao khi mưa kéo dài làm đất bão hòa và rất cao trong tình
huống mưa cực đoan nhiều đợt liên tiếp. Rủi ro không phân bố đều trên toàn
thành phố mà tập trung tại A Lưới 1-5, Nam Đông, Long Quảng, Khe Tre, Bình
Điền, các vùng đồi núi thuộc Hương Trà, Kim Trà, Phong Điền, Phong Phú,
Phong Thái, Phú Lộc và Chân Mây-Lăng Cô và các hành lang giao thông qua
địa hình dốc. Trong từng xã, các khu dân cư ven suối, dưới chân dốc, taluy
đường, công trường và điểm sạt lở cũ có thể có rủi ro cao hơn đáng kể so với
mức chung.
Điểm mạnh hiện nay là thành phố đã có bản đồ phân vùng hiểm họa,
mạng lưới theo dõi mưa, hệ thống cảnh báo đa kênh và lực lượng có kinh
nghiệm xử lý sự cố. Hạn chế cốt lõi là bản đồ và cảnh báo chưa đủ chi tiết đến
77
từng điểm dân cư, dữ liệu điểm sạt lở chưa thống nhất, nhiều tuyến giao thông
thiếu phương án thay thế và khả năng huy động máy móc, cứu hộ có thể bị quá
tải khi nhiều điểm xảy ra đồng thời. Vì vậy, Kế hoạch 5 năm cần ưu tiên lập bản
đồ chi tiết cho các điểm trọng yếu, quản lý cơ sở dữ liệu sạt lở, theo dõi vết nứt
và ngưỡng mưa, rà soát hộ cần di dời, nâng cấp thoát nước và ổn định taluy, bảo
đảm tuyến tiếp cận thay thế và xây dựng quy trình an toàn cho lực lượng cứu hộ.
Bảng 12. Tổng hợp rủi ro lũ quét, sạt lở đất
Kịch bản
Mức rủi ro
chung của
thành phố
Rủi ro đối với ngành, khu vực đặc thù so
với mức chung
Tình huống 1: cục bộ, phân
tán: Mưa 100-200 mm/24
giờ hoặc 50-100 mm/12 giờ,
kéo dài 1-2 ngày, phạm vi
hẹp
Trung bình
Cao: A Lưới, Nam Đông, Long Quảng, Khe
Tre, Bình Điền; giao thông miền núi và
công trình trên dốc
Tình huống 2: diện rộng,
đất bão hòa: Mưa 100-200
mm/24 giờ kéo dài 2-4 ngày
hoặc mưa 200-400 mm/24
giờ trong 1-2 ngày
Cao
Rất cao: các xã miền núi, Quốc lộ 49,
đường Hồ Chí Minh, tuyến La Sơn-Túy
Loan; giao thông, điện-nước, thủy điện-thủy
lợi
Tình huống 3: cực đoan,
quy mô lớn: Mưa trên 400
mm/24 giờ hoặc mưa rất
lớn kéo dài, nhiều đợt liên
tiếp
Rất cao
Đặc biệt cao: khu dân cư chân dốc, ven
suối, công trường, tuyến độc đạo; an toàn
dân cư, cứu hộ cứu nạn, giao thông và hạ
tầng thiết yếu
3.5 Rủi ro xói lở bờ sông, bờ biển
Sạt lở bờ sông và bờ biển là quá trình diễn biến thường xuyên, có tính tích
lũy và chịu tác động đồng thời của nhiều yếu tố. Sạt lở bờ sông chủ yếu liên
quan đến dòng chảy lũ, sự dịch chuyển dòng chảy, xói chân bờ, biến động bùn
cát và tác động của công trình ven sông. Sạt lở bờ biển chịu ảnh hưởng của
sóng, dòng chảy ven bờ, bão, nước dâng, triều cường, biến động nguồn bùn cát
và các công trình chỉnh trị cửa sông, bảo vệ bờ. Trong các trận lũ rất lớn, chênh
lệch mực nước giữa sông, đầm phá và biển còn có thể phá vỡ dải cồn cát, mở
rộng cửa sông hoặc hình thành cửa biển mới, như cửa Hòa Duân trong trận lũ
năm 1999.
Các tình huống rủi ro được xem xét gồm:
Tình huống 1 - sạt lở thường xuyên, cục bộ: xảy ra trong mùa mưa lũ
hoặc khi có sóng lớn, tập trung tại các đoạn bờ đã suy yếu.
Tình huống 2 - sạt lở nghiêm trọng, xảy ra đồng thời tại nhiều khu
vực: gắn với lũ lớn, bão, sóng lớn và triều cường.
Tình huống 3 - sạt lở cực đoan và biến động hình thái quy mô lớn:
xảy ra khi lũ đặc biệt lớn kết hợp sóng, nước dâng và mực nước biển cao, có
nguy cơ phá vỡ cồn cát, mở cửa biển mới hoặc làm mất chức năng nhiều công
trình bảo vệ bờ.
Các tình huống trên được sử dụng để nhận diện mức độ rủi ro và giới hạn
năng lực ứng phó, không phải các kịch bản có tần suất xác định do hiện chưa có
đủ chuỗi số liệu đồng nhất để tính xác suất sạt lở cho từng đoạn bờ.
Mức độ phơi nhiễm
Sạt lở bờ sông
Trong khoảng 1.056 km bờ các sông chính, hơn 64 km đang bị sạt lở,
trong đó trên 44 km sạt lở nặng. Các điểm tập trung chủ yếu nằm dọc sông
Hương, sông Bồ, sông Ô Lâu, sông Tả Trạch, sông Bù Lu-Nước Ngọt và một số
sông, suối nhỏ. Sạt lở ảnh hưởng trực tiếp đến hơn 1.000 hộ dân, làm mất trên
60 ha đất sản xuất, đồng thời đe dọa đường giao thông, trạm bơm, đường điện,
công trình di tích và hạ tầng ven sông. Báo cáo năm 2023 ghi nhận khoảng:
1,5 km sạt lở dọc sông Ô Lâu.
9,5 km dọc sông Bồ và các nhánh thuộc khu vực Hương Trà, Phong
Điền và Quảng Điền.
Khoảng 5 km dọc sông Hương.
1 km dọc sông Bạch Yến.
1,5 km dọc sông Bù Lu-Nước Ngọt.
Khoảng 3 km tại các sông Phú Bài, sông Vực và sông Nông.
Năm 2025 tiếp tục ghi nhận sạt lở trên phạm vi rộng. Các điểm đáng chú
ý gồm 1,1 km bờ sông Ô Lâu tại Phong Dinh; khoảng 3 km bờ sông tại Kim
Long; 1,5 km bờ sông Tả Trạch tại Nam Đông; sạt lở hai bên sông Tả Trạch tại
Khe Tre, có nơi ăn sâu 20-40 m; khoảng 10 km sông, suối tại A Lưới 4; và
khoảng 2,5 km bờ sông Bù Lu-Nước Ngọt tại Chân Mây-Lăng Cô, trong đó
khoảng 1,5 km sạt lở nghiêm trọng, gần sát nhà và ảnh hưởng trực tiếp đến 21
hộ dân.
Tháng 10/2025, thành phố phải công bố tình huống khẩn cấp đối với đoạn
bờ sông Bồ qua thôn Niệm Phò, xã Quảng Điền, nơi sạt lở kéo dài khoảng 900
m và đe dọa nhà ở, đất sản xuất và giao thông ven sông.
Sạt lở bờ biển
Theo số liệu hiện có, khoảng 21-30 km trong tổng số 128 km bờ biển có
biểu hiện xói lở, trong đó trên 10 km được đánh giá là sạt lở nặng. Sạt lở ven
biển ảnh hưởng hoặc đe dọa trên 2.000 hộ dân, Quốc lộ 49B, các tuyến đường
79
ven biển, cơ sở du lịch, đất sản xuất, dải cồn cát và hệ sinh thái đầm phá Tam
Giang-Cầu Hai.
Các điểm nóng tập trung tại:
Quảng Công, Quảng Ngạn, nay thuộc khu vực Phong Quảng.
Hải Dương, Thuận An, Phú Thuận, nay tập trung khu vực Thuận An.
Phú Hải, Phú Diên và các đoạn ven biển lân cận.
Giang Hải, Vinh Hiền, Vinh Mỹ, Vinh Thanh, nay chủ yếu Vinh Lộc.
Một số đoạn thuộc Phú Lộc và Chân Mây-Lăng Cô.
Phân tích ảnh viễn thám giai đoạn 2018-2023 cho thấy bờ biển Huế diễn
biến bồi-xói đan xen nhưng xu thế xói lở vẫn nổi trội tại nhiều đoạn. Tốc độ xói
ngang lớn nhất được báo cáo khoảng 11,25 m/năm tại Thuận An; 5,69 m/năm tại
Lộc Vĩnh; 5,55 m/năm tại Giang Hải; 5,22 m/năm tại Vinh Hiền; khoảng 4,45-
4,50 m/năm tại Phú Thuận và Quảng Công. Đây là giá trị cực đại tại một số vị
trí, không phải tốc độ trung bình cho toàn đoạn bờ.
Các nghiên cứu khoa học bằng viễn thám cũng xác nhận hai dạng biến
động nổi bật của vùng đầm phá Huế là sự dịch chuyển cửa Thuận An và biến đổi
hình thái dải cồn cát chắn giữa đầm phá và biển; trận lũ năm 1999 đã gây thay
đổi lớn cho khu vực cửa Thuận An.
Năm 2023, nhiều đoạn bờ biển tiếp tục bị xói sâu:
Phong Hải-Điền Hòa: khoảng 1,5 km.
Hải Dương: khoảng 600 m và một đoạn tiếp giáp khoảng 150 m.
Quảng Ngạn: khoảng 500 m, ăn sâu 5-7 m.
Phú Thuận: khoảng 1,2 km, có nơi ăn sâu trên 15 m.
Phú Hải: khoảng 1 km.
Phú Diên: khoảng 1 km;
Vinh Thanh: khoảng 570 m.
Giang Hải-Vinh Hiền: khoảng 1 km, hình thành lạch mới và ảnh hưởng
khoảng 70 ha nuôi trồng thủy sản cùng 100 ha lúa, hoa màu.
Tháng 10/2024, đoạn giáp ranh Phú Thuận-Thuận An dài khoảng 1 km
tiếp tục sạt lở; đoạn nặng khoảng 300 m, có nơi biển ăn sâu 70-100 m, phá hỏng
hạ tầng bãi tắm và đe dọa đường nội bộ, cơ sở dịch vụ cùng nhà dân. UBND
tỉnh đã phải công bố tình huống khẩn cấp, huy động vật liệu, lực lượng và triển
khai gia cố tạm thời.
Mức độ dễ bị tổn thương và năng lực phòng ngừa, ứng phó
Mức dễ bị tổn thương cao tập trung tại các vị trí có một hoặc nhiều đặc
điểm sau:
Bờ đã từng sạt lở, có vết nứt hoặc chân bờ tiếp tục bị xói.
Nhà, đường, công trình nằm sát mép bờ, không còn khoảng lùi an toàn.
Bờ đất, cồn cát và kè tạm có khả năng chịu sóng, dòng chảy thấp.
Các đoạn chưa có công trình bảo vệ nằm liền kề đoạn đã được xây kè.
Khu vực cửa sông, nơi dòng chảy sông tương tác mạnh với sóng, triều và
dòng ven bờ.
Sinh kế phụ thuộc trực tiếp vào đất ven sông, bãi biển, cửa biển, đầm phá.
Hộ nghèo, hộ không có đất hoặc nơi ở thay thế và hộ có khả năng tự
phục hồi tài chính thấp.
Sạt lở có tính tích lũy do một đoạn bờ bị suy yếu trong một đợt thiên tai
có thể tiếp tục sạt sâu hơn trong các đợt sau, kể cả khi cường độ sự kiện không
lớn bằng. Chi phí xử lý vì vậy không chỉ gồm sửa chữa sau một trận mà còn bao
gồm gia cố khẩn cấp lặp lại, mất đất, di dời và gián đoạn sinh kế. Đối với bờ
biển, biến động đường bờ có thể bao gồm cả dịch chuyển ngắn hạn do sóng và
thay đổi hình thái dài hạn.
Thành phố đã đầu tư nhiều công trình kè bờ sông, bờ biển và công trình
ổn định cửa Thuận An, Tư Hiền. Các công trình cửa biển đã góp phần kiểm soát
tốt hơn tình trạng bồi lấp, dịch chuyển cửa và cải thiện điều kiện ra vào của tàu
thuyền.
Khi sạt lở phát triển nhanh, chính quyền có khả năng công bố tình huống
khẩn cấp, khoanh vùng nguy hiểm, cắm biển, canh gác, huy động quân đội, biên
phòng, dân quân và vật tư để gia cố tạm thời. Tại Phú Thuận-Thuận An năm
2024, địa phương đã huy động vải lọc, đá hộc, bao tải và cừ tràm để xử lý khẩn
cấp, đồng thời lập phương án đầu tư ổn định lâu dài.
Đối với bờ sông Bồ, thành phố đã chuẩn bị dự án gia cố khoảng 3,35 km
qua khu vực Quảng Điền, nhằm bảo vệ đường giao thông, đất sản xuất, hạ tầng
kỹ thuật và khoảng 150 hộ dân.
Tuy vậy, năng lực hiện tại còn một số hạn chế:
Số điểm sạt lở lớn và phân bố trên phạm vi rộng, trong khi nguồn vốn xử
lý còn hạn chế.
Nhiều vị trí mới chỉ gia cố khẩn cấp, chưa có giải pháp ổn định lâu dài.
Theo dõi đường bờ và bờ sông chưa được cập nhật theo một phương
pháp thống nhất hằng năm.
Chưa đánh giá đầy đủ tác động tích lũy của công trình chỉnh trị, kè và
biến động bùn cát đối với các đoạn bờ lân cận.
Quỹ đất, phương án di dời lâu dài cho các hộ nằm sát mép bờ còn hạn chế.
Công trình bảo vệ bờ làm giảm rủi ro tại vị trí được bảo vệ nhưng không
thể loại bỏ toàn bộ rủi ro khi lũ, sóng và nước dâng vượt điều kiện thiết kế.
81
Năm 2021, địa phương đề xuất khoảng 735 tỷ đồng để khắc phục hạ tầng,
trong đó khoảng 322 tỷ đồng cho kè biển và 116 tỷ đồng cho kè sông. Quy mô
đề xuất cho thấy nhu cầu đầu tư lớn so với nguồn lực thường xuyên.
Kết luận mức độ rủi ro
Kết quả phân vùng rủi ro do sạt lở bờ sông, bờ biển thể hiện tại Bản đồ
VIII.7, Phụ lục VIII
Rủi ro sạt lở bờ sông, bờ biển của thành phố ở mức trung bình trong điều
kiện diễn biến thường xuyên, tăng lên cao khi xảy ra lũ lớn, bão, sóng lớn và
triều cường, và có thể đạt mức rất cao trong tình huống cực đoan làm thay đổi
hình thái cửa sông, cồn cát và hệ thống bờ.
Rủi ro không phân bố đồng đều. Đối với bờ sông, mức rủi ro cao và rất
cao tập trung dọc sông Bồ, Ô Lâu, Hương, Tả Trạch, Bù Lu-Nước Ngọt và tại
các khu dân cư, tuyến đường, trạm bơm nằm sát bờ. Đối với bờ biển, các điểm
ưu tiên gồm Phong Quảng, Thuận An, Vinh Lộc, Phú Lộc và Chân Mây-Lăng
Cô, đặc biệt tại Phú Thuận-Thuận An, Phú Hải, Giang Hải-Vinh Hiền và các
đoạn sát cửa biển.
Năng lực công trình, cảnh báo và xử lý khẩn cấp đã giúp bảo vệ nhiều khu
vực dân cư và hạ tầng. Tuy nhiên, sạt lở vẫn có tính tích lũy, có thể tái diễn tại
đoạn cũ hoặc dịch chuyển sang đoạn lân cận. Vì vậy, Kế hoạch PCTT 5 năm cần
kết hợp công trình với quan trắc đường bờ, quản lý hành lang bảo vệ bờ, kiểm
soát xây dựng sát mép nước, bảo vệ cồn cát và thảm thực vật, rà soát di dời hộ
nguy hiểm, quản lý bùn cát và đánh giá tác động liên vùng trước khi xây dựng
hoặc kéo dài các tuyến kè.
Bảng 13. Tổng hợp rủi ro xói lở bờ sông, bờ biển
Kịch bản
Mức rủi ro
chung của
thành phố
Rủi ro đối với ngành, khu vực đặc thù so
với mức chung
Tình huống 1: thường xuyên,
cục bộ - Lũ vừa, dòng chảy
mạnh cục bộ; sóng lớn và
triều cao theo mùa
Trung bình
Cao: các điểm ven sông Hương, Bồ, Ô Lâu,
Tả Trạch, Bù Lu; Phong Quảng, Thuận An,
Vinh Lộc
Tình huống 2: nghiêm trọng,
nhiều khu vực - Lũ lớn; bão
hoặc ATNĐ kết hợp sóng
lớn, nước dâng và triều
cường
Cao
Rất cao: Quảng Điền, Kim Long, Khe Tre,
Nam Đông, Chân Mây-Lăng Cô; Phú
Thuận-Thuận An, Phú Hải, Giang Hải-Vinh
Hiền
Tình huống 3: cực đoan, biến
động hình thái lớn - Lũ đặc
biệt lớn kết hợp sóng, nước
dâng, mực nước biển cao;
nhiều đợt liên tiếp
Rất cao
Đặc biệt cao: dải cồn cát, cửa Thuận An-Tư
Hiền, khu vực có nguy cơ mở cửa biển mới;
dân cư, giao thông, thủy lợi, thủy sản, du
lịch và hệ sinh thái đầm phá
3.6 Rủi ro hạn hán
Hạn hán tại Huế chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, gồm: thiếu mưa và
nắng nóng kéo dài; suy giảm dòng chảy sông, dung tích hồ chứa và độ ẩm đất.
Hạn hán dẫn đến thiếu nước tưới, nước sinh hoạt và nước cho sản xuất; gia tăng
xâm nhập mặn, suy giảm chất lượng nước và nguy cơ cháy rừng.
Các báo cáo PCTT giai đoạn 2020-2025 chưa thống kê riêng và đầy đủ số
diện tích, số hộ hoặc giá trị thiệt hại do hạn hán qua từng năm. Vì vậy, đánh giá
dưới đây chủ yếu dựa trên diễn biến nắng nóng, hiện trạng nguồn nước và công
trình thủy lợi, cơ sở dữ liệu cấp nước, kịch bản nguồn nước lưu vực sông Hương
năm 2025 và những khu vực đã ghi nhận thiếu nước cục bộ.
Mức độ rủi ro được xác định trên cơ sở kết hợp: đặc điểm và khả năng
xảy ra khô hạn; quy mô dân cư, sản xuất, hạ tầng và hệ sinh thái có thể bị ảnh
hưởng; mức độ phụ thuộc vào nguồn nước và khả năng tiếp cận nguồn cấp ổn
định; cùng năng lực của hệ thống hồ chứa, thủy lợi, cấp nước và công trình ngăn
mặn. Đánh giá tập trung xác định mức rủi ro chung của thành phố trong kỳ kế
hoạch, đồng thời làm rõ các địa bàn, ngành và nhóm đối tượng có rủi ro cao hơn
mức chung.
Đánh giá chủ yếu mang tính định tính, dựa trên diễn biến nắng nóng, hiện
trạng nguồn nước và công trình, số liệu tiếp cận nước, diện tích chưa được cấp
nước ổn định và các kịch bản nguồn nước lưu vực sông Hương. Mức rủi ro cần
tiếp tục được cập nhật khi có số liệu đồng bộ hơn về lượng mưa thiếu hụt, dòng
chảy mùa kiệt, dung tích hồ, độ ẩm đất, độ mặn, số hộ thiếu nước và thiệt hại
thực tế.
Đặc điểm hiểm họa
Nắng nóng là một trong những nguyên nhân gây ra hạn hán. Nắng nóng
xảy ra hầu hết các năm nhưng số đợt biến động đáng kể. Năm 2020 ghi nhận 6
đợt, năm 2022 có 16 đợt; năm 2023 nhiệt độ tại Nam Đông đạt 41,5°C và năm
2024 đạt 42,2°C, trong khi A Lưới đạt 39,2°C. Năm 2025 có 7 đợt, xuất hiện
muộn và kết thúc sớm hơn do các hình thế gây mưa hoạt động mạnh. Chuỗi số
liệu chưa cho thấy số đợt nắng nóng tăng đều, nhưng cho thấy cường độ cực
đoan đã đạt và vượt các giá trị lịch sử, làm tăng bốc thoát hơi, nhu cầu dùng
nước, nguy cơ thiếu nước, hạn nông nghiệp và cháy rừng.
83
Kịch bản biến đổi khí hậu quốc gia 2020 nhận định số ngày nắng nóng có
xu hướng tăng, đặc biệt tại Bắc Trung Bộ và Trung Bộ; hạn hán có thể trở nên
khắc nghiệt hơn khi nhiệt độ tăng và lượng mưa mùa khô suy giảm. Tuy nhiên,
quy mô thay đổi cụ thể tại Huế cần được xác định từ số liệu địa phương và các
mô hình cập nhật, không nên suy trực tiếp từ xu thế toàn quốc.
Năm 2025 là ví dụ cho thấy cần phân biệt trạng thái nguồn nước toàn lưu
vực với tình trạng thiếu nước tại từng địa bàn. Đến ngày 31/5/2025, nguồn nước
lưu vực sông Hương được đánh giá ở trạng thái bình thường, tổng lượng nước
tích trữ tại ba hồ lớn đạt khoảng 1.216 triệu m³. Tuy nhiên, hạn hán và thiếu
nước cục bộ vẫn xảy ra tại một số khu vực đồng bằng ven biển ngoài đầm Cầu
Hai và phá Tam Giang, A Lưới và Phong Điền. Nguyên nhân chủ yếu là thiếu
công trình cấp nước, nằm ngoài phạm vi điều tiết của các hồ lớn, hệ thống thủy
lợi chưa đồng bộ, kết hợp suy giảm mưa và nắng nóng kéo dài
17
.
Mức độ phơi nhiễm
Mức độ phơi nhiễm được xác định bởi quy mô dân cư, hoạt động sản
xuất, hạ tầng, dịch vụ thiết yếu và hệ sinh thái nằm tại những khu vực có khả
năng suy giảm nguồn nước, thiếu nước tưới, thiếu nước sinh hoạt hoặc gia tăng
xâm nhập mặn. Phơi nhiễm không đồng nghĩa với thiếu nước hiện tại; một đối
tượng được coi là phơi nhiễm khi hoạt động và sự an toàn của đối tượng đó phụ
thuộc đáng kể vào nguồn nước có thể bị suy giảm trong thời kỳ khô hạn.
Vùng phơi nhiễm tập trung tại các xã miền núi và khu dân cư phân tán ở
A Lưới, Nam Đông, Khe Tre, Long Quảng; vùng cát, ven biển và ngoài phạm vi
điều tiết của các hồ lớn tại Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang, Phú Vinh, Vinh
Lộc, Phú Lộc và Chân Mây-Lăng Cô; cùng các khu dân cư cuối mạng lưới cấp
nước, địa hình cao hoặc xa nguồn cấp nước tập trung.
Nông nghiệp, chăn nuôi và thủy sản là những lĩnh vực phơi nhiễm cao,
đặc biệt đối với lúa Hè Thu, rau màu, cây ăn quả và ao nuôi trong giai đoạn
nắng nóng, thiếu nước hoặc độ mặn tăng. Các cơ sở y tế, trường học, khu công
17
Báo cáo tình hình thực hiện Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hương, 2026, Cục Quản lý tài nguyên
nước
nghiệp, dịch vụ du lịch và hệ sinh thái sông-đầm phá cũng có thể bị ảnh hưởng
khi nguồn nước suy giảm hoặc chất lượng nước xấu đi.
Nhìn chung, mức phơi nhiễm toàn thành phố ở mức trung bình trong điều
kiện khô hạn theo mùa, nhưng cao tại vùng miền núi, vùng cát ven biển, khu vực
ngoài phạm vi điều tiết và các ngành phụ thuộc trực tiếp vào nguồn nước.
Mức độ dễ bị tổn thương và năng lực phòng ngừa, ứng phó
Mức độ dễ bị tổn thương phụ thuộc vào khả năng tiếp cận nguồn nước ổn
định, mức độ phụ thuộc vào một nguồn cấp, khả năng dự trữ nước, tình trạng
công trình và khả năng huy động nguồn thay thế.
Cơ sở dữ liệu cấp xã ghi nhận khoảng 25.535 hộ chưa tiếp cận nước máy,
2.788 hộ chưa tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh và 7.486 hộ từng thiếu nước
sinh hoạt trên một ngày khi có thiên tai. Các hộ phụ thuộc vào giếng, khe suối,
công trình cấp nước nhỏ, không có bể chứa hoặc ở xa mạng lưới có mức dễ bị
tổn thương cao hơn.
Trong sản xuất, khoảng 2.800-3.200 ha đất canh tác chưa được cấp nước
ổn định. Diện tích tưới thực tế của 106 hồ chứa thủy lợi chỉ đạt khoảng 4.393 ha,
thấp hơn diện tích thiết kế 6.456 ha, phản ánh hạn chế về nguồn nước, đầu mối,
kênh dẫn và khả năng đưa nước đến mặt ruộng.
Thành phố có năng lực chống chịu tương đối tốt nhờ hệ thống hồ chứa,
đập dâng, trạm bơm, kênh mương, mạng cấp nước và các công trình ngăn mặn.
Ba hồ Tả Trạch, Bình Điền và Hương Điền có vai trò quan trọng trong bổ sung
dòng chảy mùa kiệt, cấp nước sinh hoạt, sản xuất và hạn chế xâm nhập mặn.
Đập Thảo Long và các công trình ngăn mặn cũng giúp kiểm soát mặn trên sông
Hương.
Tuy nhiên, hiệu quả bảo đảm nước chưa đồng đều. Các vùng ngoài phạm
vi điều tiết, khu dân cư phân tán, vùng cát ven biển, khu vực phụ thuộc hồ nhỏ
và công trình cấp nước quy mô nhỏ vẫn dễ thiếu nước. Hạn chế chính gồm công
trình xuống cấp, hệ thống dẫn và phân phối chưa đồng bộ, dữ liệu chưa thống
nhất, thiếu bản đồ rủi ro chi tiết và phương án cấp nước khẩn cấp chưa đầy đủ.
85
Nhìn chung, thành phố có năng lực tương đối tốt ở cấp lưu vực, nhưng
mức dễ bị tổn thương vẫn cao tại một số địa bàn và nhóm đối tượng, đặc biệt khi
hạn hán kéo dài, lượng nước đến hồ suy giảm hoặc khả năng truyền dẫn không
đáp ứng được nhu cầu.
Kết luận mức độ rủi ro
Trên cơ sở đặc điểm nguồn nước, mức độ phơi nhiễm, tính dễ bị tổn
thương và năng lực hiện có, rủi ro hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn của
thành phố Huế được đánh giá ở mức trung bình. Thành phố có năng lực chống
chịu tương đối tốt nhờ các hồ Tả Trạch, Bình Điền và Hương Điền; hệ thống hồ
thủy lợi, đập dâng, trạm bơm và kênh mương; mạng lưới cấp nước tập trung;
cùng các công trình ngăn mặn, giữ ngọt như đập Thảo Long. Các hệ thống này
giúp duy trì dòng chảy mùa kiệt và bảo đảm phần lớn nhu cầu nước sinh hoạt,
sản xuất trong điều kiện khô hạn thông thường.
Tuy nhiên, rủi ro phân bố không đồng đều và có thể ở mức cao cục bộ tại
các khu vực ngoài phạm vi điều tiết của hồ lớn, vùng cát và ven biển, khu dân
cư miền núi phân tán, cuối hệ thống tưới hoặc phụ thuộc vào giếng, khe suối, hồ
nhỏ và công trình cấp nước quy mô hạn chế. Các địa bàn cần ưu tiên gồm một
số xã thuộc A Lưới, Nam Đông, Khe Tre, Long Quảng; vùng cát Phong Điền-
Quảng Điền; và các khu vực ven biển, ngoài đầm phá thuộc Phú Vang, Phú
Vinh, Vinh Lộc, Phú Lộc và Chân Mây-Lăng Cô.
Nông nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, cấp nước nông thôn, lâm
nghiệp và các hệ sinh thái sông-đầm phá có mức rủi ro cao hơn mức chung.
Khoảng 2.800-3.200 ha đất canh tác chưa được cấp nước ổn định, trong khi một
bộ phận hộ dân chưa tiếp cận nước máy hoặc còn phụ thuộc vào nguồn nước
nhỏ, làm tăng khả năng bị ảnh hưởng khi mùa khô kéo dài.
Trong trường hợp lượng mưa và dòng chảy thiếu hụt kéo dài, nước đến
các hồ giảm, nhu cầu sử dụng nước tăng cao và xâm nhập mặn gia tăng, rủi ro
chung của thành phố có thể tăng từ trung bình lên cao. Khi đó, hạn hán không
chỉ ảnh hưởng đến nông nghiệp mà còn có thể gây áp lực lên cấp nước sinh hoạt,
y tế, sản xuất, du lịch, phòng cháy rừng và duy trì dòng chảy môi trường. Vì
vậy, trọng tâm quản lý rủi ro cần hướng vào các vùng chưa được bảo đảm nguồn
nước ổn định, tăng khả năng truyền dẫn và dự trữ nước, nâng cấp công trình
nhỏ, điều hành phân bổ nước theo dự báo và chuẩn bị phương án cấp nước khẩn
cấp cho dân cư và các dịch vụ thiết yếu.
3.7 Rủi ro xâm nhập mặn
Đánh giá xâm nhập mặn xem xét sự tương tác giữa dòng chảy mùa kiệt,
thủy triều, mực nước biển, khai thác nước và vận hành hồ chứa, đập ngăn mặn.
Phạm vi đánh giá gồm ảnh hưởng đến cấp nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp,
thủy sản, nước dưới đất và hệ sinh thái sông-đầm phá.
Do báo cáo PCTT giai đoạn 2020-2025 chưa thống kê riêng đầy đủ phạm
vi, thời gian và thiệt hại do xâm nhập mặn, kết quả đánh giá chủ yếu mang tính
định tính.
Mức độ phơi nhiễm
Xâm nhập mặn tại Huế thường gắn với mùa khô, khi dòng chảy sông suy
giảm và ảnh hưởng của thủy triều tăng. Các nghiên cứu về lưu vực sông Hương
cho thấy dòng chảy mùa kiệt có khả năng giảm trong điều kiện biến đổi khí hậu,
qua đó làm tăng áp lực xâm nhập mặn ở hạ lưu
18
.
Trên dòng chính sông Hương, xâm nhập mặn hiện cơ bản được kiểm soát
nhờ đập Thảo Long. Tuy nhiên, nguy cơ vẫn tồn tại vùng cửa biển, ven đầm
phá, các lưu vực sông nhỏ và khu vực ngoài phạm vi điều tiết của công trình,
đặc biệt quanh cửa Thuận An, cửa Tư Hiền, vùng ven biển-đầm phá thuộc
Phong Quảng-Đan Điền, Thuận An, Phú Vinh, Vinh Lộc, Phú Lộc và Chân
Mây-Lăng Cô.
Các đối tượng có mức phơi nhiễm cao gồm nguồn nước sinh hoạt và sản
xuất; vùng trồng lúa, rau màu ven biển; ao nuôi, lồng bè và sinh kế thủy sản tại
Tam Giang-Cầu Hai; cùng hệ sinh thái cửa sông, đầm phá và nguồn nước dưới
đất ven biển. Khoảng 2.800-3.200 ha đất canh tác chưa được cấp nước ổn định,
18
Impacts of climate change on water resources in the Huong River basin and adaptation measures, Trân Thuc,
VNU Journal of Science, Earth Sciences 26 (2010) 210-217
87
phần lớn thuộc vùng cát, ven biển, ngoài đầm phá và một số khu vực ngoài hệ
thống điều tiết lớn.
Nhận định chung: mức phơi nhiễm toàn thành phố ở mức trung bình,
nhưng cao tại vùng cửa sông, ven biển-đầm phá, khu vực cấp nước chưa ổn định và
các vùng sản xuất, nuôi trồng thủy sản phụ thuộc trực tiếp vào chế độ mặn-ngọt.
Mức độ dễ bị tổn thương và năng lực phòng ngừa, ứng phó
Tính dễ bị tổn thương cao tại các khu vực phụ thuộc vào một nguồn nước;
vùng cuối hệ thống tưới; khu vực sử dụng hồ nhỏ, giếng nông hoặc nguồn nước
mặt chịu ảnh hưởng thủy triều; và các vùng sản xuất chưa có nguồn cấp thay
thế. Nuôi trồng thủy sản cũng nhạy cảm với cả tăng mặn và biến động mặn đột
ngột, trong khi cây trồng và nước sinh hoạt yêu cầu duy trì độ mặn thấp.
Thành phố có năng lực kiểm soát tương đối tốt nhờ đập Thảo Long, đập
Cửa Lác và các cống, đập ngăn mặn nhỏ; đồng thời các hồ Tả Trạch, Bình Điền
và Hương Điền hỗ trợ duy trì dòng chảy mùa kiệt. Tài liệu hiện trạng ghi nhận
xâm nhập mặn trên dòng chính sông Hương đã giảm đáng kể. Tuy nhiên, do
mạng lưới quan trắc độ mặn và công cụ hỗ trợ điều hành nguồn nước còn hạn
chế, chưa có đủ chuỗi số liệu để khẳng định xâm nhập mặn đã được kiểm soát
ổn định trong mọi tình huống, đặc biệt khi dòng chảy mùa kiệt suy giảm hoặc
hạn hán kéo dài.
Hiệu quả bảo vệ cũng chưa đồng đều giữa các khu vực. Nhiều công trình
thủy lợi nhỏ đã xuống cấp; hệ thống dẫn và phân phối nước chưa đồng bộ; quan
trắc độ mặn và công cụ hỗ trợ điều hành nguồn nước còn hạn chế. Đặc biệt, việc
phụ thuộc lớn vào đập Thảo Long tạo ra rủi ro nếu công trình hoặc hệ thống cửa
van gặp sự cố. Công trình đang được sửa chữa cấp bách trong giai đoạn 2025-
2027 nhằm bảo đảm an toàn và duy trì chức năng ngăn mặn, giữ ngọt.
Nhận định chung: năng lực kiểm soát xâm nhập mặn tương đối tốt trên hệ
thống sông Hương, nhưng còn hạn chế tại các lưu vực nhỏ, vùng ven biển-đầm phá
và những nơi chưa có nguồn nước dự phòng hoặc nằm ngoài phạm vi điều tiết.
Kết luận mức độ rủi ro
Rủi ro xâm nhập mặn chung của thành phố Huế được đánh giá ở mức
trung bình. Nguy cơ trên dòng chính sông Hương đã giảm đáng kể nhờ hệ thống
hồ chứa và đập Thảo Long, nhưng rủi ro vẫn ở mức cao cục bộ tại vùng cửa
sông, ven biển-đầm phá, khu vực ngoài phạm vi kiểm soát của các công trình và
những vùng sản xuất chưa được cấp nước ổn định.
Rủi ro có thể gia tăng khi hạn hán kéo dài, dòng chảy mùa kiệt suy giảm,
triều cao hoặc mực nước biển tăng; đồng thời có sự cố công trình, vận hành
không phù hợp hoặc khai thác nước dưới đất quá mức.
3.8 Rủi ro nắng nóng cực đoan
Đánh giá rủi ro nắng nóng cực đoan được thực hiện theo cách tiếp cận
tổng hợp, xem xét đồng thời: cường độ và thời gian kéo dài của nắng nóng;
nhiệt độ và độ ẩm không khí; khả năng tích nhiệt vào ban đêm; hiệu ứng đảo
nhiệt đô thị; quy mô dân cư, lao động, hạ tầng và hoạt động kinh tế chịu tác
động; cùng khả năng phòng ngừa, thích ứng và duy trì các dịch vụ thiết yếu.
Nắng nóng có thể gây tác động nghiêm trọng đến sức khỏe, lao động,
điện, nước và sinh hoạt ngay cả khi chưa xảy ra thiếu nước; ngược lại, hạn hán
còn phụ thuộc vào thiếu hụt mưa, dòng chảy và khả năng cấp nước. Đánh giá
cũng phân biệt nhiệt độ không khí với nhiệt độ bề mặt đất: dữ liệu nhiệt độ bề
mặt từ ảnh vệ tinh được sử dụng để nhận diện điểm nóng và chênh lệch không
gian, nhưng không thay thế số liệu quan trắc nhiệt độ, độ ẩm và mức độ nhiệt
cảm nhận mà con người thực tế phải chịu.
Mức rủi ro được xác định cho toàn thành phố trong kỳ kế hoạch, đồng
thời làm rõ các khu vực, ngành và nhóm dân cư có rủi ro cao hơn mức chung.
Do thiếu các dữ liệu thống kê đầy đủ về số ca bệnh, tử vong, ngày công lao
động, gián đoạn học tập hoặc thiệt hại kinh tế riêng do nắng nóng, kết quả chủ
yếu mang tính định tính và cần tiếp tục cập nhật bằng dữ liệu y tế, lao động,
điện-nước và quan trắc vi khí hậu.
Mức độ phơi nhiễm
Nắng nóng xảy ra hầu hết các năm tại Huế, nhưng số đợt và cường độ
biến động đáng kể. Giai đoạn 2020-2025 ghi nhận từ 6-16 đợt mỗi năm; nhiệt độ
89
cực đại đã vượt 40°C trong một số năm, như 41,5°C tại Nam Đông năm 2023 và
42,2°C được ghi nhận năm 2024. Chuỗi số liệu chưa cho thấy số đợt tăng đều
qua từng năm, nhưng phản ánh khả năng xuất hiện các cực trị nhiệt rất cao. Kịch
bản biến đổi khí hậu quốc gia cũng dự báo nhiệt độ cực trị và số ngày nắng nóng
tại Bắc Trung Bộ có xu hướng tiếp tục tăng.
Ngoài nắng nóng khí tượng trên diện rộng, khu vực đô thị còn chịu tác
động của hiệu ứng đảo nhiệt. Phân tích ảnh vệ tinh giai đoạn 2014-2024 cho
thấy diện tích xanh tại 12 phường trung tâm giảm khoảng 5.610 ha; nhiệt độ bề
mặt tại khu vực nội đô thường cao hơn mức trung bình thành phố khoảng 4-8°C,
trong khi các khu vực ven đô cao hơn khoảng 1-4°C. Các điểm nóng tập trung
tại những khu vực có mật độ xây dựng cao, ít cây xanh và mặt nước, như Thuận
Hóa, Phú Xuân, An Cựu, Vỹ Dạ, cùng một số khu vực ven đô đang đô thị hóa
nhanh như Hương An và Hóa Châu.
Nắng nóng có phạm vi phơi nhiễm rộng, về nguyên tắc có thể ảnh hưởng
đến toàn bộ dân cư thành phố. Tuy nhiên, mức phơi nhiễm cao hơn tại khu vực
nội đô đông dân, khu ven đô đang bê tông hóa, khu công nghiệp, chợ, bến xe,
điểm du lịch, công trường và những nơi thiếu bóng mát hoặc thông gió. Các
nhóm phơi nhiễm trực tiếp gồm công nhân xây dựng, lao động giao thông và vệ
sinh môi trường, tiểu thương, lái xe, nhân viên du lịch, nông dân, ngư dân và
những người phải làm việc ngoài trời hoặc trong không gian hấp thụ nhiệt lớn.
Trường học, cơ sở y tế, cơ sở chăm sóc xã hội và khu dân cư tập trung
cũng có mức phơi nhiễm cao khi công trình thiếu thông gió, cách nhiệt hoặc hệ
thống làm mát. Nắng nóng đồng thời làm tăng nhu cầu sử dụng điện và nước;
nếu xảy ra mất điện hoặc gián đoạn cấp nước, khả năng duy trì hoạt động của
bệnh viện, trường học, hộ gia đình và cơ sở dịch vụ có thể suy giảm. Khoảng
55,8% cơ sở y tế cấp xã được thống kê chưa có điện dự phòng, là một yếu tố cần
lưu ý trong các đợt nóng kéo dài.
Nông nghiệp, chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp cũng chịu phơi nhiễm
đáng kể. Nhiệt độ cao làm tăng nhu cầu tưới và nước uống cho vật nuôi, làm
nóng ao nuôi, giảm ôxy hòa tan và gia tăng nguy cơ cháy rừng tại A Lưới, Nam
Đông, Phú Lộc và vùng đồi núi phía Tây.
Nhận định chung: hiểm họa nắng nóng xuất hiện trên phạm vi toàn thành
phố, nhưng mức phơi nhiễm rất cao tại nội đô, vùng ven đô đang đô thị hóa, các
không gian thiếu cây xanh-bóng mát, khu lao động ngoài trời và các công trình
thiếu điều kiện làm mát. Vì vậy, mức phơi nhiễm chung được đánh giá là cao,
với các điểm nóng cục bộ có thể đạt mức rất cao.
Mức độ dễ bị tổn thương và năng lực phòng ngừa, ứng phó
Mức độ dễ bị tổn thương trước nắng nóng phụ thuộc vào tuổi, tình trạng
sức khỏe, nghề nghiệp, điều kiện nhà ở và nơi làm việc, khả năng tiếp cận nước
uống, điện, phương tiện làm mát, dịch vụ y tế và thông tin cảnh báo.
Thành phố hiện có khoảng 203.320 người cao tuổi và 31.600 người
khuyết tật. Đây là hai nhóm cần được ưu tiên do khả năng điều hòa thân nhiệt, di
chuyển, tự chăm sóc hoặc tiếp cận hỗ trợ có thể hạn chế. Ngoài ra, trẻ em, phụ
nữ mang thai, người mắc bệnh nền như tim mạch, hô hấp, thận, đái tháo đường
và người đang sử dụng một số loại thuốc cũng có nguy cơ cao hơn trước căng
thẳng nhiệt.
Các hộ nghèo, cận nghèo, người thuê trọ, lao động di cư và hộ sống trong
nhà mái tôn, thông gió kém, ít bóng mát thường không có điều kiện trang bị điều
hòa, cách nhiệt hoặc cải tạo nhà. Thành phố có 3.713 hộ nghèo và 6.057 hộ cận
nghèo; mặc dù tỷ lệ chung không cao, các hộ này có khả năng chịu chi phí điện,
nước và chăm sóc sức khỏe thấp hơn khi nắng nóng kéo dài.
Lao động ngoài trời và tiểu thương có mức dễ bị tổn thương cao do tiếp
xúc trực tiếp, thời gian nghỉ hạn chế và thu nhập phụ thuộc số giờ làm việc. Việc
giảm giờ làm hoặc tránh khung giờ nóng nhất có thể bảo vệ sức khỏe nhưng
đồng thời làm giảm thu nhập, đặc biệt đối với lao động tự do.
Các nghiên cứu tại Việt Nam đã ghi nhận mối liên hệ giữa nắng nóng và
gia tăng nguy cơ nhập viện. Một nghiên cứu cấp tỉnh cho thấy các đợt nóng có
liên quan đến gia tăng nhập viện và bệnh truyền nhiễm, mặc dù mức độ tác động
91
khác nhau giữa các địa phương
19
. Đây là bằng chứng tham khảo cho Huế nhưng
chưa thay thế được nghiên cứu dịch tễ riêng của thành phố.
Thành phố có một số nền tảng quan trọng để ứng phó, gồm hệ thống dự
báo khí tượng thủy văn; các kênh thông tin Hue-S, truyền thanh và mạng xã hội;
mạng lưới y tế từ thành phố đến cấp xã; hệ thống cấp nước và điện tương đối
phát triển; cùng hệ thống công viên, cây xanh, mặt nước và các công trình công
cộng có thể hỗ trợ giảm nhiệt.
Nghiên cứu nhiệt đô thị và bản đồ nhiệt độ bề mặt giai đoạn 2014-2024 đã
cung cấp cơ sở ban đầu để nhận diện khu vực nóng và mối quan hệ với suy giảm
không gian xanh. Đây là năng lực dữ liệu quan trọng để lồng ghép nắng nóng
vào quy hoạch, quản lý cây xanh và kế hoạch PCTT.
Tuy nhiên, năng lực chuẩn bị, ứng phó với nắng nóng cực đoan tại thành
phố vẫn còn một số hạn chế như:
Mạng lưới trạm khí tượng chưa đủ dày để phản ánh chênh lệch nhiệt độ
và độ ẩm giữa các khu dân cư;
Hệ thống cảnh báo nắng nóng sớm theo tác động còn hạn chế;
Dữ liệu ảnh vệ tinh chủ yếu phản ánh nhiệt độ bề mặt, chưa đo trực tiếp
mức căng thẳng nhiệt mà con người chịu;
Chưa có cơ sở dữ liệu thống nhất về ca bệnh, nhập viện, tử vong, tai nạn
lao động và ngày công mất đi do nắng nóng;
Chưa có đủ dữ liệu để xác định rủi ro chi tiết như để chồng lấp bản đồ
điểm nóng thực tế với mật độ dân cư, người cao tuổi, trẻ em, người bệnh, lao
động ngoài trời và điều kiện nhà ở;
Các điểm trú mát, cấp nước công cộng, lịch làm việc thích ứng và quy
trình bảo vệ người lao động ngoài trời chưa được xác định đồng bộ;
Sự suy giảm không gian xanh tại khu vực trung tâm và ven đô đang làm
giảm năng lực làm mát tự nhiên.
19
Heatwave and risk of hospitalization: A multi-province study in Vietnam, Environmental Pollution, 2017
Nhận định chung: thành phố có nền tảng tốt về dự báo thời tiết, y tế,
thông tin, nhưng năng lực quản lý rủi ro nắng nóng hiện còn phân tán và chưa
chuyển đầy đủ từ cảnh báo nhiệt độ sang cảnh báo tác động đối với sức khỏe,
lao động và từng khu dân cư.
Kết luận mức độ rủi ro
Trên cơ sở tần suất xuất hiện hằng năm, các giá trị nhiệt độ không khí đã
vượt 40°C, mức phơi nhiễm rộng, sự gia tăng đảo nhiệt đô thị và số lượng lớn
nhóm dân cư nhạy cảm, rủi ro do nắng nóng cực đoan của thành phố Huế được
đánh giá ở mức trung bình đến cao.
Rủi ro cao đến rất cao cục bộ tại các phường nội đô có mật độ xây dựng
lớn và ít cây xanh như Thuận Hóa, Phú Xuân, An Cựu và Vỹ Dạ; các khu vực
ven đô đang đô thị hóa nhanh như Hương An, Hóa Châu và các khu phát triển
mới; cùng các chợ, công trường, tuyến đường, khu công nghiệp và không gian
du lịch có nhiều người hoạt động ngoài trời. Tại khu vực miền núi và nông thôn,
đảo nhiệt đô thị thấp hơn nhưng người dân vẫn chịu rủi ro cao do nhiệt độ khí
tượng cực đoan, lao động ngoài trời, khả năng tiếp cận làm mát hạn chế và nguy
cơ cháy rừng.
Các nhóm có rủi ro cao nhất gồm người cao tuổi, trẻ em, phụ nữ mang
thai, người khuyết tật, người có bệnh nền, người sống một mình, hộ nghèo,
người ở trong nhà hấp thụ nhiệt lớn và lao động ngoài trời. Y tế, giáo dục, điện-
nước, xây dựng, giao thông, du lịch, nông nghiệp và lâm nghiệp là các lĩnh vực
có rủi ro cao hơn mức chung.
Trong những năm nắng nóng kéo dài, nhiệt độ vượt 40°C, độ ẩm cao, ban
đêm ít giảm nhiệt hoặc xảy ra mất điện, thiếu nước, rủi ro có thể tăng lên mức rất
cao tại các điểm nóng và đối với các nhóm dễ bị tổn thương. Kịch bản biến đổi
khí hậu 2020 cho thấy số ngày nắng nóng và nắng nóng gay gắt tại Bắc Trung Bộ
có khả năng tiếp tục tăng, vì vậy rủi ro này cần được coi là rủi ro ngày càng quan
trọng trong Kế hoạch PCTT, thay vì chỉ là hiện tượng thời tiết mùa hè.
Trọng tâm quản lý cần chuyển từ cảnh báo nhiệt độ đơn thuần sang quản
lý tác động của nắng nóng, gồm quan trắc nhiệt độ-độ ẩm và chỉ số căng thẳng
93
nhiệt; lập bản đồ điểm nóng và nhóm dễ bị tổn thương; xây dựng kế hoạch hành
động sức khỏe; điều chỉnh thời gian lao động, học tập và hoạt động ngoài trời;
bảo đảm nước uống, điện dự phòng và điểm trú mát; đồng thời bảo vệ, phục hồi
cây xanh, mặt nước và kiểm soát gia tăng mật độ xây dựng tại các vùng đang
nóng lên nhanh,
3.9 Rủi ro dông, lốc, sét
Các thiệt hại do gió bão đã được xem xét trong phần đánh giá rủi ro bão.
Phần này tập trung vào các hiện tượng đối lưu cục bộ hoặc lốc, sét, mưa đá phát
sinh trong dông, kể cả khi chúng xuất hiện đồng thời với áp thấp nhiệt đới hoặc
các hình thế thời tiết khác.
Do báo cáo các năm chưa thống kê đồng nhất số ngày dông, số lần sét
đánh, phạm vi lốc và thiệt hại riêng cho từng hiện tượng, đánh giá chủ yếu mang
tính định tính. Chưa đủ cơ sở để kết luận tần suất dông, lốc, sét đang tăng theo
một xu thế rõ ràng. Tuy nhiên, các sự kiện giai đoạn 2022-2025 cho thấy khả
năng xuất hiện những đợt cục bộ có cường độ mạnh và gây hậu quả đáng kể.
Mức độ phơi nhiễm
Dông, lốc, sét và mưa đá xảy ra hầu như hằng năm, đặc biệt trong giai
đoạn chuyển mùa, khi khí quyển bất ổn và đối lưu phát triển mạnh. Khu vực
miền núi và vùng chuyển tiếp địa hình, đặc biệt là A Lưới, có nguy cơ cao hơn
đối với lốc mạnh và mưa đá. Tuy nhiên, sét, gió giật và mưa lớn cục bộ có thể
xảy ra trên phạm vi toàn thành phố, bao gồm đô thị, đồng bằng, vùng đầm phá
và ven biển.
Các sự kiện điển hình cho thấy mức độ nguy hiểm và tính bất ngờ của loại
hình thiên tai này:
Năm 2022: Lốc xoáy tại Vinh Hiền làm 5 người bị thương và 33 nhà tốc
mái; báo cáo năm ghi nhận thêm 4 trường hợp tử vong liên quan đến mưa lớn và
sét nhưng không tách riêng nguyên nhân.
Năm 2023: Ba đợt dông, lốc, sét làm chìm 2 tàu cá; 9 người bị thương và
165 nhà tốc mái, chủ yếu tại A Lưới và khu vực ven biển-đầm phá.
Năm 2024: Tám đợt thời tiết đối lưu gây 1 người chết do sét, hư hỏng nhà
ở và trường học; khoảng 1.287,5 ha lúa bị đổ ngã.
Năm 2025: Ba trận lốc mạnh tại A Lưới, trong đó gió giật đạt 26 m/s (cấp
10), làm tốc mái nhà dân, trường học, hư hại cây lâm nghiệp; một trận kèm mưa
đá đường kính 4-17 mm.
Toàn bộ dân số thành phố có thể chịu tác động của sét và gió giật, nhưng
mức phơi nhiễm cao hơn tại A Lưới và các vùng chuyển tiếp địa hình, vùng ven
biển-đầm phá, khu vực sản xuất ngoài trời và nơi tập trung nhà mái tôn, cây cao,
cột điện hoặc biển quảng cáo.
Nhận định chung: phơi nhiễm trên phạm vi toàn thành phố ở mức trung
bình, nhưng ở mức cao tại A Lưới, vùng chuyển tiếp địa hình, khu vực ven biển-
đầm phá, các không gian hoạt động ngoài trời và những nơi tập trung công trình
thiếu kiên cố.
Mức độ dễ bị tổn thương và năng lực phòng ngừa, ứng phó
Tính dễ bị tổn thương trước dông, lốc và sét phụ thuộc lớn vào chất lượng
nhà ở, liên kết mái, khả năng chống gió của công trình, hệ thống chống sét, vị trí
hoạt động và khả năng tiếp nhận cảnh báo trong thời gian rất ngắn.
Các yếu tố làm gia tăng tính dễ bị tổn thương gồm:
Nhà mái tôn, mái ngói cũ, công trình tạm, trường học hoặc kho xưởng có
liên kết mái không bảo đảm.
Cây lớn, bảng hiệu, mái che và vật liệu nhẹ chưa được kiểm tra, gia cố;
Người làm việc trên đồng ruộng, công trường, mặt nước, bãi biển hoặc
khu đất trống khi dông xuất hiện.
Tàu thuyền nhỏ không kịp vào nơi trú tránh.
Công trình cao, lưới điện, trạm viễn thông và thiết bị điện tử chưa được
bảo vệ chống sét đầy đủ.
Cây trồng đang gần thu hoạch, rừng trồng và cơ sở sản xuất có mái che
diện tích lớn.
Người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em và hộ nghèo gặp khó khăn hơn
trong việc gia cố nhà, di chuyển nhanh hoặc phục hồi sau khi nhà bị tốc mái.
Thành phố hiện có khoảng 203.320 người cao tuổi, 31.600 người khuyết tật,
3.713 hộ nghèo và 6.057 hộ cận nghèo.
Thiệt hại thực tế cho thấy nhà ở và trường học là hai nhóm công trình đặc
biệt nhạy cảm. Chỉ một trận lốc cục bộ tại A Lưới năm 2023 đã làm 81 nhà bị
tốc mái; các trận năm 2024 và 2025 tiếp tục gây hư hỏng trường học. Đối với
sét, phạm vi tác động trực tiếp rất nhỏ nhưng hậu quả có thể gây tử vong tức
thời. Trên phạm vi cả nước, cơ quan phòng, chống thiên tai từng thống kê dông,
lốc, sét gây trung bình khoảng 40 người chết mỗi năm, phần lớn do sét đánh, cho
thấy rủi ro về người không tương xứng với phạm vi không gian của sự kiện.
Về năng lực, thành phố đã có hệ thống dự báo khí tượng thủy văn, các kênh
truyền tin qua Hue-S, truyền thanh, điện thoại và mạng xã hội; lực lượng xung
kích cấp xã; cùng kinh nghiệm xử lý nhà tốc mái, cây đổ, sự cố điện và hỗ trợ
người bị nạn. Các trường học, địa phương và đơn vị quản lý công trình có thể
chủ động cho dừng hoạt động ngoài trời, kiểm tra mái, cắt tỉa cây, kiểm soát tàu
thuyền và khắc phục sự cố sau dông.
Tuy nhiên, nhóm thiên tai này đặt ra những giới hạn đặc thù:
Vị trí và cường độ lốc, mưa đá hoặc sét khó dự báo chính xác từ sớm.
Khoảng thời gian từ cảnh báo đến khi xảy ra tác động có thể rất ngắn.
95
Cảnh báo diện rộng chưa luôn chuyển thành hướng dẫn hành động cụ thể
tại trường học, công trường, đồng ruộng và tàu thuyền.
Hiện chưa có kiểm kê đồng bộ về khả năng chống gió của mái nhà, hệ
thống chống sét tại trường học, chợ, nhà văn hóa và công trình công cộng.
Chưa có cơ sở dữ liệu thống nhất về vị trí sét đánh, đường đi của lốc,
cường độ gió giật và thiệt hại riêng cho từng sự kiện.
Việc thống kê đôi khi gộp thiệt hại do dông lốc với bão, áp thấp nhiệt đới hoặc
mưa lớn, gây khó khăn cho phân tích xu thế và xác định giải pháp chuyên biệt.
Theo tổ chức khí tượng thế giới, dự báo cực ngắn đối với dông và thời tiết
nguy hiểm đòi hỏi dữ liệu quan trắc được cập nhật nhanh từ radar thời tiết, vệ
tinh, trạm mặt đất và thiết bị phát hiện sét. Đây là hướng phù hợp để nâng cao
khả năng cảnh báo theo vị trí và rút ngắn thời gian truyền tin đến cộng đồng.
Nhận định chung: Huế có hệ thống thông tin và lực lượng ứng phó cơ
bản, nhưng năng lực dự báo chính xác vị trí, cảnh báo trong thời gian rất ngắn và
bảo đảm an toàn công trình chưa đồng đều. Khả năng ứng phó tương đối phù
hợp với các sự cố nhỏ, phân tán, nhưng có thể bị quá tải cục bộ khi lốc đi qua
khu dân cư, trường học hoặc vùng sản xuất tập trung.
Kết luận mức độ rủi ro
Trên cơ sở dữ liệu hiện có về mức độ phơi nhiễm, dễ bị tổn thương và năng
lực, rủi ro do dông, lốc, sét và mưa đá của thành phố Huế được đánh giá ở mức
trung bình.
Rủi ro có thể ở mức cao cục bộ tại các xã A Lưới và vùng chuyển tiếp địa
hình; khu vực ven biển, đầm phá và mặt nước; các khu dân cư có nhiều nhà mái
nhẹ; công trình thiếu kiên cố hoặc chưa có hệ thống chống sét, vùng sản xuất
nông nghiệp và rừng trồng; cùng các vị trí tập trung cây cao, cột điện và hạ tầng
ngoài trời. Đối với người làm việc trên đồng ruộng, công trường, tàu thuyền
hoặc khu đất trống, rủi ro do sét và gió giật có thể tăng lên mức rất cao trong
thời gian ngắn.
Rủi ro chung có khả năng gia tăng khi dông mạnh xảy ra vào thời điểm thu
hoạch, khi nhiều tàu thuyền đang hoạt động hoặc đi qua khu dân cư có chất
lượng nhà thấp. Vì vậy, trọng tâm quản lý cần hướng vào cảnh báo cực ngắn và
theo vị trí; quy định hành động cụ thể cho trường học, công trường, nông dân và
tàu thuyền; kiểm tra, gia cố mái và hệ thống chống sét; quản lý cây xanh, bảng
hiệu và lưới điện; đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu sự kiện để xác định chính
xác các điểm và nhóm đối tượng có rủi ro cao.
3.10 Rủi ro động đất
Đánh giá rủi ro động đất được thực hiện trên cơ sở kết hợp hoạt động địa
chấn đã ghi nhận; khả năng rung chấn cực đại theo các nghiên cứu chuyên
ngành; sự phân bố dân cư, công trình và hạ tầng có thể chịu tác động; điều kiện
nền đất, chất lượng công trình; cùng năng lực quan trắc, thiết kế kháng chấn và
ứng phó của thành phố.
Các tác động của động đất có thể bao gồm rung động nền; hư hỏng, sập đổ
công trình và cấu kiện phi kết cấu; gián đoạn giao thông, điện, nước, viễn thông,
y tế và giáo dục; nguy cơ sạt lở đất do động đất tại vùng miền núi; và sự cố thứ
cấp tại hồ chứa, công trình thủy điện, thủy lợi.
Động đất hiện chưa thể được dự báo chính xác đồng thời về thời gian, vị trí
và độ lớn. Hệ thống cảnh báo sớm, nếu có, chỉ phát hiện động đất sau khi đã
khởi phát và có thể cung cấp từ vài giây đến vài chục giây trước khi rung động
mạnh truyền tới một số địa điểm. Vì vậy, quản lý rủi ro phải tập trung chủ yếu
vào phân vùng nguy hiểm, thiết kế và gia cường công trình, bảo đảm an toàn hạ
tầng quan trọng và chuẩn bị kỹ năng ứng phó.
Đặc điểm hiểm họa và mức độ rung chấn
Theo tài liệu tổng hợp của thành phố, giai đoạn 2014-2025 ghi nhận 28 trận
động đất tại Huế và khu vực lân cận, có độ lớn từ 2,1 đến 4,7 và độ sâu chấn tiêu
khoảng 3,9-17,1 km. Phần lớn thuộc nhóm động đất rất nhỏ đến nhẹ, tập trung
chủ yếu tại khu vực A Lưới và chưa ghi nhận thiệt hại đáng kể. Trận mạnh nhất
đạt độ lớn 4,7, xảy ra ngày 15/5/2014 tại A Lưới. Ngày 7/11/2025, một trận
động đất độ lớn 4,0 xảy ra tại xã A Lưới 4, với độ sâu chấn tiêu khoảng 8,3 km.
Nghiên cứu đánh giá nguy hiểm động đất tất định năm 2020 xác định động
đất cực đại có thể phát sinh trên đới đứt gãy Trường Sơn đoạn qua A Lưới có độ
lớn khoảng M = 5,9 ± 0,5. Trong kịch bản này, gia tốc nền cực đại tính toán tại
A Lưới có thể đạt khoảng 0,31g, tương ứng cường độ IX theo thang MSK-64.
Đây là kết quả của kịch bản động đất tin cậy cực đại phục vụ thiết kế và giảm
nhẹ rủi ro, không phải dự báo rằng một trận động đất M5,9 sẽ xảy ra trong kỳ kế
hoạch
20
.
Cũng theo nghiên cứu này, đối với khu vực đô thị Huế, gia tốc nền cực đại
sau khi xét điều kiện nền đất được tính toán trong khoảng 0,10-0,22g, tương ứng
cường độ VII-VIII. Rung động nền có thể bị khuếch đại tới 1,68 lần tại những khu
vực có nền đất yếu và trầm tích dày; riêng khu vực đô thị Huế, hệ số khuếch đại
tính toán có thể đạt khoảng 1,47 lần. Dải đồng bằng và ven biển vì vậy có thể chịu
rung động đáng kể dù nằm xa hơn nguồn phát sinh động đất so với A Lưới.
Bảng đối chiếu giữa gia tốc nền cực đại và cấp cường độ động đất MSK-64
được tổng hợp theo Nghiên cứu đánh giá nguy hiểm động đất tất định năm 2020:
Gia tốc nền cực đại (PGA)
Cường độ động đất theo MSK-64
0,03 đến dưới 0,06 g
VI
0,06 đến dưới 0,12 g
VII
0,12 đến dưới 0,24 g
VIII
0,24 đến 0,31 g
IX
20
Đánh giá độ nguy hiểm động đất khu vực Thừa Thiên-Huế sử dụng phương pháp tất định, Nguyễn Ánh Dương
và cộng sự, Viện Vật lý địa cầu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Công
nghệ Biển, Tập 20, Số 4B; 2020
97
Bảng đối chiếu trên được sử dụng để diễn giải kết quả của kịch bản động đất
tin cậy cực đại theo phương pháp tất định, nhằm nhận diện mức rung chấn và hậu
quả tiềm tàng trong tình huống bất lợi. Kết quả này khác với bản đồ phân vùng
gia tốc nền sử dụng trong thiết kế theo TCVN 9386 về phương pháp xây dựng và
mục đích sử dụng; do đó không thay thế các thông số và yêu cầu thiết kế kháng
chấn quy định tại TCVN 9386.
Mức độ phơi nhiễm
Mức phơi nhiễm trực tiếp cao nhất tập trung tại các xã A Lưới 1-5, đặc
biệt khu vực trung tâm A Lưới và vùng lân cận các chấn tâm đã ghi nhận. Các
đối tượng có mức độ phơi nhiễm cao trong vùng này gồm dân cư, trường học, cơ
sở y tế, công trình công cộng; các tuyến đường miền núi; công trình thủy điện,
thủy lợi, hồ chứa, đường ống và hệ thống điện-viễn thông. Địa hình dốc còn làm
tăng khả năng động đất kích hoạt sạt lở, đá rơi và chia cắt đường giao thông.
Tại khu vực đô thị, phơi nhiễm lớn do tập trung đông dân cư, nhà ở, bệnh
viện, trường học, cầu, công trình cấp nước, điện, viễn thông và các hoạt động
kinh tế. Thành phố còn là trung tâm y tế của khu vực, với 82 cơ sở y tế và hơn
8.500 giường bệnh; đồng thời có nhiều cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng và hệ
thống di tích, công trình kiến trúc có giá trị đặc biệt. Sự gián đoạn hoặc hư hỏng
tại các hệ thống này có thể tạo ra tác động dây chuyền vượt xa thiệt hại vật chất
ban đầu.
Các di tích và công trình kiến trúc lịch sử cần được quan tâm riêng vì có
giá trị không thể thay thế; hư hỏng các tường xây, mái, trang trí kiến trúc hoặc
cấu kiện phi kết cấu có thể gây tổn thất văn hóa lớn ngay cả khi công trình
không sập đổ hoàn toàn. Nghiên cứu nguy hiểm động đất của địa phương cũng
được xây dựng nhằm phục vụ quy hoạch, an toàn công trình thủy điện, thủy lợi
và di tích văn hóa.
Nhận định chung: Mức độ phơi nhiễm với động đất của thành phố Huế
được đánh giá ở mức cao. Phơi nhiễm cao tại A Lưới do nằm gần các đới đứt
gãy và khu vực đã ghi nhận nhiều hoạt động địa chấn; trong khi khu vực đô thị
Huế có mức phơi nhiễm cao do tập trung dân cư, tài sản, dịch vụ thiết yếu và giá
trị văn hóa. Các hồ đập, công trình thủy điện-thủy lợi, cầu, tuyến giao thông
miền núi và hệ thống điện, nước, viễn thông cũng là những đối tượng cần ưu
tiên do sự cố có thể gây tác động dây chuyền.
Mức độ dễ bị tổn thương và năng lực phòng ngừa, ứng phó
Mức độ dễ bị tổn thương phụ thuộc chủ yếu vào khả năng chịu động đất
của công trình và nền móng, chất lượng thi công, tuổi công trình, sự ổn định của
mái dốc và khả năng duy trì hoạt động của các hệ thống thiết yếu sau rung chấn.
Những đối tượng có khả năng dễ bị tổn thương cao gồm:
Nhà xây bằng khối xây không được gia cường, công trình cũ hoặc đã
xuống cấp.
Công trình có mái, trần, tường ngăn, kính, thiết bị và bồn chứa không
được neo giữ an toàn.
Trường học, bệnh viện, chợ và công trình tập trung đông người chưa được
đánh giá kháng chấn.
Di tích và công trình lịch sử có vật liệu, kết cấu nhạy cảm nhưng khó áp
dụng giải pháp gia cường thông thường.
Công trình trên nền đất yếu, trầm tích dày hoặc khu vực có khả năng lún,
trượt và mất ổn định nền.
Hồ, đập, nhà máy thủy điện, cầu, đường, đường ống cấp nước và hạ tầng
điện-viễn thông mà sự cố có thể tạo tác động dây chuyền.
Các khu dân cư và tuyến giao thông dưới sườn dốc tại A Lưới, Bình Điền,
Nam Đông và Khe Tre.
Hiện chưa có nhiều thông tin, kiểm kê đầy đủ về năm xây dựng, hệ kết cấu,
tiêu chuẩn thiết kế, mức độ gia cường và khả năng chịu động đất của từng nhóm
công trình. Vì vậy, chưa thể lượng hóa chính xác số nhà, trường học, bệnh viện,
cầu hoặc di tích có nguy cơ hư hỏng theo từng mức rung chấn.
Về năng lực, Huế đã có một số nền tảng quan trọng:
Đã thực hiện một số nghiên cứu đánh giá nguy hiểm động đất phục vụ
quy hoạch, an toàn công trình thủy điện, thủy lợi và di tích văn hóa.
Từng thiết lập mạng 10 trạm địa chấn địa phương trong khuôn khổ đề tài
nghiên cứu, kết hợp với mạng quan trắc quốc gia để nhận diện các vi động đất.
Trung tâm Báo tin động đất và Cảnh báo sóng thần quốc gia theo dõi, xác
định chấn tâm, độ lớn, độ sâu và công bố thông tin sau sự kiện.
99
Thành phố đã xây dựng phương án ứng phó động đất và sóng thần, đồng
thời duy trì lực lượng tìm kiếm cứu nạn và cơ chế bốn tại chỗ
21
.
TCVN 9386-1:2025 và TCVN 9386-5:2025 đã được công bố, tạo cơ sở
cập nhật cho thiết kế kết cấu, nền móng, kết cấu chắn và các vấn đề địa kỹ thuật
chịu động đất.
Tuy nhiên, còn một số khoảng trống quan trọng:
Bản đồ nguy cơ thực hiện trong Nghiên cứu của Viện Vật lý địa cầu năm
2020 cần được chuyển thành bản đồ phân vùng chi tiết theo ranh giới 40 xã,
phường và điều kiện nền đất tại từng khu đô thị, công trình.
Chưa có cơ sở dữ liệu thống nhất về khả năng chịu động đất của nhà ở,
trường học, bệnh viện, cầu, hồ đập, hạ tầng kỹ thuật và di tích.
Hệ thống cảnh báo sớm động đất trực tiếp đến cộng đồng còn hạn chế;
thông tin hiện nay chủ yếu là báo tin và đánh giá sau khi sự kiện đã xảy ra.
Kinh nghiệm diễn tập, hướng dẫn hành động khi đang rung chấn, kiểm tra
sau động đất và quản lý các dư chấn còn hạn chế.
Nhận định chung: thành phố đã có cơ sở nghiên cứu, quan trắc quốc gia,
tiêu chuẩn kỹ thuật và lực lượng ứng phó. Tuy nhiên, năng lực giảm rủi ro còn
thiên về theo dõi và ứng phó, trong khi kiểm kê mức dễ bị tổn thương, vi phân
vùng địa chấn và đánh giá an toàn công trình hiện hữu chưa đầy đủ.
Kết luận mức độ rủi ro
Trên cơ sở động đất đã ghi nhận chủ yếu có độ lớn nhỏ, tần suất thấp và
chưa gây thiệt hại đáng kể, nhưng có sự tập trung hoạt động địa chấn tại A Lưới,
tồn tại các đới đứt gãy có khả năng phát sinh động đất lớn hơn và quy mô phơi
nhiễm về dân cư, hạ tầng và di sản tương đối lớn, rủi ro động đất chung của
thành phố Huế được đánh giá ở mức trung bình.
Rủi ro ở mức cao cục bộ tại khu vực A Lưới, đặc biệt các xã A Lưới 1-5,
khu vực gần các đới đứt gãy và chấn tâm đã ghi nhận, các công trình thủy điện-
thủy lợi, hồ chứa, tuyến giao thông dưới sườn dốc và những công trình chưa
được xác định rõ khả năng chịu động đất.
Khu vực đô thị Huế có mức rung chấn dự kiến thấp hơn A Lưới nhưng mức
độ phơi nhiễm cao do tập trung dân cư, bệnh viện, trường học, công trình hạ
tầng kỹ thuật, hoạt động kinh tế và di sản. Vì vậy, mặc dù nằm xa hơn nguồn
phát sinh động đất, hậu quả tiềm tàng tại khu vực đô thị cao; điều kiện nền đất
yếu tại một số khu vực còn có thể làm khuếch đại rung động.
Trọng tâm của Kế hoạch PCTT cần là duy trì quan trắc địa chấn tại A
Lưới-Bình Điền; cập nhật bản đồ nguy hiểm và vi phân vùng nền đất; đánh giá
an toàn động đất cho hồ đập, bệnh viện, trường học, cầu, hệ thống cấp nước-
21
Kế hoạch số 149/KH-UBND, năm 2026 về Kế hoạch ứng phó sự cố động đất, sóng thần trên địa bàn tỉnh đến
năm 2020
điện-viễn thông và di tích; kiểm kê các công trình hiện hữu có tính dễ bị tổn
thương cao; đồng thời xây dựng hướng dẫn và diễn tập về bảo vệ tại chỗ khi
rung chấn, sơ tán sau động đất, kiểm tra công trình và ứng phó với dư chấn, sạt
lở hoặc sự cố hạ tầng thứ cấp.
3.11 Rủi ro sóng thần
Sóng thần là loại hình thiên tai có tần suất rất thấp nhưng hậu quả tiềm tàng
đặc biệt lớn. Sóng thần có thể gồm nhiều đợt sóng liên tiếp, gây ngập nhanh,
dòng chảy xiết, xói lở, va đập bởi tàu thuyền, phá hủy công trình và làm gián
đoạn đồng thời nhiều dịch vụ thiết yếu.
Đánh giá được thực hiện trên cơ sở kết hợp: bằng chứng lịch sử; kết quả
mô phỏng và nghiên cứu khoa học; kịch bản ứng phó quốc gia; đặc điểm địa
hình ven biển-đầm phá; quy mô dân cư, công trình và hoạt động kinh tế phơi
nhiễm; cùng năng lực cảnh báo, sơ tán và ứng phó của thành phố. Do chưa có
chuỗi sự kiện lịch sử đủ dài và chưa tiếp cận được đầy đủ kết quả mô hình ngập
sóng thần chi tiết cho từng địa bàn, đánh giá chủ yếu mang tính định tính. Các
thông số của kịch bản quốc gia được sử dụng để xem xét tình huống hậu quả
nghiêm trọng, không được hiểu là dự báo chắc chắn hoặc độ cao sóng sẽ đồng
đều trên toàn bộ bờ biển Huế.
Mức độ phơi nhiễm
Các tài liệu PCTT giai đoạn 2020-2025 không ghi nhận hiểm họa sóng thần
xuất hiện tại Huế. Nghiên cứu trầm tích tại dải cát Hòa Duân cũng chưa phát
hiện lớp trầm tích sóng thần; các lớp sự kiện được nhận diện chủ yếu do bão và
lũ sông
22
. Như vậy, chưa có bằng chứng đáng tin cậy về một trận sóng thần gây
thiệt hại nghiêm trọng tại Huế trong thời kỳ quan trắc hiện đại.
Theo Kế hoạch quốc gia ứng phó thảm họa động đất, sóng thần ban hành
tại Quyết định số 645/QĐ-TTg ngày 27/5/2022, rãnh Manila được xem là nguồn
động đất có khả năng gây sóng thần nguy hiểm nhất đối với bờ biển Việt Nam.
Trong tình huống ứng phó cực đoan với động đất có độ lớn tối đa 9,3, Thừa
Thiên Huế trước đây được xếp trong nhóm địa phương có thể chịu rủi ro thiên
tai cấp 4, tương ứng khoảng độ cao sóng 8-16 m; thời gian sóng đến bờ khoảng
2-4,5 giờ và phạm vi ngập trong kịch bản quốc gia có thể vào sâu 2-3 km. Đây
là kịch bản bất lợi phục vụ chuẩn bị ứng phó trên quy mô quốc gia, chưa phải
kết quả mô phỏng chi tiết cho thành phố.
Đáng chú ý, Huế đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu ứng dụng mô hình toán
để dự báo sóng vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế” giai đoạn 2010-2013
23
.
Một trong các sản phẩm của đề tài là bản đồ nguy cơ ảnh hưởng của sóng thần
tỷ lệ 1:25.000 và đề tài đã được nghiệm thu. Đây là nguồn dữ liệu địa phương
22
Barrier Island Sediments Reveal Storm Surge and Fluvial Flood Events in the Past Centuries at Thua Thien
Hue, Central Vietnam, Stapana Kongsen và cộng sự, Front. Ecol. Evol., 09 November 2021
23
Viện Nghiên cứu và Quản lý Biển và Hải đảo chủ trì thực hiện
101
quan trọng cần được thu thập, rà soát và cập nhật bằng địa hình, địa mạo bờ
biển, độ sâu đáy biển và hiện trạng dân cư-hạ tầng mới.
Vùng phơi nhiễm cao tập trung dọc dải ven biển từ Phong Quảng, Quảng
Điền, Thuận An, Phú Vinh và Vinh Lộc đến Phú Lộc, Chân Mây-Lăng Cô, đặc
biệt tại những khu vực đất thấp, dải cát hẹp, cửa Thuận An, cửa Tư Hiền và các
vùng kết nối trực tiếp giữa biển với hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai. Đây cũng
là các địa bàn đang chịu đồng thời nhiều hiểm họa ven biển như bão, sóng lớn,
nước dâng và xói lở.
Nhận định chung: phạm vi phơi nhiễm toàn thành phố nhỏ hơn so với bão
hoặc lũ, nhưng tập trung tại dải ven biển có mật độ dân cư, sinh kế và hạ tầng
cao. Mức độ phơi nhiễm được đánh giá trung bình trên quy mô thành phố nhưng
cao tại các xã, phường ven biển, cửa biển và vùng thấp gần bờ.
Mức độ dễ bị tổn thương và năng lực phòng ngừa, ứng phó
Mức độ dễ bị tổn thương cao thường gắn với các đối tượng có một số đặc
điểm như sau:
Nhà ở và công trình không được thiết kế để chịu dòng chảy, va đập và lực
xói do sóng thần.
Người dân có ít kinh nghiệm thực tế vì sóng thần không xảy ra thường
xuyên;
Trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người bệnh và hộ không có
phương tiện di chuyển cần nhiều thời gian hỗ trợ hơn.
Mất điện, mất sóng hoặc hư hỏng tuyến đường có thể làm gián đoạn cảnh
báo và sơ tán.
Các điểm sơ tán đang sử dụng cho bão, lũ không mặc nhiên an toàn với
sóng thần nếu nằm trong vùng ngập hoặc không đủ cao, đủ kiên cố.
Năng lực của thành phố đã có một số nền tảng cơ bản. Cấp quốc gia có
Trung tâm Báo tin động đất và Cảnh báo sóng thần thuộc Viện Các Khoa học
Trái đất, thực hiện thu nhận dữ liệu động đất, mực nước biển, phân tích các
nguồn có khả năng ảnh hưởng và phát cảnh báo theo quy định. Huế trước đây đã
phê duyệt phương án ứng phó động đất và sóng thần trong hệ thống các phương
án ứng phó sự cố, thiên tai; Ban chỉ huy PTDS thành phố đã rà soát cập nhật Kế
hoạch ứng phó thảm họa động đất, sóng thần.
Thành phố cũng có kinh nghiệm tổ chức sơ tán quy mô lớn trước bão, duy
trì lực lượng “bốn tại chỗ” và sử dụng nhiều phương thức thông tin gồm điện
thoại vệ tinh, vô tuyến sóng ngắn, bộ đàm và mạng viễn thông. Đây là năng lực
có thể huy động cho ứng phó sóng thần.
Tuy nhiên, năng lực ứng phó chuyên biệt với sóng thần còn hạn chế, do bản
đồ nguy cơ chưa đủ chi tiết và cập nhật theo địa hình và dân cư hiện nay; chưa
lượng hóa đầy đủ số người trong vùng ngập, thời gian đi bộ đến nơi an toàn, khả
năng vận hành của các tuyến sơ tán và vị trí công trình đủ điều kiện sơ tán. Biển
báo, hướng dẫn cộng đồng và diễn tập chuyên biệt cũng cần cải thiện.
Nhìn chung, năng lực ứng phó hiện ở mức trung bình, nhưng chưa tương
xứng với hậu quả tiềm tàng của một sự kiện lớn. Khoảng trống trọng yếu không
nằm ở việc thiếu cơ chế cảnh báo cấp quốc gia mà ở khả năng chuyển cảnh báo
thành hành động sơ tán nhanh, đúng hướng và an toàn tại từng cộng đồng ven biển.
Kết luận mức độ rủi ro
Khả năng xảy ra sóng thần ở Huế được xem là thấp. Tuy nhiên, các nghiên
cứu và kịch bản quốc gia cho thấy bờ biển Huế có thể chịu tác động nghiêm
trọng từ một trận động đất lớn tại máng Manila. Trên cơ sở kết hợp xác suất thấp
nhưng hậu quả tiềm tàng đặc biệt lớn, rủi ro sóng thần chung của thành phố
được đánh giá sơ bộ ở mức trung bình.
Rủi ro có thể ở mức cao đến rất cao cục bộ tại các dải đất thấp sát biển, cửa
Thuận An, cửa Tư Hiền và các khu vực khó tiếp cận vùng cao thuộc Phong Quảng-
Đan Điền, Thuận An, Phú Vinh, Vinh Lộc, Phú Lộc và Chân Mây-Lăng Cô.
Ưu tiên trong kỳ kế hoạch là thu thập và rà soát bản đồ nguy cơ đã xây dựng;
cập nhật mô hình ngập theo địa hình và hiện trạng phát triển mới; xác định dân số,
hạ tầng và nhóm cần hỗ trợ trong vùng nguy hiểm; xây dựng tuyến đi bộ, vùng
cao, điểm tập kết và công trình sơ tán thẳng đứng; lắp đặt biển báo, bảo đảm cảnh
báo đa kênh và tổ chức diễn tập tại các cộng đồng ven biển. Kịch bản sóng cao 8-
16 m của Kế hoạch quốc gia nên được sử dụng như tình huống kiểm tra giới hạn
năng lực ứng phó, không thay thế cho đánh giá chi tiết tại địa phương.
3.12 Phân tích rủi ro đa thiên tai và tổng hợp mức độ rủi ro
Các phần trên đã đánh giá riêng rủi ro đối với từng loại hình thiên tai trên
cơ sở xem xét cường độ và khả năng xảy ra của hiểm họa; mức độ phơi nhiễm;
tình trạng dễ bị tổn thương; và năng lực phòng ngừa, ứng phó, phục hồi. Tuy
nhiên, trên thực tế, các hiểm họa tại thành phố Huế không xảy ra hoàn toàn độc
lập. Một hình thế thời tiết có thể đồng thời hoặc liên tiếp gây ra nhiều loại hình
thiên tai; tác động ban đầu tại một khu vực hoặc hệ thống có thể tiếp tục lan
truyền sang các ngành, địa bàn và dịch vụ khác. Vì vậy, phân tích rủi ro đa thiên
tai được thực hiện nhằm:
Nhận diện những khu vực đồng thời phơi nhiễm với nhiều loại hình
thiên tai.
Làm rõ các hiểm họa có thể xảy ra đồng thời, liên tiếp hoặc kích hoạt
lẫn nhau.
Xác định các hệ thống hạ tầng, ngành kinh tế và nhóm dân cư chịu tác
động từ nhiều loại hình thiên tai.
Nhận diện nguy cơ gián đoạn dây chuyền giữa giao thông, điện, viễn
thông, cấp nước, y tế, giáo dục, sản xuất và các dịch vụ thiết yếu.
Xác định địa bàn, ngành và nhóm đối tượng cần ưu tiên trong Kế hoạch
phòng, chống thiên tai giai đoạn 2026-2030.
103
Phân tích đa thiên tai không được thực hiện bằng cách cộng hoặc lấy trung
bình cơ học các mức rủi ro của từng loại hình thiên tai. Mức rủi ro tổng hợp
được xác định trên cơ sở xem xét đồng thời:
Mức rủi ro của các hiểm họa chi phối tại địa bàn hoặc đối tượng.
Khả năng các hiểm họa xảy ra đồng thời, liên tiếp hoặc tạo tác động
dây chuyền.
Mức độ tập trung dân cư, tài sản, hoạt động kinh tế và hạ tầng thiết yếu;
Các yếu tố dễ bị tổn thương chung đối với nhiều loại hình thiên tai.
Khả năng dự phòng, duy trì hoạt động và phục hồi của các hệ thống.
Khả năng xảy ra tình huống vượt quá năng lực ứng phó tại chỗ.
Các mức rủi ro dưới đây phản ánh những ưu tiên trong kỳ kế hoạch 2026-
2030, không phải cấp độ cảnh báo theo Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg và
không phải xác suất thiệt hại hằng năm. Đối với các hiểm họa có tần suất rất
thấp nhưng hậu quả tiềm tàng đặc biệt lớn như siêu bão, động đất mạnh và sóng
thần, đánh giá được sử dụng chủ yếu để kiểm tra giới hạn năng lực và chuẩn bị
phương án dự phòng.
3.12.1 Các tương tác đa thiên tai chủ yếu
Bão, mưa lớn, lũ, ngập lụt, lũ quét, sạt lở và xói lở
Đây là chuỗi rủi ro đa thiên tai quan trọng nhất đối với thành phố Huế. Bão
và áp thấp nhiệt đới không chỉ gây gió mạnh, sóng lớn và nước dâng mà hoàn
lưu còn có thể kết hợp với không khí lạnh, dải hội tụ nhiệt đới hoặc nhiễu động
gió Đông, gây mưa đặc biệt lớn trên nhiều lưu vực.
Mưa lớn tại vùng núi hình thành lũ trên sông Hương, sông Bồ, sông Ô Lâu
và các sông suối nhỏ, đồng thời làm đất bão hòa, phát sinh lũ quét, sạt lở mái
dốc và taluy giao thông. Ở hạ lưu, lũ kết hợp với mưa trực tiếp tại đồng bằng,
thủy triều có thể gây ngập sâu và kéo dài. Dòng chảy lũ, sóng và nước dâng tiếp
tục làm gia tăng xói lở bờ sông, bờ biển và biến động tại các cửa sông.
Do đó, một sự kiện bão hoặc mưa cực đoan có thể đồng thời ảnh hưởng đến
vùng ven biển, đồng bằng, đô thị và miền núi, mặc dù dạng tác động tại từng
khu vực khác nhau. Đây cũng là nguyên nhân làm cho nguồn lực cứu hộ,
phương tiện, điểm sơ tán và lực lượng khắc phục hạ tầng có thể phải triển khai
trên phạm vi rất rộng cùng một thời điểm.
Thiên tai liên tiếp và suy giảm năng lực ứng phó theo thời gian
Chuỗi lũ cuối tháng 10 và đầu tháng 11 năm 2025 cho thấy mức rủi ro
không chỉ phụ thuộc vào đỉnh lũ cao nhất mà còn phụ thuộc số đợt thiên tai, thời
gian giữa các đợt và khả năng phục hồi trước khi đợt tiếp theo xuất hiện.
Khi lũ, bão hoặc mưa lớn xảy ra liên tiếp:
Đất, mái dốc, đê bao, đường giao thông và công trình đã bị suy yếu từ
đợt trước.
Hồ chứa đã sử dụng một phần dung tích phòng lũ.
Nhà ở, tài sản, thiết bị điện và phương tiện có thể bị ngập hoặc hư hỏng
lặp lại.
Người dân chưa kịp bổ sung lương thực, nước sạch, thuốc men và nguồn
lực tài chính.
Điểm sơ tán, cơ sở y tế và lực lượng cứu hộ phải hoạt động kéo dài.
Điện, nước, viễn thông và giao thông có thể suy giảm dần sau mỗi đợt.
Năng lực tự ứng phó của hộ nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật và
người có bệnh nền giảm nhanh hơn so với các nhóm khác.
Vì vậy, cùng một mức cường độ, đợt thiên tai thứ hai hoặc thứ ba có thể
gây hậu quả lớn hơn đợt đầu.
Nắng nóng, hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn
Nắng nóng kéo dài làm tăng bốc thoát hơi, nhu cầu sử dụng nước và điện;
làm suy giảm độ ẩm đất, tăng nhu cầu tưới và áp lực lên hệ thống hồ chứa, cấp
nước và thủy lợi. Khi đồng thời xảy ra thiếu mưa và dòng chảy mùa kiệt suy
giảm, nguy cơ hạn hán, thiếu nước sinh hoạt, thiếu nước sản xuất và xâm nhập
mặn tăng lên.
Tác động có thể lan truyền giữa các ngành. Thiếu nước ảnh hưởng trước
hết đến nông nghiệp, chăn nuôi, thủy sản và cấp nước nông thôn, sau đó có thể
ảnh hưởng đến y tế, trường học, du lịch, công nghiệp và duy trì dòng chảy môi
trường. Nắng nóng và khô hạn đồng thời làm gia tăng nguy cơ cháy rừng và suy
giảm sức khỏe của người lao động ngoài trời.
Rủi ro đặc biệt tăng khi nắng nóng xảy ra cùng mất điện hoặc gián đoạn
cấp nước, vì khả năng làm mát, bảo quản thuốc, vận hành thiết bị y tế, bơm
nước và duy trì các dịch vụ thiết yếu bị suy giảm.
Động đất và các sự cố thứ cấp
Hoạt động động đất tập trung chủ yếu tại A Lưới. Trong kịch bản động đất
mạnh, rung chấn có thể gây hư hỏng công trình, đồng thời kích hoạt sạt lở, đá
rơi và chia cắt các tuyến giao thông miền núi. Sự cố tại hồ chứa, thủy điện, thủy
lợi, cầu, hệ thống điện, cấp nước hoặc viễn thông có thể tạo ra hậu quả thứ cấp
lớn hơn phạm vi rung chấn trực tiếp.
Tại khu vực đô thị, mặc dù nằm xa hơn nguồn phát sinh động đất, mật độ
dân cư, công trình, bệnh viện, trường học, di tích và hạ tầng kỹ thuật lớn làm
hậu quả tiềm tàng tăng cao. Điều kiện nền đất yếu tại một số khu vực có thể làm
khuếch đại rung động.
Tác động dây chuyền giữa các hệ thống hạ tầng thiết yếu
Các hệ thống điện, viễn thông, giao thông, cấp nước, y tế và cảnh báo có
quan hệ phụ thuộc chặt chẽ:
Mất điện có thể làm gián đoạn trạm viễn thông, trạm bơm nước, thiết bị y
tế, hệ thống cảnh báo và hoạt động sản xuất;
105
Đường bị ngập, sạt lở hoặc cây đổ có thể làm chậm cứu hộ, tiếp tế và sửa
chữa điện, nước, viễn thông;
Mất viễn thông làm giảm khả năng truyền tin cảnh báo, tổng hợp thông
tin và điều phối lực lượng;
Gián đoạn cấp nước và xử lý chất thải làm tăng nguy cơ sức khỏe và môi
trường trong các đợt ngập kéo dài;
Trường học, nhà văn hóa và công trình công cộng vừa là đối tượng có
phơi nhiễm cao vừa được sử dụng làm điểm sơ tán;
Cơ sở y tế phải duy trì chức năng trong khi đồng thời có thể bị ngập, mất
điện, thiếu nước hoặc mất đường tiếp cận.
Do đó, rủi ro đối với một hệ thống không chỉ được xác định bởi nguy cơ hư
hỏng trực tiếp mà còn bởi vai trò của hệ thống đó đối với hoạt động của các hệ
thống khác.
3.12.2 Nhận định chung về rủi ro đa thiên tai của thành phố
Trong kỳ kế hoạch 2026-2030, rủi ro đa thiên tai chung của thành phố Huế
được đánh giá ở mức cao. Mức “Cao” nêu trên phản ánh rủi ro đa thiên tai trong
các tình huống có khả năng xảy ra hoặc lặp lại trong kỳ kế hoạch.
Mức đánh giá này xuất phát từ các yếu tố chủ yếu sau:
Bão, mưa lớn, lũ và ngập lụt có khả năng xảy ra nhiều lần trong kỳ kế
hoạch;
Dân cư, nhà ở, tài sản, dịch vụ và hoạt động kinh tế tập trung cao tại đồng
bằng, đô thị, ven sông và ven đầm phá, là các vùng thường xuyên bị ảnh hưởng;
Dải ven biển đồng thời chịu bão, sóng, nước dâng, xói lở, xâm nhập mặn
và nguy cơ sóng thần;
Miền núi phía Tây đồng thời chịu lũ quét, sạt lở, động đất, dông lốc, hạn
hán, cháy rừng và nguy cơ cô lập;
Nắng nóng xảy ra trên phạm vi toàn thành phố và ngày càng trở thành rủi
ro đáng chú ý đối với sức khỏe, lao động, điện, nước và đô thị;
Các hệ thống điện, viễn thông, giao thông, cấp nước, y tế và cảnh báo có
mức độ phụ thuộc lẫn nhau cao;
Thiên tai có thể xảy ra liên tiếp, trái mùa hoặc vượt các giá trị lịch sử, làm
giảm hiệu quả của những phương án dựa chủ yếu vào kinh nghiệm quá khứ.
Năng lực hồ chứa, quan trắc, dự báo, cảnh báo đa kênh, hệ thống Hue-S,
IOC, lực lượng quân đội, công an, biên phòng, lực lượng xung kích và kinh
nghiệm sơ tán đã góp phần đáng kể làm giảm thiệt hại, đặc biệt là thiệt hại về
người. Tuy nhiên, năng lực chưa phân bố đồng đều giữa các xã, phường; điều
kiện các điểm sơ tán còn khác nhau; dữ liệu về số người cần sơ tán theo từng
loại hình thiên tai chưa đầy đủ; và khả năng duy trì điện, nước, thông tin, y tế và
tiếp tế trong tình huống nhiều địa bàn bị ảnh hưởng kéo dài còn hạn chế.
Trong kịch bản bão rất mạnh, lũ nhiều đỉnh vượt mức năm 2025 hoặc nhiều
hệ thống hạ tầng bị gián đoạn đồng thời, rủi ro của thành phố có thể tăng lên
mức rất cao và vượt quá năng lực ứng phó thông thường tại một số địa bàn.
3.12.3 Tổng hợp mức độ rủi ro theo địa bàn
Rủi ro đa thiên tai không phân bố đồng đều mà hình thành các hành lang và
điểm nóng gắn với địa hình, hệ thống sông, đầm phá, bờ biển, mật độ dân cư và
các đầu mối hạ tầng.
Việc phân loại mang tính định hướng ở cấp thành phố. Trong phạm vi một
xã hoặc phường, mức rủi ro có thể khác nhau đáng kể. Khu dân cư sát bờ sông,
dưới chân dốc, ven khe suối, phía trong dải cồn cát, vùng nền thấp hoặc khu vực
thiếu đường tiếp cận có thể có rủi ro cao hơn mức chung của địa phương.
Xét về tính hệ thống, giao thông và bộ ba điện-viễn thông-cấp nước là các
lĩnh vực có vai trò đặc biệt quan trọng. Việc giảm rủi ro cho các hệ thống này có
thể đồng thời làm giảm rủi ro cho y tế, giáo dục, cảnh báo, cứu hộ, sản xuất và
sinh hoạt dân cư.
Bảng 14. Tổng hợp mức độ rủi ro đa thiên tai theo địa bàn
Khu vực/địa bàn
Mức rủi ro
đa thiên tai
tổng hợp
Hiểm họa và yếu tố chi phối
Dải ven biển, cửa sông và
ven đầm phá: Phong Quảng,
Thuận An, Phú Vang, Phú
Vinh, Vinh Lộc, Phú Lộc,
Chân Mây-Lăng Cô và các
khu vực lân cận cửa Thuận
An, cửa Tư Hiền
Rất cao
Đồng thời phơi nhiễm với bão, gió mạnh,
sóng, nước dâng, ngập lụt, xói lở bờ biển,
xâm nhập mặn, dông lốc và nguy cơ sóng
thần; dân cư và sinh kế tập trung sát biển, cửa
sông và đầm phá; nhiều hoạt động thủy sản,
du lịch và hạ tầng giao thông nằm trực tiếp
trong vùng nguy hiểm
Hạ lưu sông Bồ-Ô Lâu và
đồng bằng phía Bắc: Phong
Điền, Phong Dinh, Phong
Phú, Phong Quảng, Quảng
Điền, Đan Điền, Hương Trà
và các khu vực thấp ven
sông
Cao đến rất
cao
Lũ, ngập lụt, xói lở bờ sông, bão, lũ trái mùa,
hạn hán và thiếu nước cục bộ; phơi nhiễm lớn
về nhà ở, nông nghiệp, thủy sản, đường giao
thông và công trình thủy lợi; sông Bồ có tần
suất vượt báo động III tương đối cao
Hạ lưu sông Hương, vùng
đô thị thấp trũng và hành
lang phát triển đô thị: Hóa
Châu, Kim Long, Phú
Xuân, Thuận Hóa, Vỹ Dạ,
Dương Nỗ, An Cựu, Thanh
Thủy, Hương Thủy và Phú
Cao đến rất
cao
Lũ và ngập đô thị, bão, cây đổ, nắng nóng và
đảo nhiệt; tập trung dân cư, bệnh viện, trường
học, cơ quan hành chính, di sản, thương mại
và các hệ thống điện, nước, viễn thông; nguy
cơ gián đoạn dây chuyền và tổn thất kinh tế
gián tiếp lớn
107
Bài
Vùng thấp phía Đông và
Đông Nam: Phú Hồ, Phú
Vang, Phú Vinh, Hưng Lộc,
Lộc An, Vinh Lộc và phần
thấp của Phú Lộc
Cao đến rất
cao
Ngập lụt, bão, hạn hán, xâm nhập mặn, thiếu
nước, thiệt hại nông nghiệp và thủy sản;
nhiều khu vực nằm thấp, gần đầm phá hoặc
ngoài phạm vi điều tiết trực tiếp của các hồ
lớn
Phú Lộc-Chân Mây-Lăng
Cô
Rất cao
Là khu vực giao thoa giữa rủi ro ven biển và
miền núi: bão, sóng, nước dâng, xói lở, lũ, sạt
lở, dông lốc và sóng thần; đồng thời tập trung
cảng, du lịch, logistics, khu kinh tế, giao
thông quốc gia và các khu dân cư ven biển
Miền núi phía Tây: A Lưới
1-5, Nam Đông, Khe Tre,
Long Quảng và Bình Điền
Cao; rất cao
tại điểm
nóng
Lũ quét, sạt lở đất, động đất, dông lốc, hạn
hán, cháy rừng và cô lập giao thông; dân cư
phân tán, nhiều tuyến độc đạo, khoảng cách
xa dịch vụ y tế và lực lượng cứu hộ; điểm
nóng tập trung tại chân dốc, ven suối, taluy
đường, điểm sạt lở cũ và khu vực gần đới đứt
gãy
Vùng đồi và chuyển tiếp
phía Tây đô thị: Kim Trà,
Hương An, phần đồi núi của
Hương Trà, Phong Điền,
Phong Phú và Phong Thái
Trung bình
đến cao; cao
cục bộ
Đồng thời chịu bão, mưa lớn, sạt lở, ngập tại
vùng thấp, nắng nóng và áp lực đô thị hóa;
mức rủi ro thay đổi lớn trong phạm vi từng
xã, phường
3.12.4 Hạn chế của đánh giá và yêu cầu cập nhật
Kết quả tổng hợp được xây dựng trên cơ sở các báo cáo PCTT giai đoạn
2020-2025, số liệu cấp xã, bản đồ hiện có, các sự kiện lịch sử và các nghiên cứu
chuyên ngành. Một số hạn chế chính gồm:
Số liệu giữa các xã, phường chưa được nhập và kiểm tra đồng đều;
Thay đổi địa giới hành chính làm hạn chế khả năng so sánh chuỗi số liệu
theo không gian;
Báo cáo thiệt hại chủ yếu phản ánh thiệt hại trực tiếp, chưa thống kê đầy
đủ thời gian ngừng dịch vụ, mất thu nhập, gián đoạn chuỗi cung ứng và tác động
sức khỏe;
Số liệu về hạn hán, xâm nhập mặn, nắng nóng, sét, động đất và sóng thần
còn hạn chế;
Bản đồ lũ quét, sạt lở tỷ lệ 1:50.000 chưa đủ để xác định rủi ro cho từng
thôn, hộ, mái dốc hoặc tuyến sơ tán;
Thông tin về khả năng chịu bão, động đất và ngập của nhà ở, trường học,
bệnh viện, điểm sơ tán và hạ tầng thiết yếu chưa đầy đủ;
Các điểm sơ tán được thống kê chủ yếu phục vụ bão; chưa được đối chiếu
đầy đủ với vùng ngập lũ, sóng thần, khả năng tiếp cận và nhu cầu của người
khuyết tật;
Chưa có cơ sở dữ liệu thống nhất về sự phụ thuộc và thời gian phục hồi
của điện, nước, viễn thông, giao thông và các dịch vụ thiết yếu.
Do đó, các mức rủi ro tổng hợp cần được xem là kết quả sàng lọc và xác
định ưu tiên ở cấp thành phố. Trong quá trình thực hiện Kế hoạch, cần tiếp tục
cập nhật hằng năm bằng số liệu thiệt hại, bản đồ ngập, điểm sạt lở, biến động
đường bờ, quan trắc nhiệt-ẩm, hạn-mặn, tình trạng công trình và dữ liệu nhóm
dễ bị tổn thương.
Ưu tiên cải thiện dữ liệu gồm:
Chồng lớp dân cư, nhà ở, cơ sở y tế, trường học, điểm sơ tán, hạ tầng thiết
yếu và nhóm cần hỗ trợ với bản đồ từng loại hình thiên tai;
Xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về sạt lở, xói lở, ngập, mất điện, mất
viễn thông và thời gian gián đoạn dịch vụ;
Rà soát an toàn kết cấu, vị trí và khả năng duy trì hoạt động của điểm sơ
tán theo bão, lũ, động đất và sóng thần;
Phân tích sự phụ thuộc giữa điện, viễn thông, cấp nước, giao thông, y tế
và hệ thống cảnh báo;
Xây dựng các kịch bản đa thiên tai để diễn tập, ít nhất gồm: bão mạnh
kèm lũ và sạt lở; lũ nhiều đỉnh kéo dài; nắng nóng kèm mất điện, thiếu nước; và
động đất gây sạt lở, gián đoạn hạ tầng tại miền núi.
Kết quả đánh giá đa thiên tai có thể được sử dụng để xác định danh mục
ưu tiên đầu tư, địa bàn trọng điểm, phương án sơ tán, bảo vệ dịch vụ thiết yếu,
phân bổ phương tiện-vật tư và kế hoạch hỗ trợ các nhóm dễ bị tổn thương trong
giai đoạn 2026-2030.
IV. TỔNG HỢP ĐIỂM MẠNH, ĐIỂM HẠN CHẾ, VẤN ĐỀ ƯU
TIÊN
4.1 Những tồn tại, hạn chế trong công tác Phòng chống thiên tai
Trong giai đoạn 2020-2025, thành phố Huế đã từng bước hoàn thiện hệ
thống chỉ huy phòng, chống thiên tai và phòng thủ dân sự; duy trì công tác dự
báo, cảnh báo, vận hành hồ chứa, sơ tán dân, cứu hộ cứu nạn; đầu tư nhiều công
trình thủy lợi, đê điều, kè, quan trắc và cảnh báo; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ số và nâng cao nhận thức cộng đồng. Tuy nhiên, năng lực phòng,
chống thiên tai và quản lý rủi ro chưa phát triển đồng đều giữa các địa bàn, lĩnh
vực và các giai đoạn của chu trình quản lý rủi ro. Công tác hiện vẫn tập trung
nhiều vào ứng phó, xử lý khẩn cấp và khôi phục công trình sau thiên tai, trong
khi phòng ngừa dựa trên rủi ro, bảo đảm tính liên tục của các dịch vụ thiết yếu,
phục hồi tốt hơn và lồng ghép khả năng chống chịu vào phát triển kinh tế - xã
hội vẫn cần cải thiện.
109
Tổ chức bộ máy và cơ chế phối hợp
Hệ thống chỉ huy đã được kiện toàn theo Luật Phòng thủ dân sự và mô
hình chính quyền địa phương hai cấp. Tuy nhiên, đây là sự chuyển đổi tương đối
lớn về tổ chức, trách nhiệm và quy trình phối hợp. Việc phân định cụ thể vai trò
giữa cơ quan thường trực về phòng thủ dân sự, cơ quan chuyên môn tham mưu
về phòng, chống thiên tai, các sở, ngành và chính quyền xã, phường cần tiếp tục
được cụ thể hóa trong quy trình vận hành, chế độ thông tin, cơ chế huy động
nguồn lực và xử lý các tình huống liên ngành.
Ở cấp xã, phường, phạm vi quản lý, dân số và khối lượng nhiệm vụ lớn
hơn sau sắp xếp đơn vị hành chính, trong khi năng lực tham mưu, trực ban, cập
nhật dữ liệu, xây dựng phương án và tổ chức thực hiện còn khác nhau giữa các
địa phương. Một số nhiệm vụ đòi hỏi chuyên môn như đánh giá rủi ro, vận hành
cơ sở dữ liệu, kiểm tra an toàn công trình và lập phương án bảo đảm dịch vụ
thiết yếu chưa có đủ cán bộ chuyên trách hoặc cơ chế hỗ trợ kỹ thuật thường
xuyên. Rất nhiều cán bộ đầu mối về PCTT cấp xã là cán bộ mới, chưa có nhiều
kinh nghiệm trong lĩnh vực PCTT.
Theo báo cáo từ cấp xã, hiện có 64,36% thành viên Ban Chỉ huy Phòng
thủ dân sự, phòng chống thiên tai cấp xã/phường chưa được tập huấn chuyên
sâu, 54,12% đội xung kích cấp xã và 71,59% tổ xung kích thôn, tổ dân phố cần
tiếp tục được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng ứng phó, cứu hộ, cứu nạn
Đánh giá rủi ro, lập kế hoạch và xây dựng phương án chưa theo kịp
yêu cầu quản lý đa thiên tai
Các kế hoạch và phương án hiện có đã bao quát những loại hình thiên tai
chính, nhất là bão, mưa lớn, lũ, ngập lụt, lũ quét và sạt lở đất. Tuy nhiên, việc
chuyển kết quả đánh giá rủi ro thành các mục tiêu, chỉ tiêu, ngưỡng kích hoạt và
nhiệm vụ cụ thể cho từng địa bàn, ngành và nhóm đối tượng còn hạn chế.
Nhiều phương án vẫn chủ yếu được xây dựng theo từng loại hình thiên tai
riêng lẻ và dựa vào kinh nghiệm các sự kiện đã xảy ra. Các tình huống thiên tai
liên tiếp, trái mùa, nhiều đỉnh, kéo dài; tổ hợp bão - mưa - lũ - sạt lở; nắng nóng
đi kèm mất điện, thiếu nước; hoặc gián đoạn đồng thời nhiều hệ thống thiết yếu
chưa được thể hiện đầy đủ trong phương án của các ngành và địa phương.
Phương án bảo vệ sản xuất nông nghiệp, thủy sản, công trình đang thi công, du
lịch và các hoạt động ngoài trời trước thiên tai trái mùa hoặc hình thành nhanh
còn thiếu các ngưỡng kích hoạt và hành động cụ thể. Việc lập kế hoạch cũng
chưa gắn chặt với khả năng duy trì chức năng của từng hệ thống.
Cơ sở dữ liệu, bản đồ và thông tin phục vụ quyết định còn phân tán,
thiếu đồng bộ
Thành phố đã bước đầu hình thành cơ sở dữ liệu PCTT với nhiều nhóm
thông tin về dân cư, nhóm dễ bị tổn thương, nhà ở, hạ tầng, công trình, phương
tiện, điểm sơ tán và năng lực cộng đồng. Tuy nhiên, dữ liệu hiện còn nhiều
trường chưa được nhập đầy đủ, mức độ cập nhật và chất lượng dữ liệu không
đồng đều giữa các xã, phường. Một số chỉ tiêu, đơn vị tính và cách tổng hợp
chưa thống nhất; số liệu phương tiện, trang thiết bị cấp thành phố chưa được
nhập đầy đủ; một số nhu cầu trang thiết bị chưa được chuẩn hóa theo chủng loại,
số lượng và mức độ ưu tiên.
Số liệu thiệt hại giữa các năm chưa hoàn toàn thống nhất về đơn vị, phạm
vi và cách phân loại. Thiệt hại gián tiếp như thời gian mất điện, mất nước,
ngừng sản xuất, doanh thu mất đi, gián đoạn học tập, mất thu nhập và chi phí
phục hồi hộ gia đình chưa được ghi nhận đầy đủ. Việc lưu tọa độ điểm thiệt hại,
theo dõi các vị trí hư hỏng lặp lại, lịch sử sửa chữa và mức độ giảm rủi ro sau
đầu tư còn hạn chế. Do đó, chưa có đủ cơ sở để so sánh hiệu quả đầu tư và xác
định chính xác những điểm thường xuyên phải sửa chữa nhưng chưa được xử lý
căn cơ.
Các bản đồ hiện có chưa đồng đều về tỷ lệ, thời gian cập nhật và mức độ
chi tiết. Bản đồ lũ quét, sạt lở tỷ lệ 1:50.000 phù hợp để xác định khu vực ưu
tiên ở cấp thành phố nhưng chưa đủ để xác định mức an toàn cho từng khu dân
cư, hộ gia đình, mái dốc, công trình, chưa đủ độ chi tiết để hỗ trợ ra quyết định
sơ tán cấp thôn, bản, hộ gia đình. Dữ liệu điểm nóng nhiệt, hạn hán, xâm nhập
mặn, dông sét, động đất và sóng thần còn thiếu hoặc chưa được liên kết đầy đủ
với dân cư, tài sản, hạ tầng và nhóm cần hỗ trợ. Chưa có sự liên thông dữ liệu
hoàn toàn giữa các ngành.
Hệ thống cảnh báo sớm chưa bao phủ đồng đều các loại hình thiên tai
và chưa chuyển đầy đủ sang cảnh báo theo tác động
Huế có nền tảng tương đối tốt về quan trắc mưa, mực nước, ngập lụt,
giám sát hồ chứa và truyền tin qua Hue-S, IOC, truyền thanh, viễn thông và các
phương tiện dự phòng. Tuy nhiên, mạng lưới quan trắc và cảnh báo hiện tập
trung chủ yếu vào mưa, lũ và ngập lụt; khả năng giám sát lũ quét, sạt lở đất,
dông sét, nắng nóng, hạn hán và các hiểm họa ven biển còn hạn chế. Độ phủ
trạm và thiết bị chưa đồng đều, nhất là tại miền núi, ven biển, các lưu vực nhỏ
và những khu vực có thời gian cảnh báo rất ngắn.
Cảnh báo còn thiên về cung cấp thông tin về hiện tượng và diễn biến thiên
tai, trong khi hướng dẫn hành động cụ thể theo vị trí, thời điểm, ngành và nhóm
đối tượng chưa đầy đủ. Người dân, trường học, cơ sở y tế, công trường, cơ sở du
lịch, doanh nghiệp, nông dân và tàu thuyền chưa phải lúc nào cũng nhận được
thông tin rõ ràng về việc cần làm, thời điểm phải dừng hoạt động, tuyến cần
tránh hoặc ngưỡng cần sơ tán.
Khâu truyền tin cuối cùng đến người dân vẫn có thể bị gián đoạn khi mất
điện, mất sóng hoặc giao thông bị chia cắt. Số lượng, vị trí và tình trạng hoạt
động của các phương tiện thông tin dự phòng chưa được kiểm kê thống nhất.
Việc kết nối giữa trạm quan trắc, cơ sở dữ liệu, trung tâm chỉ huy và thiết bị
phát cảnh báo tại cộng đồng cần tiếp tục được chuẩn hóa.
Năng lực chuẩn bị, sơ tán, cứu hộ cứu nạn tại cơ sở còn chưa đồng đều
Lực lượng xung kích, công an, quân sự, biên phòng, tổ dân phố, thôn và
cộng đồng đã phát huy vai trò quan trọng trong ứng phó. Tuy nhiên, năng lực
111
bốn tại chỗ giữa các xã, phường còn chênh lệch; phương tiện cứu hộ tại vùng
ngập sâu, khu vực ven biển, miền núi bị chia cắt và các điểm sạt lở chưa đáp
ứng đầy đủ các tình huống quy mô lớn hoặc kéo dài.
Cơ sở dữ liệu phương tiện và vật tư cấp xã cho thấy nhiều địa phương còn
nhu cầu bổ sung hoặc sửa chữa trang thiết bị, nhưng việc kiểm kê chưa thống
nhất về chủng loại, tiêu chuẩn kỹ thuật, tình trạng hoạt động, vị trí lưu giữ và
khả năng huy động. Một số nhu cầu được tổng hợp chưa gắn rõ với kịch bản rủi
ro, số dân cần phục vụ hoặc khả năng hỗ trợ liên địa bàn.
Cấp phường xã có 480 điểm sơ tán với tổng sức chứa khoảng 85.752
người, nhưng phân bố và điều kiện phục vụ chưa đồng đều. Chỉ khoảng 40,8%
số điểm có bếp nấu và 49,8% có khả năng tiếp cận bằng xe lăn; nhiều điểm chưa
bảo đảm đồng thời nước, vệ sinh, điện dự phòng, y tế và điều kiện lưu trú dài
ngày. Việc xác định điểm sử dụng trong siêu bão chủ yếu dựa trên tổng hợp của
địa phương, chưa đồng nghĩa với công trình đã được kiểm định đầy đủ về kết
cấu, vị trí, khả năng chịu gió và mức an toàn theo từng kịch bản. Phương án sơ
tán hiện còn tập trung nhiều cho bão, chưa được đối chiếu đầy đủ với vùng ngập
lũ, sạt lở, sóng thần, tuyến tiếp cận và số người cần hỗ trợ.
Khả năng chống chịu và duy trì hoạt động của hạ tầng, dịch vụ thiết
yếu còn hạn chế
Nhiều công trình thủy lợi, đê điều, tiêu thoát nước, giao thông cơ sở và hạ
tầng xã hội chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu trước các sự kiện cực đoan. Hệ thống
thủy lợi chưa đồng bộ từ đầu mối đến kênh mương; nhiều hồ nhỏ, đập dâng và trạm
bơm được đầu tư từ lâu đã xuống cấp; khoảng một nửa số trạm bơm chưa được
nâng cấp, sửa chữa đầy đủ. Hệ thống tiêu thoát hiện mới đáp ứng mức thiết kế hạn
chế, trong khi đô thị hóa và mưa cực đoan làm gia tăng lượng nước cần tiêu.
Các điểm yếu của giao thông tập trung tại đường xã, đường thôn, cầu nhỏ
và ngầm tràn, những tuyến trực tiếp phục vụ sơ tán, cứu hộ và tiếp cận dịch vụ.
Trong hệ thống điện dân sinh, 11,3% cột điện sau công tơ được báo cáo là tạm
bợ hoặc thiếu an toàn. Khoảng 25,2% trường học nằm trong vùng rủi ro cao và
55,8% cơ sở y tế cấp xã chưa có điện dự phòng. Những hạn chế này làm tăng
nguy cơ gián đoạn cứu hộ, khám chữa bệnh, học tập, cấp nước và truyền tin khi
xảy ra thiên tai.
Việc quản lý hạ tầng vẫn chủ yếu theo từng ngành, từng công trình; chưa
đánh giá đầy đủ quan hệ phụ thuộc giữa điện, viễn thông, cấp nước, giao thông,
y tế và hệ thống chỉ huy. Chưa xác định thống nhất các công trình, tuyến và dịch
vụ phải được ưu tiên duy trì, mức dự phòng tối thiểu, thời gian khôi phục yêu
cầu và phương án thay thế khi một đầu mối bị gián đoạn.
Lồng ghép quản lý rủi ro và khả năng chống chịu
Nội dung PCTT đã được lồng ghép tương đối rõ trong đầu tư thủy lợi, đê
điều, giao thông, an toàn hồ đập, xử lý sạt lở và bảo vệ bờ. Tuy nhiên, mức độ
lồng ghép trong quy hoạch đô thị, phát triển khu công nghiệp, du lịch, y tế, giáo
dục, bảo tồn di sản và đầu tư công chưa được theo dõi bằng hệ thống chỉ tiêu
thống nhất. Việc đánh giá rủi ro thiên tai và khí hậu tương lai chưa trở thành một
bước bắt buộc, có phương pháp thống nhất đối với tất cả các dự án và quyết định
phát triển quan trọng.
Các tiêu chuẩn và yêu cầu an toàn trước thiên tai đã được phổ biến, nhưng
chưa có kiểm kê đầy đủ về khả năng chịu bão, ngập, nắng nóng và động đất của
nhà ở, trường học, bệnh viện, chợ, nhà văn hóa, điểm sơ tán, công trình di sản và
các đầu mối hạ tầng quan trọng. Việc kiểm soát xây dựng tại vùng ngập, sát bờ
sông, bờ biển, chân dốc và khu vực có nguy cơ sạt lở còn hạn chế.
Các giải pháp dựa vào hệ sinh thái, quản lý nhu cầu nước, không gian trữ
nước, hành lang thoát lũ, cây xanh giảm nhiệt, bảo vệ cồn cát và các biện pháp
phi công trình chưa được đặt tương xứng với đầu tư công trình.
Năng lực cộng đồng và sự tham gia của các nhóm dễ bị tổn thương
còn chưa đồng đều
Các chương trình tuyên truyền, tập huấn và quản lý rủi ro dựa vào cộng
đồng đã được triển khai rộng rãi. Tuy nhiên, số liệu tổng hợp từ cấp xã cho thấy
nhận thức về rủi ro cao hơn năng lực chuẩn bị, ứng phó, phục hồi và tổ chức
phối hợp. Điểm trung bình năng lực cộng đồng toàn thành phố mới đạt khoảng
59,53%; gần 20% hộ chưa có phương án dự phòng khẩn cấp; tỷ lệ phụ nữ và trẻ
em chưa biết bơi hoặc chưa được tập huấn kỹ năng an toàn trong môi trường
nước còn cao. Năng lực giữa các xã, phường phân hóa rõ, đặc biệt ở các nội
dung chuẩn bị thực tế, phục hồi sinh kế và phối hợp cộng đồng.
Kiến thức và kỹ năng của cộng đồng vẫn tập trung nhiều vào bão, lũ quen
thuộc; khả năng ứng phó với lũ quét, sạt lở, dông sét, nắng nóng, động đất, sóng
thần và thiên tai trái mùa còn hạn chế. Diễn tập chưa được tổ chức thường
xuyên, đồng đều và theo các tình huống đa thiên tai hoặc gián đoạn kéo dài.
Dữ liệu về người cao tuổi, người khuyết tật, người bệnh, phụ nữ mang thai,
trẻ em, người sống một mình, người tạm trú và hộ có nhu cầu hỗ trợ chưa được
cập nhật đồng đều và liên kết đầy đủ với vị trí nhà ở, tuyến sơ tán, người hỗ trợ và
điểm đến an toàn. Khả năng tiếp cận của người khuyết tật tại nhiều điểm sơ tán
còn hạn chế. Việc tham gia của các nhóm dễ bị tổn thương vào xây dựng kế
hoạch, thiết kế cảnh báo, diễn tập và đánh giá sau thiên tai chưa được thể hiện rõ.
Nguồn lực tài chính, bảo trì và phục hồi sau thiên tai chưa đáp ứng
yêu cầu quản lý rủi ro dài hạn
Mặc dù thành phố đã huy động nguồn lực đáng kể từ ngân sách Trung
ương, địa phương, Quỹ PCTT, vốn ODA và các nguồn khác, nhu cầu đầu tư xử
lý sạt lở, nâng cấp đê điều, thủy lợi, thoát nước, giao thông, điểm sơ tán và hạ
tầng thiết yếu vẫn rất lớn.
Công tác phục hồi sau thiên tai chủ yếu tập trung khôi phục nhanh giao
thông, điện, nước, trường học, y tế và vệ sinh môi trường. Nguyên tắc “phục hồi
tốt hơn” như nâng cao cao trình, tăng khả năng chịu ngập, bổ sung điện và nước
dự phòng, ổn định mái dốc hoặc di dời khỏi vùng nguy hiểm, chưa được áp
113
dụng có hệ thống. Thiệt hại gián tiếp, nhu cầu phục hồi sinh kế và khả năng tài
chính của hộ gia đình, hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ chưa được đánh giá
đầy đủ, làm hạn chế khả năng xây dựng chương trình phục hồi trung và dài hạn.
Nhận định tổng hợp
Những hạn chế chính của thành phố hiện không nằm ở việc thiếu hoàn
toàn cơ chế chỉ huy, công trình hoặc hoạt động PCTT, mà ở tính đồng bộ, chiều
sâu và khả năng vận hành thực tế của hệ thống quản lý rủi ro. Khoảng cách lớn
nhất cần được giải quyết trong giai đoạn 2026-2030 gồm:
Chuyển từ ứng phó theo sự kiện sang quản lý rủi ro đa thiên tai và rủi ro
hệ thống;
Củng cố năng lực cấp xã, phường trong mô hình chính quyền hai cấp;
Chuẩn hóa dữ liệu, bản đồ và cơ chế ra quyết định dựa trên rủi ro;
Chuyển từ cảnh báo hiện tượng sang cảnh báo tác động và hướng dẫn
hành động;
Bảo đảm tính liên tục của hạ tầng và dịch vụ thiết yếu;
Nâng cao chất lượng sơ tán, năng lực cộng đồng và bảo vệ các nhóm cần
hỗ trợ;
Lồng ghép khả năng chống chịu vào quy hoạch, đầu tư và phát triển
ngành;
Các nhóm tồn tại, hạn chế này cần được sử dụng làm cơ sở trực tiếp để
xác định mục tiêu, nhiệm vụ, chỉ tiêu và danh mục ưu tiên của Kế hoạch phòng,
chống thiên tai thành phố Huế giai đoạn 2026-2030.
4.2 Những vấn đề rủi ro trọng tâm trong giai đoạn 2026-2030
Kết quả đánh giá cho thấy rủi ro thiên tai của thành phố Huế trong giai
đoạn 2026-2030 tiếp tục ở mức cao, với đặc trưng nổi bật là thiên tai có thể xảy
ra trên phạm vi rộng, đồng thời hoặc liên tiếp, gây tác động dây chuyền giữa các
địa bàn, ngành và hệ thống hạ tầng. Bão, mưa lớn, lũ và ngập lụt vẫn là nhóm rủi
ro chính, trong khi sạt lở đất, xói lở bờ sông, bờ biển, nắng nóng, hạn hán và
thiếu nước đang làm cho tình hình rủi ro ngày càng đa dạng và phức tạp hơn.
Trên cơ sở đánh giá khả năng xảy ra, quy mô dân cư và tài sản phơi
nhiễm, hậu quả tiềm tàng và những hạn chế về năng lực hiện có, các vấn đề rủi
ro trọng tâm cần tập trung trong giai đoạn 2026-2030 gồm:
4.2.1 Nguy cơ lũ, ngập lụt diện rộng, nhiều đỉnh và kéo dài
Lũ và ngập lụt tiếp tục là rủi ro thường xuyên, có phạm vi ảnh hưởng và
khả năng gây thiệt hại tổng hợp lớn nhất đối với thành phố. Lũ từ báo động III
trở lên có khả năng xuất hiện nhiều lần trong chu kỳ kế hoạch, gây ngập hàng
chục nghìn nhà, chia cắt giao thông và gián đoạn sản xuất, y tế, giáo dục, điện,
nước và viễn thông.
Vấn đề cần đặc biệt lưu ý không chỉ là cao độ đỉnh lũ mà còn là khả năng
xuất hiện nhiều đỉnh liên tiếp, thời gian ngập kéo dài khi người dân, công trình
và lực lượng ứng phó chưa kịp phục hồi. Chuỗi lũ cuối tháng 10 và đầu tháng 11
năm 2025 với ba đỉnh lũ liên tiếp, ngập ảnh hưởng 32/40 xã, phường cho thấy
các kịch bản này đã trở thành tình huống thực tế cần được đưa vào phương án
ứng phó, thay vì chỉ được xem là trường hợp đặc biệt.
Rủi ro tập trung cao tại hạ lưu sông Bồ-Ô Lâu, Quảng Điền-Đan Điền,
Hương Trà-Hóa Châu, khu vực đô thị thấp trũng, Hương Thủy, Thuận An, Phú
Vang, Phú Vinh, Vinh Lộc và các vùng thấp ven đầm phá. Các vùng này cần
được xem xét trong mối liên hệ tổng thể giữa mưa trên lưu vực, vận hành hồ
chứa, mực nước sông và đầm phá, thủy triều, khả năng tiêu thoát nước và an
toàn giao thông.
Bên cạnh lũ chính vụ, mưa lũ trái mùa cũng là vấn đề cần được quản lý
chủ động. Các sự kiện năm 2022 và tháng 6 năm 2025 cho thấy lũ không cần đạt
mức lịch sử vẫn có thể gây thiệt hại đặc biệt lớn nếu xảy ra đúng giai đoạn sản
xuất nhạy cảm. Vì vậy, kế hoạch ứng phó không thể chỉ tập trung trong mùa
mưa bão truyền thống mà cần duy trì khả năng kích hoạt các biện pháp bảo vệ
sản xuất, vận hành công trình và kiểm soát an toàn trong cả năm.
4.2.2 Bão mạnh và tổ hợp rủi ro khu vực ven biển, cửa sông, đầm phá
Rủi ro do bão tại Huế không chỉ là rủi ro do gió mạnh. Hoàn lưu bão
thường kết hợp với không khí lạnh, dải hội tụ nhiệt đới hoặc nhiễu động gió
Đông, gây đồng thời mưa rất lớn, lũ, ngập lụt, sạt lở, sóng lớn, nước dâng và xói
lở. Ngay cả khi tâm bão không đổ bộ trực tiếp, tác động gián tiếp vẫn có thể xảy
ra trên phạm vi toàn thành phố.
Dải ven biển và cửa sông từ Phong Quảng, Thuận An, Phú Vinh, Phú
Vang, Vinh Lộc đến Phú Lộc và Chân Mây-Lăng Cô là khu vực có rủi ro tổng
hợp rất cao. Dân cư và nhà ở tại đây đồng thời phơi nhiễm với gió mạnh, sóng,
nước dâng, ngập, xói lở và biến động cửa sông, trong khi thủy sản, du lịch, cảng,
giao thông ven biển và các cơ sở dịch vụ phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện thời
tiết và biển.
Các sự kiện năm 2020 và năm 2024 cho thấy bão chưa đạt cấp cực đoan
trên đất liền vẫn có thể làm hư hỏng hàng nghìn nhà, đặc biệt tại Phú Lộc-Lăng
Cô. Điều này phản ánh khoảng trống về khả năng chịu gió của mái nhà, công
trình dịch vụ, cơ sở sản xuất và tài sản ngoài trời.
Trong trường hợp bão rất mạnh ảnh hưởng trực tiếp, nhu cầu sơ tán có thể
vượt ra ngoài nhóm nhà đơn sơ và thiếu kiên cố, bao gồm cả nhà bán kiên cố và
một số nhà được thống kê là kiên cố nhưng nằm tại vị trí trống trải, sát biển, ven
sông hoặc chưa được thiết kế theo tiêu chuẩn chịu bão tương ứng. Vì vậy, cần
coi an toàn nhà ở, khả năng trú tránh và bảo vệ dân cư ven biển là một trọng tâm
xuyên suốt của kỳ kế hoạch.
115
4.2.3. Lũ quét, sạt lở đất và nguy cơ cô lập tại miền núi phía Tây
Rủi ro lũ quét và sạt lở đất tập trung tại A Lưới, Nam Đông, Khe Tre,
Long Quảng, Bình Điền và các vùng đồi núi thuộc Hương Trà, Kim Trà, Phong
Điền, Phong Phú, Phong Thái, Phú Lộc và Chân Mây-Lăng Cô. Nguy cơ tăng
nhanh khi mưa kéo dài làm đất bão hòa, đặc biệt tại các mái dốc đã có vết nứt, vị
trí sạt lở cũ, taluy bị đào cắt, khu vực thoát nước kém, các tuyến đường độc đạo.
Rủi ro tại miền núi không chỉ là nhà ở hoặc công trình bị đất đá tác động
trực tiếp. Một điểm sạt lở trên Quốc lộ 49, đường Hồ Chí Minh, tuyến La Sơn-
Túy Loan hoặc đường liên xã có thể làm cô lập nhiều khu dân cư, gián đoạn cấp
điện, cấp nước, y tế, thông tin, cứu hộ và tiếp tế. Khi nhiều điểm sạt lở xảy ra
đồng thời, năng lực máy móc, lực lượng và tuyến tiếp cận thay thế có thể nhanh
chóng bị quá tải.
Đợt mưa lũ cuối tháng 10-đầu tháng 11 năm 2025 phát sinh 38 điểm sạt
lở, cho thấy cần chuyển trọng tâm từ xử lý từng điểm sau sự cố sang quản lý các
hành lang rủi ro và khả năng tiếp cận an toàn.
Hạn chế đáng chú ý hiện nay là bản đồ tỷ lệ 1:50.000 mới phù hợp để xác
định xã và hành lang ưu tiên, chưa đủ chi tiết để xác định mức an toàn cho từng
khu dân cư, hộ gia đình, mái dốc và tuyến sơ tán. Cơ sở dữ liệu về vị trí, quy
mô, nguyên nhân, tình trạng xử lý và khả năng tái hoạt động của các điểm sạt lở
cũng chưa được quản lý thống nhất.
4.2.4. Nguy cơ gián đoạn đồng thời và dây chuyền của các hệ thống hạ
tầng thiết yếu
Một vấn đề rủi ro nổi bật trong giai đoạn tới là thiên tai không chỉ gây hư
hỏng từng công trình mà có thể làm gián đoạn đồng thời nhiều hệ thống thiết
yếu. Điện, viễn thông, giao thông, cấp nước, y tế, cảnh báo và cứu hộ có quan hệ
phụ thuộc lẫn nhau rất cao.
Mất điện có thể làm gián đoạn trạm BTS, trạm bơm nước, thiết bị y tế, hệ
thống cảnh báo và hoạt động sản xuất. Đường bị ngập, sạt lở hoặc cây đổ làm
chậm tiếp cận hiện trường và sửa chữa điện, nước, viễn thông. Mất thông tin liên
lạc làm giảm khả năng truyền cảnh báo, nắm bắt tình hình và điều phối lực
lượng. Việc gián đoạn cấp nước, thu gom chất thải và y tế trong thời gian ngập
kéo dài có thể tiếp tục gây ra các rủi ro về sức khỏe và môi trường.
Các đầu mối có vai trò đặc biệt quan trọng gồm hệ thống hồ chứa và thủy
lợi; lưới điện và trạm viễn thông; nhà máy và trạm cấp nước; bệnh viện và cơ sở
y tế; Quốc lộ 1, Quốc lộ 49, đường sắt Bắc-Nam, cao tốc, đường Hồ Chí Minh
và các tuyến ven biển; sân bay Phú Bài; cảng Chân Mây; cùng các trung tâm chỉ
huy, kho dự trữ và điểm sơ tán.
Hiện vẫn còn những hạn chế làm tăng rủi ro gián đoạn, như một bộ phận
đường xã, đường thôn và ngầm tràn xuống cấp; 55,8% cơ sở y tế cấp xã chưa có
điện dự phòng; một số trường học và công trình công cộng nằm trong vùng rủi
ro cao; nguồn điện và thông tin dự phòng chưa đồng đều giữa các địa bàn.
Vì vậy, trọng tâm trong kỳ kế hoạch cần chuyển từ bảo vệ riêng từng công
trình sang bảo đảm tính liên tục của dịch vụ thiết yếu, xác định rõ công trình nào
phải duy trì hoạt động, mức dự phòng cần thiết và phương án khôi phục trong
trường hợp nhiều hệ thống bị gián đoạn đồng thời.
4.2.5. Sạt lở bờ sông, bờ biển và rủi ro tích lũy tại các điểm nóng
Sạt lở bờ sông và bờ biển là quá trình diễn biến thường xuyên, có tính tích
lũy và có thể tiếp tục gia tăng qua mỗi mùa thiên tai. Những đoạn bờ đã bị xói
chân, nứt hoặc mất ổn định có thể tiếp tục sạt sâu hơn trong các đợt sau, kể cả
khi cường độ lũ hoặc sóng không lớn bằng sự kiện trước.
Các điểm cần ưu tiên gồm các đoạn ven sông Bồ, sông Ô Lâu, sông
Hương, sông Tả Trạch, sông Bù Lu-Nước Ngọt; khu vực Phú Thuận-Thuận An,
Phú Hải, Phong Quảng, Giang Hải-Vinh Hiền, Vinh Lộc, Phú Lộc và Chân
Mây-Lăng Cô; cùng các khu vực cửa Thuận An và cửa Tư Hiền.
Rủi ro không chỉ là mất đất và đe dọa nhà ở mà còn ảnh hưởng đến đường
giao thông, trạm bơm, công trình thủy lợi, du lịch, nuôi trồng thủy sản, dải cồn
cát và hệ sinh thái đầm phá. Việc xử lý khẩn cấp lặp lại nhưng chưa ổn định lâu
dài có thể làm tăng chi phí và để các khu vực tiếp tục phơi nhiễm trong mùa
thiên tai tiếp theo.
Do nguồn lực đầu tư có hạn, vấn đề trọng tâm là xác định thứ tự ưu tiên
trên cơ sở nguy cơ đối với tính mạng, nhà ở, hạ tầng thiết yếu và khả năng mất
chức năng bảo vệ tự nhiên; đồng thời kiểm soát xây dựng sát mép bờ, quản lý
hành lang bảo vệ bờ và rà soát các hộ cần di dời khỏi vùng nguy hiểm.
4.2.6. Nắng nóng cực đoan, hạn hán, thiếu nước và áp lực lên sức
khỏe, sinh kế
Nắng nóng cần được xem là một rủi ro ngày càng quan trọng trong kế
hoạch PCTT, thay vì chỉ là hiện tượng thời tiết mùa hè. Nhiệt độ cực đại đã vượt
40°C tại một số khu vực; trong khi đô thị trung tâm còn chịu hiệu ứng đảo nhiệt,
với nhiệt độ bề mặt tại một số khu vực cao hơn đáng kể so với mức trung bình
thành phố.
Rủi ro tập trung tại các khu vực đô thị mật độ xây dựng cao, ít cây xanh
như Thuận Hóa, Phú Xuân, An Cựu, Vỹ Dạ; các vùng ven đô đang đô thị hóa
nhanh; khu công nghiệp, chợ, công trường, điểm du lịch và những không gian
tập trung lao động ngoài trời.
Nắng nóng kéo dài làm tăng nhu cầu điện và nước, ảnh hưởng đến người
cao tuổi, trẻ em, phụ nữ mang thai, người khuyết tật, người có bệnh nền, người
sống trong nhà mái tôn và lao động ngoài trời. Khi xảy ra đồng thời mất điện
hoặc thiếu nước, rủi ro sức khỏe có thể tăng nhanh và khả năng duy trì hoạt
động của cơ sở y tế, trường học và các dịch vụ xã hội bị suy giảm.
Hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn có mức rủi ro chung thấp hơn lũ,
bão nhưng có thể ở mức cao cục bộ tại vùng núi, vùng cát ven biển, khu vực
ngoài phạm vi điều tiết của các hồ lớn, cuối hệ thống tưới và các khu dân cư phụ
117
thuộc vào nguồn nước nhỏ. Khoảng 25.535 hộ chưa tiếp cận nước máy và
khoảng 2.800-3.200 ha đất canh tác chưa được cấp nước ổn định là những đối
tượng cần được ưu tiên theo dõi trong các đợt khô hạn kéo dài.
4.2.7. Hạn chế về sơ tán, bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương và năng lực duy
trì ứng phó kéo dài
Thành phố đã có kinh nghiệm tổ chức sơ tán, lực lượng chỉ huy và hệ
thống cảnh báo đa kênh tương đối tốt. Tuy nhiên, khả năng bảo đảm an toàn cho
dân cư vẫn còn một số khoảng trống cần xử lý trong kỳ kế hoạch.
Theo số liệu cấp xã, các địa phương có 480 điểm sơ tán với sức chứa
khoảng 85.752 người, nhưng điều kiện phục vụ chưa đồng đều. Chỉ 381 điểm có
nước sinh hoạt, 340 điểm có nhà vệ sinh riêng, 196 điểm có bếp nấu và 239
điểm có thể tiếp cận bằng xe lăn. Một số địa bàn rủi ro cao như Thuận An,
Phong Quảng, Phú Vinh và Chân Mây-Lăng Cô có số điểm hoặc sức chứa chưa
tương xứng với quy mô dân cư và mức độ rủi ro.
Các điểm được địa phương xác định có thể sử dụng trong siêu bão chưa
đồng nghĩa với việc đã được kiểm định đầy đủ về kết cấu, khả năng chịu gió, vị
trí an toàn và điều kiện duy trì lưu trú nhiều ngày. Phương án sơ tán hiện cũng
chủ yếu được tổng hợp cho bão, chưa được đối chiếu đầy đủ với phạm vi ngập
lũ, sạt lở, sóng thần, khả năng tiếp cận và tuyến sơ tán thay thế.
Nhóm cần hỗ trợ gồm người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em, phụ nữ
mang thai, người bệnh, hộ nghèo, người sống một mình, người tạm trú và người
không có phương tiện di chuyển. Dữ liệu về các nhóm này chưa đồng đều giữa
các xã, phường và chưa được liên kết đầy đủ với vị trí nhà ở, vùng nguy hiểm,
điểm sơ tán và người chịu trách nhiệm hỗ trợ.
Vấn đề trọng tâm không chỉ là số lượng điểm sơ tán mà là khả năng đưa
đúng người đến đúng nơi an toàn, trong thời gian cho phép, và duy trì các điều
kiện nước, vệ sinh, y tế, dinh dưỡng và tiếp cận trong suốt thời gian thiên tai.
4.2.8. Nguy cơ vượt giới hạn năng lực trong các tình huống cực đoan và ít
xảy ra
Các kịch bản siêu bão, lũ vượt mức năm 2025, động đất mạnh hoặc sóng
thần có xác suất thấp hơn các thiên tai thường xuyên, nhưng hậu quả tiềm tàng
rất lớn và có khả năng vượt quá năng lực ứng phó tại chỗ.
Đối với các kịch bản này, không nhất thiết phân bổ nguồn lực đầu tư
ngang bằng với lũ, bão và sạt lở thường xuyên, nhưng cần duy trì mức chuẩn bị
tối thiểu gồm: kịch bản chỉ huy và huy động lực lượng; phương án hỗ trợ liên
vùng; hệ thống thông tin dự phòng; tuyến và điểm sơ tán; bảo vệ bệnh viện, hồ
đập, cảng, sân bay, trung tâm chỉ huy và các đầu mối điện-nước-viễn thông;
cùng diễn tập cho các tình huống vượt khả năng ứng phó thông thường.
Nhận định tổng hợp
Trong giai đoạn 2026-2030, ưu tiên quản lý rủi ro của thành phố cần tập
trung trước hết vào các tình huống có khả năng xảy ra trong kỳ kế hoạch và có
thể gây gián đoạn lớn, gồm: lũ và ngập diện rộng, nhiều đỉnh và kéo dài; bão
mạnh và tổ hợp rủi ro ven biển; sạt lở và cô lập miền núi; cùng sự gián đoạn dây
chuyền của giao thông, điện, viễn thông, cấp nước và y tế.
Trọng tâm giảm rủi ro cần chuyển từ xử lý từng sự cố và sửa chữa riêng lẻ
sau thiên tai sang:
Giảm phơi nhiễm tại các điểm nóng lặp lại;
Bảo vệ người dân, nhà ở và các nhóm cần hỗ trợ;
Nâng cao khả năng chống chịu và tính liên tục của hạ tầng, dịch vụ thiết
yếu;
Chuẩn bị cho thiên tai liên tiếp, trái mùa và các tình huống vượt lịch sử;
Ưu tiên đầu tư dựa trên mức độ rủi ro và vai trò hệ thống của công trình;
Nâng cao năng lực tại cấp xã, phường và cộng đồng;
Hoàn thiện dữ liệu để theo dõi rủi ro, thiệt hại, gián đoạn dịch vụ và hiệu
quả của các biện pháp giảm nhẹ.
Các vấn đề trên cần được sử dụng làm cơ sở để xác định mục tiêu, nhiệm
vụ, địa bàn trọng điểm, danh mục đầu tư và phân bổ nguồn lực của Kế hoạch
phòng, chống thiên tai thành phố Huế giai đoạn 2026-2030.
119
PHẦN III. KẾ HOẠCH PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI THÀNH
PHỐ GIAI ĐOẠN 2026-2030
I. CƠ SỞ PHÁP LÝ, MỤC TIÊU
1.1. Cơ sở pháp lý
a) Văn bản pháp luật và hướng dẫn của Trung ương
Căn cứ Luật Tổ chức Chính quyền địa phương số 72/2025/QH15;
Căn cứ Luật Phòng, chống thiên tai số 33/2013/QH13;
Căn cứ Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15
Căn cứ Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai
và Luật Đê điều số 60/2020/QH14;
Căn cứ Nghị định số 66/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều;
Căn cứ Kết luận số 213-KL/TW, ngày 21 tháng 11 năm 2025 của Ban Bí
thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW, ngày 24 tháng 3 năm 2020 của
Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa,
ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai;
Căn cứ Nghị định số 114/2018/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ về Quản
lý an toàn đập hồ chứa nước;
Căn cứ Nghị định số 200/2025/NĐ-CP của Chính phủ về Quy định chi
tiết một số điều của Luật Phòng thủ dân sự;
Căn cứ Nghị định số 131/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định phân định
thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước
của Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
Căn cứ Nghị định số 136/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ
quy định phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường;
Căn cứ Nghị định số 53/2026/NĐ-CP ngày 05/02/2026 của Chính phủ về
việc sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực đê điều và
phòng, chống thiên tai;
Căn cứ Quyết định số 379/QĐ-TTg ngày 17/3/2021 phê duyệt Chiến lược
quốc gia phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quyết
định số 1651/QĐ-TTg ngày 30/12/2022 phê duyệt Chương trình tổng thể phòng,
chống thiên tai quốc gia; Quyết định số 145/QĐ-TTg ngày 02/02/2024 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch, chính sách, giải pháp thực hiện Quy
hoạch Phòng, chống thiên tai và thủy lợi thời kỳ 2020-2030, tầm nhìn đến năm
2050; Quyết định số 847/QĐ-TTg ngày 14/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Quy hoạch Phòng, chống thiên tai và thủy lợi thời kỳ 2020-2030, tầm
nhìn đến năm 2050;
Căn cứ Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg ngày 22/4/2021 của Thủ tướng
Chính phủ về quy định về dự báo, cảnh báo, truyền tin thiên tai và cấp độ rủi ro
thiên tai;
Quyết định số 553/QĐ-TTg ngày 06/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Đề án nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dự vào
cộng đồng, đến năm 2030;
Căn cứ Thông tư số 02/2021/TT-BNNPTNT ngày 07/6/2021 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn xây dựng kế
hoạch phòng, chống thiên tai các cấp;
Căn cứ Thông tư liên tịch số 43/2015/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT ngày
23/11/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn về hướng dẫn báo cáo thiệt hại do thiên tai gây ra;
Căn cứ Quyết định số 42/QĐ-BCĐ ngày 24/12/2025 của Ban chỉ đạo
Phòng thủ dân sự quốc gia về hướng dẫn hoạt động của lực lượng xung kích
phòng, chống thiên tai cấp xã;
Căn cứ Thông tư số 18/2025/TT-BNNMT ngày 19/6/2025 của Bộ Nông
nghiệp và Môi trường về phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền quản lý
nhà nước trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống thiên tai;
Căn cứ Thông tư số 19/2025/TT-BNNMT ngày 19/6/2025 của Bộ trưởng
Bộ Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
cơ quan chuyên môn về Nông nghiệp và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu
thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Căn cứ Quyết định số 20/2021/QĐ-TTg về quản lý vật tư, phương tiện,
trang thiết bị chuyên dùng phòng, chống thiên tai;
Căn cứ Nghị quyết số 116/NQ-CP ngày 29 tháng 4 năm 2026 của Chính
phủ về Kế hoạch thực hiện Kết luận số 213-KL/TW, ngày 21 tháng 11 năm
2025 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW, ngày 24 tháng
3 năm 2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai;
Căn cứ Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ
về việc đẩy mạnh thực hiện Kết luận số 213-KL/TW ngày 21/11/2025 của Ban
Bí thư, tăng cường công tác phòng, chống thiên tai trong thời gian tới;
b) Văn bản chỉ đạo của địa phương
Căn cứ Kế hoạch số 24-KH/TU, ngày 09 tháng 02 năm 2026 của Ban
Thường vụ Thành ủy về việc thực hiện Kết luận số 213-KL/TW, ngày 21 tháng
11 năm 2025 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW, ngày
24 tháng 3 năm 2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối
với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai;
121
Căn cứ Quyết định số 01/2018/QĐ-UBND ngày 08 tháng 01 năm 2018
của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về việc phê duyệt Quy hoạch thủy lợi đến năm
2025 và tầm nhìn đến năm 2035;
Căn cứ Kế hoạch số 33-KH/ĐU của Đảng ủy UBND thành phố về thực
hiện Kết luận 213-KL/TW ngày 21/11/2025 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện
Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai;
Căn cứ Kế hoạch số 156/KH-UBND ngày 23/3/2026 của UBND thành
phố về thực hiện Kết luận 213-KL/TW ngày 21/11/2025 của Ban Bí thư về tiếp
tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục
hậu quả thiên tai;
Căn cứ Kế hoạch số 305/KH-UBND ngày 29/5/2026 của UBND thành
phố về triển khai Nghị quyết số 116/NQ-CP ngày 29/4/2026 của Chính phủ thực
hiện Kết luận 213-KL/TW, ngày 21/11/2025 của Ban Bí thư về tiếp tục thực
hiện Chỉ thị số 42-CT/TW, ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư;
Căn cứ Kế hoạch số 501/KH-UBND ngày 28/8/2026 của UBND thành
phố về triển khai thực hiện Nghị quyết số 210/NQ-CP ngày 06/8/2026 của
Chính phủ về Kế hoạch hành động thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư,
Chủ tịch nước tại Thông báo số 117-TB/VPTW ngày 04/7/2026 về công tác
phòng, chống bão, lũ, thiên tai cực đoan và biến đổi khí hậu trên địa bàn thành
phố Huế;
1.2. Mục đích, yêu cầu
a) Mục đích
- Chủ động phòng ngừa, ứng phó kịp thời để giảm thiểu thiệt hại về người
và tài sản do thiên tai gây ra. Đồng thời khắc phục khẩn trương, có hiệu quả sau
thiên tai.
- Nâng cao nhận thức cộng đồng trong quản lý rủi ro thiên tai dựa vào
cộng đồng để phát huy ý thức tự giác, chủ động phòng chống thiên tai của toàn
dân trên địa bàn thành phố.
- Dự trên cơ sở Kế hoạch phòng, chống thiên tai này, các địa phương, cơ
quan, đơn vị trong thành phố chủ động xây dựng, rà soát kế hoạch, tổ chức thực
hiện sát với tình hình thực tế nhằm xây dựng xã hội an toàn trước thiên tai.
- Huy động mọi nguồn lực để chủ động ứng phó có hiệu quả trước mọi
tình huống thiên tai có thể xảy ra trên địa bàn thành phố, hạn chế đến mức thấp
nhất thiệt hại về người, tài sản, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, di sản văn
hóa, cơ sở hạ tầng và các công trình trọng yếu do thiên tai gây ra; góp phần quan
trọng phát triển bền vững kinh tế - xã hội của thành phố.
- Kế hoạch là cơ sở cho các cơ quan, đơn vị đề xuất kinh phí đầu tư, xây
dựng cơ sở vật chất, mua sắm phương tiện, trang thiết bị phát triển nguồn nhân
lực, đào tạo kỹ thuật để phục vụ tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ; triển khai công tác
tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân chủ động ứng phó có hiệu quả
nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại khi có thiên tai xảy ra.
a) Yêu cầu
- Cơ quan chỉ huy thống nhất điều hành là Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự
thành phố Huế; Phát huy mọi nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, kỹ thuật theo
phương châm “Bốn tại chỗ” (chỉ huy tại chỗ; lực lượng tại chỗ; vật tư, phương
tiện; hậu cần tại chỗ).
- Tích cực, chủ động phòng ngừa, thông báo, báo động sớm; thu thập và
xử lý thông tin nhanh, chính xác; chỉ huy điều hành thống nhất theo phương án
linh hoạt, sáng tạo và quyết đoán.
- Trong mọi trường hợp sự cố thiên tai, thảm họa xảy ra thì người chỉ huy
cao nhất hoạt động tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ tại hiện trường (là Trưởng ban,
Phó Trưởng ban hoặc thành viên Ban Chỉ huy PTDS các cấp) được ủy quyền
điều động lực lượng, phương tiện, trang thiết bị của các đơn vị, cá nhân hiện có
trên địa bàn tham gia ứng cứu.
- Trong trường hợp vượt quá khả năng của thành phố, Ban Chỉ huy PTDS
thành phố báo cáo UBND thành phố đề nghị Ban Chỉ đạo PTDS quốc gia hỗ trợ.
- Phát huy sức mạnh tổng hợp của các ban ngành, các cấp trên cơ sở chủ
động tại chỗ từ cơ sở, kết hợp ứng cứu nhanh, huy động vật tư, phương tiện, lực
lượng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân để cứu người, sơ tán nhân dân, cứu tài
sản. Phương tiện, trang thiết bị được huy động trưng dụng của các đơn vị, cá
nhân vào hoạt động tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ bị thiệt hại sẽ được bồi thường
theo quy định của pháp luật.
- Tranh thủ sự chi viện, giúp đỡ của tỉnh, thành phố lân cận, cơ quan
Trung ương, các ngành, các tổ chức theo từng tình huống xảy ra.
1.3. Mục tiêu
Mục tiêu chung
Xác định những nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm trong công tác phòng,
chống thiên tai trong giai đoạn 2026-2030, làm căn cứ để các sở, ban, ngành, địa
phương tổ chức triển khai thực hiện, bố trí nguồn lực đầu tư, lồng ghép nội dung
phòng, chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; nâng
cao năng lực phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai, tăng cường
khả năng chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu thiệt hại do
thiên tai gây ra, tạo điều kiện phát triển bền vững kinh tế - xã hội, góp phần giữ
vững an ninh, quốc phòng.
Mục tiêu cụ thể
a) Hoàn thiện cơ chế, chính sách về phòng, chống thiên tai và liên quan
đến phòng, chống thiên tai, đảm bảo đồng bộ, thống nhất, phù hợp với mô hình
chính quyền địa phương 2 cấp.
123
b) Đẩy mạnh công tác thông tin truyền thông, phổ biến pháp luật, nâng
cao nhận thức về thiên tai, phấn đấu 100% chính quyền các cấp, cơ quan, tổ
chức và hộ gia đình được tiếp nhận đầy đủ, kịp thời thông tin cảnh báo sớm và
có kỹ năng phòng tránh thiên tai.
c) Kiện toàn tổ chức, lực lượng làm công tác phòng, chống thiên tai theo
hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, được đào tạo, tập huấn, trang bị đầy đủ kiến
thức, kỹ năng, bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phương tiện, trang thiết bị
phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tiên tiến, hiện đại.
d) Năng lực theo dõi, giám sát, dự báo, cảnh báo thiên tai được hiện đại
hóa, phấn đấu tự động hóa trên 95% đối với các trạm khí tượng, trạm đo mực
nước, đo mưa, đo gió; cung cấp bản tin dự báo đủ độ tin cậy trước 2-3 ngày đối
với áp thấp nhiệt đới, trước 3-5 ngày đối với bão, trước 1-2 ngày đối với lũ trên
các hệ thống sông; 100% các khu vực trọng điểm, xung yếu phòng, chống thiên
tai được lắp đặt hệ thống theo dõi, giám sát; 100% tàu cá đánh bắt vùng khơi và
vùng lộng được lắp đặt hệ thống giám sát, bảo đảm thông tin liên lạc.
đ) Cơ sở dữ liệu phục vụ chỉ đạo, điều hành phòng, chống thiên tai được
hình thành theo hướng đồng bộ, liên thông, theo thời gian thực, đảm bảo “đúng-
đủ-sạch-sống-thống nhất-dùng chung”.
e) Cơ sở hạ tầng phòng, chống thiên tai, nhất là hệ thống đê điều, hồ đập,
khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão, công trình phòng, chống thiên tai được
nâng cấp, đảm bảo an toàn theo mức thiết kế, không làm gia tăng rủi ro thiên tai.
g) Nâng cao khả năng bảo đảm an toàn cho người dân, phấn đấu 100%
khu vực có nguy cơ cao xây dựng phương án sơ tán; từng bước nâng cấp các
điểm sơ tán tập trung, nhà văn hóa, trường học và trạm y tế đáp ứng yêu cầu
phòng, chống thiên tai.
h) Từng bước giảm tính dễ bị tổn thương của sản xuất nông nghiệp, thủy
sản và sinh kế của người dân; phát triển các mô hình sản xuất thích ứng với biến
đổi khí hậu, nâng cao khả năng chống chịu và giảm thiểu rủi ro thiên tai.
i) Nâng cao năng lực bảo vệ hệ thống di sản văn hóa, công trình lịch sử,
khu kinh tế trọng điểm, hạ tầng thiết yếu và các công trình quan trọng trước tác
động của thiên tai và biến đổi khí hậu.
k) Bảo đảm Kế hoạch phòng, chống thiên tai được triển khai thống nhất,
đồng bộ giữa các cấp, các ngành; tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá việc
thực hiện, kịp thời cập nhật, điều chỉnh phù hợp với diễn biến thiên tai và yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội.
II. NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP
Trên cơ sở kết quả đánh giá rủi ro, những vấn đề rủi ro trọng tâm và các tồn
tại, hạn chế đã xác định, công tác phòng, chống thiên tai giai đoạn 2026-2030 tập
trung chuyển từ ứng phó theo từng sự kiện sang quản lý rủi ro đa thiên tai, chủ
động phòng ngừa, giảm mức độ phơi nhiễm và dễ bị tổn thương, bảo đảm tính
liên tục của các dịch vụ thiết yếu và nâng cao khả năng phục hồi của cộng đồng,
các ngành và toàn thành phố. Các giải pháp được ưu tiên theo các nguyên tắc:
Ưu tiên bảo vệ tính mạng, sức khỏe và các nhóm dân cư có khả năng tự
ứng phó, phục hồi hạn chế.
Tập trung vào các khu vực thường xuyên chịu tác động của nhiều loại
hình thiên tai, các điểm nóng thiệt hại lặp lại và những nơi có nguy cơ bị cô lập;
Ưu tiên các công trình, tuyến và dịch vụ có vai trò hệ thống, mà sự gián
đoạn có thể ảnh hưởng đến nhiều ngành và địa bàn.
Kết hợp giữa đầu tư công trình và các giải pháp phi công trình; giữa
phòng ngừa, chuẩn bị ứng phó và phục hồi.
Xem xét thiên tai cực đoan, biến đổi khí hậu, thiên tai trái mùa, liên tiếp
và các tình huống vượt kinh nghiệm lịch sử.
Không làm phát sinh hoặc chuyển dịch rủi ro từ khu vực này sang khu
vực khác.
Gắn từng nhiệm vụ với kết quả đầu ra, địa bàn, đối tượng, thời gian, cơ
quan chịu trách nhiệm, nguồn lực và chỉ tiêu giám sát.
Phân biệt rõ dự án đã được bố trí trong kế hoạch đầu tư công, dự án đang
đề xuất hoặc chuẩn bị đầu tư và nhiệm vụ mới cần nghiên cứu, thí điểm.
Hiện nay, thành phố đã phê duyệt kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026-
2030 trong đó có một số dự án liên quan trực tiếp đến thủy lợi, tiêu thoát lũ, đê
điều, kè chống sạt lở, cấp nước và phục hồi hệ sinh thái, với tổng vốn khoảng
1.648,5 tỷ đồng. Một số nhiệm vụ khác cũng đã được đề xuất (Phụ lục III và
IV). Các nội dung dưới đây sắp xếp lại những nhiệm vụ đó theo vấn đề rủi ro và
ưu tiên cần giải quyết và bổ sung một số giải pháp khác.
Các giải pháp được cấu trúc và sắp xếp theo nhóm các nội dung gắn với
những thách thức, tồn tại và các vấn đề rủi ro ưu tiên đã xác định trong phần II.
Danh sách chi tiết các giải pháp được trình bày ở Phụ lục VII.
2.1 Hoàn thiện quản trị, thể chế, lập kế hoạch và lồng ghép quản lý rủi ro
Nhóm giải pháp này tập trung hoàn thiện cơ chế quản trị, tổ chức bộ máy
và phương thức chỉ đạo, điều hành công tác phòng, chống thiên tai phù hợp với
mô hình tổ chức chính quyền và yêu cầu phòng thủ dân sự trong giai đoạn mới.
Nâng cao chất lượng lập kế hoạch, phương án PCTT theo hướng dựa trên rủi ro,
đa thiên tai, có tính đến các tình huống cực đoan, rủi ro dây chuyền và khả năng
gián đoạn các hệ thống, dịch vụ thiết yếu. Đồng thời, tăng cường năng lực cho
cấp xã và đẩy mạnh lồng ghép yêu cầu giảm nhẹ rủi ro thiên tai vào quy hoạch,
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, đầu tư xây dựng và quản
lý phát triển đô thị, nhằm hạn chế phát sinh rủi ro mới và từng bước nâng cao
khả năng chống chịu của thành phố.
Đối tượng ưu tiên gồm cơ quan tham mưu Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự
thành phố; UBND và Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp xã; các sở, ngành quản
lý hạ tầng và dịch vụ thiết yếu; các chủ hồ, đập; cùng các đơn vị trực tiếp cung
cấp điện, nước, viễn thông, giao thông, y tế và cứu hộ cứu nạn.
125
Kết quả cần đạt: Hệ thống chỉ huy và tham mưu được kiện toàn; trách
nhiệm giữa các cấp, ngành được xác định rõ; thành phố, 40 xã, phường và các
ngành có kế hoạch, phương án đa thiên tai; quản lý rủi ro được lồng ghép vào
quy hoạch và đầu tư phát triển.
Các giải pháp chính được trình bày dưới đây. Các nhiệm vụ, dự án cụ thể
thực hiện nhóm giải pháp này được quy định tại Phụ lục VII.
Hoàn thiện thể chế, cơ chế chỉ đạo, điều hành và phối hợp liên ngành về
PCTT và phòng thủ dân sự.
Kiện toàn tổ chức bộ máy, cơ quan tham mưu và đầu mối PCTT từ thành
phố đến cấp xã.
Nâng cao chất lượng lập, cập nhật kế hoạch và phương án PCTT theo
hướng đa thiên tai, dựa trên rủi ro và có tính đến các tình huống cực đoan, gián
đoạn hệ thống.
Tăng cường năng lực kỹ thuật cho cấp xã trong đánh giá rủi ro, quản lý dữ
liệu, GIS, lập kế hoạch và sơ tán.
Lồng ghép yêu cầu phòng, chống thiên tai và quản lý rủi ro vào quy
hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và địa phương.
Tăng cường áp dụng quy chuẩn, tiêu chuẩn và yêu cầu kỹ thuật nhằm
nâng cao khả năng chống chịu của nhà ở, công trình và hạ tầng.
2.2 Hoàn thiện dữ liệu, khoa học công nghệ, dự báo và cảnh báo sớm đa
thiên tai
Nhóm giải pháp này tập trung vào phát triển đồng bộ hệ thống dữ liệu,
công nghệ, quan trắc, dự báo và cảnh báo sớm làm nền tảng cho quản lý rủi ro
thiên tai dựa trên bằng chứng và hỗ trợ ra quyết định kịp thời. Ưu tiên hoàn
thiện, tích hợp và cập nhật thường xuyên cơ sở dữ liệu PCTT, bản đồ nguy cơ và
rủi ro, dữ liệu thiệt hại, gián đoạn dịch vụ và các thông tin phục vụ chỉ đạo, điều
hành từ cấp thành phố đến cấp xã. Tăng cường ứng dụng GIS, viễn thám, UAV,
mô hình dự báo, trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới; đồng thời từng bước
chuyển từ cảnh báo chủ yếu dựa trên thông số thiên tai sang cảnh báo dựa trên
tác động, bảo đảm thông tin cảnh báo kịp thời, dễ hiểu và tiếp cận được tới các
địa bàn và nhóm dân cư có nguy cơ cao.
Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ viễn thám, hệ thống thông tin địa lý
(GIS) và mô hình học máy (Machine Learning) để xây dựng bản đồ cảnh báo rủi
ro sạt lở đất, lũ quét chi tiết đến tỷ lệ 1:10.000 hoặc 1:5.000 cho các xã miền núi
phía Tây (A Lưới, Nam Đông, Bình Điền, Khe Tre); Phát triển các thuật toán AI
tạo sinh và trợ lý ảo trên nền tảng Hue-S để tự động hóa việc hỏi đáp, hướng dẫn
kỹ năng an toàn và cung cấp thông tin cá nhân hóa về tuyến sơ tán cho người
dân trong thời gian thực; tích hợp và đồng bộ hóa cơ sở dữ liệu chuyên ngành
(dân cư, y tế, giáo dục, hạ tầng) với nền tảng GIS-Hue và Trung tâm IOC để
hình thành hệ sinh thái dữ liệu mở phục vụ điều hành phòng thủ dân sự.
Kế hoạch này ưu tiên các vùng yêu cầu thời gian cảnh báo nhanh (rủi ro
cao), khó tiếp cận hoặc nguy cơ gián đoạn thông tin: miền núi phía Tây, dải ven
biển, cửa sông, các lưu vực nhỏ và vùng ngập sâu.
Kết quả cần đạt: Dữ liệu PCTT được chuẩn hóa, cập nhật và liên thông;
bản đồ rủi ro được tích hợp vào GIS Huế; cảnh báo chuyển dần sang cảnh báo
theo tác động và được truyền tới người dân qua nhiều kênh.
Các giải pháp chính được trình bày dưới đây. Các nhiệm vụ, dự án cụ thể
thực hiện nhóm giải pháp này được quy định tại Phụ lục VII.
Hoàn thiện, tích hợp và duy trì hệ thống cơ sở dữ liệu PCTT, Hue-S, GIS
Huế và các hệ thống hỗ trợ chỉ đạo, điều hành.
Điều tra, cập nhật và số hóa dữ liệu về thiên tai, thiệt hại, ngập lụt, sạt lở,
xói lở và gián đoạn dịch vụ thiết yếu.
Hoàn thiện các bản đồ nguy cơ, rủi ro và bản đồ phục vụ chỉ đạo, ứng phó
đối với lũ, ngập, lũ quét, sạt lở, xói lở, nắng nóng, hạn hán và xâm nhập mặn.
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, mô hình dự báo, viễn thám,
UAV, AI và các công cụ hỗ trợ ra quyết định.
Nâng cao năng lực quan trắc, dự báo và cảnh báo sớm đa thiên tai, từng
bước chuyển sang cảnh báo dựa trên tác động.
Hoàn thiện hạ tầng truyền tin, viễn thông và hệ thống cảnh báo tại cơ sở,
bảo đảm thông tin cảnh báo đến được các khu vực và nhóm dân cư có nguy cơ
cao qua nhiều kênh.
2.3 Quản lý rủi ro lũ, ngập lụt và tiêu thoát nước
Nhóm giải pháp này tập trung vào việc cải thiện công tác Quản lý tổng
hợp rủi ro lũ, ngập lụt trên cơ sở kết hợp giữa vận hành an toàn, hiệu quả hệ
thống hồ chứa, bảo vệ không gian thoát lũ, kiểm soát phát triển và từng bước
hoàn thiện hệ thống công trình tiêu thoát nước. Các giải pháp cần tính đến đặc
điểm lũ trên các lưu vực sông Hương, sông Bồ, Ô Lâu, vùng đầm phá và khu
vực đô thị thấp trũng, đồng thời chuẩn bị cho các tình huống lũ lớn, lũ nhiều
đỉnh, lũ trái mùa, ngập kéo dài và gián đoạn điện, giao thông, thông tin liên lạc.
Ưu tiên xử lý các điểm nghẽn thoát lũ, hạn chế san lấp và phát triển làm gia tăng
ngập, đồng thời chuẩn bị đầu tư các công trình có tính chiến lược nhằm giảm rủi
ro lâu dài cho khu vực hạ du và đô thị.
Địa bàn ưu tiên: hạ lưu sông Hương, sông Bồ-Ô Lâu; vùng đô thị thấp
trũng; Quảng Điền-Đan Điền-Hóa Châu; Hương An-Kim Long; Phú Bài, Phú
Hồ và vùng ven đầm phá.
Kết quả cần đạt: Nâng cao khả năng điều tiết, tiêu thoát lũ và giảm ngập
tại các khu vực trọng điểm; hạn chế phát sinh điểm ngập mới; nâng cao hiệu quả
vận hành hồ chứa; bảo đảm giao thông, cảnh báo, sơ tán và duy trì dịch vụ trong
các tình huống lũ nhiều đỉnh hoặc kéo dài.
Các giải pháp chính được trình bày dưới đây. Các nhiệm vụ, dự án cụ thể
thực hiện nhóm giải pháp này được quy định tại Phụ lục VII.
127
Nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành hồ chứa và liên hồ chứa phục vụ
giảm lũ, bảo đảm an toàn hạ du.
Hoàn thiện phương án ứng phó với lũ lớn, lũ nhiều đỉnh, lũ trái mùa, ngập
kéo dài và các tình huống gián đoạn dịch vụ đi kèm.
Bảo vệ không gian, hành lang thoát lũ và kiểm soát các hoạt động phát
triển làm gia tăng nguy cơ ngập lụt.
Nâng cấp, cải tạo và mở rộng hệ thống tiêu thoát lũ, thoát nước, sông, hói
và các công trình kiểm soát ngập.
Nghiên cứu, chuẩn bị và đầu tư các công trình thủy lợi, hồ chứa và giải
pháp điều tiết nước có ý nghĩa chiến lược đối với giảm rủi ro lũ, ngập.
2.4 Quản lý rủi ro bão, nước dâng, sạt lở bờ sông, bờ biển
Nhóm giải pháp này tập trung tăng cường quản lý tổng hợp rủi ro do bão,
gió mạnh, nước dâng, xói lở bờ sông và bờ biển, gắn các giải pháp bảo vệ dân
cư, nhà ở, sản xuất và hạ tầng với quản lý không gian ven sông, ven biển và đầm
phá. Chủ động rà soát các khu vực có nguy cơ cao, nâng cao an toàn nhà ở và
công trình, bảo đảm an toàn tàu thuyền, nuôi trồng thủy sản và các hoạt động
kinh tế biển. Đồng thời, tăng cường theo dõi diễn biến đường bờ và xói lở bằng
công nghệ hiện đại, kết hợp đầu tư, nâng cấp đê, kè, công trình chắn sóng với
các giải pháp dựa vào hệ sinh thái, bảo đảm việc xử lý tại một khu vực không
làm gia tăng hoặc chuyển dịch rủi ro sang khu vực lân cận.
Địa bàn ưu tiên gồm Phong Quảng, Thuận An, Phú Vinh, Phú Vang, Vinh
Lộc, Phú Lộc, Chân Mây-Lăng Cô; cửa Thuận An và Tư Hiền; các đoạn sạt lở
trên sông Hương, Bồ, Ô Lâu, Truồi, Tả Trạch và Bù Lu-Nước Ngọt.
Ngành, đối tượng ưu tiên gồm dân cư sát biển và cửa sông; ngư dân; hộ
nuôi trồng thủy sản; cơ sở du lịch; cảng và logistics; đường ven biển; công trình
cấp nước, điện và thông tin.
Kết quả cần đạt: Giảm mức độ phơi nhiễm tại các khu vực xói lở và bão
mạnh; nâng cao an toàn nhà ở, tàu thuyền và điểm sơ tán; bảo vệ các đoạn bờ,
khu dân cư và đầu mối hạ tầng đặc biệt xung yếu; kết hợp công trình bảo vệ với
hệ sinh thái và kiểm soát phát triển.
Các giải pháp chính được trình bày dưới đây. Các nhiệm vụ, dự án cụ thể
thực hiện nhóm giải pháp này được quy định tại Phụ lục VII.
Quản lý chặt chẽ dân cư, nhà ở, công trình và hoạt động sản xuất tại các
khu vực có nguy cơ sạt lở, xói lở và chịu tác động mạnh của bão, nước dâng.
Hỗ trợ nâng cao an toàn nhà ở và công trình tại các khu vực thường xuyên
chịu ảnh hưởng của bão và gió mạnh, ưu tiên các hộ dễ bị tổn thương.
Bảo đảm an toàn tàu thuyền, nuôi trồng thủy sản và các hoạt động kinh tế
ven biển; nâng cao năng lực khu neo đậu tránh trú bão.
Tăng cường quan trắc, theo dõi biến động đường bờ, xói lở bờ sông, bờ
biển và cửa sông.
Đầu tư, nâng cấp hệ thống đê, kè, công trình bảo vệ bờ, chắn sóng và các
công trình phòng chống bão, nước dâng và xói lở.
Tăng cường các giải pháp dựa vào hệ sinh thái trong bảo vệ bờ và giảm
nhẹ rủi ro thiên tai ven biển, đầm phá.
2.5 Quản lý rủi ro lũ quét, sạt lở đất tại miền núi
Nhóm giải pháp này tập trung giảm thiểu rủi ro lũ quét, sạt lở đất tại các
khu vực miền núi và địa hình dốc thông qua việc xác định rõ các điểm nguy cơ,
tăng cường quan trắc, cảnh báo, quản lý dân cư và xử lý các điểm mất an toàn.
Ưu tiên các khu dân cư ven suối, chân dốc, taluy, các tuyến giao thông thường
xuyên bị chia cắt, trường học, cơ sở y tế, hồ đập và các khu vực đã từng xảy ra
sạt lở. Đối với các khu vực có nguy cơ rất cao, cần kết hợp giữa giải pháp công
trình, cảnh báo sớm, tổ chức sơ tán với di dời, bố trí ổn định dân cư và sinh kế
lâu dài, đặc biệt quan tâm đến hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và các hộ có
thành viên dễ bị tổn thương.
Địa bàn ưu tiên: A Lưới 1-5, Nam Đông, Khe Tre, Long Quảng, Bình
Điền; phần đồi núi của Phú Lộc, Chân Mây-Lăng Cô, Hương Trà và Phong
Điền; Quốc lộ 49, đường Hồ Chí Minh, La Sơn-Túy Loan và các tuyến liên xã
độc đạo.
Đối tượng ưu tiên: khu dân cư dưới chân dốc hoặc ven suối; đồng bào dân
tộc thiểu số; hộ nghèo; trường học, trạm y tế; công trình thủy điện, thủy lợi; lực
lượng cứu hộ và đơn vị bảo đảm giao thông.
Kết quả cần đạt: Các điểm nguy cơ cao được nhận diện đến cấp khu dân
cư và tuyến giao thông; hộ dân nguy cơ rất cao có phương án bảo vệ hoặc di dời;
các tuyến thiết yếu có phương án thông tuyến và tiếp cận thay thế; cảnh báo, sơ
tán và năng lực tại chỗ được nâng cao.
Các giải pháp chính được trình bày dưới đây. Các nhiệm vụ, dự án cụ thể
thực hiện nhóm giải pháp này được quy định tại Phụ lục VII.
Điều tra, lập bản đồ, hồ sơ hóa và phân loại các điểm có nguy cơ lũ quét,
sạt lở đất.
Theo dõi, cảnh báo và từng bước ứng dụng công nghệ quan trắc sớm tại
các khu vực có nguy cơ rất cao.
Kiểm soát, xử lý các mái dốc, dòng chảy bùn đá, hệ thống thoát nước và
các điểm giao thông có nguy cơ mất an toàn.
Bảo vệ, di dời và bố trí ổn định dân cư tại các khu vực có nguy cơ rất cao
về lũ quét, sạt lở.
Nâng cao khả năng tiếp cận và duy trì giao thông, cứu hộ cứu nạn tại các
khu vực miền núi thường xuyên bị chia cắt.
129
2.6 Quản lý rủi ro nắng nóng, hạn hán, thiếu nước, cháy rừng
Nhóm giải pháp này tập trung tăng cường khả năng chủ động thích ứng
với xu hướng gia tăng nắng nóng cực đoan, hạn hán, thiếu nước và nguy cơ cháy
rừng trong bối cảnh biến đổi khí hậu, đồng thời từng bước đưa các loại hình rủi
ro này vào hệ thống quản lý PCTT thường xuyên của thành phố. Ưu tiên xây
dựng cơ chế quan trắc, cảnh báo và kế hoạch ứng phó nắng nóng gắn với bảo vệ
sức khỏe, nhất là đối với người cao tuổi, trẻ em, người có bệnh nền và lao động
ngoài trời; đồng thời triển khai các giải pháp giảm nhiệt tại trường học, cơ sở y
tế, chợ, khu công nghiệp và không gian công cộng. Song song với đó là nâng
cao khả năng bảo đảm nguồn nước cho dân sinh và sản xuất, bảo vệ rừng phòng
hộ và tăng cường phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô.
Địa bàn ưu tiên:
Thuận Hóa, Phú Xuân, An Cựu, Vỹ Dạ và các khu đô thị mật độ xây dựng
cao;
Khu công nghiệp, chợ, công trường, điểm du lịch;
A Lưới, Nam Đông, vùng cát Phong Điền-Quảng Điền;
Phú Vang, Phú Vinh, Vinh Lộc, Phú Lộc và khu vực cuối hệ thống tưới.
Đối tượng ưu tiên: người cao tuổi, trẻ em, người khuyết tật, người có bệnh
nền, lao động ngoài trời, hộ sống trong nhà mái tôn, nông dân, người chăn nuôi
và hộ nuôi trồng thủy sản.
Kết quả cần đạt: Thành phố có kế hoạch/phương án ứng phó nắng nóng;
hệ thống y tế, giáo dục và lao động có ngưỡng hành động; các vùng thiếu nước
có phương án bảo đảm nguồn; sản xuất nông nghiệp và thủy sản thích ứng tốt
hơn với thời tiết bất thường và thay đổi nguồn nước.
Các giải pháp chính được trình bày dưới đây. Các nhiệm vụ, dự án cụ thể
thực hiện nhóm giải pháp này được quy định tại Phụ lục VII.
Xây dựng và triển khai kế hoạch hành động ứng phó nắng nóng, tập trung
vào bảo vệ sức khỏe các nhóm dễ bị tổn thương.
Từng bước xây dựng hệ thống quan trắc, ngưỡng cảnh báo và cảnh báo
sớm nắng nóng cực đoan.
Triển khai các giải pháp giảm phơi nhiễm với nắng nóng, làm mát và
điểm tránh nóng tại các khu vực, cơ sở và nhóm đối tượng ưu tiên.
Chủ động phòng, chống hạn hán, thiếu nước; nâng cao năng lực cấp, trữ
và điều tiết nước cho dân sinh và sản xuất.
Hỗ trợ phục hồi sản xuất và sinh kế sau thiên tai.
Tăng cường quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ và phòng cháy, chữa cháy rừng.
2.7 Bảo đảm khả năng chống chịu và tính liên tục của hạ tầng, dịch vụ
thiết yếu
Thiên tai có thể làm gián đoạn đồng thời giao thông, điện, viễn thông, cấp
nước, y tế và cảnh báo. Hệ thống hiện chưa có đầy đủ tiêu chuẩn về mức dịch vụ
tối thiểu, nguồn dự phòng, thời gian khôi phục và phương án thay thế. Theo cơ
sở dữ liệu hiện có, 72/129 cơ sở y tế cấp xã chưa có điện dự phòng; 25 cơ sở y tế
nằm trong vùng rủi ro cao; 128/508 trường học nằm trong vùng rủi ro cao;
đường xã, đường thôn, cầu nhỏ và ngầm tràn là nhóm có tỷ lệ xuống cấp đáng
chú ý.
Nhóm giải pháp này tập trung nâng cao khả năng chống chịu của các hệ
thống hạ tầng và dịch vụ thiết yếu nhằm bảo đảm duy trì các chức năng cơ bản
của thành phố trong và sau thiên tai, đồng thời rút ngắn thời gian phục hồi khi
xảy ra sự cố. Trọng tâm là hệ thống y tế, giáo dục, điện lực, viễn thông, giao
thông, cấp nước, cảng, khu kinh tế và khu công nghiệp, đặc biệt tại các địa bàn
có nguy cơ ngập sâu, sạt lở, cô lập hoặc mất điện, mất liên lạc kéo dài. Việc đầu
tư, nâng cấp hạ tầng cần gắn với các phương án dự phòng, nguồn điện và thông
tin liên lạc thay thế, kế hoạch duy trì hoạt động và cơ chế phục hồi nhanh, qua
đó hạn chế các tác động dây chuyền từ thiên tai tới đời sống dân cư và hoạt động
kinh tế - xã hội.
Kết quả cần đạt: Các công trình và dịch vụ thiết yếu được phân loại theo
mức độ quan trọng; có kế hoạch duy trì hoạt động, nguồn dự phòng và thời gian
phục hồi; các điểm yếu ảnh hưởng trực tiếp đến cứu hộ, y tế, cấp nước, cảnh báo
và tiếp cận dân cư được ưu tiên xử lý.
Các giải pháp chính được trình bày dưới đây. Các nhiệm vụ, dự án cụ thể
thực hiện nhóm giải pháp này được quy định tại Phụ lục VII.
Nâng cao khả năng chống chịu và bảo đảm duy trì hoạt động của hệ thống
y tế trong thiên tai.
Nâng cao an toàn trường học và khả năng duy trì hoạt động giáo dục,
đồng thời bảo đảm điều kiện đối với các trường được sử dụng làm điểm sơ tán.
Nâng cao khả năng chống chịu và dự phòng của hệ thống điện, viễn thông
và thông tin liên lạc. Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các doanh
nghiệp viễn thông khẩn trương rà soát, ngầm hóa cáp ngoại vi và bắt buộc trang
bị máy phát điện, pin dự phòng cho các trạm thu phát sóng di động (BTS) tại các
khu vực rủi ro cao, đảm bảo thông tin liên lạc xuyên suốt trong kịch bản siêu
bão hoặc lũ cực đoan.
Nâng cấp hạ tầng giao thông và xử lý các điểm có nguy cơ bị chia cắt, cô
lập trong thiên tai.
Nâng cao khả năng chống chịu và duy trì hoạt động của khu kinh tế, khu
công nghiệp, cảng và các cơ sở sản xuất, kinh doanh quan trọng.
Tăng cường phương án dự phòng và phục hồi nhanh các dịch vụ thiết yếu
sau thiên tai.
131
2.8 Nâng cao năng lực chuẩn bị, sơ tán, cứu hộ cứu nạn và khả năng chống
chịu cộng đồng
Nhóm giải pháp này tập trung nâng cao mức độ sẵn sàng ứng phó từ thành
phố đến cơ sở thông qua củng cố lực lượng, phương tiện, kỹ năng, phương án sơ
tán và năng lực tự ứng phó của cộng đồng. Tiếp tục kiện toàn và huấn luyện lực
lượng xung kích PCTT, lực lượng tìm kiếm cứu nạn và các lực lượng tại chỗ;
chuẩn hóa trang thiết bị và tổ chức diễn tập theo các tình huống rủi ro đặc thù
của từng địa bàn. Đồng thời, rà soát và nâng cấp các điểm sơ tán, bảo đảm điều
kiện tối thiểu về điện, nước, vệ sinh, y tế, thông tin và khả năng tiếp cận đối với
người khuyết tật, người cao tuổi và trẻ em. Công tác truyền thông, giáo dục, tập
huấn và quản lý rủi ro dựa vào cộng đồng cần được duy trì thường xuyên, gắn
với bản đồ rủi ro và tuyến sơ tán cụ thể tại cơ sở.
Hiện nay, năng lực tại chỗ, phương tiện và điều kiện điểm sơ tán còn
chênh lệch giữa các xã, phường. Các xã, phường có 480 điểm sơ tán với tổng
sức chứa khoảng 85.752 người, nhưng chỉ 196 điểm có bếp nấu và 239 điểm có
thể tiếp cận bằng xe lăn; việc xác định điểm sử dụng trong siêu bão chưa đồng
nghĩa với công trình đã được kiểm định đầy đủ.
Cần ưu tiên vùng ven biển, vùng ngập sâu, miền núi bị chia cắt; hộ nghèo,
người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em, phụ nữ mang thai, người bệnh, người
sống một mình, người tạm trú và hộ không có phương tiện di chuyển.
Kết quả cần đạt: Hình thành hệ thống sơ tán đa thiên tai an toàn, có khả
năng tiếp cận và lưu trú trong tình huống kéo dài; lực lượng tại chỗ được trang
bị theo rủi ro; cộng đồng có khả năng tiếp nhận cảnh báo, chuẩn bị, sơ tán và hỗ
trợ nhóm cần trợ giúp.
Các giải pháp chính được trình bày dưới đây. Các nhiệm vụ, dự án cụ thể
thực hiện nhóm giải pháp này được quy định tại Phụ lục VII.
Kiện toàn, đào tạo và nâng cao năng lực lực lượng PCTT, phòng thủ dân
sự, cứu hộ cứu nạn và lực lượng xung kích tại cơ sở.
Chuẩn hóa, đầu tư và quản lý phương tiện, trang thiết bị, vật tư phục vụ
ứng phó và tìm kiếm cứu nạn theo mức độ rủi ro.
Tăng cường xây dựng, cập nhật và diễn tập các phương án ứng phó, cứu
hộ cứu nạn và phương án khẩn cấp.
Rà soát, nâng cấp hệ thống điểm sơ tán, bảo đảm đủ sức chứa, điều kiện
thiết yếu và khả năng tiếp cận cho các nhóm dễ bị tổn thương.
Nâng cao nhận thức, kiến thức và kỹ năng PCTT cho cộng đồng, trường
học và các nhóm dân cư có nguy cơ cao.
Đẩy mạnh quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, phát huy tri thức
bản địa và các hình thức truyền thông phù hợp.
Xây dựng, cập nhật sơ đồ rủi ro, tuyến sơ tán và các công cụ hỗ trợ chuẩn
bị, ứng phó tại cộng đồng.
2.9 Huy động nguồn lực và tăng cường hợp tác
Nhóm giải pháp này tập trung vào việc đa dạng hóa và sử dụng hiệu quả
các nguồn lực tài chính, kỹ thuật và xã hội để bảo đảm tính khả thi và bền vững
của Kế hoạch PCTT giai đoạn 2026–2030. Chủ động bố trí ngân sách nhà nước,
vốn đầu tư công, kinh phí sự nghiệp, Quỹ PCTT và các nguồn lực hợp pháp
khác theo mức độ ưu tiên rủi ro; đồng thời tăng cường khả năng huy động ODA,
viện trợ, hỗ trợ kỹ thuật và sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức xã hội, viện,
trường và các đối tác phát triển. Tăng cường hợp tác, chia sẻ dữ liệu và phối hợp
xử lý các vấn đề liên vùng, liên lưu vực và xuyên biên giới; đồng thời chú trọng
tiếp nhận, thử nghiệm, nhân rộng các mô hình, công nghệ và kinh nghiệm phù
hợp từ các chương trình, dự án hợp tác trong nước và quốc tế.
Hiện nay, nguồn lực cho PCTT còn phân tán, ưu tiên đầu tư chưa hoàn
toàn dựa trên mức độ rủi ro; kinh phí cho dữ liệu, cảnh báo, bảo trì, diễn tập,
cộng đồng và phục hồi còn hạn chế. Nhiều dự án chiến lược mới ở giai đoạn đề
xuất, chưa hoàn thiện chuẩn bị đầu tư và phương án huy động vốn. Hợp tác quốc
tế, liên vùng, khu vực tư nhân và các cơ sở nghiên cứu chưa được khai thác đầy
đủ, việc duy trì và nhân rộng kết quả sau dự án còn hạn chế.
Kết quả cần đạt: Nguồn lực PCTT được huy động, phân bổ theo mức độ
rủi ro và các ưu tiên của Kế hoạch; Các nhiệm vụ, dự án trọng điểm có phương
án vốn, lộ trình và trách nhiệm thực hiện rõ ràng; Hợp tác với Trung ương, đối
tác quốc tế, doanh nghiệp và tổ chức liên quan được mở rộng; kết quả hỗ trợ
được duy trì và nhân rộng.
Các giải pháp chính được trình bày dưới đây. Các nhiệm vụ, dự án cụ thể
thực hiện nhóm giải pháp này được quy định tại Phụ lục VII.
Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả các cơ chế tài chính phục vụ PCTT,
phòng thủ dân sự, cứu trợ và trợ giúp xã hội.
Chủ động cân đối ngân sách, vốn đầu tư công, kinh phí sự nghiệp, Quỹ
PCTT và các nguồn lực hợp pháp khác để thực hiện Kế hoạch.
Bảo đảm nguồn lực và cơ chế triển khai nhanh các nhiệm vụ khẩn cấp,
khắc phục hậu quả và phục hồi sau thiên tai.
Tăng cường phối hợp liên tỉnh, liên quốc gia và chia sẻ thông tin đối với
các rủi ro, công trình và lưu vực có tính liên vùng, xuyên biên giới.
Triển khai hiệu quả các chương trình, dự án hợp tác quốc tế và tăng cường
huy động ODA, viện trợ, hỗ trợ kỹ thuật cho các lĩnh vực ưu tiên.
Tăng cường hợp tác với các tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp, tổ chức xã
hội và đối tác phát triển để huy động nguồn lực, công nghệ và kinh nghiệm.
2.10. Nguồn lực và tiến độ hàng năm và 05 năm để thực hiện kế hoạch
phòng, chống thiên tai
2.10.1 Nguồn lực thực hiện kế hoạch
Nguồn lực thực hiện Kế hoạch được huy động từ các nguồn chủ yếu sau:
133
Ngân sách nhà nước, bao gồm vốn đầu tư phát triển và kinh phí sự nghiệp
theo quy định của pháp luật về đầu tư công và pháp luật về ngân sách nhà nước;
ngân sách dự phòng và nguồn hỗ trợ có mục tiêu của ngân sách Trung ương;
Nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi và viện trợ không hoàn lại của các đối
tác phát triển;
Quỹ Phòng, chống thiên tai, Quỹ Phòng thủ dân sự khi được thành lập và
các quỹ, nguồn cứu trợ theo quy định;
Nguồn lực của doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cộng đồng và các nguồn vốn
hợp pháp khác.
Nguồn lực đã được xác định bước đầu gồm:
Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026-2030: Phụ lục II xác định 22 dự án
PCTT đã được phê duyệt, với tổng nguồn vốn khoảng 1.648,5 tỷ đồng, tập trung
cho tiêu thoát lũ, đê điều, kè chống sạt lở, hồ chứa, cấp nước và phục hồi rừng
ngập mặn. Nguồn vốn gồm vốn ngân sách Trung ương, vốn tập trung trong
nước, nguồn thu sử dụng đất và các nguồn bổ sung theo kế hoạch đầu tư công.
Nguồn đề nghị Trung ương hỗ trợ: Phụ lục IV xác định danh mục các dự
án trọng điểm, cấp bách, chiến lược với tổng nhu cầu dự kiến khoảng 8.646 tỷ
đồng; trong đó đề xuất thực hiện giai đoạn 2026-2030 khoảng 5.000 tỷ đồng,
phần còn lại khoảng 3.646 tỷ đồng dự kiến thực hiện giai đoạn 2030-2035. Đây
là nguồn vốn đang đề xuất, cần tiếp tục chuẩn bị đầu tư, xếp hạng ưu tiên và vận
động ngân sách Trung ương.
Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ phi công trình: Các nhiệm vụ tại Phụ lục
III về kiện toàn tổ chức, dữ liệu, cảnh báo, đào tạo, diễn tập, truyền thông, quản
lý rủi ro dựa vào cộng đồng, vận hành hệ thống và hợp tác quốc tế được bố trí từ
kinh phí sự nghiệp, chi thường xuyên, Quỹ PCTT và nguồn hợp pháp khác. Mức
kinh phí cụ thể chưa được tổng hợp thành một tổng mức riêng, cần được các cơ
quan chủ trì lập dự toán hằng năm.
Nguồn ODA và hỗ trợ quốc tế: Tiếp tục triển khai và huy động nguồn lực
từ các chương trình, dự án của UNDP, ADB, Luxembourg, JICA, ISET, Quỹ
Cộng đồng Phòng tránh Thiên tai và các đối tác khác; ưu tiên cho cảnh báo sớm,
dữ liệu và công nghệ, nâng cao năng lực, quản lý rủi ro dựa vào cộng đồng, dịch
vụ thiết yếu và giải pháp dựa vào hệ sinh thái. Các phụ lục chưa xác định tổng
mức ODA cụ thể cho giai đoạn 2026-2030; nguồn này sẽ được cập nhật theo
từng dự án, thỏa thuận tài trợ và khả năng bố trí vốn đối ứng.
Các nguồn lực khác: Huy động sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức xã
hội và cộng đồng trong bảo đảm an toàn sản xuất, duy trì dịch vụ thiết yếu, hỗ
trợ nhà ở an toàn, trang thiết bị, cứu trợ và phục hồi sinh kế; nghiên cứu áp dụng
xã hội hóa và hợp tác công-tư đối với các lĩnh vực có điều kiện phù hợp.
Việc phân bổ nguồn lực sẽ được căn cứ mức độ rủi ro, số dân và nhóm dễ
bị tổn thương được bảo vệ, vai trò hệ thống của công trình, khả năng giảm gián
đoạn dịch vụ và mức độ sẵn sàng của nhiệm vụ, dự án.
2.10.2 Tiến độ thực hiện
Kế hoạch được triển khai theo các giai đoạn chính sau:
Năm 2026: hoàn thiện tổ chức, cơ chế phối hợp, kế hoạch và phương án
của thành phố và 40 xã, phường; chuẩn hóa dữ liệu; rà soát công trình, điểm sơ
tán, phương tiện và dịch vụ thiết yếu; khởi công hoặc tiếp tục thực hiện các dự
án đã được bố trí vốn; hoàn thiện danh mục vận động Trung ương và đối tác
quốc tế.
Giai đoạn 2026-2027: hoàn thành các nhiệm vụ nền tảng về bản đồ, cảnh
báo theo tác động, phương án đa thiên tai, kế hoạch duy trì dịch vụ thiết yếu, rà
soát điểm sơ tán và nhóm cần hỗ trợ; chuẩn bị đầu tư, nghiên cứu và đánh giá
các dự án chiến lược.
Giai đoạn 2027-2029: tập trung triển khai các dự án công trình, nâng cấp
hạ tầng và điểm sơ tán; mở rộng hệ thống cảnh báo, dữ liệu, đào tạo, diễn tập,
nhà ở an toàn, sinh kế thích ứng và các mô hình thí điểm.
Giai đoạn 2029-2030: hoàn thành các nhiệm vụ, dự án trong kỳ; đánh giá
kết quả giảm rủi ro, hiệu quả sử dụng nguồn lực và các nhu cầu còn thiếu; chuẩn
bị danh mục chuyển tiếp cho giai đoạn sau năm 2030.
Các dự án tại Phụ lục II thực hiện theo tiến độ đã được phê duyệt. Các dự
án tại Phụ lục IV được phân kỳ theo khả năng chuẩn bị và huy động vốn, trong
đó giai đoạn 2026-2030 ưu tiên các dự án cấp bách, có hiệu quả giảm rủi ro rõ
và đủ điều kiện triển khai. Các nhiệm vụ thường xuyên được thực hiện hằng
năm, rà soát trước mùa thiên tai và điều chỉnh khi có thiên tai lớn hoặc thay đổi
về rủi ro, nguồn lực.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
3.1. Nguyên tắc tổ chức thực hiện
Các sở, ban, ngành, UBND các xã, phường và các cơ quan, đơn vị liên
quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao và các chương trình, nhiệm vụ, dự
án tại Kế hoạch và các phụ lục kèm theo để xây dựng kế hoạch triển khai hằng
năm; lồng ghép vào kế hoạch phát triển ngành, kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội và dự toán ngân sách của cơ quan, địa phương.
Cơ quan chủ trì chịu trách nhiệm xác định cụ thể sản phẩm, chỉ tiêu, tiến
độ, nguồn lực và cơ chế phối hợp; ưu tiên các địa bàn rủi ro cao, công trình và
dịch vụ thiết yếu, các điểm thiệt hại lặp lại và nhóm dân cư dễ bị tổn thương.
Kết quả thực hiện được báo cáo về Sở Nông nghiệp và Môi trường để tổng hợp,
theo dõi và đề xuất UBND thành phố điều chỉnh Kế hoạch khi cần thiết.
3.2 Vai trò trách nhiệm
Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự thành phố
a) Kiểm tra, đôn đốc các sở, ngành và các địa phương thực hiện kế hoạch
phòng, chống thiên tai; đôn đốc xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai của
các địa phương.
135
b) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan điều phối các hoạt động
mang tính chất liên ngành, liên xã trong kế hoạch phòng, chống thiên tai.
c) Ứng dụng khoa học công nghệ trong việc xây dựng hệ thống theo dõi,
kiểm soát diễn biến thiên tai và an toàn công trình phòng, chống thiên tai phục
vụ hiệu quả công tác điều hành, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai.
d) Tổ chức xây dựng cơ sở dữ liệu, các công cụ hỗ trợ điều hành phòng,
chống thiên tai để chủ động triển khai thực hiện khi có tình huống xảy ra, nhất là
đối với bão mạnh, siêu bão, lũ lớn, lũ quét, sạt lở đất, sạt lở bờ sông, bờ biển,
ngập úng, hạn hán.
đ) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát, mua sắm bổ sung
trang thiết bị phục vụ công tác tìm kiếm cứu nạn phù hợp với đặc điểm thiên tai,
điều kiện từng khu vực.
e) Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp của lực lượng tìm kiếm cứu
nạn. Tổ chức huấn luyện diễn tập cứu hộ, cứu nạn trong các tình huống thiên tai,
sự cố công trình phòng, chống thiên tai để chủ động ứng phó.
g) Phối hợp với các bộ, ngành liên quan chuẩn bị tốt lực lượng, phương
tiện theo phương châm “4 tại chỗ”, sẵn sàng ứng phó, xử lý, khắc phục các tình
huống thiên tai, sự cố và tìm kiếm cứu nạn, nhất là nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn
trên biển.
Sở Nông nghiệp và Môi trường
a) Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành và các địa phương theo dõi, đôn
đốc, kiểm tra và tổng hợp đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch phòng, chống
thiên tai thành phố.
b) Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách, cơ chế
giám sát đối với các hoạt động phòng, chống thiên tai; tăng cường kiểm tra,
giám sát đảm bảo việc thực thi pháp luật trong hoạt động phòng, chống thiên tai.
c) Rà soát, điều chỉnh và xây dựng các kế hoạch thuộc phạm vi quản lý
gắn với quy hoạch sử dụng đất, kiểm soát chặt chẽ, không làm tăng nguy cơ sạt
lở đất ở vùng núi, sạt lở bờ sông, xói lở bờ biển.
d) Tổ chức thực hiện các hoạt động quan trắc, điều tra, khảo sát thu thập
thông tin, dữ liệu về khí tượng thuỷ văn và tác động của các loại hình thiên tai,
hướng tới dự báo dựa trên tác động, cảnh báo dựa trên rủi ro đối với các hiện
tượng thiên tai, khí tượng thủy văn; xác định, đánh giá rủi ro thiên tai, phân
vùng rủi ro thiên tai.
đ) Chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ chủ động né tránh thiên
tai để thích nghi và phát triển bền vững.
e) Thực hiện các chương trình, đề án, dự án, các hoạt động nâng cao năng
lực phòng, chống thiên tai, nhất là nâng cao năng lực cho lực lượng làm công tác
tham mưu, chỉ đạo, hỗ trợ ra quyết định phòng, chống thiên tai.
g) Rà soát, đề xuất điều chỉnh kế hoạch phòng, chống thiên tai nếu cần thiết.
h) Phối hợp rà soát, đề xuất điều chỉnh quy trình vận hành liên hồ chứa.
i) Phối hợp với Sở Ngoại vụ và các cơ quan liên quan trao đổi, hợp tác
với tổ chức để chia sẻ thông tin về vận hành hồ chứa trên các sông, suối xuyên
biên giới để chủ động trong phòng, chống thiên tai.
Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố
a) Chỉ đạo, chỉ huy cơ quan, đơn vị trực thuộc tổ chức lực lượng, sẵn sàng
phương tiện, trang thiết bị, vật tư chuyên dùng để ứng phó, tìm kiếm cứu nạn và
khắc phục hậu quả thiên tai.
b) Chỉ đạo các cơ quan quân sự địa phương các cấp tham mưu cho Ủy ban
nhân dân cùng cấp thực hiện công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu
nạn theo lĩnh vực được phân công.
Công an thành phố
a) Chủ trì tham mưu xây dựng, cập nhật các kế hoạch huấn luyện, diễn tập
và tham gia ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa cháy lớn ở các khu đô
thị, khu công nghiệp, khu dân cư.
b) Chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương sẵn sàng lực lượng, phương
tiện, trang thiết bị phối hợp với các lực lượng chực năng, chính quyền địa
phương tham gia công tác phòng, chống thiên tai, tổ chức di dời, sơ tán người
dân, tài sản khỏi vùng nguy hiểm và hỗ trợ khắc phục hậu quả, bảo đảm an sinh
xã hội sau thiên tai, sự có, thảm họa.
c) Chi đạo xây dựng, triển khai phương án tăng cường lực lượng, phương
tiện thực hiện nhiệm vụ trước, trong và sau khi xảy ra thiên tai, tập trung: bảo vệ
an ninh, an toàn các trụ sở, mục tiêu, công trình trọng điểm; đảm an ninh, trật tự
tại các khu vực, địa điểm di dời, sơ tán dân đi, đến; chốt chặn, phân luồng, đảm
bảo trật tự an toàn giao thông các khu vực, tuyến đường ngập sâu, sạt lở đất đá;
tham gia chữa cháy, tìm kiểm, cứu nạn, củu hộ người, tài sản do thiên tai, sự cố;
phòng ngừa, phát hiện và kịp thời xử lý các hành vi lợi dụng thiên tai để thực
hiện hành vi vi phạm pháp luật, trục lợi; bảo vệ an ninh, an toàn không gian
mạng, phòng chông, xủ lý các trường hợp đặng tải tin giả, thông tin xấu và lợi
dụng tình hình thiên tai, thảm họa để gây rối, kích động theo chức năng, nhiệm
vụ của lực lượng Công an.
Sở Xây dựng
a) Rà soát, có kế hoạch nâng cấp, cải tạo, xây dựng các công trình giao
thông đường bộ, ở những vùng thường bị sạt lở, lũ, ngập lụt, nước biển dâng.
b) Hướng dẫn áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn về kỹ thuật xây dựng kết
cấu hạ tầng giao thông thích ứng với biến đổi khí hậu.
c) Nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới, vật liệu mới có khả năng thích
ứng với biến đổi khí hậu.
d) Hướng dẫn áp dụng quy chuẩn, tiêu chuẩn về thoát nước của các đô
thị, khu dân cư trong điều kiện tác động của thiên tai; định hướng trong việc xây
137
dựng các tiêu chí quy định về đảm bảo yêu cầu phòng, chống thiên tai đối với
việc sử dụng công trình, nhà ở thuộc quyền sở hữu của hộ gia đình, cá nhân.
e) Hướng dẫn chi tiết phân loại nhà an toàn với bão mạnh, siêu bão, động
đất; xây dựng nhà ở phòng, chống thiên tai phù hợp với điều kiện thiên tai từng
vùng.
Sở Công Thương
Tổ chức thực hiện các nội dung phòng, chống thiên tai, nhất là các hoạt
động đảm bảo an toàn hồ đập thuỷ điện, hệ thống điện, sản xuất công nghiệp và
khai thác khoáng sản; có kế hoạch chủ động cung cấp các mặt hàng thiết yếu kịp
thời ứng phó với các tình huống thiên tai.
Sở Khoa học và Công nghệ
a) Rà soát cơ chế, chính sách tạo điều kiện khuyến khích, hỗ trợ nghiên
cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong phòng, chống thiên tai.
b) Tham mưu UBND thành phố bố trí kinh phí và tổ chức thực hiện các
đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ tiên tiến, vật liệu mới trong xây
dựng và quản lý, vận hành công trình phòng, chống thiên tai và các hoạt động
liên quan đến phòng, chống thiên tai thích ứng với biến đổi khí hậu.
c) Sở khoa học và Công nghệ thành phố Huế chỉ đạo Trung tâm Giám sát,
điều hành đô thị thông minh thường xuyên cập nhật nâng cấp các chức năng
Thời tiết thiên tai trên Hue-S để người dân tiếp cận các thông tin mới nhất về
tình hình thời tiết thiên tai để chủ động phòng tránh; Phối hợp các đơn vị liên
quan tăng cường truyền thông về thời tiết, thiên tai, biến đổi khí hậu trên Hue-S
và các nền tảng số để người dân tiếp cận thông tin và chủ động phòng tránh;
tăng cường giám sát thông tin trên môi trường mạng để kịp thời báo cáo các cơ
quan chức năng những trường hợp đăng tải tin giả, tin sai sự thật về tình hình
thời tiết thiên tai.
Sở Tài chính
a) Hướng dẫn các sở, ngành và các địa phương lồng ghép nội dung phòng,
chống thiên tai vào kế hoạch phát triển ngành, kinh tế - xã hội của địa phương;
lồng ghép Kế hoạch phòng, chống thiên tai vào kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội xã, phường làm cơ sở thực hiện hàng năm.
b) Cân đối, bố trí nguồn vốn đầu tư thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách nhà
nước thực hiện các nội dung Kế hoạch phòng, chống thiên tai phù hợp
với các dự án về phòng, chống thiên tai và liên quan đến phòng, chống thiên tai
được xác định trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030; xây
dựng cơ chế huy động thu hút nguồn lực, khuyến khích sự tham gia đầu tư của
các thành phần kinh tế ngoài nhà nước, doanh nghiệp và người dân vào các hoạt
động phòng, chống thiên tai.
c) Theo dõi, giám sát đầu tư đối với các chương trình, đề án, dự án phòng,
chống thiên tai và liên quan đến phòng, chống thiên tai theo quy định của pháp
luật.
Các sở, ngành, đơn vị khác, theo chức năng nhiệm vụ được giao có trách
nhiệm tổ chức triển khai thực hiện các chương trình, đề án, dự án và các nhiệm
vụ trong Kế hoạch này và trong phạm vi quản lý; hoàn thiện cơ chế, chính sách
huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai.
Ủy ban nhân dân các xã, phường
a) Hoàn thiện Kế hoạch phòng, chống thiên tai các cấp ở địa phương gắn
với quản lý tổng hợp lưu vực sông phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương.
b) Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng
đồng, chú trọng tổ chức bộ máy, huy động nguồn lực cho lực lượng xung kích
tại cơ sở, cộng đồng theo phương châm “4 tại chỗ”.
c) Tổ chức thực hiện đầy đủ các mục tiêu, nội dung của kế hoạch và các
chương trình, đề án, dự án phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai thuộc phạm vi trách
nhiệm quản lý.
d) Bố trí ngân sách hàng năm và huy động các nguồn lực hợp pháp khác để
thực hiện nhiệm vụ thuộc trách nhiệm và kế hoạch phòng, chống thiên tai ở địa
phương.
3.3 Theo dõi, báo cáo và điều chỉnh Kế hoạch
Các cơ quan chủ trì nhiệm vụ, dự án báo cáo hằng năm về tiến độ, kết quả
thực hiện chỉ tiêu, tình hình bố trí và giải ngân nguồn lực, khó khăn và đề xuất
điều chỉnh. Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì tổng hợp, báo cáo UBND
thành phố; tổ chức đánh giá giữa kỳ vào năm 2028 và đánh giá cuối kỳ vào năm
2030.
Kế hoạch được rà soát, điều chỉnh khi có thiên tai lớn, xuất hiện rủi ro
mới, thay đổi quy hoạch, tổ chức bộ máy, nguồn lực hoặc yêu cầu quản lý. Sau
các sự kiện thiên tai nghiêm trọng, các cơ quan liên quan tổ chức đánh giá, rút
kinh nghiệm và cập nhật phương án, dữ liệu và nhiệm vụ ưu tiên.
139
PHẦN IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
1. Kế hoạch phòng, chống thiên tai thành phố đã thể hiện đầy đủ các nội
dung được quy định tại khoản 4 Điều 15 Luật Phòng, chống thiên tai (được sửa
đổi, bổ sung tại khoản 10 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Phòng, chống thiên tai và Luật đê điều); Kế hoạch phòng, chống thiên tai thành
phố cũng đã bám sát Kế hoạch phòng, chống thiên tai quốc gia và các nội dung
khác có liên quan đến thiên tai.
2. Trên cơ sở đánh giá những tồn tại trong quá trình lập, thực hiện Kế
hoạch phòng, chống thiên tai thành phố đến 2025; thực tiễn diễn biến thiên tai,
tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu những năm qua đến phát triển kinh tế -
xã hội nói chung và các ngành nói riêng; các chủ trương đường lối của Đảng,
Nhà nước trong phòng, chống thiên tai, Kế hoạch cũng đã đề xuất các nhóm giải
pháp, kèm theo các nội dung thực hiện. Bên cạnh đó, Kế hoạch cũng đề xuất
việc lồng ghép các nội dung phòng, chống thiên tai vào kế hoạch phát triển của
các ngành, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, phân công
nhiệm vụ cho các sở, ban, ngành và các địa phương.
Kiến nghị
Sở Nông nghiệp và Môi trường kính đề nghị UBND thành phố xem xét,
phê duyệt làm cơ sở để các sở, ban, ngành và các địa phương tổ chức triển khai
thực hiện góp phần nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai, đồng thời tạo điều
kiện phát triển bền vững kinh tế - xã hội.
PHỤ LỤC KÈM THEO KẾ HOẠCH
Phụ lục I. Kết quả thực hiện Kế hoạch phòng, chống thiên tai thành phố đến năm 2025
24
Kinh phí đã được bố trí giai đoạn 2021-2025 (tỷ
đồng)
TT
Nhóm dự án
Kinh phí
theo Kế
hoạch
(tỷ đồng)
Tổng
kinh phí
Vốn
NSTW
Vốn
NSĐP
Vốn
ODA
Nguồn
vốn khác
(Quỹ
PCTT,
XHH, …)
Kết quả
thực hiện
Ghi chú
I
Phòng chống áp thấp nhiệt đới, bão, bão mạnh, siêu bão
1
Xây dựng, củng cố, nâng cấp khu neo đậu tàu
thuyền tránh trú bão, kết hợp với dịch vụ hậu
cần nghề cá
1.1
Dự án Cảng cá Thuận An kết hợp khu neo đậu
tránh trú bão
220
220
220
220
1.2
Dự án Cảng cá Tư Hiền kết hợp khu neo đậu
tránh trú bão
148
148
148
148
Dự án Nâng cấp khu neo đậu tránh trú bão Phú
Hải, huyện Phú Vang
32
32
32
32
Nguồn bồi
thường của
Công ty TNHH
Gang thép
Hưng nghiệp
Formosa Hà
Tĩnh
24
Báo cáo số 16059/BC-UBND ngày 06/11/2025 về đánh giá kết quả triển khai thực hiện Kế hoạch phòng, chống thiên tai quốc gia đến năm 2025 và đề xuất kế hoạch giai đoạn 2026-2030
141
2
Tu bổ, củng cố, nâng cấp hệ thống đê, kè biển
và khu vực cửa sông
2.1
Sửa chữa nâng cấp đê Đông Phá Tam Giang
đoạn qua xã Điền Hòa - Điền Hải
15
15
2.2
Tu bổ đê điều thường xuyên giai đoạn 2021-
2025, Hạng mục: Đê Đông Tây Ô Lâu đoạn qua
xã Phong Chương và xã Điền Lộc, huyện Phong
Điền; Đê Đông phá Tam Giang đoạn qua xã
Hải Dương, thị xã Hương Trà và Đê Tây phá
Tam Giang đoạn qua xã Quảng Thái, huyện
Quảng Điền
21,7
21,7
3
Xây dựng, củng cố nhà kết hợp sơ tán dân
4
Trồng rừng phòng hộ ven biển
4.1
Dự án đầu tư Bảo vệ và Phát triển rừng vùng
ven biển và đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế
11,4
11,4
4.2
Dự án hiện đại hóa ngành Lâm nghiệp và tăng
cường tính chống chịu vùng ven biển (FMCR)
216,649
95
121,315
Chuyển tiếp giai
đoạn sau
II
Phòng chống lũ, ngập lụt
1
Xây dựng, tu bổ, nâng cấp hệ thống đê điều; hệ
thống công trình kiểm soát lũ; hệ thống đê bao, bờ
bao
1.1
Nâng cấp đê kết hợp giao thông đê Nho Lâm-
Nghĩa lộ đoạn qua xã Quảng Phú và Quảng Thọ.
4,2
4,2
1.2
Sửa chữa, nâng cấp đập La Ỷ, huyện Phú Vang
41,92
41,92
1.3
Nâng cấp hệ thống đê sông Thiệu Hóa
142,07
110
32,07
1.4
Nâng cấp, sửa chữa tuyến Hói Hà, Hói Nậy, xã
Phong Bình và xã Phong Chương
125
100
25
1.5
Hệ thống thoát lũ khu vực xã Điền Hòa-Điền Hải,
huyện Phong Điền
10
10
1.6
Đê Đông Tây Ô Lâu đoạn qua xã Phong Chương
và xã Điền Lộc
7,532
7,532
1.7
Đê bờ hữu sông Đại Giang đoạn qua xã Thủy Tân,
thị xã Hương Thủy
21,55
21,55
2
Xây dựng, củng cố, nâng cấp hệ thống công trình
thuỷ lợi; nạo vét, nâng cấp công trình trên sông,
ven sông, kênh, rạch tăng cường khả năng thoát lũ
2.1
Hệ thống tưới Thanh Lam - Phú Đa, huyện Phú
Vang
5,933
5,933
2.2
Nâng cấp mở rộng kết hợp nạo vét gia cố bờ hói
Hàng Tổng, huyện Quảng Điền
26,8
26,8
2.3
Nạo vét và xây dựng Kè hói Đốc Sơ-An Hòa
35
35
2.4
Nạo vét và gia cố tuyến tiêu thoát lũ hói Cồn Bài
xã Quảng An
4,963
4,963
2.5
Nâng cấp, sủa chữa trạm bơm Phong Sơn, Đông
Vinh, Chương-Bình, Vinh Phú thuộc huyện Quảng
Điền, Phong Điền
20
20
143
2.6
Hệ thống tiêu thoát lũ Phổ Lợi - Mộc Hàn - Phú
Khê
265,394
220
45,394
2.7
Hệ thống Kênh thoát lũ cách ly Phú Lương, Diêm
Tụ - Phú Gia và nâng cấp đê Trường Lưu Phú Đa
2, đê Đại Giang đoạn từ hói Trường Lưu về cầu
Đại Giang.
38,55
38,55
2.8
Hệ thống trạm bơm (Vụng Trẹn, xã Quảng Vinh;
Xuân Tùy, Pheo, xã quảng An), huyện Quảng Điền
17,8
17,8
2.9
Hệ thống trạm bơm tưới, tiêu huyện Phú Vang
24,2
24,2
2.10
Hệ thống thoát lũ khu vực Cầu Hai, huyện Phú Lộc
23,974
23,974
4.1
Dự án Phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng
hộ (JICA 2)
12,03
0
3,448
8,582
III
Phòng chống lũ quét, sạt lở đất
IV
Phòng chống sạt lở bờ sông, bờ biển
1
Xây dựng công trình phòng chống sạt lở bờ sông,
bờ biển, công trình chỉnh trị sông tại các phân lưu,
hợp lưu đảm bảo ổn định tỷ lệ phân lưu
1.1
Kè chống sạt lở bờ biển đoạn qua thôn An Dương,
xã Phú Thuận, huyện Phú Vang (đoạn còn lại đã
triển khai thi công đóng cọc, chưa gia cố phần
mái)
3,6
0
3,6
0
1.2
Xử lý khẩn cấp sạt lở bờ biển đoạn qua xã Phú
Thuận (đoạn còn lại tiếp giáp với đoạn kè đã đầu
tư), huyện Phú Vang
80
80
0
0
1.3
Kè chống sạt lở bờ sông Hương đoạn qua phường
Hương Hồ, xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà và xã
thủy Bằng, thị xã Hương thủy
12,1
0
12,1
0
1.4
Kè chống sạt lở bờ sông Nong, huyện Phú Lộc
2
0
2
0
1.5
Kè chống sạt lở bờ sông Tả Trạch đoạn từ cầu Khe
Tre đến trung tâm Y tế huyện Nam Đông
9,501
0
9,501
0
1.6
Kè chống sạt lở sông Bồ đoạn qua các xã Phong
An, Phong Sơn thuộc huyện Phong Điền và các
phường Hương Văn, Tứ Hạ, Hương Xuân và
Hương Toàn thuộc thị xã Hương Trà
13,9
0
13,9
0
1.7
Kè chống sạt lở bờ biển khu vực xã Quảng Công,
huyện Quảng Điền
3,5
0
3,5
0
1.8
Xử lý khẩn cấp khắc phục xói lở bờ biển Hải
Dương.
65,118
0
65,118
0
Chuyển tiếp
sang giai đoạn
sau
1.9
Kè chống sạt lở bờ sông Bồ đoạn qua thôn Hạ
Lang, xã Quảng Phú
1,8
0
1,8
0
1.10
Gia cố kè kết hợp giao thông dọc tỉnh lộ 11B đoạn
qua xã Phong An và xã Phong Sơn, huyện Phong
Điền
22
0
22
0
Chuyển tiếp
sang giai đoạn
sau
145
1.11
Xử lý khẩn cấp sạt lở bờ biển đoạn qua xã Giang
Hải (nay là xã Vinh Lộc)
6
0
6
0
1.12
Kè chống sạt lở bờ sông Tả Trạch đoạn qua xã
Hương Lộc, huyện Nam Đông
10
0
10
0
1.13
Kè chống sạt lở bờ biển đoạn gốc đê chắn cát giảm
sóng phía bắc cửa Tư Hiền
9,2
0
9,2
0
1.14
Kè chống sạt lở bờ sông Tả Trạch đoạn từ Trung
tâm Y tế huyện Nam Đông đến cầu Lê Nô
13,3
0
13,3
0
1.15
Kè chống sạt lở bờ sông Truồi, đoạn qua xã Lộc
An, xã Lộc Điền.
14,8
0
14,8
0
1.16
Kè chống sạt lở sông Bồ đoạn qua xã Quảng Phú,
huyện Quảng Điền
18,6
0
18,6
0
Chuyển tiếp
sang giai đoạn
sau
1.17
Kè chống sạt lở hai bờ sông Phù Bài, thị xã Hương
Thủy
24,9
0
24,9
0
1.18
Kè sông Bồ qua phường Tứ Hạ, phường Hương
Xuân, phường Hương Vân, thị xã Hương Trà
35,2
0
35,2
0
1.19
Xử lý khẩn cấp sạt lở Kè sông Bồ đoạn qua thôn
Bồ Điền, xã Phong An, huyện Phong Điền
6
0
6
0
1.20
Xử lý khẩn cấp sạt lở bờ sông Ô Lâu qua các đoạn
qua Làng Phước Tích và khu tái định cư Bàu Tràn,
xã Phong Hòa, huyện Phong Điền
3
0
3
0
1.21
Xử lý khẩn cấp kè chống sạt lở Sông Bồ đoạn đi
qua xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền ( KPLB)
15
0
15
0
1.22
Xử lý khẩn cấp kè chống sạt lở Sông Bồ đoạn đi
qua xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền ( KPLB)
0
0
0
0
1.23
Kè chống sạt lở bờ sông Diên Hồng, huyện Quảng
Điền
35
0
35
0
1.24
Kè chống xói lở bờ biển đoạn qua thôn An Dương,
xã Phú Thuận huyện Phú Vang
20
0
20
0
1.25
Xử lý khẩn cấp sạt lở bờ sông Nước Ngọt, xã Lộc
Thủy
4
0
4
0
1.26
Xử lý khẩn cấp sạt lở sông Bồ đoạn qua Cửa Khâu,
phường Hương Văn, thị xã Hương Trà
5,8
0
5,8
0
1.27
Xử lý khẩn cấp sạt lở sông Tả Trạch đoạn qua thôn
Kim Ngọc, xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà
1,89
0
1,89
0
1.28
Xử lý khẩn cấp sạt lở sông Bồ đoạn phường Tứ Hạ,
thị xã Hương Trà
8,15
0
8,15
0
1.29
Sửa chữa khắc phục khẩn cấp tuyến đê Đông phá
Tam Giang và kè chống sạt lở bờ biển đoạn qua xã
Hải Dương, thị xã Hương Trà
3,175
0
3,175
0
1.30
Xử lý khẩn cấp sạt lở đê Đông Tây Hói Tôm
0,944
0
0,944
0
147
1.31
Kè chống sạt lở các đoạn xung yếu thuộc hệ thống
sông Hương đoạn từ cầu Kim Long đến Bến Me
39
0
39
0
1.32
Xử lý sạt lở tuyến Đê Đông Ô Lâu đoạn từ
Km0+40 đến Km0+390 qua xã Điền Hương,
huyện Phong Điền
2,959
0
2,959
0
1.33
Xử lý khẩn cấp sạt lở bờ biển đoạn qua xã Phú
Thuận, huyện Phú Vang
10
0
10
0
1.34
Xử lý sạt lở bờ biển đoạn qua xã Phú Thuận, xã
Phú Hải, huyện Phú Vang
160
160
0
0
1.35
Kè chống sạt lở bờ biển đoạn qua thôn Tân An -
Trung An - Xuân An, xã Phú Thuận, huyện Phú
Vang
244,681
200
44,681
0
Chuyển tiếp
sang giai đoạn
sau
1.36
Kè chống sạt lở bờ sông Tả Trạch đoạn từ cầu Hà
An, xã Hương Phú đến thượng lưu Cầu Lê Nô, thị
trấn Khe Tre
0
0
0
0
V
Phòng chống hạn hán, xâm nhập mặn
Xây dựng, nâng cấp hồ chứa nước, công trình, hệ
thống công trình kiểm soát mặn; nạo vét kênh, rạch
kết hợp trữ nước chống hạn phục vụ sản xuất, sinh
hoạt
1
Dự án sửa chữa và nâng cao an toàn đập(WB8)-
Tiểu dự án tỉnh Thừa Thiên Huế
41,575
0
11,56
30,015
2
Sửa chữa, nâng cấp hồ Thọ Sơn, xã Hương Xuân
12,922
0
12,922
0
3
Nâng cấp các công trình thủy lợi huyện A Lưới
12
0
12
0
4
Sửa chữa, nâng cấp đập Khe Mang, thị trấn Phong
Điền
8,88
0
8,88
0
5
Nâng cấp sửa chữa các công trình trạm bơm chống
hạn Tây Nam Hương Trà, thị xã Hương Trà
7,4
0
7,4
0
6
Nạo vét gia cố mái các điểm xung yếu hói 5 xã,
hói 7 xã thị xã Hương Trà
14,9
0
14,9
0
VI
Xây dựng trung tâm điều hành và dữ liệu phòng chống thiên tai
1
Xây dựng, củng cố, nâng cấp Trung tâm phòng
chống thiên tai cấp tỉnh
1.1
Vận hành hồ chứa trong tình huống khẩn cấp và
quản lý lũ hiệu quả bằng hệ thống thông tin quản
lý thiên tai toàn diện
3,3
3
149
Phụ Lục II. Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030
Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030
Kế hoạch đầu tư công
trung hạn giai đoạn 2026-
2030 (giao đầu kỳ
Nguồn vốn tăng thêm
TT
Danh mục dự án
Địa
điểm
xây
dựng
Th.
gian
KC-
HT
Năng lực
thiết kế
Tổng số
Vốn
tập
trung
trong
nước
Vốn
ngân
sách
trung
ương
Nguồn
thu sử
dụng
đất
Tổng
số
Nguồn
tăng thu,
dự toán
chi còn
lại của
NSTP
năm
2025
Vốn
khác
(NSTW
trung
ương bổ
sung…)
TỔNG CỘNG
1.648.500
40.000
910.000
698.500
200.000
0
200.000
I
Nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm
nghiệp, thủy lợi và thủy sản
1.648.500
40.000
910.000
698.500
200.000
0
200.000
1
Kè gia cố các đoạn xung yếu còn lại
thuộc hệ thống tiêu thoát lũ Phổ Lợi,
Phú Khê, La Ỷ, Mậu Tài, Lợi Nông
và công trình trên tuyến
130.000
100.000
30.000
0
2
Hệ thống cấp nước qua phá, khu vực
xã Phú Vinh (Tên cũ là: Hệ thống cấp
nước qua phá, khu vực Phú Diên,
Vinh Xuân, huyện Phú Vang)
Phú
Vinh
2028-
2031
tưới 270
ha, tạo
nguồn
240 ha
160.000
160.000
0
0
3
Kè gia cố kết hợp chỉnh trang hai bờ
sông Bạch Yến
Kim
Long
2028-
2030
14km
230.000
200.000
30.000
0
4
Nâng cấp tuyến đê Tây phá Cầu Hai
đoạn từ Km0+800 đến Km4+800
đoạn qua xã Phú Vang (Tên cũ là:
Nâng cấp đê phá Vinh Hà )
Phú
Vang
2026-
2028
2,1km,
bảo vệ
220 ha
25.000
25.000
0
5
Nâng cấp hệ thống hói tiêu thoát lũ 5
xã-7 xã
Hương
An,
Kim
Long
2026-
2029
tiêu
2.993
ha,chống
ngập
60.000
dân
130.000
100.000
30.000
0
6
Kè chống sạt lở bờ sông Truồi đoạn
qua xã Lộc Hòa, Lộc An và Lộc Điền
Lộc
An
2028-
2030
3,9km
45.000
45.000
0
7
Xử lý sạt lở bờ biển đoạn qua phường
Thuận An, thành phố Huế
Thuận
An
2026-
2027
1,4 km
20.000
20.000
200.000
200.000
8
Nâng cấp tuyến đê An Sơn Bổn
Lộc
An,
Hưng
Lộc
2027-
2030
12km,
bảo vệ
580ha
160.000
150.000
10.000
0
9
Cứng hóa bờ hói Hàng Tổng, cải tạo
nâng cấp cống Phước Lý và nạo vét,
gia cố thủy đạo sau cống
Quảng
Điền
2026-
2028
3km
15.000
15.000
0
10
Hệ thống thoát lũ huyện Quảng Điền
(Hạng mục: Nạo vét, gia cố bờ hói
Kim Đôi, gia cố bờ sông Bồ đoạn qua
thôn Phú Lương A, Thanh Hà và mở
rộng cống Quán Hòa, xã Quảng
Thành; Nạo vét, gia cố 2 bờ hói Chợ
Nang từ cầu Phổ Lại đến cầu Bố; Mở
rộng, nâng cấp đê Ico từ cống Hà Đồ
và Quán Cửa)
Quảng
Điền,
Đan
Điền,
Hoá
Châu
2026-
2029
6,6km
205.000
200.000
5.000
0
151
11
Nâng cấp đê bao An Thành kết hợp
giao thông
Quảng
Điền,
Hoá
Châu
2026-
2028
50.000
50.000
0
12
Nạo vét, nâng bờ chống tràn 2 bờ hói:
Bến Trâu, Nịu, xã Quảng Thái và nạo
vét đắp bờ, gia cố mái kênh cách ly
phía trong bờ tả hói Diên Hồng từ cầu
Bàu Kho đến cống Bầu, huyện Quảng
Điền
Quảng
Điền,
Đan
Điền
2026-
2028
24.500
24.500
0
13
Kè chống sạt lở bờ sông Tả Trạch
đoạn khu tái định cư thôn 6, xã Nam
Đông
Nam
Đông
2026-
2028
0,6km
14.500
14.500
0
14
Gia cố tuyến hói Hiền Lương, xã
Phong Hiền, huyện Phong Điền
Phong
Thái
2026-
2028
1,6km kè
19.000
19.000
0
15
Kiên cố hóa các tuyến hói thoát lũ,
tách nước ngoại lai phía thượng lưu
đường cứu hộ cứu nạn thị trấn Phong
Điền - Điền Lộc
Phong
Dinh,
Phong
Phú
2026-
2028
13,6km
hói
40.000
40.000
0
16
Hệ thống thoát lũ Đồng Di - Phú Hồ
(kênh thoát Đồng Di - Sư Lỗ, hói Mụ
Phi, đê Xuân Lương Hồ các đoạn còn
lại), xã Phú Hồ
Phú
Hồ
2026-
2028
4,9 km
25.500
25.500
0
17
Thoát nước khu vực phường Phú Bài
và xã Thuỷ Phù
Phú
Bài
2026-
2028
150.000
40.000
110.000
0
18
Nâng cấp hồ chứa nước Hòa Mỹ
Phong
Điền
2026-
2028
603ha
35.000
35.000
0
19
Kè chống sạt lở bờ sông Bồ đoạn qua
xã Quảng Thọ, Quảng An, Quảng
Phước, huyện Quảng Điền
Quảng
Điền
2026-
2028
3,35km
37.000
37.000
0
20
Xử lý khẩn cấp sạt lở bờ sông Ô Lâu
qua xã Phong Mỹ, Phong Hòa và
Phong Bình, huyện Phong Điền
Phong
Điền,
Phong
Dinh
2026-
2028
2km
15.000
15.000
0
21
Tu bổ đê điều thường xuyên giai đoạn
2026-2030, Hạng mục: Đê Tây phá
Tam Giang đoạn qua xã Đan Điền,
thành phố Huế
Đan
Điền
2026-
2028
5km
48.000
48.000
0
22
Trồng rừng ngập mặn tại khu vực Rú
Chá
Hóa
Châu
2025-
2027
17,65ha
70.000
70.000
0
153
Phụ lục III. Các nhiệm vụ, chương trình, dự án phòng, chống thiên
tai
25
TT
Nội dung, nhiệm vụ
Cơ quan chủ trì
thực hiện
Cơ quan
phối hợp
Thời gian
I
Hoàn thiện thể chế, chính sách, các quy định của pháp luật về công tác phòng,
chống thiên tai
1
Tổ chức nghiên cứu, quán triệt và
triển khai thực hiện nghiêm túc Kết
luận số 213-KL/TW ngày 21/11/2025
của Ban Bí thư theo chỉ đạo của Ban
Thường vụ Thành ủy
Sở Nông nghiệp
và Môi trường
Các sở,
ngành và
địa phương
Năm
2026/thực
hiện thường
xuyên hằng
năm
2
Cập nhật kế hoạch phòng, chống
thiên tai thành phố 2026-2030
Sở Nông nghiệp
và Môi trường
Các sở,
ngành, địa
phương
Năm 2026/
hàng năm
cập nhật
3
Cập nhật phương án phòng, chống
thiên tai thành phố
Ban Chỉ huy
PTDS thành phố
Các sở,
ngành, địa
phương
Hàng năm
4
Xây dựng kế hoạch phòng, chống
thiên tai cấp xã 2026-2030
UBND các
xã/phường
Các cơ
quan, đơn
vị
Năm 2026/
hàng năm
cập nhật
5
Cập nhật phương án phòng, chống
thiên tai cấp xã
UBND các
xã/phường
Các cơ
quan, đơn
vị
Hàng năm
6
Rà soát, cập nhật phương án phòng,
chống thiên tai các ngành, lĩnh vực
Các sở, ngành
Các cơ
quan, đơn
vị
Hàng năm
7
Rà soát, điều chỉnh quy hoạch thành
phố và các quy hoạch ngành, lĩnh vực
theo hướng đặt yêu cầu phòng ngừa,
ứng phó thiên tai ở vị trí trọng tâm
Sở Xây dựng
Các sở,
ngành và
địa phương
Thường
xuyên
8
Điều chỉnh các quy trình vận hành
liên hồ, đơn hồ chứa thuỷ điện, thuỷ
lợi, trong đó phải ưu tiên dành dung
tích hữu ích của hồ để cắt lũ cho hạ
du.
Sở Nông nghiệp
và Môi trường,
Sở Công Thương,
các địa phương
Các cơ
quan, đơn
vị
Năm 2026
9
Tăng cường bảo vệ và có biện pháp
Sở Nông nghiệp
Các cơ
Giai đoạn
25
Kế hoạch số 305/KH-UBND ngày 29/5/2026 của UBND thành phố về triển khai Nghị quyết số 116/NQ-CP ngày
29/4/2026 của Chính phủ về thực hiện Kết luận số 213-KL/TW
TT
Nội dung, nhiệm vụ
Cơ quan chủ trì
thực hiện
Cơ quan
phối hợp
Thời gian
giải phóng không gian, hành lang
thoát lũ trên các lưu vực sông, lòng
sông, bảo đảm khả năng tiêu, thoát lũ.
và Môi trường,
Sở Xây dựng, các
địa phương
quan, đơn
vị
2026 - 2030
10
Tham mưu ban hành và triển khai
thực hiện đề án nâng cao năng lực
thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự,
ứng phó sự cố thiên tai, tìm kiếm cứu
nạn cho lực lượng Bộ đội địa phương,
Dân quân tự vệ, Dự bị động viên
thành phố Huế giai đoạn 2026-2030;
Bộ Chỉ huy Quân
sự thành phố
Sở Tài
chính, Sở
Tư pháp;
các sở,
ngành địa
phương,
đơn vị có
liên quan
Năm 2026
11
Triển khai hiệu quả các chính sách hỗ
trợ Nhân dân khôi phục sản xuất nông
nghiệp theo quy định tại Nghị định số
09/2025/NĐ-CP ngày 10/01/2025 của
Chính phủ
Sở Nông nghiệp
và Môi trường
Sở Tài
chính; các
sở, ngành
và địa
phương
Hàng năm
12
Hướng dẫn áp dụng các quy chuẩn,
tiêu chuẩn kỹ thuật và quy định về
đầu tư xây dựng công trình, hạ tầng
nhằm bảo đảm khả năng chống chịu
trước các hình thái thiên tai cực đoan
Sở Xây dựng
Các sở,
ngành và
địa phương
Thường
xuyên
13
Tổ chức rà soát, kiện toàn Ban Vận
động Quỹ Cứu trợ thành phố theo
đúng quy định tại Nghị định số
93/2021/NĐ-CP của Chính phủ về
vận động, tiếp nhận, phân phối và sử
dụng các nguồn đóng góp tự nguyện
nhằm hỗ trợ khắc phục khó khăn do
thiên tai, dịch bệnh, sự cố
Ủy ban MTTQ
Việt Nam thành
phố Huế
Các sở,
ngành và
đơn vị/địa
phương
Thường
xuyên
14
Triển khai hiệu quả các chính sách hỗ
trợ Nhân dân theo quy định tại Nghị
định số 20/2021/NĐ-CP ngày
15/3/2021 của Chính phủ quy định
chính sách trợ giúp xã hội đối với đối
tượng bảo trợ xã hội; Nghị định số
76/2024/NĐ-CP ngày 01/7/2024 của
Chính phủ về Sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 20/2021/NĐ-
CP ngày 15/3/2021
Sở Y tế
Các sở,
ngành và
đơn vị/địa
phương
Thường
xuyên
II
Phân công, phân cấp và nâng cao năng lực cho lực lượng làm công tác phòng,
155
TT
Nội dung, nhiệm vụ
Cơ quan chủ trì
thực hiện
Cơ quan
phối hợp
Thời gian
chống thiên tai
1
Rà soát, kiện toàn Ban Chỉ huy Phòng
thủ dân sự thành phố và Ban Chỉ huy
Phòng thủ dân sự xã, phường
Ban Chỉ huy
PTDS thành phố;
Ban Chỉ huy
PTDS 40
xã/phường
Các đơn vị
Hàng năm
2
Hướng dẫn kiện toàn cơ quan tham
mưu chỉ đạo điều hành và hệ thống tổ
chức bộ máy quản lý nhà nước phòng,
chống thiên tai
Sở Nội vụ
Các sở,
ngành và
địa phương
Thường
xuyên
3
Tổ chức, củng cố nâng cao năng lực,
trang thiết bị Cơ quan tham mưu Ban
Chỉ huy Phòng thủ dân sự thành phố
về công tác phòng chống thiên tai
Sở Nông nghiệp
và Môi trường
Chi cục
Thủy lợi và
BĐKH
Thường
xuyên
4
Kiện toàn Đội xung kích phòng,
chống thiên tai xã, phường
UBND các xã,
phường
Các cơ
quan, đơn
vị
Hàng năm
5
Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, huấn
luyện chuyên sâu cho lực lượng
chuyên trách về phòng, chống thiên
tai, tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ và các
lực lượng tại chỗ ở địa phương
Bộ Chỉ huy Quân
sự thành phố/Công
an thành phố/Sở
Nông nghiệp và
Môi trường
Các sở,
ngành và
địa phương
Thường
xuyên
6
Ban hành kế hoạch tổ chức diễn tập
phòng, chống thiên tai cho 40 Đội
xung kích phòng, chống thiên tai xã,
phường
Bộ Chỉ huy Quân
sự thành phố/Công
an thành phố/Sở
NNMT/UBND
các xã, phường
Các sở,
ngành và
địa phương
Hàng năm
7
Chỉ đạo rà soát, cập nhật, diễn tập các
phương án ứng phó tình huống khẩn
cấp đối với công trình thủy lợi, thủy
điện theo quy định hiện hành
Sở Công
thương/Sở Nông
nghiệp và Môi
trường
Các chủ
đập
Thường
xuyên
8
Tham mưu tổ chức đào tạo các lớp
điều khiển phương tiện thủy nội địa
cho các đối tượng
Bộ Chỉ huy Quân
sự thành phố
Trường
Cao đẳng
Huế
Quý II-
2026/hàng
năm
9
Hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu
quả hoạt động của Quỹ phòng, chống
thiên tai thành phố
Sở Nông nghiệp
và Môi trường
Sở Tài
chính; các
sở, ngành,
Năm 2026
TT
Nội dung, nhiệm vụ
Cơ quan chủ trì
thực hiện
Cơ quan
phối hợp
Thời gian
địa phương
10
Thành lập Quỹ PTDS thành phố.
Sở Tài chính
Bộ Chỉ huy
Quân sự
thành phố
Năm 2026
III
Nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số nhằm
nâng cao năng lực cảnh báo, dự báo, theo dõi, giám sát thiên tai, giảm thiểu thiệt
hại
1
Duy trì, nâng cao hiệu quả vận hành
hệ thống thông tin cảnh báo thiên tai
HueS, GIS Hue phục vụ cộng đồng
Sở Khoa học và
Công nghệ/IOC
Các sở,
ngành và
địa phương
Thường
xuyên
2
Rà soát, cập nhật đầy đủ dữ liệu về
ngập lụt, bản đồ điểm đậu, đỗ xe
phòng tránh lũ vào hệ thống HueS,
GIS Huế
Sở Khoa học và
Công nghệ
Các sở,
ngành và
địa phương
Thường
xuyên
3
Ứng dụng máy bay không người lái
(UAV) phục vụ phòng chống thiên tai
Bộ Chỉ huy Quân
sự thành phố/Công
an thành phố
Các sở,
ngành và
địa phương
2026-2030
4
Đẩy mạnh ứng dụng các phần mềm
chuyên ngành như Vrain, Hue.vfass,
Hue.vwind, mô hình giám sát đa tầng,
trí tuệ nhân tạo (AI) trong phân tích,
dự báo, cảnh báo các hiện tượng thiên
tai như bão, mưa lớn, ngập lụt, dông,
lốc và trong vận hành hồ chứa nước
Sở Nông nghiệp
và Môi trường/Sở
Khoa học và Công
nghệ
Các sở,
ngành và
địa phương
2026-2030
5
Xây dựng, vận hành và cập nhật hệ
thống cơ sở dữ liệu phục vụ xây dựng
Kế hoạch phòng, chống thiên tai đồng
bộ, thống nhất, làm nền tảng quản lý
thiên tai trên môi trường số, phục vụ
hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo và
điều hành phòng, chống thiên tai.
Sở NNMT/Sở
KHCN/40 xã
phường/IOC
Các sở,
ngành, đơn
vị
Năm
2026/hàng
năm cập
nhật
6
Vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu hỗ
trợ ra quyết định chỉ đạo, chỉ huy
phòng, chống thiên tai theo thời gian
thực
Sở NNMT/Sở
KHCN
Các sở,
ngành và
địa phương
Thường
xuyên
7
Cập nhật dữ liệu, lắp đặt và kết nối hệ
thống camera giám sát với hệ thống
HueS để phục vụ kịp thời công tác
Các Sở:
CT/NNMT/KHCN
Các chủ
đập
Thường
xuyên
157
TT
Nội dung, nhiệm vụ
Cơ quan chủ trì
thực hiện
Cơ quan
phối hợp
Thời gian
phòng, tránh thiên tai cho cộng đồng
8
Phát triển hạ tầng viễn thông kiên cố,
bền vững trước thiên tai
Các Sở:
KHCN/XD
Các đơn vị
viễn thông
Thường
xuyên
9
Đầu tư cơ sở vật chất, vận hành Văn
phòng Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự
thành phố Huế
Văn phòng Ban
Chỉ huy PTDS
thành phố Huế
Các sở,
ngành, địa
phương
2026- 2030
10
Xây dựng hệ thống kiểm soát, mô
phỏng tính toán lan truyền, bản đồ
ngập lụt và cảnh báo thông minh theo
thời gian thực phục vụ điều hành ứng
phó thiên tai
Sở Khoa học và
Công nghệ/IOC
Các sở,
ngành và
địa phương
Năm 2026
IV
Huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực cho công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc
phục hậu quả thiên tai
1
Đầu tư xây dựng hồ chứa nước Ô
Lâu; nâng cấp hệ thống đập Cửa Lác
và 08 hồ chứa nước xung yếu; xây
dựng khoảng 10,7 km kè biển, 20 km
kè sông, 31 km đê biển, 20 km đê bao
nội đồng tại các khu vực xung yếu, đã
xảy ra sự cố hoặc tiềm ẩn nguy cơ
mất an toàn; xây dựng các tuyến công
trình bảo vệ khu dân cư và vùng sản
xuất; đầu tư hệ thống cấp nước vùng
cát ven biển, hệ thống thoát lũ sông
Phú Bài, hệ thống thoát lũ khu vực
phía Tây Nam thành phố ra đầm phá;
xây dựng các khu neo đậu tránh trú
bão cho tàu thuyền đa mục tiêu.
Sở Nông nghiệp
và Môi trường/Sở
Tài chính
Các Ban
quản lý dự
án
2026-2030
2
Đề xuất phương án nâng cao trình
tích nước hồ Tả Trạch lên khoảng hơn
01 m
Sở Nông nghiệp
và Môi trường
Ban Quản
lý Đầu tư
và XDTL5
(Hồ tả
Trạch)
2026-2030
3
Triển khai hiệu quả Chương trình sắp
xếp, ổn định dân cư tại các khu vực
thường xuyên chịu tác động của thiên
tai; trong đó ưu tiên các dự án di dời
khẩn cấp các hộ dân sinh sống tại khu
vực có nguy cơ sạt lở cao
Sở Nông nghiệp
và Môi trường
Các sở,
ngành và
địa phương
2026-2030
TT
Nội dung, nhiệm vụ
Cơ quan chủ trì
thực hiện
Cơ quan
phối hợp
Thời gian
4
Đầu tư Đê chắn sóng phía Bắc cảng
Chân Mây (giai đoạn 3); thay thế các
ngầm tràn trên các tuyến tỉnh lộ và
đường dân sinh trên địa bàn thành
phố
Sở Xây dựng/Sở
Tài chính
Các Ban
quản lý dự
án
2026-2030
5
Đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, trang
thiết bị cho các cơ quan tham mưu,
phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành
ứng phó thiên tai
Ban Chỉ huy
Phòng thủ dân
sự/Sở Nông
nghiệp và Môi
trường/UBND các
xã
Các sở,
ngành và
địa phương
2026-2030
6
Đầu tư trang thiết bị, phương tiện và
vật tư thiết yếu phục vụ công tác tìm
kiếm cứu nạn
Ban Chỉ huy
Phòng thủ dân sự
Các sở,
ngành và
địa phương
2026-2030
7
Đầu tư trang thiết bị, phương tiện
chuyên dùng, hiện đại và vật tư thiết
yếu phù hợp với yêu cầu công tác cứu
nạn, cứu hộ cho các lực lượng Công
an địa phương
Công an thành phố
Các sở,
ngành và
địa phương
2026-2030
8
Triển khai các dự án khẩn cấp về
phòng, chống và khắc phục hậu quả
thiên tai.
Các chủ đầu tư
Sở Tài
chính; các
sở, ngành
và địa
phương
2026-2030
9
Đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, trang
thiết bị cho các cơ sở giáo dục đáp
ứng yêu cầu phòng chống thiên tai
Sở Giáo dục và
Đào tạo
Các sở,
ngành và
địa phương
2026-2030
10
Đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, trang
thiết bị cho các cơ sở y tế đáp ứng
yêu cầu phòng chống thiên tai
Sở Y tế
Các sở,
ngành và
địa phương
2026-2030
11
Đầu tư, nâng cấp hệ thống điện lực
đáp ứng yêu cầu phòng chống thiên
tai
Sở Công
thương/Điện lực
thành phố
Các sở,
ngành và
địa phương
2026-2030
12
Tăng cường năng lực các khu kinh tế,
công nghiệp đáp ứng yêu cầu phòng
chống thiên tai
Ban Quản lý các
khu kinh tế công
nghiệp
Các sở,
ngành
2026-2030
13
Tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền
Sở Tài chính
Các sở,
Năm 2026
159
TT
Nội dung, nhiệm vụ
Cơ quan chủ trì
thực hiện
Cơ quan
phối hợp
Thời gian
cân đối, bố trí vốn đầu tư công trung
hạn và hằng năm; kinh phí chi sự
nghiệp từ ngân sách thành phố hằng
năm để thực hiện nhiệm vụ về phòng,
chống thiên tai theo quy định của
Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách
nhà nước và các văn bản quy phạm
pháp luật có liên quan.
ngành, địa
phương
và các năm
tiếp theo
V
Tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức, kỹ năng về công tác phòng ngừa, ứng
phó, khắc phục hậu quả thiên tai
1
Tăng cường đầu tư, hoàn thiện hệ
thống truyền tin, cảnh báo thiên tai tại
cơ sở
UBND các xã,
phường
Các sở,
ngành và
đơn vị
2026-2030
2
Tổ chức công tác định hướng thông
tin, tuyên truyền về phòng, chống
thiên tai thông qua hệ thống báo chí
địa phương, hệ thống thông tin cơ sở
và các hoạt động tuyên truyền cộng
đồng trên địa bàn thành phố
Sở Văn hóa và
Thể thao
Báo và
Phát thanh
truyền hình
Huế/ Các
sở, ngành
và đơn
vị/địa
phương
2026-2030
3
Tham mưu xây dựng, ban hành các kế
hoạch, hướng dẫn về lồng ghép nội
dung phòng, chống và giảm nhẹ rủi ro
thiên tai trong hoạt động giáo dục;
hướng dẫn các cơ sở giáo dục xây
dựng phương án phòng, chống thiên
tai phù hợp với điều kiện thực tế
Sở Giáo dục và
Đào tạo
Các sở,
ngành và
đơn vị/địa
phương
2026-2030
4
“Triển khai mô hình “Trường học an
toàn trước thiên tai”; tổ chức tích hợp
nội dung giáo dục phòng, chống và
giảm nhẹ rủi ro thiên tai trong chương
trình giảng dạy; tổ chức tập huấn, bồi
dưỡng kỹ năng và diễn tập ứng phó
thiên tai cho cán bộ quản lý, giáo viên
và học sinh”
Sở Giáo dục và
Đào tạo
Các sở,
ngành và
đơn vị/địa
phương
2026-2030
5
Tập huấn kỹ năng sơ cấp cứu và xử lý
tình huống khẩn cấp trong thiên tai
Sở Y tế/Hội chữ
thập đỏ thành phố
Các sở,
ngành và
đơn vị/địa
phương
2026-2030
TT
Nội dung, nhiệm vụ
Cơ quan chủ trì
thực hiện
Cơ quan
phối hợp
Thời gian
6
Tham mưu ban hành và tổ chức thực
hiện Đề án “Nâng cao nhận thức cộng
đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa
vào cộng đồng giai đoạn 2026-2030”
trên địa bàn thành phố
Sở Nông nghiệp
và Môi trường
Các sở,
ngành và
đơn vị/địa
phương
2026-2030
7
Tăng cường áp dụng các phương thức
truyền thông truyền thống và tri thức
bản địa trong phòng chống thiên tai
UBND các xã,
phường
Các sở,
ngành và
đơn vị
2026-2030
8
Tập huấn, tuyên truyền, hướng dẫn,
phổ biến pháp luật, cơ chế chính sách,
kỹ năng về phòng, chống thiên tai và
liên quan đến phòng, chống thiên tai.
Các sở, cơ quan,
UBND các xã,
phường
Thường
xuyên,
hằng năm
9
Nâng cao kiến thức, năng lực, kỹ
năng tuyên truyền, vận động, hướng
dẫn, tổ chức việc phòng ngừa, ứng
phó, khắc phục hậu quả thiên tai cho
cán bộ, đảng viên, nhất là ở các thôn,
bản, vùng sâu, vùng xa; kỹ năng nhận
biết các tình huống khẩn cấp và các
biện pháp phòng ngừa, ứng phó, khắc
phục hậu quả thiên tai cho người dân.
Sở Nông nghiệp
và Môi trường,
UBND các xã,
phường
Các Sở,
cơ quan,
đơn vị
Thường
xuyên,
hằng năm
VI
Đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập và tăng cường hợp tác quốc tế
1
Xây dựng Quy chế phối hợp, chia sẻ
thông tin vận hành các hồ chứa nước
A Lưới và A Lin 3 với tỉnh Sê Kông,
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào,
góp phần bảo đảm an toàn vùng hạ du
và tăng cường hợp tác xuyên biên
giới
Sở Công
Thương/Sở Ngoại
vụ/Sở Nông
nghiệp và Môi
trường
Các chủ
đập: A
Lưới và A
Lin 3
2026-2030
2
Triển khai các chương trình, dự án
UNDP, ISET, Quỹ Cộng đồng Phòng
tránh thiên tai tài trợ
Sở Nông nghiệp
và Môi trường
Các sở,
ngành, địa
phương
2026-2030
3
Triển khai các chương trình, dự án do
Luxembourg, ADB Tài trợ
Sở Tài chính
Các sở,
ngành, địa
phương
2026-2030
4
Hỗ trợ, phối hợp xây dựng chương
trình hợp tác, kêu gọi và mở rộngsự
hỗ trợ, tài trợ và hợp tác kỹ thuật của
các tổ chức quốc tế, đối tác phát triển
trong công tác phòng ngừa, ứng phó
và khắc phục hậu quả thiên tai trênđịa
Sở Ngoại vụ
Các sở,
ngành, địa
phương
2026-2030
161
TT
Nội dung, nhiệm vụ
Cơ quan chủ trì
thực hiện
Cơ quan
phối hợp
Thời gian
bàn thành phố
5
Đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập và tăng
cường hợp tác quốc tế, chia sẻ thông
tin, kinh nghiệm trong các phân tích,
dự báo xu hướng biến đổi khí hậu,
thời tiết, dự báo thiên tai và phòng
ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả
thiên tai.
Sở Nông nghiệp
và Môi trường
Sở Ngoại vụ
Các sở,
ngành, địa
phương
Hằng năm
Phụ lục IV. Danh mục dự án trọng điểm, cấp bách mang tính chiến
lược, lâu dài nhằm thích ứng với tình hình thiên tai
(Tờ Trình số 8658/TTr-UBND ngày 16/6/2026 của UBND thành phố)
Phân kỳ đầu tư các dự án trên theo 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (2026-2030) khoảng 5.000 tỷ đồng.
- Giai đoạn 2 (2030-2035) khoảng 3.646 tỷ đồng.
Đơn vị tính: tỷ đồng.
TT
Tiểu dự án thành phần
Quy mô
đầu tư
Tổng mức
đầu tư dự
kiến (tỷ đồng)
Tổng cộng
8.646
I
Xây dựng hệ thống các kênh thoát lũ lớn từ phía
Tây ra vùng đầm phá; nạo vét, mở rộng, gia cố các
sông, hói tăng khả năng tiêu thoát lũ
2.775
1
Đối với khu vực vùng hạ lưu sông Hương:
2.542
1.1
Sông Như Ý nhánh 1 (N1),
2.200m
245
1.2
Sông Như Ý nhánh 2 (N2)
2.000m
432
1.3
Sông Như Ý nhánh 3 (N3)
2.900m
364
1.4
Hói Sen
2.000m
116
1.5
Tuyến thoát nước chính ra đầm phá
4.130m
952
1.6
Tuyến Cầu Long, An Lưu 1 và An Lưu 2
1.310m
82
1.7
Tuyến kênh thoát từ hói Phú Khê ra Đầm Sam
6.300m
277
TT
Tiểu dự án thành phần
Quy mô
đầu tư
Tổng mức
đầu tư dự
kiến (tỷ đồng)
1.8
Thuỷ đạo sau cống Diên Trường
1.400m
74
2
Đối với khu vực vùng hạ lưu sông Bồ
233
2.1
Tuyến hói Bạch Đằng
2.760m
180
2.2
Tuyến hói Cồn Bài
1.880m
53
II
Đầu tư các khu tái định cư để di dời các hộ nằm dọc
tuyến đường cao tốc La Sơn - Túy Loan
250
III
Nâng cấp các tuyến đê phá, đê biển
27.600m
511
1
Tuyến đê Tây Ô Lâu phường Phong Dinh
2.100m
27
2
Tuyến đê Đông Ô Lâu phường Phong Phú
3.000m
38
3
Tuyến đê Tây phá Tam Giang đoạn qua xã Đan Điền
2.600m
51
4
Tuyến đê Đông phá Tam Giang đoạn qua phường
Phong Quảng
4.900m
97
5
Tuyến đê Tây phá Đông đoạn qua phường Mỹ Thượng
dài 2.100m; đoạn xã Phú Hồ dài 4.600m; đoạn qua xã
Phú Vinh dài 4.000m
10.700m
212
6
Tuyến đê Tây phá Cầu Hai đoạn qua xã Lộc An
4.300m
86
IV
Kè chống sạt lở bờ biển
8715m
2.143
1
Xây dựng hạng mục đê ngầm chiều Chiều dài 365m và
kè mỏ hàn thuộc dự án Xử lý sạt lở bờ biển đoạn qua
phường Thuận An, thành phố Huế
365m
135
2
Hạng mục Xử lý sạt lở bờ biển đoạn qua thôn Tân An
Hải, xã Phú Lộc
400m
5
3
Hạng mục Kè bảo vệ bờ biển khu vực thôn Thuận Hải,
phường Thuận An (xã Phú Hải cũ)
1.900m
308
4
Hạng mục Kè bảo vệ bờ biển khu vực thôn Phương
Diên, xã Phú Vinh (xã Phú Diên cũ)
2.200m
357
5
Hạng mục Kè bảo vệ bờ biển khu vực xã Vinh Lộc (nối
tiếp với kè Giang Hải 400m về phía Bắc, thuộc xã Vinh
1.600m
205
163
TT
Tiểu dự án thành phần
Quy mô
đầu tư
Tổng mức
đầu tư dự
kiến (tỷ đồng)
Mỹ cũ)
6
Hạng mục Kè bảo vệ bờ biển khu vực xã Vinh Lộc,
đoạn qua khu vực thôn Mỹ Cảnh và thôn Đông Dương
xã Vinh Lộc (nối tiếp với tuyến kè Giang Hải đã xây
dựng về phía Nam)
900m
123
7
Hạng mục: Kè bảo vệ bờ biển đoạn qua xã Vinh Lộc
(gồm: Đoạn từ cuối đoạn kè mềm đã thi công đến Núi
Hàm Rồng
1.350m
110
8
Hạng mục Tiếp tục đầu tư đê chắn sóng phía Bắc cảng
chân Mây (giai đoạn 3)
900
V
Kè chống sạt lở hai bên bờ sông Hương kết hợp chỉnh
trang
467
1
Kè chống sạt lở hai bên bờ sông Hương, kết hợp chỉnh
trang đoạn từ Đập Đá đến cầu Chợ Dinh
7,600m
467
VI
Chuyển lượng nước từ hồ Tả Trạch về sông Nông
trong mùa lũ nhằm cắt đỉnh lũ và giảm tổng lượng
nước đổ về hạ du sông Hương
2.500
Phụ lục V. Kịch bản, phương án huy động lực lượng, vật tư, phương tiện, phương án sơ tán dân
26
Phụ lục V.1: Các tuyến đường có khả năng bị chia cắt
TT
Trục đường
Đoạn đường
Địa danh
Độ sâu (m)
Dài (km)
I
Đường Quốc lộ
Đoạn qua xã Phú Lộc
Xã Phú Lộc
0,15 - 0,7
0,2 - 0,5
Từ phường Thanh Thủy đi Hương Thủy; Phường
Phú Bài đi xã Hương Thủy
PhườngThanh Thủy,
Hương Thủy, Phú Bài
0,2 - 0,5
0,5 - 0,8
01
Quốc lộ 1A
Đoạn qua phường Hương Trà
Phường Hương Trà
0,3 - 0,5
0,5 - 01
Từ Mỹ Thượng đi Thuận An
P.Thuận An,Mỹ Thượng
0,5 - 06
1,5 - 2,5
02
Quốc lộ 49
Đoạn từ xã A Lưới 3 đi A Lưới 5
Xã A Lưới, A Lưới 5
0,5 - 0,6
0,2 - 0,1
03
Đường Hồ Chí Minh
Đoạn từ Hồng Vân về Hồng Thủy
A Lưới 1
0,5 - 0,6
0,2 - 0,1
Tỉnh lộ
03
Tỉnh lộ 6
Đoạn qua phường Phong Dinh
1,2 - 1,5
0,3 - 0,5
04
Tinh lộ 7
Đoạn qua phường Phong Hải
Phường Phong Dinh, Phong
Hải
1,1 -1,4
0,25 - 0,4
05
Tỉnh Lộ 12B
Đoạn qua phường Kim Trà
0,5 - 0,9
0,5 - 1,5
06
Tỉnh Lộ 16
Đoạn qua xã Bình Điền
0,3 - 0,6
02 - 04
07
Tỉnh Lộ 8B
Đoạn qua phường Kim Trà
0,2 - 0,8
02 - 03
08
Tỉnh Lộ 19
Đoạn qua phường Kim Trà
0,4 - 0,6
1,5 - 03
09
Tỉnh lộ 12
Đoạn qua thôn Hòa Hợp
Phường Kim Trà, xã Bình
Điền
0,3 - 0,7
01 - 02
10
Tỉnh Lộ 10 A
Đoạn qua xã Phú Vinh
0,5 - 0,6
05 - 10
11
Tỉnh Lộ 10C
Đoạn qua xã Phú Vang
Xã Phú Mỹ, Phú Vang
0,3 - 0,6
03 - 05
12
Nguyễn Minh Vỹ
Dọc Hói Mộc Hàn, Phường Vỹ Dạ
0,4 - 0,8
03 - 05
13
Kim Dương Vương
Từ cầu Diên Trường đến chợ Phú Tân
0,3 - 0,8
02 - 03
14
Ngô Đức Kế
Phường Phú Xuân
Phường Vỹ Dạ,
Phú Xuân
0,5 - 0,7
03 - 04
15
Tỉnh Lộ 14E
Đoạn qua thôn Hưng An tiếp giáp xã Lộc An
Xã Lộc An
0,2 - 01
0,2 - 02
16
Tỉnh Lộ 4B
Đoạn qua các xã Đan Điền
Xã Đan Điền
0,5 - 0,9
02 - 03
26
Phương án số 12/PA-BCH-SNNMT ngày 15/4/2026 về Phương án ứng phó thiên tai thành phố Huế năm 2026
165
Phụ lục V.2: Hồ, đập trọng điểm
TT
Tên hồ chứa
Địa điểm
Lưu vực
(km2)
Dung tích
(10
6
m
3
)
Chiều cao lớn
nhất của đập
(m)
Tình trạng công
trình
01
Đập Thủy điện Hương Điền
Phường Hương Trà
707
820,66
82,5
Bình thường
02
Đập Thủy điện Bình Điền
Xã Bình Điền
515
423,68
64
Bình thường
03
Hồ Tả Trạch
Phường Phú Bài
717
646
60
Bình Thường
04
Đập Thủy điện A Lưới
Xã A Lưới 2
331,0
60,2
49,5
Bình thường
05
Đập Thủy điện A Roàng
Xã A Lưới 4
46,0
104
45,5
Bình thường
06
Đập Thủy điện A Lin Thượng
Xã A Lưới 1
151
4,09
9,5
Bình thường
07
Đập Thủy điện A Lin 3
Xã A Lưới 1
146,6
24,98
48
Bình thường
08
Đập Thủy điện Sông Bồ
Xã A Lưới 5
148
10,49
25,7
Bình Thường
09
Đập Thủy điện Thượng Lộ
Xã Khe Tre
151
4,09
38,5
Bình thường
10
Đập Thủy điện Thượng Nhật
Xã Nam Đông
119,2
16,08
46,3
Bình thường
11
Đập hồ Truồi
Xã Lộc An
75,3
55,026
47,9
Bình thường
12
Đập Hồ Thủy Yên
Xã Chân Mây-Lăng Cô
21,3
10,2
39,15
Bình thường
13
Đập Thủy điện Rào Trăng 3
Phường Phong Điền
56,6
2,72
30,5
Bình Thường
14
Đập Thủy điện Rào Trăng 4
Phường Phong Điền
115,5
18,8
37,5
Bình Thường
Phụ lục V.3: Số hộ dân ở vùng hạ lưu các đập hồ chứa nước thủy lợi, thủy điện trọng điểm
TT
Tên hồ chứa
Địa điểm
Dung tích
trữ toàn bộ
(10
6
m3)
Số hộ ở hạ du sau đập
cần sơ tán khẩn cấp
Đơn vị quản lý, vận hành
1
Tả Trạch
Phú Bài
820,66
Theo phương án Ứng phó
tình huống khẩn cấp hồ
Công ty TNHHMTVKTTL Tả
Trach (Bộ NN&MT)
2
Bình Điền
Xã Bình Điền
423,68
Đang rà soát cập nhật
Công ty CPTĐ Bình Điền
3
Hương Điền
Phường Hương Trà
646
Đang rà soát cập nhật
Công ty CPTĐ Hương Điền
4
Truồi
Lộc An
55,206
450 hộ
Công ty TNHH MTV Khai thác
thủy lợi thành phố Huế
5
Khe Ngang
Kim Long
15,07
50 hộ
Công ty TNHH MTV Khai thác
thủy lợi thành phố Huế
6
Hoà Mỹ
Phong Điền
9,67
245 hộ
Công ty TNHH MTV Khai thác
thủy lợi thành phố Huế
7
Mỹ Xuyên
Phong Dinh
4,44
150 hộ
Công ty TNHH MTV Khai thác
thủy lợi thành phố Huế
167
TT
Tên hồ chứa
Địa điểm
Dung tích
trữ toàn bộ
(10
6
m3)
Số hộ ở hạ du sau đập
cần sơ tán khẩn cấp
Đơn vị quản lý, vận hành
8
Thủy Yên
Chân Mây-Lăng Cô
8,751
2.404 hộ
Công ty TNHH MTV Khai thác
thủy lợi thành phố Huế
9
Phú Bài 2
Phú Bài
6
125 hộ
Công ty TNHH MTV Khai thác
thủy lợi thành phố Huế
10
Thọ Sơn
Hương Trà
5,472
142 hộ
Công ty TNHH MTV Khai thác
thủy lợi thành phố Huế
11
Châu Sơn
Thanh Thuỷ
2,65
450 hộ
Công ty TNHH MTV Khai thác
thủy lợi thành phố Huế
12
Trằm Nãi
Phong Dinh
2,28
45 hộ
UBND xã Phong Dinh
13
Thiềm Lúa
Phong Dinh
1,72
0 hộ
Công ty TNHH MTV Khai thác
thủy lợi thành phố Huế
14
Trầm Giàng
Phong Dinh
1,43
41 hộ
UBND xã Phong Dinh
15
Thôn Niêm
Phong Dinh (
1,412
0 hộ
Công ty TNHH MTV Khai thác
thủy lợi thành phố Huế
16
Thiềm Cát
Phong Dinh
1,021
0 hộ
Công ty TNHH MTV Khai thác
thủy lợi thành phố Huế
TT
Tên hồ chứa
Địa điểm
Dung tích
trữ toàn bộ
(10
6
m3)
Số hộ ở hạ du sau đập
cần sơ tán khẩn cấp
Đơn vị quản lý, vận hành
17
Khe Rưng
Kim Long
1,38
50 hộ
UBND phường Kim Long
18
Khe Nước
Kim Long
1,173
40 hộ
UBND phường Kim Long
19
A Lá
A Lưới 2
0,38
59 hộ
Công ty TNHH MTV Khai thác
thủy lợi thành phố Huế
20
Nam Giảng
Đan Điền
0,624
180 hộ
Công ty TNHH MTV Khai thác
thủy lợi thành phố Huế
169
Phụ lục V.4: Đê kè trọng điểm có nguy cơ sự cố
TT
Tuyến đê
Xã, phường
Tình trạng
01
Tả Sông
Hương
Phú Vang, Phú Vinh
Đoạn đê đất, mái đê chưa được gia cố, Hđ =7 m, khi có lũ lớn
thường xảy ra nứt sạt lở mái đê, rò rỉ thấm lậu.
02
Hữu Sông
Hương
Hương Trà, Kim Trà, Bình Điền
Đoạn đê đất, mái đê chưa được gia cố, Hđ =10 m, khi có lũ lớn
thường xảy ra nứt sạt lở mái đê, rò rỉ thấm lậu.
03
Tả sông Bồ
Phong Điền
Đoạn đê đất, mái đê chưa được gia cố, Hđ =7 m, khi có lũ lớn
thường xảy ra nứt sạt lở mái đê, rò rỉ thấm lậu.
04
Hữu sông Bồ
Hương Trà
Đoạn đê đất, mái đê chưa được gia cố, Hđ =12m, khi có lũ lớn
thường xảy ra nứt sạt lở mái đê, rò rỉ thấm lậu.
05
Sông Ô Lâu
Phong Dinh
Đoạn đê sông nhiều công trình dân sinh xây dựng phạm vi thu hẹp
dòng chảy, địa chất nề sông yếu khi có lũ lớn thường rạn nứt bờ đê.
06
Đầm Phá
Đan Điền, Quảng Điền, Phong Phú, Phong Quảng,
Thuấn An, Phú Vinh, Phú Lộc, Vinh Hiền, Vĩnh Lộc,
Lộc An, Phú Vang, Phú Hồ, Mỹ Thượng, Dương Nỗ,
Hóa Châu
Thuộc hệ thống đê biển, bị sạt, xói lở mùa mưa bão.
Thuộc hệ thống đê biển, bị sạt, xói lở mùa mưa bão 500m, xâm thực
5-10m chiều sâu.
07
Tuyến đê kè
bờ biển
Phú Lộc
Thuộc hệ thống đê biển, bị sạt, xói lở mùa mưa bão 900m, xâm thực
5-10m chiều sâu. Sóng tràn qua khu vực canh tác của nhân dân.
Phụ lục V.5: Các vị trí trọng điểm sạt lở đất đá, lũ quét
a) Sạt lở đất đá
TT
Vị trí
Địa danh
Nguyên nhân
Số dân bị ảnh hưởng
(người/hộ)
Ghi chú
01
Quốc Lộ 49
Đoạn đèo Tà Lương, đường liên thôn
xã A Lưới 4.
Do mưa lũ
128/38
02
Quốc Lộ 49
Đoạn đèo qua xã A Lưới 5
Do mưa lũ
98/25
03
Quốc Lộ 1A
Bắc đèo Hải Vân.
Do mưa Lũ
125/36
04
Quốc Lộ 49
Xã Hưng Lộc.
Do mưa lũ
135/40
05
Quốc lộ 49B
Xã Phú Lộc.
Do mưa lũ
107/30
06
Tỉnh lộ 14B
Đoạn đèo La Hy, đường liên xã.
Do mưa lũ
136/30
07
Thủy điện Rào Trăng 3
Xã Bình Điền.
Do Mưu lũ
66/25
08
Đường 71
Xã Bình Điền.
Do mưa lũ
45/20
09
Ngầm Khe Rệ, Dốc đá Mài
Xã Phú Bài
Do mưa lũ
90/30
b) Lũ quét
T
T
Địa danh
Phạm vi ảnh hưởng (km2)
Số dân bị ảnh hưởng
(người/hộ)
01
04 phường (Thuận Hóa, Thủy Xuân, Kim Long, Thuận
Hóa).
700
3.283/820
02
Xã Bình Điền.
97
261/59
171
03
Xã Phú Bài.
154
1.166/841
04
Xã Long Quảng, Nam Đông, Khe Tre.
908
3.808/813
05
Xã A Lưới 1, A Lưới 4, A Lưới 5.
693
2.852/575
a) Ảnh hưởng động đất, sóng thần
Phạm vi ảnh hưởng
TT
Địa danh
Diện tích (km2)
Số người
I
Động đất
01
A Lưới 1, A Lưới 2, A Lưới 3, A Lưới 4, A Lưới 5.
1.148,5
56.387
02
Bình Điền
266,5
15.229
03
Phong Thái, Phong Dinh, Phong Phú
727,51
112.337
04
Phú Bài
344,63
38.410
II
Sóng Thần
04
Phong Phú, Phong Quảng
128,55
82.187
05
Phú Vinh
57,95
47.674
06
Vinh Lộc, Chân Mây-Lăng Cô
327,91
87.181
07
Thuận An
36,48
54.846
Phụ lục V.6: Lực lượng, phương tiện ứng phó một số trọng điểm chính
TT
Trọng điểm
Lực lượng, phương tiện
Chỉ huy
1
Ứng phó sự cố, thiên tai và
tìm kiếm cứu nạn trên địa
bàn xã Nam Đông
Tổng:
- Lực lượng: 910 đ/c (Bộ đội: 400 đ/c; DQTV: 560 đ/c).
- Phương tiện: 17 chiếc (ô tô: 14 chiếc; xuồng: 03 chiếc).
Trong đó:
1. Lực lượng, phương tiện tại chỗ: 560 đ/c.
- Dân quân cơ động: 560 đ/c.
- Phương tiện: 02 ô tô và các phương tiện cá nhân.
2. Lực lượng cơ động: 150 đ/c
- Trung đoàn 6: 100 đ/c.
- dTTG3: 50 đ/c.
- Phương tiện: 06 ô tô các loại, 03 xuồng (ST450, ST660,
ST750).
3. Lực lượng, phương tiện tăng cường: Sư đoàn 968.
- Lực lượng: 200 đ/c.
- Phương tiện: 06 ô tô các loại.
- Địa phương: Đ/c
Trưởng Ban chỉ huy
PTDS xã Nam Đông.
- Bộ CHQS thành phố:
Phó TMT Tác chiến.
2
Ứng phó sự cố, thiên tai và
tìm kiếm cứu nạn trên địa
bàn xã Chân Mây-Lăng Cô
Tổng:
- Lực lượng: 574 đ/c (Bộ đội: 250 đ/c; DQTV: 224 đ/c).
- Phương tiện: 15 chiếc (ô tô: 12 chiếc; xuồng: 03 chiếc).
Trong đó:
1. Lực lượng, phương tiện tại chỗ: 224 đ/c.
- Địa phương: Đ/c
Trưởng Ban chỉ huy
PTDS xã Chân Mây-Lăng
Cô.
- Bộ CHQS thành phố:
Phó CHT.
173
- Dân quân cơ động: 224 đ/c.
- Phương tiện: 02 ô tô và các phương tiện cá nhân.
2. Lực lượng cơ động: 150 đ/c, trong đó:
- Trung đoàn 6: 50 đ/c.
- dTTG3: 80 đ/c.
- Ban Chỉ huy BĐBP: 20 đ/c.
- Phương tiện: 04 ô tô các loại, 03 xuồng (ST450, ST660,
ST750).
3. Lực lượng, phương tiện tăng cường: Sư đoàn 968.
- Lực lượng: 200 đ/c.
- Phương tiện: 06 ô tô các loại.
3
Ứng phó sự cố, thiên tai và
tìm kiếm cứu nạn trên địa
bàn xã Phú Vinh
Tổng:
- Lực lượng: 574 đ/c (Bộ đội: 350 đ/c; DQTV: 224 đ/c).
- Phương tiện: 15 chiếc (ô tô: 12 chiếc; xuồng: 03 chiếc).
Trong đó:
1. Lực lượng, phương tiện tại chỗ:214 đ/c.
- Dân quân cơ động: 224 đ/c.
- Phương tiện: 02 ô tô và các phương tiện cá nhân.
2. Lực lượng cơ động: 150 đ/c, trong đó:
- dTTG3: 50 đ/c.
- Ban Chỉ huy BĐBP: 30 đ/c.
- Phương tiện: 04 ô tô các loại, 03 xuồng (ST450, ST660,
ST750).
- Địa phương: Đ/c
Trưởng Ban chỉ huy
PTDS xã Phú Vinh.
- Bộ CHQS thành phố:
Phó CHT (phụ trách Biên
phòng).
3. Lực lượng, phương tiện tăng cường: Sư đoàn 968.
- Lực lượng: 200 đ/c.
- Phương tiện: 06 ô tô các loại.
4
Ứng phó sự cố, thiên tai và
tìm kiếm cứu nạn trên địa
bàn phường Thuận An
Tổng:
- Lực lượng: 478 đ/c (Bộ đội: 310 đ/c; DQTV: 168 đ/c).
- Phương tiện: 19 chiếc (ô tô: 14 chiếc; xuồng: 05 chiếc).
Trong đó:
1. Lực lượng, phương tiện tại chỗ: 168 đ/c.
- Dân quân cơ động: 168 đ/c.
- Phương tiện: 02 ô tô và các phương tiện cá nhân.
2. Lực lượng cơ động: 110 đ/c, trong đó:
- Trung đoàn 28: 30 đ/c.
- dTTG3: 50 đ/c.
- Ban Chỉ huy BĐBP: 30 đ/c.
- Phương tiện: 06 ô tô các loại, 05 xuồng (ST450, ST660,
ST750).
3. Lực lượng, phương tiện tăng cường: Sư đoàn 968.
- Lực lượng: 200 đ/c.
- Phương tiện: 06 ô tô các loại.
- Địa phương:
Đ/c Trưởng Ban CH
PTDS phường Thuận An.
- Bộ CHQS thành phố:
Phó CHT-TMT.
5
Ứng phó sự cố, thiên tai và
tìm kiếm cứu nạn trên địa
bàn xã Phong Quảng
Tổng:
- Lực lượng: 528 đ/c (Bộ đội: 360 đ/c; DQTV: 168 đ/c).
- Phương tiện: 17 chiếc (ô tô: 14 chiếc; xuồng: 03 chiếc).
Trong đó:
- Địa phương: Đ/c Trưởng
Ban Chỉ huy PTDS xã
Phong Quảng.
- Bộ CHQS thành phố:
Phó Tham mưu trưởng
175
1. Lực lượng, phương tiện tại chỗ: 198 đ/c.
- Trung đoàn 28: 30 đ/c.
- Dân quân cơ động: 168 đ/c.
- Phương tiện: 02 ô tô và các phương tiện cá nhân.
2. Lực lượng cơ động: 130 đ/c, trong đó:
- Trung đoàn 6: 100 đ/c.
- Ban Chỉ huy BĐBP: 30 đ/c.
- Phương tiện: 06 ô tô các loại, 03 xuồng (ST450, ST660,
ST750).
3. Lực lượng, phương tiện tăng cường: Sư đoàn 968.
- Lực lượng: 200 đ/c.
- Phương tiện: 06 ô tô các loại.
(Nội bộ).
6
Ứng phó sự cố, thiên tai và
tìm kiếm cứu nạn trên địa
bàn xã Phong Dinh
Tổng:
- Lực lượng: 508 đ/c (Bộ đội: 340 đ/c; DQTV: 168 đ/c).
- Phương tiện: 18 chiếc (ô tô: 13 chiếc; xuồng: 05 chiếc).
Trong đó:
1. Lực lượng, phương tiện tại chỗ: 208 đ/c.
- Trung đoàn 28: 30 đ/c.
- Dân quân cơ động: 168 đ/c.
- Phương tiện: 02 ô tô và các phương tiện cá nhân.
2. Lực lượng cơ động: 100 đ/c, trong đó:
- Trung đoàn 6: 70 đ/c.
- Ban Chỉ huy BĐBP: 30 đ/c.
- Địa phương: Đ/c
Trưởng Ban Chỉ huy
PTDS xã Phong Dinh.
- Bộ CHQS thành phố:
Phó Tham mưu trưởng
XDLL.
- Phương tiện: 05 ô tô các loại, 05 xuồng (ST450, ST660,
ST750).
3. Lực lượng, phương tiện tăng cường: Sư đoàn 968.
- Lực lượng: 200 đ/c.
- Phương tiện: 06 ô tô các loại.
7
Ứng phó sự cố, thiên tai và
tìm kiếm cứu nạn trên địa
bàn xã A Lưới 2
Tổng:
- Lực lượng: 654 đ/c (Bộ đội: 430 đ/c; DQTV: 224 đ/c).
- Phương tiện: 13 chiếc (ô tô: 13 chiếc).
Trong đó:
1. Lực lượng, phương tiện tại chỗ: 254 đ/c.
- Trung đoàn 29: 30 đ/c.
- Dân quân cơ động: 224 đ/c.
- Phương tiện: 02 ô tô và các phương tiện cá nhân.
2. Lực lượng cơ động: 200 đ/c, trong đó:
- Trung đoàn 6: 120 đ/c.
- Ban Chỉ huy BĐBP: 80 đ/c.
- Phương tiện: 05 ô tô các loại.
3. Lực lượng, phương tiện tăng cường: Sư đoàn 968.
- Lực lượng: 200 đ/c.
- Phương tiện: 06 ô tô các loại.
- Địa phương: Đ/c
Trưởng Ban Chỉ huy
PTDS xã A Lưới 2.
- Bộ CHQS thành phố:
Phó CHT.
177
Phụ lục V.7: Cơ động lực lượng phương tiện
TT
Đơn vị
Vị trí
đóng quân
Lực lượng,
Phương tiện
Trọng điểm
ứng cứu
Đường cơ động
Quãng
đường
(km)
Thời
gian
(giờ)
1
Cơ quan Bộ CHQS
thành phố
Phường
An Cựu
- Lực lượng: 90 đ/c.
- Phương tiện:
+ 05 xe chỉ huy.
+ 03 xe 29 chỗ.
+ 01 xe 16 chỗ.
Địa bàn toàn
thành phố
Quốc Lộ 1A, 49, 49B;
Tỉnh lộ 10A, 10B, 10C ,
14B; đường liên thôn, liên
xã.
30-60
02 - 04
2
Trung đoàn 6
Phường
Phú Bài
- Lực lượng: 150 đ/c.
- Phương tiện:
+ 01 xe chỉ huy.
+ 04 xe 29 chỗ.
+ 01 xe Kamaz.
Địa bàn toàn
thành phố
Quốc Lộ 1A, 49, 49B;
Tỉnh lộ 10A, 10B, 10C ,
14B; đường liên thôn, liên
xã.
15-60
01 - 04
3
Đại đội Thông tin 18
Phường
An Cựu
- Lực lượng: 15 đ/c.
- Phương tiện: 01 xe 16 chỗ.
Địa bàn toàn
thành phố
Quốc Lộ 1A, 49, 49B;
Tỉnh lộ 10A, 10B, 10C ,
14B; đường liên xã.
15-60
01 - 04
4
Đại đội Trinh sát 20
Phường
Thanh Thủy
- Lực lượng: 20 đ/c.
- Phương tiện: 01 xe 29 chỗ.
Địa bàn toàn
thành phố
Quốc lộ 1A; TL 10A.
03-10
0,5 - 02
5
Đại đội Phòng không 594
(Lực lượng dự bị)
Phường
Phú Bài
- Lực lượng: 40 đ/c.
- Phương tiện: 02 xe Kamaz.
Địa bàn toàn
thành phố
Quốc lộ 1A; TL 10A.
02-30
0.5 - 03
6
Đại đội Công binh 17
Phường
An Cựu
- Lực lượng: 50 đ/c.
- Phương tiện: 02 xe Kamaz.
Địa bàn toàn
thành phố
Quốc lộ 1A; TL 10A.
03-10
0,5 - 02
7
dTTG3
Phường
Phú Bài
- Lực lượng: 50 đ/c.
- Phương tiện: 02 xe 29 chổ.
Địa bàn toàn
thành phố
Quốc Lộ 1A, 49, 49B;
Tỉnh lộ 10A, 10B, 10C ,
14B
30-60
02 - 04
Phụ lục V.8: Bãi đỗ trực thăng
TT
Địa danh
Tọa Độ
Diện tích đỗ (m
2
)
Hướng
1
Mang Cá, phường Phú Xuân
16
0
29’ 15’’ - 107
0
34’ 21’’
600
Bắc
2
Đàn Nam Giao, phường Thuận Hóa
16
0
26’ 15’’ - 107
0
34’ 48’’
5.000
Tây Bắc
3
Sân bóng phường Hương Trà
16
0
31’ 21’’ - 107
0
28’ 30’’
1.200
Tây Bắc
4
Sân bay Phú Bài
16
0
24’ 06’’ - 107
0
41’ 57’’
10.000
Tây Nam
Đồng Lâm, xã Phong Điền
16
0
32’ 48’’ - 107
0
23’ 15’’
1.200
Bắc
Khu CN Phong Điền
16
0
34’ 24’’ - 107
0
23’ 31’’
400
Đông Nam
Sân Bóng phường Phong Phú
16
0
40’ 52’’ - 107
0
24’ 55’’
3.000
Tây
5
Đông Mỹ, phường Phong Điền
16
0
31’ 35’’ - 107
0
19’ 07’’
500
Bắc
Sân bóng xã Phú Vang
16
0
26’ 36’’ - 107
0
42’ 37’’
600
Đông
6
Khu Công Nghiệp Phú Đa
16
0
26’ 56’’ - 107
0
42’ 47’’
400
Đông
Sân bóng UBND xã A Lưới 2
16
0
15’ 51’’ - 107
0
14’ 10’’
600
Tây Nam
7
Sân hội trường Sơn Phước, xã A Lưới 2
16
0
16’ 20’’ - 107
0
13’ 31’’
500
Tây
Khu Cồn Mồ, xã Quảng Điền
16
0
35’ 06’’ - 107
0
30’ 39’’
300
Nam
8
Cầu Thanh Hà, xã Đan Điền
16
0
31’ 50’’ - 107
0
33’ 29’’
600
Đông
Sân HTX Giang Hải, xã Vinh Lộc
16
0
21’ 36’’ - 107
0
52’ 01’’
500
Đông Bắc
Sân vận động xã Phú Lộc
16
0
16’ 34’’ - 107
0
51’ 38’’
400
Tây Nam
Sân bóng xã Vinh Lộc
16
0
32’ 44’’ - 107
0
53’ 46’’
3.000
Đông Bắc
Sân bóng xã Nam Đông
16
0
09’ 53’’ - 107
0
42’ 39’’
5.000
Nam
Thôn 3, xã Long Quảng
16
0
07’ 28’’ - 107
0
37’ 13’’
400
Bắc
9
Thôn 5, xã Khe Tre
16
0
11’ 51’’ - 107
0
43’ 18’’
400
Đông
179
Phụ lục V.9: Các khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá
TT
Khu neo đậu
Số lượng tàu/cỡ tàu
Ghi chú
01
Âu thuyền tránh bão Quy Lai, phường Dương Nỗ.
50 chiếc/20-90 CV
Các loại tàu cá
dưới 15m
02
TDP Vĩnh Trị, Thai Dương Hạ, phường Thuận An.
50 chiếc/20-90 CV
03
TDP Hải Tiến, Tân Cảng, phường Thuận An.
50 chiếc/20-90 CV
03
Khu neo đậu tránh trú bảo cho tàu cá Phú Hải, phường Thuận An
500 chiếc
Cảng cá Thuận An kết hợp khu neo đậu tránh trú bão, phường Thuận An
500 chiếc
04
Âu thuyền tránh bão An Dương 1, phường Thuận An.
50 chiếc
Tất cả các loại tàu
cá hiện nay
05
Âu thuyền tránh bão Kế Sung, xã Phú Vinh.
170 chiếc/20-90CV
06
Âu thuyền tránh bão Lương Viện, xã Phú Vang.
120 chiếc/20-90CV
07
Khu vực trung chuyển thuyền tránh bão Phú Gia, xã Phú Vang.
20 chiếc/20-90CV
08
Âu thuyền Lộc Điền, xã Lộc An.
560 chiếc/20-90CV
09
Âu thuyền tránh bão Lộc Trì - trên đầm Cầu Hai, xã Phú Lộc.
150 chiếc
Tất cả các loại tàu
cá hiện nay
10
Âu thuyền tránh bão Bãi Quả, xã Phú Lộc.
30 chiếc/20-90CV
11
Âu thuyền tránh bão Giang Hải, xã Vinh Lộc.
191 chiếc/20-90CV
12
Âu thuyền tránh bão Hiền Hoà 2, xã Vinh Lộc.
210 chiếc/20-90CV
13
Âu thuyền tránh bão Mai Gia Phường, xã Phú Lộc.
50 chiếc/20-90CV
14
Âu thuyền tránh bão Vinh Hưng, xã Vinh Lộc.
260 chiếc/20-90CV
15
Âu thuyền tránh bão Cồn Gai, xã Phong Quảng.
50 chiếc/20-90CV
16
Âu thuyền tránh bão Ngư Mỹ Thạnh, xã Đan Điền.
120 chiếc/20-90CV
17
Âu thuyền tránh bão Hà Công, xã Đan Điền.
80 chiếc/20-90CV
18
Âu thuyền tránh bão Hà Đồ, xã Quảng Điền.
30 chiếc/20-90CV
19
Âu thuyền tránh bão Trung Làng, xã Đan Điền.
150 chiếc/20-90CV
20
Âu thuyền tránh bão thôn Minh Hương, phường Phong Quảng.
90 chiếc/20-90CV
21
Âu thuyền tránh bão thôn 1, phường Phong Quảng.
90 chiếc/20-90CV
22
Âu thuyền tránh bão TDP8, phường Phong Quảng.
100 chiếc/20-90CV
23
Âu thuyền tránh bão Chợ Biện, phường Phong Phú.
40 chiếc/20-90CV
181
Phụ lục V.10: Trang bị, phương tiện phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn
TT
Đơn vị
Trang bị phương, tiện chính
Số lượng (chiếc)
Ghi chú
I
Ô tô các loại
37
01
Ô tô chở quân
09
02
Xe cứu thương
01
II
Xe Thiết giáp
01
Xe BTR152
03
02
Xe ĐM2
01
II
Xuồng
01
ST450
16
02
ST660
09
03
ST750
03
04
ST1200
02
05
Tàu CHCN và chữa cháy
01
06
Xuồng CHCN đa năng
01
III
Xuồng cao su các loại
01
IV
Bộ Vượt sông nhẹ VS1500
5,5
V
Thiết bị cứu sinh
01
Áo phao
1.500
02
Phao tròn
1.000
03
Phao bè
20
III
Bộ Chỉ huy quân sự thành phố Huế
Nhà bạt
01
60m2
02
02
24,75m2
02
03
16,5m2
15
04
Nhà bạt cứu sinh nhẹ
05
Phụ lục V.11. Bảng tổng hợp phương tiện, trang thiết bị phục vụ công tác PCTT & PTDS ngành Công an
TT
Danh mục
Đơn vị tính
Số lượng
Ghi chú
I
Tổ liên gia PCCC, điểm chữa cháy
1
Tổ liên gia an toàn PCCC
Tổ
590
2
Điểm chữa cháy công cộng
Điểm
860
II
Phương tiện bộ
1
Xe cứu nạn, cứu hộ
Chiếc
5
2
Xe chữa cháy
Chiếc
25
3
Xe ô tô chở người dưới 16 chỗ
Chiếc
81
4
Xe ô tô chở người đến 40 chỗ
Chiếc
6
5
Xe ô tô vận tải
Chiếc
144
6
Xe ô tô bán tải
Chiếc
45
7
Xe chở quân các loại
Chiếc
16
8
Xe cứu thương
Chiếc
7
9
Xe thang
Chiếc
3
183
10
Xe máy
Chiếc
878
11
Các loại xe khác
Chiếc
112
III
Phương tiện thủy
1
Xuồng máy các loại
Chiếc
83
2
Canô các loại
Chiếc
58
3
Tàu TTKS các loại
Chiếc
2
4
Xe lội nước
Chiếc
0
5
Bộ thiết bị cứu hộ, cứu nạn đường thủy
Bộ
42
6
Áo phao các loại
Chiếc
3000
7
Phao tròn các loại
Chiếc
1880
8
Phao bè các loại
Chiếc
78
9
Đệm hơi các loại
Chiếc
2
10
Các phương tiện thủy khác
32
IV
Trang thiết bị kỹ thuật khác
1
Máy phát điện các loại
Chiếc
291
2
Loa pin các loại
Chiếc
275
3
Đèn pin các loại
Chiếc
748
4
Nhà bạt các loại
Bộ
20
5
Đèn cứu hộ chiếu xa các loại
Chiếc
10
6
Ống nhòm ngày đêm các loại
Chiếc
38
7
Thiết bị quay, chụp ban đêm
Bộ
28
8
Thiết bị liên lạc, bộ đàm
Chiếc
1148
9
Búa tạ, búa chặt
Chiếc
115
10
Cuốc, xẻng, xà beng các loại
Chiếc
390
11
Kìm cộng lực
Chiếc
22
12
Câu liêm
Chiếc
10
13
Xe rùa
Chiếc
39
14
Các trang thiết bị khác
55
185
STT
Phương tiện, vật tư
Đơn
vị
Hương
Điền
Bình
Điền
A
Lưới
A
LB1
A Lin
Thượng
A L
B2
RT 3
RT 4
Sông
Bồ
A
Roàng
Thượng
Lộ
Thượng
Nhật
Tổng
1
Bao tải, bao cát
Cái
500
500
500
150
20
100
100
20
100
50
100
200
2
Cát
m
3
50
50
150
100
15
500
-
5
10
3
Đá hộc
m
3
200
200
150
100
-
5
10
4
Xà beng
Cái
2
2
2
1
1
1
2
2
2
02
3
02
5
Xẻng
Cái
20
15
10
8
6
5
5
10
5
08
11
02
6
Áo phao
Cái
10
10
10
14
5
10
12
15
15
15
11
10
7
Bộ đàm
Cái
8
8
4
8
3
4
4
5
4
09
4
03
8
Đá 1x2
m
3
120
120
50
5000
-
5
20
9
Đá 4x6
m
3
100
100
50
0
-
5
10
10
Đất
m
3
200
10
-
6
10
11
Rọ đá
Cái
300
100
50
0
-
30
20
12
Vải địa kỹ thuật
m
2
1000
1000
500
0
-
13
Xăng
Lít
200
200
100
70
50
50
100
120
30
20
14
Xe rùa
Chiếc
2
2
5
6
1
2
2
2
1
02
3
02
15
Xe máy
Chiếc
1
3
3
3
2
17
11
07
16
Bạt che mưa
Cái
100
100
10
1
1
5
3
5
01
4
5
17
Búa trung
Cái
2
2
4
3
1
1
4
2
2
2
3
18
Bút thử điện
Cái
2
2
3
4
1
1
3
5
1
01
4
5
19
Cọc gỗ
Cọc
100
100
0
-
20
20
20
Cọc sắt
Cọc
100
100
-
20
20
21
Cọc thép (Mua 2014)
Cọc
100
-
20
22
Cọc tre hoặc cọc gỗ
Cọc
50
0
-
50
20
23
Cuốc
Cái
2
6
3
2
10
3
05
10
05
24
Dầu Diezel
Lít
3000
3000
10
800
300
500
600
500
500
300
50
200
25
Dây kẽm (Mua 2015)
Kg
600
20
-
30
30
26
Dây thép cột
Kg
20
20
-
6
5
27
Dây thép cột (2mm)
Kg
10
10
10
20
02
4
5
28
Dây thép cột (4mm)
Kg
10
5
20
02
4
5
29
Dây thừng
m
50
60
70
50
50
30
25
100
50
30
30
30
Đèn pin sạc
Cái
5
5
15
4
5
5
6
5
06
10
10
31
Đinh các loại
Kg
5
7
5
10
2
5
01
3
2
32
Kìm cắt
Cái
2
2
5
3
3
2
5
2
3
01
5
5
33
Kìm điện
Cái
2
2
2
12
3
2
7
6
1
05
4
5
34
Máy bơm nước 37 KW -
80 m
3
/h
Cái
2
1
3
-
1
1
35
Máy cẩu
Chiếc
1
0
-
36
Máy đào
Chiếc
2
2
1
01
37
Máy phát điện 5KVA
Cái
1
1
01
38
Nhớt
Lít
10
10
10
39
Ô tô tự đổ 12 tấn
Chiếc
3
40
Ô tô tải
Chiếc
1
1
187
STT
Tên hồ
Đá hộc
Rọ
thép
Bao
tải
Vải
lọc
Điện
thoại
cố
định
Máy
vô
tuyến
Ken
wood
Thuyền
máy loại
2 tấn
Vải
lọc
Cuốc,
xẻng
Đò
máy
15
sức
ngựa
Áo
phao
Máy
đào
(loại
gầu
0.4-
0.7m
3
)
Ô tô
loại
3-5
tấn
Bạt
ni
lông
Phên
Khại
Cọc
tre
Xe
rùa
Tre
Đất
Sỏi
Thép
buộc
Xe
cút
kít
Búa
đóng
m
3
cái
cái
m
2
cái
cái
chiếc
cuộn
cái
chiếc
cái
chiếc
chiếc
m
2
m
2
cọc
chiếc
cây
m
3
kg
chiếc
cái
1
Hồ
Truồi
475
300
5195
1600
2
1
1
2
20
1
4
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
-
Ngân
sách
cấp
475
300
3000
1600
1
1
1
2
20
1
4
-
Công
ty cấp
2195
1
2
Hồ
Thủy
Yên
100
50
2000
500
2
1
1
1
5
0
2
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
-
Ngân
sách
cấp
100
50
2000
500
1
1
1
1
5
2
-
Công
ty cấp
1
3
Hồ
Phú
Bài 2
185
121
2000
700
1
1
0
0
3
0
2
0
0
0
0
0
1
0
0
0
0
1
-
Ngân
sách
cấp
-
-
-
-
-
1
3
2
1
1
-
Công
ty cấp
185
121
2000
700
1
4
Hồ
Châu
Sơn
855,54
100
2000
0
1
0
0
0
1
0
1
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
-
Ngân
sách
cấp
855,54
100
2000
-
1
1
-
Công
ty cấp
1
5
Hồ
Năm
Lăng
50
20
500
0
1
0
0
0
1
0
1
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
-
Công
ty cấp
50
20
500
1
1
1
6
Hồ
Khe
Ngang
100
141
4500
700
2
1
0
0
8
1
7
0
0
0
0
0
1
0
0
0
0
0
-
Ngân
sách
cấp
100
141
4300
700
-
Công
ty cấp
200
2
1
8
1
7
1
7
Hồ
Thọ
Sơn
113
100
4100
640
2
1
0
0
10
0
7
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
-
Ngân
sách
cấp
113
100
1700
-
Công
ty cấp
2400
640
2
1
10
7
8
Hồ
Hòa
Mỹ
200
150
2000
700
1
1
0
0
12
0
7
0
0
0
0
0
2
0
0
0
0
0
189
-
Ngân
sách
cấp
200
150
2000
-
1
-
-
-
-
Công
ty cấp
-
-
-
700
1
-
12
7
2
9
Hồ
Mỹ
Xuyên
120
150
1140
700
1
0
0
0
5
0
3
0
0
0
0
0
1
0
0
0
0
0
-
Ngân
sách
cấp
120
150
390
-
Công
ty cấp
750
700
5
3
1
10
Hồ
Nam
Giản
200
90
4250
400
0
0
0
0
7
0
4
0
0
0
0
0
2
0
0
0
0
0
-
Ngân
sách
cấp
200
0
2250
400
-
Công
ty cấp
90
2000
7
4
2
11
Hồ
Thôn
Niêm
0
0
1000
700
0
1
0
0
2
0
4
0
0
0
0
0
1
0
0
0
0
0
-
Ngân
sách
cấp
500
-
Công
ty cấp
500
700
1
2
4
1
12
Hồ
Thiềm
Lúa
0
10
850
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
-
Công
ty cấp
10
850
13
Hồ
Thiềm
Cát
100
100
1000
0
0
0
0
0
1
0
1
0
0
0
0
0
1
0
0
0
0
0
-
Ngân
sách
cấp
100
100
750
-
Công
ty cấp
250
1
1
1
14
Hồ
Ông
Môi
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
15
Hồ Tà
Rinh
50
20
1000
0
1
0
0
0
3
0
5
0
0
0
0
0
2
0
0
0
0
0
-
Ngân
sách
cấp
50
20
1000
1
3
5
2
16
Hồ Ka
Tư
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
17
Hồ
Thôn
1
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
18
Hồ A
Lá
100
20
860
700
1
1
0
1
16
0
15
0
0
0
0
0
3
0
0
0
0
1
-
Ngân
sách
cấp
100
-
Công
ty cấp
20
860
700
1
1
1
16
15
3
1
191
Phụ lục VI. Phương án sơ tán dân ứng phó thiên tai
Phụ lục VI. 1. Phương án ứng phó với bão
Áp thấp nhiệt đới, bão cấp 8, cấp 9
Bão mạnh, bão rất mạnh, siêu bão
Tổng
Số hộ/khẩu
sơ tán tại chỗ
Số hộ/Khẩu di dời
(đến Kv tập trung)
Tổng
Số hộ/khẩu
sơ tán tại chỗ
Số hộ/Khẩu di dời
(đến Kv tập trung)
TT
Phường/Xã
Hộ
Khẩu
Hộ
Khẩu
Hộ
Khẩu
Hộ
Khẩu
Hộ
Khẩu
Hộ
Khẩu
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
1
Phường Phong Điền
444
1390
366
1132
78
258
444
1390
366
1132
78
258
2
Phường Phong Thái
32
80
16
40
16
40
501
1453
391
1141
110
312
3
Phường Phong Dinh
778
1728
389
864
389
864
776
1732
388
866
388
866
4
Phường Phong Phú
165
429
159
415
6
14
262
700
259
690
3
10
5
Phường Phong Quảng
332
1070
239
685
93
385
297
881
297
881
0
0
6
Xã Đan Điền
63
148
63
148
0
0
285
642
285
642
0
0
7
Xã Quảng Điền
75
194
32
45
43
149
123
337
50
81
73
256
8
Phường Hương Trà
73
191
73
191
0
0
73
191
73
191
0
0
9
Phường Kim Trà
86
245
63
153
23
92
355
1350
336
1271
19
79
10
Xã Bình Điền
62
220
18
65
44
155
62
220
18
65
44
155
11
Phường Kim Long
223
709
128
429
95
280
416
1453
262
944
154
509
12
Phường Hương An
108
324
100
300
8
24
158
474
150
450
8
24
13
Phường Phú Xuân
0
0
0
0
0
0
153
488
86
204
67
284
14
Phường Thuận An
1136
4302
679
2481
457
1821
1384
5425
878
3305
506
2120
15
Phường Hóa Châu
191
478
191
478
0
0
218
618
218
618
0
0
16
Phường Dương Nỗ
125
309
89
209
36
100
125
309
89
209
36
100
17
Phường Mỹ Thượng
142
458
92
338
50
120
180
585
59
240
121
345
18
Phường Vỹ Dạ
74
224
74
224
0
0
170
504
96
280
74
224
19
Phường Thuận Hóa
0
0
0
0
0
0
506
1635
467
1519
39
116
20
Phường An Cựu
2
7
0
0
2
7
51
153
15
35
36
118
21
Phường Thủy Xuân
0
0
0
0
0
0
23
75
23
75
0
0
22
Xã Phú Vinh
71
177
54
140
17
37
71
177
54
140
17
37
23
Xã Phú Hồ
172
424
172
424
0
0
172
424
172
424
0
0
24
Xã Phú Vang
290
800
221
612
69
188
290
800
221
612
69
188
25
Phường Thanh Thủy
55
125
55
125
0
0
314
936
274
841
40
95
26
Phường Hương Thủy
345
1182
334
1137
11
45
345
1182
334
1137
11
45
27
Phường Phú Bài
268
909
195
661
73
248
268
909
195
661
73
248
28
Xã Vinh Lộc
153
343
152
343
1
0
271
1338
271
1338
0
0
29
Xã Hưng Lộc
254
975
146
582
108
393
254
975
146
582
108
393
30
Xã Lộc An
1607
3335
1378
2875
229
460
656
1450
553
1205
103
245
31
Xã Phú Lộc
180
724
171
688
9
36
519
1624
358
1347
161
277
32
Xã Chân Mây - Lăng
Cô
4
10
2
2
2
8
4
10
2
2
2
8
33
Xã Long Quảng
35
137
35
137
0
0
56
221
37
148
19
73
34
Xã Nam Đông
317
1214
317
1214
0
0
317
1214
60
193
257
1021
35
Xã Khe Tre
34
124
30
108
4
16
247
804
176
550
71
254
193
36
Xã A Lưới 1
583
1867
583
1867
0
0
583
1867
583
1867
0
0
37
Xã A Lưới 2
343
1436
80
365
263
1071
654
2044
0
0
654
2044
38
Xã A Lưới 3
457
1674
212
746
245
928
457
1674
0
0
457
1674
39
Xã A Lưới 4
342
1432
171
716
171
716
342
1430
171
716
171
714
40
Xã A Lưới 5
32
143
13
60
19
83
80
340
16
57
64
283
Tổng Cộng
9.653
29.537
7.092
20.999
2.561
8.538
12.462
40.034
8.429
26.659
4.033
13.375
Phụ lục VI. 2. Phương án ứng phó với lũ, ngập lụt
1
Phường Phong Điền
311
1051
246
808
65
243
311
1051
246
808
65
243
2
Phường Phong Thái
14
51
14
51
0
0
429
1187
363
983
66
204
3
Phường Phong Dinh
0
0
0
0
0
0
778
1718
389
859
389
859
4
Phường Phong Phú
75
140
75
140
0
0
126
314
126
314
0
0
5
Phường Phong
Quảng
67
190
67
190
0
0
53
153
53
153
0
0
6
Xã Đan Điền
75
157
75
157
0
0
227
506
227
506
0
0
7
Xã Quảng Điền
44
147
21
41
23
106
100
390
51
66
49
324
8
Phường Hương Trà
73
191
73
191
0
0
73
191
73
191
0
0
9
Phường Kim Trà
53
149
47
137
6
12
242
837
105
294
137
543
10
Xã Bình Điền
42
149
35
124
7
25
42
149
35
124
7
25
11
Phường Kim Long
140
393
98
194
42
199
331
837
188
293
143
544
12
Phường Hương An
70
200
20
50
50
150
170
480
80
230
90
250
13
Phường Phú Xuân
0
0
0
0
0
0
261
859
144
387
117
472
14
Phường Thuận An
794
3136
503
1800
291
1336
794
3136
503
1800
291
1336
15
Phường Hóa Châu
117
311
117
311
0
0
181
490
181
490
0
0
16
Phường Dương Nỗ
74
185
69
170
5
15
74
185
69
170
5
15
195
17
Phường Mỹ Thượng
127
386
86
291
41
95
177
571
74
282
103
289
18
Phường Vỹ Dạ
81
251
81
251
0
0
101
325
81
251
20
74
19
Phường Thuận Hóa
0
0
0
0
0
0
429
1527
176
667
253
860
20
Phường An Cựu
27
123
3
15
24
108
87
311
8
22
79
289
21
Phường Thủy Xuân
0
0
0
0
0
0
87
311
134
519
0
0
22
Xã Phú Vinh
38
140
24
77
14
63
38
140
24
77
14
63
23
Xã Phú Hồ
172
424
172
424
0
0
172
424
172
424
0
0
24
Xã Phú Vang
0
0
0
0
0
0
304
903
241
743
63
160
25
Phường Thanh Thủy
0
0
0
0
0
0
314
936
274
841
40
95
26
Phường Hương
Thủy
610
1836
580
1726
30
110
610
1836
580
1726
30
110
27
Phường Phú Bài
356
1442
178
721
178
721
670
2418
335
1209
335
1209
28
Xã Vinh Lộc
190
427
190
427
0
0
352
886
352
886
0
0
29
Xã Hưng Lộc
244
962
136
569
108
393
244
962
136
569
108
393
30
Xã Lộc An
2561
4771
1988
3630
573
1141
864
2138
691
1723
173
415
31
Xã Phú Lộc
130
369
115
315
15
54
166
501
151
447
15
54
32
Xã Chân Mây -
Lăng Cô
60
157
60
157
0
0
60
157
60
157
0
0
33
Xã Long Quảng
130
562
123
432
34
Xã Nam Đông
0
0
0
0
0
0
288
1046
144
523
144
523
35
Xã Khe Tre
7
23
7
23
0
0
0
0
0
0
0
0
36
Xã A Lưới 1
583
1867
583
1867
0
0
583
1867
583
1867
0
0
37
Xã A Lưới 2
0
0
0
0
0
0
0
0
38
Xã A Lưới 3
76
289
0
0
76
289
76
289
0
0
76
289
39
Xã A Lưới 4
162
628
81
314
81
314
162
628
81
314
81
314
40
Xã A Lưới 5
32
143
13
60
19
83
80
340
16
57
64
283
Tổng Cộng
7.405
20.688
5.757
15.231
1.648
5.457
10.056
30.999
7.276
21.534
3.080
10.667
197
Phụ lục VI. 3. Phương án ứng phó với sạt lở đất, lũ quét
Sạt lở đất
Tổng
Số hộ/khẩu
sơ tán tại chỗ
Số hộ/Khẩu di dời
(đến Kv tập trung)
TT
Phường/Xã
Hộ
Khẩu
Hộ
Khẩu
Hộ
Khẩu
1
2
3
4
5
6
1
Phường Phong Điền
20
68
0
0
20
68
2
Phường Phong Thái
0
0
0
0
0
0
3
Phường Phong Dinh
20
71
15
52
5
19
4
Phường Hương Trà
8
18
8
18
0
0
5
Phường Kim Trà
0
0
0
0
0
0
6
Xã Bình Điền
18
54
11
31
7
23
7
Phường Kim Long
31
113
0
0
31
113
8
Phường Hương An
25
80
10
30
15
50
9
Phường Phú Xuân
0
0
0
0
0
0
10
Phường Thuận An
465
2028
244
1093
221
935
11
Phường Mỹ Thượng
13
54
13
54
0
0
12
Phường Vỹ Dạ
51
132
39
95
12
37
13
Phường Thanh Thủy
39
95
39
95
0
0
14
Phường Hương Thủy
12
46
12
46
0
0
15
Phường Phú Bài
38
141
17
62
21
79
16
Xã Lộc An
31
106
18
62
13
44
17
Xã Phú Lộc
82
325
46
181
36
144
18
Xã Chân Mây - Lăng Cô
50
162
35
113
15
49
19
Xã Long Quảng
53
208
23
87
30
121
20
Xã Nam Đông
86
344
43
172
43
172
21
Xã Khe Tre
394
1442
197
721
197
721
22
Xã A Lưới 1
450
1446
450
1446
23
Xã A Lưới 2
41
124
30
99
11
25
24
Xã A Lưới 3
61
210
0
0
61
210
25
Xã A Lưới 4
48
162
24
81
24
81
26
Xã A Lưới 5
32
143
13
60
19
83
Tổng Cộng
2.068
7.572
1.287
4.598
781
2.974
199
Phụ lục VI. 4. Phương án ứng phó với nước dâng do bão
Áp thấp nhiệt đới, bão cấp 8, cấp 9
Bão mạnh, bão rất mạnh, siêu bão
Tổng
Số hộ/khẩu
sơ tán tại chỗ
Số hộ/Khẩu di dời
(đến Kv tập trung)
Tổng
Số hộ/khẩu
sơ tán tại chỗ
Số hộ/Khẩu di
dời
(đến Kv tập
trung)
TT
Phường/Xã
Hộ
Khẩu
Hộ
Khẩu
Hộ
Khẩu
Hộ
Khẩu
Hộ
Khẩu
Hộ
Khẩu
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
1
Phường Phong Phú
165
429
159
415
6
14
262
700
259
690
3
10
2
Phong Quảng
332
1070
239
685
93
385
297
881
297
881
0
0
3
Phường Thuận An
1136
4302
679
2481
457
1821
1384
5425
878
3305
506
2120
4
Xã Phú Vinh
71
177
54
140
17
37
71
177
54
140
17
37
5
Xã Vinh Lộc
153
343
152
343
1
0
271
1338
271
1338
0
0
6
Xã Phú Lộc
180
724
171
688
9
36
519
1624
358
1347
161
277
7
Chân Mây-Lăng Cô
4
10
2
2
2
8
4
10
2
2
2
8
Tổng Cộng
2.041
7.055
1.456
4.754
585
2.301
2.808
10.155
2.119
7.703
689
2.452
Phụ lục VII: Danh mục chi tiết các nhiệm vụ, dự án cụ thể
Nhóm giải pháp nội dung 01: quản trị, thể chế, lập kế hoạch và lồng ghép quản lý rủi ro
Nhiệm vụ
Phạm vi và đối tượng
ưu tiên
Thời gian
Trách nhiệm
Nguồn lực/chỉ tiêu đề xuất
Tổ chức quán triệt, triển
khai Kết luận số 213-
KL/TW và các văn bản
mới về phòng thủ dân
sự, PCTT
Phạm vi: Toàn thành
phố.
Năm 2026;
thực hiện
thường xuyên
Chủ trì: Sở NN&MT
Phối hợp: Các sở, ngành,
địa phương
Nguồn nội dung: [PL III-I.1].Nguồn lực: Chi
thường xuyên của các cơ quan. Chỉ tiêu: 100%
cơ quan, địa phương được hướng dẫn và tổ
chức triển khai
Rà soát, kiện toàn Ban
Chỉ huy Phòng thủ dân
sự thành phố và 40 xã,
phường; xác định đầu
mối, chế độ trực ban,
thông tin và báo cáo
Phạm vi: Thành phố và
40 xã, phường.
Hoàn thành lần
đầu năm 2026;
rà soát hằng
năm
Chủ trì: Ban Chỉ huy PTDS
thành phố, UBND
xã/phường
Phối hợp: Sở Nội vụ, Sở
NN&MT
Nguồn nội dung: [PL III-II.1, II.2].Nguồn
lực: Chi thường xuyên.Chỉ tiêu: 100% Ban
Chỉ huy cấp xã có quyết định kiện toàn, phân
công và danh sách đầu mối cập nhật
Củng cố cơ quan tham
mưu và đầu tư, vận hành
Văn phòng Ban Chỉ huy
Phòng thủ dân sự thành
phố
Phạm vi: Cấp thành phố
và đầu mối kết nối với
cấp xã.
2026-2030
Chủ trì: Ban Chỉ huy PTDS
thành phố, Sở NN&MT
Phối hợp: Sở KH&CN, Sở
Tài chính
Nguồn nội dung: [PL III-II.3, III.9,
IV.5].Nguồn lực: Ngân sách thành phố, Quỹ
PCTT và nguồn hợp pháp khác.Chỉ tiêu: Văn
phòng có đủ cơ sở vật chất, dữ liệu, thiết bị
thông tin và nguồn điện dự phòng
Hướng dẫn kiện toàn cơ
quan tham mưu chỉ đạo,
điều hành và hệ thống tổ
chức bộ máy quản lý
nhà nước về PCTT
Phạm vi: Các cơ quan
thành phố và 40 xã,
phường.Ưu tiên: Cơ
quan, địa phương mới
kiện toàn sau sắp xếp tổ
chức; cán bộ đầu mối
PCTT
Thường xuyên
Chủ trì: Sở Nội vụ.
Phối hợp: Các sở, ngành và
địa phương
Nguồn: [PL III-II.2].Nguồn lực: Chi thường
xuyên.Chỉ tiêu: 100% cơ quan, địa phương
xác định rõ cơ quan và cán bộ đầu mối tham
mưu PCTT
Ban hành quy chế phối
hợp liên ngành trong
Phạm vi: Các tình
huống ảnh hưởng nhiều
2026-2027; rà
soát sau các sự
Chủ trì: Ban Chỉ huy PTDS
thành phố
Nguồn lực: Chi thường xuyên.Chỉ tiêu: Ban
hành ít nhất 01 quy chế chung và các quy trình
201
phòng ngừa, ứng phó và
phục hồi đối với các tình
huống đa thiên tai và
gián đoạn hệ thống
ngành, nhiều địa bàn.Ưu
tiên: Bão-lũ-sạt lở; mất
điện-nước-viễn thông;
sự cố hồ đập;
kiện lớn
Phối hợp: Các sở, ngành,
doanh nghiệp dịch vụ thiết
yếu
phối hợp đối với bão-lũ-sạt lở, mất điện-nước-
viễn thông và sự cố hồ đập
Cập nhật Kế hoạch
PCTT thành phố giai
đoạn 2026-2030 và kế
hoạch hằng năm
Phạm vi: Toàn thành
phố.
Hoàn thành
năm 2026; cập
nhật hằng năm
Chủ trì: Sở NN&MT
Phối hợp: Các sở, ngành,
địa phương
Nguồn nội dung: [PL III-I.2].Nguồn lực:
Ngân sách sự nghiệp PCTT. Chỉ tiêu: Kế
hoạch được phê duyệt và cập nhật theo dữ liệu,
rủi ro, thiên tai mới
Xây dựng và cập nhật
Kế hoạch PCTT của 40
xã, phường
Phạm vi: 40 xã,
phường.
Hoàn thành
năm 2026; cập
nhật hằng năm
Chủ trì: UBND xã, phường
Phối hợp: Sở NN&MT và
các đơn vị chuyên môn
Nguồn nội dung: [PL III-I.4].Nguồn lực:
Ngân sách địa phương, Quỹ PCTT. Chỉ tiêu:
40/40 xã, phường có kế hoạch được phê duyệt
Rà soát, cập nhật
phương án PCTT của
thành phố, cấp xã và các
ngành, lĩnh vực
Phạm vi: Toàn thành
phố và từng ngành
Hằng năm,
hoàn thành
trước mùa thiên
tai
Chủ trì: Ban Chỉ huy
PTDS, các sở ngành, UBND
xã/phường
Nguồn nội dung: [PL III-I.3, I.5, I.6]. Nguồn
lực: Chi thường xuyên. Chỉ tiêu: 100%
phương án được cập nhật, xác định rõ trách
nhiệm và nguồn lực
Bổ sung kịch bản đa
thiên tai: bão kèm lũ và
mất điện; lũ nhiều đỉnh;
sạt lở gây cô lập; nắng
nóng kèm thiếu nước; sự
cố công trình
Phạm vi: Toàn thành
phố. Ưu tiên: Hạ lưu
sông Hương-sông Bồ;
ven biển; miền núi; đô
thị trung tâm; các ngành
thiết yếu
2026-2027; cập
nhật hằng năm
Chủ trì: Ban Chỉ huy PTDS
thành phố
Phối hợp: Sở NN&MT, các
ngành thiết yếu, địa phương
Nguồn lực: Ngân sách sự nghiệp, hỗ trợ kỹ
thuật.Chỉ tiêu: 100% ngành thiết yếu và xã,
phường rủi ro cao có phương án đa thiên tai
Xây dựng cơ chế hỗ trợ
kỹ thuật thường xuyên
cho cấp xã về đánh giá
rủi ro, GIS, dữ liệu, lập
kế hoạch và sơ tán
Phạm vi: 40 xã,
phường. Ưu tiên: A
Lưới, Nam Đông, Khe
Tre, Bình Điền; vùng
ven biển, cửa sông và
ngập sâu
Từ năm 2026;
thực hiện hằng
năm
Chủ trì: Sở NN&MT, Sở
KH&CN
Phối hợp: Trường, viện, đơn
vị tư vấn
Nguồn lực: Ngân sách đào tạo, ODA, dự án hỗ
trợ kỹ thuật.Chỉ tiêu: Ít nhất 01 đợt đào tạo và
hỗ trợ kỹ thuật/năm; ưu tiên miền núi, ven biển
và vùng ngập
Rà soát, điều chỉnh quy
hoạch thành phố và quy
Phạm vi: Đô thị, khu
dân cư, khu công
2026-2030
Chủ trì: Sở Xây dựng
Phối hợp: Sở NN&MT, các
Nguồn nội dung: [PL III-I.7].Nguồn lực:
Kinh phí lập, điều chỉnh quy hoạch. Chỉ tiêu:
hoạch ngành theo hướng
kiểm soát phát sinh rủi
ro mới
nghiệp, du lịch và hạ
tầng. Ưu tiên: Vùng
thấp trũng, ven sông,
ven biển, chân dốc
sở ngành, địa phương
Nội dung rủi ro được tích hợp vào các quy
hoạch điều chỉnh
Hướng dẫn áp dụng các
quy chuẩn, tiêu chuẩn
kỹ thuật nhằm bảo đảm
khả năng chống chịu của
công trình
Phạm vi: Nhà ở, công
trình công cộng, hạ tầng
thiết yếu và công trình
tại vùng rủi ro.
Thường xuyên
Chủ trì: Sở Xây dựng
Phối hợp: Các sở ngành,
chủ đầu tư, địa phương
Nguồn nội dung: [PL III-I.12].Nguồn lực:
Chi thường xuyên. Chỉ tiêu: Ban hành hướng
dẫn/bảng kiểm áp dụng đối với công trình tại
vùng rủi ro
Nhóm giải pháp nội dung 02: Hoàn thiện dữ liệu, khoa học công nghệ, dự báo và cảnh báo sớm đa thiên tai
Nhiệm vụ
Phạm vi và đối tượng
ưu tiên
Thời gian
Trách nhiệm
Nguồn lực/chỉ tiêu đề xuất
Duy trì, nâng cao hiệu quả
vận hành Hue-S và GIS
Huế phục vụ cộng đồng
Phạm vi: Toàn thành
phố.
Thường
xuyên
Chủ trì: Sở KH&CN
Phối hợp: Sở NN&MT,
các sở ngành, địa
phương
Nguồn nội dung: [PL III-III.1].Nguồn lực: Ngân
sách chuyển đổi số, vận hành hệ thống.Chỉ tiêu:
Hệ thống hoạt động liên tục, có đầu mối vận
hành và bảo trì
Rà soát, cập nhật dữ liệu
ngập lụt, điểm dừng và đỗ
xe phòng tránh lũ trên Hue-
S và GIS Huế
Phạm vi: Đô thị trung
tâm, hạ lưu sông Hương-
sông Bồ và các tuyến
thường xuyên ngập.
Hằng năm
Chủ trì: Sở KH&CN
Phối hợp: Sở Xây dựng,
Công an thành phố, địa
phương
Nguồn nội dung: [PL III-III.2].Nguồn lực: Chi
thường xuyên.Chỉ tiêu: Dữ liệu cập nhật trước
mùa mưa lũ
Xây dựng, vận hành và cập
nhật hệ thống cơ sở dữ liệu
phục vụ công tác PCTT
Phạm vi: 40 xã, phường
và các ngành. Ưu tiên:
Địa bàn cùng núi xa
trung tâm
2026-2030;
cập nhật hằng
năm
Chủ trì: Sở NN&MT, Sở
KH&CN
Phối hợp: 40 xã/phường,
các ngành
Nguồn nội dung: [PL III-III.5]. Nguồn lực:
Chuyển đổi số, ngân sách PCTT .Chỉ tiêu: 40/40
xã, phường hoàn thiện cập nhật CSDL trước
ngày 30/6 hằng năm
Vận hành hệ thống dữ liệu
hỗ trợ chỉ đạo, chỉ huy theo
thời gian thực
Phạm vi: Trung tâm chỉ
huy, hồ chứa, mạng quan
trắc và báo cáo cấp xã.
Thường
xuyên
Chủ trì: Sở NN&MT, Sở
KH&CN
Phối hợp: Ban Chỉ huy
Nguồn nội dung: [PL III-III.6].Nguồn lực: Ngân
sách vận hành hệ thống. Chỉ tiêu: Dữ liệu quan
trắc và báo cáo tình hình được tích hợp phục vụ
203
PTDS và các ngành
chỉ huy
Ứng dụng UAV trong khảo
sát, giám sát thiên tai, kiểm
tra công trình và hỗ trợ cứu
hộ
Phạm vi: Miền núi, ven
biển, sạt lở, ngập sâu và
công trình khó tiếp cận
2026-2030
Chủ trì: Bộ Chỉ huy
Quân sự, Công an thành
phố
Phối hợp: Sở NN&MT,
địa phương
Nguồn nội dung: [PL III-III.3]. Nguồn lực: Ngân
sách quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ.
Chỉ tiêu: Hình thành đội ngũ vận hành và quy
trình sử dụng UAV
Ứng dụng Vrain, Hue.vfass,
Hue.vwind, mô hình giám
sát đa tầng và AI
Phạm vi: Hạ lưu sông
Hương-Bồ, đô thị, ven
biển, hồ chứa lớn
2026-2030
Chủ trì: Sở NN&MT, Sở
KH&CN
Phối hợp: Đài KTTV,
các chủ hồ
Nguồn nội dung: [PL III-III.4].Nguồn lực: Khoa
học công nghệ, ngân sách, ODA. Chỉ tiêu: Công
cụ được tích hợp vào quy trình dự báo, cảnh báo
và vận hành
Kết nối camera giám sát hồ
chứa và công trình trọng
yếu với Hue-S
Phạm vi: Hồ thủy lợi,
thủy điện và đầu mối
PCTT.
2026-2030;
cập nhật
thường xuyên
Chủ trì: Sở Công
Thương, Sở NN&MT,
Sở KH&CN
Phối hợp: Các chủ đập
Nguồn nội dung: [PL III-III.7].Nguồn lực: Chủ
công trình, ngân sách ngành.Chỉ tiêu: Các hồ,
đập trọng yếu truyền dữ liệu, hình ảnh về hệ
thống
Xây dựng hệ thống mô
phỏng lan truyền, bản đồ
ngập và cảnh báo thông
minh theo thời gian thực
Phạm vi: Hạ lưu sông
Hương, sông Bồ-Ô Lâu
và vùng đô thị thấp
trũng.
Từ năm
2026; vận
hành, hoàn
thiện trong
kỳ kế hoạch
Chủ trì: Sở KH&CNPhối
hợp: Sở NN&MT, các
ngành, địa phương
Nguồn nội dung: [PL III-III.10].Nguồn lực:
Khoa học công nghệ, đầu tư công, ODA.Chỉ
tiêu: Hệ thống được xây dựng, thử nghiệm và
đưa vào hỗ trợ điều hành
Bổ sung dữ liệu tọa độ
điểm ngập, sạt lở, xói lở,
thiệt hại và thời gian gián
đoạn dịch vụ
Phạm vi: Toàn thành
phố.
2026-2027;
cập nhật sau
sự kiện
Chủ trì: Sở
NN&MTPhối hợp: Các
sở ngành, UBND địa
phương
Nguồn lực: Ngân sách sự nghiệp, hỗ trợ quốc tế.
Chỉ tiêu: 100% điểm thiệt hại lớn và điểm sạt lở
mới được ghi nhận tọa độ
Cập nhật bản đồ ngập theo
độ sâu, thời gian ngập,
dòng chảy và kịch bản vận
hành hồ
Phạm vi: Hạ lưu
Hương-Bồ-Ô Lâu, vùng
ven đầm phá và đô thị.
2026-2028
Chủ trì: Sở NN&MT, Sở
KH&CN
Phối hợp: Chủ hồ, địa
phương
Nguồn nội dung: [PL III-III.10 + MỚI].Nguồn
lực: Ngân sách, ODA, khoa học công nghệ. Chỉ
tiêu: Bản đồ được tích hợp vào GIS và phương
án ứng phó
Điều tra, lập bản đồ chi tiết
Phạm vi: A Lưới, Nam
2026-2028
Chủ trì: Sở NN&MT
Nguồn lực: Ngân sách điều tra cơ bản, ODA.Chỉ
lũ quét, sạt lở tại khu dân
cư, trường học, y tế, hồ đập
và giao thông
Đông, Khe Tre, Bình
Điền, Phú Lộc-Chân
Mây.
Phối hợp: Sở Xây dựng,
UBND địa phương
tiêu: Hoàn thành đối với các địa bàn miền núi và
điểm nóng ưu tiên
Cập nhật bản đồ xói lở bờ
sông, bờ biển, cửa sông;
xây dựng bản đồ nắng
nóng, hạn hán và xâm nhập
mặn
Phạm vi: Ven biển, cửa
sông, sông chính; đô thị
nóng; vùng cát và cuối
hệ thống tưới
2026-2029
Chủ trì: Sở NN&MT
Phối hợp: Sở KH&CN,
Sở Y tế, địa phương
Nguồn lực: Điều tra cơ bản, khoa học công nghệ,
Hỗ trợ quốc tế.Chỉ tiêu: Có lớp dữ liệu cho các
khu vực ưu tiên
Phát triển hạ tầng viễn
thông kiên cố, bền vững
trước thiên tai
Phạm vi: Toàn thành
phố.
2026-2030
Chủ trì: Sở KH&CN
Phối hợp: Các doanh
nghiệp viễn thông
Nguồn nội dung: [PL III-III.8].Nguồn lực:
Doanh nghiệp viễn thông và nguồn đầu tư hợp
pháp. Chỉ tiêu: Các trạm, tuyến trọng yếu có
nguồn điện và đường truyền dự phòng
Hoàn thiện hệ thống truyền
tin, cảnh báo tại cơ sở
Phạm vi: 40 xã, phường.
2026-2030
Chủ trì: UBND
xã/phường
Phối hợp: Sở KH&CN,
Sở NN&MT
Nguồn nội dung: [PL III-V.1].Nguồn lực: Ngân
sách địa phương, Quỹ PCTT, dự án hỗ trợ.Chỉ
tiêu: Khu vực rủi ro cao được bao phủ bởi tối
thiểu hai kênh cảnh báo
Ban hành quy trình cảnh
báo theo tác động cho bão,
lũ, ngập, sạt lở; bổ sung
cảnh báo nắng nóng, hạn
hán và dông sét
Phạm vi: Toàn thành
phố
2026-2028
Chủ trì: Sở NN&MT
Phối hợp: Đài KTTV, Sở
Y tế, Sở KH&CN
Nguồn lực: Ngân sách sự nghiệp, hỗ trợ kỹ
thuật.Chỉ tiêu: Ít nhất 01 quy trình cảnh báo theo
tác động được ban hành
205
Nhóm giải pháp nội dung 03: Quản lý rủi ro lũ, ngập lụt và tiêu thoát nước
Nhiệm vụ
Phạm vi và đối tượng ưu tiên
Thời gian
Trách nhiệm
Nguồn lực/chỉ tiêu đề xuất
Rà soát, đề xuất điều
chỉnh quy trình vận
hành liên hồ, đơn hồ
Phạm vi: Hệ thống hồ trên lưu
vực sông Hương, Bồ và các hồ
liên quan.
Năm 2026;
cập nhật khi
cần
Chủ trì: Sở NN&MT,
Sở Công Thương.
Phối hợp: Chủ hồ, địa
phương
Nguồn nội dung: [PL III-I.8].Nguồn lực:
Ngân sách ngành, chủ hồ.Chỉ tiêu: Hoàn
thành rà soát và kiến nghị cấp có thẩm
quyền
Bảo vệ, giải phóng
không gian và hành
lang thoát lũ
Phạm vi ưu tiên: Hạ lưu sông
Hương, Bồ-Ô Lâu, vùng đô thị và
ven đầm phá
2026-2030
Chủ trì: Sở NN&MT,
Sở Xây dựng, UBND địa
phương
Nguồn nội dung: [PL III-I.9].Nguồn lực:
Ngân sách quản lý, đầu tư công.Chỉ tiêu:
Xử lý các điểm cản trở thoát lũ ưu tiên
Xây dựng phương án lũ
nhiều đỉnh, lũ trái mùa,
ngập kéo dài và mất
điện diện rộng
Phạm vi: Hạ lưu các sông và đô
thị thấp trũng.
2026-2027;
cập nhật hằng
năm
Chủ trì: Ban Chỉ huy
PTDS, Sở NN&MT.
Phối hợp: Các ngành,
địa phương
Nguồn lực: Chi thường xuyên, Quỹ PCTT.
Chỉ tiêu: Có kịch bản, ngưỡng kích hoạt
và phương án duy trì dịch vụ
Kiểm soát cao trình san
nền, lấn chiếm và công
trình thu hẹp tiêu thoát
Phạm vi: Khu đô thị và dự án
phát triển tại vùng thấp.Ưu tiên:
Thuận Hóa, Phú Xuân, Vỹ Dạ, An
Cựu, Dương Nỗ, Hương Thủy và
Phú Bài
Từ năm
2026; thường
xuyên
Chủ trì: Sở Xây dựng,
UBND địa phương.
Phối hợp: Sở NN&MT
Nguồn nội dung: [PL III-I.7, I.9 + MỚI].
Nguồn lực: Chi quản lý nhà nước. Chỉ
tiêu: 100% dự án mới tại vùng thấp đánh
giá thoát nước
Nghiên cứu phương án
nâng cao trình tích nước
hồ Tả Trạch
Phạm vi: Hồ Tả Trạch và hạ du
sông Hương.
2026-2030
Chủ trì: Sở NN&MT.
Phối hợp: Ban Quản lý
Đầu tư và XDTL5, cơ
quan Trung ương
Nguồn nội dung: [PL III-IV.2].Trạng
thái: Nghiên cứu, đề xuất. Chỉ tiêu: Hoàn
thành đánh giá kỹ thuật, an toàn và tác
động
Các dự án trong kế hoạch đầu tư công
Nhiệm vụ/dự án
Phạm vi và đối tượng ưu tiên
Thời gian
Trách nhiệm
Nguồn lực/chỉ tiêu đề xuất
Kè gia cố hệ thống tiêu
thoát lũ Phổ Lợi, Phú
Khê, La Ỷ, Mậu Tài,
Phạm vi: Các tuyến sông, hói
thuộc hệ thống dự án.
Theo tiến độ
dự án
Chủ đầu tư được giao;
phối hợp Sở NN&MT và
địa phương
Nguồn: [PL II-01], đã thuộc kế hoạch đầu
tư công.Vốn: 130 tỷ đồng.Chỉ tiêu: Hoàn
thành khối lượng; xác định dân số, diện
Lợi Nông
tích được giảm ngập
Nâng cấp hệ thống hói
tiêu thoát lũ 5 xã-7 xã
Phạm vi: Hương An, Kim Long
và khu vực liên quan.
2026-2029
Chủ đầu tư được giao;
phối hợp địa phương
Nguồn: [PL II-05].Vốn: 130 tỷ đồng.Chỉ
tiêu: Tiêu khoảng 2.993 ha, góp phần
chống ngập khoảng 60.000 người
Cứng hóa bờ hói Hàng
Tổng, cải tạo cống
Phước Lý
Phạm vi: Quảng Điền.
2026-2028
Chủ đầu tư được giao;
phối hợp Quảng Điền
Nguồn: [PL II-09].Vốn: 15 tỷ đồng.Chỉ
tiêu: Hoàn thành khoảng 3 km
Hệ thống thoát lũ
Quảng Điền
Phạm vi: Quảng Điền, Đan Điền,
Hóa Châu.
2026-2029
Chủ đầu tư được giao;
phối hợp các địa phương
Nguồn: [PL II-10].Vốn: 205 tỷ đồng.Chỉ
tiêu: Hoàn thành khoảng 6,6 km
Nâng cấp đê bao An
Thành kết hợp giao
thông
Phạm vi: Quảng Điền, Hóa Châu.
2026-2028
Chủ đầu tư được giao;
phối hợp địa phương
Nguồn: [PL II-11].Vốn: 50 tỷ đồng.Chỉ
tiêu: Hoàn thành dự án, bảo đảm chống
ngập và giao thông
Nạo vét, nâng bờ hói
Bến Trâu, Nịu và hói
Diên Hồng
Phạm vi: Quảng Điền, Đan Điền.
2026-2028
Chủ đầu tư được giao;
phối hợp địa phương
Nguồn: [PL II-12].Vốn: 24,5 tỷ đồng.Chỉ
tiêu: Hoàn thành theo thiết kế
Gia cố tuyến hói Hiền
Lương
Phạm vi: Phong Thái.Ưu tiên:
Dân cư, sản xuất và hạ tầng dọc
tuyến
2026-2028
Chủ đầu tư được giao;
phối hợp Phong Thái
Nguồn: [PL II-14].Vốn: 19 tỷ đồng.Chỉ
tiêu: Gia cố khoảng 1,6 km
Kiên cố hóa các tuyến
hói thượng lưu đường
cứu hộ Phong Điền-
Điền Lộc
Phạm vi: Phong Dinh, Phong
Phú.Ưu tiên: Dân cư, sản xuất và
tuyến cứu hộ cứu nạn
2026-2028
Chủ đầu tư được giao;
phối hợp địa phương
Nguồn: [PL II-15].Vốn: 40 tỷ đồng.Chỉ
tiêu: Hoàn thành khoảng 13,6 km
Hệ thống thoát lũ Đồng
Di-Phú Hồ
Phạm vi: Phú Hồ.Ưu tiên: Dân
cư, đất nông nghiệp và giao thông
vùng thấp
2026-2028
Chủ đầu tư được giao;
phối hợp Phú Hồ
Nguồn: [PL II-16].Vốn: 25,5 tỷ đồng.Chỉ
tiêu: Hoàn thành khoảng 4,9 km
Thoát nước khu vực
Phú Bài và Thủy Phù
Phạm vi: Phú Bài, Thủy Phù và
khu vực liên quan.
2026-2028
Chủ đầu tư được giao;
phối hợp địa phương
Nguồn: [PL II-17].Vốn: 150 tỷ đồng.Chỉ
tiêu: Hoàn thành dự án; theo dõi diện tích
và dân cư được giảm ngập
207
Cần đối chiếu hồ sơ với PL III-IV.1 để xác
định là cùng dự án hay hạng mục mở rộng,
tránh trùng lặp.”
Dự án chiến lược đang đề xuất
Nhiệm vụ/dự án
Phạm vi và đối tượng ưu tiên
Thời gian
Trách nhiệm
Nguồn lực/chỉ tiêu đề xuất
Chuẩn bị đầu tư hệ
thống kênh thoát lũ lớn
và cải tạo sông, hói hạ
lưu sông Hương
Phạm vi: Sông Như Ý 1-3, hói
Sen, tuyến ra đầm phá, Cầu Long-
An Lưu, Phú Khê-Đầm Sam, thủy
đạo Diên Trường
Chuẩn bị,
phân kỳ
2026-2030
Chủ trì: Sở NN&MT,
Sở Xây dựng.Phối hợp:
Sở Tài chính, địa phương
Nguồn: [PL IV-I.1.1-I.1.8], đang đề
xuất.Tổng mức: 2.542 tỷ đồng.Chỉ tiêu:
Hoàn thành nghiên cứu, đánh giá tác động,
phân kỳ và hồ sơ vốn
Chuẩn bị đầu tư hói
Bạch Đằng và hói Cồn
Bài
Phạm vi: Hạ lưu sông Bồ.Ưu
tiên: Dân cư, nông nghiệp và giao
thông khu vực Quảng Điền-Hóa
Châu
2026-2030
Chủ trì: Sở
NN&MT.Phối hợp: Địa
phương, Sở Tài chính
Nguồn: [PL IV-I.2.1-I.2.2], đang đề
xuất.Tổng mức: 233 tỷ đồng.Chỉ tiêu:
Hoàn thành hồ sơ chuẩn bị đầu tư
Nghiên cứu chuyển
nước từ hồ Tả Trạch về
sông Nông
Phạm vi: Hồ Tả Trạch, sông
Nông và hạ du sông Hương.
2026-2030
Chủ trì: Sở
NN&MT.Phối hợp: Chủ
hồ, cơ quan Trung ương,
đơn vị tư vấn
Nguồn: [PL IV-VI], đang đề xuất.Tổng
mức: 2.500 tỷ đồng.Chỉ tiêu: Hoàn thành
nghiên cứu khả thi, an toàn, môi trường và
chuyển dịch rủi ro
Đầu tư xây dựng hồ
chứa nước Ô Lâu
Phạm vi: Khu vực dự kiến xây
dựng hồ và vùng hưởng lợi theo
hồ sơ dự án.
2026–2030
Chủ trì: Sở NN&MT,
Sở Tài chính.
Phối hợp: Ban quản lý
dự án và địa phương liên
quan
Nguồn: [PL III-IV.1].Chỉ tiêu: Hoàn
thành chuẩn bị đầu tư, xác định nguồn vốn
và triển khai theo quyết định được phê
duyệt
Nâng cấp hệ thống đập
Cửa Lác và 08 hồ chứa
nước xung yếu
Phạm vi: Đập Cửa Lác và các hồ
được xác định qua rà soát chuyên
ngành.
2026–2030
Chủ trì: Sở NN&MT,
Sở Tài chính.
Phối hợp: Ban quản lý
dự án, đơn vị quản lý hồ
và địa phương
Nguồn: [PL III-IV.1].Nguồn lực: Ngân
sách Trung ương, thành phố và nguồn hợp
pháp khác. Chỉ tiêu: Kiểm định, xác định
đủ danh mục 08 hồ và nâng cấp theo thứ tự
ưu tiên; đối chiếu để không tính trùng hồ
Hòa Mỹ tại PL II-18
Đề xuất phương án
nâng cao trình tích nước
hồ Tả Trạch lên khoảng
hơn 01 m
Phạm vi: Hồ Tả Trạch và vùng hạ
du sông Hương.
2026–2030
Chủ trì: Sở NN&MT.
Phối hợp: Ban Quản lý
Đầu tư và XDTL5, các
cơ quan liên quan
Nguồn: [PL III-IV.2]. Chỉ tiêu: Hoàn
thành nghiên cứu kỹ thuật, đánh giá an
toàn, hiệu quả và trình cấp có thẩm quyền
Nhóm giải pháp nội dung 04: Quản lý rủi ro bão, nước dâng, sạt lở bờ sông, bờ biển
Nhiệm vụ
Phạm vi và đối tượng ưu tiên
Thời gian
Trách nhiệm
Nguồn lực/chỉ tiêu đề xuất
Nhiệm vụ quản lý và phi công trình
Lập danh sách hộ dân,
công trình và cơ sở sản
xuất trong vùng xói lở
rất nguy hiểm
Phạm vi: Các điểm sạt lở bờ sông,
bờ biển và cửa sông.
2026-2027;
cập nhật hằng
năm
Chủ trì: UBND địa
phương.
Phối hợp: Sở NN&MT,
Sở Xây dựng
Nguồn lực: Chi thường xuyên, hỗ trợ quốc
tế, Quỹ PCTT.Chỉ tiêu: Danh sách đầy đủ
hộ và công trình nguy cơ rất cao
Hỗ trợ gia cố, sửa chữa
nhà ở an toàn trước bão
Phạm vi: Dải ven biển, cửa sông
và khu vực trống trải.
Ưu tiên: Hộ nghèo, cận nghèo,
người cao tuổi, người khuyết tật
và nhà mái nhẹ
2027-2030
Chủ trì: Sở Xây dựng,
UBND địa phương.
Phối hợp: MTTQ, tổ
chức hỗ trợ
Nguồn: [PL III-IV.1 + MỚI].Nguồn lực:
Ngân sách hỗ trợ nhà ở, Quỹ PCTT, xã hội
hóa. Chỉ tiêu: Hộ nguy cơ cao có nhà yếu
được đánh giá và hỗ trợ theo nguồn lực
Rà soát khu neo đậu,
kiểm đếm tàu thuyền,
bảo đảm an toàn lồng
bè
Phạm vi: Biển, cửa sông, đầm phá
và khu neo đậu.Ưu tiên: Ngư dân,
tàu nhỏ, hộ nuôi lồng bè và cơ sở
hậu cần nghề cá
Hằng năm
trước mùa
bão
Chủ trì: Sở NN&MT.
Phối hợp: Bộ đội Biên
phòng, địa phương ven
biển
Nguồn: [PL III-IV.1]. Nguồn lực: Ngân
sách ngành. Chỉ tiêu: 100% tàu thuyền
được kiểm đếm khi có bão
Theo dõi biến động
đường bờ bằng viễn
thám, UAV và khảo sát
Phạm vi: Các đoạn biển và cửa
sông diễn biến mạnh.
Ưu tiên: Thuận An, Phú Vinh,
Vinh Lộc, Phú Lộc, cửa Thuận An
và Tư Hiền
Hằng năm
Chủ trì: Sở NN&MT.
Phối hợp: Sở KH&CN,
viện, trường
Nguồn: [PL III-III.3 + MỚI]. Nguồn lực:
Khoa học công nghệ, điều tra cơ bản.Chỉ
tiêu: Cập nhật đường bờ và tốc độ xói lở
tại điểm trọng yếu
Các dự án trong kế hoạch đầu tư công
209
Nhiệm vụ/dự án
Phạm vi và đối tượng ưu tiên
Thời gian
Trách nhiệm
Nguồn lực/chỉ tiêu đề xuất
Kè hai bờ sông Bạch
Yến
Phạm vi: Kim Long.
2028-2030
Chủ đầu tư được giao;
phối hợp địa phương
Nguồn: [PL II-03].Vốn: 230 tỷ đồng.Chỉ
tiêu: Hoàn thành khoảng 14 km
Nâng cấp đê Tây phá
Cầu Hai
Phạm vi: Phú Vang. Ưu tiên:
Khoảng 220 ha đất sản xuất, dân
cư ven phá và giao thông
2026-2028
Chủ đầu tư được giao;
phối hợp Phú Vang
Nguồn: [PL II-04].Vốn: 25 tỷ đồng.Chỉ
tiêu: Hoàn thành khoảng 2,1 km
Kè chống sạt lở sông
Truồi
Phạm vi: Lộc Hòa, Lộc An, Lộc
Điền. Ưu tiên: Khu dân cư, đất
sản xuất và giao thông ven sông
2028-2030
Chủ đầu tư được giao;
phối hợp địa phương
Nguồn: [PL II-06].Vốn: 45 tỷ đồng. Chỉ
tiêu: Hoàn thành khoảng 3,9 km
Xử lý sạt lở bờ biển
Thuận An
Phạm vi: Phường Thuận An.
2026-2027
Chủ đầu tư được giao;
phối hợp Thuận An
Nguồn: [PL II-07].Vốn: Theo kế hoạch
được phê duyệt.Chỉ tiêu: Hoàn thành
khoảng 1,4 km
Nâng cấp đê An Sơn
Bổn
Phạm vi: Lộc An, Hưng Lộc.
Ưu tiên: Khoảng 580 ha đất sản
xuất, dân cư và giao thông
2027-2030
Chủ đầu tư được giao;
phối hợp địa phương
Nguồn: [PL II-08].Vốn: 160 tỷ đồng.Chỉ
tiêu: Hoàn thành khoảng 12 km
Kè chống sạt lở sông
Bồ
Phạm vi: Quảng Điền.
2026-2028
Chủ đầu tư được giao;
phối hợp Quảng Điền
Nguồn: [PL II-19].Vốn: 37 tỷ đồng.Chỉ
tiêu: Hoàn thành khoảng 3,35 km
Xử lý sạt lở bờ sông Ô
Lâu
Phạm vi: Phong Điền, Phong
Dinh. Ưu tiên: Khu dân cư, đất
sản xuất và hạ tầng ven sông
2026-2028
Chủ đầu tư được giao;
phối hợp địa phương
Nguồn: [PL II-20].Vốn: 15 tỷ đồng.Chỉ
tiêu: Hoàn thành khoảng 2 km
Tu bổ đê Tây phá Tam
Giang
Phạm vi: Đan Điền.
2026-2028
Chủ đầu tư được giao;
phối hợp với xã Đan
Điền
Nguồn: [PL II-21].Vốn: 48 tỷ đồng.Chỉ
tiêu: Hoàn thành khoảng 5 km
Trồng rừng ngập mặn
Rú Chá
Phạm vi: Hóa Châu, khu vực Rú
Chá và ven phá. Ưu tiên: Hệ sinh
thái, cộng đồng ven phá, thủy sản
và bảo vệ bờ
2025-2027
Chủ đầu tư được giao;
phối hợp cơ quan lâm
nghiệp, địa phương
Nguồn: [PL II-22].Vốn: 70 tỷ đồng.Chỉ
tiêu: Khoảng 17,65 ha; theo dõi tỷ lệ sống
và hiệu quả bảo vệ
Dự án chiến lược đang đề xuất
Nhiệm vụ/dự án
Phạm vi và đối tượng ưu tiên
Thời gian
Trách nhiệm
Nguồn lực/chỉ tiêu đề xuất
Chuẩn bị đầu tư nâng
cấp các tuyến đê phá, đê
biển
Phạm vi: Phong Dinh, Phong
Phú, Đan Điền, Phong Quảng, Mỹ
Thượng, Phú Hồ, Phú Vinh, Lộc
An.
Chuẩn bị,
phân kỳ
2026-2030
Chủ trì: Sở NN&MT.
Phối hợp: Sở Tài chính,
địa phương
Nguồn: [PL IV-III.1-III.6], đang đề
xuất.Quy mô: Khoảng 27,6 km; 511 tỷ
đồng.Chỉ tiêu: Hoàn thành chuẩn bị đầu tư
và phân kỳ ưu tiên
Chuẩn bị đầu tư các
tuyến kè chống sạt lở
bờ biển
Phạm vi: Thuận An, Tân An Hải,
Thuận Hải, Phương Diên, Vinh
Lộc.
2026-2030
Chủ trì: Sở NN&MT,
Sở Xây dựng.
Phối hợp: Địa phương
ven biển
Nguồn: [PL IV-IV.1-IV.7], đang đề xuất.
Nguồn lực: Trung ương, địa phương và
nguồn huy động.Chỉ tiêu: Hoàn thành
nghiên cứu bùn cát, môi trường và phân kỳ
Đê chắn sóng phía Bắc
cảng Chân Mây giai
đoạn 3
Phạm vi: Cảng Chân Mây và
vùng nước lân cận.
Theo tiến độ
chuẩn bị, bố
trí vốn
Chủ trì: Sở Xây
dựng/cơ quan được giao.
Phối hợp: Ban Quản lý
Khu kinh tế, Sở Tài
chính
Nguồn: [PL III-IV.4; PL IV-IV.8], đang đề
xuất.Tổng mức: 900 tỷ đồng.Chỉ tiêu:
Hoàn thành thủ tục và triển khai theo quyết
định
Kè hai bờ sông Hương
đoạn Đập Đá-cầu Chợ
Dinh
Phạm vi: Hai bờ sông Hương
đoạn Đập Đá-cầu Chợ Dinh.
Chuẩn bị,
phân kỳ
2026-2030
Chủ trì: Sở NN&MT/Sở
Xây dựng theo phân
công
Nguồn: [PL IV-V], đang đề xuất.Quy mô:
Khoảng 7.600 m; 467 tỷ đồng.Chỉ tiêu:
Hoàn thành nghiên cứu và hồ sơ đầu tư
Chuẩn bị đầu tư nâng
cấp các tuyến đê phá, đê
biển
Phạm vi: Phong Dinh, Phong
Phú, Đan Điền, Phong Quảng, Mỹ
Thượng, Phú Hồ, Phú Vinh, Lộc
An.
Chuẩn bị,
phân kỳ
2026-2030
Chủ trì: Sở NN&MT.
Phối hợp: Sở Tài chính,
địa phương
Nguồn: [PL IV-III.1-III.6], đang đề
xuất.Quy mô: Khoảng 27,6 km; 511 tỷ
đồng. Chỉ tiêu: Hoàn thành chuẩn bị đầu
tư và phân kỳ ưu tiên
Xây dựng các khu neo
đậu tránh trú bão cho
tàu thuyền đa mục tiêu
Phạm vi: Ven biển, cửa sông,
đầm phá và khu vực tập trung tàu
thuyền.
2026–2030
Chủ trì: Sở NN&MT,
Sở Tài chính.
Phối hợp: Ban quản lý
dự án, Bộ đội Biên
phòng và địa phương ven
biển
Nguồn: [PL III-IV.1].Nguồn lực: Ngân
sách Trung ương, thành phố và nguồn hợp
pháp khác. Chỉ tiêu: Rà soát nhu cầu, xác
định vị trí, quy mô ưu tiên và triển khai
theo dự án được phê duyệt
211
Nhóm giải pháp nội dung 05: Quản lý rủi ro lũ quét, sạt lở đất tại miền núi
Nhiệm vụ
Phạm vi và đối tượng ưu tiên
Thời gian
Trách nhiệm
Nguồn lực/chỉ tiêu đề xuất
Điều tra, định vị, lập hồ
sơ và xếp hạng các
điểm sạt lở
Phạm vi: A Lưới, Nam Đông,
Khe Tre, Long Quảng, Bình Điền,
Phú Lộc-Chân Mây.
2026-2028;
cập nhật sau
mỗi mùa mưa
Chủ trì: Sở NN&MT,
Sở Xây dựng.
Phối hợp: UBND địa
phương
Nguồn lực: Điều tra cơ bản, ngân sách
PCTT.Chỉ tiêu: 100% điểm nguy cơ cao
có tọa độ, ảnh, quy mô, tình trạng và
phương án
Lập danh sách và triển
khai bảo vệ, di dời hộ
nguy cơ rất cao
Phạm vi: Khu dân cư ven suối,
chân dốc, taluy và vùng sạt lở cũ.
Ưu tiên: Hộ nghèo, dân tộc thiểu
số, hộ có người khuyết tật hoặc
người cao tuổi
2026-2030
Chủ trì: Sở NN&MT,
UBND địa phương.
Phối hợp: Sở Xây dựng,
Sở Tài chính
Nguồn: [PL III-IV.3 + MỚI].Nguồn lực:
Đầu tư công, chương trình ổn định dân cư.
Chỉ tiêu: 100% hộ nguy cơ rất cao có
phương án được phê duyệt
Xử lý mái dốc, thoát
nước, khẩu độ thoát lũ
và công trình chắn bùn
đá
Phạm vi: Điểm sạt lở và dòng
chảy bùn đá nguy hiểm. Ưu tiên:
Khu dân cư, tuyến cứu hộ, cơ sở y
tế, trường học và hồ đập
2027-2030
Chủ trì: Sở Xây dựng,
Sở NN&MT.
Phối hợp: UBND địa
phương
Nguồn: [PL III-IV.1 + MỚI].Nguồn lực:
Đầu tư công, nguồn khẩn cấp. Chỉ tiêu:
Xử lý các điểm ưu tiên theo xếp hạng
Kè chống sạt lở sông Tả
Trạch tại khu tái định
cư thôn 6
Phạm vi: Nam Đông.
2026-2028
Chủ đầu tư được giao;
phối hợp Nam Đông
Nguồn: [PL II-13].Vốn: 14,5 tỷ đồng.Chỉ
tiêu: Hoàn thành khoảng 0,6 km
Thí điểm cảm biến
mưa, độ ẩm đất và
chuyển vị mái dốc hỗ
trợ cảnh báo
Phạm vi: Một số điểm nguy cơ rất
cao tại A Lưới, Nam Đông, Bình
Điền và Phú Lộc.
2027-2029
Chủ trì: Sở NN&MT,
Sở KH&CN.
Phối hợp: Địa phương,
đơn vị nghiên cứu
Nguồn: [PL III-III.4 + MỚI]. Nguồn lực:
Khoa học công nghệ, ODA.Chỉ tiêu: Thí
điểm và đánh giá trước khi mở rộng
Thay thế ngầm tràn
nguy hiểm
Phạm vi: Tỉnh lộ, đường dân sinh
miền núi và vùng thường bị chia
cắt.
2026-2030
Chủ trì: Sở Xây dựng.
Phối hợp: UBND địa
phương
Nguồn: [PL III-IV.4].Nguồn lực: Đầu tư
công. Chỉ tiêu: Xử lý các ngầm tràn ưu
tiên theo mức rủi ro
Chuẩn bị và thực hiện
Phạm vi: Các hộ nằm dọc tuyến
Chuẩn bị
Chủ trì: Sở NN&MT,
Nguồn: [PL IV-II], đang đề xuất.Tổng
dự án tái định cư dọc La
Sơn-Túy Loan
cao tốc La Sơn-Túy Loan. Ưu
tiên: Hộ nguy cơ sạt lở rất cao, hộ
nghèo và hộ thiếu sinh kế ổn định
2026-2027;
thực hiện
theo khả
năng vốn
Sở Xây dựng.
Phối hợp: Sở Tài chính,
địa phương
mức: 250 tỷ đồng. Chỉ tiêu: Hoàn thành
hồ sơ, quỹ đất, sinh kế và phương án vốn
Triển khai Chương trình
sắp xếp, ổn định dân cư
tại các khu vực thường
xuyên chịu tác động của
thiên tai
Phạm vi: Miền núi, ven sông, ven
biển, vùng ngập sâu và khu vực
nguy cơ sạt lở cao. Ưu tiên: Hộ
cần di dời khẩn cấp, hộ nghèo,
đồng bào dân tộc thiểu số và hộ có
người dễ bị tổn thương
2026–2030
Chủ trì: Sở NN&MT.
Phối hợp: Các sở, ngành
và địa phương
Nguồn: [PL III-IV.3]. Nguồn lực: Đầu tư
công, chương trình ổn định dân cư, ngân
sách Trung ương và thành phố. Chỉ tiêu:
100% hộ thuộc vùng nguy cơ rất cao có
phương án; triển khai theo quỹ đất, hạ tầng
và nguồn vốn
Nhóm giải pháp nội dung 06: Quản lý rủi ro nắng nóng, hạn hán, thiếu nước, cháy rừng
Nhiệm vụ
Phạm vi và đối tượng ưu
tiên
Thời gian
Trách nhiệm
Nguồn lực/chỉ tiêu đề xuất
Xây dựng Kế hoạch
hành động ứng phó nắng
nóng-sức khỏe
Phạm vi: Toàn thành phố.
Ưu tiên: Thuận Hóa, Phú
Xuân, An Cựu, Vỹ Dạ; y tế,
trường học, khu công nghiệp,
chợ và điểm du lịch
2028-2030
Chủ trì: Sở Y tế, Sở
NN&MT.
Phối hợp: Giáo dục, xây
dựng, cơ quan lao động, địa
phương
Nguồn lực: Ngân sách y tế, khí hậu, hỗ
trợ quốc tế.Chỉ tiêu: Kế hoạch được ban
hành trong năm 2027
Bước đầu xây dựng hệ
thống quan trắc và cảnh
báo sớm nắng nóng cực
đoan và xác định các
ngưỡng cảnh báo
Phạm vi: Y tế, giáo dục, lao
động và hoạt động ngoài
trời.Ưu tiên: Người cao tuổi,
trẻ em, người bệnh nền, lao
động ngoài trời
2027-2030
Chủ trì: Sở NN&MT
Phối hợp: Sở Y tế và các
ngành
Nguồn lực: hỗ trợ quốc tế.Chỉ tiêu: Có
quy trình hành động theo cấp cảnh báo
Thí điểm điểm tránh
nóng và giải pháp làm
mát
Phạm vi: Khu đô thị nóng,
trường học, y tế, chợ, không
gian công cộng và khu công
nghiệp.Ưu tiên: Nhóm nhạy
2027-2030
Chủ trì: Sở NN&MT
Phối hợp: Y tế, giáo dục,
UBND địa phương, Sở Xây
Nguồn lực: ODA, xã hội hóa, hỗ trợ quốc
tế.Chỉ tiêu: Ít nhất 02 giải pháp được
triển khai
213
cảm và lao động ngoài trời
dựng.
Triển khai chính sách hỗ
trợ khôi phục sản xuất
nông nghiệp
Phạm vi: Khu vực bị thiệt
hại do thiên tai.
Hằng năm
Chủ trì: Sở NN&MT.
Phối hợp: Sở Tài chính, địa
phương
Nguồn: [PL III-I.11].Nguồn lực: Ngân
sách hỗ trợ theo quy định.Chỉ tiêu: Hỗ trợ
đúng đối tượng, đúng thời hạn
Bảo vệ rừng phòng hộ
và phòng cháy chữa
cháy rừng
Phạm vi: A Lưới, Nam
Đông, Bình Điền, Phú Lộc
và rừng ven biển.
2026-2030; cao
điểm mùa khô
Chủ trì: Sở NN&MT.Phối
hợp: Kiểm lâm, địa phương,
chủ rừng
Nguồn: [PL III-IV.1 + MỚI].Nguồn lực:
Ngân sách lâm nghiệp, PCCC rừng.Chỉ
tiêu: Khu vực nguy cơ cao có phương án
và lực lượng trực
Hệ thống cấp nước qua
phá khu vực Phú Vinh
Phạm vi: Phú Vinh và khu
vực qua phá.
2028-2031
Chủ đầu tư được giao; phối
hợp địa phương
Nguồn: [PL II-02].Vốn: 160 tỷ đồng.Chỉ
tiêu: Tưới khoảng 270 ha, tạo nguồn
khoảng 240 ha
Nâng cấp hồ chứa nước
Hòa Mỹ
Phạm vi: Phong Điền và
vùng hưởng lợi.
2026-2028
Chủ đầu tư được giao; phối
hợp Phong Điền
Nguồn: [PL II-18].Vốn: 35 tỷ đồng.Chỉ
tiêu: Nâng cao khả năng cấp nước khoảng
603 ha
Đầu tư hệ thống cấp
nước vùng cát ven biển
Phạm vi: Các vùng cát ven
biển thiếu nguồn nước ổn
định.
2026–2030
Chủ trì: Sở NN&MT, Sở
Tài chính.
Phối hợp: Ban quản lý dự
án, đơn vị cấp nước và địa
phương
Nguồn: [PL III-IV.1].Nguồn lực: Ngân
sách Trung ương, thành phố, ODA và
nguồn hợp pháp khác.C hỉ tiêu: Hoàn
thành rà soát nhu cầu, phạm vi phục vụ,
chuẩn bị đầu tư và triển khai theo khả
năng vốn; đối chiếu với PL II-02 để tránh
trùng phạm vi
Nhóm giải pháp nội dung 07: Bảo đảm khả năng chống chịu và tính liên tục của hạ tầng, dịch vụ thiết yếu
Nhiệm vụ
Phạm vi và đối tượng ưu tiên
Thời gian
Trách nhiệm
Nguồn lực/chỉ tiêu đề xuất
Nâng cấp cơ sở vật
chất, trang thiết bị y tế
đáp ứng PCTT
Phạm vi: Hệ thống cơ sở y tế
thành phố và cấp xã. Ưu tiên: 25
cơ sở trong vùng rủi ro cao và 72
cơ sở cấp xã chưa có điện dự
phòng
2026-2030
Chủ trì: Sở Y tế.
Phối hợp: Sở Tài chính,
địa phương
Nguồn: [PL III-IV.10].Nguồn lực: Đầu tư
công, ngân sách y tế. Chỉ tiêu: Đến 2030,
100% cơ sở y tế vùng rủi ro cao có điện
dự phòng và cơ sở vật chất đáp ứng yêu
cầu PCTT
Nâng cấp cơ sở giáo
dục; triển khai trường
học an toàn đáp ứng
yêu cầu PCTT
Phạm vi: Các cơ sở giáo dục. Ưu
tiên: 128 trường trong vùng rủi ro
cao; trường mầm non, tiểu học và
trường làm điểm sơ tán
2026-2030
Chủ trì: Sở Giáo dục và
Đào tạo.
Phối hợp: Sở Xây
dựng, địa phương
Nguồn: [PL III-IV.9, V.4].Nguồn lực:
Đầu tư công, ngân sách giáo dục.Chỉ tiêu:
Kiểm tra và nâng cấp 100% trường trong
vùng rủi ro cao
Nâng cấp hệ thống điện
lực đáp ứng yêu cầu
PCTT
Phạm vi: Lưới điện toàn thành
phố.
2026-2030
Chủ trì: Sở Công
Thương, Điện lực thành
phố.
Phối hợp: Các ngành,
địa phương
Nguồn: [PL III-IV.11].Nguồn lực: Vốn
ngành điện và nguồn hợp pháp.Chỉ tiêu:
Ưu tiên gia cố và khôi phục các tuyến cấp
cho dịch vụ thiết yếu đáp ứng yêu cầu
PCTT
Phát triển viễn thông
bền vững đáp ứng yêu
cầu PCTT
Phạm vi: Trạm BTS, tuyến
truyền dẫn và mạng liên lạc dự
phòng.
2026-2030
Chủ trì: Sở KH&CN.
Phối hợp: Doanh
nghiệp viễn thông
Nguồn: [PL III-III.8 + MỚI]. Nguồn lực:
Doanh nghiệp và ngân sách phù hợp.Chỉ
tiêu: Đầu mối thiết yếu có phương án liên
lạc dự phòng đáp ứng yêu cầu PCTT
Đầu tư Đê chắn sóng
phía Bắc cảng Chân
Mây (giai đoạn 3); thay
thế các ngầm tràn trên
các tuyến tỉnh lộ và
đường dân sinh trên địa
bàn thành phố
Phạm vi: cảng Chân Mây và ưu
tiên các vùng miền núi, vùng
ngập sâu và khu dân cư dễ bị cô
lập
2026-2030
Chủ trì: Sở Xây
dựng/Sở Tài chính.
Phối hợp: Địa phương,
Các Ban quản lý dự án
Nguồn: [PL III-IV.4 + MỚI]. Nguồn lực:
Đầu tư công, bảo trì giao thông.Chỉ tiêu:
Xử lý điểm ưu tiên theo xếp hạng rủi ro
Tăng cường năng lực
PCTT cho khu kinh tế,
khu công nghiệp
Phạm vi: Chân Mây-Lăng Cô,
Phú Bài và các khu, cụm công
nghiệp.
2026-2030
Chủ trì: Ban Quản lý
Khu kinh tế, công
nghiệp.
Phối hợp: Các sở
ngành, doanh nghiệp
Nguồn: [PL III-IV.12]. Nguồn lực:
Doanh nghiệp, ngân sách quản lý. Chỉ
tiêu: Doanh nghiệp trọng yếu có kế hoạch
duy trì hoạt động trong thiên tai
215
Nhóm giải pháp nội dung 08: Nâng cao năng lực chuẩn bị, sơ tán, cứu hộ cứu nạn và khả năng chống chịu cộng đồng
Nhiệm vụ
Phạm vi và đối tượng ưu tiên
Thời gian
Trách nhiệm
Nguồn lực/chỉ tiêu đề xuất
Lực lượng và phương tiện
Kiện toàn 40 đội xung
kích PCTT
Phạm vi: 40 xã, phường.
Hằng năm
Chủ trì: UBND xã/phường.
Phối hợp: Công an, quân
sự, Sở NN&MT
Nguồn: [PL III-II.4].Nguồn lực: Ngân
sách địa phương, Quỹ PCTT.Chỉ tiêu:
40/40 đội có danh sách và phân công
Đào tạo, huấn luyện lực
lượng chuyên trách, cứu
hộ và tại chỗ
Phạm vi: Lực lượng thành phố
và cấp xã.
Ưu tiên: Cứu hộ trên nước, sạt
lở, sơ cấp cứu, thông tin và vận
hành phương tiện
Thường
xuyên
Chủ trì: Bộ Chỉ huy Quân
sự, Công an, Sở NN&MT.
Phối hợp: Các ngành, địa
phương
Nguồn: [PL III-II.5].Nguồn lực: Ngân
sách đào tạo.Chỉ tiêu: Lực lượng ưu
tiên được tập huấn theo loại hình rủi ro
Tổ chức diễn tập cho 40
đội xung kích
Phạm vi: 40 xã, phường.
Ưu tiên: Địa bàn rủi ro cao,
kịch bản đa thiên tai và gián
đoạn dịch vụ
Hằng năm
Chủ trì: Bộ Chỉ huy Quân
sự, Công an, Sở NN&MT,
UBND địa phương
Nguồn: [PL III-II.6].Nguồn lực: Ngân
sách diễn tập.Chỉ tiêu: Xã rủi ro cao 01
lần/năm; nơi khác 01 lần/02 năm
Rà soát, diễn tập
phương án khẩn cấp hồ
thủy lợi, thủy điện
Phạm vi: Hồ, đập và vùng hạ
du.
Thường
xuyên
Chủ trì: Sở Công Thương,
Sở NN&MT.
Phối hợp: Chủ đập, địa
phương
Nguồn: [PL III-II.7].Nguồn lực: Chủ
đập và ngân sách ngành.Chỉ tiêu:
100% công trình thuộc diện quy định
thực hiện
Đào tạo điều khiển
phương tiện thủy nội
địa
Phạm vi: Lực lượng cứu hộ và
người vận hành phương tiện.
Từ quý
II/2026; hằng
năm
Chủ trì: Bộ Chỉ huy Quân
sự.
Phối hợp: Trường Cao
đẳng Huế, địa phương
Nguồn: [PL III-II.8].Nguồn lực: Ngân
sách đào tạo.Chỉ tiêu: Người vận hành
được đào tạo, cấp chứng chỉ phù hợp
Xây dựng Đề án nâng
cao năng lực phòng thủ
dân sự và tìm kiếm cứu
nạn
Phạm vi: Lực lượng quân sự
địa phương, dân quân tự vệ và
dự bị động viên.
Năm 2026;
triển khai
2026-2030
Chủ trì: Bộ Chỉ huy Quân
sự thành phố.
Phối hợp: Sở Tài chính, Sở
Tư pháp, các ngành
Nguồn: [PL III-I.10].Nguồn lực: Ngân
sách quốc phòng, PTDS.Chỉ tiêu: Đề
án được phê duyệt và triển khai
Đầu tư phương tiện, vật
tư tìm kiếm cứu nạn
Phạm vi: Thành phố và cấp xã.
Ưu tiên: Vùng ngập, miền núi,
ven biển và khu vực có nguy
cơ cô lập
2026-2030
Chủ trì: Ban Chỉ huy
PTDS, Công an.
Phối hợp: Các ngành, địa
phương
Nguồn: [PL III-IV.6, IV.7].Nguồn lực:
Đầu tư công, quốc phòng-an ninh, Quỹ
PCTT.Chỉ tiêu: Trang bị theo mức rủi
ro địa bàn
Chuẩn hóa danh mục
thiết bị PCTT và kiểm
kê thiết bị
Phạm vi: Toàn bộ phương tiện,
thiết bị PCTT cấp thành phố và
xã.
2026-2027;
cập nhật
hằng năm
Chủ trì: Ban Chỉ huy
PTDS, Sở NNMT, UBND
địa phương.
Phối hợp: Các lực lượng
Nguồn: [Quyết định 1966/QĐ-
UBNDngày 15/6/2026].Nguồn lực:
Chi thường xuyên, hỗ trợ quốc tế.Chỉ
tiêu: Danh mục trang thiết bị được
chuẩn hóa, kiểm kê và cập nhật
Năng lực sơ tán
Kiểm tra, định vị và
phân loại các điểm sơ
tán; kiểm tra sức
chứa/nhu cầu
Phạm vi: Toàn thành phố.Ưu
tiên: Điểm tại ven biển, vùng
ngập sâu, miền núi; điểm tiếp
nhận người khuyết tật, người
cao tuổi và trẻ em
2026-2027
Chủ trì: Sở NN&MT.
Phối hợp: Sở Xây dựng,
UBND xã/phường, Sở Y tế
Nguồn lực: Ngân sách địa phương,
Quỹ PCTT, hỗ trợ quốc tế.Chỉ tiêu:
100% điểm cấp xã được định vị, kiểm
tra, phân loại; Xác định thiếu hụt sức
chứa.
Nâng cấp điều kiện tại
điểm sơ tán ưu tiên
Phạm vi: Các điểm được xác
định sử dụng thực tế.
Ưu tiên: Nước, vệ sinh, bếp,
điện, thông tin, y tế và tiếp cận
xe lăn
2027-2030
Chủ trì: UBND địa
phương.
Phối hợp: Sở Xây dựng, Sở
Y tế, Sở NN&MT
Nguồn: [PL III-IV.1, IV.5 ].Nguồn
lực: Đầu tư công, ngân sách địa
phương, Quỹ PCTT, hỗ trợ quốc tế.Chỉ
tiêu: 100% điểm ưu tiên đạt điều kiện
tối thiểu về điện, nước, vệ sinh, y tế,
tiếp cận cho người khuyết tật
Tăng cường năng lực và nhận thức cho cộng đồng
Tuyên truyền về PCTT
qua báo chí, thông tin
cơ sở và cộng đồng
Phạm vi: Toàn thành phố. Ưu
tiên: Vùng sâu, vùng xa, ven
biển, miền núi; người cao tuổi,
người khuyết tật, người tạm trú
2026-2030
Chủ trì: Sở Văn hóa và Thể
thao.
Phối hợp: Báo và Phát
thanh truyền hình Huế, địa
phương
Nguồn: [PL III-V.2].Nguồn lực: Ngân
sách truyền thông. Chỉ tiêu: Có kế
hoạch truyền thông hằng năm theo rủi
ro và đối tượng
Lồng ghép PCTT trong
Phạm vi: Các cấp học và cơ sở
2026-2030
Chủ trì: Sở Giáo dục và
Nguồn: [PL III-V.3].Nguồn lực: Ngân
217
hoạt động giáo dục và
phương án PCTT cho
trường học
giáo dục.Ưu tiên: Trường
trong vùng rủi ro cao, mầm
non, tiểu học và trường làm
điểm sơ tán
Đào tạo.
Phối hợp: Các ngành, địa
phương
sách giáo dục. Chỉ tiêu: Cơ sở giáo dục
có phương án phù hợp
Triển khai mô hình
trường học an toàn; tập
huấn, diễn tập PCTT
Phạm vi: Các trường học.
Ưu tiên: 128 trường trong
vùng rủi ro cao và các trường
là điểm sơ tán
2026-2030
Chủ trì: Sở Giáo dục và
Đào tạo
Nguồn: [PL III-V.4].Nguồn lực: Ngân
sách giáo dục, hỗ trợ quốc tế. Chỉ tiêu:
Ưu tiên triển khai tại trường rủi ro cao
Tập huấn sơ cấp cứu và
xử lý tình huống khẩn
cấp
Phạm vi: Cộng đồng, trường
học, điểm sơ tán và lực lượng
tại chỗ.
Ưu tiên: Vùng ngập, miền núi,
ven biển và nơi xa cơ sở y tế
2026-2030
Chủ trì: Sở Y tế, Hội Chữ
thập đỏ.
Phối hợp: Địa phương,
trường học
Nguồn: [PL III-V.5].Nguồn lực: Ngân
sách y tế, Hội Chữ thập đỏ.Chỉ tiêu:
Mỗi xã, phường có lực lượng được tập
huấn
Thực hiện Đề án quản
lý rủi ro dựa vào cộng
đồng
Phạm vi: Toàn thành phố.
2026-2030
Chủ trì: Sở NN&MT.
Phối hợp: Các sở ngành,
địa phương
Nguồn: [PL III-V.6].Nguồn lực: Ngân
sách, Quỹ PCTT, dự án quốc tế. Chỉ
tiêu: Ưu tiên bao phủ cộng đồng rủi ro
cao
Tăng cường áp dụng
truyền thông truyền
thống và tri thức bản địa
trong PCTT
Phạm vi: Cộng đồng miền núi,
ven biển và vùng nông thôn.
2026-2030
Chủ trì: UBND xã/phường.
Phối hợp: Các sở ngành
Nguồn: [PL III-V.7].Nguồn lực: Ngân
sách địa phương.Chỉ tiêu: Lồng ghép
vào truyền thông và phương án
Tập huấn pháp luật,
chính sách và kỹ năng
PCTT
Phạm vi: Cán bộ, đảng viên,
thôn, tổ dân phố và người dân.
Hằng năm
Chủ trì: Các sở, cơ quan,
UBND xã/phường
Nguồn: [PL III-V.8, V.9].Nguồn lực:
Chi thường xuyên.Chỉ tiêu: Ưu tiên
cán bộ cơ sở và cộng đồng rủi ro cao
Lập sơ đồ rủi ro, tuyến
sơ tán
Phạm vi: Xã, phường, thôn, tổ
dân phố vùng rủi ro cao.
2027-2030
Chủ trì: UBND xã/phường.
Phối hợp: Sở NN&MT, tổ
chức cộng đồng
Nguồn lực: Quỹ PCTT, hỗ trợ quốc tế.
Chỉ tiêu: tối thiểu 50% xã/phường
vùng rủi ro cao có sơ đồ tuyến sơ tán
Nhóm giải pháp nội dung 09: Huy động nguồn lực và tăng cường hợp tác
Nhiệm vụ
Phạm vi và đối tượng ưu
tiên
Thời gian
Trách nhiệm
Nguồn lực/chỉ tiêu đề xuất
Kiện toàn Ban Vận
động Quỹ Cứu trợ
Phạm vi: Toàn thành phố.
Thường xuyên
Chủ trì: Ủy ban MTTQ
Việt Nam thành phố.
Phối hợp: Các sở ngành,
địa phương
Nguồn: [PL III-I.13].Nguồn lực:
Nguồn cứu trợ theo quy định.Chỉ tiêu:
Công khai tiếp nhận, phân phối
Triển khai chính sách
trợ giúp xã hội
Phạm vi: Người dân bị ảnh
hưởng thiên tai.Ưu tiên: Đối
tượng bảo trợ xã hội, người
khuyết tật, người cao tuổi,
trẻ em và người mất nơi ở
Thường xuyên
Chủ trì: Sở Y tế/cơ quan
được giao.
Phối hợp: Sở Tài chính, địa
phương
Nguồn: [PL III-I.14].Nguồn lực: Ngân
sách trợ giúp xã hội.Chỉ tiêu: Hỗ trợ
đúng đối tượng, chế độ
Hoàn thiện Quỹ PCTT
thành phố
Phạm vi: Toàn thành phố.
Năm 2026; vận
hành thường
xuyên
Chủ trì: Sở NN&MT.
Phối hợp: Sở Tài chính, các
ngành, địa phương
Nguồn: [PL III-II.9].Nguồn lực: Quỹ
PCTT.Chỉ tiêu: Quỹ được kiện toàn,
thu-chi đúng quy định
Thành lập Quỹ Phòng
thủ dân sự
Phạm vi: Cấp thành phố.
Năm 2026
hoặc theo tiến
độ pháp lý
Chủ trì: Sở Tài chính.
Phối hợp: Bộ Chỉ huy Quân
sự
Nguồn: [PL III-II.10].Nguồn lực:
Theo quy định.Chỉ tiêu: Hoàn thành
thủ tục khi đủ căn cứ pháp lý
Cân đối vốn đầu tư
công, kinh phí sự
nghiệp và các nguồn
hợp pháp
Phạm vi: Toàn bộ chương
trình, nhiệm vụ, dự án của
Kế hoạch.
Năm 2026 và
các năm tiếp
theo
Chủ trì: Sở Tài chính.
Phối hợp: Các sở ngành,
địa phương
Nguồn: [PL III-IV.13].Nguồn lực:
Trung ương, thành phố, Quỹ PCTT,
ODA.Chỉ tiêu: Nhiệm vụ được lập dự
toán và phân loại nguồn
Triển khai dự án khẩn
cấp PCTT và khắc phục
hậu quả
Phạm vi: Điểm xảy ra sự cố
hoặc đe dọa trực tiếp. Ưu
tiên: Tính mạng, nhà ở, giao
thông, y tế, hồ đập, điện,
Khi phát sinh,
2026-2030
Chủ trì: Chủ đầu tư được
giao.
Phối hợp: Sở Tài chính, các
Nguồn: [PL III-IV.8].Nguồn lực: Dự
phòng ngân sách, Trung ương hỗ
trợ.Chỉ tiêu: Xử lý kịp thời điểm nguy
hiểm trực tiếp
219
nước và viễn thông
ngành, địa phương
Xây dựng quy chế phối
hợp, chia sẻ thông tin
vận hành hồ A Lưới và
A Lin 3 với tỉnh Sê
Kông, Lào
Phạm vi: Hồ A Lưới và A
Lin 3
2026-2030
Chủ trì: Sở Công Thương,
Sở Ngoại vụ, Sở NN&MT
Phối hợp: Các chủ đập
Nguồn nội dung: [PL III-VI.1]. Nguồn
lực: Ngân sách đối ngoại, chủ hồ.
Chỉ tiêu: Có cơ chế và đầu mối chia sẻ
thông tin
Triển khai chương trình,
dự án quốc tế đã cam
kết
Phạm vi: Các địa bàn, lĩnh
vực theo dự án UNDP,
ISET, Quỹ Cộng đồng
PTTT, Luxembourg, ADB,
v.v.
2026-2030
Chủ trì: Sở NN&MT/Sở
Tài chính theo dự án.
Phối hợp: Các ngành, địa
phương
Nguồn: [PL III-VI.2, VI.3].Nguồn lực:
ODA, viện trợ. Chỉ tiêu: Hoàn thành
theo cam kết; nhân rộng kết quả phù
hợp, đảm bảo tính bền vững
Xây dựng chương trình
hợp tác và huy động hỗ
trợ quốc tế
Phạm vi: Toàn thành phố.
Ưu tiên: Cảnh báo sớm, dữ
liệu, nắng nóng, dịch vụ
thiết yếu, cộng đồng, hệ sinh
thái và dự án chưa có vốn
2026-2030
Chủ trì: Sở NN&MT.
Phối hợp: Sở Ngoại vụ, Sở
Tài chính, các ngành
Nguồn: [PL III-VI.4, VI.5.Nguồn lực:
ODA, viện trợ, hợp tác kỹ thuật.Chỉ
tiêu: Có danh mục vận động đối tác
hằng năm
Phụ lục VIII. Các bản đồ rủi ro thiên tai
VIII.1. Bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai do bão địa bàn Thành phố Huế, trường hợp: áp thấp nhiệt đới, bão cấp 8-9, bão
mạnh cấp 10, cấp 11 hoạt động trên vùng biển ven bờ
VIII.2. Bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai do bão địa bàn Thành phố Huế, trường hợp: bão cấp 12-15 hoạt động trên vùng
biển ven bờ; hoặc bão từ cấp 14 trở lên hoạt động trên Biển Đông
VIII.3. Bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai do bão địa bàn Thành phố Huế, trường hợp: siêu bão từ cấp 16 trở lên hoạt động
trên vùng biển ven bờ hoặc trên đất liền
VIII.4. Bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai do lũ địa bàn Thành phố Huế, trường hợp: lũ lớn từ báo động III trở lên, gây ngập
diện rộng từ 2-4 ngày
VIII.5. Bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai do lũ địa bàn Thành phố Huế, trường hợp: lũ cực đoan, nhiều đỉnh và kéo dài
tương tự năm 2025
VIII.6. Bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai do lũ quét, sạt lở đất Thành phố Huế
VIII.7. Bản đồ các vị trí có nguy cơ sạt lở bờ sông, bờ biển Thành phố Huế
221
Phụ lục VIII. Các bản đồ rủi ro thiên tai
VIII.1. Bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai do bão địa bàn Thành phố Huế, trường hợp: áp thấp nhiệt đới, bão cấp 8-9, bão
mạnh cấp 10, cấp 11 hoạt động trên vùng biển ven bờ
VIII.2. Bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai do bão địa bàn Thành phố Huế, trường hợp: bão cấp 12-15 hoạt động trên vùng
biển ven bờ; hoặc bão từ cấp 14 trở lên hoạt động trên Biển Đông
223
VIII.3. Bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai do bão địa bàn Thành phố Huế, trường hợp: siêu bão từ cấp 16 trở lên hoạt động
trên vùng biển ven bờ hoặc trên đất liền
VIII.4. Bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai do lũ địa bàn Thành phố Huế, trường hợp: lũ lớn từ báo động III trở lên, gây ngập
diện rộng từ 2-4 ngày
225
VIII.5. Bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai do lũ địa bàn Thành phố Huế, trường hợp: lũ cực đoan, nhiều đỉnh và kéo dài tương
tự năm 2025
VIII.6. Bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai do lũ quét, sạt lở đất Thành phố Huế
227
VIII.7. Bản đồ các vị trí có nguy cơ sạt lở bờ sông, bờ biển Thành phố Huế

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Quyết định 3279/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Huế phê duyệt Kế hoạch phòng chống thiên tai thành phố Huế giai đoạn 2026-2030

văn bản tiếng việt

downloadQuyết định 3279/QĐ-UBND (Bản PDF)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

văn bản TIẾNG ANH

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

  • Văn bản cùng chủ đề

văn bản cùng lĩnh vực

văn bản mới nhất

CHÍNH SÁCH BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN
Yêu cầu hỗ trợYêu cầu hỗ trợ
Chú thích màu chỉ dẫn
Chú thích màu chỉ dẫn:
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng các màu sắc:
Sửa đổi, bổ sung, đính chính
Thay thế
Hướng dẫn
Bãi bỏ
Bãi bỏ cụm từ
Bình luận
Click vào nội dung được bôi màu để xem chi tiết.
×