• Tổng quan
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung hợp nhất 

    Tính năng này chỉ có tại LuatVietnam.vn. Nội dung hợp nhất tổng hợp lại tất cả các quy định còn hiệu lực của văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính... trên một trang. Việc hợp nhất văn bản gốc và những văn bản, Thông tư, Nghị định hướng dẫn khác không làm thay đổi thứ tự điều khoản, nội dung.

    Khách hàng chỉ cần xem Nội dung hợp nhất là có thể nắm bắt toàn bộ quy định hiện hành đang áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

    =>> Xem hướng dẫn chi tiết cách sử dụng Nội dung hợp nhất

  • Tải về
Lưu
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Theo dõi VB
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Ghi chú
Báo lỗi
In

Quyết định 315/QĐ-UBND TP Hồ Chí Minh 2026 phê duyệt Đề án phát triển Đô thị Khoa học công nghệ Bắc TP

Ngày cập nhật: Thứ Sáu, 16/01/2026 16:09 (GMT+7)
Cơ quan ban hành: Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Số công báo:
Số công báo là mã số ấn phẩm được đăng chính thức trên ấn phẩm thông tin của Nhà nước. Mã số này do Chính phủ thống nhất quản lý.
Đang cập nhật
Số hiệu: 315/QĐ-UBND Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Quyết định Người ký: Nguyễn Mạnh Cường
Trích yếu: Phê duyệt Đề án phát triển “Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh”
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
14/01/2026
Ngày hết hiệu lực:
Ngày hết hiệu lực là ngày, tháng, năm văn bản chính thức không còn hiệu lực (áp dụng).
Đang cập nhật
Áp dụng:
Ngày áp dụng là ngày, tháng, năm văn bản chính thức có hiệu lực (áp dụng).
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Lĩnh vực: Khoa học-Công nghệ

TÓM TẮT QUYẾT ĐỊNH 315/QĐ-UBND

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải Quyết định 315/QĐ-UBND

Tải văn bản tiếng Việt (.pdf) Quyết định 315/QĐ-UBND PDF (Bản có dấu đỏ)

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: /QĐ-UBND
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2026
QUYẾT ĐỊNH
Phê duyệt Đề án phát triển “Đô thị Khoa học công nghệ -
Bắc Thành phố Hồ Chí Minh
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2025;
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ Luật Tổ chức
chính quyền địa phương ngày 22 tháng 11 năm 2019;
Căn cứ Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính
trị về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;
Căn cứ Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2023 Nghị quyết
số 260/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội về tđiểm một số
cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh;
Xét đề nghị của Sở Khoa học Công nghệ tại Tờ trình số 149/TTr-SKHCN
ngày 09 tháng 01 năm 2026 về việc xem xét, phê duyệt Đề án phát triển Đô thị
Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Đề án phát triển “Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc
Thành phố Hồ Chí Minh” (Chi tiết nội dung Đề án đính kèm).
Điều 2. Tổ chức thực hiện.
1. Sở Khoa học Công nghệ quan thường trực, theo dõi, đôn đốc,
tổng hợp tình hình triển khai Đề án;
2. Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HIDS) chủ trì,
phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ và các sở, ban, ngành liên quan trong việc
nghiên cứu, đề xuất hình phát triển Đô thị Khoa học công nghệ; xây dựng,
hoàn thiện các chế, chính sách đặc thù; tham gia đánh giá, giám sát tác động
kinh tế - xã hội của Đề án trong quá trình triển khai;
3. Sở Tài chính chủ trì tham mưu các chế tài chính, quản tài sản công,
tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư chiến lược và bố trí nguồn lực thực hiện Đề án.
Điều 3. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố, Thủ trưởng các
315
14
01
2
sở, ban, ngành Thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các phường, xã, đặc khu
Thủ trưởng các quan, đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định
này. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký./.
Nơi nhận:
- Bộ Khoa học và Công nghệ;
- Thường trực Thành ủy;
- Thường trực HĐND TP;
- TTUB: CT, các PCT;
- Như Điều 3;
- VPUB: CVP, các PCVP;
- Phòng: VX, ĐT, DA, KT, TH;
- Lưu: VT, (VX/VT).
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PH CHỦ TỊCH
Nguyễn Mạnh Cưng
ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN
ĐÔ THỊ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ - BẮC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(Kèm Quyết định số /QĐ-UBND ngày tháng năm 2026
của Ủy ban nhân dân Thành phố)
I. TÓM TẮT TỔNG QUAN
Đề án phát triển “Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố
Hồ Chí Minh” (sau đây được gọi tắt Đề án) Đề án mang tính định hướng
chiến lược của Thành phố Hồ Chí Minh trong việc hình thành định danh một
không gian phát triển khoa học công nghệ quy lớn, gắn trực tiếp với hành lang
sản xuất công nghệ, dịch vụ chất lượng cao tại khu vực phía Bắc Tây Bắc
Thành phố. Đề án nhằm tạo dựng một cực tăng trưởng mới dựa trên khoa học
công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức, góp phần nâng cao năng lực cạnh
tranh dài hn vai trò đầu tàu của Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn
phát triển mới.
Đề án là bước cụ thể hóa các chủ trương lớn của Trung ương, đặc biệt
Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số; đồng thời phát huy tối đa không gian phát triển mới của Thành phố
Hồ Chí Minh sau sáp nhập, hướng tới hình siêu đô thị đa cực, đa trung tâm,
siêu kết nối, trong đó mỗi khu vực được phân vai chức năng rõ ràng nhưng có sự
liên kết và cộng hưởng chặt chẽ.
Trong cấu trúc đó, Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố
Hồ Chí Minh được định vị một cực khoa học công nghệ - đổi mới sáng tạo
quy lớn gắn liền với sản xuất công nghệ cao, đóng vai trò “bộ não khoa học
công nghệ” của vùng sản xuất công nghệ cao phía Bắc Tây Bắc Thành phố.
Đây đồng thời là không gian thí điểm lý tưởng cho các cơ chế sandbox, cho phép
thử nghiệm có kiểm soát các công nghệ mới, mô hình quản trị và chính sách mới
gắn với các ngành, sản phẩm chiến lược quốc gia.
Đề án tổ chức không gian phát triển theo cấu trúc tích hp gồm: (i) Vùng
lõi trung tâm tại phường Bình Dương, quy khoảng 220 ha (mở rộng thêm
khoảng 103 ha), tập trung các hoạt động nghiên cứu - phát triển, thử nghiệm
công nghệ, đào tạo, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ; và (ii) Vành đai
phát triển công nghệ cao, bao gồm c Khu công nghiệp Khoa học công nghệ
quy ln như Bình Dương Riverside, Lai Hưng, Cây Trường, VSIP III, tạo
không gian hiện thực hóa các kết quả nghiên cứu thông qua sản xuất thử sản
xuất hàng loạt. Việc đặt “bộ não khoa học công nghệ” liền kề không gian sản xuất
công nghệ cao giúp rút ngắn chu trình từ nghiên cứu đến thương mại hóa, tạo khác
biệt căn bản so với các mô hình phát triển khoa học công nghệ tách rời sản xuất.
315
14
01
2
Trên nền tảng các chế, chính sách đặc thù theo Nghị quyết số
98/2023/QH15 và Nghị quyết số 260/2025/QH15, Đề án đề xuất mô hình quản lý
theo chế “một cửa” thông qua Ban Quản Phát trin Đô thị Khoa học công
nghệ; áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox); đồng thời huy động và
sử dụng linh hoạt các nguồn lực công - tư, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo
đầu nền tảng, doanh nghiệp tham gia triển khai vn hành theo chuẩn mực
quốc tế.
Một lợi thế nổi bật của Đề án tính sẵn sàng cao trong triển khai, khi
khu vực Thành phố mới Bình Dương đã được đầu đồng bộ về hạ tầng đô thị,
giao thông, năng lượng, công trình công cộng hsinh thái đổi mới sáng tạo
trong hơn một thập kỷ qua. Nhiều công trình, tiêu biểu là Trung tâm Hành chính
tỉnh Bình Dương (cũ), thể được chuyển đổi công năng đưa vào khai thác
ngay, cho phép kích hoạt nhanh các hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới
sáng tạo và sử dụng hiệu quả tài sản công.
Trên cơ sở đó, Các nhà đầu chiến lược tim lực sẽ đóng vai trò cụ thể
hóa Đề án, cùng với các đối tác chiến lược uy tín trong ngoài nước như
Sembcorp (VSIP), Tokyu Group Warburg Pincus, nhằm bảo đảm năng lực
triển khai, chuẩn mực vận hành và khả năng kết nối nguồn lực toàn cầu.
Hướng tới kỷ niệm 30 năm hợp tác Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore
(VSIP) giai đoạn 1996-2026, Đề án phát triển “Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc
Thành phố Hồ Chí Minh” được định vị là dự án mang ý nghĩa biểu tượng và tầm
quan trọng chiến lược. Đề án bước cthể hóa tầm nhìn VSIP 2.0 mà Chính phủ
Việt Nam Singapore cùng kvọng, tiếp tục tiên phong thử nghiệm các hình
phát triển công nghiệp khoa học công nghệ mới, đáp ứng yêu cầu của thời đại và
tạo ra những đột phá phát triển trong bối cảnh siêu đô thị Thành phố Hồ Chí Minh
đang được hình thành.
1. Điểm khác biệt và giá trị cốt lõi của Đề án
Đề án lựa chọn cách tiếp cận đặt “bộ não khoa học công nghệ, đổi mới
sáng tạo” ngay trong vùng sản xuất công nghệ cao quy lớn, được bao quanh
trực tiếp bởi hệ thống các Khu công nghiệp Khoa học công nghệ thế hệ mới như
Riverside, Lai Hưng, Cây Trường VSIP III, qua đó rút ngắn tối đa chu trình từ
nghiên cứu - phát triển, thử nghiệm, chuyển giao đến sản xuất và thương mại hóa.
Đây sự khác biệt căn bản so với các hình phát triển khoa học công nghệ
tách rời không gian sản xuất, vốn đang bộc lnhiều hạn chế trong việc tạo ra
giá trị gia tăng và lan tỏa công nghệ.
2. Định vị chiến lược và ý nghĩa chính tr- chiến lược
Đô thị Khoa học công nghệ phía Bắc Thành phố Hồ Chí Minh được
định vị một cực khoa học công nghệ - đổi mới sáng tạo mới, chức năng
bổ trợ và phân vai rõ ràng với khu vực trung tâm đô thị hiện hữu. Trong khi khu
vực trung tâm tiếp tục phát huy vai trò trung tâm tài chính, dịch vụ cao cấp,
văn hóa và sáng tạo, Đô thị Khoa học công nghệ phía Bắc sẽ đảm nhận vai trò
hạt nhân nghiên cứu - phát triển, đào tạo nhân lực chất lượng cao và đổi mới sáng
tạo gắn với sản xuất công nghệ cao.
3
Đề án có ý nghĩa chính tr- chiến lược sâu sắc khi cụ thể hóa trực tiếp các
chủ trương lớn của Trung ương về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới
sáng tạo chuyển đổi số; đồng thời thể hiện tinh thần chủ động, tiên phong
dám đột phá của Thành phố Hồ Chí Minh trong việc thử nghiệm các hình
phát triển mới trên cơ sở các cơ chế đặc thù đã được Quốc hội cho phép.
3. Mô hình không gian và cấu trúc phát triển
Đề án tổ chức không gian phát triển theo cấu trúc tích hp gồm: (i) Vùng
lõi đổi mới sáng tạo - nơi tập trung các hoạt động R&D, đào tạo, khi nghiệp và
thử nghiệm công nghệ; (ii) các vành đai sản xuất công nghệ cao - nơi hiện thực
hóa các kết quả nghiên cứu thông qua sản xuất thử sản xuất quy lớn;
(iii) hệ thống kết nối đa tầng về giao thông, logistics và hạ tầng số.
Trong đó, một số dự án công trình hạt nhân giữ vai trò kích hoạt ban đầu
cho toàn bộ hệ sinh thái, bao gồm: Khu Công nghệ số tập trung Thành phố
Hồ Chí Minh (khoảng 100 ha) Khu Công nghệ số tập trung Bình Dương (15ha)
- không gian tích hợp nghiên cứu phát triển, đổi mới sáng tạo sản xuất
tiên tiến, đóng vai trò hạt nhân sản xuất và ứng dụng, kết nối trực tiếp với trung
tâm đào tạo (các Đại học) và vành đai sản xuất công nghệ cao khu vực phía Bắc,
bao gồm chuỗi khu công nghiệp thông minh VSIP và các Khu Công nghệ số tập
trung quy lớn tại khu vực này; Khu phức hợp Khoa học Công nghệ (20 ha)
với hạt nhân Trung tâm Hành chính tỉnh Bình Dương (cũ) dự kiến được chuyển
đổi công năng thành Tòa nhà Khoa học Công nghệ; Trung tâm Khám phá
Khoa học phục vụ go dục STEM lan tỏa tri thức; khuôn viên đào tạo - nghiên
cứu, BWID Supply Chain City, WTC Tower & Expo cho xúc tiến thương mại,
MICE và kết nối quốc tế; cùng các không gian hỗ trợ như công viên sinh thái
khoa học và hạ tầng số tập trung.
Việc tận dụng và chuyển đổi công năng các công trình hiện hữu theo
hình hợp tác công - cho phép đưa các thiết chế khoa học công nghệ vào
khai thác nhanh, sử dụng hiệu quả tài sản công đạt chuẩn mực quốc tế trong
vận hành.
4. Hệ sinh thái khoa học công nghệ và các thành tố phát triển
Hệ sinh thái khoa học công nghệ - đổi mới sáng tạo của Đề án được
xây dựng trên nền tảng các chương trình, dự án thiết chế bước đầu đã được
đầu tư, vận hành theo chuẩn mực quốc tế trong thời gian qua, đồng thời được
tăng tốc và nâng tầm khi Thành phố H Chí Minh chp thuận chủ trương
hình thành Đô thị Khoa học công nghệ.
Kế thừa phát huy mạng lưới đối tác học thuật - công nghệ quốc tế uy tín,
bao gồm A*STAR ARTC (Singapore) trong lĩnh vực sản xuất tiên tiến;
Fraunhofer ENAS (Đức) về vi điện tử và hệ thống thông minh; Singapore
Polytechnic, NUS NUS Enterprise, ITRI ài Loan (Trung Quốc)), cùng các
trường đại học viện nghiên cứu trong nước như Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh, Đi học Việt Đức, Đại học Quốc tế Miền Đông, vv... Đây các
đối tác nòng cốt bảo đảm chiều sâu học thuật, năng lực R&D và khả năng kết nối
với mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu.
4
Song song đó, được hậu thuẫn bởi mạng lưới đối tác phát triển hạ tầng - tài
chính - đô thị uy tín quốc tế như VSIP, Sembcorp, Tokyu, Warburg Pincus,
CapitaLand các nhà đầu chiến lược khác. Sự tham gia của các đối tác này
góp phần nâng cao tính khả thi, chuẩn mực quản trị sức hấp dẫn quốc tế của
Đô thị Khoa học công nghệ.
5. Cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện
Đề án đxuất sử dụng các chế đặc thù theo Nghị quyết số 98/2023/QH15
Nghị quyết số 260/2025/QH15 để rút ngắn thủ tục, phân cấp mạnh mẽ
thử nghiệm các hình mới thông qua chế sandbox kiểm soát. Tiếp tục
nghiên cứu hình Ban Quản lý Phát triển Đô thị Khoa học công nghệ theo
chế “một cửa” trực thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hoặc
một bộ phận của các quan chức năng hiện tại với mục đích tạo môi trường
đầu tư - đổi mới sáng tạo thông thoáng, cạnh tranh quốc tế.
6. Hiệu quả và tác động dự kiến
Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh được kỳ vọng
trở thành động lực tăng trưởng mới dựa trên kinh tế tri thức, đóng góp quan trọng
vào GRDP, ngân sách năng lực cạnh tranh của Thành phố trong trung
dài hạn, nâng cao tỷ trọng dịch vụ giá trị gia tăng cao.
Đề án đồng thời tạo ra không gian phát triển mới cho lao động tri thức,
góp phần giảm áp lực cho khu vực nội đô và nâng cao chất lượng sống.
Về môi trường phát triển bền vững, Đề án tiên phong hiện thực hóa
hình khu công nghiệp sinh thái đô thị xanh - thông minh, đóng góp
thiết thực vào mục tiêu trung hòa carbon và nâng cao hình ảnh, vị thế quốc tế của
Thành phố Hồ Chí Minh.
Tổng thể, Đán phát trin “Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố
Hồ Chí Minh” một bước đi chiến lược, khả thi tác động lan tỏa lớn,
tạo nền tảng để Thành phố tiếp tục giữ vai trò đầu tàu đổi mới sáng to
phát triển của cả nước trong giai đoạn mới.
II. NỘI DUNG
PHẦN I. SỰ CẦN THIẾT VÀ CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1.1. Bối cảnh chiến lược yêu cầu cấp bách của chuyển đổi hình
tăng trưởng
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng với xu thế dịch chuyển chuỗi
cung ứng toàn cầu, cạnh tranh chiến lược về công nghệ cao và các cam kết mạnh
mẽ về phát triển bền vững, trung hòa carbon kinh tế xanh đang làm thay đổi
sâu sắc cấu trúc kinh tế thế giới. Trong bối cảnh đó, khoa học công nghệ, đổi mới
sáng tạo chuyển đổi số đã được xác định động lực then chốt, quyết định
khả năng tham gia sâu hơn của các quốc gia đô thị vào các chuỗi giá trị toàn
cầu ở những nấc thang cao hơn.
Đối với Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nói chung Thành phố
Hồ Chí Minh nói riêng, hình tăng trưởng dựa trên thâm dụng lao động, đất đai
5
và gia công giá trị thấp đã đóng góp quan trọng trong giai đoạn trước, song đang
bộc lộ ngày càng những giới hạn. Tốc độ tăng trưởng năng suất các yếu tố tổng
hợp (TFP) xu hướng chậm lại; khả năng mở rộng không gian đô thị lõi
ngày càng chật hẹp; áp lực lên htầng kỹ thuật, hạ tầng hội, môi trường
chất lượng sống gia tăng nhanh chóng.
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định phát triển khoa học
công nghệ, đổi mới sáng to chuyển đổi số đột phá chiến lược đđưa đt
nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Trong tổng thể đó, Thành phố Hồ Chí
Minh được kỳ vọng tiếp tục gi vai trò đầu tàu, tiên phong th nghiệm các
hình phát triển mới. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy không gian đô thị trung tâm
hiện hữu của Thành phố chỉ phù hợp để phát triển các lĩnh vực khoa học công
nghệ gắn với dịch vụ cao cấp, tài chính - ngân hàng, công nghệ tài chính, thương
mại, văn hoá sáng tạo, trong khi các hoạt động khoa học công nghệ gắn với sản
xuất công nghệ cao, bán dẫn, trung tâm dữ liệu, sản xuất tiên tiến và thử nghiệm
công nghệ quy mô lớn đòi hỏi những dư địa không gian và hạ tầng kỹ thuật hoàn
toàn khác biệt.
Trong bối cảnh đó, việc hình thành một không gian khoa học công nghệ
mới khu vực phía Bắc Thành phố Hồ Chí Minh - nơi tập trung vùng sản xuất
công nghệ cao quy mô lớn - yêu cầu mang nh tất yếu. Không gian này sẽ đảm
nhận vai trò “bộ não khoa học công nghệ”, nơi hội tụ các hoạt động nghiên cứu -
phát triển, thử nghiệm, đào tạo, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ, gắn
trực tiếp với năng lực sản xuất công nghệ cao của vùng, qua đó rút ngắn chu tnh
từ nghiên cứu đến thương mại hóa, nâng cao khả năng hấp thụ làm chủ
công nghệ của doanh nghiệp hiện hữu thu hút đầu thế hmới với giá trị
gia tăng cao.
1.2 Tầm nhìn phát triển Đô thị Khoa học công nghệ phía Bắc
Thành phố Hồ Chí Minh
Đô thị Khoa học công nghệ phía Bắc Thành phố Hồ Chí Minh được định
vị trung tâm khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo cấp vùng, đóng vai trò
“bộ não khoa học công nghệ” gắn trực tiếp với không gian sản xuất công nghệ
cao quy mô lớn của khu vực phía Bắc và Tây Bắc Thành phố. Đô thị này cũng sẽ
một trong 03 trụ cột chiến lược của Thành phố Hồ Chí Minh mới trên sở
triển khai Kế hoạch 177/KH-UBND về phát triển Hệ thống đổi mới sáng tạo, hệ
sinh thái khởi nghiệp sáng tạo (Đô thị sáng tạo phía Đông - Đô thị Khoa học công
nghệ phía Bắc - Khu thương mại tự do Phú Mỹ). Trong đó, Khu Công nghệ cao
tập trung nghiên cứu đa ngành, công viên khoa học hạt nhân của khu vực
phía Đông và khu Đô thị KHCN Bắc TP.HCM tập trung vào nghiên cứu và phát
triển (R&D) gn liền với vành đai sản xuất công nghệ cao quy mô lớn (Riverside,
VSIP III, Cây Trường...), đóng vai trò "bộ não" điều phối chuỗi sản xuất phía Bắc.
Đô thị Khoa học công nghệ phía Bắc được xác định là một cực đổi mới sáng tạo
gắn với sản xuất công nghệ cao, có chức năng bổ trợ liên thông với các khu đô
thị đổi mới sáng tạo hiện hu và dự kiến hình thành của Thành phố, dkiến s
đảm nhận vai trò hạt nhân điều phối hành lang công nghiệp công nghệ cao,
kết nối trực tiếp với chuỗi cung ứng vùng Đông Nam Bộ.
6
Đô thị Khoa học ng nghệ được định hướng phát triển theo hình tích
hợp chặt chẽ giữa đào tạo - nghiên cứu - đổi mới sáng tạo - sản xuất, trong một
không gian đô thị đáng sống, lấy nhân tài và tri thức làm trung tâm. Mục tiêu
rút ngắn chu trình từ nghiên cứu, thử nghiệm, ứng dụng đến thương mại hóa, qua
đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp hiện hữu, thúc đẩy hình thành
các ngành công nghiệp công nghệ cao mới gia tăng khả năng tham gia của Việt
Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Trên sở đó, Đô thị Khoa học công nghệ được định hướng trở thành
“living lab” không gian thử nghiệm tưởng cho doanh nghiệp công nghệ,
startup các tập đoàn toàn cầu, Thành phố vận dụng tối đa Nghị quyết số
98/2023/QH15 Nghị quyết s260/2025/QH15 cho phép triển khai sandbox thử
nghiệm công nghệ toàn diện, bao gồm các lĩnh vực gắn với các sản phẩm ngành
chiến lược quốc gia như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo dữ liệu lớn, tự động hóa -
robotics, trung tâm dữ liệu và hạ tầng tính toán hiu năng cao, UAV/drone, kinh
tế tầm thấp và sản xuất tiên tiến, trước khi mở rộng ra sản xuất quy mô lớn trong
các Khu công nghiệp Khoa học công nghệ của vùng.
1.3. Phân tích lợi thế so sánh của khu vực Bắc Thành phố Hồ CMinh
1.3.1. Hạ tầng công nghiệp và logistics vượt trội
Khu vực Bắc và Tây Bắc Thành phố Hồ Chí Minh thừa hưởng nền tảng h
tầng công nghiệp - logistics được đầu bài bản trong hơn ba thập kỷ qua. Hệ
thống các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, mạng lưới giao thông trục Bắc
Nam Đông - Tây, cùng với khả năng kết nối nhanh tới các cảng biển quốc tế
và sân bay quốc tế đã hình thành một không gian sản xuất - logistics có tính cạnh
tranh cao trong khu vực. Đây là điều kiện nền tảng để phát triển các ngành ng
nghệ cao gắn với sản xuất quy lớn, khu vực đô thị trung tâm hiện hữu
không còn khả năng đáp ứng.
1.3.2. Quỹ đất sạch quy mô lớn, sẵn sàng triển khai
Một lợi thế nổi trội của khu vực Bắc Thành phố Hồ Chí Minh quỹ đất
sạch quy mô lớn đã được quy hoạch đồng bộ, sẵn sàng tiếp nhận các dự án khoa
học công nghệ, đào tạo, nghiên cứu sản xuất công nghệ cao. Trong khi khu vực
trung tâm Thành phố gần như không còn quỹ đất sạch đủ lớn đphát triển các
khuôn viên nghiên cứu, trung tâm thử nghiệm hay nhà máy công nghệ cao, khu
vực Bắc Thành phố Hồ CMinh vẫn còn địa quý gđể hình thành một không
gian phát triển khoa học công nghệ tích hợp, có khả năng mở rộng trong trung và
dài hạn.
Đồng thời với địa chất tốt (lợi thế cho các ngành sản xuất công nghệ cao),
độ cao 30m trên mực nước biển, lợi thế năng lượng tái tạo (mặt trời và gió), Khu
vực Bắc Thành phố Hồ Chí Minh sở hữu những lợi thế ưu việt để hấp thụ chuyển
dịch chuỗi cung ứng toàn cầu.
1.3.3. nh hợp tác 3 nhà “Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp”
đã phát huy hiệu qu
Khu vực Thành phố mới Bình Dương vùng phụ cận đã hình thành những
7
nền móng quan trọng của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với sự hiện diện của các
trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu ứng dụng, phòng thí
nghiệm dùng chung, vườn ươm doanh nghiệp các tập đoàn công nghệ trong
chiến lược phát triển Thành phố Thông minh Bình Dương từ 2016. Đây tiền đề
quan trọng để nâng cấp khu vực này từ một trung tâm sản xuất công nghiệp thành
một trung tâm nghiên cứu & phát triển khoa học công nghệ gắn với sản xuất công
nghệ cao thông qua các hoạt động đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ
nuôi dưỡng những doanh nghiệp công nghệ bản địa mới, liên kết và gắn chặt với
chuỗi cung ứng toàn cầu.
1.3.4. Cam kết của nhà đầu tư chiến lược và đối tác quốc tế
Việc hình thành Đô thị Khoa học công ngh- Bắc Thành phố Hồ Chí Minh
cần được đặt trên nền tảng cam kết đồng hành của nhà đầu tư chiến lược có năng
lực triển khai, cùng với mạng lưới đối tác quốc tế uy tín trong lĩnh vực khoa học
công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển khu công nghiệp thế hệ mới theo định
hướng xanh hoá số hoá. Đây yếu tố then chốt bảo đảm tính khả thi và khả
năng triển khai thực chất của Đề án.
1.4. Ý nghĩa chính trị - chiến lược của đề án
Việc định hình Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh
mang ý nghĩa chính trị - chiến lược sâu sắc, không chỉ đối với sự phát triển của
Thành phố còn đối với vùng Đông Nam Bộ cả nước trong giai đoạn phát
triển mới.
Trước hết, Đề án là bước cụ thể hóa trực tiếp và sinh động các định hướng
lớn của Trung ương về lấy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực
chủ đạo cho tăng trưởng. Đề án chuyển hóa các nghị quyết thành một không gian
phát triển thực, nơi khoa học công nghệ được tổ chức, vận hành gắn chặt với
hoạt động sản xuất và thị trường.
Thứ hai, Đề án đóng vai trò then chốt cho Thành phố Hồ Chí Minh trong
việc tái cấu trúc không gian phát triển theo hướng đa cực, đặc biệt trong bối cảnh
sau khi sáp nhập, giảm áp lực cho khu vực đô thị trung tâm, đồng thời tạo dựng
một cực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo mới có chức năng bổ trợ và phân
vai rõ ràng. Trong khi khu vực trung tâm tiếp tục phát huy thế mạnh về tài chính,
dịch vụ cao cấp, văn hoá sáng tạo gắn với vị trí trung tâm của siêu đô thị Thành
phố Hồ Chí Minh, Đô thị Khoa học công nghệ phía Bắc sđảm nhận vai trò bộ
não khoa học công nghệ gắn với vùng sản xuất công nghệ cao, tạo nên một cấu
trúc phát triển hài hòa và bền vững.
Thứ ba, trên bình diện vùng quốc gia, Đề án góp phần hình thành một
cực khoa học công nghệ sản xuất công nghệ cao quy tầm vóc lớn
nhất phía Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh
của Việt Nam trong các ngành công nghệ chiến lược như bán dẫn, trí tu nhân tạo,
sản xuất tiên tiến, trung tâm dữ liệu, UAV kinh tế số. Trên sở Thành ph
Hồ Chí Minh đã ban hành Kế hoạch triển khai Chiến lược phát triển công nghiệp
bán dẫn Việt Nam và Chương trình Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp
8
bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050, việc bổ sung Đô thị Khoa học
Công nghệ trong bối cảnh hậu sáp nhập để cùng bổ trợ, gánh vác một trong những
nhiệm vụ trọng tâm phát triển hạ tầng svật chất cùng cần thiết
trong thu hút đầu tư lĩnh vực công nghiệp bán dn. Khu Đô thị Khoa học Công
nghệ, cùng với Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh Khu Công viên
phần mềm Quang Trung, sẽ những điểm cực quan trọng trong tổng thể không
gian phát triển đa cực của Thành phố, đảm nhiệm chức năng phát triển hạ tầng thu
hút chuỗi cung ứng bán dẫn từ hoạt động nghiên cứu phát triển (R&D), sản
xuất, đóng gói kiểm thử. Việc bổ sung sẽ tạo thêm động cơ, nguồn, lực, kết nối
quốc tế cho việc triển khai mạnh mẽ song song bổ sung cho nhau. Ngoài ra,
việc đặt bộ não khoa học công nghệ ngay trong không gian sản xuất công nghệ
cao giúp rút ngắn đáng kể chu trình đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ,
chuyển đổi sản xuất thông minh, xanh, tăng khả năng làm chủ công nghệ nâng
cao vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Cuối cùng, Đề án thể hiện rõ tinh thần chủ động, tiên phong và đột phá đi
đầu của Thành phố Hồ Chí Minh trong việc thử nghiệm các hình phát triển
mới, tận dụng hiệu quả các chế, chính sách đặc thù Trung ương đã trao,
qua đó tạo ra những giá trị phát triển cụ thể, bền vững và có sức lan tỏa lâu dài.
PHẦN II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ MÔ HÌNH
ĐÔ THỊ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ XUẤT
2.1. Bài học kinh nghiệm quốc tế trong phát triển các thành phố
khoa học công nghệ
Thực tiễn phát triển của các quốc gia và vùng lãnh thổ đi đầu về khoa học
công nghệ cho thấy, các thành phố khoa học công nghệ thành công đều không
hình thành một cách tự phát, mà là kết quả của chiến lược quốc gia vai trò kiến
tạo mạnh mẽ của Nhà nước, kết hợp với sự tham gia sâu của khu vực tư nhân và
các đối tác quốc tế.
hình Hsinchu Science Park Đài Loan (Trung Quốc) cho thấy vai trò
then chốt của việc hình thành một “bộ nãonghiên cứu – phát triển đặt cạnh vùng
sản xuất công nghệ cao. Việc gắn kết chặt chẽ giữa các viện nghiên cứu, trường
đại học doanh nghiệp sản xuất đã tạo ra hệ sinh thái bán dẫn hoàn chỉnh, cho
phép rút ngắn chu trình tnghiên cứu đến sản xuất thương mại quy lớn. Thành
công của Hsinchu không chỉ đến từ chính sách ưu đãi, quan trọng hơn từ
khả năng tổ chức không gian phát triển phù hợp với yêu cầu kỹ thuật và sản xuất
của các ngành công nghệ cao.
Tương tự, Pangyo Techno Valley (Hàn Quốc) Tsukuba Science City
(Nhật Bản) đều được quy hoạch tại các vị trí nằm ngoài khu vực đô thị trung tâm,
nơi quỹ đất đủ lớn, điều kin môi trường và kỹ thuật phù hợp để phát triển
nghiên cứu, thử nghiệm sản xut công nghệ cao. Các hình này cho thấy,
việc lựa chọn vị trí đô thị vệ tinh không phải là bất lợi, mà là điều kiện cần thiết
để hình thành các không gian khoa học công nghệ tính cạnh tranh toàn cầu,
đồng thời bảo đảm chất lượng sống cao nhằm thu hút và giữ chân nhân tài.
9
hình Brainport Eindhoven (Hà Lan) - một trong những hệ sinh thái công
nghệ cao hàng đầu châu Âu - sự đổi mới không tập trung một địa điểm duy nhất
mà được phân tán trên một mạng lưới các điểm bổ trợ cho nhau. Mặc dù khu vực
này nhiều hoạt động công nghiệp đa dạng, năm khu đô thị riêng biệt đã nổi lên
như những tiêu điểm chiến lược của sự đổi mới. Mỗi khu đô thị những đặc
điểm riêng, nguồn gốc lịch sử và trọng m ngành riêng, ng nhau tạo thành
một hệ thống liên kết trải rộng toàn bộ chuỗi nghiên cứu, phát triển và sn xuất.
Thay vì hoạt động như những khu vực biệt lập, năm khu đô thị này là những môi
trường được quản lý để giải quyết các giai đoạn khác nhau của chuỗi giá trđổi
mới công nghiệp. Sức mạnh của chúng nằm tính bổ trợ lẫn nhau - mỗi khu
đô thị chuyên về một tập hợp các hoạt động cụ thể phù hợp với các giai đoạn cụ
thể của mức độ trưởng thành công nghệ, được đo bằng Mức độ sẵn sàng về mặt
công ngh (TRL). Sự khác biệt chủ ý này đảm bảo rằng các công ty, nhà nghiên
cứu doanh nhân thể chuyển đổi liền mạch từ ý tưởng đến thị trường trong
cùng một hệ sinh thái khu vực.
Những bài học này cho thấy, để phát triển Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc
Thành phố Hồ Chí Minh thành công, cần đồng thời hội tụ ba yếu tố:
(i) lựa chọn vị trí chiến lược gắn với vùng sản xuất công nghệ cao với hệ
thống giao thông liên vùng thuận lợi;
(ii) tổ chức không gian phát triển theo chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ nghiên
cứu đến sản xuất;
(iii) vận dụng linh hoạt mô hình hợp tác công - tư nhằm khai thác hiệu quả
các tài sản hiện hữu và bảo đảm tính bền vững trong vận hành.
2.2. Quan điểm phát triển Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố
Hồ Chí Minh
Trên sở các bài học kinh nghiệm quốc tế điều kiện thực tiễn của
Thành phố Hồ Chí Minh, Đề án xác định một số quan điểm phát triển xuyên suốt
như sau:
Thứ nhất, lấy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực trung
tâm, nhưng gắn chặt với nhu cầu thực tiễn của sản xuất công nghệ cao th
trường. Đô thị Khoa học công nghệ không chỉ không gian nghiên cứu thuần
túy, nơi tổ chức toàn bộ chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo, từ nghiên cứu, thử
nghiệm, chuyển giao đến sản xuất và thương mại hóa.
Thứ hai, phát triển theo duy không gian mở liên kết vùng. Đô thị
Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh không bị giới hạn bởi địa giới
hành chính, đóng vai trò hạt nhân lan tỏa tri thức, công nghệ đổi mới
sáng tạo cho toàn bộ vùng sản xuất công nghệ cao Bắc Tây Bắc Thành phố,
cũng như vùng Đông Nam Bộ.
Thứ ba, bảo đảm tính sẵn sàng khả năng triển khai nhanh. Một đặc điểm
nổi bật của khu vực Thành phố mới Bình Dương là hệ thống hạ tầng đô thị, công
trình công cộng và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đã hình thành và đang vận hành.
Đề án ưu tiên tận dụng, chuyển đổi công năng các công trình hiện hữu, đặc biệt
10
Trung tâm Hành chính tỉnh Bình Dương (cũ), để nhanh chóng đưa vào khai thác
cho các hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, hội nghị - triển lãm
hợp tác quốc tế, qua đó rút ngắn thời gian khởi động sớm tạo ra tác động
kinh tế - xã hội.
Thứ tư, phát triển theo định hướng đô thị đáng sống, lấy con người
nhân tài làm trung tâm. Đô thị Khoa học công nghệ phải đồng thời nơi làm việc,
học tập, nghiên cứu sinh sống chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trong
thu hút các chuyên gia, nhà khoa học và doanh nghiệp công nghệ hàng đầu trong
khu vực và trên thế giới.
2.3. hình cấu trúc không gian Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc
Thành phố Hồ Chí Minh theo mô hình Trung tâm Khoa học Công nghệ Đổi
mới sáng tạo - Vành đai sản xuất Công nghệ cao
Đô thị Khoa học công nghệ được định hướng phát triển với các chức năng
trọng yếu gồm đào to nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển các trung tâm
nghiên cứu phát triển (R&D), nghiên cứu hỗ trợ chuyển giao công nghệ,
thúc đy đổi mới sáng tạo khởi nghiệp, gắn với sản xuất công nghiệp công nghệ
cao, trong đó công nghiệp bán dẫn giữ vai trò then chốt. Định hướng này được
xây dựng thống nhất với tinh thần của Nghị quyết số 98/2023/QH15 Nghị quyết
số 260/2025/QH15, qua đó bảo đảm sự đồng bộ vchức năng và các ngành, nghề
Thành phố đang ưu tiên phát triển. Không gian Đô thị Khoa học công nghệ được
tổ chức theo cấu trúc gồm một trung tâm khoa học công nghệ làm hạt nhân, bao
quanh bởi các vành đai sản xuất công nghệ cao được liên kết bằng một hthống
kết nối đa tầng.
Vùng lõi trung tâm được định vị là “bộ não khoa học công nghệ” bao gồm
một cụm hạ tầng khoa học công nghệ toàn diện tại khu vực trung tâm Thành phố
mới. Trung tâm Khoa học Công nghệ với quy mô khoảng 20 ha, được hình thành
từ việc chuyển đổi công năng Trung tâm Hành chính tỉnh Bình Dương (cũ) làm
hạt nhân trung tâm, cùng các công trình khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và
dịch vụ hỗ trợ được bố trí xung quanh. Đây là nơi tập trung cung cấp các dịch v
khoa học công nghệ chính như kiểm nghiệm, chứng nhận, tư vấn, các hoạt động
R&D, trung tâm xuất sắc của Đại học hoặc Doanh nghiệp, vườn ươm doanh
nghiệp công nghệ số, thiết kế vi mạch, không gian làm việc chung, hội nghị – triển
lãm, dịch vụ hỗ trợ đổi mới sáng tạo bảo tàng ng nghệ. Việc chuyển đổi công
năng khai thác các công trình hiện hữu theo hình hợp tác công cho
phép kích hoạt nhanh các hoạt động khoa học công nghệ, bảo đảm hiệu quả sử
dụng tài sản công và đạt chuẩn mực quốc tế trong vận hành.
Xung quanh Trung tâm Khoa học công nghệ là hệ thống các công trình
chức năng bổ trợ, bao gồm Trung tâm Khám phá Khoa học phục vụ giáo dục
STEM và lan tỏa tri thức; Công viên Sinh thái Khoa học đóng vai trò không gian
xanh trung tâm hạ tầng sinh thái; WTC Tower & Expo tạo nền tảng cho xúc
tiến thương mại, MICE (mô hình kết hợp giữa du lịch các hoạt động tổ chức
sự kin, hội nghị, khen thưởng và triển lãm) và kết nối quốc tế; Khuôn viên Đào
tạo - Nghiên cứu & Phát triển phục vụ cho đào tạo nghiên cứu; Khu Công nghệ
11
số tập trung Bình Dương Khu Công nghệ số tập trung Thành phố Hồ Chí Minh
bệ phóng cho chuyển đổi số, R&D sản xuất tiên tiến; cùng BWID Supply
Chain City cung cấp htầng nhà xưởng logistics hỗ trợ sản xuất công nghệ
cao. Các khu Công nghệ số tp trung này được định vị hạt nhân trọng điểm của
Đô thị Khoa học công nghệ Bắc Thành phố Hồ Chí Minh. Đây không chỉ không
gian sản xuất phần mềm mà là mắt xích cốt lõi kết nối hành lang đổi mới sáng tạo
phía Bắc với toàn Thành phố, đóng vai trò: (1) Trung tâm chuyển đổi hình
công nghiệp: nơi hiện thực hóa việc chuyển dịch từ công nghiệp truyền thống sang
công nghiệp công nghệ số, tập trung vào các lĩnh vực chiến lược như Chip bán
dẫn, AI, và IoT. (2) Cung ứng hạ tầng dùng chung cho Chiến lược Bán dẫn thông
qua việc cung cấp không gian cho các phòng thí nghiệm (Lab) thiết kế vi mạch,
trung tâm Tape-out đào tạo thực hành cho mục tiêu 9.350 nhân lực bán dẫn của
Thành phố. (3) Môi trường thử nghiệm chính sách (Sandbox), ưu tiên thí điểm
các chế đặc thù về kinh tế số, hội số các công nghệ mới (UAV, xe
tự hành) trước khi nhân rộng ra toàn Thành phố.
Danh mục các dự án hạ tầng khoa học công nghệ chủ lực tại Vùng lõi:
STT
Tên dự án
Diện
tích
Tổng
mức đầu
(ước)
Trạng
thái
Vai trò - định
hình
Cơ chế chính
sách đề xuất áp
dụng
1
Khu công nghệ
số tập trung
Bình Dương
15,47
ha
~10.000
tỷ
VNĐ
Chuẩn
bị triển
khai
Không gian
chuyên biệt cho
doanh nghiệp
công nghệ số,
trung tâm dữ liệu,
AI, thiết kế vi
mạch, nn tảng số
các hoạt động
R&D công nghệ
số; hạt nhân của
chuyển đổi số và
kinh tế số trong
Đô thị Khoa học
công nghệ
Các chính sách
ưu đãi theo Luật
Công nghiệp
công nghệ số;
chính sách Nhà
đầu tư chiến lược
theo Nghị quyết
số
98/2023/QH15
Nghị quyết số
260/2025/QH15
2
Khu công nghệ
số tập trung
Thành phố
Hồ Chí Minh
100
ha
~5.000 tỷ
VNĐ
Hoàn
thiện
các thủ
tục pháp
lý để
triển
khai
Khu khuôn viên
đổi mới sáng tạo
quy mô lớn, tích
hợp R&D, sản
xuất thử, đào tạo
và đổi mới sáng
tạo; dành cho các
Các chính sách
ưu đãi theo Luật
Công nghiệp
công nghệ số;
chính sách Nhà
đầu tư chiến lược
theo Nghị quyết
12
STT
Tên dự án
Diện
tích
Tổng
mức đầu
(ước)
Trạng
thái
Vai trò - định
hình
Cơ chế chính
sách đề xuất áp
dụng
theo quy
hoạch
hoạt động khoa
học công nghệ có
nhu cầu diện tích
lớn, gắn trực tiếp
với các vành đai
sản xuất công
nghệ cao; đóng
vai trò hạt nhân
sản xuất và ứng
dụng, kết nối trực
tiếp với trung tâm
đào tạo (các Đại
học) và chuỗi khu
công nghiệp
thông minh
số
98/2023/QH15
Nghị quyết số
260/2025/QH15
3
Công viên
Giáo dục
& Nghiên cứu
Phát triển
~ 30
ha
~2.600 tỷ
VNĐ
Hiện
hữu,
đang
khai
thác,
tiếp tục
mở rộng
Tập trung các
sở đào tạo, viện
nghiên cứu,
phòng thí nghiệm
không gian
nghiên cứu ứng
dụng; đóng vai trò
cầu nối giữa đào
tạo - nghiên cứu -
doanh nghiệp,
cung cấp nguồn
nhân lực chất
lượng cao cho
toàn hệ sinh thái
Chính sách
Nhà đầu
chiến ợc theo
Nghị quyết số
98/2023/QH15
Nghị quyết số
260/2025/QH15
4
BWID Supply
Chain City
74 ha
~10.000
tỷ VNĐ
Hiện
hữu,
đang
khai
thác,
tiếp tục
mở rộng
Hạ tầng logistics,
nhà xưởng dịch
vụ h trợ chuỗi
cung ứng cho sản
xuất công nghệ
cao; định hình
trung tâm dữ liệu
của khu vực trong
giai đoạn tiếp theo
13
STT
Tên dự án
Diện
tích
Tổng
mức đầu
(ước)
Trạng
thái
Vai trò - định
hình
Cơ chế chính
sách đề xuất áp
dụng
5
Trung tâm
Đa chức năng
Khoa học công
nghệ
20 ha
~1.996 tỷ
VNĐ
Công
trình
hiện hữu
(tài sản
công) -
Sẵn
sàng
khai
thác sau
khi
chuyển
đổi từ
TTHC
tỉnh cũ
Hạt nhân điều
phối biểu
tượng của “bộ não
khoa học công
nghệ”, tập trung
văn phòng R&D
của các tập đoàn
công nghệ, trung
tâm đổi mới sáng
tạo, không gian
làm việc chung,
hội nghị triển
lãm khoa học
công nghệ; tận
dụng nâng cấp
tài sản công hiện
hữu theo hình
hợp tác công -
để đưa vào khai
thác ngay
Vận dụng Nghị
quyết số
98/2023/QH15
về hợp tác công
(PPP) trong
lĩnh vực Khoa
học công nghệ.
Cho phép chuyển
đổi công năng và
lựa chọn đối tác
vận hành tài sản
công theo
hình quản trị
quốc tế.
6
Công viên
Khoa học -
Sinh thái
Bao gồm phần
công viên đã
được đầu tư
ban đầu; và
các hạng mục
sẽ được nâng
cấp và đầu tư
mới trong đó
có Trung tâm
khám phá khoa
học (2.5 ha)
72 ha
Trung
tâm
khám
phá khoa
học
~1035.5
tỷ VNĐ
Công
viên đã
hiện
hữu, các
công
trình
khác
đang
hoàn tất
thủ tục
pháp lý
để
chuẩn bị
triển
khai
Không gian xanh
trung tâm của
Vùng lõi, vừa
điều hòa sinh thái
- môi trường, vừa
không gian
công cộng cho
giao lưu học
thuật, sự kiện
khoa học ngoài
trời kết nối
cộng đồng sáng
tạo. Trung tâm
Khám phá Khoa
học cung cấp giáo
dục - truyền thông
khoa học, phổ
biến
STEM/STEAM,
Chính sách Nhà
đầu tư chiến lược
theo Nghị quyết
số
98/2023/QH15
Nghị quyết số
260/2025/QH15
14
STT
Tên dự án
Diện
tích
Tổng
mức đầu
(ước)
Trạng
thái
Vai trò - định
hình
Cơ chế chính
sách đề xuất áp
dụng
tạo không gian
trải nghiệm khoa
học cho cộng
đồng, học sinh -
sinh viên; đóng
vai trò nuôi dưỡng
văn hóa khoa học
nguồn nhân lực
tương lai cho hệ
sinh thái
7
Quần thể WTC
Bao gồm các
dự án thành
phần như
WTC Tower;
WTC EXPO
đã được đầu tư
xây dựng; và
Trung tâm Văn
hóa - Thương
mại - Dịch vụ
& Nhà ga
Metro (7.2 ha)
sẽ được triển
khai sớm trong
tương lai
11 ha
~3.765 tỷ
VNĐ
Hiện
hữu,
đang
khai
thác,
tiếp tục
mở rộng
Đầu mối xúc tiến
thương mại,
MICE kết nối
quốc tế; tổ chức
triển lãm công
nghệ, hội nghị
khoa học - công
nghệ, kết nối
doanh nghiệp
trong nước với
các đối tác toàn
cầu
Bao quanh vùng lõi khoa học công nghệ là hệ thống các Khu công nghiệp
Công nghệ cao quy mô lớn. Hệ thống này định hình vành đai sản xuất công nghệ
cao, bảo đảm sự liên thông liên tục giữa nghiên cứu - phát triển - sản xuất - thị
trường trong cùng một cấu trúc không gian với tính kết nối cao
Các Khu ng nghiệp Công nghệ cao này được quy hoạch theo định hướng
hình thành các phân khu chức năng chuyên biệt, bao gồm khu công nghệ cao và
khu công nghệ số tập trung, với mức độ đầu bài bản, đồng bộ về hạ tầng
kỹ thuật - hạ tầng số - hạ tầng dịch vụ.
15
STT
Khu công nghiệp
Công nghệ cao
Diện tích
QH (ha)
Tổng mức
đầu tư (ước)
Hiện trạng
1
Cây Trường
700
~5.459 tỷ
VNĐ
Đã được cấp giấy chứng nhận đầu
(Chủ đầu tư: Tập đoàn Đu
Phát triển Công nghiệp Becamex -
CTCP).
2
VSIP III
1.000
~14.835 tỷ
VNĐ
Đã được cấp giấy chứng nhận đầu
(Chủ đầu tư: Công ty Liên
Doanh TNHH Khu Công Nghiệp
Việt Nam - Singapore).
3
Bình Dương
Riverside
600
~12.772 tỷ
VNĐ
Quy hoạch là đất khu công nghiệp.
Hiện trạng Đất nông nghiệp
4
Lai Hưng
600
~9.196 tỷ
VNĐ
Quy hoạch là đất khu công nghiệp.
Hiện trạng Đất nông nghiệp
Tổng quy mô quỹ đất công nghiệp - công nghệ cao trong vành đai sản xuất
dự kiến đạt trên 3.100 ha, trong đó khoảng 1.020 ha được bố trí cho các Khu Công
nghệ cao và Khu công nghệ số tập trung.
Nhờ đó, một hệ sinh thái đổi mới khép kín có thể được thiết lập, cho phép
các ý tưởng, công nghệ kết quả nghiên cứu nhanh chóng được thử nghiệm,
hoàn thiện, mở rộng quy mô và thương mại hóa trong cùng một không gian phát
triển liên tục, rút ngắn đáng kể khoảng cách giữa nghiên cứu - sản xuất - thị trường.
2.4. Vai trò của hình hợp tác công - trong phát triển Đô thị
Khoa học công nghệ
Để bảo đảm hiệu quả đầu tư, vận hành và khai thác lâu dài, Đề án đề xuất
áp dụng hình hợp tác công - trong phát triển vận hành các hạng mục
trọng điểm của Đô thị Khoa học công nghệ. Nhà nước givai trò định hướng
chiến lược, quản và bảo đảm lợi ích công, trong khi doanh nghiệp, với vai trò
là đối tác triển khai và vận hành, chịu trách nhiệm khai thác hiệu quả tài sản, kết
nối thị trường và thu hút các nguồn lực xã hội.
Việc giao cho doanh nghiệp có năng lực, kinh nghiệm và mạng lưới đối tác
quốc tế tham gia vận hành các công trình công được chuyển đổi công năng không
chỉ giúp vượt qua những thách thức thường gặp về chi phí vận hành hiệu quả
sử dụng tài sản công, n bảo đảm các không gian khoa học công nghệ đạt
chuẩn mực quốc tế, đủ sức thu hút các đối tác đẳng cấp toàn cầu cùng tham gia
đồng kiến tạo và tạo ra tác động lan tỏa lớn cho phát triển kinh tế - xã hội.
PHẦN III. CÁC THÀNH TỐ PHÁT TRIỂN HỆ SINH THÁI
ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
Để Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh tính
định hướng và khả năng tạo ra tác động nét ngay trong ngắn hạn, Đề án xác
định năm thành tố chiến lược cần được đầu tư và phát triển đồng bộ. Các thành t
này được xây dựng trên nền tảng hệ sinh thái khoa học công nghệ - đổi mới sáng
16
tạo hiện đang vận hành trong hơn một thập kỷ qua, đồng thời được nâng
tầm và tăng tốc trong thời gian tới.
3.1. Thành tố 1: Hạ tầng nghiên cứu và sản xuất tiên tiến
Các hạ tầng khoa học công nghệ tại Vùng lõi và các vành đai công nghiệp
- công nghệ cao được xác định nền tảng ban đầu, cho phép kích hoạt nhanh
hệ sinh thái khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trong giai đoạn 2025-2030,
đồng thời tạo dư địa và không gian phát triển cho các giai đoạn tiếp theo.
Hạ tầng khoa học công nghệ điều kiện tiên quyết đthu hút các hoạt động
nghiên cứu - phát triển (R&D) các dự án công nghệ cao. Trên sở các
thiết chế đã hình thành, tập trung phát triển các cấu phần hạ tầng với các dự án
hạt nhân thu hút nhà đầu chiến lược theo Nghị quyết số 98/2023/QH15
Nghị quyết số 260/2025/QH15 như sau:
Trung tâm Sản xut Tiên tiến (Advanced Manufacturing Center - AMC)
được định hướng Trung tâm đổi mới sáng tạo theo chuẩn quốc tế thông qua hợp
tác chiến lược cùng A*STAR (Cơ quan Nghiên cứu & Phát triển Khoa học Công
nghệ của Chính phủ Singapore) các tập đoàn công nghệ, cung cấp máy móc,
thiết bị gia công chính xác, in 3D công nghiệp, dây chuyền lắp ráp kiểm thử
cho các doanh nghiệp khởi nghiệp doanh nghiệp vừa nhỏ. hình này giúp
thúc đẩy chuyển giao công nghệ từ nghiên cứu ứng dụng, hỗ trcác doanh nghiệp
sản xuất chuyển đổi công nghệ hiệu quả.
Trung tâm Nghiên cứu Vi điện tử được phát triển trên sở hợp tác với
Viện Fraunhofer ENAS (Hệ thống viện nghiên cứu ứng dụng lớn nhất CHLB
Đức), tập trung vào các lĩnh vực then chốt n đóng gói kiểm thử chip
(packaging & testing), thiết kế vi mạch, cảm biến và hệ thống thông minh. Đây
nền tảng quan trọng để hình thành năng lực nghiên cứu phát triển trong lĩnh
vực bán dẫn, gắn trực tiếp với nhu cầu đào tạo nhân lực, nghiên cứu phát triển,
chuyển giao công nghệ của các khu sản xuất công nghệ cao trong vùng.
Hệ thống phòng thí nghiệm dùng chung (Shared Labs) đã được hình thành
tại Trường Đại học Quốc tế Miền Đông (EIU) và các viện nghiên cứu được tổ
chức theo hình mở, bao gồm TechLab, FabLab các hệ thống phòng sạch
đạt chuẩn quốc tế (Class 100/1000), phục vụ nghiên cứu vật liệu mới, điện tử, sinh
học và công nghệ số. Các phòng thí nghiệm này cho phép chia sẻ hạ tầng, tối ưu
nguồn lực đầu tăng cường liên kết giữa viện - trường - doanh nghiệp. Hệ
sinh thái hoàn chỉnh cho phép tiếp cận trọn vẹn chuỗi g trị từ nghiên cứu,
thiết kế, tạo mẫu, sản xuất thử nghiệm đến thương mại hóa trong môi trường khu
công nghiệp.
Nhằm nuôi dưỡng niềm yêu thích khoa học công nghệ cho thế hệ trẻ, từ
năm 2020 đến nay, Becamex đã tổ chức 758 lớp đào tạo STEM cho gần 24.000
học sinh phổ thông trong khuôn viên Trường Đại học Quốc tế Miền Đông (EIU)
Điển hình, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Công nghiệp 4.0, thành lập
năm 2023, đã hỗ trợ hơn 100 doanh nghiệp; trong đó EIU trực tiếp hỗ trợ trên 20
doanh nghiệp FDI doanh nghiệp trong nước đánh giá Sẵn sàng Công nghiệp
17
Thông minh (SIRI) và xây dựng lộ trình chuyển đổi, đào tạo nâng cao năng lực,
chuyển giao công nghệ, đến triển khai thí điểm nhân rộng các gii pháp tại
doanh nghiệp với kết quả tích cực.
Song song với đầu mới, đặc biệt nhấn mạnh việc tận dụng và chuyển đổi
công năng các công trình công hiện hữu, nhất là Khu Trung tâm Hành chính tỉnh
Bình Dương (cũ), để hình thành các thiết chế khoa học công nghệ và đổi mới sáng
tạo có thể đưa vào khai thác ngay. Cách tiếp cận này không chỉ rút ngắn thời gian
triển khai, còn bảo đảm sử dụng hiệu quả tài sản công tạo ra các không gian
mang tính biểu tượng, đủ đẳng cấp để thu hút các đối tác quốc tế.
3.2. Thành t 2: Htng k thut sẵn sàng phc v sản xut Công ngh cao
- Hạ tầng năng lượng:
Tổng nhu cầu công suất điện của Khu Liên hợp Công nghiệp - Dịch vụ -
Đô thị Bình Dương (quy mô 1.000 ha) khoảng 1.704 MVA. Trong đó, 504 MVA
từ điện lưới quốc gia đã được phê duyệt trong quy hoạch; 1.200 MVA đang được
đề xuất bổ sung vào quy hoạch mới. Nhà máy nhiệt điện LNG đồng phát có công
suất 200 MW đang trong quá trình đề xuất bổ sung quy hoạch; điện mặt trời mái
nhà có tổng công suất tiềm năng khoảng 120 MW đã có trong quy hoạch.
Về cấp điện, khu vực này dự kiến được cấp điện từ lưới điện 220 kV với đề
xuất bổ sung một trạm biến áp 220 kV (3x250 MVA) vào quy hoạch. Ở cấp 110
kV, khu vực hiện có 02 trạm biến áp (2x63 MVA) đã được phê duyệt trong quy
hoạch và đang đề xuất bổ sung 05 trạm biến áp 110 kV (2x80 MVA) để đáp ứng
nhu cầu tăng trưởng. Ngoài ra, quy hoạch còn đề xuất bổ sung 15 MW điện mặt
trời mái nhà và 100 MW từ nhà máy nhiệt điện LNG đồng phát nhằm đảm bảo
nguồn cung ổn định, đa dạng và bền vững, kết hợp hài a giữa nguồn điện truyền
thống và năng lượng sạch.
- Hạ tầng cấp nước:
Khu vực dán được thụ hưởng hệ thống cấp nước do Nhà máy nước
Tân Hiệp (Khu Liên Hợp) cung cấp, cách khoảng 6 km, khai thác nguồn nước mặt
sông Đồng Nai ổn định, chất lượng nước tuân thủ QCVN 01-1:2024/BYT
Quy chuẩn quốc gia về nước sạch sinh hoạt. Nhà máy có công suất thiết kế
370.000 m³/ngày, hiện vận hành ~200.000 m³/ngày thể mở rộng đến 500.000
m³/ngày. Từ Tân Hiệp đến khu vực dán có ba tuyến ống truyền tải chính (D500,
D800, D1000) với tổng năng lực trên 200.000 m³/ngày đêm, bảo đảm áp lực
lưu lượng ổn định 24/7 cho cả công nghiệp sinh hoạt. Mạng lưới liên thông với
các Nhà máy nước Tân Uyên, Thuận An Bàu Bàng, tạo vòng cấp nước khép
kín, đa nguồn, giúp cấp nước liên tục, an toàn và linh hoạt. Các ngành công nghệ
cao thể bsung hệ thống xử bậc ba (RO, UPW) tại chỗ để đạt chuẩn nước
siêu sạch phục vụ sản xuất.
- Hạ tầng xử nước thải: hệ thống thoát nước mưa và nước thải riêng biệt.
Nước thải sản xuất được xử cục bộ đạt tối thiểu cột B Nhà máy xử tập
trung sẽ xử đạt chuẩn cột A. Hệ thống được trang bị trạm bơm, quan trắc t
động và kết nối dữ liệu trực tuyến về trung tâm điều hành thông minh để quản lý,
giám sát, đồng thời hướng tới tái sử dụng.
18
- Hạ tầng Dữ liệu Viễn thông: hạ tầng cáp quang đảm bảo các tiêu chuẩn
về nhà mạng trung lập, độ trễ cho phép; hạ tầng cloud, 5G đáp ứng yêu cầu khắt
khe của Data Center chuyên dụng như AI, HPC.
- Giao thông kết nối:
STT
Tên Dự án
Quy mô
Tổng mức đầu tư
(ước)
Hệ Thống Đường Bộ
1
Quốc Lộ 13 Mở Rộng
62 km
6.255 tỷ VNĐ
2
Mỹ Phước - Tân Vạn
64 km
20.158 tỷ VNĐ
3
Cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Thủ Dầu
Một - Chơn Thành
52 km
17.116 tỷ VNĐ
4
Vành Đai 4
47 km
21.702 tỷ VNĐ
Hệ Thống Đường Sắt Nhanh
5
Giai đoạn 1: Tuyến Chơn Thành -
Bàu Bàng - An Bình - Cái Mép
153,4 km
168.000 tỷ VNĐ
6
Giai đoạn 2:
Tuyến Thành phố Hồ Chí Minh -
Cần Thơ 175,2 km
Tuyến An Bình - Lộc Ninh: kéo dài
tuyến từ Chơn Thành - Hoa Lư 36,3km
Tuyến Mộc Bài - Bàu Bàng 58km
296 km
382.000 tỷ VNĐ
Hệ Thống Metro
7
Tuyến metro số 1 BD cũ - Dọc theo Mỹ
Phước - Tân Vạn (Kết nối tuyến Metro line
số 1 Suối Tiên): hành lang phát triển
công nghiệp chủ đạo, kết nối trung tâm
Thành phố Khoa học công nghệ với
trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh
32.43 km
64.370 tỷ VNĐ
8
Tuyến metro số 2 BD - Dọc theo
Quốc Lộ 13 (Thủ Dầu Một - trung tâm
Thành phố Hồ Chí Minh, Kết nối tuyến
Metro line số 3 Hiệp Bình)
21.87 km
59.968 tỷ VNĐ
Hệ thống hạ tầng được quy hoạch dựa trên các trục xương sống chiến lược
như Quốc lộ 13 (mở rộng), Mỹ Phước - Tân Vạn và Cao tốc Thành phố Hồ Chí
Minh - Chơn Thành, đảm bo luồng lưu thông xuyên suốt từ Thành phố Hồ Chí
19
Minh đến Tây Nguyên. Song song đó, các tuyến Vành đai 3 Vành đai 4 đóng
vai trò là trục động lực Đông - Tây, thiết lập sự kết nối trực tiếp với các cực tăng
trưởng Đồng Nai, Tây Ninh và mở rộng hướng về Sân bay quốc tế Long Thành.
Sự kết hp đa phương thức với đường sắt Bàu Bàng - Cái Mép các tuyến
Metro tạo ra bước ngoặt vlogistics, giúp hàng hóa tiếp cận trực tiếp cụm cảng
biển Cái Mép - Thị Vải cùng hệ thống sân bay quốc tế như Tân Sơn Nhất Long
Thành. Sự đồng bộ này khẳng định vị thế của Đô thị Khoa học công nghệ như
một cửa ngõ giao thương quan trọng, kết nối địa phương trực tiếp vào chuỗi cung
ứng toàn cầu. Việc thiết lập hệ thống giao thông đa phương thức này không chỉ
rút ngắn thời gian tiếp cận sân bay, cảng biển quốc tế còn giảm chi p
logistics, biến khu vực thành cửa ngõ giao thương chiến lược, thu hút mạnh mẽ
dòng vốn đầu tư công nghệ cao vào địa phương.
3.3. Thành tố 3: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thu hút
nhân tài (Human Capital)
Con người là trung tâm của mọi hoạt động Khoa học Công nghệ, Đổi mới
sáng tạo, Sản xuất Công nghệ cao. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực của
Đô thị Khoa học công nghphía Bắc được triển khai dựa trên ba trụ cột chính.
Cụ thể như mục tiêu hình thành cụm đổi mới sáng tạo điện tử - bán dẫn quy
vùng, đào tạo ít nhất 9.000 nhân lực ngành bán dẫn từ Kết luận 45-TB/TGV của
Ban Chỉ đạo Quốc gia về Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Thứ nht, đẩy mạnh hợp tác Viện trường doanh nghiệp với mục tiêu gắn
đào tạo, nghiên cứu phát triển gắn kết chặt chẽ với nhu cầu thực tiễn của doanh
nghiệp. Các trường đại học trong khu vực như Đại học Quốc tế Miền Đông (EIU),
Đại học Việt Đức (VGU) Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh từng bước
điều chỉnh chương trình đào tạo theo hướng tăng cường thực hành, nghiên cứu
ứng dụng làm việc trực tiếp tại các trung tâm R&D, AMC doanh nghiệp
công nghệ cao. Việc triển khai các chng chỉ kỹ năng bộ công cụ đánh giá theo
chuẩn quốc tế như Chỉ số sẵn sàng công nghiệp thông minh (SIRI - Smart Industry
Readiness Index) giúp chuẩn hóa năng lực kỹ sư và doanh nghiệp theo tiêu chuẩn
Công nghiệp 4.0.
Thứ hai, thu hút chuyên gia nhà khoa học trình độ cao trong nước
quốc tế. Tận dụng các cơ chế đặc thù theo Nghị quyết số 98/2023/QH15 và Ngh
quyết số 260/2025/QH15, Thành phố Hồ Chí Minh có điều kiện thiết kế các gói
chính sách cạnh tranh về thuế thu nhập cá nhân, nhà ở, y tế, giáo dục cho con em,
nhằm thu hút các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia công nghệ và Việt kiều v
làm việc, nghiên cứu và khởi nghiệp tại Đô thị Khoa học công nghệ.
Thứ ba, phát triển các chương trình trao đổi học giả và hợp tác đào tạo -
nghiên cứu quốc tế. Các chương trình trao đổi thường niên với các trung tâm khoa
học công nghệ lớn như Hsinchu Đài Loan (Trung Quốc), Eindhoven (Hà Lan),
Singapore sẽ góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu nội tại, đồng thời kết nối
đội ngũ nhân lực trong nước với mạng lưới tri thức toàn cầu.
20
3.4. Thành tố 4: Hệ sinh thái khởi nghiệp hỗ trợ doanh nghiệp
(Business Ecosystem)
Một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo năng động đòi hỏi môi trường kinh doanh
thuận lợi, nơi các ý tưởng mới được ươm tạo, thử nghiệm phát triển thành
doanh nghiệp khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Định hướng tập trung
vào việc kế thừa các trung tâm hỗ trợ hiện hữu, đồng thời mở rộng liên kết vùng
để hình thành một mạng lưới đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp đẳng cấp quốc tế.
Vườn ươm doanh nghiệp Becamex (BBI) thành lập từ năm 2017 tập trung
vào các startup hard-tech, IoT và sản xuất thông minh - những lĩnh vực đòi hỏi hạ
tầng kỹ thuật chuyên sâu các vườn ươm truyền thống khó đáp ứng. BBI kết
nối chặt chẽ với AMC, TechLab và các khu sản xuất thử để hỗ trợ doanh nghiệp
đi trọn hành trình từ ý tưởng đến sản phẩm và thị trường. Một số startup sản xuất
công nghệ cao, trong đó Datbike, Vulcan Augmetics, Ninja Van, RedHare Studio
Oyika đã khẳng định vị thế trên thị trường đạt được những cột mốc quan
trọng.
BLOCK71 Saigon (t2020) - hình hợp tác giữa Becamex NUS
Enterprise - được xác định là cửa ngõ kết nối c doanh nghiệp khởi nghiệp Việt
Nam với thị trường quốc tế, các quỹ đu mạng lưới cố vấn toàn cầu.
BLOCK71 không chỉ cung cấp không gian làm việc, còn đóng vai trò nền tảng
tăng tốc, gọi vốn và kết nối trực tiếp vào chuỗi cung ứng toàn cầu của các tập đoàn
đa quốc gia.
Thiết lập các khu vực như BLOCK71 Vườn ươm BBI vùng thử
nghiệm sandbox cho các startup hard-tech theo cơ chế đặc thù theo Nghị quyết số
98/2023/QH15 và Nghị quyết số 260/2025/QH15.
Mạng lưới liên kết hệ sinh thái trọng điểm với trung tâm Thành phố
Hồ Chí Minh - liên kết chặt chẽ với các trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu tại
Thành phố Hồ Chí Minh, đóng vai trò một mắt xích quan trọng trong mạng lưới
Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia:
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: trụ cột tri thức với mục đích
nghiên cứu phát triển các công nghệ sâu như bán dn, trí tuệ nhân tạo,
công nghệ sinh học, đồng thời tạo nguồn nhân lực và tài sản trí tuệ.
Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh (SHTP): cầu nối ứng dụng,
nơi thử nghiệm, sản xuất ththương mại hóa kết quả nghiên cứu thông qua các
phòng thí nghiệm, khu thực nghiệm và sandbox công nghệ.
Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo Thành phố Hồ Chí Minh (SIHUB): điều
phối chính sách, tư vấn về các cơ chế đặc thù cho startup.
Đặc biệt chú trọng các nền tảng kết nối chuỗi cung ứng (B2B matching),
tạo điều kiện cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước ơng tác trực tiếp
và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của các tập đoàn đa quốc gia (MNCs). Việc
hình thành mạng lưới đổi mới sáng to sôi động giữa các trung tâm này giúp tối
ưu hóa nguồn lực, biến khu vực thành điểm đến hp dẫn cho các nguồn lực đổi
mới sáng tạo trong giai đoạn tiếp theo.
21
3.5. Thành tố 5: Hợp tác quốc tế chiến lược (Global Partnership)
Đô thị Khoa học công nghệ được đặt trong mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn
cầu thông qua các quan hệ hợp tác chiến lược về công nghệ, hạ tầng và tài chính.
Về hợp tác công nghệ, kế thừa và làm sâu sắc các mối quan hệ hiện có với
các đối tác uy tín như Fraunhofer (Đức), NUS (Singapore), A*STAR/ARTC
(Singapore), Qualcomm, Bosch, đồng thời mở rộng hợp tác với các viện nghiên
cứu tập đoàn công nghệ hàng đầu của Nhật Bản, Hàn Quốc Hoa Kỳ trong
các lĩnh vực bán dẫn, ttuệ nhân tạo sản xuất tiên tiến trong giai đoạn tiếp
theo.
3.6. Thành tố 6: Đô thị xanh, năng lượng bền vững và tiêu chuẩn ESG
và Khu Công nghiệp sinh thái
Phát triển bền vững được xác định nền tảng cốt lõi bảo đảm năng lực
cạnh tranh dài hạn của Đô thị Khoa học công nghệ trong bối cảnh Việt Nam đang
chuyển dịch mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, bao trùm có trách nhiệm,
đồng thời hội nhập ngày càng sâu vào các chuỗi giá trị toàn cầu chịu sự chi phối
mạnh mẽ của các tiêu chuẩn ESG. Đối với Đô thị Khoa học công nghệ, phát triển
bền vững không chỉ yêu cầu về môi trường điều kiện cấu thành để nh
thành một không gian nghiên cứu, đổi mới sáng tạo sản xuất công nghệ cao
khả năng vận hành ổn định, hiệu quả và thích ứng trong dài hạn.
Trên nền tảng đó, cần chủ động tích hợp đồng bộ các giải pháp đô thị xanh,
năng lượng sạch và quản trị bền vững ngay từ giai đoạn hình thành, coi đây là hạ
tầng nền thiết yếu phục vụ toàn bộ chuỗi hoạt động nghiên cứu phát triển, thử
nghiệm, sản xuất thương mại hóa công nghệ. Cách tiếp cận này trực tiếp đáp
ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe của các tập đoàn công nghệ hàng đầu và các
định chế tài chính quốc tế về độ ổn định hệ thống, năng lượng carbon thấp, quản
trị minh bạch trách nhiệm hội, qua đó củng cố niềm tin và thu hút các nhà
đầu chiến lược dài hạn trong lĩnh vực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trên cơ sở đó, triển khai chiến lược ESG một cách toàn diện, coi việc xây
dựng nền tảng năng lượng nguồn nước cho sản xuất công nghệ cao điều kiện
tiên quyết cho việc hình thành và vận hành Đô thị Khoa học công nghệ. Các tiêu
chuẩn nền về quy tiêu thụ lớn, độ ổn định tuyệt đối, chất lượng cao và phát
thải carbon thấp được xác lập ngay từ khâu quy hoạch và đầu hạ tầng, qua đó
tạo lợi thế cạnh tranh khác biệt trong thu hút các dự án R&D, trung tâm dữ liệu,
phòng thí nghiệm và nhà máy công nghệ cao.
Về năng lượng, hạ tầng điện công nghiệp ợt chuẩn, mỗi khu công nghiệp
bố trí từ hai đến bốn trạm biến áp, thiết kế theo cấu trúc mạch vòng với hai nguồn
dự phòng, bảo đảm cấp điện liên tục và an toàn. Song song đó, hệ sinh thái năng
lượng tái tạo đã được hình thành với tổng công suất điện mặt trời vượt 300 MWp,
cung cấp điện xanh đạt chứng chỉ I-REC; kết hợp điện LNG đồng phát, lưu trữ
năng lượng BESS nền tảng quản năng lượng thông minh, cho phép cân bằng
hệ thống, tối ưu hiệu sut và minh bạch hóa phát thải theo thời gian thực. Đây là
nền tảng năng lượng tin cậy cho Đô thị Khoa học công nghệ và đáp ứng các yêu
cầu ESG của chuỗi cung ứng toàn cầu.
22
Song hành với năng lượng, hạ tầng môi trường tài nguyên được phát
triển theo hướng tuần hoàn. Các khu công nghiệp đô thị áp dụng xử nước
thải tuần hoàn, quản chất thải thông minh, tái sử dụng tài nguyên nước; đồng
thời triển khai các giải pháp điện rác công suất khoảng 24 MWh nhằm tối ưu hóa
tài nguyên giảm phát thải. Không gian xanh được phát triển quy lớn với
hơn 2 triệu cây xanh đã được trồng, góp phần cải thiện vi khí hậu hiện thực hóa
mục tiêu NetZero 2050. Các công trình từng bước áp dụng các tiêu chuẩn công
trình xanh quốc tế như LEED và EDGE, tạo môi trường nghiên cứu, sản xuất và
sinh sống bền vững.
Về quản trịhội, hệ thống được vận hành thông qua Trung tâm Điều
hành Tng minh (IOC) hiện đại, nâng cao hiệu quả quản trị, minh bạch dữ liệu
ra quyết định dựa trên dữ liệu thời gian thực. Song song đó, các chương trình
đào tạo nâng cao nhận thức về ESG Net Zero được triển khai cho doanh nghiệp
người lao động, góp phần hình thành hệ sinh thái công nghiệp bền vững
giàu tính nhân văn.
Trên nền tảng hạ tầng và quản trị bền vững đó, Khu Công nghiệp sinh thái
(Eco-Industrial Park - EIP) định hướng chiến lược nhằm nâng cấp toàn diện hệ
sinh thái công nghiệp đô thphục vụ Đô thị Khoa học công nghệ theo các chuẩn
mực quốc tế về môi tờng, hội quản trị. Vận dụng chế liên kết với Trung
tâm Tài chính Quốc tế để các doanh nghiệp trong Khu ng nghiệp sinh thái (EIP)
dễ dàng tiếp cận nguồn vốn xanh trái phiếu xanh. Thông qua hợp tác với Ngân
hàng Thế giới (World Bank) và Tập đoàn Tài chính Quốc tế (IFC), mô hình EIP
tập trung thúc đẩy cộng sinh công nghiệp, phát triển năng lượng tái tạo, tối ưu hóa
sử dụng năng lượng, nước vật liệu, tăng cường tuần hoàn tài nguyên, đồng thời
nâng cao hiệu quả quản trị và năng lực ESG của toàn bộ hệ sinh thái khu công
nghiệp. Việc hợp tác với IFC triển khai các chương trình hỗ trợ kỹ thuật, đánh g
và chứng nhận Khu Công nghiệp sinh thái toàn cầu (GEIPAC) tạo cơ scải thiện
vận hành, nâng cao năng lực ESG và tiếp cận các nguồn lực tài chính xanh. Trong
bối cảnh Thành phố Hồ Chí Minh định hướng trở thành trung tâm tài chính quốc
tế, hình này góp phần hình thành hệ sinh thái công nghiệp đô thị xanh, bền
vững khả năng cạnh tranh toàn cầu, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển
lâu dài của Đô thị Khoa học công nghệ.
PHẦN IV. CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Để làm các chế, chính sách hình tổ chức thực hiện nhằm
bảo đảm Đề án Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh được
triển khai đồng bộ, hiệu quả, trọng tâm - trọng điểm, phù hợp với các chế
đặc thù của Thành phố Hồ Chí Minh phát huy tối đa vai trò của các chủ thể
tham gia.
4.1. Cơ chế, chính sách đặc thù để triển khai Đề án
4.1.1. Cơ chế, chính sách đặc thù
Việc triển khai Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh
cần được đặt trong khuôn khổ các cơ chế, chính sách đặc thù hiện có mà đặc biệt
23
Trung ương đã cho phép Thành phố Hồ Chí Minh thí điểm các chế theo Nghị
quyết số 98/2023/QH15 và Nghị quyết số 260/2025/QH15 của Quốc hội về việc
bổ sung, hoàn thiện cơ chế đặc thù cho Thành phố Hồ Chí Minh. Hai nghị quyết
này tạo ra không gian thể chế quan trọng để Thành phố chủ động thử nghiệm các
mô hình phát triển mới gn với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo sản xuất
công nghệ cao.
Trước hết, trên sở các chế đã được quy định trong Nghị quyết số
98/2023/QH15 Nghị quyết số 260/2025/QH15, Đề án đxuất vận dụng linh
hoạt các cơ chế về quản lý đầu tư, tài chính - ngân sách và phân cấp, phân quyền
để rút ngắn thời gian chuẩn btriển khai các dự án hạ tầng khoa học công nghệ
trọng điểm. Trong đó, cho phép Thành phố chủ động quyết định danh mục dự án
ưu tiên, hình thức đầu và đối tác triển khai trên sở bảo đảm hiệu quả kinh tế
- xã hội tổng thể và lợi ích công.
Thứ hai, xây dựng các chính sách ưu đãi chọn lọc đối với hoạt động
nghiên cứu - phát triển, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ, gắn với các
lĩnh vực công nghệ chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, sản xuất tiên tiến,
trung tâm dữ liệu công nghệ số. Các chính sách này tập trung vào hỗ trợ hạ
tầng dùng chung, tiếp cận không gian làm việc - nghiên cứu, hỗ trợ chi phí thử
nghiệm, sản xuất thử và kết nối thị trường, thay vì ưu đãi dàn trải theo hình thức.
Thứ ba, trên sở các quy định thí điểm đã được Quốc hội cho phép, áp
dụng chế thử nghiệm kiểm soát (sandbox) đối với một số hình, công
nghệ phương thức tchức mới trong Đô thị Khoa học công nghệ, cho phép thử
nghiệm chọn lọc các giải pháp về công nghệ, quản trvà tổ chức vận hành trước
khi tổng kết, đánh giá và nhân rộng theo quy định.
4.1.2. Tận dụng mô hình TOD (Transit-Oriented Development)
Trên sở định hướng phát triển không gian tích hợp giao thông công
cộng khối lượng lớn, áp dụng hình phát triển đô thị định hướng giao thông
công cộng (TOD) tại các khu vực xung quanh các nhà ga Metro, đặc biệt là tuyến
Bến Thành - Suối Tiên kéo dài về phường Bình Dương, Tuyến metro số 2
(Thủ Dầu Một - TP.HCM), cũng như ti các t giao thông chiến lược của
Vành đai 3 và Vành đai 4.
Theo mô hình này, cho phép nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch cục bộ, tăng
hệ số sử dụng đất mật độ xây dựng kim soát để phát triển các khu đô thị
nén, thương mại - dịch vụ, không gian làm việc và đổi mới sáng tạo gắn với các
đầu mối giao thông công cộng. Nguồn thu tđấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu
thầu dự án tại các khu vực TOD được định hướng sử dụng để tái đầu tư cho hạ
tầng giao thông, hạ tầng khoa học công nghệ các công tnh công cộng trong
Đô thị Khoa học công nghệ, qua đó tạo chế tài chính bền vững và vòng quay
tái đầu tư hiệu quả.
4.1.3. Mô hình quản lý và tổ chức bộ máy
Để bảo đảm triển khai thống nhất, xuyên suốt hiệu quả, Đề án đề xuất
nghiên cứu thành lập hình "một cửa" được phân cấp, ủy quyn mạnh mẽ
24
trong việc thực hin một số thẩm quyền của các sở, ngành liên quan, đặc biệt trong
các lĩnh vực phê duyệt quy hoạch chi tiết (1/500), cấp phép đầu tư, xây dựng, môi
trường và triển khai dự án, theo cơ chế “một cửa tại chỗ”, cắt giảm tối đa thủ tục
hành chính nhằm kiến tạo môi trường thân thiện, linh hoạt đối với các nhà đầu tư,
từ các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa nhỏ, startups công nghệ đến các
viện trường trong và ngoài nước.
Đồng thời, chế được thuê vấn quốc tế, tổ chức nghiên cứu tuyển
dụng các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản trình độ cao để tham gia
trực tiếp vào công tác quy hoạch, quản trị vận hành Đô thị Khoa học công nghệ,
với chế đãi ngộ phù hợp với tính chất đặc thù yêu cầu cạnh tranh quốc tế,
trên sở tuân thủ các quy định hiện hành và chế thí điểm được Trung ương
cho phép.
4.1.4. Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox)
Trên nền tảng các chế thí điểm theo Nghị quyết số 98/2023/QH15
Nghị quyết số 260/2025/QH15, Đề án đề xuất nghiên cứu thí điểm một số không
gian và cơ chế sandbox đặc thù gắn với khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo
tại khu vực Bắc Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó, xem xét khnăng hình thành
khu vực thương mại - đổi mới sáng tạo có cơ chế tương tự khu thương mại tự do
(FTZ) gắn với hoạt động nghiên cứu - phát triển, sản xuất thử nghiệm và logistics
công nghệ cao, nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, xuất nhập khẩu đối với
hàng hóa, thiết bị và vật tư phục vụ R&D và thử nghiệm công nghệ.
Bên cạnh đó, cho phép triển khai thí điểm, trong phạm vi không gian được
xác định, một số công nghệ và mô hình mới như phương tiện thành, thiết bbay
không người lái (drone) và các giải pháp số tiên tiến khác, với các quy định pháp
được điều chỉnh linh hoạt kiểm soát, làm sở đánh giá, hoàn thiện và nhân
rộng trong tương lai.
4.2. Liên kết tài chính và cơ chế huy động, sử dụng nguồn lực
4.2.1. Liên kết với Trung tâm Tài chính Quốc tế Thành ph
Hồ Chí Minh
Trên cơ sở định hướng hình thành Trung tâm Tài chính Quốc tế tại
Thành phố Hồ Chí Minh theo các chủ trương và nghị quyết của Quốc hội, Đề án
xác định Đô thị Khoa học công nghệ phía Bắc là một không gian thụ hưởng trực
tiếp các cơ chế và dòng vốn tài chính mới. Việc liên kết chặt chẽ giữa hai không
gian này cho phép thu hút các quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capital), quỹ đầu
nhân (Private Equity) các định chế tài chính quốc tế đặt trụ sở, văn phòng
đại diện hoặc triển khai hoạt động đầu tư vào các doanh nghiệp khởi nghiệp
doanh nghiệp công nghệ trong hệ sinh thái Đô thị Khoa học công nghệ.
Thông qua vai trò kết nối của Trung tâm Cách mạng Công nghiệp lần
thứ 4 tại Thành phố Hồ Chí Minh, chủ động khai thác các thành tựu công cụ
tài chính mới để hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, đặc biệt
là trong các lĩnh vực ưu tiên như Chip bán dẫn, AI và Công nghệ số.
25
Sự liên kết này nhằm tạo nền tảng hình thành các dự án hp tác giá trị
gia tăng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh cho hệ sinh thái sản xuất thông minh
và sản xuất có trách nhiệm tại Đô thị KHCN Bắc Thành phố. Đồng thời, khuyến
khích các ngân hàng, tchức tài chính trong ngoài nước phát triển các sn
phẩm tài chính chuyên biệt như tín dụng xanh, tín dụng ng nghệ, bảo lãnh đổi
mới sáng tạo và các công cụ tài chính hỗ trợ R&D với lãi suất và điều kiện ưu đãi
phù hợp, qua đó tạo nguồn lực tài chính ổn định cho các doanh nghiệp công nghệ
trong các giai đoạn phát triển khác nhau.
4.2.2. Cơ chế huy động và sử dụng nguồn lực
Đề án xác định đa dạng hóa nguồn lực đầu tư là điều kiện tiên quyết để bảo
đảm tính bền vững và khả năng mở rộng của Đô thị Khoa học công nghệ.
Nguồn lực ngân sách nnước tập trung đầu tư vào hạ tầng khung, htầng
công cộng, các thiết chế khoa học công nghệ dùng chung các dự án tính chất
dẫn dắt, tạo nền tảng ban đầu cho hệ sinh thái. Việc sử dụng ngân sách được định
hướng theo nguyên tắc “vốn mồi”, tạo lực hút cho các nguồn lực xã hội hóa.
Song song đó, Đề án đẩy mạnh huy động nguồn lực từ khu vực nhân, các
nhà đầu chiến lược trong ngoài nước thông qua các hình thức hợp tác
công - tư (PPP), liên doanh - liên kết các hình đầu tư linh hoạt khác.
Việc lựa chọn nhà đầu chiến lược được thực hiện trên sở năng lực triển khai,
kinh nghiệm vận hành và mạng lưới đối tác quốc tế, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa
Nhà nước và nhà đầu tư.
Ngoài ra, Đ án khuyến khích khai thác các nguồn vốn quốc tế, vốn
tài chính xanh và vốn hỗ trợ kỹ thuật thông qua hợp tác với các tổ chức quốc tế,
định chế tài chính phát triển c chương trình hợp tác song phương, đa phương
trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.
4.3. Mô hình tổ chức và quản trị thực hiện Đề án
Để bảo đảm triển khai thống nhất hiệu quả, Đề án đề xuất thiết lập
chế tổ chức quản trị theo hướng tinh gọn, rõ vai tvà trách nhiệm của từng
chủ thể.
Nhà nước, vi vai tròchủ thể kiến tạo, thực hiện chức năng định hướng
chiến lược, ban hành chế, chính sách, giám sát bảo đảm lợi ích công.
Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đo, quyết định các vấn đề mang
tính chiến lược và tháo gỡ kịp thời các vướng mắc trong quá trình triển khai.
Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HIDS) Sở Khoa
học công nghệ giữ vai trò quan tham mưu chiến lược quan trọng của
Thành phố trong quá trình triển khai Đề án, có trách nhiệm chủ trì hoặc phối hợp
nghiên cứu, đề xuất các định hướng phát triển, hình tổ chức, chế chính sách
đặc thù và đánh giá tác động kinh tế - hội của Đô thị Khoa học công nghệ theo
từng giai đoạn. HIDS đồng thời đầu mối kết nối tri thức, tham chiếu kinh
nghiệm quốc tế và hỗ trợ Ủy ban nhân dân Thành phố trong việc hoàn thiện các
quyết sách lớn liên quan đến Đề án.
26
Doanh nghiệp năng lực, kinh nghiệm hsinh thái đối tác quốc tế,
trong đó nhà đầu chiến lược, được giao vai trò chủ lực trong triển khai,
vận hành khai thác các hạng mục hạ tầng, công trình chương tnh cụ thể
của Đô thị Khoa học công nghệ theo nh hp tác công - tư. Cách tiếp cận này
nhằm bảo đảm hiệu quả vận hành, chất lượng dịch vụ khả năng kết nối thị
trường theo chuẩn mực quốc tế.
Các viện nghiên cứu, trường đại học tổ chức khoa học công nghệ giữ vai
trò nòng cốt trong hoạt động nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao công nghệ và phát
triển nguồn nhân lực. Sự tham gia thực chất của các chủ thể này là điều kiện tiên
quyết để Đô thị Khoa học công nghệ phát huy đúng vai trò “bộ não khoa học
công nghệ” của vùng sản xuất công nghệ cao.
4.4. Lộ trình triển khai và các giai đoạn thực hiện
Đề án được triển khai theo lộ trình nhiều giai đoạn, bảo đảm phù hợp với
mức độ sẵn sàng về hạ tầng, nguồn lực và cơ chế chính sách.
Giai đoạn đầu tập trung kích hoạt nhanh các hạng mục đã sẵn sàng khai
thác thông qua chuyển đổi công năng các công trình hiện hữu, đưa vào vận hành
các thiết chế khoa học công nghệ trọng điểm hình thành bộ máy điều phối,
quản trị. Đây giai đoạn tạo nền tảng chứng minh hiệu quả bước đầu của
mô hình.
Giai đoạn tiếp theo tập trung mở rộng quy mô, hoàn thiện các cấu phần còn
thiếu, thu hút mạnh mẽ các dự án R&D doanh nghiệp công nghệ cao, đồng thời
tăng cường liên kết với các vành đai sản xuất công nghệ cao trong vùng.
Về dài hạn, Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh
được định hướng phát triển thành một cực khoa học công nghệ - đổi mới sáng to
tầm vóc khu vực, đóng góp quan trọng vào năng lực cạnh tranh quốc gia
quá trình chuyển đổi hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ phát
triển bền vững.
PHẦN V. LỘ TRÌNH THỰC HIỆN VÀ PHÂN CÔNG TỔ CHỨC
5.1. Lộ trình thực hiện (dự kiến)
Đề án được chia thành ba giai đoạn chính, gắn với các mốc thời gian và
nhiệm vụ trọng tâm cụ thể:
Giai đoạn 1: Kiến tạo nền tảng và khởi động (năm 2026)
Trong giai đoạn này, trọng tâm là hoàn thiện khuôn khổ pháp lý - tổ chức
và kích hoạt các dự án động lực ban đầu.
- QI/2026: Trình và phê duyt Đán; thành lập Tổ/Ban Chỉ đo triển
Đô thị Khoa học công nghệ; Thành lập công bố một vài công trình, dự án
trọng điểm.
- Quý II, III/2026: Nghiên cứu, trình các chế, chính sách đặc thù áp dụng
cho các dự án, lĩnh vực cụ thể; tổ chức hội nghị xúc tiến đầu tư quốc tế và kêu gọi
các đối tác chiến lược.
27
Khởi công các dự án động lực, bao gồm Khu công nghệ số tập trung
Bình Dương và Khu công nghệ số tập trung Thành phố Hồ Chí Minh và hạ tầng
khung Vùng lõi.
Hoàn tt việc chuyển đổi công năng Trung tâm Hành chính tỉnh
Bình Dương (cũ).
Thu hút và kết hợp tác với các đối tác đầu tiên (viện nghiên cứu, trường
đại học, doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp công nghệ).
Giai đoạn 2: Tăng tốc đầu tư và hình thành hệ sinh thái (2027 - 2030)
Giai đoạn này tập trung vào mở rộng quy đầu tư, hoàn thiện các cấu
phần hạ tầng và đưa hệ sinh thái khoa học công nghệ - đổi mới sáng tạo vào vận
hành đồng bộ.
Hoàn thành xây dựng bản của Khu công nghệ số tập trung Thành phố
và Công viên Khoa học.
Đưa vào vận hành các trung tâm nghiên cứu và phát triển hợp tác quốc tế,
bao gồm Trung tâm Nghiên cứu Vi điện tử và Hệ thống thông minh (Fraunhofer
ENAS) và Trung tâm Sản xuất Tiên tiến (AMC).
Thu hút từ 5-10 tập đoàn công nghệ vừa và lớn đầu tư nhà máy, trung tâm
R&D hoặc trung tâm đổi mới sáng tạo tại khu vực.
Từng bước hoàn thiện các kết nối hạ tầng giao thông trọng điểm, bao gồm
Vành đai 3 và một phần các tuyến Metro kết nối khu vực.
Giai đoạn 3: Hoàn thiện và lan tỏa (2031 - 2035)
Giai đoạn này hướng tới hoàn thiện toàn diện hình Đô thị Khoa học
công nghệ và phát huy tác động lan tỏa ở cấp vùng.
Lấp đầy các phân khu chức năng, đưa hệ sinh thái đổi mới sáng tạo vào
trạng thái vận hành tự chủ, ổn định và hiệu quả.
Đô thị Khoa học công nghệ phía Bắc trở thành hình mẫu về đô thị
khoa học công nghệ, đô thị thông minh và khu công nghiệp sinh thái thế hệ mới.
Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của khu vực phía Bắc Thành phố
Hồ Chí Minh, tạo động lực lan tỏa cho toàn vùng Đông Nam Bộ.
5.2. Tổ chức thực hiện
Sở Khoa học Công nghệ: Chủ trì xây dựng các tiêu chí, hướng dẫn
chuyên môn về hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; quản
điều phối các chương trình, quỹ hỗ trợ khoa học công nghệ trong khu vực.
Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HIDS): quan
tham mưu chiến lược, phối hợp chặt chẽ với Sở Khoa học Công nghệ các
sở, ngành liên quan trong việc nghiên cứu, đxuất hình phát triển Đô thị Khoa
học công nghệ; xây dựng, hoàn thiện các chế, chính sách đặc thù; tham gia
đánh giá, giám sát tác động kinh tế - xã hội của Đề án trong quá trình triển khai.
28
Sở Tài chính: Chịu trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, tổng hợp tình hình triển
khai Đề án; tham mưu các chế tài chính, quản tài sản công (bao gồm việc
chuyển đổi, khai thác Trung tâm Hành chính tỉnh Bình Dương (cũ)), chế lựa
chọn nhà đầu chiến lược bố trí nguồn lực thực hiện theo đúng quy đnh
pháp lut.
Sở Quy hoạch - Kiến trúc: Chủ ttham mưu quy hoạch theo quy định, bảo
đảm tính đồng bộ, chất lượng không gian đô thị sự phù hợp với định hướng
phát triển Đô thị Khoa học công nghệ.
Trung tâm Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 tại Thành phố Hồ Chí Minh:
Đóng vai trò đầu mối cùng Trung tâm Xúc tiến Thương mại Đầu
Thành phố Hồ Chí Minh (ITPC), WTC, thúc đẩy hợp tác quốc tế, kết nối
huy động nguồn lực trong ngoài nước để triển khai các kế hoạch của Đề án.
Chủ trì đề xuất phối hợp triển khai các chế th nghiệm kiểm soát
(Sandbox), hình hợp tác công - (PPP) các chính sách đổi mới sáng tạo
đặc thù. Phối hợp trong việc khai thác hiệu quả Trung tâm Hành chính tỉnh Bình
Dương cũ, thực hiện chuyển đổi công năng thành Tòa nhà Khoa học Công nghệ -
biểu tượng và trung tâm điều hành của toàn bộ Đô thị Khoa học công nghệ phía
Bắc. Hỗ trợ kết nối hệ sinh thái khoa học công nghệ nội bộ Đề án với mạng lưới
các trung tâm C4IR toàn cầu.
Các nhà đầu chiến lược, chịu trách nhiệm chính trong việc huy động
nguồn lực xã hội, đầu tư xây dựng hạ tầng, thu hút đối tác quốc tế và tổ chức vận
hành hệ sinh thái khoa học công nghệ - đổi mới sáng tạo theo đúng các cam kết
đã được phê duyệt.
Các sở, ban, ngành liên quan: Phối hợp triển khai theo chức năng, nhiệm
vụ được giao, đặc biệt trong các lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính, giải phóng
mặt bằng, phát triển nguồn nhân lực bảo đảm điều kiện triển khai các dự án
trọng điểm của Đề án theo các quy định hiện hành.
PHẦN VI. HIỆU QUẢ DỰ KIẾN CỦA ĐỀ ÁN
Trên cơ sở các mục tiêu, quan điểm phát triển và các thành tố đã được xác
định, Đề án phát triển “Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh”
được kỳ vọng mang lại các hiệu quả tổng hợp, đa chiều, tạo ra tác động nét
trong ngắn hạn và bền vững trong trung - dài hạn.
6.1. Hiệu quả kinh tế - xã hội
Đề án góp phần hình thành một động lực tăng trưởng mới của Thành phố
Hồ Chí Minh dựa trên kinh tế tri thức, khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo,
thúc đẩy chuyển dịch cấu kinh tế theo hướng gia tăng dịch vụ, đóng góp t
trọng của các ngành có giá trị gia tăng cao, hàm lượng công nghệ và tri thức lớn.
Việc thu hút các dự án R&D, trung tâm đổi mới sáng tạo các tập đoàn công
nghệ lớn được kỳ vọng tạo ra dòng vốn FDI chất lượng cao, đóng góp tích cực
vào GRDP và ngân sách Thành phố trong trung và dài hạn.
Bên cạnh tác động kinh tế, Đề án còn mang ý nghĩa hội sâu rộng khi
hướng tới xây dựng một đô thị khoa học công nghệ đáng sống, lấy con người và
29
nhân tài làm trung tâm. Không gian đô thị được quy hoạch theo chuẩn quốc tế,
tích hợp hài hòa giữa làm việc, học tập sinh sống, với hthống không gian
xanh quy mô lớn, hơn 2 triệu cây xanh và các công trình đạt tiêu chuẩn xanh như
LEED, EDGE, góp phần cải thiện vi khí hậu và chất lượng môi trường đô thị. Hạ
tầng kỹ thuật thiết yếu (điện, nước, xử nước thải) được đầu vượt chuẩn, áp
dụng hình quản tuần hoàn tài nguyên, bảo đảm môi tờng sống sạch, an
toàn và bền vững cho người dân khu vực.
Đô thị Khoa học công nghệ sẽ tạo ra một không gian phát triển mới cho lực
lượng lao động tri thức, kỹ sư, nhà khoa học và chuyên gia công nghệ, góp phần
hình thành cộng đồng đổi mới sáng tạo quy lớn. Người lao động được tiếp cận
các cơ hội việc làm chất lượng cao, cùng các chương trình đào tạo nâng cao nhận
thức về ESG, Net Zero các bộ công cụ chuẩn hóa năng lực theo tiêu chuẩn
Công nghiệp 4.0, qua đó nâng cao cht lượng nguồn nhân lực địa phương. Đồng
thời, việc phát triển một đô thị khoa học công nghệ đáng sống khu vực phía Bắc
giúp giãn áp lực dân số cho khu vực trung tâm, cải thiện chất lượng sống và cân
bằng không gian phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh.
Về dài hạn, hệ thống giáo dục và văn hóa khoa học tại khu vực được nâng
cấp thông qua việc hình thành Trung tâm Khám phá Khoa học, các chương trình
giáo dục STEM/STEAM các thiết chế công cộng ncông viên sinh thái khoa
học, bảo tàng công nghệ. Đây không chỉ là không gian học tập và nghiên cứu mà
còn nơi giao lưu học thuật, kết nối cộng đồng, nuôi dưỡng tinh thần khoa học
và đổi mới sáng tạo cho các thế hệ tương lai.
6.2. Hiệu quả môi trường và phát triển bền vững
Đề án một trong những hình tiên phong hiện thực hóa định hướng
phát triển khu công nghiệp sinh thái đô thxanh - thông minh tại Việt Nam.
Việc tích hợp mô hình Khu công nghiệp sinh thái (EIP), sử dụng năng lượng tái
tạo, quản lý tài nguyên tuần hoàn và áp dụng các tiêu chuẩn ESG góp phần giảm
phát thải khí nhà kính, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đóng góp thiết
thực vào cam kết trung hòa carbon của Việt Nam tại COP26.
Về cấu trúc không gian đô thị, Đ án hỗ trợ Thành phố Hồ Chí Minh
triển khai mô hình siêu đô thị đa cực với sự phân vai chức năng rõ ràng giữa các
khu vực. Trong đó, khu vực trung tâm tiếp tục tập trung vào tài chính và dịch vụ
cao cấp, trong khi khu vực phía Bắc được định vị “bộ não khoa học công nghệ”
trung tâm sản xuất ng nghệ cao. Việc hình thành cực tăng trưởng mới tại
phía Bắc không chỉ tạo dư địa phát triển dài hạn mà còn góp phần giãn dân, giảm
áp lực lên hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội của khu vực nội đô hiện hữu.
Đồng thời, thông qua mạng lưới liên kết chặt chẽ với các trung tâm tri thức
đổi mới sáng tạo lớn như Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Khu
Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh (SHTP) và Trung tâm Khởi nghiệp sáng
tạo (SIHUB), Đề án tạo ra sự lan tỏa mạnh mẽ về tri thức, công nghệ và đổi mới
sáng tạo ra toàn Thành phố và khu vực lân cận.
30
Đề án là không gian thí điểm lý tưởng cho việc triển khai các cơ chế, chính
sách vượt trội theo hình sandbox, cho phép thử nghiệm các công nghệ mới
như trí tuệ nhân tạo, công nghiệp bán dẫn, thiết bị bay không người lái
(UAV/drone) trước khi nhân rộng ra phạm vi toàn Thành phố cả nước. Sự hiện
diện của các nhà đầu tư chiến lược toàn cầu, cùng với mối liên kết với Trung tâm
Tài chính Quốc tế, tạo điều kiện thu hút các dòng vốn FDI chất lượng cao
nguồn vốn tín dụng xanh. Bên cạnh đó, mô hình khu công nghiệp sinh thái và đô
thị xanh tại khu vực này đóng vai trò tiên phong, tạo hình mẫu để Thành phố Hồ
Chí Minh từng bước hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0” (Net Zero)
vào năm 2050.
Bên cạnh đó, việc phát triển không gian xanh, hạ tầng sinh thái và môi
trường sống chất lượng cao giúp nâng cao hình ảnh, vị thế sức hấp dẫn của
Thành phố Hồ Chí Minh trong khu vực trên trường quốc tế, đặc biệt đối với
các nhà đầu tư, doanh nghiệp nhân tài công nghệ toàn cầu.
III. KẾT LUẬN
Việc phát triển Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh
không chỉ là bước đi mang tính chiến lược trong bối cảnh Thành phố cần tái cấu
trúc mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, mà còn là giải pháp đột phá để kiến to
một cực tăng trưởng mới dựa trên kinh tế tri thức.
Đề án giải quyết căn bản các điểm nghẽn về không gian hạ tầng hiện
hữu, định vị khu vực phía Bắc Tây Bắc trở thành “bộ não khoa học công nghệ”
gắn liền với vùng sản xuất công nghệ cao quy lớn. Đây sẽ nền tng
then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn, đưa Thành phố Hồ Chí Minh
tiếp tục giữ vững vai trò đầu tàu to sức lan tỏa mạnh mẽ cho Vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam./.

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Quyết định 315/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt Đề án phát triển “Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh”

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

văn bản cùng lĩnh vực

văn bản mới nhất

CHÍNH SÁCH BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN
Yêu cầu hỗ trợYêu cầu hỗ trợ
Chú thích màu chỉ dẫn
Chú thích màu chỉ dẫn:
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng các màu sắc:
Sửa đổi, bổ sung, đính chính
Thay thế
Hướng dẫn
Bãi bỏ
Bãi bỏ cụm từ
Bình luận
Click vào nội dung được bôi màu để xem chi tiết.
×