Quyết định 667/QĐ-TTg 2022 Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài

  • Tóm tắt
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung MIX

    - Tổng hợp lại tất cả các quy định pháp luật còn hiệu lực áp dụng từ văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính…

    - Khách hàng chỉ cần xem Nội dung MIX, có thể nắm bắt toàn bộ quy định pháp luật hiện hành còn áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

  • Tải về
Mục lục
Mục lục
Tìm từ trong trang
Lưu
Theo dõi hiệu lực VB

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký phần mềm.

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản LuatVietnam và đăng ký sử dụng Phần mềm tra cứu văn bản.

Báo lỗi
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
______

Số: 667/QĐ-TTg

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

______________________

Hà Nội, ngày 02 tháng 6 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

PHÊ DUYỆT CHIẾN LƯỢC HỢP TÁC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI GIAI ĐOẠN 2021 – 2030

________

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22 tháng 11 năm 2019;

Căn cứ Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20 tháng 8 năm 2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030;

Căn cứ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 13;

Căn cứ Nghị quyết số 58/NQ-CP ngày 27 tháng 4 năm 2019 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20 tháng 8 năm 2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021 - 2030 với những nội dung chủ yếu sau:

I. QUAN ĐIỂM

1. Quán triệt các quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20 tháng 8 năm 2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030.

2. Phù hợp với Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2021 - 2025 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030.

3. Gắn liền thu hút đầu tư nước ngoài với xây dựng, phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ trên tinh thần hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất và hiệu quả.

4. Tập trung thu hút đầu tư nước ngoài có trọng tâm, trọng điểm; lựa chọn khu vực, thị trường, đối tác để thúc đẩy hợp tác phát triển phù hợp với bối cảnh thế giới và khu vực; tái định vị dòng vốn đầu tư, giảm sự phụ thuộc vào các thị trường nhiều rủi ro và tiềm ẩn xảy ra tranh chấp; ưu tiên việc kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu; thu hút đầu tư xanh, công nghệ cao, công nghệ phụ trợ, phương pháp quản lý, quản trị tiên tiến.

5. Phát huy và cải thiện lợi thế cạnh tranh, phù hợp xu hướng phát triển, tiếp cận chuẩn mực tiên tiến quốc tế và hài hòa với cam kết quốc tế, bảo đảm sự đồng bộ, nhất quán, công khai, minh bạch và tính cạnh tranh cao.

6. Thúc đẩy hợp tác đầu tư nước ngoài song hành với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và phát huy tối đa nội lực; gắn kết chặt chẽ và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh của từng ngành, từng doanh nghiệp; tăng cường sự liên kết giữa các vùng, miền và khu vực trong nước trên cơ sở lợi thế so sánh.

7. Xây dựng và hình thành nhận thức “Hợp tác cùng phát triển”, tăng cường kết nối sản xuất trong nước với chuỗi sản xuất của các tập đoàn đa quốc gia để cải thiện vị thế của Việt Nam trong chuỗi sản xuất; nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, hàm lượng giá trị gia tăng của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước; đề cao trách nhiệm với xã hội và bảo vệ môi trường nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài.

8. Bảo đảm cân đối lợi ích của các bên đầu tư với lợi ích của nhà nước và nhân dân trong hoạt động hợp tác đầu tư nước ngoài trên tinh thần hài hòa lợi ích, chia sẻ rủi ro; tuân thủ điều kiện về phát triển bền vững và an ninh - quốc phòng.

II. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu tổng quát

a) Thu hút các dự án đầu tư nước ngoài (ĐTNN) sử dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan tỏa tích cực, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu;

b) Mở rộng thị trường, tranh thủ vốn, công nghệ, kiến thức quản lý, văn hóa doanh nghiệp của khu vực có vốn ĐTNN; nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và sản phẩm nội địa; thúc đẩy các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong nước, xác lập và tăng cường vai trò của doanh nghiệp Việt Nam trong cộng đồng quốc tế;

c) Nâng cao hiệu quả, chất lượng toàn diện trong công tác thu hút, sử dụng vốn ĐTNN, tăng tỷ lệ đóng góp của khu vực ĐTNN trong phát triển kinh tế - xã hội, tương xứng với những ưu đãi, hỗ trợ được hưởng;

d) Xây dựng và phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm tài chính đạt tầm cỡ khu vực và quốc tế tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội cho giai đoạn tới.

2. Mục tiêu cụ thể

a) Hoàn thành các mục tiêu cụ thể nêu tại Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20 tháng 8 năm 2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác ĐTNN đến năm 2030;

b) Nâng cao tỷ lệ vốn đầu tư đăng ký của các quốc gia và vùng lãnh thổ trong một số khu vực trong tổng số vốn ĐTNN cả nước lên hơn 70% trong giai đoạn 2021 - 2025 và 75% trong giai đoạn 2026 - 2030, bao gồm: (i) Châu Á: Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Malaysia, Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia, Phillipines; (ii) Châu Âu: Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Liên bang Nga, Anh; và (iii) Châu Mỹ: Hoa Kỳ;

c) Tăng 50% số lượng Tập đoàn đa quốc gia thuộc nhóm 500 Tập đoàn lớn nhất thế giới do Tạp chí Fortune (Hoa Kỳ) xếp hạng có hiện diện và hoạt động tại Việt Nam;

d) Đến năm 2030 nằm trong nhóm 3 quốc gia dẫn đầu ASEAN và nhóm 60 quốc gia đứng đầu thế giới theo xếp hạng môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới.

III. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỢP TÁC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

1. Triển khai có hiệu quả các giải pháp đã ban hành

a) Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20 tháng 8 năm 2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030;

b) Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22 tháng 3 năm 2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045;

c) Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;

d) Nghị quyết số 58/NQ-CP ngày 27 tháng 4 năm 2020 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20 tháng 8 năm 2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030;

đ) Quyết định số 1851/QĐ-TTg ngày 27 tháng 12 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Thúc đẩy chuyển giao, làm chủ và phát triển công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên giai đoạn đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”;

e) Quyết định số 67/QĐ-TTg ngày 02 tháng 10 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Ảnh hưởng của tranh chấp thương mại Mỹ - Trung đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam”.

2. Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế

Tập trung cải thiện các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của Việt Nam theo tiêu chí đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Tổ chức sở hữu trí tuệ và Diễn đàn kinh tế thế giới; tập trung vào các chỉ số còn thấp về thể chế, cơ sở hạ tầng và thị trường hàng hóa. Theo đó, cần triển khai đồng bộ các giải pháp cụ thể sau:

a) Về thể chế

- Tăng cường sự vào cuộc chủ động, mạnh mẽ, đồng đều và thực chất của các bộ, ngành, địa phương nhằm kiến tạo môi trường đầu tư kinh doanh công bằng, thông thoáng và minh bạch. Bảo đảm môi trường đầu tư, pháp luật ổn định, thống nhất, đồng bộ và ngày càng hoàn thiện thích ứng kịp thời với vấn đề mới, xử lý được các bất cập để nâng cao chất lượng, hiệu quả ĐTNN.

- Cải thiện khả năng dự báo và tính minh bạch trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; xây dựng quy trình theo dõi, đánh giá sự phù hợp, tác động, chất lượng của chính sách và tính hiệu lực, hiệu quả của khâu thực thi chính sách.

- Nghiên cứu xây dựng cơ chế áp dụng các thủ tục đầu tư kinh doanh một cách linh hoạt theo nguyên tắc hậu kiểm đối với những ngành, nghề kinh doanh phù hợp để tạo sự cạnh tranh trong quá trình thu hút và sử dụng vốn ĐTNN.

- Kiểm soát chặt chẽ việc ban hành các điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Nghiên cứu tiếp tục cắt giảm ngành, nghề và điều kiện đầu tư kinh doanh không cần thiết, bất hợp lý, đảm bảo thực hiện đầy đủ, nhất quán quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư theo quy định của pháp luật.

- Hoàn thiện quy định của pháp luật về phòng ngừa tranh chấp đầu tư; đề xuất giải pháp nhằm giải quyết vướng mắc, tranh chấp của nhà đầu tư, cảnh báo sớm về nguy cơ phát sinh tranh chấp giữa Nhà nước và nhà ĐTNN.

- Ban hành chính sách tạo hành lang pháp lý cho phát triển và quản lý các hình thức và phương thức đầu tư mới phù hợp với thông lệ quốc tế.

- Kiểm soát chặt chẽ hành vi thâu tóm của nhà ĐTNN và doanh nghiệp có vốn ĐTNN đối với doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực chiến lược; kiểm soát chặt chẽ đối với dự án đầu tư có nguy cơ gây ảnh hưởng tiêu cực tới an ninh quốc gia, trật tự công cộng.

- Đẩy nhanh việc xây dựng, hoàn thiện thể chế tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện cho việc triển khai, xây dựng phát triển Chính phủ điện tử, hướng đến Chính phủ số và nền kinh tế số ở Việt Nam.

- Rà soát, đánh giá những giải pháp thể chế ưu việt đã thí điểm hoặc áp dụng có kết quả tốt, triển khai thể chế hóa áp dụng trong cả nước; đánh giá những ưu đãi tạo bất bình đẳng về thể chế giữa các khu vực nhằm thu hẹp và tiến tới loại trừ những điều kiện bất bình đẳng và thiếu thống nhất về thể chế.

b) Về cơ sở hạ tầng

- Quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng theo hướng đồng bộ hiện đại, với tư duy chiến lược, tầm nhìn dài hạn, gắn với liên kết vùng nhằm tạo động lực lan tỏa phát triển.

- Hoàn thiện cơ chế, chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế, trong đó có khu vực ĐTNN, đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng bằng nhiều hình thức, chú trọng theo mô hình hợp tác công tư (PPP), nghiên cứu xây dựng cơ chế chia sẻ rủi ro phù hợp với thông lệ quốc tế.

- Ban hành danh mục dự án ưu tiên thu hút đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nhằm phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng chất lượng cao, như hạ tầng giao thông, hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, điện, nước, logistics... để giảm chi phí vận tải, chi phí đầu vào của doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

c) Về thị trường hàng hóa

- Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tận dụng lợi thế đem lại từ các Hiệp định thương mại tự do đã ký kết, nhất là các hiệp định thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP).

- Rà soát các chính sách, biện pháp hàng rào thuế quan và phi thuế quan, đảm bảo cam kết hội nhập cũng như quyền lợi của doanh nghiệp trong nước, nâng cao hiệu quả hợp tác với khu vực ĐTNN.

- Hình thành đầy đủ và đảm bảo vận hành hiệu quả các loại thị trường phục vụ cho sản xuất hàng hóa, đặc biệt là các thị trường liên quan trực tiếp đến ĐTNN như tài chính, đất đai, lao động, công nghệ...

- Tăng cường tự do hóa thị trường các nhân tố sản xuất hàng hóa; bảo đảm nguyên tắc thị trường trong tiếp cận đất đai, vốn và cơ hội gia nhập thị trường.

3. Phát triển hệ sinh thái về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo

- Thúc đẩy và nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền về tầm quan trọng của đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo. Xây dựng và phát triển Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia, kết nối với trung tâm đổi mới sáng tạo cấp vùng, của địa phương và doanh nghiệp nhằm phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận với hoạt động đổi mới công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo.

- Triển khai quyết liệt và hiệu quả Nghị quyết số 50/NQ-CP của Chính phủ ngày 17 tháng 4 năm 2020 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27 tháng 9 năm 2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

- Xây dựng và phát triển hệ sinh thái khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo với cơ chế quản lý linh hoạt, phù hợp với môi trường kinh doanh số để tạo không gian thuận lợi cho đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo, tạo nền tảng thu hút, phát triển các ngành công nghệ cao.

- Có chính sách khuyến khích hợp tác, chuyển giao công nghệ và quản trị dựa trên cơ sở thỏa thuận, tự nguyện cho doanh nghiệp Việt Nam. Nâng cao các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về sản phẩm, bảo vệ môi trường, tài nguyên và tiết kiệm năng lượng hài hòa với tiêu chuẩn của khu vực và thế giới.

- Hoàn thiện khung pháp lý về xác lập, bảo vệ và thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động khoa học công nghệ, hoạt động sáng tạo.

4. Đổi mới và nâng cao cạnh tranh trong thu hút ĐTNN

- Xây dựng chính sách thu hút ĐTNN cân đối, hợp lý giữa các vùng, miền; bảo đảm việc thu hút, hợp tác ĐTNN theo đúng định hướng, quy hoạch, yêu cầu phát triển và mục tiêu cải thiện vị thế Việt Nam trong chuỗi sản xuất toàn cầu.

- Chính sách ưu đãi đầu tư cần được xem xét, căn cứ vào kết quả đầu ra như giá trị gia tăng, hợp phần sử dụng công nghệ cao, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp Việt Nam, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia các cấp độ trong chuỗi cung ứng.

- Từng bước chuyển từ thu hút ĐTNN phù hợp với nhóm sản phẩm hiện có trong nước sang đón đầu và xây dựng cơ chế, chính sách để nâng cao khả năng thu hút đầu tư sản xuất sản phẩm ưu tiên phát triển trong từng giai đoạn.

- Xây dựng thể chế, chính sách cho khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và các mô hình tương tự khác theo hướng xác định rõ trọng tâm phát triển và cơ chế, chính sách vượt trội phù hợp với đặc thù của từng mô hình, bảo đảm tính liên kết, đồng bộ với các khu vực khác.

5. Phát triển công nghiệp hỗ trợ, thúc đẩy liên kết, lan tỏa

- Đánh giá hiện trạng, xu hướng công nghệ và thị trường, xây dựng chiến lược ưu tiên phát triển một số lĩnh vực cụ thể thuộc công nghiệp hỗ trợ (CNHT) theo từng thời kỳ để ưu tiên phát triển, tránh đầu tư dàn trải, không hiệu quả.

- Xây dựng cơ chế khuyến khích, ưu đãi thỏa đáng để tăng liên kết giữa ĐTNN và đầu tư trong nước, lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư; nâng cao năng lực hấp thụ, dần tiến tới tự chủ công nghệ; phát triển cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị, góp phần nâng cao giá trị gia tăng nội địa, sức cạnh tranh của sản phẩm và vị trí quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu.

- Tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý chuyển giao công nghệ trên cơ sở xây dựng hệ thống văn bản đồng bộ trong thực hiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ; thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các tổ chức trung gian, tạo điều kiện để phát triển thị trường khoa học và công nghệ, khuyến khích doanh nghiệp chuyển giao, ứng dụng, đổi mới công nghệ, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ; hình thành liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp ĐTNN với các viện nghiên cứu, trường đại học trong nước.

6. Phát huy năng lực nội tại và tận dụng lợi thế cạnh tranh nhằm cải thiện hiệu quả hợp tác ĐTNN

a) Đẩy mạnh việc thực thi các nhóm chính sách thúc đẩy tăng năng suất lao động, năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) để phát triển năng lực nội tại và sức cạnh tranh của nền kinh tế, cụ thể:

- Nghiên cứu thành lập Ủy ban năng suất quốc gia và xây dựng Chiến lược nâng cao năng suất quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

- Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo. Nhấn mạnh vai trò và tầm quan trọng của đổi mới sáng tạo là khâu đột phá của chiến lược nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia.

- Hiện đại hóa và thị trường hóa giáo dục - đào tạo, gồm cả đào tạo nghề, chú trọng nâng cao trình độ, kỹ năng tay nghề, kỹ năng công nghệ số phù hợp với nhu cầu thực tế và đáp ứng yêu cầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

- Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo đội ngũ chuyên gia, nâng cao năng suất để hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số.

b) Thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh: xác định rõ ngành, lĩnh vực, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh chủ đạo để có những chính sách hỗ trợ phát triển phù hợp; tập trung nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, trình độ công nghệ, đổi mới sáng tạo.

c) Nghiên cứu xây dựng trung tâm tài chính quy mô khu vực

- Nghiên cứu mô hình trung tâm tài chính quốc tế trong khu vực để áp dụng linh hoạt nhằm kết nối, thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo lợi ích an ninh quốc gia.

- Nghiên cứu, xây dựng thể chế, pháp luật, chính sách có tính cạnh tranh, vượt trội cho trung tâm tài chính theo hướng tập trung các yếu tố: (i) bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh tốt; (ii) thu hút và phát triển được nguồn nhân lực ngành tài chính chất lượng cao; (iii) xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng và logsitics đẳng cấp quốc tế; (iv) phát triển khu vực tài chính của quốc gia minh bạch và lành mạnh, vững chắc; và (v) xây dựng được thương hiệu và danh tiếng tầm cỡ quốc tế.

d) Nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước

- Phát triển khu vực doanh nghiệp trong nước lớn mạnh, đủ thực lực hội nhập quốc tế; hỗ trợ tối đa doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa để liên doanh, liên kết với khu vực ĐTNN, tập trung vào lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ mới, công nghệ tiên tiến, công nghệ chủ chốt của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, dịch vụ hiện đại, công nghiệp chế tạo, công nghệ thông tin và dịch vụ tài chính.

- Thúc đẩy, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước liên doanh, liên kết thông qua hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp ĐTNN trong những ngành, lĩnh vực sử dụng công nghệ cao, công nghệ mới, tiên tiến, tiến tới sở hữu và làm chủ công nghệ.

- Định hướng, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước đánh giá, lựa chọn và tiếp nhận công nghệ được chuyển giao từ doanh nghiệp ĐTNN, đảm bảo tính tương thích, đồng bộ và phù hợp với mục tiêu phát triển công nghệ quốc gia trong từng giai đoạn.

- Xây dựng cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp trong nước có đủ khả năng cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, phụ kiện trong ngành CNHT để thông tin rộng rãi cho nhà ĐTNN tiếp cận và kết nối.

đ) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

- Hoàn thiện thể chế về lao động phù hợp với thông lệ quốc tế, đảm bảo thực hiện cam kết trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để thu hút ĐTNN chất lượng cao.

- Tăng cường đào tạo chuyên môn, kỹ năng, kỷ luật, văn hóa và nâng cao nhận thức cho lực lượng lao động, đặc biệt trong những ngành ưu tiên thu hút ĐTNN, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và yêu cầu thu hút và sử dụng ĐTNN. Nghiên cứu xây dựng cơ chế phối hợp với các tập đoàn, nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước để đào tạo theo “đơn đặt hàng”.

- Khuyến khích hình thức đào tạo trực tuyến; công nhận giá trị của chứng chỉ học trực tuyến để phát triển thị trường lao động.

- Khuyến khích doanh nghiệp ĐTNN đào tạo, nâng cao kỹ năng, trình độ cho lao động Việt Nam tiến tới lao động Việt Nam có thể đảm nhiệm vị trí quan trọng trong doanh nghiệp ĐTNN.

- Khuyến khích sử dụng người lao động Việt Nam đã làm việc, tu nghiệp ở nước ngoài, đặc biệt là các nước phát triển trở về làm việc tại Việt Nam. Tiếp tục mở rộng mạng lưới liên kết và nghiên cứu ban hành chính sách khuyến khích doanh nghiệp sử dụng nhân tài người Việt Nam tại nước ngoài.

- Khuyến khích tổ chức giáo dục nghề nghiệp toàn cầu đầu tư vào Việt Nam; đẩy mạnh phân luồng đào tạo đại học, cao đẳng và dạy nghề; cải cách chức năng, nhiệm vụ, tổ chức của hệ thống quản lý giáo dục, dạy nghề cho phù hợp và đáp ứng yêu cầu phát triển của thị trường lao động; đẩy mạnh mô hình "trường học trong doanh nghiệp".

- Đầu tư, phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động hiện đại, hỗ trợ tối đa các doanh nghiệp trong việc thu hút, đào tạo và tuyển dụng lao động.

7. Nâng cao hiệu quả của hội nhập kinh tế quốc tế và vị thế Việt Nam trên trường quốc tế

- Chủ động hội nhập quốc tế toàn diện theo hướng hiệu lực và hiệu quả hơn, nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức, để hội nhập quốc tế đóng góp thiết thực, có sức lan tỏa, thực sự trở thành phương tiện phục vụ phát triển đất nước bền vững trên cơ sở bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia.

- Triển khai biện pháp đồng hành và hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình hội nhập và thực hiện cam kết về hội nhập kinh tế quốc tế, kịp thời lắng nghe ý kiến và phản hồi của các doanh nghiệp về các vấn đề chính sách, vướng mắc trong hội nhập kinh tế quốc tế và trong quá trình đàm phán, thực thi các Hiệp định thương mại tự do.

- Bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam trong các tranh chấp kinh tế, thương mại và đầu tư quốc tế.

- Xây dựng và thực hiện các biện pháp phòng vệ thương mại nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp trong nước; nghiên cứu và tận dụng lợi thế từ các quy định quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có chỉ dẫn địa lý, tên gọi xuất xứ, nhãn hiệu, quyền tác giả, quyền liên quan... để bảo vệ tài sản trí tuệ của cá nhân, tổ chức Việt Nam tại nước ngoài.

8. Hiện đại hóa và đa dạng hóa công tác xúc tiến đầu tư

- Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư. Tăng cường sự phối hợp, liên kết giữa trung ương với địa phương, giữa các vùng, giữa cơ quan quản lý nhà nước với hiệp hội nghề nghiệp trong công tác xúc tiến đầu tư.

- Đổi mới công tác xúc tiến đầu tư thực chất, hiệu quả, có mục tiêu, trọng tâm, trọng điểm. Khi triển khai hoạt động xúc tiến đầu tư cần gắn với tiêu chí hợp tác đầu tư mới; tiếp tục duy trì thị trường và đối tác truyền thống, đồng thời mở rộng thị trường, đối tác mới.

- Chủ động tiếp cận, vận động linh hoạt qua các kênh khác nhau như: các cá nhân có ảnh hưởng lớn, nhà đầu tư, hiệp hội doanh nghiệp, tổ chức quốc tế, công ty tư vấn hàng đầu, quỹ đầu tư và cá nhân có tầm ảnh hưởng để thu hút các tập đoàn lớn mang các dự án có chất lượng vào Việt Nam.

- Đầu tư thỏa đáng nhằm đa dạng hóa và hiện đại hóa các hoạt động và phương thức xúc tiến đầu tư.

- Tăng cường cơ chế đối thoại, đổi mới, mở rộng phương thức tiếp nhận kiến nghị, phản ánh của nhà đầu tư; xử lý dứt điểm, kịp thời các khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án đang thực hiện.

- Rà soát, cơ cấu lại hệ thống các cơ quan xúc tiến đầu tư hiện có theo hướng chuyên nghiệp, độc lập, không chồng chéo, không trùng lặp với các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về ĐTNN; xem xét tăng khả năng gắn kết với xúc tiến thương mại và du lịch một cách linh hoạt, phù hợp với yêu cầu và đặc thù của từng địa phương. Đối với các thị trường tiềm năng, nghiên cứu cơ chế hợp tác trao đổi theo hướng tư nhân hóa các hoạt động xúc tiến đầu tư.

- Xây dựng bộ thương hiệu và hình ảnh cấp quốc gia, trung ương và địa phương phù hợp với quy hoạch phát triển và chiến lược thu hút đầu tư.

- Hợp tác với các tập đoàn lớn đầu tư tại Việt Nam để xây dựng “Đại sứ” hình ảnh về đầu tư cho Việt Nam nhằm tận dụng sức ảnh hưởng và thương hiệu của nhà đầu tư uy tín.

- Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả các hoạt động xúc tiến đầu tư tại cấp trung ương và cấp tỉnh.

9. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về ĐTNN

- Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, giám sát việc cấp, điều chỉnh, thu hồi dự án ĐTNN, ban hành quy định ưu đãi, hỗ trợ đầu tư..., kịp thời phát hiện các trường hợp vi phạm, có dấu hiệu trái pháp luật; rà soát việc thực hiện chính sách chưa đồng bộ, thiếu thống nhất giữa các địa phương.

- Công tác quản lý ĐTNN của các địa phương phải bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường, phù hợp quy hoạch, theo đúng tiêu chí lựa chọn, sàng lọc dự án...; quy trình, thủ tục cấp, điều chỉnh, thu hồi, chấm dứt hoạt động của dự án ĐTNN theo đúng quy định pháp luật. Hoàn thiện quy trình, thủ tục đầu tư thông thoáng nhưng kiểm soát được thông qua các công cụ pháp luật.

- Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về ĐTNN theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, thống nhất một đầu mối tại các bộ, ngành, địa phương, đáp ứng yêu cầu quản lý của địa phương, liên ngành, liên vùng và trong phạm vi cả nước. Nâng cao nhận thức, thống nhất trong các cấp chính quyền, nhất là người đứng đầu.

- Đẩy mạnh phân công, phân cấp, ủy quyền, phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát. Đơn giản hóa và thống nhất bộ mẫu báo cáo định kỳ của doanh nghiệp lên các cấp có thẩm quyền.

- Xử lý dứt điểm các dự án gây ô nhiễm môi trường, sử dụng đất không hiệu quả, kinh doanh thua lỗ nhiều năm, dự án không triển khai hoặc không thực hiện đúng cam kết. Phòng ngừa, giải quyết sớm, có hiệu quả các tranh chấp liên quan đến ĐTNN.

- Hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin quốc gia về đầu tư theo hướng đồng bộ, liên thông với các lĩnh vực lao động, đất đai, xây dựng, thuế, hải quan, ngân hàng, ngoại hối, chứng khoán... và các địa phương. Nâng cao chất lượng công tác thống kê, bảo đảm kịp thời, đầy đủ, chính xác và phù hợp với thông lệ quốc tế; gắn liền trách nhiệm báo cáo định kỳ doanh nghiệp với chế độ ưu đãi hậu kiểm.

Điều 2. Tổ chức thực hiện

1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư:

a) Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược hợp tác ĐTNN giai đoạn 2021 - 2030;

b) Tổng hợp tình hình thực hiện Chiến lược, định kỳ hàng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ; tổ chức sơ kết việc thực hiện Chiến lược đến năm 2025 và xác định các nhiệm vụ, giải pháp cho giai đoạn tiếp theo.

2. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương:

a) Tiếp tục triển khai các nhiệm vụ được giao tại: (i) Nghị quyết số 58/NQ-CP ngày 27 tháng 4 năm 2020 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20 tháng 8 năm 2019 của Bộ Chính trị; (ii) Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22 tháng 3 năm 2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045; (iii) Quyết định số 67/QĐ-TTg ngày 02 tháng 10 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Ảnh hưởng của tranh chấp thương mại Mỹ - Trung đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam”; và theo quy định pháp luật hiện hành;

b) Lồng ghép quan điểm, mục tiêu của Chiến lược vào các quy hoạch, kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của bộ, ngành, địa phương mình:

c) Triển khai sơ kết, tổng kết việc thực hiện Chiến lược trong lĩnh vực, phạm vi quản lý theo hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; gửi báo cáo về Bộ Kế hoạch và Đầu tư, định kỳ hàng năm để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Điều 3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.

Điều 4. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán nhà nước;
- Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Cơ quan trung ương của các đoàn thể;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, TGĐ Cổng TTĐT,
các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
- Lưu: VT, QHQT (2).

KT. THỦ TƯỚNG
PHÓ THỦ TƯỚNG





Phạm Bình Minh

thuộc tính Quyết định 667/QĐ-TTg

Quyết định 667/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021-2030
Cơ quan ban hành: Thủ tướng Chính phủSố công báo:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Số công báo. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Số hiệu:667/QĐ-TTgNgày đăng công báo:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Ngày đăng công báo. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Loại văn bản:Quyết địnhNgười ký:Phạm Bình Minh
Ngày ban hành:02/06/2022Ngày hết hiệu lực:Đang cập nhật
Áp dụng:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản để xem Ngày áp dụng. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Tình trạng hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Lĩnh vực:Đầu tư
TÓM TẮT VĂN BẢN

Phê duyệt Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021-2030

Ngày 02/6/2022, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 667/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021-2030.

Theo đó, Chiến lược phát triển đặt mục tiêu nâng cao tỷ lệ vốn đầu tư đăng ký của các quốc gia và vùng lãnh thổ trong một số khu vực trong tổng số vốn đầu tư nước ngoài cả nước lên hơn 70% trong giai đoạn 2021-2025 và 75% trong giai đoạn 2026-2030, bao gồm: (i) Châu Á: Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Malaysia, Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia, Phillipines; (ii) Châu Âu: Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Liên bang Nga, Anh; và (iii) Châu Mỹ: Hoa Kỳ.

Để đạt được mục tiêu trên, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cần đẩy mạnh việc thực thi các nhóm chính sách thúc đẩy tăng năng suất lao động, năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) để phát triển năng lực nội tại và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Đồng thời, cần tập trung cải thiện các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của Việt Nam theo tiêu chí đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Tổ chức sở hữu trí tuệ và Diễn đàn kinh tế thế giới, cần triển khai đồng bộ các giải pháp cụ thể sau: Kiểm soát chặt chẽ hành vi thâu tóm của nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đối với doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực chiến lược; kiểm soát chặt chẽ đối với dự án đầu tư có nguy cơ gây ảnh hưởng tiêu cực tới an ninh quốc gia, trật tự công cộng...

Quyết định này có hiệu lực từ ngày ký.

Xem chi tiết Quyết định 667/QĐ-TTg tại đây

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiển thị:
download Văn bản gốc có dấu (PDF)
download Văn bản gốc (Word)
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
ban dich TTXVN

THE PRIME MINISTER

 

THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence - Freedom - Happiness

No. 667/QD-TTg

 

Hanoi, June 2, 2022

 

DECISION

Approving the Strategy on foreign investment cooperation in the 2021-2030 period

THE PRIME MINISER

Pursuant to the June 19, 2015 Law on Organization of the Government; the November 22, 2019 Law amending and supplementing a number of articles of the Law on Organization of the Government and the Law on Organization of the Local Administrations;

Pursuant to the Politburo’s Resolution No. 50-NQ/TW of August 20, 2019 on the orientations for institutional and policy finalization for higher quality and efficiency of foreign investment cooperation towards 2030;

Pursuant to the 2021-2030 ten-year socio-economic development strategy adopted at the 13th National Congress of the Communist Party of Vietnam;

Pursuant to the Government’s Resolution No. 58/NQ-CP of April 27, 2019, promulgating its action program for materialization of the Politburo’s Resolution No. 50-NQ/TW of August 20. 2019 on the orientations for institutional and policy finalization for higher quality and efficiency of foreign investment cooperation towards 2030;

At the proposal of the Minister of Planning and Investment,

 

DECIDES:

 

Article 1. To approve the 2021-2030 Strategy on foreign investment cooperation with the following major contents:

I. VIEWPOINTS

1. To thoroughly study the guidelines at the Politburo’s Resolution No. 50-NQ/TW of August 20, 2019, on the orientations for institutional and policy finalization for higher quality and efficiency of foreign investment cooperation towards 2030.

2. To conform to the 2021-2025 five-year socio-economic development plan, the 2021-2025 plan on economic restructuring and the 2021-2030 ten-year socio-economic development strategy.

3. To closely associate foreign investment attraction with building and developing the independent and self-reliant economy in the spirit of substantive, efficient, intensive and extensive international integration.

4. To concentrate on focal and central foreign investment attraction; to select regions, markets and partners for promotion of development cooperation in the world and regional contexts; to relocate the investment capital flows, reducing the dependence on markets with many risks and potential disputes; to prioritize the connection of global production and supply chains; to attract green investment, high technologies, supporting technologies, modern management and administration methods.

5. To promote and improve the comparative edges, suitable to development trends, to approach advanced international standards and harmonize with international commitments, ensuring synchronism, consistency, publicity, transparency and high competitiveness.

6. To promote foreign investment cooperation in parallel with the process of socio-economic development, growth model renewal, economic restructuring and utmost promotion of internal resources; to closely associate and heighten the national competitiveness, the competitiveness of each sector, each enterprise; to intensify the connection between regions, zones and areas in the country on the basis of comparative edges.

7. To build and form the awareness of “cooperation for joint development”, intensifying the connection of domestic production with the production chains of multi-national groups in order to improve Vietnam’s position in production chain; to raise the localization rates, value added contents of domestic enterprises, organizations and individuals; to heighten the responsibility towards society and environmental protection with a view to raising the efficiency of foreign investment cooperation.

8. To balance the interests of investing parties with the interests of the state and the people in foreign investment cooperation activities in the spirit of interest harmony and risk sharing; to comply with the conditions on sustainable development and security and defense maintenance.

II. OBJECTIVES

1. General objectives

a/ To attract foreign investment projects applying advanced technologies, new technologies, high technologies of the fourth Industrial Revolution, modern administration with high value added, with positive widespread impacts, connecting global production and supply chains;

b/ To expand markets, making full use of capital, technology, management knowhow and business culture of the foreign investment sector; to heighten the competitiveness of the economy, enterprises and domestic products; to boost domestic industrial, agricultural and service sectors, establishing and enhancing the role of Vietnamese enterprises in international community;

c/ To comprehensively raise the efficiency and quality in the attraction and use of foreign investment capital, increasing the contribution rate of foreign investment sector in socio-economic development, commensurate to the enjoyed privileges and supports;

d/ To build and develop innovation centers, financial hubs of regional and international levels, creating socio-economic development impetus for the coming period.

2. Specific objectives

a/ To achieve the specific objectives stated at the Politburo’s Resolution No. 50-NQ/TW of August 20, 2019 on orientations for institutional and policy finalization for higher quality and efficiency of foreign investment cooperation towards 2030;

b/ To raise the ratio of registered investment capital of countries and territories in a number of areas to the total national foreign investment capital to over 70% in the 2021-2025 period and 75% in the 2026-2030 period, including: (i) Asia: Republic of Korea, Japan, Singapore, China, Taiwan (China), Malaysia, Thailand, India, Indonesia, the Philippines; (ii) Europe: France, Germany, Italia, Spain, Russian Federation; and (iii) America: the United States;

c/ To increase by 50% the number of multinational groups in the 500 largest groups in the world ranked by Fortune magazine (the US), which are present and operating in Vietnam;

d/ By 2030, to be among three top ASEAN nations and 60 leading world countries under the World Bank’s business environment ranking.

III. SOLUTIONS TO HIGHER EFFICIENCY OF FOREIGN INVESTMENT COOPERATION

1. To effectively apply the solutions already promulgated

a/ The Politburo’s Resolution No. 50-NQ/TW of August 20, 2019 on the orientations for institutional and policy finalization for higher quality and efficiency of foreign investment cooperation towards 2030;

b/ The Politburo’s Resolution No. 23-NQ/TW of March 22, 2018 on the orientations for formulation of national policy on industrial development towards 2030 and a vision towards 2045;

c/ The 12th Party Central Committee’s Resolution No. 10-NQ/TW of June 3, 2017 on the development of private economy into an important motive force of the socialist-oriented market economy;

d/ The Government’s Resolution No. 58/NQ-CP of April 27, 2020, promulgating the action program for implementation of the Politburo’s Resolution No. 50-NQ/TW of August 20, 2019 on the orientations for institutional and policy finalization for higher quality and efficiency of foreign investment cooperation towards 2030;

dd/ The Prime Minister’s Decision No. 1851/QD-TTg of December 27, 2018, approving the Scheme” Boosting the transfer, mastery and development of technologies from foreign countries into Vietnam in priority branches and domains in the period to 2025, with a vision towards 2030”;

e/ The Prime Minister’s Decision No. 67/QD-TTg of October 2, 2019, approving the Scheme “Impacts of the US-China trade disputes on the attraction of foreign direct investment into Vietnam”.

2. To improve the business and investment environment, raising the quality, efficiency and competitiveness of the economy

To concentrate on improving Vietnam’s competitiveness evaluation indexes according to the evaluation criteria of the World Bank, the Intellectual Property Organization and World Economic Forum; to focus on low indexes on institutions, infrastructures and commodity market. Thereby, the following specific solutions should be synchronously applied:

a/ On the institution

- To intensify the proactive, vigorous, equal and substantive involvement of ministries, ministerial-level agencies and localities with a view to constructing a fair, open and transparent business investment environment. To ensure a stable, unified, synchronous and more and more complete investment and legal environment, promptly adapting to new matters, handling inadequacies to heighten the foreign investment quality and efficiency.

- To improve the predictability and transparency in the course of elaborating normative documents; to formulate the process for monitoring, assessing the conformity, impacts and quality of policies and the effect and efficiency of policy enforcement.

- To study the mechanism for flexible application of business investment procedures on the post-audit principle to appropriate business lines and sectors in order to create competition in the course of attracting and using foreign investment capital.

- To strictly control the promulgation of business investment conditions for conditional investment business lines. To study further reduction of unnecessary and irrational business lines and investment business conditions, ensuring the full and consistent exercise of investors’ rights to business freedom under provisions of law.

- To finalize legal provisions on prevention of investment disputes; to propose solutions to settle problems, disputes of investors for early warning of danger of arising disputes between the state and foreign investors.

- To promulgate policies on creating legal corridors for the development and management of new investment forms and modes suitable to international practices.

- To strictly control foreign investors’ and foreign-invested enterprises’ acquisition of domestic enterprises, especially big enterprises and enterprises operating in strategic domains; to strictly control investment projects threatening to cause negative impacts on national security and public order.

- To step up the institutional formulation and finalization, creating full and comprehensive legal bases for building and developing e-government, towards digital Government and digital economy in Vietnam.

- To review and evaluate the superior institutional solutions already experimented or applied with good results, proceed with the institutionalization thereof for application nationwide; to assess the preferential treatments which create the institutional inequality between sectors in order to narrow then get rid of unequal and inconsistent institutional conditions.

b/ On infrastructure

- To plan the infrastructural development towards synchronism and modernization, with strategic thinking and long-term vision, in association with regional linkage with a view to creating the development spillover impetus.

- To complete institutions and policies so as to create favorable conditions for various economic sectors, including foreign investment sector, to invest in infrastructure construction and dealing in various forms, attaching importance to public-private partnership (PPP) model, studying the formulation of risk-sharing mechanism suitable to international practices.

- To promulgate lists of projects prioritized for attraction of investment in infrastructure development with a view to developing the system of high-quality infrastructures, such as traffic infrastructures, telecommunications infrastructures, information, water and electricity supply, logistics… technologies in order to reduce the transport costs and input expenses for enterprises, raising the competitiveness of the economy.

c/ On the commodity markets

- To diversify the export markets, making full use of advantages brought about by concluded free trade agreements, particularly such agreements of new generation as the Comprehensive and Progressive Trans-Pacific Partnership (CPTPP), Vietnam- Europe Free Trade Agreement (EVFTA) and the Regional Comprehensive Economic Partnership (RCEP).

- To scrutinize the tariff and non-tariff barrier policies and measures, ensuring the integration commitments as well as interests of domestic enterprises, raising the efficiency of cooperation with the foreign investment sector.

- To fully form and efficiently operate assorted markets in service of commodity production, especially markets directly related to foreign investment such as financial, land, labor, technological… markets.

- To intensify the market liberalization of commodity production factors; to ensure the market principle in access to land, capital and opportunities to join the markets.

3. To develop scientific, technological and innovation eco-systems

- To promote and raise the awareness of administrations at various levels about the importance of innovation and innovation start-up. To build and develop the National Innovation Center, linking with regional, local, enterprise innovation centers with a view to developing the start-up[ and innovation eco-systems, supporting enterprises to approach the technological renewal, innovation start-up activities.

- To resolutely and efficiently realize the Government’s Resolution No. 50/NQ-CP of April 17, 2020 on the action program for materialization of the Politburo’s Resolution No. 52-NQ/TW of September 27, 2019 on a number of undertakings and policies on proactive participation in the fourth Industrial Revolution.

- To build and develop the scientific, technological and innovation eco-systems with flexible management mechanisms suitable to digital business environment so as to create favorable space for innovation and innovation start-up, laying the foundation for attracting and developing high technologies.

- To work out policies to encourage cooperation, technological transfer and administration based on agreement and voluntariness for Vietnamese enterprises. To raise the technical norms and standards on products, environment and resource protection and energy saving in harmony with regional and world standards.

- To finalize the legal framework on establishment, protection and commercialization of intellectual property rights in order to ensure the rights and interests of organizations and individuals participating in scientific, technological as well as innovation activities.

4. To renew and heighten competition in foreign investment attraction

- To elaborate policies on attraction of foreign investment with balance and rationality between regions, zones; to ensure the foreign investment attraction and cooperation in strict accordance with orientations, planning, development requirements and the target of improving Vietnam’s position in global production chains.

- Preferential investment policies should be considered, based on the output results such as value added, hi-technological components, research and development, technological transfer to Vietnamese enterprises, support for Vietnamese enterprises in participation in supply chains at different levels.

- To proceed with incremental transition from attraction of foreign investment in accordance with existing domestic product groups to anticipation and formulation of mechanisms and policies for higher capacity to attract investment in the production of products with development priority in each period.

- To work out institutions and policies for economic zones, industrial parks, hi-tech parks, information technology parks, hi-tech application agricultural zones and other similar models towards clearly identifying focuses of development and dominant mechanisms as well as policies suitable to the peculiarities of each model, ensuring the linkage and synchronism with other regions.

5. To develop supporting industries, promote linkage and spillover

- To assess current technological status, trends and market, formulating the strategy of prioritizing the development of a number of specific fields of the supporting industries according to each period so as to prioritize development and avoid scattered and inefficient investment.

- To formulate mechanism of encouragement and satisfactory preferences in order to increase the linkage between foreign investment and domestic investment, domains prioritized for investment attraction; to raise the absorbing capability then incrementally proceed to technological self-reliance; to develop sector-linkage clusters, value chains, contributing to raising the domestic added value, competitiveness of products and national position in global value chains.

- To further complete the technological transfer-legal environment on the basis of establishing the synchronous system of documents in enforcement of policies in support of enterprises to invest in technological renewal; to promote the formation and development of intermediate organizations, creating conditions for development of science and technology market, encouraging enterprises in technological transfer, application and renewal, promoting the commercialization of results of technological research and development; to form joint-ventures, linkages between foreign invested enterprises and domestic research institutes as well as universities.

6. To promote the internal capability and make full use of comparative edges with a view to improving the efficiency of foreign investment cooperation

a/ To step up the enforcement of policy groups boosting higher labor productivity, total factor productivity (TFP) to develop the internal capability and competitiveness of the economy, specifically:

- To study the establishment of the National Productivity Committee and formulate the strategy to raise the national productivity up to 2030 and a vision towards 2045.

- To step up scientific and technological research and application, and innovation. To lay stress on the role and importance of innovation as a breakthrough of the strategy to heighten the national competitiveness.

- To modernize and market the education and training, including vocational training, attaching importance to raising the professional qualifications, occupational skills and digital technological skills in conformity with practical demands and satisfy the requirements of the fourth Industrial Revolution.

- To intensify international cooperation in the training of specialists contingent, raising productivity to support enterprises in satisfying the requirements of digital transformation.

b/ To boost production and business development; to clearly identify branches, domains and products with leading comparative edges in order to work out proper policies in support of development; to concentrate on raising the labor productivity, competitiveness, technological levels and innovation.

c/ To study the construction of a financial center of regional level

- To study models of international financial centers in the region for flexible application in order to link and promote economic development, ensuring the national security interests.

- To study and formulate institutions, laws and policies of competitive and dominant nature for financial center towards focusing on the factors: (i) ensuring good investment and business environment; (ii) attracting and developing the high-quality financial human resources; (iii) building the system of international-level infrastructures and logistics; (iv) developing the transparent, healthy and strong national finance; and (v) building the brands and fames of international level.

d/ To heighten the capability of domestic enterprises

- To develop a strong domestic enterprise sector capable of international integration; to render maximum support for start-up enterprises, innovation enterprises, small and medium enterprises for joint venture and cooperation with the foreign investment sector, focusing on high technologies, new technologies, advanced technologies and key technologies of the fourth Industrial Revolution, modern services, manufacturing industries, information technologies and financial services.

- To promote and support domestic enterprises for joint ventures, cooperation through capital contribution, purchase of shares or contributed capital of foreign-invested enterprises in branches and domains using high technologies, new and advanced technologies, then proceed to own and master the technologies.

- To orientate and support domestic enterprises in assessing, selecting and receiving technologies transferred from foreign-invested enterprises, ensuring their compatibility, synchronism and conformity with the objectives of national technological development in each period.

- To establish databases on domestic enterprises capable of supplying raw materials, materials, spare parts and components in the supporting industries for foreign investors to approach and connect.

dd/ To heighten the human-resource quality

- To finalize the labor institution suitable to international practices, ensuring the enforcement of commitments in free trade agreements of new generation. To raise the human-resource quality in order to attract high-quality foreign investment.

- To enhance trainings in profession, skills, disciplines, culture and heighten the awareness for labor forces, especially in branches with foreign investment attraction priority, in conformity with international standards and requirements of foreign investment attraction and use. To study the formulation of mechanism of coordination with big domestic and foreign groups as well as investors in trainings by “order placement”.

- To encourage on-line trainings; recognize the value of on-line learning certificates so as to develop the labor market.

- To encourage foreign-invested enterprises to provide trainings, skill and qualification improvement for Vietnamese laborers to that the latter can undertake important positions in foreign-invested enterprises.

- To encourage the employment of Vietnamese laborers who have worked or studied overseas, especially developed countries, and returned to work in Vietnam. To further expand the linkage networks and study the promulgation of policies to encourage enterprises to employ Vietnamese talents overseas.

- To encourage global vocational training organizations to invest in Vietnam; to step up the ramification of tertiary and vocational trainings; to reform the functions, tasks and organization of education and job-teaching management system in conformity with the requirements of labor market development; to strongly develop the “school in enterprises” model.

- To invest in developing the modern labor market information system, providing maximum support for enterprises in labor attraction, training and recruitment.

7. To heighten the international integration efficiency and Vietnam’s position on international arena

- To proactively effect comprehensive international integration towards higher effect and efficiency, seizing opportunities and surmounting challenges so that international integration makes practical contributions with widespread impacts, really becoming a means in service of sustainable national development on the basis of defense of national sovereignty and security.

- To apply measures for going in company with, and supporting enterprises in the process of integration and enforcement of commitments to international economic integration, promptly listen to the opinions and feedbacks of enterprises on policy matters and problems in international economic integration and the course of negotiation and enforcement of free trade agreements.

- To protect legitimate interests of the Vietnamese State, enterprises and consumers in international economic, trade and investment disputes.

- To formulate and apply trade protection measures with a view to protecting the legitimate rights and interests of domestic enterprises; to study and apply the advantages from international regulations on intellectual property right protection, including geographical indications, origin appellation, label, copyrights, relevant rights…, to protect the intellectual property of Vietnamese individuals and organizations in foreign countries.

8. To modernize and diversify the investment promotion activities

- To continue renewing, completing and raising the efficiency of investment promotion activities. To enhance the coordination and connection between central and local administrations, between regions, between state management bodies and professional associations in investment promotion activities.

- To renew investment promotion activities to be substantive, effective with objectives, central and focal points. The investment promotion activities should be carried out in association with new investment cooperation criteria; to continue maintaining the traditional markets and partners while expanding new markets and new partners.

- To proceed with proactive approach and flexible mobilization through different channels such as influential individuals, investors, business associations, international organizations, first-rank consultancy companies, influential investment funds and individuals in order to attract big groups with quality projects brought into Vietnam.

- To make satisfactory investment with a view to diversifying and modernizing investment promotion activities and modes.

- To intensify dialogue mechanism, renewing and expanding modes of receiving petitions and reports of investors; to definitely and promptly remove difficulties and problems related to projects being underway.

- To scrutinize and restructure the system of existing investment promotion agencies towards professionalism, independence, non-overlapping, non-coincidence with bodies functioning to perform the state management of foreign investment; to consider the possibility of higher association with trade and tourism promotion in a flexible manner, suitable to the requirements and peculiarities of each locality. With regard to potential markets, to study the mechanism of cooperation and exchange towards privatization of investment promotion activities.

- To build sets of national, central and local brands and images in conformity with investment attraction development planning and strategy.

- To cooperate with big groups investing in Vietnam in building the “ambassadors” of investment images for Vietnam in order to take advantage of the influence and brands of prestigious investors.

- To build a set of criteria for evaluation of efficiency of investment promotion activities at central and provincial levels.

9. To raise the effect and efficiency of state management over foreign investment

- To intensify the inspection, examination and supervision of licensing, adjustment and recovery of foreign investment projects, promulgating the regulations on investment preferences and support…, promptly detecting violations with illegal signs; to review the policy enforcement without synchronism and consistence between localities.

- The local management of foreign investment must ensure socio-economic and environmental efficiency, conformity with planning, strict accordance with criteria on project selection and screening…; the strict compliance with legal provisions; the strict accordance with the law-prescribed foreign investment project-licensing, adjustment and termination order and procedures. To complete the investment processes and procedures, which are open but controllable via legal tools.

- To consolidate the foreign investment state management apparatus towards tidiness, elite, effective and efficient operation, with one coordinator at ministries, ministerial-level agencies and localities, meeting the local, inter-sector, inter-regional and national management requirements. To enhance the awareness and unanimity among administration authorities, chiefly the heads.

- To step up the responsibility division, decentralization, authorization and coordination among ministries, ministerial-level agencies and localities in association with intensified examinations and supervisions. To simplify and unify set of forms of enterprises’ periodical reports to competent authorities.

- To definitely handle projects causing environmental pollution, using land inefficiently, suffering business loss for many years, projects not being executed or failing to abide by the commitments. To prevent, early and effectively settle disputes related to foreign investment.

- To complete the system of databases and national information on investment towards synchronism and connection with labor, land, construction, tax, customs, banking, foreign exchange, securities…sectors and with localities. To raise the quality of statistical work, ensuring the timeliness, fullness, accuracy and conformity with international practices; to associate the responsibility of enterprises’ periodical reporting with the post-audit preference regime.

Article 2. Organization of implementation

1. The Ministry of Planning and Investment:

a/ To assume prime responsibility for, and coordinate with relevant units in, elaborating the Prime Minister’s Decision on action program for materialization of the 2021-2030 Strategy on foreign investment cooperation;

b/ To synthesize the situation of implementation of the Strategy and annually report thereon to the Prime Minister; to organize the final review of the implementation of the Strategy to 2025 and identify tasks and solutions for subsequent periods.

2. Other ministries, ministerial-level agencies, government-attached agencies, provincial/municipal People’s Committees:

a/ To continue performing the tasks assigned at: (i) The Government’s Resolution No. 58/NQ-CP of April 27, 2020, promulgating its action program for materialization of the Politburo’s Resolution No. 50-NQ/TW of August 20, 2019; (ii) The Politburo’s Resolution No.23-NQ/TW of March 22, 2018 on orientation for formulation of policy on national industrial development to 2030 and a vision towards 2045; (iii) The Prime Minister’s Decision No. 67/QD-TTg of October 2, 2019 approving the Scheme “ Impacts of the US-China trade disputes on attraction of foreign direct investment into Vietnam”; and under current provisions of law;

b/ To incorporate the viewpoints and objectives of the Strategy into socio-economic development planning, plans and strategies of their respective ministries, ministerial-level agencies and localities;

c/ To make preliminary and final reviews of the implementation of the Strategy in their respective domains and management scopes under the guidance of the Ministry of Planning and Investment; send the annual reports to the Ministry of Planning and Investment for sum-up report to the Prime Minister.

Article 3. This Decision takes effect after its signing.

Article 4. Ministers, heads of ministerial-level agencies, heads of government-attached agencies, presidents of provincial/municipal People’s Committees shall implement this Decision.-

For the Prime Minister

Deputy Prime Minister

PHAM BINH MINH

 

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem bản dịch TTXVN.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Văn bản này chưa có chỉ dẫn thay đổi
văn bản TIẾNG ANH
Công báo tiếng Anh
download Decision 667/QD-TTg (Manuscript) DOC (Word)
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao để tải file.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

download Decision 667/QD-TTg (Manuscript) PDF
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao để tải file.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi

19006192

Theo dõi LuatVietnam trên YouTube

TẠI ĐÂY

tin liên quan
văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đợi