- Tổng quan
- Nội dung
- VB gốc
- Tiếng Anh
- Hiệu lực
- VB liên quan
- Lược đồ
-
Nội dung hợp nhất
Tính năng này chỉ có tại LuatVietnam.vn. Nội dung hợp nhất tổng hợp lại tất cả các quy định còn hiệu lực của văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính... trên một trang. Việc hợp nhất văn bản gốc và những văn bản, Thông tư, Nghị định hướng dẫn khác không làm thay đổi thứ tự điều khoản, nội dung.
Khách hàng chỉ cần xem Nội dung hợp nhất là có thể nắm bắt toàn bộ quy định hiện hành đang áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.
- Tải về
Nghị quyết 2026 của Ban Chấp hành Trung ương về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV
| Cơ quan ban hành: | Ban Chấp hành Trung ương |
Số công báo:
Số công báo là mã số ấn phẩm được đăng chính thức trên ấn phẩm thông tin của Nhà nước. Mã số này do Chính phủ thống nhất quản lý.
|
Đang cập nhật |
| Số hiệu: | NGHỊ QUYẾT | Ngày đăng công báo: | Đang cập nhật |
| Loại văn bản: | Nghị quyết | Người ký: | Đang cập nhật |
| Trích yếu: | Về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV | ||
|
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
|
23/01/2026 |
Ngày hết hiệu lực:
Ngày hết hiệu lực là ngày, tháng, năm văn bản chính thức không còn hiệu lực (áp dụng).
|
Đang cập nhật |
|
Áp dụng:
Ngày áp dụng là ngày, tháng, năm văn bản chính thức có hiệu lực (áp dụng).
|
Đã biết
|
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
|
Đã biết
|
| Lĩnh vực: | Chính sách | ||
TÓM TẮT NGHỊ QUYẾT NGHỊ QUYẾT
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải Nghị quyết NGHỊ QUYẾT
| ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV
| ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Hà Nội ngày 23 tháng 1 năm 2026 |
NGHỊ QUYẾT
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV
_____________________
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra từ ngày 19/01/2026 đến ngày 23/01/2026, tại Thủ đô Hà Nội, sau khi thảo luận các văn kiện do Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII trình,
QUYẾT NGHỊ
I- Tán thành những nội dung cơ bản về đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII; kết quả tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011 - 2025) nêu trong các văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII trình Đại hội. Cụ thể là:
1. Kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII
Nhiệm kỳ Đại hội XIII diễn ra trong bối cảnh thế giới có rất nhiều khó khăn, thách thức, xuất hiện nhiều vấn đề rất mới, chưa có tiền lệ, đặc biệt là đại dịch Covid-19, kinh tế thế giới suy giảm, xung đột địa chính trị, chiến tranh thương mại; cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số và trí tuệ nhân tạo diễn ra nhanh, sâu sắc và toàn diện; các vấn đề biến đổi khí hậu, an ninh truyền thống, phi truyền thống ngày càng phức tạp. Với ý chí, khát vọng phát triển, tư duy đổi mới, quyết tâm cao, hành động quyết liệt, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII. Đảng ta vững vàng lãnh đạo đất nước tiếp tục đạt được những kết quả rất quan trọng, toàn diện, với nhiều điểm sáng nổi bật. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, duy trì tăng trưởng ở mức cao. Lạm phát, bội chi ngân sách nhà nước và các chỉ tiêu về nợ công được kiểm soát tốt; thặng dư thương mại liên tục ở mức cao; thị trường trong nước phát triển mạnh toàn diện. Các nguồn lực đầu tư phát triển được huy động và sử dụng hiệu quả hơn, nhất là nguồn lực nhà nước. Nhiều dự án tồn đọng, doanh nghiệp thua lỗ kéo dài, các tổ chức tín dụng yếu kém đã được xử lý dứt điểm, đạt nhiều kết quả tích cực. Thực hiện quyết liệt, kịp thời, hiệu quả nhiều giải pháp khống chế, đẩy lùi đại dịch Covid-19, như "ngoại giao vắcxin", tiêm chủng miễn phí toàn quốc và thực hiện mục tiêu "kép" vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh, vừa phục hồi, thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh, bền vững cho giai đoạn sau đại dịch. Quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, tăng cường; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế được nâng tầm và đạt nhiều kết quả nổi bật. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, có mặt nổi bật, đột phá chưa từng có. Đặc biệt, cuối nhiệm kỳ đã ban hành và tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả cao nhiều quyết sách chiến lược mang tính bước ngoặt, tạo thế và lực cho tăng tốc phát triển. Công tác xây dựng pháp luật có nhiều đổi mới, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế. Cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả đã đạt được những kết quả mang tính đột phá, được cán bộ, đảng viên, Nhân dân đồng tình ủng hộ, dư luận quốc tế đánh giá cao. Trong nhiệm kỳ qua, Việt Nam là điểm sáng về ổn định chính trị, an ninh, an toàn và ổn định xã hội. Đảng ta đã thể hiện sự đột phá về tư duy, tầm nhìn và hành động, đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, quản trị và kiến tạo phát triển, chủ động nắm bắt, tận dụng thời cơ, tạo tiền đề vững chắc cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng tiếp tục được nâng cao, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường còn chậm; năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao. Kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên một số lĩnh vực, địa bàn chưa được quan tâm đúng mức. Tình trạng ngập lụt, ô nhiễm môi trường chưa được kiểm soát hiệu quả, có mặt còn trầm trọng hơn, nhất là môi trường ở các đô thị lớn, khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các làng nghề. Văn hoá chưa thực sự trở thành nguồn lực, sức mạnh nội sinh và động lực mạnh mẽ của sự phát triển. Thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chưa đồng bộ, còn nhiều bất cập. Cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn tồn tại điểm nghẽn, nút thắt. Công tác tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có nhiều đổi mới, cách làm hay, song vẫn chưa bắt kịp với yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước. Công tác cán bộ còn một số bất cập, trước hết là khâu đánh giá cán bộ; kiểm soát quyền lực và quản lý cán bộ cấp chiến lược có mặt còn hạn chế. Một số tổ chức, cơ quan, đơn vị ở cấp xã sau sắp xếp, hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền mới thời gian đầu còn gặp khó khăn, lúng túng. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong giám sát, phản biện xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân chất lượng chưa cao. Quyền làm chủ của Nhân dân chưa được thể chế hoá đầy đủ, có lúc, có nơi còn bị vi phạm. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vẫn còn có mặt hạn chế. Sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp có mặt chưa rõ ràng, thiếu chặt chẽ; hiệu lực, hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước chưa cao. Vai trò lãnh đạo của một số cấp uỷ đảng còn hạn chế. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng có lúc, có nơi chưa sát thực tiễn, thiếu chiều sâu. Công tác cán bộ còn một số bất cập, nhất là đánh giá cán bộ; kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ có mặt còn hạn chế.
2. Về 40 năm đổi mới
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là sự lựa chọn mang tính lịch sử, là quá trình phát triển toàn diện về tư duy, nhận thức lý luận, về đường lối lãnh đạo của Đảng trong xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; là sự nghiệp vĩ đại mang tầm vóc lịch sử, có ý nghĩa to lớn mở ra kỷ nguyên mới, nâng tầm vị thế cho đất nước trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, do Nhân dân Việt Nam thực hiện. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong 40 năm đổi mới là kết quả của quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục, là kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế thời đại; sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh to lớn của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta đã đúc kết được những bài học kinh nghiệm quý báu mang tầm lý luận, từng bước xây dựng và hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới, có giá trị định hướng thực tiễn cho sự nghiệp cách mạng của đất nước trong giai đoạn mới.
II- Tầm nhìn và định hướng phát triển
Thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức lớn đan xen; trong nước đang triển khai những quyết sách chiến lược mang tính cách mạng, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới rất cao; đồng thời đây cũng là bước ngoặt mới, vận hội mới mang tính lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phát huy sức mạnh đại đoàn kết, chung sức, đồng lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi các quan điểm, mục tiêu, định hướng và nhiệm vụ trọng tâm sau:
1. Quan điểm chỉ đạo
2. Mục tiêu phát triển
Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
3. Về các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển chủ yếu 5 năm 2026 - 2030
- Về kinh tế: Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỉ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%. Tốc độ tăng năng suất lao động đạt khoảng 8,5%/năm. Giảm tiêu hao năng lượng tính trên đơn vị GDP ở mức 1 - 1,5%/năm. Tỉ lệ đô thị hoá đạt trên 50%.
Tổng tích luỹ tài sản khoảng 35 - 36% GDP; tỉ trọng tiêu dùng cuối cùng khoảng 61 - 62% GDP. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm khoảng 40% GDP, trong đó đầu tư công chiếm 20 - 22%. Tỉ lệ huy động vào ngân sách nhà nước giai đoạn 2026 - 2030 đạt 18% GDP; bội chi ngân sách nhà nước khoảng 5% GDP.
- Về xã hội: Chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt khoảng 0,8; tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh đạt khoảng 75,5 tuổi, trong đó thời gian sống khoẻ mạnh đạt tối thiểu 68 năm; tỉ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội giảm xuống còn dưới 20%; tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%. Tỉ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026 - 2030) duy trì mức giảm 1 - 1,5 điểm %/năm. Phấn đấu thuộc nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất.
- Về môi trường: Tỉ lệ che phủ rừng duy trì mức 42%; tỉ lệ xử lý và tái sử dụng nước thải ra môi trường lưu vực các sông đạt 65 - 70%; lượng phát thải khí nhà kính giảm 8 - 9%; tỉ lệ các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt quy chuẩn về môi trường đạt khoảng 98 - 100%; tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia.
4. Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026 - 2030
5. Nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIV
(6) Tiếp tục xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo của đất nước. Đẩy mạnh triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả công tác đối ngoại; nâng tầm và phát huy vai trò đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân trong việc kiến tạo môi trường hoà bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác, thuận lợi cho phát triển đất nước.
Các đột phá chiến lược:
Trong nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng cần tập trung vào những nội dung then chốt sau đây:III- Thông qua Báo cáo chính trị, Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam. Giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV căn cứ ý kiến của Đại hội và Báo cáo giải trình của Đoàn Chủ tịch Đại hội để hoàn thiện và chính thức ban hành.
IV- Thông qua Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011 - 2025) và đề xuất, định hướng bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng của Ban Chấp Trung ương Đảng khoá XIII; đồng ý không bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng hiện hành. Giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV chỉ đạo nghiên cứu tổng kết thực tiễn thi hành Điều lệ Đảng ngay từ đầu nhiệm kỳ để báo cáo kết quả thực hiện và đề xuất bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng cùng với bổ sung, sửa đổi Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Đại hội XV của Đảng vào dịp kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng; đồng thời chỉ đạo nghiên cứu, tiếp thu để điều chỉnh thông qua các quy định, hướng dẫn của Trung ương; tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm thi hành nghiêm túc, thống nhất, hiệu quả Điều lệ Đảng.
V- Thông qua Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII trình Đại hội XIV. Giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV tiếp thu ý kiến của Đại hội, phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong nhiệm kỳ tới.
VI- Thông qua kết quả bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV gồm 200 đồng chí, trong đó có 180 đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng chính thức, 20 đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng dự khuyết.
VII- Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV và các cấp uỷ, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hoá và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối và những chủ trương nêu trong các văn kiện Đại hội XIV.
Đại hội kêu gọi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phát huy cao độ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất ý chí và hành động; thực hiện đồng bộ, hiệu quả các quyết sách chiến lược; quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!