• Tổng quan
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung hợp nhất 

    Tính năng này chỉ có tại LuatVietnam.vn. Nội dung hợp nhất tổng hợp lại tất cả các quy định còn hiệu lực của văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính... trên một trang. Việc hợp nhất văn bản gốc và những văn bản, Thông tư, Nghị định hướng dẫn khác không làm thay đổi thứ tự điều khoản, nội dung.

    Khách hàng chỉ cần xem Nội dung hợp nhất là có thể nắm bắt toàn bộ quy định hiện hành đang áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

    =>> Xem hướng dẫn chi tiết cách sử dụng Nội dung hợp nhất

  • Tải về
Lưu
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Theo dõi VB
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Ghi chú
Báo lỗi
In

Công văn 4270/BVHTTDL-VP 2024 trả lời kiến nghị của cử tri gửi tới sau kỳ họp thứ 7, khóa XV

Ngày cập nhật: Thứ Bảy, 12/10/2024 09:20 (GMT+7)
Cơ quan ban hành: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Số công báo:
Số công báo là mã số ấn phẩm được đăng chính thức trên ấn phẩm thông tin của Nhà nước. Mã số này do Chính phủ thống nhất quản lý.
Đang cập nhật
Số hiệu: 4270/BVHTTDL-VP Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Công văn Người ký: Nguyễn Văn Hùng
Trích yếu: Về việc trả lời kiến nghị của cử tri gửi tới sau kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
02/10/2024
Ngày hết hiệu lực:
Ngày hết hiệu lực là ngày, tháng, năm văn bản chính thức không còn hiệu lực (áp dụng).
Đang cập nhật
Áp dụng:
Ngày áp dụng là ngày, tháng, năm văn bản chính thức có hiệu lực (áp dụng).
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Lĩnh vực: Văn hóa-Thể thao-Du lịch

TÓM TẮT CÔNG VĂN 4270/BVHTTDL-VP

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải Công văn 4270/BVHTTDL-VP

Tải văn bản tiếng Việt (.pdf) Công văn 4270/BVHTTDL-VP PDF (Bản có dấu đỏ)

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
B VĂN HÓA, TH THAO VÀ DU LCH
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: /BVHTTDL-VP
V/v trả lời kiến nghị của cử tri gửi tới
sau kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV
Hà Nội, ngày tháng năm 2024
Kính gửi: Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Tĩnh
Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch nhận được kiến nghị của cử tri tỉnh
Tĩnh gửi tới sau kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XV do Ban Dân nguyện chuyển
đến theo Công văn số 655/BDN ngày 02/8/2024 với nội dung kiến nghị như sau:
Đối với dự án Luật Di sản văn hóa (sửa đổi):
1. Về giải thích từ ngữ (Điều 3)
- Tại khoản 22 khoản 23, đề nghị quy định giải thích hoạt động
“sửa chữa thường xuyên”, “tôn tạo” được thực hiện đối với di tích và danh lam
thắng cảnh, đảm bảo phù hợp với thực tiễn và thống nhất với khoản 24 Điều này
quy định hoạt động tu bổ (trong đó tôn tạo) áp dụng đối với cả di tích
danh lam thắng cảnh.
- Tại khoản 25, quy định: “Tu sửa cấp thiết di tích hoạt động sửa chữa
không phải tháo rời toàn b cấu kiện, thành phần kiến trúc hoặc hoạt
động chống đỡ, gia cố, gia cường tạm thời để ngăn chặn di tích, di tích thuộc
danh mục kiểm di tích khỏi bị sập đổ, hủy hoại”. Thực tế, nếu tu sửa di tích
“không phải tháo rời toàn bộ cấu kiện, thành phần kiến trúc hoặc hoạt
động chống đỡ, gia cố, gia cường tạm thời” tkhông đúng với tính chất tu sửa
cấp thiết. Do đó, đề nghị sửa thành: “Tu sửa cấp thiết di tích hoạt động sửa
chữa mang tính cấp bách nhằm ngăn ngừa di ch thuộc danh mục kiểm di
tích khỏi bị sập đổ, hủy hoại”.
- Đề nghị bổ sung giải thích các khái niệm: “Đối tượng kiểm di tích”,
“địa điểm khảo cổ”, đảm bảo tính khả thi trong quá trình thực hiện.
2. Về sở hữu di sản văn hóa (Điều 4)
Cần quy định hình thức sở hữu riêng, sở hữu chung về di sản văn hóa
quy định cụ thể thẩm quyền, tiêu chí xác định các hình thức sở hữu đối với di
sản văn hóa; nguyên tắc quản lý, bảo vệ, phát huy di sản văn hóa. Đồng thời
quy định cụ thể về giải quyết tranh chấp quyền sở hữu đối với di sản văn hóa
phát sinh giữa nhân, tổ chức nhằm bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của
cộng đồng, người dân đối với di sản văn hóa.
3. Về các loại hình di sản văn hóa phi vật thể (Điều 9)
4270
02
10
2
Công ước 2003 của UNESCO phân loại di sản văn hóa phi vật thể thành
5 loại hình/lĩnh vực, bao gồm: Các truyền thống biểu đạt truyền khẩu, trong
đó ngôn ngữ phương tiện của di sản văn hóa phi vật thể; nghệ thuật trình
diễn; tập quán hội, tín ngưỡng các lễ hội; tri thức tập quán liên quan
đến tự nhiên và vũ trụ; nghề thủ công truyền thống.
Tuy nhiên, tại Điều 9 dự thảo Luật chia di sản văn hóa phi vật thể thành 6
loại hình/lĩnh vực, trong đó tách lễ hội truyền thống thành mục riêng. Đề nghị
cân nhắc quy định phân loại này lhội truyền thống phải gắn chặt với n
ngưỡng, không thể bóc tách lễ hội truyền thống ra khỏi tín ngưỡng, độc lập với
tín ngưỡng.
4. Về chính sách đối với nghệ nhân, chủ thể của di sản văn hóa phi vật
thể (Điều 13)
Tại điểm d, khoản 1 quy định: “Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân ưu
được nhà nước phong tặng được hưởng trợ cấp sinh hoạt hàng tháng, hỗ trợ
tiền đóng bảo hiểm y tế, được hỗ trợ chi phí mai táng khi chết”. Đề nghị quy
định mức được hưởng trợ cấp sinh hoạt hàng tháng bao nhiêu; đồng thời
quy định chỉ hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm y tế, chi phí mai ng khi chết đối với
những người không hưởng lương hưu (hoặc đã được hưởng chính sách khác).
Hiện nay, HĐND tỉnh Tĩnh đã ban hành Nghị quyết số 98/2022/NQ-
NĐND ngày 16/12/2022 về một số chính sách phát triển văn hóa, thể thao và du
lịch tỉnh Tĩnh giai đoạn 2023 - 2025, trong đó quy định hỗ trợ 1.000.000
đồng/người/tháng đối với Nghệ nhân Ưu tú, 1.500.000 đồng/người/tháng đối với
Nghệ nhân Nhân dân; ngoài ra tỉnh chưa chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo
hiểm y tế, chi phí mai táng khi chết đối với đối ợng này. vậy, đề nghị Luật
cần quy định để ngoài chính sách chung thì tỉnh thể ban hành chính sách
riêng, tạo điều kiện cho các nghệ nhân Nhân dân, nghệ nhân ưu hoạt động,
cống hiến.
5. Về cấp độ, tiêu chí xếp hạng và hình thức xếp hạng di tích (Điều 23)
Tại điểm b, khoản 3, đề nghị bổ sung nội dung quản lý đối với trường hợp
di tích nằm giáp ranh giữa 2 tỉnh trở lên hoặc 2 tỉnh cùng xếp hạng.
6. Về dự án đầu tư, xây dựng công trình trong khu vực bảo vệ di tích
(Điều 27)
Cần quy định đẩy mạnh việc phân cấp, giảm bớt các thủ tục hành chính
theo hướng chỉ nên quy định việc lấy ý kiến các quan quản lý Nhà nước về
văn hóa đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình trong khu vực bảo vệ 1,
trước khi cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư. Còn khu vực bảo vệ 2
nên giao cho UBND tỉnh xem xét, quyết định và không phải xin ý kiến.
3
7. Về dự án đầu tư, xây dựng công trình nằm ngoài các khu vực bảo vệ di
tích khả năng tác động tiêu cực đến di tích, cảnh quan văn hóa của di tích
(Điều 28)
Đề nghị xem xét bổ sung quy định về khoảng cách tối thiểu của các công
trình xây dựng khả năng ảnh hưởng tới di tích để làm sở thẩm định, đánh
giá tác động các công trình xây dựng, dự án phát triển kinh tế - hội của các
địa phương.
8. Về tiêu chuẩn xếp hạng bảo tàng (Điều 35)
Tại khoản 1 đề nghị thay cụm từ “phòng, chống các dấu hiệu từ nấm mốc,
mối mọt, côn trùng, sinh vật gây hại” bằng cụm từ “các tác nhân gây hại đến di
tích” thành:“Bảo quản định kỳ di tích hoạt động kiểm tra, phát hiện, vệ sinh
cơ học, các tác nhân gây hại đến di tích cấu kiện, thành phần kiến trúc, hiện vật,
cảnh quan văn hóa của di tích nhằm bảo vệ di tích trước khi phải thực hiện tu
sửa cấp thiết, sửa chữa thường xuyên di tích” ngoài nấm mốc, mối mọt, côn
trùng, sinh vật gây hại đến di tích còn có các tác nhân khác.
9. Về giám định, điều kiện thực hiện giám định di vật, cổ vật và đăng ký di
vật, cổ vật (Điều 39)
- Tại khoản 3 quy định: “Sở Văn hóa, Thể thao Du lịch, bảo tàng công
lập được thực hiện giám định di vật, cổ vật khi đáp ứng đủ các điều kiện tại
khoản 2 Điều này chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả giám định”.
Tuy nhiên, tại điểm b, khoản 6 quy định: “Di vật, cổ vật phải được giám định tại
quan, tổ chức quy định tại khoản 3 Điều này hoặc sở kinh doanh giám
định di vật, cổ vật quy định tại Điều 77 Luật này trước khi đăng ký”.
Như vậy, theo điểm b, khoản 6, ngoài hai chủ thể là Sở Văn hóa - Thể
thao Du lịch Bảo tàng tỉnh còn quy định thêm “các sở kinh doanh”
cũng thể thực hiện việc giám định nếu đáp ứng đủ điều kiện. Đề nghị sửa lại
đảm bảo thống nhất.
- Đề nghị soát phạm vi hoạt động giám định di vật, cổ vật, đảm bảo
thống nhất với Luật Giám định tư pháp năm 2012 về điều kiện tổ chức thực hiện
giám định, chủ thể thực hiện giám định (cá nhân, tổ chức), chủ thể thẩm
quyền công nhận cá nhân giám định ...
10. Về tiêu chuẩn xếp hạng bảo tàng (Điều 68)
Tại điểm c, khoản 2 quy định: “Số lượng khách tham quan bảo tàng hàng
năm từ 50.000 lượt người trở lên (đối với bảo tàng thu phí tham quan)
hoặc từ 100.000 lượt người trở lên (đối với bảo tàng không thu phí tham
quan)” đối với bảo tàng hạng II; điểm c, khoản 3 quy định: “Số lượng khách
tham quan bảo tàng hàng năm từ 25.000 lượt người trở lên (đối với bảo tàng
thu phí tham quan) hoặc trên 50.000 lượt người trở lên (đối với bảo tàng
4
không thu phí tham quan)” đối với Bảo tàng hạng III. Quy định tiêu chuẩn xếp
hạng như vậy quá cao, không phù hợp với thực tế. Đề nghị xem xét giảm tiêu
chuẩn.
11. Về kinh doanh di vật, cổ vật (Điều 78)
Tại điểm b, khoản 4 quy định một trong các điều kiện để cấp chứng chỉ
hành nghề kinh doanh di vật, cổ vật đối với nhân đó “Có trình độ chuyên
môn hoặc am hiểu về di vật, cổ vật”. Việc quy định điều kiện “am hiểu về di vật,
cổ vật” còn mang tính định tính, dẫn đến khó khăn cho quan thẩm quyền
trong quá trình thực hiện thủ tục cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh di vật, cổ
vật cho cá nhân. Đề nghị quy định đảm bảo thuận lợi, thống nhất và khả thi.
12. Về ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số trong bảo vệ phát
huy giá trị di sản văn hóa (Điều 85)
Việc số hóa di sản, ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số trong
lĩnh vực di sản văn hóa được Luật Di sản văn hóa bổ sung vấn đề cấp thiết
hiện nay. Tuy nhiên, đây nội dung mới cần cập nhật được những vấn đvề
quản lý, hoạt động, bản quyền, quyền khai thác, sử dụng, lưu trữ,… Đề nghị quy
định để tạo hành lang pháp điều chỉnh hoạt động bảo vệ, khai thác, s
dụng và phát huy giá trị của di sản văn hóa theo nền tảng công nghệ kỹ thuật số.
13. Về quỹ bảo tồn di sản văn hóa (Điều 90)
Tại khoản 1 quy định: “Quỹ bảo tồn di sản văn hóa là quỹ tài chính nhà
nước ngoài ngân sách…” và tại khoản 3 quy định: “Quỹ bảo tồn di sản văn hóa
cách pháp nhân; con dấu riêng; được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà
nước, ngân hàng thương mại”.
Tuy nhiên Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 Nghị định số
163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành
Luật Ngân sách nhà nước không quy định về cách pháp nhân của quỹ tài
chính nhà nước ngoài ngân sách. Do đó, đề nghị rà soát, làm rõ cơ sở thực tiễn,
sở pháp mục tiêu của Quỹ đđảm bảo tính khả thi, thống nhất với Luật
Ngân sách nhà nước và các quy định khác có liên quan.
14. Ngoài ra, đề nghị bổ sung một điều về các di sản, các danh nhân đã
được UNESCO vinh danh các di sản được UNESCO ghi danh, đồng thời
những chính sách đặc thù đối với các di sản, danh nhân này.
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xin trả lời như sau:
1) Về kiến nghị liên quan đến việc giải thích từ ngữ tại Điều 3 dự thảo
Luật Di sản văn hóa (sửa đổi)
5
- Giải thích hoạt động “sửa chữa thường xuyên”, “tôn tạo” tại khoản
22 và khoản 23 được thực hiện đối với di tích và danh lam thắng cảnh
Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch đã tiếp thu, làm các loại công trình
sửa chữa, cải tạo tại điểm a khoản 1 điểm a khoản 2 Điều 28 của Dự thảo
Luật (sửa đổi); đồng thời, bổ sung, làm trường hợp sửa chữa nhỏ di tích tại
điểm b, điểm c khoản 1 Điều 36 giao thẩm quyền cho người được giao quản
lý, sdụng di tích; chỉnh điểm a, điểm c khoản 1 Điều 29 ...trừ trường hợp
sửa chữa nhỏ quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều 36 của Luật này”.
Bên cạnh đó, đã phân cấp thẩm quyền quy định việc thực hiện bảo quản
thường xuyên, sửa chữa nhỏ cho người đại diện, tổ chức được giao quản lý, s
dụng di tích tại khoản 1 Điều 36 tu sửa cấp thiết di tích do Chủ tịch Ủy ban
nhân dân các cấp tỉnh tại khoản 2 Điều 36 của Dự thảo Luật (sửa đổi).
- Về đề nghị điều chỉnh sửa khoản 25 thành “Tu sửa cấp thiết di tích
hoạt động sửa chữa mang tính cấp bách nhằm ngăn ngừa di tích thuộc danh
mục kiểm kê di tích khỏi bị sập đổ, hủy hoại”
Khoản 23 Điều 3 của Dự thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi) đã quy định về
tu sửa cấp thiết hoạt động sửa chữa hoặc chống đỡ, gia cố, gia cường tạm thời
để ngăn chặn di tích khỏi bị sập đổ, hủy hoại nhưng không được tháo rời toàn bộ
cấu kiện, thành phần kiến trúc của di tích. Đối với việc tu sửa cần tháo rời toàn bộ
cấu kiện, thành phần kiến trúc của di tích, tác động tới yếu tố cấu thành di ch,
theo quy định của Dự thảo Luật (được kế thừa từ Luật Di sản văn hóa năm 2001,
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009), nội dung
tu sửa cần lập thành dự án, không thuộc nội hàm của tu sửa cấp thiết.
- Đề nghị bổ sung giải thích các khái niệm: “Đối tượng kiểm di tích”,
“địa điểm khảo cổ”, đảm bảo tính khả thi trong quá trình thực hiện.
Đối với “Đối tượng kiểm kê di tích”, Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch đã
tiếp thu, và quy định tại khoản 1 Điều 23 của Dự thảo Luật (sửa đổi).
Đối với “địa điểm khảo cổ”, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã nghiên
cứu, rà soát và quy định Điều 3. Giải thích từ ngữ theo hướng: Các thuật ngữ lặp
đi lặp lại nhiều lần, cần giải thích để được hiểu đúng trong các quy định sẽ được
quy định tại Điều 3; các thuật ngữ chỉ sử dụng tại một số điều khoản cụ thể hoặc
đã thì không quy định giải thích từ ngữ để tránh số lượng khái niệm phải giải
thích quá nhiều. Theo đó, không giải thích từ ngữ “địa điểm khảo cổ” trong Dự
thảo Luật (sửa đổi).
2) Về kiến nghị liên quan đến sở hữu di sản văn hóa tại Điều 4 dự thảo
Luật Di sản văn hóa (sửa đổi)
Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch đã tiếp thu điều chỉnh tại dự thảo
Luật (sửa đổi), theo đó xác định di sản văn hóa thuộc từng loại hình sở hữu được
6
xác lập quyền sở hữu tại khoản 3, 4 Điều 4 của dthảo Luật (sửa đổi). Đồng
thời, quy định quyền shữu đối với di sản văn hóa được xác định đăng
giải quyết tranh chấp thực hiện theo quy định của pháp luật về di sản, đất đai,
quản sử dụng tài sản công, sở hữu trí tuệ, hình sự các quy định khác của
pháp luật có liên quan tại khoản 5 Điều 4 của dự thảo Luật (sửa đổi).
3) Về kiến nghị cân nhắc quy định phân loại lễ hội truyền thống thành
mục riêng tại Điều 9 dự thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi)
Về các loại hình di sản văn hóa phi vật thể quy định tại Điều 9 Dự thảo
Luật (sửa đổi), Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch đã nghiên cứu kỹ nội dung
Công ước 2003 để bảo đảm tính tương thích giữa Công ước với Luật Di sản văn
hóa (sửa đổi), vừa bảo đảm phợp với loại hình di sản văn hóa phi vật thể
thực tiễn công tác quản lý di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam.
Công ước 2003 đưa ra 05 loại hình di sản văn hóa phi vật thể, Luật Di sản
văn hóa hiện hành quy định 07 loại hình, dự thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi)
quy định 06 loại hình do tách riêng loại hình “lễ hội truyền thống” trong loại
hình tập quán xã hội, tín ngưỡng và lễ hội” của Công ước 2003. Các loại hình di
sản văn a phi vật thể tính độc lập tương đối, tính giao thoa với nhau,
như: Trong loại hình Nghề thủ công truyền thống cả Tri thức dân gian, Tập
quán hội, tín ngưỡng ngược lại; trong loại hình Nghệ thuật trình diễn dân
gian có cả các biểu đạt và truyền khẩu truyền thống và ngược lại...
Loại hình lễ hội truyền thống là loại hình có tính tổng hợp cao nhất và bao
trùm trong tất cả các loại hình của di sản văn hóa phi vật thể, gắn kết tới tất cả
các loại hình còn lại. Đặc thù lễ hội Việt Nam gồm 04 loại hình lễ hội (lễ hội
truyền thống, lễ hội văn hóa, lễ hội ngành nghề, l hội có nguồn gốc nước
ngoài), trong đó chỉ “lễ hội truyền thống” sẽ khả năng đáp ứng tiêu chí nhận
diện của di sản văn hóa phi vật thể.
Vì vậy, việc quy định 06 loại hình di sản văn hóa phi vật thể trong dự thảo
Luật, tách “lễ hội truyền thống” thành loại hình riêng để phù hợp với thực trạng
di sản văn hóa phi vật thể, đặc thù lễ hội truyền thống của Việt Nam để
biện pháp riêng, cụ thể và phù hợp nhằm bảo vệ phát huy giá trị loại hình di
sản văn hóa phi vật thể là lễ hội truyền thống (Điều 20 dự thảo Luật sửa đổi).
4) Về kiến nghĐiều 13 dthảo Luật Di sản n a (sửa đổi) cần quy
định để ngoài cnh sách chung thì tỉnh có thban hành chính sách riêng, tạo
điều kiện cho c nghệ nn Nhân dân, nghệ nn ưu hoạt động, cống hiến
Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch đã đề xuất Chính phủ, Quốc hội nội
dung về chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân (Điều 14), cụ thể: Tại Khoản 2
Điều 14 Dự thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi) quy định: “Ngoài các chính sách
quy định tại khoản 1 Điều này, căn cứ điều kiện phát triển kinh tế - hội, khả
năng cân đối ngân sách, huy động các nguồn lực hội, Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định chế độ đãi ngộ nghệ nhân,
7
chủ thdi sản văn hóa phi vật thtrên địa bànnhằm đảm bảo các tỉnh, thành
phố chủ động có các chính sách phù hợp với địa phương.
5) Vkiến nghị điều chỉnh nội dung vcấp độ, tiêu chí xếp hạng
hình thức xếp hạng di tích tại Điều 23 dự thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi)
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tiếp thu và điều chỉnh thống nhất quy
định cụ thể về trình tự, thủ tục xếp hạng di tích, phân định rõ về thẩm quyền xếp
hạng di tích trên địa bàn 1 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; xếp hạng di
tích khi di tích phân bố trên địa bàn 02 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở
lên tại điểm a khoản 2 Điều 25 của Dự thảo Luật; hồ sơ di sản thế giới, hồ di
sản thế giới đa quốc gia tại điểm b khoản 3 Điều 25 của Dự thảo Luật (sửa đổi).
6) Về kiến nghị việc phân cấp, giảm bớt các thủ tục hành chính đối với
các dự án đầu , xây dựng công trình trong khu vực bảo vệ di tích tại Điều
27 của dự thảo Luật Di sản văna (sửa đổi)
Tại dự thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch đã làm thẩm quyền chấp thuận triển khai đối với dự án đầu tư, xây dựng
ng trình bảo vệ và phát huy giá trị di tích; dán đầu xây dựng công trình
kinh tế - xã hội. Theo đó, chỉ được phê duyệt và triển khai thực hiện sau khi có ý
kiến đồng ý bằng văn bản của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với di sản
thế giới, di tích quốc gia đặc biệt, di ch quốc gia; của Sở Văn hóa, Thể thao
Du lịch đối với di tích cấp tỉnh; sở để quan chủ trì thẩm định, cấp phép
dự án đầu tư, xây dựng công trình chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định đầu
dự án đầu tư, xây dựng công trình trong khu vực bảo vệ di tích theo quy định
của pháp luật về đầu tư, đầu tư công pháp luật khác liên quan, bảo đảm sự
phù hợp và thống nhất với quy định về thẩm quyền với Luật Đầu tư và pháp luật
khác có liên quan.
Đối với quy định vthẩm quyền chấp thuận triển khai xây dựng nhà
riêng lẻ trong khu vực bảo vệ I khu vực bảo vệ II của tất cả các loại hình di
tích, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chỉnh theo hướng quy định việc
thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng chỉ được triển khai thực
hiện sau khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
tại khoản 2 Điều 29 của Dự thảo Luật (sửa đổi).
7) Về kiến nghị xem xét bổ sung quy định về khoảng cách tối thiểu của
các công trình xây dựng khả năng ảnh hưởng tới di tích liên quan đến dự
án đầu tư, xây dựng công trình nằm ngoài các khu vực bảo vệ di tích khả
ng tác động tiêu cực đến di tích, cảnh quan văn hóa của di tích tại Điều
28 dự thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi)
Đặc thù Di tích của Việt Nam đa dạng loại hình lịch sử - văn hoá, khảo
cổ, kiến trúc nghệ thuật, danh lam thắng cảnh, đa dạng về chất liệu gỗ, đất, đá,
gạch..., quy mô; tính chất, phạm vi to, nhỏ, lớn, bé rất khác nhau (ví dụ Chùa
Một Cột, danh thắng Tràng An...). Do đó, việc xác định khoảng cách tối thiểu
8
của công trình khả năng ảnh hưởng tới di tích tùy thuộc yếu tố gốc yếu t
cảnh quan văn hoá, môi trường sinh thái tạo nên giá trị của di tích, khó thể
định lượng chung về khoảng cách tối thiểu mà cần căn cứ hiện trạng mỗi di tích
cụ thể và yêu cầu bảo vệ và phát huy giá trị di tích đó để xác định.
8) Về kiến nghị chỉnh sửa cụm từ phòng, chống các dấu hiệu từ nấm
mốc, mối mọt, n trùng, sinh vật gây hại” bằng cụm từ các tác nhân gây
hại đến di ch” tại khoản 1 Điều 35 dự thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi)
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xin tiếp thu và đã điều chỉnh bsung tại
khoản 1 Điều 36 của d thảo Luật (sửa đổi) quy định về Bảo quản thường
xuyên, sửa chữa nhỏ, tu sửa cấp thiết di tích.
9) Về kiến ngh liên quan đến Điều 39 dự thảo Luật Di sản văn hóa
(sửa đổi)
- Về việc điều chỉnh nội dung để đảm bảo sự thống nhất liên quan đến
việc giám định, điều kiện thực hiện giám định di vật, c vật và đăng ký di vật, cổ
vật tại Điều 39 dự thảo Luật (sửa đổi)
Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch xin tiếp thu đã soát các quy định
để bảo đảm sự thống nhất, cụ thể tại khoản 3 Điều 41. Giám định, điều kiện thực
hiện giám định di vật, cổ vật đăng di vật, cổ vật, như sau: “3. quan
chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh, bảo tàng công lập đáp ứng đcác điều kiện
quy định tại khoản 2 Điều này hoặc sở kinh doanh giám định di vật, cổ vật
quy định tại khoản 1 Điều 79 của Luật này được thực hiện giám định di vật, cổ
vật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả giám định”.
- Về việc soát phạm vi hoạt động giám định di vật, cổ vật, đảm bảo
thống nhất với Luật Giám định tư pháp năm 2012 về điều kiện tổ chức thực hiện
giám định, chủ thể thực hiện giám định (cá nhân, tổ chức), chủ thể thẩm
quyền công nhận cá nhân giám định ...
Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch xin tiếp thu đã soát các quy định,
đảm bảo thống nhất với Luật Giám định tư pháp năm 2012 và các quy định khác
của pháp luật liên quan, cụ thể tại Điều 41. Giám định, điều kiện thực hiện
giám định di vật, cổ vật và đăng di vật, cổ vật. Đồng thời, Chính phủ sẽ quy
định chi tiết trình tự, thủ tục, hồ giám định di vật, cổ vật; cấp, cấp lại, thu hồi
giấy chứng nhận chuyên gia giám định di vật, cổ vật nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho tổ chức, cá nhân trong các hoạt động giám định di vật, cổ vật.
10) Về kiến nghị giảm tiêu chuẩn xếp hạng bảo tàng tại Điều 68 dự
thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi)
Các tiêu chuẩn xếp hạng bảo tàng sẽ không đưa vào Dự thảo Luật Di sản
văn hóa (sửa đổi) mà sẽ giao Chính phủ quy định chi tiết. Bộ Văn hóa, Thể thao
Du lịch xin tiếp thu ý kiến của cử tri tỉnh Tĩnh sẽ nghiên cứu, điều
chỉnh các quy định về tiêu chuẩn xếp hạng bảo tàng trong quá trình xây dựng,
9
tham mưu Chính phủ ban hành các văn bản dưới luật, bảo đảm tính khả thi, phù
hợp với thực tiễn hoạt động của các đơn vị, địa phương.
11) Về kiến nghị liên quan đến điểm b khoản 4 Điều 78 dự thảo Luật Di
sản văn hóa (sửa đổi) về kinh doanh di vật, cổ vật
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xin tiếp thu đã rà soát quy định để tạo
điều kiện thuận lợi cho quan thẩm quyền trong quá trình thực hiện thủ tục
cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh di vật, cổ vật cho nhân tại Điều 80, cụ
thể như sau:
“1. Tổ chức, nhân được kinh doanh di vật, cổ vật; bảo quản, phục chế
di vật, cổ vật; số hóa, xây dựng sở dữ liệu di vật, cổ vật thực hiện theo quy
định của Luật này, quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp quy định
khác của pháp luật có liên quan và đáp ứng các điều kiện sau:
a) giấy chứng nhận đủ điều kiện đầu kinh doanh di vật, cổ vật đối
với cơ sở kinh doanh di vật, cổ vật;
b) chứng chỉ hành nghề kinh doanh di vật, cổ vật đối với chủ sở
hoặc người đại diện theo pháp luật;
c) Có trụ sở bảo đảm điều kiện để lưu giữ, bảo quản hoặc trưng bày di vật,
cổ vật và các phương tiện, kỹ thuật p hợp với ngành, nghề đăng ký.”.
Đồng thời, dự thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi) đã giao Chính phủ quy
định chi tiết các nội dụng này để tạo điều kiện thuận lợi cho quan, tổ chức
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
12) Về kiến nghị quy định để tạo hành lang pháp điều chỉnh hoạt
động bảo vệ, khai thác, sdụng phát huy giá trị của di sản n hóa theo
nền tảng công nghệ kỹ thuật số liên quan đến Điều 85 dthảo Luật Di sản
văn hóa (sửa đổi)
Các nội dung liên quan đến bản quyền, quyền khai thác, sử dụng, lưu trữ
trong lĩnh vực di sản văn hóa được quy định rõ tại khoản 3 Điều 88 dự thảo Luật
(sửa đổi), cụ thể việc khai thác, phát huy giá trị di sản văn hóa trên môi trường
điện tử thực hiện theo các quy định của Luật này, Luật ng nghệ thông tin,
Luật Giao dịch điện tử và quy định khác của pháp luật có liên quan.
13) Về kiến nghị soát, làm sở thực tiễn, sở pháp mục
tiêu của Quỹ bảo tồn di sản văn hóa để đảm bảo tính khả thi, thống nhất với
Luật Ngân sách nhà nước các quy định khác có liên quan
Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch đã soát, nghiên cứu quy định về
Quỹ bảo tồn di sản văn hóa: (i) Quỹ không sử dụng ngân sách nnước Nhà
nước không hỗ trợ kinh phí đối với các hoạt động của Quỹ; (ii) Chính sách v
Quỹ đã được Chính phủ thông qua để trình Quốc hội. Hiện nay, một số Quỹ hoạt
động không hiệu quả nhưng Quỹ này được thành lập nhằm bảo vệ, phát huy giá
trị di sản văn hoá nhưng ngân sách Nhà nước tại một số địa phương chưa bảo
10
đảm được, đặc biệt di tích; (iii) Thực tế, hình Quỹ bảo tồn di sản văn hoá
đã thí điểm tỉnh Thừa Thiên Huế, đây mô hình mới, chế quản lý,
vận động hỗ trợ bước đầu đạt hiệu quả nhất định.
14) Về kiến nghị đề nghị bổ sung một điều về các di sản, các danh nhân
đã được UNESCO vinh danh các di sản được UNESCO ghi danh, đồng
thời có những chính sách đặc thù đối với các di sản, danh nhân này
- Về việc bổ sung điều về các di sản, các danh nhân đã được UNESCO
vinh danh, các di sản được UNESCO ghi danh, đồng thời những chính sách
đặc thù đối với các di sản, danh nhân này: Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch đã
đề xuất trong Dự thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi) nội dung này quy định tại
Khoản 9 Điều 7: “Tổ chức, tham gia, phối hợp với UNESCO tổ chức các sự kiện
văn hóa, lịch sử vinh danh, kỷ niệm ngày sinh hoặc năm mất đối với nhân
người Việt Nam có vai trò quan trọng trong các lĩnh vực văn hóa, khoa học, giáo
dục có tầm ảnh hưởng lớn đối với quốc gia, dân tộc lan tỏa đến khu vực hoặc
thế giới.”.
- Về biện pháp bảo vệ các di sản được UNESCO ghi danh, Dự thảo Luật
Di sản văn hóa (sửa đổi) đã quy định cụ thể các Chương, điều trong từng lĩnh
vực di sản văn hóa phi vật thể, di sản vật thể di sản liệu, đảm bảo các di
sản này đều có biện pháp bảo vệ phù hợp với Công ước quốc tế và pháp luật của
Việt Nam.
Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch trân trọng gửi tới Đoàn Đại biểu Quốc
hội tỉnh Hà Tĩnh để trả lời cử tri./.
Nơi nhận:
- Như trên;
- Thủ tướng Chính phủ (để báo cáo);
- Phó Thủ tướng Chính phủ (để báo cáo);
- Đoàn Chủ tịch UBTƯMTTQ Việt Nam;
- Ban Dân nguyện, Ủy ban Thường vQuốc hội;
- HĐND, UBND tỉnh Hà Tĩnh;
- Văn phòng Quốc hội; Văn phòng Chính phủ;
- Bộ VHTTDL: Bộ trưởng, các Thứ trưởng;
- Các Cục: DSVH, VHCS; Vụ PC; Cổng TTĐT Bộ;
- Lưu: VT, VP (TKBT), PAV (15).
BỘ TRƯỞNG
Nguyễn Văn Hùng

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Công văn 4270/BVHTTDL-VP 2024 trả lời kiến nghị của cử tri gửi tới sau kỳ họp thứ 7, khóa XV

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

văn bản cùng lĩnh vực

văn bản mới nhất

CHÍNH SÁCH BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN
Yêu cầu hỗ trợYêu cầu hỗ trợ
Chú thích màu chỉ dẫn
Chú thích màu chỉ dẫn:
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng các màu sắc:
Sửa đổi, bổ sung, đính chính
Thay thế
Hướng dẫn
Bãi bỏ
Bãi bỏ cụm từ
Bình luận
Click vào nội dung được bôi màu để xem chi tiết.
×