Nghị định 49-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về việc quy định chi tiết việc thi hành Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung MIX

    - Tổng hợp lại tất cả các quy định pháp luật còn hiệu lực áp dụng từ văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính…

    - Khách hàng chỉ cần xem Nội dung MIX, có thể nắm bắt toàn bộ quy định pháp luật hiện hành còn áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

  • Tải về
Mục lục
Tìm từ trong trang
Tải văn bản
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
Lưu
Theo dõi hiệu lực VB

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký phần mềm.

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản LuatVietnam và đăng ký sử dụng Phần mềm tra cứu văn bản.

Báo lỗi
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 49-HĐBT

Hà Nội, ngày 04 tháng 3 năm 1991

 

NGHỊ ĐỊNH

CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 49-HĐBT NGÀY  4-3-1991 QUY ĐỊNH CHI TIẾT VIỆC THI HÀNH PHÁP LỆNH CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM 

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG

Căn cứ Luật Tổ chức Hội Đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 4 tháng 7 năm 1981;
Căn cứ Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 29 tháng 12 năm 1987 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 30 thang 6 năm 1990;
Căn cứ Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam ngày 10 tháng 12 năm 1988;
Theo đề nghị của Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước,

NGHỊ ĐỊNH :

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Nghị định này cụ thể hoá Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam (dưới đây viết tắt là Pháp lệnh) nhằm thực hiện Pháp lệnh.

Điều 2.

Các bên tham gia chuyển giao công nghệ.

1. "Bên giao công nghệ" nói ở khoản 1 điều 2 của Pháp lệnh gồm:

- Pháp nhân nước ngoài (tổ chức kinh tế, tài chính, khoa học, công ty, xí nghiệp);

- Tổ chức phi chính phủ;

- Cá nhân nước ngoài;

- Các xí nghiệp và công ty có vốn nước ngoài là pháp nhân Việt Nam;

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

2. "Bên nhận công nghệ" nói ở khoản 2 điều 2 của pháp lệnh gồm:

- Pháp nhân Việt Nam (tổ chức kinh tế, khoa học, công ty, xí nghiệp, các đơn vị kinh tế quốc doanh, tập thể và tư nhân, viện nghiên cứu, trường đại học, hiệp hội);

- Xí nghiệp, công ty có vốn đầu tư nước ngoài là pháp nhân Việt Nam;

- Cá nhân Việt Nam.

Điều 3.

- Nội dung chuyển giao công nghệ.

Các hoạt động dưới đây được coi là hoạt động chuyển giao công nghệ:

1. Chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp như:

- Sáng chế;

- Kiểu dáng công nghiệp;

- Nhãn hiệu hàng hoá.

Các đối tượng trên được hiểu theo điều 4, chương I, Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày 28-1-1989.

Hoạt động mua bán nhãn hiệu hàng hoá mà không kèm theo việc chuyển giao các quyền sở hữu công nghiệp khác thì không được coi là chuyển giao công nghệ.

2. Chuyển giao thông qua việc mua bán, cung cấp các đối tượng sau (có thể có hoặc không có thiết bị đi kèm):

- Bí quyết kỹ thuật;

- Phương án công nghệ, quy trình công nghệ;

- Tài liệu thiết kế sơ bộ và thiết kế kỹ thuật;

- Công thức, bản vẽ, sơ đồ, bảng, biểu;

- Thông số kỹ thuật hoặc kiến thức kỹ thuật chuyên môn khác.

3. Thực hiện các hình thức dịch vụ hỗ trợ và tư vấn sau:

- Hỗ trợ kỹ thuật, lựa chọn công nghệ, hướng dẫn lắp đặt thiết bị, vận hành thử các dây chuyền công nghệ;

- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá, nghiên cứu cơ hội, nghiên cứu tiền khả thi và khả thi các dự án đầu tư và đổi mới công nghệ;

- Tư vấn về quản lý công nghệ, tổ chức và vận hành các quá trình công nghệ và sản xuất;

- Đào tạo, huấn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật và quản lý của cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và công nhân;

- Thực hiện dịch vụ về thu nhập, xử lý và cung cấp thông tin về thị trường, công nghệ, pháp lý, tài nguyên và môi trường.

Các hoạt động thuần tuý nhập khẩu máy móc, thiết bị vật tư thông thường không được coi là chuyển giao công nghệ và không thuộc phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh.

Điều 4.

- Yêu cầu cơ bản đối với các công nghệ được chuyển giao vào Việt Nam.

1. Công nghệ được chuyển giao phải đáp ứng một trong các yêu cầu sau:

a. Nâng cao trình độ công nghệ của sản xuất:

- Nâng cao năng suất lao động;

- Sử dụng tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, năng lượng;

- Cải tiến kiểu dáng, nâng cao chất lượng sản phẩm;

- Tạo ra sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước hoặc xuất khẩu.

b. Khai thác hợp lý các nguồn nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu tại chỗ, sử dụng được nguồn lao động dồi dào, tạo công ăn việc làm, khai thác hợp lý và phát triển các tài nguyên tái tạo được.

2. Công nghệ được chuyển giao phải bảo đảm:

a. Không gây ra những tác động làm ảnh hưởng hoặc đưa đến hậu quả xấu cho môi trường như:

- Ô nhiễm đất, nước, không khí;

- Gây hại cho hệ thực vật và động vật;

- Làm mất cân bằng sinh thái nói chung;

- Làm ảnh hưởng xấu tới môi trường dân cư về mặt văn hoá và xã hội.

b. Yêu cầu về an toàn lao động, điều kiện và môi trường công nghiệp cho người lao động.

Trong trường hợp do tính chất của công nghệ, có khả năng xuất hiện những tác động nêu tại các điểm nói trên, làm ảnh hưởng đến người lao động và môi trường, hai bên chuyển giao công nghệ phải có các giải pháp phòng ngừa cụ thể. Các giải pháp này phải được coi như một phần của công nghệ được chuyển giao và được giải trình chi tiết trong hợp đồng chuyển giao công nghệ.

Chương 2:

HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

Điều 5.

Mọi hoạt động chuyển giao công nghệ giữa hai Bên giao công nghệ và nhận công nghệ có tính chất thương mại hoặc có những ràng buộc về quyền và nghĩa vụ phải được tiến hành thông qua việc ký kết một văn bản hợp đồng viết về chuyển giao công nghệ (sau đây gọi tắt là hợp đồng).

Văn bản hợp đồng này sẽ là cơ sở cho các Bên thực hiện các cam kết, bảo đảm pháp lý cho việc nhập khẩu công nghệ, thiết bị, thanh toán và giải quyết tranh chấp.

Các thoả thuận giao và nhận công nghệ không được thể hiện bằng hợp đồng đều không có giá trị pháp lý.

Điều 6.

- Các khoản chính của hợp đồng chuyển giao công nghệ.

Nội dung hợp đồng chuyển giao công nghệ phải bao gồm các điều khoản chủ yếu sau đây:

1. Tên, địa chỉ của Bên giao và Bên nhận công nghệ; tên, chức vụ người đại diện của các Bên.

2. Các định nghĩa sử dụng trong hợp đồng.

3. Đối tượng chuyển giao công nghệ:

- Tên (công nghệ hoặc dịch vụ);

- Mô tả chi tiết những nội dung chủ yếu (theo cách phân loại các nội dung hoạt động chuyển giao công nghệ xác định ở Điều 3, Chương I);

- Giá trị kinh tế và kỹ thuật của mỗi nội dung công nghệ được chuyển giao;

- Kết quả dự kiến sẽ đạt sau khi thực hiện chuyển giao công nghệ (về mặt kinh tế, kỹ thuật, xã hội).

4. Các điều khoản liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp, trong đó có việc cung cấp các tài liệu mô tả đối tượng sở hữu công nghiệp và các văn bản pháp lý chứng nhận các quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ.

5. Thời hạn, tiến độ và địa điểm cung cấp công nghệ.

Trường hợp chuyển giao công nghệ có kèm theo thiết bị cần có danh mục thiết bị, tiến độ cung cấp, địa điểm bàn giao cho từng loại thiết bị.

Trường hợp chuyển giao công nghệ trong đầu tư hoặc hoặc cùng với việc xây dựng nhà máy, cần xác định rõ các mối tương quan giữa tiến độ thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ với tiến độ đầu tư hoặc xây dựng nhà máy.

6. Thanh toán.

Giá cả, điều kiện và phương thức thanh toán (loại tiền thanh toán, địa điểm thanh toán, thời hạn và các tỷ lệ v.v..).

Trường hợp công nghệ được chuyển giao gồm nhiều nội dung khác nhau, phải ghi rõ phần thanh toán cho mỗi nội dung chuyển giao theo hợp đồng.

Khi một nội dung hoặc một phần nào đó của công nghệ được chuyển giao không còn hiệu lực (do quyền sở hữu công nghiệp hết hạn được bảo hộ, do bí quyết kỹ thuật không còn là bí mật nữa), hai Bên phải thảo luận lại các điều khoản về thanh toán.

7. Cam kết của hai Bên về:

- Chất lượng của công nghệ;

- Độ tin cậy của công nghệ;

- Thời hạn bảo hành;

- Bảo đảm bí mật trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng;

- Bảo vệ môi trường, an toàn lao đông;

- Những cam kết khác của hai Bên nhằm bảo đảm không có sai sót trong chuyển giao công nghệ.

8. Chương trình đào tạo cần thiết liên quan đến công nghệ được chuyển giao:

- Trách nhiệm của hai Bên trong việc tổ chức đào tạo;

- Hình thức nội dung và lĩnh vực đào tạo;

- Thời hạn, địa điểm của chương trình đào tạo;

- Chi phí cho đào tạo và các điều khoản liên quan khác;

- Mục tiêu và trình độ đạt được sau khi đào tạo.

9. Thời hạn hiệu lực của hợp đồng và những điều kiện liên quan đến việc hai Bên mong muốn sửa đổi thời hạn hiệu lực hoặc kết thúc hợp đồng.

10. Các vấn đề liên quan đến những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng:

- Luật áp dụng;

- Hình thức xử lý tranh chấp;

- Cơ quan xét xử tranh chấp.

Điều 7. Khi xem xét nội dung chuyển giao công nghệ, hai Bên phải xác định rõ những nội dung công nghệ, kỹ năng, kiến thức chuyên môn, dịch vụ tư vấn, những loại nguyên liệu, vật liệu, máy móc mà các cơ sở trong nước Việt Nam có thể cung cấp, điều kiện sử dụng chúng để thay thế nhập khẩu và lịch trình thay thế.

Điều 8.

Những điều khoản không được đưa vào hợp đồng.

Những điều khoản sau không được đưa vào hợp đồng chuyển giao công nghệ:

1. Buộc Bên nhận công nghệ phải mua hoặc phải tiếp nhận có điều kiện (về số lượng, chất lượng, quy cách) từ Bên giao công nghệ hoặc từ một Bên do Bên giao công nghệ chỉ định những đối tượng sau:

- Nguyên liệu, vật liệu;

- Tư liệu sản xuất, như máy móc, thiết bị, xe cộ;

- Sản phẩm trung gian;

- Lao động đơn giản.

Trường hợp do yêu cầu của công nghệ cần có những đảm bảo đặc biệt về nguyên liệu, vật liệu, các phụ kiện, tư liệu sản xuất hoặc nhân lực có trình độ kỹ thuật kèm theo phải được giải trình chi tiết và phải được cả hai Bên thoả thuận.

2. Buộc Bên nhận công nghệ phải chấp nhận và tuân theo một số hạn mức nhất định về:

- Quy mô sản xuất, số lượng sản phẩm (hoặc nhóm sản phẩm) cho một thời hạn nhất định;

- Giá cả, khối lượng và phạm vi tiêu thụ sản phẩm;

- Chọn đại lý tiêu thụ sản phẩm hoặc đại diện thương mại của Bên nhận công nghệ, kể cả cơ chế hoạt động và quan hệ giữa Bên nhận công nghệ và các đại diện này.

3. Hạn chế thị trường xuất khẩu của Bên nhận công nghệ:

- Thị trường không được xuất khẩu;

- Thị trường bắt buộc xuất khẩu;

- Khối lượng và cơ cấu các nhóm sản phẩm được xuất khẩu theo từng thị trường và từng thời điểm.

Trong trường hợp Bên giao công nghệ đang sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tương tự tại một thị trường nhất định, hoặc đã cấp giấy phép sử dụng các quyền sở hữu công nghiệp độc quyền (lixăng độc quyền) cho một Bên thứ ba khác tiếp nhận công nghệ tương tự, việc sản xuất và xuất khẩu sản phẩm phải tuân theo các thoả thuận trong hợp đồng phù hợp với các văn bản pháp luật về sở hữu công nghiệp của Việt Nam và quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

4. Quy định Bên nhận công nghệ không được nghiên cứu và phát triển tiếp tục công nghệ được chuyển giao hoặc không được tiếp nhận từ các nguồn khác những công nghệ tương tự.

5. Ngăn cấm Bên nhận tự do sử dụng công nghệ sau khi hợp đồng hết hiệu lực hoặc sau khi hết thời hạn của những quyền sở hữu công nghiệp ghi trong hợp đồng.

Trong trường hợp xét thấy có nhu cầu đặc biệt (do tính năng của công nghệ được chuyển giao, do sự cần thiết của nền kinh tế quốc dân) cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý chuyển giao công nghệ có thể xem xét và cho phép đưa một số điều khoản hạn chế nói trên vào hợp đồng.

Điều 9. Giá của công nghệ được chuyển giao.

Giá của công nghệ được chuyển giao do hai Bên thoả thuận trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi. Phương thức định giá phải phù hợp với giá trị của công nghệ, giá và phương thức định giá của loại công nghệ tương tự trên thị trường thế giới tại thời điểm tính toán.

Điều 10. Phương thức thanh toán.

Việc thanh toán có thể được thực hiện dưới phương thức trả gọn hoặc trả kỳ vụ hoặc kết hợp cả hai phương thức. Mức trả kỳ vụ tuỳ thuộc vào tính chất của công nghệ, nhưng không được vượt quá 5 phần trăm (5%) giá bán tịnh của sản phẩm được sản xuất hoặc dịch vụ được thực hiện trên cơ sở công nghệ được chuyển giao.

Hai bên có thể thoả thuận về việc chọn một đồng tiền thanh toán hoặc thanh toán bằng hiện vật. Việc thanh toán bằng tiền và chuyển tiền được thực hiện phù hợp với các quy định của Nhà nước Việt Nam.

Trường hợp thanh toán bằng hiện vật (hàng hoá), tuỳ thuộc mặt hàng cụ thể (nằm trong hoặc ngoài danh mục cấp hạn ngạch), hai Bên cần xác định rõ trong hợp đồng và thực hiện theo quy định về chế độ và tổ chức quản lý kinh doanh xuất nhập khẩu của Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam.

Điều 11. Thời hạn của hợp đồng.

1. Thời hạn của hợp đồng là khoản thời gian mà hợp đồng có hiệu lực kể từ khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý chuyển giao công nghệ của Việt Nam hoặc các cơ quan được phân cấp trong Điều 15 và 20 của Nghị định này chuẩn y và cấp giấy phếp chuyển giao công nghệ.

2. Thời hạn của hợp đồng do hai Bên thoả thuận, nhưng không dài quá 7 năm.

3. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý chuyển giao công nghệ có thể chuẩn y cho hợp đồng có thời hạn dài hơn bảy năm trong những trường hợp đặc biệt theo yêu cầu của hai Bên.

Điều 12. Thông báo cải tiến và đổi mới công nghệ.

Trong thời gian hợp đồng có hiệu lực, nếu Bên giao hoặc Bên nhận công nghệ tạo ra được những cải tiến hoặc đổi mới có liên quan đến công nghệ được chuyển giao, mỗi Bên có thể chính thức yêu cầu Bên kia thông báo về sự tồn tại và những nội dung sơ bộ của những thay đổi này, đồng thời, nếu thấy cần thiết có thể chính thức đề nghị đàm phán để mua hoặc tiếp nhận những cải tiến và đổi mới nói trên.

Điều 13. Cung cấp cải tiến và đổi mới công nghệ được chuyển giao.

1. Khi được yêu cầu cung cấp các thông tin về cải tiến và đổi mới, mỗi Bên có nghĩa vụ ưu tiên chuyển giao cho Bên kia trên cơ sở thoả thuận, bình đẳng cùng có lợi.

Trường hợp một Bên cố tình không chuyển giao, gây sức ép, hoặc chuyển giao cho Bên thứ ba với các điều kiện ưu đãi, gây ra những thiệt hại về vật chất cho Bên kia, mỗi Bên có thể chính thức đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý chuyển giao công nghệ can thiệp, hoặc coi như tranh chấp vi phạm hợp đồng và giải quyết theo điều 14 dưới đây.

2. Việc chuyển giao những cải tiến hoặc đổi mới được thực hiện như việc chuyển giao một công nghệ bình thường, và có thể thông qua một hợp đồng chuyển giao công nghệ mới hoặc một hợp đồng chuyển giao công nghệ bổ sung, theo những điều kiện đã được ghi từ trước trong hợp đồng đầu tiên.

Điều 14. Giải quyết tranh chấp.

1. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các tranh chấp phát sinh giữa hai Bên trước hết nên được giải quyết thông qua thương lượng và hoà giải.

2. Trường hợp hai Bên không thoả thuận được với nhau về giải pháp cho vụ tranh chấp, việc giải quyết tranh chấp sẽ được đưa ra xem xét tại cơ quan xét xử và luật áp dụng do hai Bên lựa chọn và thoả thuận trong nội dung của hợp đồng như mục 10 Điều 6 của Nghị định này đã quy định. Các Bên tranh chấp có thể lựa chọn một trong những hình thức trọng tài sau:

- Hội đồng Trọng tài ngoại thương bên cạnh Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam hoặc trọng tài một nước thứ 3 hoặc trọng tài quốc tế.

- Một Hội đồng Trọng tài do hai Bên thoả thuận thành lập.

Chương 3:

QUẢN LÝ VÀ CHUẨN Y HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

Điều 15.

Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thống nhất quản lý các hợp đồng chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam là Uỷ ban Khoa học Nhà nước.

Việc chuẩn y các hợp đồng chuyển giao công nghệ được phân cấp theo điều 20 của Nghị định này.

Điều 16. Hồ sơ xin chuẩn y hợp đồng chuyển giao công nghệ.

Cả hai Bên, hoặc mỗi Bên giao công nghệ và nhận công nghệ đều có thể gửi đơn xin chuẩn y hợp đồng.

Khi xin chuẩn y hợp đồng, các Bên phải nộp những tài liệu sau:

1. Đơn xin chuẩn y hợp đồng theo mẫu thống nhất do Uỷ ban Khoa học Nhà nước quy định;

2. Hợp đồng chuyển giao công nghệ và các phụ lục kèm theo;

3. Bản giải trình về mục tiêu và khả năng thực hiện của công nghệ được chuyển giao.

Bản giải trình có thể do một trong hai Bên lập, dưới dạng một nghiên cứu khả thi, trong đó thể hiện các luận cứ cho hợp đồng, bổ sung các phân tích và tính toán về thị trường, về nguyên liệu, công nghệ, về kinh tế, tài chính và hiệu quả của chuyển giao công nghệ.

4. Những thông tin bảo đảm về tư cách pháp nhân, các quyền sở hữu và các thông tin kiểm tra khác về hai Bên tham gia hợp đồng chuyển giao công nghệ như:

- Tên, địa chỉ công ty;

- Người bảo đảm hoặc tổ chức bảo lãnh;

- Tài khoản, ngân hàng bảo lãnh, số vốn;

- Các tài liệu chứng thực về quyền sở hữu công nghiệp.

Ngôn ngữ của hợp đồng và các văn bản kèm theo là tiếng Việt Nam và một thứ tiếng nước ngoài thông dụng do hai Bên thoả thuận trong hợp đồng. Hai bản có giá trị pháp lý ngang nhau .

Điều 17. Quyết định chuẩn y hợp đồng.

Uỷ ban Khoa học Nhà nước hoặc các cơ quan được phân cấp chuẩn y hợp đồng chuyển giao công nghệ sẽ thông báo quyết định chuẩn y hoặc từ chối hợp đồng chuyển giao công nghệ sau khi nhận đầy đủ hồ sơ theo quy định ở Điều 16 của Nghị định này trong thời hạn ba tháng.

Việc thông báo quyết định chuẩn y được thực hiện qua việc cấp giấy phép chuyển giao công nghệ. Uỷ ban Khoa học Nhà nước ban hành mẫu giấy phép chuyển giao công nghệ thống nhất cho tất cả các loại hợp đồng chuyển giao công nghệ.

Điều 18.

- Khai man và xử lý khai man.

1. Khi các cơ quan Nhà nước Việt Nam thấy có đầy đủ chứng cớ về việc khai man, giấy phép chuyển giao công nghệ sẽ bị thu hồi, hợp đồng đương nhiên không còn giá trị. Trong trường hợp hợp đồng bị huỷ bỏ, mọi trách nhiệm về kinh tế, tài chính đều do Bên vi phạm chịu.

2. Trường hợp do thông báo về khai man hoặc nghi vấn khai man, một hợp đồng phải dừng lại hoặc kéo dài thời gian xem xét và kết quả chứng minh được không có sự khai man trong thực tế, người hoặc cơ quan thông báo phải chịu trách nhiệm về pháp lý và toàn bộ hậu quả về tài chính, kinh tế, xã hội do thông báo của mình gây ra.

Điều 19. Thay đổi hợp đồng.

Hợp đồng chuyển giao công nghệ có thể được bổ sung, sửa đổi, thay thế hoặc huỷ bỏ từng phần khi được cả hai Bên nhất trí thoả thuận và kiến nghị bằng văn bản gửi cơ quan ra quyết định chuẩn y hợp đồng (cơ quan cấp giấy phép chuyển giao công nghệ). Cơ quan ra quyết định chuẩn y hợp đồng phải thông báo kết quả bằng văn bản chậm nhất là một tháng sau khi nhận được đề nghị thay đổi hợp đồng.

Việc bổ sung, sửa đổi, thay thế hoặc huỷ bỏ từng phần hợp đồng chỉ có hiệu lực sau khi có thông báo nói trên.

Điều 20. Phân cấp chuẩn y hợp đồng chuyển giao công nghệ.

Việc phân cấp chuẩn y hợp đồng chuyển giao công nghệ theo điều 18 của Pháp lệnh là nhằm tạo thêm điều kiện thuận lợi, bảo đảm tính thời gian cho việc ký kết và thực hiện hợp đồng.

1. Uỷ ban Khoa học Nhà nước trực tiếp xem xét, thẩm định chuẩn y và cấp giấy phép cho những hợp đồng sau:

- Hợp đồng trị giá trên 1 triệu đô-la Mỹ (bất kể thanh toán bằng nguồn nào);

- Hợp đồng có nguồn thanh toán từ ngân sách Nhà nước (trung ương và địa phương), có giá trị trên 500.000 đô-la Mỹ;

- Hợp đồng thuộc các ngành cần bảo đảm an ninh quốc gia như quốc phòng, nội vụ;

- Các hợp đồng có thể có hậu quả đặc biệt.

2. Các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương xem xét, thẩm định, chuẩn y và cấp giấy phép cho những hợp đồng sau đây, sau khi tham khảo ý kiến Uỷ ban Khoa học Nhà nước:

- Hợp đồng có nguồn thanh toán ngoài ngân sách Nhà nước có giá trị dưới 1 triệu đô-la Mỹ;

- Hợp đồng thanh toán từ ngân sách Nhà nước có giá trị dưới 500.000 đô-la Mỹ.

3. Việc chuẩn y các hợp đồng chuyển giao công nghệ trong khuôn khổ đầu tư nước ngoài được thực hiện theo các Điều trong Chương V của Nghị định này.

Điều 21. Đăng ký hợp đồng.

Các Bộ, Uỷ ban, sau khi ra quyết định chuẩn y và cấp giấy phép cho các hợp đồng chậm nhất sau 2 tuần phải sao gửi toàn bộ hồ sơ có liên quan về Uỷ ban Khoa học Nhà nước.

Điều 22. Quản lý và hướng dẫn thực hiện hợp đồng.

Uỷ ban Khoa học Nhà nước có trách nhiệm quản lý, lưu trữ, phân loại các hợp đồng chuyển giao công nghệ, định kỳ thông báo cho các cơ quan có liên quan để tạo điều kiện dễ dàng cho việc thực hiện các hợp đồng và để tránh nhập lại các công nghệ đã có trong nước.

Các Bộ và Uỷ ban Nhân dân tỉnh có trách nhiệm theo dõi việc thực hiện các hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được chuẩn y và thông báo cho Ngân hàng Ngoại thương có liên quan nhằm tạo điều kiện cho việc huy động ngoại tệ thanh toán các khoản trả kỳ vụ. Việc theo dõi thực hiện các hợp đồng còn phải giúp đánh giá trình độ nắm vững công nghệ đã chuyển giao, đặc biệt là lúc xem xét gia hạn hợp đồng.

Chương 4:

QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

Điều 23. Thuế chuyển giao công nghệ.

1. Bên giao công nghệ phải nộp thuế thu nhập và thuế nhập khẩu các thiết bị máy móc có liên quan đến chuyển giao công nghệ theo luật thuế hiện hành của Việt Nam.

2. Để khuyến khích việc chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam, bên giao công nghệ được miễn thuế thu nhập trong ba năm kể từ ngày ban hành Nghị định này.

Điều 24.

- Người nước ngoài vào Việt Nam để tìm hiểu, chuẩn bị, ký kết và thực hiên các hợp đồng chuyển giao công nghệ được coi như vào Việt Nam để chuẩn bị và thực hiện một dự án dầu tư và được hưởng các quy chế của Nhà nước Việt Nam về "Hải quan, nhập cảnh, cư trú, thông tin liên lạc" theo Chương 10, Nghị định 28-HĐBT ngày 6-2-1991 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và các hướng dẫn thực hiện có liên quan.

Điều 25.

Các Bên ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ có nghĩa vụ thực hiện theo đúng mục tiêu và nội dung đã được xác định trong hợp đồng. Mọi trường hợp lợi dụng giấy phép chuyển giao công nghệ vào các mục đích vụ lợi khác đều bị xử lý theo pháp luật của Việt Nam.

Chương 5:

CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TRONG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Điều 26. Các trường hợp sau đay được coi là chuyển giao công nghệ trong đầu tư nước ngoài:

1. Công nghệ do Bên nước ngoài chuyển giao dưới dạng góp vốn (một phần hoặc toàn bộ) để thành lập các xí nghiệp hoặc công ty liên doanh với Bên Việt Nam theo Luật đầu tư của Việt Nam.

2. Công nghệ do Bên nước ngoài chuyển giao dưới dạng góp vốn (một phần hoặc toàn bộ) trong các hợp đồng hợp tác kinh doanh với bên Việt Nam theo Luật đầu tư của Việt Nam.

Điều 27. Các hợp đồng chuyển giao công nghệ trong đầu tư nước ngoài cần được làm riêng và đính kèm hồ sơ xin cấp giấy phép đầu tư.

Điều 28.

Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư xem xét, thẩm định và cấp giấy phép đầu tư, đồng thời cấp giấy phép cho các hợp đồng chuyển giao công nghệ trong đầu tư nước ngoài sau khi có ý kiến chính thức bằng văn bản của Uỷ ban Khoa học Nhà nước.

Sau khi cấp giấy phép, Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư sao gửi phần hợp đồng chuyển giao công nghệ cho Uỷ ban Khoa học Nhà nước.

Chương 6:

ĐIỀU KHỎAN CUỐI CÙNG

Điều 29. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.

Điều 30. Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư, Bộ trưởng các Bộ Thương nghiệp, Ngoại giao, Tài chính, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan trong phạm vi chức năng và quyền hạn của mình chịu trách nhiệm ban hành những thông tư hướng dẫn việc thi hành Nghị này.

Điều 31. Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước chịu trách nhiệm soạn thảo và trình Hội đồng Bộ trưởng những văn bản cần thiết để thực hiện Điều 19 của Pháp lệnh chuyển giao công nghệ.

Điều 32. Bộ trưởng các Bộ, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

 

 

Võ Văn Kiệt

(Đã ký)

 

thuộc tính Nghị định 49-HĐBT

Nghị định 49-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về việc quy định chi tiết việc thi hành Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam
Cơ quan ban hành: Hội đồng Bộ trưởngSố công báo:Đang cập nhật
Số hiệu:49-HĐBTNgày đăng công báo:Đang cập nhật
Loại văn bản:Nghị địnhNgười ký:Võ Văn Kiệt
Ngày ban hành:04/03/1991Ngày hết hiệu lực:Đang cập nhật
Áp dụng:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản để xem Ngày áp dụng. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Tình trạng hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Lĩnh vực:Khoa học-Công nghệ
TÓM TẮT VĂN BẢN

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

tải Nghị định 49-HĐBT

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tình trạng hiệu lực: Đã biết

THE COUNCIL OF MINISTERS
-------
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom – Happiness
---------
No. 49-HDBT
Hanoi, March 4, 1991
 
DECREE
ON THE TRANSFER OF FOREIGN TECHNOLOGY INTO VIETNAM
THE COUNCIL OF MINISTERS
Pursuant to the Law on Organization of the Council of Ministers of the Socialist Republic of Vietnam dated 4 July 1981 ;
Pursuant to the Law on Foreign Investment in Vietnam, dated 29 December 1987 and the Law on Amendment and Addition to the Law on Foreign Investment in Vietnam, dated 30 June 1990;
Pursuant to the Ordinance on the Transfer of Foreign Technology into Vietnam dated 10 December 1988 ; and
On the Proposal of the Chairman of the State Committee of Science.
DECREES
Chapter I
GENERAL PROVISIONS
Article 1
This decree is intended to provide detailed provisions for the implementation of the Ordinance on the Transfer of Foreign Technology into Vietnam (hereinafter referred to as the Ordinance).
Article 2
Participants in the transfer of technology :
1. The transfer of technology referred to in clause 1 of article 2 of the Ordinance means;
- Foreign legal entities (economic, financial and scientific organizations; companies and enterprises);
- Non-governmental organizations;
- Foreign individuals;
- Enterprises and corporations with foreign owned capital which are Vietnamese legal entities; and
- Overseas Vietnamese.
2. The transferee of technology referred to in clause 2 of article 2 of the Ordinance means;
- Vietnamese legal entities (economic, financial and scientific organizations, companies and enterprises; State, collective and private economic units; institutes, universities and other associations);
- Enterprises and corporations with foreign owned capital which are Vietnamese legal entities; and
- Vietnamese individuals.
Article 3
Contents of technology transfer :
The following are transfers of technology :
1. The transfer of ownership or the right to use all types of industrial property, including:
- Inventions;
- Industrial designs;
- Trade marks;
As defined in article 4 of Chapter I of the Ordinance on the Protection of Industrial Property Rights dated 28 January 1989.
The buying and selling of trade without the transfer of the associated industrial property rights shall not constitute a transfer of technology.
2. The transfer through the purchase, sale or supply of the following (with or without equipment) :
- Technical know-how;
- Technological projects and processes;
- Preliminary designs and technical designs;
- Formulate, drawings, graphs, diagrams, charts; and
- Other technical knowledge and expertise.
3. The provision of the following forms of consultancy of support services:
- Technical support, selection of technology, instructions for the installation of equipment, trial operations of various types of technology;
- Research, analysis, evaluation exploration of opportunities, and feasibility studies for investment and technology innovation projects;
- Consultation in relation to technology management; organization and operation of production and technology processes;
- Training and improvement of the professional, technical and managerial skills of administrators, technicians and other workers; and
- Support services in relation to the collection, processing and supply of information on markets, technology, law, resources and the environment.
The importing of conventional machinery, equipment, and materials shall not be considered to amount to the transfer of technology and shall not fall within the areas covered by the Ordinance.
Article 4
Basic requirements of technology to be transferred into Vietnam :
1. Technology to be transferred into Vietnam shall be obliged to achieve at least one of the following :
(a) The raising of the technological level of production by :
- Increasing labour productivity;
- Economical use of resources, fuel, materials and energy;
- Improvement in design and in product quality ; or
- Creation of new products to satisfy local consumption and export requirements.
(b) The efficient exploitation of local resources such as raw materials and fuel; job creation and employment of available manpower; or the exploitation and development of recyclable resources.
2. Technology to be transferred shall be guaranteed :
(a) Not to result in any effects which may be detrimental to the environment such as :
- Land, water or air pollution;
- Damage to natural fauna and flora;
- Ecological imbalances ; and
- Damage to the cultural and social aspects of populated areas.
(b) To comply with requirements for occupational safety, industrial conditions and working environments.
It, due to the nature of the technology transferred, any of the above effects appear which are detrimental to the workers or to the environment, the two parties to the technology transfer shall devise appropriate remedial measures. These measures shall be considered to be part of the technology to be transferred and shall be explained in detail in the relevant technology transfer contracts.
Chapter II
TECHNOLOGY TRANSFER CONTRACTS
Article 5
Every transfer of technology which takes place and is commercial in nature or binding in terms of rights and obligations shall take place pursuant to a contract in writing (hereinafter referred to as the contract).
The written contract document shall serve as the basis upon which each party may perform its undertakings, shall guarantee the legal requirements for the import of technology, equipment, payment, and the settlement of disputes.
Article 6
Principal provisions to be included in technology transfer contracts :
All technology transfer contracts shall include the following principal information :
1. Names and addresses of the transferor and transferee of the technology and names and positions of the individual; representatives of each of those parties; and
2. Definitions of terms used in the contracts.
3. Details of technology to be transferred:
- Name (technology or business);
- Detailed description of principal contents (according to the classification of the contents of the technology to be transferred as defined in article 3 of Chapter I);
- Technical and economic value of each item of technology to be transferred ; and
- Results estimated to be achieved following, completion of the technology transfer (economically, technically, socially).
4. Provisions which relate specifically to industrial property rights, including the supply of documents which describe the industrial property and all other legal documents which certify the industrial property rights as being protected.
5. Time, schedule and place at which the technology is to be provided.
Where the technology is transferred with accompanying equipment, there shall be included a list of that equipment, details of and plans for the delivery of each type of equipment.
Where technology is transferred as part of an investment or as part of the construction of a factory, it shall be necessary to define the relationship between the implementation schedule provided in the technology transfer contract and the schedule of that investment or construction.
6. Payments :
Prices, conditions and modes of payment (including type of currency to be used, place where payment is to take place, time limits and percentages).
Where the technology to be transferred consists of a number of different items it is necessary to stage clearly the mode by which each item will be paid for in accordance with the contract.
Where item or part of the technology transferred is no longer valid (due to the expiry of a protected industrial property right or to the technical know-how becoming public information), the parties shall negotiate further the provisions in relation to payment.
7. Undertakings shall be made by both parties in relation to the following:
- Quality of technology
- Reliability of technology
- Duration of guarantees
- Guarantee of confidentiality during the validity of the project
- Environment protection and occupational safety ; and
- Other undertakings of the two parties necessary to ensure that the transfer of technology is problem free.
8. Necessary training programs in relation to the transferred technology :
- Responsibilities of the two parties for training;
- Form, contents and areas of training;
- Duration, and location of training;
- Training expenses and other related provisions ; and
- Objectives and level of skills to be achieved from training.
9. Duration of contracts and provisions allowing changes to be made by the parties to the duration or expiry of them.
10. Issues in relation to disputes arising from contracts :
- Laws to be applied;
- Method of resolution to be adopted ; and
- Bodies to be used in the resolution of disputes.
Article 7
When examining the contents of a technology transfer, the two parties shall define clearly the contents of the technology, the skill, expertise and consultancy business, the types of resources, materials and machines which Vietnam can supply and the conditions attached to using them as substitutes for imports and the replacement process.
Article 8
Provisions not to be included in contracts :
The following provisions shall not be included in contracts.
1. Provisions which compel the transferee of technology to buy or conditionally receive the following objects (in terms of quantity, quality and specifications) from the transferor or party appointed by the transferor:
- Raw materials, other materials;
- Production facilities such as machines, equipment, and vehicles;
- Intermediate products; and
- Unskilled labour.
Specific guarantees which are required for the technology, in terms of resources, materials, accessories, capital goods or skilled manpower with technical expertise shall be explained in detail and agreed to by both parties.
2. Provisions which compel the transferee of technology to agree to and abide by specified limits in relation to the following :
- Scope of production and quantity of products (or groups of products) to be produced over a specified period of time;
- Prices, volume and area of product consumption ; or
- Appointment of sales agents or commercial representatives and the activities of and relationship between the transferee of technology and those agents and representatives.
3. Provisions which restrict the export market of the transferee of the technology by :
- Specifying those markets which may not be exported to ;
- Specifying those markets which may be exported to ; or
- Specifying the volume and composition of the groups of products which are to be exported to a particular market during a particular time period.
Where the transferor of the technology is producing and consuming a similar product in a particular market, or has granted a license to a third party for the exclusive use of the industrial property rights (monopoly license) thereby enabling them to receive technology similar to that being transferred, the production and export of products shall take place in accordance with the agreements contained in the contracts and in accordance with the Vietnamese laws and international conventions on industrial property rights to which Vietnam is a party.
4. Provisions which provide that the transferee of technology shall not research and develop further the technology transferred or receive similar technology from other sources.
5. Provisions which prohibit the transferee of technology from utilizing freely the technology after the duration of the contract or the industrial property rights contained in the contract have expired.
Where special circumstances exist (due to the nature of the technology transferred, or to the state of the national economy) the authorized State body in charge of technology transfers may consider and allow one or more of the restrictive provisions referred to above, to be included in the contract.
Article 9
Price of the technology to be transferred:
The price of the technology to be transferred shall be agreed upon by the two parties on the basis of equality and mutual benefit. Price fixing procedures shall accord with the value of the technology, and the prices and price fixing procedures of similar technology in international markets at the time of calculation.
Article 10
Mode of payment
Payment may be made by either package payment, installment payment or a combination of both. The amount of "installment payments" depends on the nature of technology, but shall not in total exceed by five (5) per cent or more the net selling price of the products produced or the services provided as a result of the technology transferred.
The two parties may agree upon the currency to be used for payment or for payment to be made in kind. All payments made in cash and cash transfers shall take place in accordance with the regulations of the State of Vietnam.
Where payments are made in kind (goods) then depending on the nature of the goods involved (whether or not they are included in a quota), the two parties shall clearly define this method of payment in the contract and shall carry it out in accordance with the regulations of the management of export and import business of the Council of Ministers of Vietnam.
Article 11
Duration of contracts :
1. The duration of a contract is the period of time for which it is valid commencing from the time of approval and issue of a license for technology transfer by either the authorized Vietnamese body in charge of technology transfer or the bodies invested with such power, as referred to in articles 15 and 20 of this Decree.
2. The duration of the contract shall be determined and agreed upon by the two parties, but shall be no longer than seven years.
3. The authorized State body in charge of technology transfers may, in special circumstances at the request of the two parties, approve of contracts the duration of which are longer than seven years.
Article 12
Information of technological improvements and innovations :
If, during the performance of a contract, the transferor or transferee of the technology creates some improvement or innovation in relation to the technology transferred, each party may officially request that the other party inform it of the existence and preliminary contents of these changes and, where necessary, propose official negotiations aimed at the purchase or receipt of the improvements and innovations.
Article 13
Supply of improvements and innovations in the technology transferred :
1. Upon being requested to supply information on improvements and innovations, each party shall be responsible to transfer the information to the other party first, on the basis of agreement, equality and mutual benefit.
In the event that one party deliberately fails to transfer, brings undue pressure to bear on the other party, or transfers the innovations and improvements to a third party on more favorable conditions thereby causing material damage to the other party, the other party may officially request that the authorized State body in charge of technology transfer intervene or treat it as a dispute arising under the contract and which shall be resolved in accordance with article 14 of this Decree.
2. The transfer of improvements or innovations shall be effected in the same manner as the ordinary transfer of technology and may be done by way of a new technology transfer contract or supplementary technology transfer contract in accordance with the terms contained in the original contract.
Article 14
Resolution of disputes :
1. The parties shall attempt to resolve all disputes which arise during the performance of the contract by negotiation and reconciliation.
2. Failing such resolution, the dispute shall be referred to arbitration and the laws to be applied shall be those previously decided and agreed upon in the contract, in accordance with section 10 of article 6 of this Decree. The disputing parties may select one of the following forms of arbitration :
- The Foreign Trade Arbitration Council affiliated to the Vietnamese Chamber of Commerce and Industry or an arbitrator of a third country or international arbitration; or
- An arbitration council mutually agreed upon by the two parties.
Chapter III
MANAGEMENT AND APPROVAL OF TECHNOLOGY TRANSFER CONTRACTS.
Article 15
The State Committee of Science shall be the State body which is authorized to manage contracts of technology transfer from foreign countries into Vietnam.
The power to approve technology transfer contracts is delegated in accordance with article 20 of this Decree.
Article 16
Application for approval of technology transfer contracts :
The transferor, or transferee of technology on behalf of one or both of them may submit an application for the approval of a contract.
When applying for approval of a contract, the two parties shall submit the following documents :
1. An application for the approval of a contract completed in accordance with official printed form of the State Committee for Science.
2. The technology transfer contract and all attached appendices.
3. A feasibility study.
The feasibility study may be made by either party and must contain the justifications for the contract, supplements to analyses and calculations regarding markets, materials, technology, economy, finance and efficiency of technology transfer.
4. Information ensuring the status of each party as a legal entity, their property rights and all other necessary details in relation to the two parties participating in the technology transfer contract, such as :
- Name and address of the company;
- The guarantor or sponsoring organization;
- Bank, account number, capital; and
- Documents verifying industrial property rights.
The languages to be used in the contract and all attached documents shall be Vietnamese and a widely used foreign language agreed upon by the two parties in the contract. Both versions shall be equally valid.
Article 17
Decision to approve contracts:
The State Committee for Science or bodies to which the power to approve technology transfer contracts has been delegated shall, within three months of receipt of the application referred to in the provisions of article 16 of this Decree, communicate its decision to approve of or refuse the technology transfer contract.
The communication of approval shall be effected by the issue of the technology transfer license. The State Committee for Science shall publish official forms of technology transfer licenses to be used in relation to all kinds of technology transfer contracts.
Article 18
False statements and dealing with false statements :
1. Where Vietnamese State bodies have sufficient evidence that a false statement has been made, the license permitting technology transfer shall be withdraws and the contract automatically declared invalid.
Where the contract is invalid, the market of the statement shall be responsible for all economic and financial consequences which flow as a result.
2. Where an individual or agency provides information alleging that a false statement has been made and the performance of a contract is suspended while that information is examined, the informant or informing agency shall be responsible for all consequences, financial, economic and social, caused by the provision of that information in the event that no false statement has been found to have been made.
Article 19
Amendments to contract :
Technology transfer contracts may be subject to additions, amendments, or cancellations in part provided that both parties unanimously agree and send a written proposal to the body which originally approved the contract and granted the technology transfer license. The body shall then within one month of receiving the parties' request to change the contract, deliver its findings in writing.
The additions, amendments, and cancellations in part of the contract shall be effective only when the findings referred to above are made known.
Article 20
Delegation of power to approve technology transfer contracts :
The delegation of power to approve of technology transfer contracts in accordance with article 18 of the Ordinance is designed to create favorable condition for ensuring the timely signing and implementation of the contracts.
1. The State Committee for Science shall study, investigate, decide, approve of and issue licenses in respect of the following contracts :
- Contracts worth more then one million (1,000,000) US dollars (regardless of the source from which they are paid);
- Contracts (central and local) worth more than five hundred thousand (500,000) US dollars which are financed by the State Treasury;
- Contracts of branches which require national security guarantees such as national defense and interior affairs; and
- Contracts which may have exceptional consequences.
2. The Ministries, other State Committees and bodies under the Council of Ministers, people's committees of the provinces, towns and special zones under central authority shall, after consulting the State Committee for Science, study, investigate, decide, approve of and issue licenses in respect of the following contracts :
- Contracts worth less than one million (1,000,000) US dollars which are financed by means other than the State Treasury; and
- Contracts worth less than five hundred thousand (500,000) US dollars which are financed by the State Treasury.
3. The approval of all technology transfer contracts which are within the framework of foreign investment shall take place in accordance with the articles contained in Chapter V of this Decree.
Article 21
Registration of contracts :
After a decision to approve and grant a license in respect of a contract has been made, the Ministries or Committees concerned shall, within two weeks, copy and send all relevant documentation to the State Committee for Science.
Article 22
Managing and guiding the implementation of contracts :
The State Committee for Science shall be responsible for managing, storing and classifying all technology transfer contracts, for periodically informing all related bodies of matters necessary for the creation of favorable conditions for the implementation of contracts and for avoiding the import of any technology already in existence in the country.
The Ministries and the provincial people's committee shall monitor the performance of all technology transfer contracts approved and shall inform the Foreign Trade Bank concerned of matters necessary for the raising of foreign currency which is required where payment is made by installments. This monitoring shall assist in evaluating the standard of handling of the technology transferred, particularly when extensions to contracts are being considered.
Chapter IV
RIGHTS AND OBLIGATIONS OF THE CONTRACTING PARTIES IN THE TRANSFER OF TECHNOLOGY
Article 23
Taxes on transfer of technology :
1. The transferor of technology shall in accordance with the taxation laws of Vietnam in force at the time pay income tax and import duty on all machinery and equipment which is related to the transfer of technology.
2. In order to encourage the transfer of foreign technology into Vietnam, the transferor shall be exempt from all income tax for a period of three years from the date of promulgation of this Decree.
Article 24
All foreigners entering Vietnam for the purposes of studying, preparing for, signing and implementing technology transfer contracts shall be considered to be entering Vietnam in preparation for, and for the implementation of, and investment project, and shall, accordingly, be entitled to benefit from all regulations of the State of Vietnam on customs, immigration, residence, communication and transport, in accordance with Chapter 10 of Decision No. 28-HDBT of the Council of Ministers dated 6 February 1991 which provides detailed regulations for the implementation of the Law on Foreign Investment in Vietnam.
Article 25
The signatories to a technology transfer contract are obligated to implement strictly its terms. All breaches of technology transfer licenses which occur for reason of personal gain shall be punished in accordance with the laws of Vietnam.
Chapter V
TECHNOLOGY TRANSFER IN FOREIGN INVESTMENT
Article 26
The following shall be considered to continue technology transfers in foreign investment:
1. Technology transferred by a foreign party in the form of capital contribution in whole or in part for the establishment of an enterprise of joint venture enterprise with a Vietnamese party in accordance with the Law on Foreign Investment in Vietnam.
2. Technology transferred by a foreign party in the form of capital contribution in whole or in party to a business co-operation contract entered into with a Vietnamese party in accordance with the Law on Foreign Investment in Vietnam.
Article 27
Technology transfer contracts which form part of foreign investment shall be made separately and included in the documents filed when an application is made for an investment license.
Article 28
The State Committee for Co-operation and Investment shall consider, investigate, decide and issue investment licenses and shall also issue licenses in respect of technology transfer contracts in foreign investment, after obtaining an official written opinion from the State Committee for Science.
After the issue of licenses, the State Committee for Co-operation and Investment shall copy and send to the State Committee for Science the particular sections relevant to the technology transfer contract.
Chapter VI
FINAL PROVISIONS
Article 29
This Decree shall be of full force and effect as of the date of its promulgation.
Article 30
The Chairmen of the State Committee for Science, the State Planning Committee and the State Committee for Co-operation and Investment, the Minister of Commerce, Foreign Affairs and Finance, the Governor of the State Bank of Vietnam, and the General Director of the General Department of Customs shall, within the scope of their function and authority, be responsible for issuing circulars which provide regulations on the implementation of this Decree.
Article 31
The Chairman of the State Committee for Science shall be responsible for drafting and submitting to the Council of Ministers all documents necessary for the implementation of article 19 of the Ordinance on Technology Transfer.
Article 32
Ministers, chairmen of State Committee, heads of bodies of the Council of Ministers and chairmen of the people's committee of the provinces, cities and special zones under central authority shall be responsible for the implementation of this Decree.
 

 
FOR THE COUNCIL OF MINISTERS
VICE CHAIRMAN




Vo Van Kiet

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Văn bản này chưa có chỉ dẫn thay đổi
văn bản TIẾNG ANH
Bản dịch tham khảo
download Decree 49-HDBT DOC (Word)
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao để tải file.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi

19006192

Theo dõi LuatVietnam trên YouTube

TẠI ĐÂY

văn bản cùng lĩnh vực

Vui lòng đợi