Nghị định ban hành Điều lệ về mua bán quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và bí quyết kỹ thuật (gọi tắt là Điều lệ về mua bán li xăng)

Thuộc tính Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

NGHỊ ĐỊNH

CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 201-HĐBT NGÀY 28-12-1988

BAN HÀNH ĐIỀU LỆ VỀ MUA BÁN QUYỀN SỬ DỤNG SÁNG CHẾ,

GIẢI PHÁP HỮU ÍCH, KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP, NHàN HIỆU HÀNG HOÁ VÀ BÍ QUYẾT KỸ THUẬT (GỌI TẮT LÀ ĐIỀU LỆ VỀ MUA BÁN LIXĂNG)

 

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG

 

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng bộ trưởng ngày 4-7-1981;

Căn cứ Nghị định số 35-CP ngày 9-2-1981 quy định nhiệm vu, quyền hạn và trách nhiệm của Bộ trưởng và chức năng của Bộ trong một số lĩnh vực quản lý Nhà nước;

Để tăng cường công tác tổ chức và quản lý hoạt động sở hữu công nghiệp;

Theo đề nghị của Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước,

NGHỊ ĐỊNH:

 

Điều 1. - Nay ban hành kèm theo Nghị định này bản Điều lệ về mua bán quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và bí quyết kỹ thuật (gọi tắt là Điều lệ về mua bán lixăng).

 

Điều 2. - Bản điều lệ này có hiệu lực từ ngày ký. Những quy định trước đây trái với những quy định trong Điều lệ này đều bãi bỏ.

 

Điều 3. - Bộ trưởng, các Bộ, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

 

ĐIỀU LỆ

VỀ MUA BÁN QUYỀN SỬ DỤNG SÁNG CHẾ, GIẢI PHÁP HỮU ÍCH,

KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP, NHàN HIỆU

HÀNG HOÁ VÀ BÍ QUYẾT KỸ THUẬT

(GỌI TẮT LÀ ĐIỀU LỆ VỀ MUA BÁN LIXĂNG)

(Ban hành kèm theo Nghị định số 201-HĐBT ngày 28-12-1988

của Hội đồng Bộ trưởng)

 

CHƯƠNG I

QUY ĐỊNH CHUNG

 

Điều 1.

1. Điều lệ này quy định việc mua bán quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và bí quyết kỹ thuật (dưới đây gọi tắt là mua bán lixăng) áp dụng cho mọi cá nhân và pháp nhân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Các cá nhân và pháp nhân nước ngoài (dưới đây còn gọi tắt là Bên nước ngoài) cũng được quyền tiến hành các hoạt động mua bán lixăng theo đúng những quy định trong điều lệ này và pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các Điều ước Quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Điều 2.

1. Đối tượng lixăng là quyền sử dụng các sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá đang còn hiệu lực bảo hộ pháp lý.

2. Đối tượng lixăng cũng có thể là các kiến thức số liệu, tài liệu, thông tin kỹ thuật bí mật (dưới đây gọi tắt là bí quyết kỹ thuật), bản vẽ thiết kế, mô hình sản phẩm liên quan tới các đối tượng nêu trên cả khi văn bằng bảo hộ các đối tượng đó hết hiệu lực.

Điều 3.

1. Các cá nhân và pháp nhân (kể cả Bên nước ngoài) chỉ được phép bán các đối tượng lixăng (nêu ở Điều 2 của Điều lệ này) thuộc quyền sở hữu của mình hoặc các đối tượng lixăng trong hợp đồng lixăng độc quyền mà các cá nhân hoặc pháp nhân đó được phép bán lixăng phụ thuộc hoặc theo điểm 5, Điều 6 của Điều lệ này.

2. Đối với các sáng chế thuộc quyền sở hữu của Nhà nước (đã được cấp bằng tác giả sáng chế và đang còn thời hạn hiệu lực), các pháp nhân là cơ quan, xí nghiệp Nhà nước, xí nghiệp Công ty hợp doanh được cấp giấy chứng nhận sáng chế công vụ hoặc tác giả sáng chế được quyền bán lixăng cho các tổ chức kinh tế tập thể, tư nhân và được quyền bán bí quyết, kỹ thuật có liên quan tới sáng chế được cấp bằng nói trên.

3. Các cá nhân và pháp nhân Việt Nam trước khi tiến hành việc giao dịch và bán lixăng ra nước ngoài phải được Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước cho phép.

Điều 4.

1. Tất cả các pháp nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đều có quyền mua lixăng (kể cả mua lixăng của nước ngoài) để phục vụ sản xuất kinh doanh của mình nếu thấy việc mua lixăng đó đưa lại hiệu quả cao hơn.

2. Nghiêm cấm việc mua lixăng để thủ tiêu hoặc hạn chế việc sử dụng đối tượng lixăng nhằm mục đích cạnh tranh phi pháp hoặc hạn chế áp dụng tiến bộ kỹ thuật.

 

 

CHƯƠNG II

HỢP ĐỒNG LIXĂNG

 

Điều 5.

1. Việc mua bán lixăng được tiến hành trên nguyên tắc hợp đồng.

2. Hợp đồng lixăng là văn bản pháp lý thể hiện những cam kết giữa các bên tham gia ký kết hợp đồng nhằm thiết lập, thay đổi hoặc đình chỉ mối quan hệ, nghĩa vụ và quyền lợi của các bên đối với đối tượng lixăng nêu ở Điều 2 của Điều lệ.

Điều 6. - Trong hợp đồng lixăng không được phép có những điều khoản nhằm:

1. Hạn chế một cách bất hợp lý bên mua lixăng sử dụng, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm sản xuất theo lixăng (kể cả việc xuất khẩu các sản phẩm sản xuất theo lixăng).

2. Khống chế một cách bất hợp lý giá tiêu thụ sản phẩm do bên mua lixăng sản xuất.

3. Cấm bên mua lixăng tiếp tục cải tiến, hoàn thiện đối tượng lixăng hoặc cấm bên mua lixăng sử dụng kỹ thuật tương tự của các cá nhân và pháp nhân khác.

4. Cấm bên mua lixăng tiếp tục sử dụng đối tượng lixăng đã mua sau khi hợp đồng hết hiệu lực (trừ nhãn hiệu hàng hoá).

5. Cấm bên mua lixăng độc quyền cấp lixăng phụ thuộc cho bên thứ 3 khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam.

Trong một số trường hợp do những yêu cầu đặc biệt của kinh tế Quốc dân, Quốc phòng và an ninh Quốc gia trên cơ sở đề nghị của cơ quan chủ quản. Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước có thể phê duyệt những hợp đồng lixăng được ký với Bên nước ngoài có điều khoản bao hàm một số nội dung hạn chế nêu trên.

Điều 7.

1. Thời hạn hiệu lực của hợp đồng lixăng không được phép quá 7 năm kể từ ngày:

- Hợp đồng được ký kết (trường hợp hợp đồng được ký kết giữa các bên trong nước).

- Hợp đồng được Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước phê duyệt (trường hợp hợp đồng được ký kết với Bên nước ngoài).

2. Hợp đồng lixăng hết hiệu lực khi:

- Các văn bằng bảo hộ đối tượng lixăng mất hiệu lực.

- Hợp đồng bị huỷ bỏ theo các trường hợp nêu tại Điều 17 của Điều lệ.

CHƯƠNG III

KÝ KẾT PHÊ DUYỆT VÀ ĐĂNG KÝ HỢP ĐỒNG LIXĂNG.

Điều 8. - Các bên ký kết hợp đồng lixăng phải có đầy đủ tư cách về mặt pháp lý và khả năng thực hiện những cam kết được thoả thuận trong hợp đồng.

Điều 9. - Các hợp đồng lixăng được ký kết giữa các cá nhân và pháp nhân trong nước phải theo đúng thủ tục về ký kết hợp đồng kinh tế do Nhà nước quy định và phải được đăng ký và nộp lưu hợp đồng tại Cục sáng chế thuộc Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước theo đúng Điều 14 của Điều lệ.

Điều 10. - Khi ký kết hợp đồng lixăng với Bên nước ngoài, các cá nhân và pháp nhân phải thực hiện những quy định sau:

1. Trước khi tiến hành hoạt động mua bán lixăng các pháp nhân là cơ quan, xí nghiệp Nhà nước, xí nghiệp Công ty hợp doanh phải báo cáo với cơ quan chủ quản (Bộ, cơ quan ngang Bộ, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương) và phải được cơ quan chủ quản chấp thuận.

Trường hợp muốn bán lixăng ra nước ngoài, mọi cá nhân và pháp nhân phải thực hiện quy định nêu tại điểm 3, Điều 3 của Điều lệ này.

2. Chỉ có các tổ chức, đơn vị cơ sở (gọi chung là các tổ chức được phép xuất nhập khẩu lixăng) sau đây được quyền giao dịch và ký kết hợp đồng mua, bán lixăng với nước ngoài:

- Các tổ chức xuất nhập khẩu được Nhà nước cho phép mua bán lixăng với nước ngoài;

- Các tổ chức được Nhà nước cho phép thực hiện các dịch vụ mua bán lixăng với nước ngoài;

- Các đơn vị cơ sở Nhà nước cho phép hợp tác kinh tế trực tiếp với nước ngoài;

Các tổ chức được phép xuất nhập khẩu lixăng trên đây và hướng dẫn của Bộ Kinh tế đối ngoại trong việc ký kết hợp đồng với nước ngoài.

3. Các cá nhân và pháp nhân khác (ngoài điểm 2 nêu trên) muốn mua, bán lixăng với nước ngoài thì được quyền chọn tổ chức xuất nhập khẩu lixăng thích hợp nêu trên để uỷ thác việc mua, bán lixăng. Việc uỷ thác được tiến hành trên cơ sở hợp đồng và lệ phí dịch vụ do hai bên thoả thuận.

Điều 11. - Trong quá trình đàm phán ký kết hợp đồng mua bán lixăng với nước ngoài, bên nhận uỷ thác phải phối hợp chặt chẽ với bên uỷ thác. Trường hợp cần thiết, đại diện bên uỷ thác phải được cùng tham gia đàm phán với bên nước ngoài.

Điều 12.

1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng lixăng với Bên nước ngoài, các cá nhân pháp nhân mua, bán lixăng có trách nhiệm lập và nộp đầy đủ hồ sơ xin phê duyệt hợp đồng lixăng cho Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước. Trong trường hợp pháp nhân là cơ quan, xí nghiệp của Nhà nước hoặc xí nghiệp công tư hợp doanh phải gửi một bản sao hợp đồng cho cơ quan chủ quản.

2. Hồ sơ xin phê duyệt hợp đồng lixăng bao gồm:

- Đơn xin phê duyệt hợp đồng lixăng.

- Hợp đồng lixăng được viết bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài.

- Bản sao các văn bằng bảo hộ của các đối tượng lixăng.

Điều 13.

1. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được dơn xin phê duyệt hợp đồng lixăng, Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước có trách nhiệm trả lời đơn xin phê duyệt và có quyền kéo dài thời hạn trên thêm 60 ngày, nhưng phải thông báo chính thức bằng văn bản và nêu rõ lý do kéo dài thời hạn trả lời cho cá nhân hoặc pháp nhân xin phê duyệt hợp đồng lixăng.

2. Quá thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn xin phê duyệt, nếu không có thông báo kéo dài thời gian phê duyệt hoặc quá 90 ngày kể từ ngày nhận đơn (trường hợp có thông báo kéo dài thời hạn phê duyệt) mà Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước không ra quyết định từ chối phê duyệt hợp đồng thì hợp đồng lixăng coi như được phê duyệt.

3. Trước khi ra quyết định phê duyệt hợp đồng. Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước có trách nhiệm tham khảo ý kiến của cơ quan chủ quản (nếu pháp nhân xin phê duyệt hợp đồng là cơ quan, xí nghiệp Nhà nước hoặc xí nghiệp công ty hợp doanh) và ý kiến của các cơ quan khác có liên quan. Trường hợp xét thấy cần thiết Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước có thể thành lập phải có đại diện của cơ quan quản lý đầu tư nước ngoài, Tài chính, Ngân hàng.

Điều 14.

1. Sau khi hợp đồng lixăng được phê duyệt (trường hợp hợp đồng ký kết với bên nước ngoài) hoặc sau khi ký kết (trường hợp hợp đồng được ký kết giữa các bên trong nước) hợp đồng lixăng phải được đăng ký và nộp lưu tại Cục Sáng chế thuộc Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước để ghi nhận về mặt pháp lý việc chuyển giao đối tượng đã được ký kết.

2. Bên nước ngoài gửi đơn xin đăng ký hợp đồng lixăng cho Cục Sáng chế phải thông qua người đại diện được các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thừa nhận.

3. Người nộp đơn xin đăng ký hợp đồng lixăng phải nộp lệ phí đăng ký theo quy định.

4. Hồ sơ xin đăng ký hợp đồng lixăng bao gồm:

- Đơn xin đăng ký hợp đồng lixăng.

- Hợp đồng lixăng đã được phê duyệt (trường hợp ký kết với nước ngoài) hoặc hợp đồng lixăng đã ký kết (nếu hợp đồng được ký giữa các bên trong nước).

- Biên lai đã nộp tiền lệ phí đăng ký hợp đồng lixăng.

5. Sau khi nhận đơn xin đăng ký hợp đồng lixăng của hai bên ký kết hợp đồng, Cục Sáng chế sẽ cấp giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng lixăng, ghi nhận hợp đồng trên vào sổ đăng bạ hợp đồng lixăng và công bố việc chuyển giao quyền sử dụng trên thông báo sở hữu công nghiệp của Cục Sáng chế.

 

 

Điều 15.

1. Quyết định phê duyệt và giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng lixăng là căn cứ để cấp giấy phép xuất khẩu, sử dụng ngoại tệ, vay vốn Ngân hàng và để bảo đảm các quyền sở hữu công nghiệp.

2. Các cá nhân và pháp nhân cố tình không thực hiện nghĩa vụ đăng ký phê duyệt hợp đồng lixăng có thể bị xử lý hành chính, phạt tiền hoặc truy tố trước pháp luật, tuỳ theo mức độ gây thiệt hại do hậu quả của việc không thực hiện nghĩa vụ đăng ký và phê duyệt gây ra.

Điều 16. - Sau khi hợp đồng lixăng có hiệu lực, các cá nhân và pháp nhân trong nước có tài khoản ở Ngân hàng, có trách nhiệm gửi bản sao hợp đồng cho Trọng tài kinh tế có thẩm quyền để theo dõi.

CHƯƠNG IV

THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

Điều 17.

1. Sau khi hợp đồng lixăng có hiệu lực pháp lý, các bên tham gia ký kết hợp đồng có trách nhiệm thực hiện các cam kết theo đúng tiến độ về nội dung và chất lượng công việc đã được thoả thuận trong hợp đồng.

2. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên ký kết có thể thoả thuận thay thế, sửa đổi bổ sung những điều khoản đã được ký kết. Mọi điều thay thế, sửa đổi, bổ sung phải được hai bên nhất trí bằng văn bản và trong trường hợp ký với bên nước ngoài, những điều thay thế, sửa đổi, bổ sung đó chỉ có hiệu lực sau khi được phê duyệt theo quy định ghi trong chương III của Điều lệ.

3. Hợp đồng lixăng có thể bị huỷ bỏ trong trường hợp:

- Hai bên ký kết nhất trí huỷ bỏ hợp đồng.

- Một trong hai bên ký kết đã vi phạm những điều cam kết tới mức hợp đồng không thể tiếp tục triển khai được mặc dù bên vi phạm đã được thông báo trước 90 ngày bằng văn bản của phía bên kia, nhưng bên vi phạm không có biện pháp khắc phục.

- Khi có trường hợp bất khả kháng làm cho hợp đồng không thể thực hiện tiếp tục, trong thời hạn 7 ngày, bên gặp bất khả kháng phải thông báo ngày cho bên kia về hoàn cảnh bất khả kháng.

- Khi có quyết định huỷ bỏ hợp đồng của cơ quan có thẩm quyền xét xử.

4. Sau khi huỷ bỏ hợp đồng, các cá nhân, pháp nhân phải thông báo ngay cho cơ quan chủ quản (nếu có) và Cục Sáng chế thuộc Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước chậm nhất là 15 ngày sau khi có quyết định huỷ bỏ hợp đồng. Việc huỷ bỏ hợp đồng lixăng sẽ được Cục Sáng chế ghi nhận vào sổ đăng bạ và công bố trên thông báo của Cục.

Điều 18. - Trong suốt thời gian hiệu lực của hợp đồng, các bên ký kết hợp đồng lixăng có trách nhiệm thông báo cho nhau mọi sáng kiến cải tiến kỹ thuật, giải pháp hữu ích hay sáng chế nảy sinh trong quá trình áp dụng đối tượng lixăng. Điều kiện để được phép sử dụng các kỹ thuật mới đó do các bên ký kết hợp đồng thoả thuận trong hợp đồng lixăng bổ sung.

Điều 19. - Các bên ký kết hợp đồng lixăng có trách nhiêm giữ bí mật tất cả các thông tin và kiến thức kỹ thuật thuộc bí quyết kỹ thuật đã được chuyển giao. Trách nhiệm này phải được thực hiện trong suốt thời gian sau khi hợp đồng hết hiệu lực cho tới lúc những thông tin và kiến thức kỹ thuật được chuyển giao trở nên công khai.

Điều 20. - Các bên ký kết hợp đồng có trách nhiệm bảo vệ các quyền được chuyển giao thông qua hợp đồng.

a) Trường hợp một trong hai bên tham gia ký kết hợp đồng phát hiện các quyền được chuyển giao có nguy cơ bị xâm phạm thì bên phát hiện có trách nhiệm thông báo ngay cho bên kia để cùng nhau có biện pháp ngăn chặn kịp thời.

b) Trong trường hợp bên thứ ba xâm phạm các quyền đã được chuyển giao theo hợp đồng, bên bán lixăng có trách nhiệm tiến hành những biện pháp cần thiết để buộc bên xâm phạm phải chấm dứt các hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại đã gây ra.

Tuy nhiên, trong trường hợp hợp đồng lixăng độc quyền, bên mua lixăng được quyền tiến hành các hoạt động chống lại việc xâm phạm của bên thứ ba nếu trong thời gian 3 tháng kể từ ngày được bên mua lixăng thông báo, bên bán lixăng không tiến hành việc khiếu nại. Trong trường hợp này, bên bán lixăng có trách nhiệm giúp bên mua lixăng.

c) Trường hợp do việc sử dụng đối tượng được chuyển giao theo hợp đồng lixăng dẫn đến việc khiếu nại của bên thứ ba thì bên bán lixăng có trách nhiệm với sự giúp đỡ của bên mua lixăng giải quyết khiếu nại đó.

d) Mọi chi phí liên quan đến việc bảo vệ các quyền được chuyển giao thông qua hợp đồng lixăng cũng như mọi khoản tiền bồi thường thu được theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét xử, sẽ được phân chia trên cơ sở thoả thuận của hai bên ký kết hợp đồng.

Điều 21.

1. Mọi tranh chấp nảy sinh giữa các bên ký kết hợp đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng lixăng cần phải được giải quyết bằng con đường thương lượng giữa các bên.

2. Trong trường hợp tranh chấp không giải quyết được bằng cách nêu ở mục 1 trên thì:

a) Đối với các hợp đồng ký kết giữa các cá nhân và pháp nhân trong nước sẽ do:

- Trọng tài kinh tế giải quyết theo các văn bản pháp luật về hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế, nếu các bên hoặc một trong các bên ký kết hợp đồng có tài khoản tại Ngân hàng.

- Toà án sẽ giải quyết các tranh chấp liên quan tới khía cạnh dân sự của hợp đồng lixăng và những tranh chấp hợp đồng không thuộc phạm vi trọng tài kinh tế.

b) Đối với hợp đồng lixăng được ký kết với Bên nước ngoài, nếu các bên ký kết không thoả thuận cụ thể về cách thức giải quyết tranh chấp, bất đồng ý kiến giữa các bên, thì vụ tranh chấp hoặc bất đồng ý kiến đó sẽ được đưa ra trước tổ chức Trọng tài kinh tế Việt Nam hoặc một cơ quan xét xử khác do các bên thoả thuận.

Điều 22.

1. Nếu thấy quyết định của các cơ quan có thẩm quyền xét xử nêu tại điểm 2a của Điều 21 là không thoả đáng, các bên đương sự có quyền kháng cáo lên cơ quan có thẩm quyền xét xử cấp trên để giải quyết. Trong khi chờ đợi giải quyết các bên vẫn phải chấp hành quyết định của cơ quan đã xét xử.

2. Khi xét xử kháng cáo, cơ quan có thẩm quyền xét xử và đương sự phải tuân thủ các nguyên tắc và thủ tục xét xử kháng cáo do Nhà nước quy định.

CHƯƠNG V

TÀI CHÍNH VÀ CHẾ ĐỘ KHUYẾN KHÍCH HOẠT ĐỘNG MUA BÁN LIXĂNG

Điều 23.

1. Thu nhập do việc bán lixăng là nguồn thu phải trích nộp ngân sách Nhà nước (nếu pháp nhân là cơ quan, xí nghiệp Nhà nước hoặc xí nghiệp công ty hợp doanh) hoặc phải nộp thuế (nếu bên bán lixăng là cá nhân hoặc pháp nhân thuộc khu vực kinh tế tập thể, tư nhân hay Bên nước ngoài bán lixăng tại Việt Nam). Khoản trích nộp ngân sách Nhà nước hoặc thuế quy định như sau:

- Đối với các khoản thu theo phương thức trả gọn, hoặc trả theo kỳ vụ cho những hợp đồng lixăng có thời hạn hiệu lực dưới 5 năm, các cá nhân và pháp nhân (kể cả khu vực quốc doanh cũng như khu vực kinh tế tập thể, tư nhân hoặc Bên nước ngoài) phải trích nộp cho ngân sách Nhà nước hoặc thuế là 10% giá trị hợp đồng.

- Đối với các khoản thu trả theo kỳ vụ cho những hợp đồng lixăng có thời hạn hiệu lực trên 5 năm phải trích nộp ngân sách Nhà nước hoặc thuế 15% giá trị hợp đồng.

2. Đối với các hợp đồng lixăng được ký với Bên nước ngoài, khoản trích nộp ngân sách Nhà nước hoặc thuế phải được nộp bằng ngoại tệ thanh toán cho hợp đồng.

Điều 24. - Để khuyến khích đẩy mạnh lao động sáng tạo các pháp nhân là cơ quan, xí nghiệp của Nhà nước hoặc xí nghiệp công tư hợp doanh được phép trích 25% tiền thu được do việc bán lixăng (sau khi đã trừ đi các chi phí phục vụ cho việc đàm phán, ký kết, thực hiện hợp đồng và trừ đi khoản trích nộp ngân sách Nhà nước nêu tại Điều 23 của Điều lệ) để trả thù lao cho tác giả (và đồng tác giả nếu có) cho những người đã trực tiếp giúp đỡ tác giả hoàn thiện giải pháp kỹ thuật đã được bán và trả cho những người trực tiếp giúp đơn vị chuẩn bị và thực hiện hợp đồng lixăng. Phần còn lại đơn vị trích lập quỹ theo hướng dẫn chung của Nhà nước.

Thủ trưởng đơn vị có trách nhiệm và có quyền quyết định việc trả thù lao nói trên, theo đúng những quy định và hướng dẫn hiện hành của Nhà nước liên quan tới việc trả thù lao cho các hoạt động sở hữu công nghiệp.

Điều 25.

1. Các cá nhân và pháp nhân có lixăng bán ra nước ngoài được quyền sử dụng ngoại tệ theo chế độ hiện hành của Nhà nước.

2. Khuyến khích các cá nhân và pháp nhân nước ngoài dùng tiền bán li xăng cho bên Việt Nam để đầu tư vào sản xuất kinh doanh ở Việt Nam và việc đầu tư này, Bên nước ngoài được hưởng quyền lợi theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

CHƯƠNG VI

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 26. - Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước có trách nhiệm ban hành hoặc phối hợp với các cơ quan có liên quan để ban hành các thông tư giải thích và hướng dẫn bản Điều lệ này.

Điều 27. - Bộ trưởng các Bộ, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương có trách nhiệm ban hành các quy định cụ thể để áp dụng trong ngành mình, địa phương mình đồng thời có trách nhiệm đôn đốc, theo dõi kiểm tra tình hình thực hiện Điều lệ này.

 

 

Thuộc tính văn bản
Nghị định ban hành Điều lệ về mua bán quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và bí quyết kỹ thuật (gọi tắt là Điều lệ về mua bán li xăng)
Cơ quan ban hành: Hội đồng Bộ trưởng Số công báo: Đang cập nhật
Số hiệu: 201-HĐBT Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Nghị định Người ký: Võ Văn Kiệt
Ngày ban hành: 28/12/1988 Ngày hết hiệu lực: Đã biết
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực:
Tóm tắt văn bản
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE COUNCIL OF MINISTERS
---------
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom – Happiness
--------------
No. 201-HDBT
Hanoi, December 28, 1988

 
DECREE
ON LICENSING
Pursuant to the Law on Organization of the Council of Ministers dated 4 July 1981;
Pursuant to Decree No. 35- CP dated 9 February 1981 regulating the functions, powers and responsibilities of Ministers and functions of the Ministries in a number of administration areas;
In order to simplify the task of organizing and managing activities concerning industrial property rights;
On the proposal of the Chairman of the State Committee for Science and Technology;
DECREES:
Article 1
Issued with this Decree are Regulations on the purchase and sale of the right to use inventions, utility solutions, industrial designs, trademarks on goods and technical secrets (hereinafter referred to as Regulations on Licensing)
Article 2
The Regulations shall be of full force and effect as of the date of their signing. Any previous regulations which are inconsistent with the provisions contained in the Regulations are hereby repealed.
Article 3
Ministers, Chairmen of State committees, heads of other bodies under the Council of Ministers and chairmen of the people's committees of the provinces, cities and special zones under central authority shall be responsible for the implementation of this Decree.
 

 
FOR THE COUNCIL OF THE MINISTERS
VICE CHAIRMAN




Vo Van Kiet

 
REGULATIONS
ON LICENSING
Chapter I
GENERAL PROVISIONS
Article 1
1. These Regulations apply to the purchase and sale of the right to use inventions, utility solutions, industrial designs, trademarks on goods and technical secrets (hereinafter referred to as licensing) and shall apply to all individuals and legal entities of the Socialist Republic of Vietnam who engage in lawful research, production and business activities.
2. Foreign individuals and legal entities (hereinafter referred to as foreigners) may also carry out licensing activities in accordance with these Regulations an the laws of the Socialist Republic of Vietnam and the international agreements to which Vietnam is a party.
Article 2
1. The objects of licensing are the rights to use inventions, utility solutions, industrial designs and trademarks on goods which are legally protected.
2. The objects of licensing may also be know-how, data, documents and secret technical information (hereinafter referred to as technical secrets), and design sketches and models of goods relating to the above objects, even where the documents of protection for these objects have expired.
Article 3
1. Individuals and legal entities (including foreigners) may sell only those objects of licensing (referred to in article 2 of these Regulations) which are owned by them, or those objects of licensing in respect of which they have the right to sub-licence in an exclusive licensing contract or pursuant to paragraph 5 of article 6 of these Regulations.
2. With respect to inventions owned by the State (in respect of which inventor's patents have been granted which are still valid), the legal entities, i.e. the State agencies, State enterprises or State-private joint venture enterprises receiving the patents of public service inventions, or the authors of the inventions, are authorised to grant licensing rights to collective or private economic unit and to sell technical secrets which are related to the patented inventions.
3. Vietnamese individuals and legal entities must receive permission from the State Committee for Science and Technology before proceeding with the negotiation and granting of licensing rights to foreigners.
Article 4
1. All legal entities of all economic sectors have the right to purchase licensing rights (including those from foreigners) to promote their production and business provided such purchase will increase efficiency.
2. The purchase of licensing rights in order to extinguish or limit the use of the object of licensing for the purpose of illegal competition or frustration of technological progress is strictly prohibited.
Chapter II
LICENSING CONTRACT
Article 5
1. Licensing shall take place by way of contract in writing
2. A licensing contract is a legal document which sets out the obligations of the contracting parties for the purposes of establishing, modifying or suspending the relation, obligation and rights of the parties in relation to the objects of licensing referred to in article 2 of these Regulations
Article 6
A licensing contract shall not contain provisions which:
1. Unreasonably limit the licensee in the use, production and marketing of the product produced under the licence (including its export).
2. Unreasonably control the market price of the product produced under the licence.
3. Forbid the licensees to make improvements to and perfect the object of the licensing or which forbid the licensee to utilize similar technology of other individuals or legal entities.
4. Forbid the licensee to continue utilizing the object of licensing after expire of the contract (except for trademarks)
5. Forbid the licensee to grant an exclusive sub-licence to a third party which is engaged in lawful production and business activities in Vietnam.
In certain circumstances and particularly when required by the national economy, defence and security and proposed by the administrative agency concerned, the State Committee for Science and Technology may approve licensing contracts with foreigners which contain provisions that are otherwise prohibited by this article.
Article 7
1. The duration of a licensing contract shall not exceed seven years from the date of:
* signing of the contract (contracts between domestic signatory parties);
* approval of the contract by the State Committee for Science and Technology (contracts with foreigners).
2. A licensing contract expires when:
* the documents of protection of the objects of licensing expire;
* the contract is terminated in accordance with those cases provided for in article 17 of these Regulations.
Chapter III
SIGNING, APPROVAL AND REGISTRATION THE LICENSING CONTRACT
Article 8
The parties to a licensing contract shall have the legal standing and capacity necessary to perform the obligations agreed upon the contract.
Article 9
Licensing contracts between individuals and legal entities within the country shall strictly observe the procedure for signing of economic contracts stipulated by the State and shall be registered and filed with the Inventions Department in accordance with article 14 of these Regulations.
Article 10
Individuals who and legal entities which sign licensing contracts with foreigners shall have the following rights and responsibilities:
1. Before proceeding with licensing activities, legal entities which are State agencies or enterprises or State-private joint venture enterprises shall report to and obtain the approval of their supervising administrative agency (ministry, agency of the same level as a ministry, people's committee of province, city or special zone under central authority).
In the case of the sale of licensing rights to foreigners, individuals and legal entities the sale shall be performed in accordance with the provisions contained in paragraph 3 of article 3 of these Regulations.
2. The following basic organizations or units (hereinafter referred to as organizations permitted export and import licences) may negotiate and sign licensing contracts with foreigners:
* export and import organizations permitted by the State to sign licensing contracts with foreigners;
* organizations permitted by the State to provide services in relation to licensing contracts with foreigners; and
* basic units permitted by the State to enter into economic co-operation with foreigners.
The above organizations permitted export and import licences shall in the signing of contracts with foreigners, comply with the regulations and follow the guidance of the Ministry of Foreign Economic Relations.
3. Individuals who and legal entities which (other than those referred to above) wish to engage in licensing with foreigners may select and delegate licensing work to one of the appropriate licence exporting and importing organizations referred to above. The delegation shall be by way of contract and the fee for the service shall be agreed upon by parties.
Article 11
In the process of negotiating and signing licensing contracts with foreigners, the delegator and delegatee shall lilies closely. Where necessary, a representative of the delegator shall join in the negotiations with the foreigners.
Article 12
1. Within thirty (30) days of the date of signing the licensing contract with foreigners, the individual or legal entity engaged in the licensing shall be responsible for establishing and filing a complete application for approval of the licensing contract by the State Committee for Science and Technology. Where the legal entity is a State agency, State enterprise or State-private joint venture enterprise, a copy of the contract shall be sent to the supervising State agency.
2. An application for approval of the licensing contract shall consist of:
* the application for the licensing contract;
* the licensing contract in Vietnamese and foreign languages; and
* copies of the titles of protection of the objects of the licensing.
Article 13
1. Within thirty (30) days from the date of its receipt of the application for approval of the licensing contract, the state Committee for Science and Technology shall respond to the application for approval and may extend this period for response by up to sixty (60) days, but in doing so must officially notify the applicant in writing for the reason for the extension.
2. If after thirty (30) days from the date of its receipt of the application for approval there is no notification of extension of the period for consideration, or if after ninety (90) days from the date of its receipt of the application when there has been notification of extension, the State Committee for Science and Technology has not issued a decision to refuse to approve the licensing contract, it shall be deemed approved.
3. Prior to granting approval of the contract, the State Committee for science and Technology shall consult the supervising State agency and where the legal entity applying for approval is a State agency, a State enterprise, or State-private joint venture enterprise it shall consult other related agencies. If necessary, the State Committee for Science and Technology may establish a consultative experts' council for approval of licensing contracts. This council, to be formed upon the decision of the Chairman, shall contain representatives of the bodies in charge of foreign investment, finance and banking.
Article 14
1. After approval of the licensing contract (with foreigners) or after signing of the contract (between domestic parties), the licensing contract shall be registered and filed with the Inventions Department in order that the transfer of the object of the contract may be legally recognized.
2. The foreign party which applies for registration of the licensing contract at the Inventions Department must do so through a representative recognized by the competent bodies of Vietnam.
3. An applicant for registration of a licensing contract must pay a registration fee as prescribed.
4. An application for registration of a licensing contract shall contain:
* an application for registration of a licensing contract;
* the approved licensing contract (if signed with foreigners) or the signed licensing contract (if signed between domestic parties); and * a receipt of payment of the licensing contract registration fee.
5. After receiving from both parties to the contract the applications for licensing contract registration, the Inventions Department shall issue certificates of licensing contract registration, record the contract in the register of licensing contracts and publish the transfer of the right to use in the industrial property gazette of the Inventions Department
Article 15
1. The decision to approve and the certificate of registration of the licensing contract shall form the basis for the issue of permits for export and import, utilizing foreign exchange, securing capital loans from banks and protecting industrial property rights.
2. Individuals who and legal entities which deliberately fail to carry out their obligations of registering and obtaining approval of licensing contract may, depending on the degree of damage caused by such failure, be subject to administrative penalty, fines or criminal prosecution.
Article 16
After the licensing contract has taken effect, Vietnamese individuals who and legal entities which, have opened and maintain accounts at banks shall send a copy of their contract to the authorized economic arbitration body for monitoring.
Chapter IV
IMPLEMENTATION OF THE CONTRACT AND DISPUTE RESOLUTION
Article 17
1. After the licensing contract has taken effect, the parties to the contract shall be responsible for performing their obligations in relation to the content and quality of the work and within the time agreed upon therein.
2. During performance of the contract, the parties may agree to substitute, add to and amend the provisions previously agreed upon. All substitutions, amendments and additions shall be made unanimously in writing; and in the case of contracts with foreigners, they shall take effect only upon approval being granted in accordance with the provisions of Chapter III of these Regulations.
3. A licensing contract may be terminated where:
* the two parties agree on termination;
* one of the two parties has breached its obligations to such an extent that the contract cannot be performed and the party causing the breach even though given written notice of ninety days by the other party, is unable to rectify it;
* it is impossible to perform the contract, due to force major, in which case the party claiming force major must notify the other party within seven days;
* a decision to terminate by an arbitration body has been made.
4. No later than fifteen (15) days after the decision to terminate has been made, the individuals and legal entities concerned shall notify the responsible State body, if any, and the Inventions Department . The termination of a licensing contract shall be registered by the Inventions Department in its register and shall be published in its official gazette.
Article 18
The parties to the licensing contract shall, throughout the duration of the contract, inform each other of all creative ideas for improving the technology, utility solutions or further inventions which arise during the application of the object of licensing. Conditions for the application for newly-discovered technology shall be determined by the parties to the contract in a supplemental licensing contract.
Article 19
The parties to a licensing contract must keep confidential all information and technical know-how in relation to the technical secrets transferred. This obligation shall be observed throughout the duration of the contract and even after its expire until such time as when the information and technical know-how transferred have become public.
Article 20
The parties to the contract shall be responsible for protection of the rights transferred.
(a) Where one of the two parties to the contract discovers the possibility of infringement of the transferred rights, it shall notify the other party in order that both of them may take preventive measures;
(b) Where a third party infringes any of the rights transferred in the contract, the licenser has an obligation to take all measures necessary to compel the infringing party to stop its acts of infringement and to pay compensation for damages.
In the case of an exclusive licensing agreement, however, if, after three months from the date of notification by the licensee, the licenser does not file a complaint, the licensee may itself take measures to counter the infringement by the third party. In such cases, the licenser shall assists the licensee.
(c) Where the use of the object of licensing leads to a complaint of a third party, the licenser shall assists the licensee in resolving the complaint.
(d) All expenses which arise out of the need to defend the rights transferred by the licensing contract and all amounts of compensation collected under a decision of an arbitration body, shall be divided in accordance with the agreement of the two parties.
Article 21
1. All disputes which arise between the parties during implementation of a licensing contract shall be resolved by way of negotiation between them.
2. Where the dispute is unable to be resolved through negotiation as referred to in paragraph 1 of this article:
(a) With regard to contracts between Vietnamese individuals and legal entities:
* Provided one or all of the parties have opened and maintained accounts at banks, the economic arbitrator shall resolve the dispute in accordance with the legal provisions on economic contracts and economic arbitration.
* A court shall resolve disputes which relate to the civil aspects of the licensing contract and the contractual disputes which are not within the scope of economic arbitration.
(b) With regard to licensing contracts signed with foreigners, where the parties do not agree on the manner in which disputes or disagreements are to be resolved, they shall be forwarded to an economic arbitration body of Vietnam or other body selected by the parties for resolution of the dispute.
Article 22
1. Where the parties consider the decisions made in accordance with article 21 to be unsatisfactory, they may refer the matter to a higher body for resolution of the disputed. While awaiting resolution, they must abide by the decision.
2. On review, the arbitration or other body and the parties shall comply with the applicable procedures stipulated by the State.
Chapter V
FINANCIAL MATTERS AND ENCOURAGEMENT OF LICENSING
Article 23
1. Royalties received from licensing shall where the legal entity is a State body, a State enterprise or a State-private joint venture enterprise, be paid to the State Treasury, or where the licenser is an individual or legal entity operating within the sectors of collectives, individuals, or foreigners licensing in Vietnam, be subject to taxation. The amount to be paid to the State Treasury or to by paid as tax shall be calculated as follows:
* On royalties collected in one lump sum or collected by installments in a licensing contract, the duration of which is less than five years, individuals or legal entities (within the State sector as well as the collective sector private sector or foreign sector) the amount to be paid to the State Treasury or to be paid as tax shall be equivalent to ten (10) per cent of the value of the contract.
* On royalties collected by installment in a licensing contract the duration of which is longer than five years, the amount to be paid to the State Treasury or as tax shall be equivalent to fifteen (15) per cent of the value of the contract.
2. In licensing contracts with foreigners, that payment of tax to the State Treasury shall be paid in the foreign currency of the contract.
Article 24
In order to actively promote creative Labour, legal entities which are State agencies, State enterprises or State-private joint venture enterprise may use twenty five (25) per cent of the royalties earned from licensing (after deducting expenses incurred in negotiation, signing and implementing the contract, and paying to the State Treasury the amount contained in article 23 of these Regulations ) for the purpose of payment of remuneration to the author (and co-author, if any) of the invention, to other people who have directly assisted the author in perfecting the technology licensed, and to the people who have directly assisted the units to prepare and implement the licensing contract . The remaining income shall be used by the units to establish funds under the general guidance of the State.
The heads of these units shall have the responsibility and power to make decisions regarding the above remuneration, in accordance with the current regulations and guidance of the State relating to compensation payable in respect of industrial property.
Article 25
1. Individuals and legal entities selling licences overseas are authorised to use foreign currency in accordance with current regulations.
2. The State encourages foreign individuals and legal entities to use royalties obtained from their licensing activities in Vietnam for the purpose of investment in production and business activities in Vietnam, in respect of which they shall be granted the privileges provided for in the Law on Foreign Investment in Vietnam.
Chapter VI
ORGANIZATION OF IMPLEMENTATION
Article 26
The Chairman shall be responsible for issuing circulars, and for organizing with the bodies concerned, the implementation of and provision of assistance in relation to these Regulations.
Article 27
Ministers, Chairmen of State Committees, heads of other bodies under the Council of Ministers and chairmen of the people's committees of the provinces, cities and special zones under central authority shall be responsible for issuing detailed provisions for the implementation of these Regulations within their branches or localities, and for promoting, checking and inspecting the implementation of these Regulations.
 

 
FOR THE COUNCIL OF MINISTERS
VICE CHAIRMAN




Vo Van Kiet

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!