- Tổng quan
- Nội dung
- VB gốc
- Tiếng Anh
- Hiệu lực
- VB liên quan
- Lược đồ
-
Nội dung hợp nhất
Tính năng này chỉ có tại LuatVietnam.vn. Nội dung hợp nhất tổng hợp lại tất cả các quy định còn hiệu lực của văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính... trên một trang. Việc hợp nhất văn bản gốc và những văn bản, Thông tư, Nghị định hướng dẫn khác không làm thay đổi thứ tự điều khoản, nội dung.
Khách hàng chỉ cần xem Nội dung hợp nhất là có thể nắm bắt toàn bộ quy định hiện hành đang áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.
- Tải về
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật về Sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam
| Cơ quan ban hành: | Quốc hội |
Số công báo:
Số công báo là mã số ấn phẩm được đăng chính thức trên ấn phẩm thông tin của Nhà nước. Mã số này do Chính phủ thống nhất quản lý.
|
Đang cập nhật |
| Số hiệu: | 45-LCT/HĐNN8 | Ngày đăng công báo: | Đang cập nhật |
| Loại văn bản: | Luật | Người ký: | Võ Chí Công |
|
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
|
21/12/1990 |
Ngày hết hiệu lực:
Ngày hết hiệu lực là ngày, tháng, năm văn bản chính thức không còn hiệu lực (áp dụng).
|
Đã biết
|
|
Áp dụng:
Ngày áp dụng là ngày, tháng, năm văn bản chính thức có hiệu lực (áp dụng).
|
Đang cập nhật |
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
|
Đã biết
|
| Lĩnh vực: |
TÓM TẮT LUẬT 45-LCT/HĐNN8
Sửa đổi và bổ sung quy định về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam
Ngày 21/12/1990, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật về Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.
Luật này điều chỉnh các quy định liên quan đến hệ thống quân hàm, thời hạn thăng quân hàm, hệ thống chức vụ, hạn tuổi phục vụ, và chế độ tiền lương của sĩ quan trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
Hệ thống quân hàm và thời hạn thăng quân hàm
Luật sửa đổi quy định hệ thống quân hàm cấp tá gồm 4 bậc: Đại tá, Thượng tá, Trung tá, và Thiếu tá. Thời hạn xét thăng quân hàm được quy định cụ thể cho từng bậc, từ Thiếu úy lên Trung úy là 2 năm, và từ Trung úy lên Thượng úy, Thượng úy lên Đại úy là 3 năm. Từ Đại úy lên Thiếu tá, Thiếu tá lên Trung tá, Trung tá lên Thượng tá, và Thượng tá lên Đại tá đều là 4 năm. Thời gian học tập tại trường được tính vào thời hạn xét thăng quân hàm, và trong thời chiến, thời hạn này có thể được rút ngắn.
Hệ thống chức vụ và hạn tuổi phục vụ
Mỗi chức vụ trong quân đội có thể được bố trí nhiều nhất ba bậc quân hàm kế tiếp. Nếu sĩ quan đã đạt bậc quân hàm cao nhất của chức vụ và không có nhu cầu bổ nhiệm chức vụ cao hơn, họ sẽ không được thăng quân hàm mà được xét nâng mức lương. Hạn tuổi phục vụ của sĩ quan tại ngũ và dự bị được quy định theo cấp bậc, từ 38 tuổi cho cấp úy tại ngũ đến 65 tuổi cho cấp Đại tá dự bị. Sĩ quan từ Trung tướng và Phó đô đốc hải quân trở lên không có hạn tuổi phục vụ, nhưng có thể nghỉ hưu nếu không đảm đương được nhiệm vụ.
Kéo dài tuổi phục vụ và chế độ tiền lương
Hạn tuổi phục vụ tại ngũ có thể được kéo dài dựa trên nhu cầu của Quân đội và phẩm chất, năng lực, sức khỏe của sĩ quan. Đối với sĩ quan làm công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy, hạn tuổi có thể kéo dài đến hết hạn tuổi dự bị hạng hai, và trong trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài hơn. Sĩ quan tại ngũ được hưởng chế độ tiền lương và phụ cấp do Hội đồng bộ trưởng quy định, với bảng lương căn cứ vào cấp bậc quân hàm và chức vụ. Phụ cấp thâm niên được tính theo thời gian phục vụ tại ngũ, và sĩ quan làm nhiệm vụ đặc thù còn được hưởng các khoản phụ cấp khác.
Xem chi tiết Luật 45-LCT/HĐNN8
LUẬT
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT VỀ SĨ QUAN
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
Căn cứ vào Điều 83 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30 tháng 12 năm 1981.
Điều 1.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam như sau:
1- Khoản 2 Điều 7 về hệ thống quân hàm sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, được sửa đổi, bổ sung như sau:
"2. Cấp tá có 4 bậc:
Đại tá;
Thượng tá;
Trung tá;
Thiếu tá."
2- Điều 9 về thời hạn xét thăng quân hàm, được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 9.
Thời hạn xét thăng quân hàm được quy định như sau:
Thiếu uý lên trung uý: 2 năm;
Trung uý lên thượng uý: 3 năm;
Thượng uý lên đại uý: 3 năm;
Đại uý lên thiếu tá: 4 năm;
Thiếu tá lên trung tá: 4 năm;
Trung tá lên thượng tá: 4 năm;
Thượng tá lên đại tá: 4 năm.
Việc xét thăng quân hàm cấp tướng không quy định thời hạn.
Thời gian học tập tại trường được tính vào thời hạn để xét thăng quân hàm.
Trong thời chiến, thời hạn xét thăng quân hàm có thể được rút ngắn theo quy định của Hội đồng bộ trưởng."
3- Đoạn 2 Điều 12 về hệ thống chức vụ trong quân đội, được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Mỗi chức vụ được bố trí nhiều nhất ba bậc quân hàm kế tiếp. Trong trường hợp sĩ quan có bậc quân hàm cao nhất của chức vụ đang đảm nhiệm, đủ tiêu chuẩn và đã đến thời hạn xét thăng quân hàm, nhưng không có nhu cầu bổ nhiệm chức vụ cao hơn, thì không thăng quân hàm mà được xét nâng mức lương theo quy định về chế độ tiền lương của sĩ quan."
4- Điều 32 về hạn tuổi phục vụ của sĩ quan, được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 32.
Hạn tuổi phục vụ của sĩ quan tại ngũ và sĩ quan dự bị được quy định như sau:
| Cấp bậc tại ngũ | Tuổi | Tuổi dự bị | Tuổi |
| Cấp uý Thiếu tá Trung tá Thượng tá Đại tá Thiếu tướng và chuẩn đô đốc hải quân | 38 43 48 52 55 60 | 43 48 52 55 58 63 | 48 52 55 58 60 65 |
Đối với sĩ quan có bậc quân hàm từ trung tướng và phó đô đốc hải quân trở lên thì không quy định hạn tuổi phục vụ; trong trường hợp vì điều kiện sức khoẻ hoặc do năng lực mà không đảm đương được nhiệm vụ, thì thực hiện chế độ nghỉ hưu."
5- Điều 33 về việc kéo dài tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan, được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 33.
Căn cứ vào nhu cầu của Quân đội và phẩm chất, năng lực, sức khoẻ của từng sĩ quan, hạn tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan có thể kéo dài đến hết hạn tuổi dự bị hạng một; đối với sĩ quan làm công tác nghiên cứu khoa học và giáo viên các trường trong quân đội, thì có thể kéo dài đến hết hạn tuổi dự bị hạng hai; trong trường hợp đặc biệt thì có thể kéo dài trên hạn tuổi dự bị hạng hai.
Người có thẩm quyền thăng quân hàm đối với sĩ quan ở cấp bậc nào, thì có quyền kéo dài hạn tuổi phục vụ tại ngũ đối với sĩ quan ở cấp bậc đó."
6- Điều 39 về chế độ tiền lương và phụ cấp của sĩ quan, được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 39.
Sĩ quan tại ngũ được hưởng chế độ tiền lương và phụ cấp do Hội đồng bộ trưởng quy định.
Bảng lương của sĩ quan căn cứ vào cấp bậc quân hàm và chức vụ được quy định phù hợp với tính chất nhiệm vụ của quân đội.
Phụ cấp thâm niên được tính theo thời gian sĩ quan phục vụ tại ngũ; sĩ quan làm nhiệm vụ có tính chất đặc thù còn được hưởng các khoản phụ cấp khác."
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 8, thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!