Nghị định ban hành Điều lệ về giải pháp hữu ích

Thuộc tính Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

NGHỊ ĐỊNH

CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 200-HĐBT NGÀY 28-12-1988

BAN HÀNH ĐIỀU LỆ VỀ GIẢI PHÁP HỮU ÍCH

 

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG

 

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4-7-1981;

Căn cứ Nghị định số 35-CP ngày 9-2-1981 quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Bộ trưởng và chức năng của Bộ trong một số lĩnh vực quản lý Nhà nước;

Để tăng cường công tác tổ chức và quản lý hoạt động sở hữu công nghiệp;

Theo đề nghị của Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. - Nay ban hành kèm theo Nghị định này bản Điều lệ về giải pháp hữu ích.

 

Điều 2. - Bản Điều lệ này có hiệu lực kể từ ngày ký. Những quy định trước đây trái với Điều lệ này đều bị bãi bỏ.

 

Điều 3. - Bộ trưởng các Bộ, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố đặc khu trực thuộc Trung ương, chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

 

ĐIỀU LỆ

VỀ GIẢI PHÁP HỮU ÍCH

(Ban hành kèm theo Nghị định số 200-HĐBT ngày 28-12-1988

của Hội đồng Bộ trưởng)

 

CHƯƠNG I

QUY ĐỊNH CHUNG

 

Điều 1. - Phạm vi hiệu lực:

1. Điều lệ này áp dụng cho mọi cá nhân và pháp nhân Việt Nam nhằm khuyến khích việc tạo ra, áp dụng nhanh và rộng rãi các giải pháp hữu ích vào sản xuất, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội.

2. Các cá nhân và pháp nhân nước ngoài cũng được hưởng các quyền do Điều lệ này quy định trên nguyên tắc có đi có lại, theo đúng pháp luật của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các điều ước Quốc tế mà Việt Nam tham gia.

 

Điều 2. - Tiêu chuẩn bảo hộ giải pháp hữu ích:

1. Giải pháp hữu ích được bảo hộ theo Điều lệ này là giải pháp kỹ thuật mới đối với Việt Nam, có khả năng áp dụng vào sản xuất Việt Nam trong điều kiện kinh tế - kỹ thuật hiện tại và mang lại lợi ích kinh tế, xã hội với hiệu quả mới hoặc cao hơn hiệu quả thu được trên cơ sở tình trạng kỹ thuật tại thời điểm nộp đơn.

2. Một giải pháp được công nhận là mới nếu trước ngày ưu tiên của đơn xin bảo hộ giải pháp hữu ích (theo quy định ở điều 6) giải pháp đó chưa được sử dụng công khai hoặc công bố công khai ở Việt Nam dưới bất kỳ hình thức nào (các loại ấn phẩm, băng ghi âm, ghi hình, trưng bầy triển lãm...) đến mức căn cứ vào đó có thể thực hiện được và không trùng với một trong các giải pháp của đơn xin bảo hộ giải pháp hữu ích hoặc sáng chế có ngày ưu tiên sớm hơn nộp tại Cục Sáng chế - Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước.

Giải pháp không bị coi là mất tính mới nếu đã bị người khác công bố mà không được phép của chủ giải pháp trong vòng 6 tháng trước ngày nộp đơn xin bảo hộ.

3. Đối tượng của giải pháp hữu ích có thể là cơ cấu, chất hoặc phương pháp.

 

Điều 3. - Những giải pháp kỹ thuật không được bảo hộ.

Không công nhận là giải pháp hữu ích các giải pháp kỹ thuật sau đây:

a) Được tạo ra một cách dễ dàng đối với chuyên gia trong lĩnh vực kỹ thuật đó.

b, Trái với pháp luật và đạo đức xã hội chủ nghĩa.

 

Điều 4. - Các đối tượng không được bảo hộ.

Các đối tượng dưới đây không được bảo hộ theo Điều lệ này:

a) Các phương pháp và hệ thống quản lý kinh tế (kế hoạch, tài chính, cung ứng, thống kê...).

b) Các ý đồ nguyên lý và phát minh khoa học, các chương trình máy tính, các mô hình toán học, đồ thị tra cứu và các dạng tương tự.

c) Các hệ thống ngôn ngữ (Hệ thống ngôn ngữ, hệ thống ngữ pháp, các hệ thống ngôn ngữ nhân tạo, mã số, chữ viết, cách phát âm...) hệ thông tin, phân loại hệ thống sắp xếp tư liệu.

d) Các phương pháp và hệ thống giáo dục, đào tạo, nuôi dưỡng.

e) Các phương pháp luyện tập cho vật nuôi.

g) Các đồ án và sơ đồ quy hoạch các công trình xây dựng, các đề án quy hoạch và phân vùng lãnh thổ (khu dân cư, vùng đất canh tác, công viên... ).

h) Các ký hiệu quy ước (các ký hiệu giao thông các tuyến đường...), thời gian biểu (giờ tầu xe, phân phối thời gian lao động...) các quy tắc (quy tắc chơi, luật giao thông...) và các luật lệ.

i) Các giải pháp chỉ đề cập đến hình dạng bên ngoài của sản phẩm mà không mang nội dung kỹ thuật.

k) Các chủng vi sinh, các giống cây trồng và giống vật nuôi.

l) Các chất thu được bằng phương pháp hoá học, các chất thu được bằng phương pháp bắn phá hạt nhân hoặc biến đổi hoá học nhờ phương pháp vi sinh (nhưng các phương pháp sản xuất chất là đối tượng được bảo hộ).

m) Các phương pháp phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh cho người.

 

Điều 5. - Chuyển đổi đơn xin bảo hộ sáng chế thành đơn xin bảo hộ giải pháp hữu ích.

Những đơn xin bảo hộ sáng chế nộp tại Cục Sáng chế - Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước có thể được chuyển đổi thành đơn xin bảo hộ giải pháp hữu ích.

 

Điều 6. - Quyền ưu tiên.

Quyền ưu tiên của đơn xin bảo hộ giải pháp hữu ích (sau đây gọi tắt là quyền ưu tiên) được xác định theo ngày ưu tiên của đơn. Ngày ưu tiên là:

a) Ngày nộp đơn tại Cục Sáng chế - Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước; hoặc

b) Ngày nộp đơn đầu tiên ở bất kỳ một nước thành viên nào của Công ước Pari về bảo hộ quyền sở hữu Công nghiệp, nếu đơn được nộp cho Cục Sáng chế - Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước trong vòng 12 tháng kể từ ngày nộp đơn đầu tiên; hoặc

c) Ngày trưng bày giải pháp tại một cuộc triển lãm Quốc tế chính thức tổ chức trên lãnh thổ của bất kỳ nước thành viên nào của Công ước Pari về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, nếu đơn được nộp tại Cục Sáng chế - Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước trong thời hạn 6 tháng tính từ ngày giải pháp đó được trưng bày tại triển lãm; hoặc

d) Ngày ưu tiên của đơn xin bảo hộ sáng chế, nếu là đơn chuyển đổi từ đơn xin bảo hộ sáng chế trên cơ sở điều 5.

 

Điều 7. - Quyền nộp đơn xin bảo hộ giải pháp hữu ích.

1. Quyền nộp đơn xin bảo hộ giải pháp hữu ích thuộc về cá nhân hay tập thể tạo ra giải pháp hữu ích bằng lao động sáng tạo của mình (dưới đây gọi là tác giả) hoặc người thừa kế hợp pháp của tác giả.

2. Đối với giải pháp hữu ích được tạo ra trong phạm vi trách nhiệm của tác giả khi thực hiện nhiệm vụ của cơ quan đơn vị hoặc chủ yếu nhờ sự giúp đỡ về phương tiện vật chất, nhân lực của cơ quan, đơn vị chủ quản (sau đây gọi là giải pháp hữu ích công vụ), quyền nộp đơn thuộc về cơ quan, đơn vị đó.

Trường hợp tác giả đã thông báo khả năng bảo hộ giải pháp hữu ích cho cơ quan, đơn vị sau thời hạn 2 tháng kể từ ngày thông báo cơ quan, đơn vị không nộp đơn xin bảo hộ thì tác giả có quyền nộp đơn xin bảo hộ giải pháp đó.

3. Đối với giải pháp hữu ích được tạo ra khi thực hiện hợp đồng nghiên cứu triển khai khoa học kỹ thuật thì quyền nộp đơn thuộc bên tạo ra giải pháp hữu ích, nếu không có sự thoả thuận nào khác ghi trong hợp đồng giữa các bên.

4. Đối với giải pháp hữu ích được tạo ra ở các đơn vị kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh thì quyền nộp đơn thuộc về tác giả nếu trong hợp đồng không có sự thoả thuận khác.

Điều 8. - Bảo hộ giải pháp hữu ích ở nước ngoài.

Mọi cá nhân, pháp nhân trước khi xin bảo hộ giải pháp hữu ích ở nước ngoài phải nộp đơn xin bảo hộ ở Việt Nam và được phép của Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước.

 

Điều 9. - Trách nhiệm của cơ quan cấp văn bằng bảo hộ.

1. Cục Sáng chế - Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước là cơ quan chịu trách nhiệm nhận đơn, xét nghiệm cấp văn bằng bảo hộ giải pháp hữu ích và theo dõi việc bỏ hộ trong thời hạn hiệu lực của bằng phù hợp với quy định của Điều lệ này.

2. Xét nghiệm viên, cộng tác viên xét nghiệm giải pháp hữu ích và mọi cá nhân khác trong Cục sáng chế có liên quan đến đơn xin bảo hộ giải pháp hữu ích có trách nhiệm giữ bí mật nội dung giải pháp hữu ích cho đến ngày giải pháp được công bố trong thông báo do Cục Sáng chế - Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước xuất bản. Những nội dung không công bố trong thông báo và trong bản mô tả giải pháp hữu ích phải được giữ bí mật tuyệt đối.

Mọi vi phạm bảo mật đều bị cơ quan quản lý trực tiếp xử lý hành chính. Trường hợp vi phạm nghiêm trọng bị truy tố trước pháp luật.

 

Điều 10. - Công tác quản lý giải pháp hữu ích.

Công tác quản lý giải pháp hữu ích tuân theo những quy định về tổ chức và chỉ đạo hoạt động sáng kiến - sáng chế; chế độ khuyến khích những người hỗ trợ tác giả và những người tổ chức áp dụng lần đầu giải pháp hữu ích áp dụng những quy định tương ứng của Điều lệ về sáng kiến cải tiến kỹ thuật - hợp lý hoá sản xuất và sáng chế.

 

CHƯƠNG II

BẢO HỘ CÁC QUYỀN ĐỐI VỚI GIẢI PHÁP HỮU ÍCH

 

A. CÁC QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ ĐỐI VỚI GIẢI PHÁP HỮU ÍCH

 

Điều 11. - Xác lập quyền:

1. Sự bảo hộ pháp lý giải pháp hữu ích bắt đầu từ khi Nhà nước cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích.

2. Bằng độc quyền giải pháp hữu ích xác lập độc quyền sử dụng giải pháp hữu ích cho người được cấp bằng (sau đây gọi là chủ bằng) và các quyền của tác giả.

3. Bằng độc quyền giải pháp hữu ích có hiệu lực 6 năm kể từ ngày ưu tiên của đơn.

4. Khối lượng bảo hộ giải pháp hữu ích được xác định ở nội dung của yêu cầu bảo hộ.

 

Điều 12. - Độc quyền sử dụng giải pháp hữu ích.

1. Độc quyền sử dụng giải pháp hữu ích là độc quyền tiến hành các hoạt động liên quan đến giải pháp hữu ích nhằm mục đích sản xuất kinh doanh.

2. Chủ bằng có thể chuyển giao sử dụng hoặc quyền sở hữu giải pháp hữu ích cho cá nhân hoặc cơ quan đơn vị khác.

Mọi hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng (hợp đồng lixăng) hoặc quyền sở hữu giải pháp hữu ích đang được bảo hộ phải đăng ký tại Cục Sáng chế - Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước và được công bố trong thông báo do Cục Sáng chế - Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước xuất bản.

 

Điều 13. - Quyền của tác giả:

1. Tên tác giả giải pháp hữu ích được xác nhận ở văn bằng và được ghi ở các tài liệu liên quan đến giải pháp hữu ích đó.

2. Tác giả của giải pháp hữu ích công vụ được chủ bằng trả:

- Một khoản tiền thù lao bằng 8% tiền làm lợi do việc áp dụng giải pháp hữu ích ở chính cơ quan, đơn vị đó mang lại, tính trong vòng 2 năm đầu áp dụng và thời hạn trả tiền thù lao tuân theo quy định của Nhà nước về thời hạn trả thưởng cho tác giả sáng chế.

- Một khoản tiền thù lao bằng 5% số tiền mỗi lần chủ bằng thu được do chuyển giao quyền sử dụng giải pháp hữu ích trong thời gian hiệu lực của bằng.

3. Tác giả của giải pháp hữu ích có ý nghĩa kinh tế - kỹ thuật đặc biệt lớn có thể được Nhà nước trao tặng danh hiệu vinh dự và giải thưởng Quốc gia về khoa học kỹ thuât.

 

Điều 14. - Nghĩa vụ sản xuất.

Chủ bằng và người được chuyển giao quyền sử dụng giải pháp hữu ích có nghĩa vụ áp dụng giải pháp vào sản xuất ở Việt Nam.

 

Điều 15. - Lixăng không tự nguyện:

1. Khi chủ bằng không tự nguyện chuyển giao quyền sử dụng mà không có lý do xác đáng. Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước có quyền cấp giấy phép sử dụng giải pháp hữu ích (lixăng không tự nguyện):

a) Cho cá nhân hoặc cơ quan đơn vị nộp đơn yêu cầu, nếu sau 3 năm kể từ ngày được cấp bằng, giải hợp pháp hữu ích không được áp dụng vào sản xuất trên lãnh thổ Việt Nam hoặc áp dụng nhưng không đáp ứng nhu cầu xã hội.

b) Cho cơ quan, đơn vị theo đề nghị của thủ trưởng cấp Bộ, Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phù hợp với kế hoạch áp dụng kết quả đề tài nghiên cứu của Nhà nước, của Bộ hoặc địa phương đó, đối với các giải pháp hữu ích được tạo ra trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học kỹ thuật do Nhà nước cấp kinh phí.

c) Cho cơ quan, đơn vị theo đề nghị của Bộ trưởng liên quan đối với các giải pháp hữu ích mang lại những lợi ích đặc biệt trong quốc phòng, an ninh quốc gia, y tế và lương thực, thực phẩm.

2. Trong đơn yêu cầu cấp lixăng không được tự nguyện phải chứng minh, được người yêu cầu có đủ khả năng, điều kiện áp dụng giải pháp hữu ích đó và không được chủ bằng tự nguyện chuyển giao quyền sử dụng.

3. Người được cấp lixăng không tự nguyện không được phép chuyển giao quyền sử dụng giải pháp hữu ích cho cá nhân hoặc cơ quan, đơn vị khác và phải trả cho chủ bằng một khoản tiền bồi thường trên cơ sở thoả thuận giữa hai bên hoặc theo quyết định của Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước trong trường hợp các bên không đạt được sự thoả thuận.

 

Điều 16. - Hành động không bị coi là xâm phạm độc quyền sử dụng.

Những hành động sau đây không bị coi là xâm phạm độc quyền sử dụng của chủ bằng:

a) Sử dụng hoặc bán sản phẩm liên quan đến giải pháp hữu ích do chủ bằng hoặc người được chuyển giao quyền sử dụng giải pháp hữu ích hoặc người cấp lixăng không tự nguyện sản xuất hoặc bán.

b) Tiếp tục sử dụng, với quy mô không lớn hơn, giải pháp đồng nhất với giải pháp hữu ích do cá nhân hoặc cơ quan, đơn vị khác nộp đơn, nếu trước ngày ưu tiên của đơn giải pháp đó đã được áp dụng hoặc chuẩn bị những điều kiện cần thiết để áp dụng.

c) Sử dụng giải pháp hữu ích chỉ nhằm mục đích nghiên cứu khoa học.

d) Sử dụng giải pháp hữu ích trên phương tiện vận tải của người nước ngoài đang quá cảnh hoặc tạm thời nằm trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ nhằm duy trì hoạt động của phương tiện đó.

e) Sử dụng giải pháp hữu ích trong khuôn khỏ cá nhân không nhằm mục đích kinh doanh.

g. Nhập khẩu hàng hoá hoặc kỹ thuật chứa đựng các đối tượng đang được bảo hộ nhưng đã bộc lộ công khai ngoài lãnh thổ Việt Nam trước ngày ưu tiên của đối tượng đang bảo hộ.

 

Điều 17. - Duy trì hiệu lực, mất hiệu lực bằng độc quyền giải pháp hữu ích.

1. Để duy trì hiệu lực của bằng độc quyền giải pháp hữu ích, chủ bằng phải nộp lệ phí hàng năm theo quy định.

2. Bằng độc quyền giải pháp hữu ích bị mất hiệu lực trước thời hạn nếu:

- Chủ bằng không nộp lệ phí duy trì hiệu lực hàng năm trong thời hạn cho phép theo văn bản quy định về lệ phí.

- Chủ bằng nộp đơn xin từ bỏ sự bảo hộ pháp lý.

B. BẢO VỆ CÁC QUYỀN ĐỐI VỚI GIẢI PHÁP HỮU ÍCH

 

Điều 18. - Xử lý hành động xâm phạm độc quyền sử dụng:

1. Bất kỳ ai có những hành động sau đây mà không được chủ bằng cho phép, trừ những hành động nêu ở Điều 16, đều bị coi là xâm phạm độc quyền sử dụng của chủ bằng:

a) Sản xuất, chào hàng, bán, sử dụng, nhập khẩu sản phẩm là đối tượng đang được bảo hộ hoặc tàng trữ các sản phẩm đó để bán hoặc sử dụng.

b) Áp dụng phương pháp đang được bảo hộ để chế tạo, sản xuất sản phẩm hoặc chào hàng về việc sử dụng phương pháp đó trên lãnh thổ Việt Nam.

c) Chào hàng, bán, sử dụng, nhập khẩu sản phẩm thu được trực tiếp từ phương pháp đang được bảo hộ hoặc tàng trữ các sản phẩm đó để bán hoặc sử dụng.

2. Mọi hành động xâm phạm độc quyền của chủ bằng đều bị xử lý. Người xâm phạm phải chấm dứt mọi hành động xâm phạm và bồi thường thiệt hại cho chủ bằng, chịu sự xử phạt khác theo pháp luật, tuỳ theo mức độ xâm phạm.

3. Chủ bằng có quyền đề nghị thủ trưởng các Bộ, cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng hoặc Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nơi cơ quan quản lý người xâm phạm (sau đây gọi là cơ quan quản lý xâm phạm) yêu cầu người xâm phạm phải chấm dứt hành động xâm phạm.

Trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị nêu trên, cơ quan quản lý người xâm phạm có trách nhiệm yêu cầu người xâm phạm chấm dứt hành động xâm phạm và đưa ra những biện pháp có hiệu lực để ngừa chặn hành động xâm phạm đó.

4. Trường hợp tự xét thấy mức độ xâm phạm gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đề nghị của mình nêu ở điểm 3 không được giải quyết thoả đáng chủ bằng có quyền khiếu nại lên Toà án nhân dân có thẩm quyền.

5. Những người được chuyển giao quyền sử dụng hoặc người được cấp lixăng không tự nguyện bị thiệt hại do các hành động xâm phạm nêu ở điểm 1 có quyền yêu cầu chủ bằng thực hiện các biện pháp nêu ở điểm 3 và 4.

Trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày nhận được yêu cầu nêu trên, nếu chủ bằng không thực hiện các biện pháp yêu cầu có quyền tự mình thực hiện những biện pháp đó.

 

Điều 19. - Giải quyết khiếu nại về tiền thù lao:

1. Tác giả giải pháp hữu ích công vụ có quyền khiếu nại về mức thù lao hoặc thời hạn trả tiền thù lao với thủ trưởng cơ quan, đơn vị chủ bằng.

Trong thời hạn 2 tháng kể từ ngày nhận được khiếu nại, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có trách nhiệm giải quyết và thông báo kết quả giải quyết cho tác giả.

2. Nếu người khiếu nại không đồng ý với kết quả giải quyết của thủ trưởng cơ quan, đơn vị chủ bằng có quyền khiếu nại với Toà án nhân dân có thẩm quyền.

 

CHƯƠNG III

CÁC THỦ TỤC NỘP ĐƠN, XÉT NGHIỆM, CẤP BẰNG CÔNG BỐ

GIẢI PHÁP HỮU ÍCH VÀ KHIẾU NẠI PHẢN ĐỐI LIÊN QUAN

 

Điều 20. - Nộp đơn xin bảo hộ giải pháp hữu ích.

1. Đơn xin cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích: nộp tại Cục Sáng chế - Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước.

2. Các yêu cầu về hình thức và nội dung đơn xin cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích được quy định trong văn bản hướng dẫn thi hành Điều lệ này.

3. Nếu đơn xin cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích là đơn chuyển đổi từ đơn xin cấp bằng sáng chế trên cơ sở điều 5 thì đơn phải được nộp:

a) Đồng thời với đơn xin bảo hộ sáng chế để yêu cầu chuyển đổi sau khi giải pháp xin cấp bằng sáng chế đã được xét nghiệm khoa học kỹ thuật và kết luận là không đạt các tiêu chuẩn của sáng chế.

b) Trong thời hạn 2 tháng kể từ ngày người nộp đơn bảo hộ sáng chế nhận được thông báo từ chối cấp bằng.

4. Người nộp đơn xin cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích phải nộp lệ phí nộp đơn theo đúng quy định.

 

Điều 21. - Xét nghiệm sơ bộ:

1. Trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày nhận được đơn xin cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Cục Sáng chế - Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước phải hoàn thành việc xét nghiệm sơ bộ đơn.

Việc chấp nhận đơn hợp lệ được ghi vào sổ đăng ký đơn xin cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích và được thông báo cho người nộp đơn.

Đơn không hợp lệ bị từ chối hoặc yêu cầu sửa đổi bổ sung.

2. Sau thời hạn 1 tháng, kể từ ngày nhận được thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung tài liệu đơn, nếu người nộp đơn không gửi tài liệu sửa đổi, bổ sung theo đơn yêu cầu thì đơn coi như không nộp.

Điều 22. - Xét nghiệm khoa học kỹ thuật và cấp bằng:

1. Trong thời hạn 9 tháng, kể từ ngày nộp đơn xin cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Cục Sáng chế - Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước phải hoàn thành việc xét nghiệm khoa học kỹ thuật nội dung của giải pháp nêu trong đơn và căn cứ vào kết quả xét nghiệm. Cục trưởng Cục Sáng chế quyết định việc cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích cho người nộp đơn. Nếu giải pháp không đạt tiêu chuẩn cấp bằng, Cục Sáng chế phải thông báo cho người nộp đơn biết rõ lý do từ chối cấp bằng.

2. Đối với đơn xin chuyển đổi nộp theo điểm 3a, Điều 20 thời hạn xét nghiệm khoa học kỹ thuật là 20 tháng, kể từ ngày nộp đơn xin cấp bằng sáng chế, theo điểm 3b Điều 20 là 2 tháng, kể từ ngày Cục Sáng chế chấp nhận đơn xin chuyển đổi.

3. Trong quá trình xét nghiệm, khoa học kỹ thuật, Cục Sáng chế có quyền yêu cầu các cơ quan đơn vị có chức năng nghiên cứu thiết kế, sản xuất các chuyên gia trong lĩnh vực liên quan tham gia đánh giá giải pháp nêu trong đơn.

4. Giải pháp hữu ích được cấp bằng được ghi vào sổ đăng bạ giải pháp hữu ích quốc gia.

 

Điều 23. - Bổ sung tài liệu trong xét nghiệm khoa học kỹ thuật.

1. Cục Sáng chế có quyền yêu cầu người nộp đơn bổ sung tài liệu làm rõ bản chất của giải pháp nêu trong đơn.

2. Trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày người nộp đơn nhận được thông báo bổ sung tài liệu, người nộp đơn không bổ sung và không có lý do chính đáng về việc bổ sung chậm trễ, đơn coi như không nộp.

Khi chấp nhận lý do bổ sung tài liệu chậm trễ, Cục Sáng chế được phép kéo dài thời hạn xét nghiệm thêm bằng khoảng thời gian chậm trễ.

3. Nếu tài liệu bổ sung làm thay đổi bản chất của giải pháp nêu trong đơn, đơn bị từ chối cấp bằng.

 

Điều 24. - Công bố giải pháp hữu ích.

1. Giải pháp hữu ích được cấp bằng được công bố trong thông báo do Cục Sáng chế - Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước xuất bản.

2. Bản mô tả giải pháp hữu ích được đặt công khai ở thư viện sáng chế Trung ương thuộc Cục Sáng chế.

3. Để bảo vệ lợi ích Quốc gia, trường hợp cần thiết, giải pháp hữu ích có thể được hoãn hoặc không được công bố.

 

Điều 25. - Khiếu nại của người nộp đơn liên quan đến việc cấp văn bằng bảo hộ.

1. Trong thời hạn 2 tháng, kể từ ngày nhận được thông báo của Cục Sáng chế, người nộp đơn có quyền khiếu nại với Cục Sáng chế nếu không đồng ý với lý do từ chối đơn xin cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích, từ chối cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích, thu hẹp khối lượng yêu cầu bảo hộ giải pháp hữu ích.

2. Trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết của Cục Sáng chế đối với khiếu nại về việc từ chối cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích hoặc thu hẹp khối lượng yêu cầu bảo hộ, người nộp đơn có quyền tiếp tục khiếu nại với Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước.

3. Quyết định của Cục trưởng Cục Sáng chế là quyết định cuối cùng đối với khiếu nại về việc từ chối đơn xin cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích và Quyết định của Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước là quyết định cuối cùng đối với khiếu nại theo điểm 2 trên.

4. Thời gian giải quyết khiếu nại ở mỗi cấp là 3 tháng kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại. Kết quả giải quyết được thông báo cho người khiếu nại.

 

Điều 26. - Phản đối việc cấp bằng bảo hộ:

1. Trong thời hạn hiệu lực của bằng độc quyền giải pháp hữu ích, mọi cá nhân, cơ quan, đơn vị đều có quyền nộp đơn cho Cục Sáng chế phản đối việc cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu phát hiện:

a) Tác giả giải pháp hữu ích được xác nhận ở văn bằng không phải là người tạo ra giải pháp hữu ích hoặc người tạo ra giải pháp hữu ích không được xác nhận ở văn bằng.

b) Người được xác nhận là chủ bằng ở văn bằng không phải là người được quyền nộp đơn theo quy định ở Điều 7.

c) Giải pháp hữu ích được cấp bằng không đạt các tiêu chuẩn bảo hộ giải pháp hữu ích.

2. Đơn phản đối phải nêu rõ lý do và người nộp đơn phải nộp lệ phí ghi theo quy định.

3. Cục Sáng chế có trách nhiệm giải quyết những đơn phản đối nêu trên trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày nhận đơn.

4. Nếu không đồng ý với quyết định của Cục Sáng chế, các bên liên quan có thể:

a) Nộp đơn phản đối với Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước nếu lý do. Trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày nhận đơn, Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước có trách nhiệm giải quyết và quyết định của Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước là quyết định cuối cùng về vấn đề này.

b) Nộp đơn phản đối với Toà án Nhân dân có thẩm quyền, nếu lý do phản đối liên quan đến điểm 1a và 1b nêu trên.

5. Các quyết định huỷ bỏ hiệu lực bằng độc quyền giải pháp hữu ích hoặc quyết định xác lập lại quyền tác giả được thông báo cho chủ bằng, tác giả và được công bố trong thông báo do Cục Sáng chế xuất bản.

 

Điều 27. - Người đại diện:

1. Mọi cá nhân, pháp nhân đều có thể thông qua người đại diện hợp pháp được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép hoạt động và được Cục Sáng chế - Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước thừa nhận) để thực hiện thủ tục bảo hộ giải pháp hữu ích ở Việt Nam.

2. Mọi cá nhân, pháp nhân không thường trú hoặc không có cơ sở sản xuất kinh doanh hoặc đại diện ở Việt Nam đều phải thông qua người đại diện hợp pháp để thực hiện thủ tục bảo hộ giải pháp hữu ích ở Việt Nam.

 

Điều 28. - Bảo hộ giải pháp hữu ích mật:

1. Giải pháp hữu ích có liên quan đến quốc phòng và an ninh quốc gia, giải pháp hữu ích cần giữ bí mật vì lợi ích kinh tế quốc gia được coi là giải pháp hữu ích mật.

2. Quy định về bảo hộ giải pháp hữu ích mật tuân theo quy định về bảo hộ sáng chế mật do Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước, Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ ban hành.

CHƯƠNG IV

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

 

Điều 29. - Điều khoản chuyển tiếp:

1. Đối với những đơn xin bảo hộ sáng chế đã bị từ chối cấp bằng trên cơ sở Điều lệ về sáng kiến cải tiến kỹ thuật - hợp lý hoá sản xuất và sáng chế ban hành kèm theo Nghị định số 31-CP ngày 23-1-1981, người nộp đơn xin bảo hộ sáng chế có quyền, trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày ban hành Điều lệ này, nộp đơn xin bảo hộ giải pháp hữu ích cho chính giải pháp đó.

Thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ các giải pháp hữu ích này được tính từ ngày nộp đơn xin bảo hộ giải pháp hữu ích.

2. Trước ngày nộp đơn của giải pháp hữu ích được cấp bằng trên cơ sở điểm 1 nêu trên, cá nhân hoặc pháp nhân nào đã sử dụng hoặc chuẩn bị những điều kiện cần thiết để sử dụng một giải pháp đồng nhất với giải pháp được cấp bằng tiếp tục sử dụng giải pháp đó, nhưng không được mở rộng khối lượng và phạm vi sử dụng, không được chuyển giao quyền sử dụng cho người khác.

 

Điều 30. - Tổ chức thi hành:

1. Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước có trách nhiệm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Điều lệ và quy định về lệ phí liên quan đến việc bảo hộ giải pháp hữu ích.

2. Bộ trưởng các Bộ, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương có trách nhiệm phổ biến và thi hành Điều lệ này.

 

 

Thuộc tính văn bản
Nghị định ban hành Điều lệ về giải pháp hữu ích
Cơ quan ban hành: Hội đồng Bộ trưởng Số công báo: Đang cập nhật
Số hiệu: 200-HĐBT Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Nghị định Người ký: Võ Văn Kiệt
Ngày ban hành: 28/12/1988 Ngày hết hiệu lực: Đã biết
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực:
Tóm tắt văn bản
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE COUNCIL OF MINISTERS
---------
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom – Happiness
--------------
No. 200-HDBT
Hanoi, December 28, 1988

 
ORDINANCE
ON UTILITY SOLUTION
(Promulgated by the Government Decree No. 200-HDBT of December 28, 1988 as amended by Government Decree No. 84-HDBT of March 20, 1990 of the Council of Minister)
Chapter I
GENERAL PROVISIONS
Section 1:
Extent of Application
(1) This Ordinance applies to every persons or legal entity to encourage the making, the quick application on a large scale of utility solution to production so as to contribute to the promotion of the economic, social development.
(2) Foreign persons and legal entities enjoy the rights provided for in this Ordinance on the principle of reciprocity pursuant to the legislation of the Socialist Republic of Vietnam and international treaties to which Vietnam is a party.
Section 2:
Criteria of patent ability of Utility Solution
(1) "Utility solution" means technical solution which is new in comparison with the available technology in Vietnam, and practically applicable under the prevailing economic, technical conditions.
(2) A solution shall be considered new, if prior to the priority date of the application for protection (as provided in Section 6), it has been neither publicly used in Vietnam, nor disclosed to the public in Vietnam in any form (printed matters, audio or video magnetic tapes, exhibition, etc.) in such a manner that the realization thereof could be made nor identical with any of solution described in applications for protection of utility solution or invention, filed with the National Office on Inventions of The State Committee for Science and Technology, having an earlier priority date.
The novelty or a solution shall not be considered destroyed if the solution has been disclosed by other person, without the authorization of the person to whom it belonged, within a period of six months preceding the filing date of the application for protection of utility solution.
(3) The subject matter of a utility solution may be a device,a process or substance.
Section 3:
Exclusion from Protection of Utility Solutions
The following technical solutions shall not be considered as utility solution:
a- a solution which may be easily made by a person skilled in the art which it pertains;
b- solutions which are unlawful or contrary to the socialist morality.
Section 4:
Exclusion of Subject Matters from Protection
The following subject matters be excluded from the protection provided for in this Ordinance:
a- methods and systems for economic management, administration (e.g. planning, financing, supplying, statistics, etc.);
b- ideas, scientific principles and discoveries computer programs, mathematical models, graphics and the like;
c- linguistic systems (e.g. grammatical systems, artificial languages, cipher, writing, pronunciation, etc.), information systems, classification systems, documentation compiling systems;
d- methods and systems for education, training, nutrition;
e- training methods for domestic animals;
f- designs and schemes for planning of constructions, projects for regional planning (population area, cultivating lands, parks, etc.)
g- symbols (traffic signs, itineraries, etc.), rules (rules for playing games, traffic rules, etc.) and regulations;
h- solutions concerning only the shape of articles, bearing no technical character;
i- microorganisms, plant varieties, animal breads;
j- methods for the prevention, diagnosis, treatment of diseases in human beings.
Section 5:
Conversion of Patent Application into Application for Protection of Utility Solution
Any patent application filed with the National Office on Inventions of the State Committee for Science and Technology may be converted into an application for protection of utility solution.
Section 6:
Right of Priority
The right of priority of an application for protection of utility solution (hereafter referred to as priority right) shall be determined by the priority date of the application.
The priority date may be:
a- the date of the filing of the application with the National Office on Inventions; or
b- the filing date of the earliest application filed in any country-party to the Paris Convention for the Protection in Industrial Property if the application is filed with the National Office on Inventions of the State Committee for Science and Technology within Article 1 period of twelve months counted from that date; or
c- the date of the display of the solution on an official international exhibition held on the territory of any country-party to the Paris Convention for the Protection in Industrial Property if the application if filed with the National Office on Inventions of the State Committee for Science and Technology within a period of six months counted from that date; or
d- the priority date of the patent application if application converted therefore as provided in Section 5.
Section 7:
Right to File Application for Protection of Utility Solution
(1) The right to file application for protection of the utility solution shall belong to the person(s) who has made the utility solution by his creative work (hereinafter referred to as author) or to his successor in title.
(2) Where a person has made, in execution of a commission within the filed of activity, or with the material, manpower assistance of the employing organization, unit.
The right to file the application, however, shall belong to the author if, within a period of two months following the author's report on the fact that the solution could be protectable as a utility solution, the organization, unit has not filed the application.
(3) When a utility solution has been made in execution of a scientific, technical-research development contract, the right to file the application shall belong to the party which has commissioned the work, if the contract has not provided otherwise.
(4) When a utility solution has been made in an organization, unit applying employment contract, the right to file the application shall belong, to the employing organization, unit, if the contract has not provided otherwise.
Section 8:
Protection of Utility Solution Abroad
In case a utility solution has been made in Vietnam except the case referred to in Section 28 of this Ordinance, the filing of the application for protection abroad may only be authorized after the application for protection of that solution has been filed in Vietnam and the applicant has received the notification of acceptance of the application issued by the National Office on Inventions.
Section 9:
Responsibility of Authority Granting Title of Protection
(1) The National Office on Inventions of the State Committee for Science and Technology is the authority responsible for the receipt and examination of applications, for the grant of titles of protection of utility solution and for the supervision on the protection within the term of validity of titles or protection according to the provision of this Ordinance.
(2) Examiners, co-examiners and other persons, among the staff of the National Office on Inventions, who deal with the applications for protection of utility solutions shall the obligation to keep the content of the applications secret until the publication of the utility solutions in the Gazette issued by the National Office on Inventions of the State Committee for Science and Technology. Matters which are published neither in the Gazette nor in descriptions of utility solutions shall be kept in top secret.
Any infringement of regulations for keeping secret shall be proceeded against by the employing organization, unit pursuant to administrative regulations. Grave infringements will be sued by law.
Section 10:
Organization, Management, Development of Activities Relating to Utility Solutions
(1) The general provisions laid down by the State in respect of the organization, management and development of industrial property activities shall apply to activities relating to utility solutions.
(2) The provisions in force for encouragement of innovators, investors shall apply by analogy to authors of utility solutions, their assistants and persons engaged in the first application of utility solutions.
Chapter II
PROTECTION OF RIGHTS TO UTILITY SOLUTION
Part A. RIGHTS AND OBLIGATIONS RELATING TO UTILITY SOLUTIONS
Section 11:
Establishment of Right
(1) The legal protection of the utility solution shall take effect from the date of the grant of the patent for utility solution by the State.
(2) The patent for utility solution shall establish the exclusive right to work utility solution to the patentee (hereinafter referred to as owner title) and the right of the author.
(3) The term of validity of a patent for utility solution shall be six years counted from the priority date of the application.
(4) The scope of the protection of utility solution shall be determined by claims.
Section 12:
Exclusive Right to Work Utility Solution
(1) Exclusive right to work utility solution means the right to perform exclusively acts relating to the utility solution for productive, commercial purposes.
(2) The owner of title may assign the right to work utility solution, the ownership right of the utility solution to other person or organization, unit.
The assignment of the right to work utility solution (license contract) or the ownership right of the utility solution in respect of the protected utility solution shall be registered with the National
Office on Inventions under the State Committee for Science and Technology and shall be published in the Gazette issued by the National Office on Inventions under the State Committee for Science and Technology.
Section 13:
Rights of Author
(1) The author of the utility solution shall be named as such in the patent for utility solution and in other documents relating to that utility solution.
(2) Within term of validity of the patent for utility solution, the author shall have the right to a payment of royalty due by the owner of title, which shall not be less than eight percent of the profit derived the working of the utility solution. In case of the assignment of the right to work utility solution, the amount obtained by the sale of the license deducted by relating expenses shall be considered as profit.
The amount of royalty due to the author shall be paid within two months following the end of application year or the date of receiving the payment due to the sale of the license.
(3) In case of a utility solution of great economic, technical value, the author may be awarded the honor title and National Scientific - Technical Prize by the State.
Section 14:
Obligation for Application to Production
The owner of title and the assignee of the right to work utility solution shall have the obligation to apply the utility solution to production in Vietnam.
Section 15:
Non-Voluntary License
In case the owner of title refuses, without justified grounds, the assignment of the right to work utility solution, the Chairman of the State Committee for Science and Technology may grant the authorization to work utility solution (non-voluntary license):
(a) to the person who, or organization, unit which made such request if, within a period of three years following the grant of the patent for utility solution, the utility solution has not been applied to production on the territory of Vietnam or has been applied insufficiently for the social needs.
(b) to the organization, unit proposed by the head of ministerial rank organizations, people's committees of provinces or cities subordinated to the Central Government in accordance with the government sectoral and Provincial plans for the application of results of research projects in case the utility solution has been made in execution of scientific, technical research projects financed by the State.
(c) to the organization, unit proposed by the Minister concerned in case the utility solution has a special use for national defense, security or public health or foodstuff services.
(2) The request for the grant of the non-voluntary license must contain the proof of the fact that the requesting party has capability conditions to apply the utility solution and that the owner of title
has refused to assign the right to work utility solution.
(3) The beneficiary of the non-voluntary license shall not be authorized to assign the right to work utility solution to other person or organization, unit and shall have the obligation to pay the owner of title a reasonable amount on the basis of agreement with the later. In case no agreement could be reached, the parties concerned may apply to the court for the settlement of the matter.
Section 16:
Acts Deemed Not To Be Infringements of Exclusive Right to Work Utility Solution
The following acts shall not be deemed to be infringements of the exclusive right to work utility solution of the owner of title:
(a) using or selling a product relating to the utility solution where the product has been put on the market by the owner of title or the assignee of the right to work utility solution or the beneficiary of
the non-voluntary license;
(b) continuing to use, without enlarging the extent of application, Article 1 solution identical with the utility solution claimed in the application filed by other person or organization, unit if, prior to the priority date of the application, that solution has been worked or the serious preparation for working it has been made;
(c) using the utility solution merely for the purpose of scientific research;
(d) using the utility solution on foreign transportation means which, in transit or temporarily, are on the territory of the Socialist Republic of Vietnam provided that the utility solution is used only for maintaining the operation of the said means;
(e) using the utility solution for personal needs, not for commercial purposes.
Section 17:
Maintenance of Validity, lapse of Patent for Utility Solution
(1) For the purpose of maintaining the validity of the patent for utility solution, the owner of title shall have the obligation to pay the prescribed annual fee.
(2) A patent for utility solution shall lapse before the expiration of the term of validity:
- the owner of title does not pay the annual maintenance fee within the allowed period as prescribed in regulations for paying fees;
- the owner of tile submits the declaration for the surrender of the legal protection.
Part B. PROTECTION OF RIGHTS RELATING TO UTILITY SOLUTIONS
Section 18:
Proceeding for Infringement Relating to Exclusive Right to Work Utility Solution
(1) Any of the following acts except the cases referred to in Section 16 if performed, without the authorization of the owner of title, shall be deemed to be the infringement of the exclusive right to work utility solution of the owner of title;
(a) producing, offering for sale, selling, using, importing a product as subject matter of the protected utility solution or warehousing the said product for sale or use;
(b) using a protected process for manufacturing, producing product or offering for use of said process on the territory of Vietnam;
(c) offering for sale, selling, using, importing products obtained directly by the protected process or warehousing the said products for sale or use.
(2) Any infringement of the right to work utility solution of the owner of title shall be proceeded against. The infringing person shall have the obligation to discontinue the infringing acts and to indemnify the owner of title for damages, to bear other penalty provided by law according to the extent of infringements.
Section 19:
Settlement of Appeal Against Payment of Royalty
In case the owner of the patent for utility solution does not the royalty due to the author as provided in Section 13 of this Ordinance, the author or his successor in title shall have the right to appeal to the court of competent jurisdiction.
Chapter III
PROCEDURES OF FILING APPLICATIONS, EXAMINATION, GRANT, PUBLICATION OF UTILITY SOLUTIONS AND RELATED APPEALS, OPPOSITIONS
Section 20:
Filing Applications for Protection of Utility Solution
(1) The application for a patent for utility solution shall be fined with the National Office on Inventions of the State Committee for Science and Technology.
(2) The formal and substantive requirements of the applications for patent for utility solution shall be laid down by the implementation regulations to this Ordinance.
(3) In respect of the conversion of a patent application into an application for patent for utility solution according to Section 5, the application shall be filed;
(a) together with the patent application for requesting the conversion due after the latter's substantive examination if the requirements for granting the patent are found not to be fulfilled;
(b) within a period of two months from the date at which the applicant has received the notification of the refusal of the grant of patent.
(4) The applicant of patent for utility solution shall pay the prescribed application fee.
Section 21:
Formal Examination
(1) Within a period of three months following the receipt of the application for patent for utility solution, the National Office on Inventions of the State Committee for Science and Technology shall accomplish the formal examination of the application. The acceptance of the acceptable application shall be recorded in the Registry of Applications for Patent for Utility Solution and shall be notified to the applicant. The unacceptable application shall be rejected or subjected to amendment, completion.
(2) The application shall be deemed not having been filed if, within a period of one month from the receipt of the notification requesting its amendment, complement the applicant has not sent the amendment, complement as requested.
Section 22:
Substantive Examination, Grant of Patent for Utility Solution
(1) Within a period of nine months from the receipt of the application for patent for utility solution, the National Office on Inventions shall accomplish the substantive examination of the solution claimed in the application and, on the basis of the examination report, the Director of the National Office on Inventions shall make the decision on the grant of the patent for utility solution to the applicant. If the National Office on Inventions the requirements for the grant of the patent for utility solution are not fulfilled shall have the obligation to notify the applicant of the reasons of refusal to grant the patent for utility solution.
(2) Time limit for effecting the substantive examination shall be respectively twenty months from the filing date of the patent application resulted therefrom and is filed in accordance with Paragraph 20 (3) (a), two months from the date of the acceptance of the application if the conversion has requested in accordance with Paragraph 20 (3) (b).
(3) During the substantive examination, the National Office on Inventions shall have the right to request organizations, units in charge of research, designing, production and experts in the fields concerned to participate in the evaluation of solutions described in applications.
(4) The patented utility solution shall be recorded in the National Register of Patent for Utility Solution.
Section 23:
Complement of Documents During Substantive Examination
(1) The National Office on Inventions shall have the right to request the applicant to furnish the complementary documents for clarifying the essence of the solution claimed in the application.
(2) The application shall be deemed not having been filed if, within a period of one month from the receipt of the notification requesting the complement of documents, the applicant has not completed the file or has not justified the reasons for the delay in completing the file. When accepting the reasons for delaying the complement of file, the National Office on Inventions may prolong the time limit for substantive examination for the time delayed.
(3) Where the complementary documents change the essence of the solution claimed in the application, the application for utility solution shall be refused to be patented.
Section 24:
Publication of Utility Solutions
(1) The patented utility solution shall be published in the Gazette issued by the National Office on Inventions.
(2) The description of the patented utility solution shall be laid open in the Central Library of Inventions subordinated to the National Office on Inventions.
(3) For the purpose of the protection of national interest, in case of necessity the utility solution may be deferred or renounced to be published.
Section 25:
Appeal by Applicant Relating to Grant of Patent for Utility Solution
(1) The applicant when disagreeing with the reasons for rejecting the application for patent for utility solution or restricting the scope of protection claimed in the restricting the scope of protection claimed in the application shall have the right, within two months from the receipt of the notification thereof, to appeal to the National Office on Inventions against such decision.
(2) The applicant when disagreeing with the decision made by the National Office on Inventions relating to the settlement of his appeal against the refusal of the grant patent or the restriction of the scope of protection shall have the right to appeal to the State Committee for Science and Technology.
(3) The decision of the Director of the National Office on Inventions in respect of an appeal against the reject of an application, the decision of the Chairman of the State Committee for Science and Technology in respect of an appeal referred to in Subsection (2) above shall be final.
(4) Time limit for the settlement of an appeal at each level shall be three months from the receipt thereof. The applicant shall be notified of the decision made on the matter.
Section 26:
Opposition Relating to the grant of Patent for Utility Solution
(1) Within the term of validity of the patent for utility solution, any person or organization, unit may be file with the National Office on Inventions the request opposing the grant of patent for utility solution when revealed that:
(a) the person who is named in the patent for utility solution as author is not the person who has made the utility solution or the latter is not named as author in the patent for utility solution;
(b) the person who is named in the patent for utility solution as the owner of title had no right to file the application as provided in Section 7;
(c) the utility solution for which the patent for utility solution has been granted has not complied with the requirements for the protection of utility solution.
(2) The request for opposition shall clarify the grounds upon which the opposition bases and the person who files it shall pay the prescribed fee.
(3) The National Office on Inventions shall have the obligation to settle the opposition within a period of three months from the receipt of the request.
(4) In case of disagreement with the settlement made by the National Office on Inventions, the parties concerned may:
(a) file the request for opposition with the State Committee for Science and Technology if the reason for opposition relates to Subsection (1) (c) above. Within a period of three months from the receipt of the request for opposition, the State Committee for Science and Technology shall have the obligation to settle it, the decision of the Chairman of the State Committee for Science and Technology shall be final in this respect;
(b) file the request for opposition with the people's court of competent jurisdiction if the reason for opposition relates to Subsections (1)(a), (1)(b) above.
(5) The decision relating to the invalidation of the patent for utility solution and the re-establishment of the right of the author shall be notified to the owner of title and the author and shall be published in the Gazette issued by the National Office on Inventions.
Section 27:
Agent
(1) Any person or legal entity may effect the procedure of the protection of utility solution in Vietnam through a lawful agent (authorized by the competent authorities for functioning and approved by the National Office on Inventions of the State Committee for Science and Technology).
(2) Any person who, or legal entity which, has neither domicile nor productive, commercial establishment nor agency in Vietnam shall effect the procedure of the protection of utility solution in Vietnam through an agent.
Section 28:
Protection of Secret Utility Solution
(1) Utility solution relating to national defense, security and utility solution being found to be kept in secret for protecting national economic interests shall be considered secret utility solutions.
(2) The regulations laid down jointly by the State Committee for Science and Technology, the Ministry of Defense, the Ministry of Interior in respect of the protection of secret inventions shall apply to the protection of secret utility solutions.
Chapter IV
IMPLEMENTATION PROVISIONS
Section 29:
Transitional
(1) In respect of a patent application where the sought patent has been refused to be granted pursuant to the provisions of Ordinance on Innovations to Effect Technical Improvement and Rationalization in Production and on Inventions promulgated by Government Decree No 31-CP of January 1, 1981, the applicant shall have the right to file, within a period of twelve months from the date of the promulgation of this Ordinance, the application for the protection of the solution as an utility solution.
(2) Any person or legal entity shall have the right to continue to work, without enlarging the extent and volume of application or assigning the right to work, a solution identical with the solution in respect of which the patent for utility solution has been granted according to Subsection (1) above if, prior to the filing date of the application for the protection of the utility solution, that person or legal entity has worked the solution or made serious preparation for working it.
Section 30:
Organization of Implementation
(1) The State Committee for Science and Technology shall be entrusted with the promulgation of the implementation instructions for the application of this Ordinance and the regulation for paying fees relating to the protection of utility solutions.
(2) Ministers, Chairmen of State Committee, head of organization subordinated to the Council of Ministers, Chairmen of People's Committees of provinces, cities special regions subordinated to the Central Government shall be in charge of the dissemination and application of this Ordinance.
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!