Thông tư 05/1999/TT-TCHQ của Tổng cục Hải quan về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 16/CP ngày 20/03/1996 và Nghị định 54/1998/NĐ-CP ngày 21/07/1998 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về Hải quan

thuộc tính Thông tư 05/1999/TT-TCHQ

Thông tư 05/1999/TT-TCHQ của Tổng cục Hải quan về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 16/CP ngày 20/03/1996 và Nghị định 54/1998/NĐ-CP ngày 21/07/1998 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về Hải quan
Cơ quan ban hành: Tổng cục Hải quan
Số công báo:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Số công báo. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Số hiệu:05/1999/TT-TCHQ
Ngày đăng công báo:Đang cập nhật
Loại văn bản:Thông tư
Người ký:Phan Văn Dĩnh
Ngày ban hành:26/07/1999
Ngày hết hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Ngày hết hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Áp dụng:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản để xem Ngày áp dụng. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Tình trạng hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Lĩnh vực: Hải quan, Vi phạm hành chính

TÓM TẮT VĂN BẢN

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

tải Thông tư 05/1999/TT-TCHQ

LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam.
Tình trạng hiệu lực: Đã biết

THÔNG TƯ

CỦA TỔNG CỤC HẢI QUAN SỐ 05/1999/TT-TCHQ
NGÀY 26 THÁNG 7 NĂM 1999 HƯỚNG DẪN THI HÀNH
NGHỊ ĐỊNH SỐ 16/CP NGÀY 20/3/1996 VÀ NGHỊ ĐỊNH 54/1998/NĐ-CP NGÀY 21/7/1998 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HẢI QUAN

 

Căn cứ khoản 2 Điều 35 Nghị định 16/CP ngày 20 tháng 3 năm 1996 và Điều 7 Nghị định 54/1998/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 1998 của Chính phủ quy định việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về hải quan, Tổng cục Hải quan hướng dẫn thực hiện như sau:

 

I- NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

1- Khi áp dụng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về hải quan, phải căn cứ vào Nghị định 16/CP ngày 20/3/1996 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về hải quan (những Điều còn hiệu lực thi hành) và Nghị định 54/1998/NĐ-CP ngày 21/7/1998 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định 16/CP nêu trên (sau đây gọi chung là Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung).

2- Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về hải quan là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm các quy tắc quản lý Nhà nước về hải quan mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính về hải quan.

3- Cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung được hiểu như sau:

a/ Tổ chức gồm: cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội theo quy định của pháp luật Việt Nam.

b/ Cá nhân gồm: người Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch, có đủ năng lực hành vi theo quy định của pháp luật Việt Nam.

c/ Cá nhân, tổ chức Việt Nam và nước ngoài có hành vi vi phạm các quy tắc quản lý Nhà nước về hải quan, đều phải chịu trách nhiệm hành chính về hải quan theo quy định tại Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung và các Nghị định khác của Chính phủ có quy định thẩm quyền xử phạt của cơ quan Hải quan, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.

4- Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về hải quan bao gồm: người vận chuyển, người gửi hàng, người nhận hàng hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người kinh doanh kho ngoại quan, khi thực hiện hành vi vi phạm hành chính về hải quan; người mua bán, chứa chấp, vận chuyển hàng hoá, vật phẩm có nguồn gốc nhập khẩu trái phép; người mua bán không đúng quy định hàng hoá thuộc đối tượng ưu đãi thuế quan; người có hành vi cản trở, xúc phạm nhân viên Hải quan thi hành công vụ.

 

5- Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần. Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt. Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm. Khi quyết định xử phạt bằng tiền đối với một người trong cùng thời điểm thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì được cộng lại thành mức phạt chung, nhưng phải ghi rõ mức phạt đối với từng hành vi. Nếu một trong các hành vi vi phạm nêu trên không thuộc thẩm quyền xử phạt của cấp mình thì chuyển toàn bộ hồ sơ, tang vật đến cấp có thẩm quyền xử phạt.

6- Đối với các vi phạm phức tạp, khó xác định là vi phạm hành chính hay hình sự thì người có thẩm quyền xử phạt thuộc Cục Hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Cục Hải quan tỉnh) trao đổi với Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và chỉ ra quyết định xử phạt hành chính khi đã có ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân.

7- Hàng hoá, vật phẩm xuất khẩu, nhập khẩu là tang vật vi phạm hành chính thuộc đối tượng chịu thuế thì ngoài việc phạt tiền, cá nhân, tổ chức vi phạm còn buộc phải nộp đủ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, các loại thuế khác và lệ phí hải quan theo quy định của pháp luật.

8- Những hành vi vi phạm hành chính về hải quan quy định tại Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung trùng với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại các Nghị định khác được ban hành sau, có xác định thẩm quyền xử phạt của cơ quan Hải quan, thì xử phạt theo quy định tại văn bản được ban hành sau cùng.

Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới có cùng giá trị pháp lý, quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với vi phạm hành chính về hải quan xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới ban hành, theo nguyên tắc có lợi cho đương sự được quy định tại khoản 1, Điều 5b Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung.

9- Về thẩm quyền xử lý vi phạm:

a/ Đối với những vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều cơ quan thì cơ quan nào phát hiện, lập biên bản đầu tiên, cơ quan đó ra quyết định xử phạt.

b/ Những hành vi gian lận thuế (bao gồm: thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt) chưa tới mức truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Thông tư số 06/TTLN ngày 20 tháng 9 năm 1996 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Toà án nhân dân tối cao - Bộ Nội vụ, do cơ quan khác không có thẩm quyền xử phạt phát hiện được thì chuyển hồ sơ, tang vật để cơ quan Hải quan ra quyết định xử phạt và thu thuế theo quy định của pháp luật.

c/ Đối với những vụ vi phạm pháp luật hải quan đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà không thuộc thẩm quyền của cơ quan Hải quan thì cơ quan Hải quan chuyển giao hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền, đồng thời chuyển vật chứng để cơ quan đó bảo quản theo quy định tại khoản 2, Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự, trừ trường hợp đặc biệt Thủ tướng Chính phủ có chỉ đạo khác.

d/ Đối với vi phạm hành chính mà hồ sơ liên quan đến nhiều đơn vị Hải quan thì đơn vị nào phát hiện, lập biên bản đầu tiên, đơn vị đó ra quyết định xử phạt; những đơn vị liên quan có trách nhiệm chuyển giao đầy đủ tài liệu cần thiết theo yêu cầu của đơn vị có thẩm quyền xử phạt; khi có ý kiến khác nhau trong việc xử phạt thì trong thời hạn quy định phải báo cáo xin ý kiến Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan.

e/ Đối với vi phạm hành chính về hải quan bị bắt giữ trên biển cũng thực hiện theo nguyên tắc này. Trường hợp mức phạt tiền vượt quá thẩm quyền của đơn vị bắt giữ thì chuyển cơ quan Hải quan nơi gần nhất để xử phạt.

Trường hợp vụ án do Cục Điều tra chống buôn lậu hoặc cơ quan Điều tra ở Trung ương khởi tố hình sự, liên quan đến phạm vi hoạt động của nhiều Cục Hải quan, khi có quyết định đình chỉ điều tra để xử phạt hành chính thì chuyển Cục Hải quan nơi xảy ra vụ án để xử phạt. Trường hợp vụ án xảy ra tại nơi không thuộc địa bàn hoạt động của Hải quan thì chuyển Cục Hải quan gần nơi đã xảy ra vụ án hoặc Cục Hải quan có trụ sở cùng trên địa bàn đặt trụ sở của cơ quan Điều tra, Cục Điều tra chống buôn lậu để xử phạt.

10- Khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính về hải quan tại khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất thì tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm mà áp dụng mức phạt tương ứng với các hành vi vi phạm được quy định trong Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung và các Nghị định khác có quy định hành vi vi phạm và thẩm quyền xử phạt của cơ quan Hải quan.

11- Những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính về hải quan: hàng hóa, vật phẩm, phương tiện vận tải đưa vào Việt Nam do bị hoả hoạn, thiên tai, địch họa, sự kiện bất ngờ, tình thế cấp thiết, có khai báo với cơ quan Hải quan, cơ quan có thẩm quyền khác hoặc chính quyền địa phương theo đúng quy định của pháp luật.

Trường hợp không khai báo sẽ bị xử phạt theo quy định tại điểm a khoản 2, Điều 6 Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung.

12- Trong Thông tư này, những cụm từ sau đây được hiểu như sau:

a/ "Hàng hoá, vật phẩm": là hàng hoá, hành lý, bưu phẩm, bưu kiện, ngoại hối, tiền Việt Nam và những vật phẩm khác.

b/ "Mã hàng": là mã số thuế theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

c/ "Hàng hoá khuyến khích xuất khẩu, nhập khẩu": là hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu không quản lý bằng hạn ngạch, giấy phép, kế hoạch định hướng.

d/ "Mức trung bình của khung phạt tiền": là mức trung bình cộng của mức phạt tiền cao nhất và mức phạt tiền thấp nhất của khung phạt đối với một hành vi vi phạm hành chính.

e/ "Không đúng với khai báo hải quan": là sự khác nhau giữa hàng hoá, vật phẩm khai báo hải quan với hàng hoá, vật phẩm thực xuất khẩu, thực nhập khẩu.

g/ "Tái phạm": là trường hợp đã bị xử phạt nhưng chưa hết thời hiệu được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại thực hiện tiếp vi phạm hành chính trong cùng lĩnh vực đó.

h/ "Vi phạm nhiều lần": là trường hợp thực hiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực mà trước đó đã vi phạm nhưng chưa bị xử phạt.

i/ "Đưa hàng hoá trái phép vào Việt Nam": là hành vi đưa hàng hoá vào Việt Nam trái với các quy định của luật pháp Việt Nam.

13- Khi tiếp nhận bộ hồ sơ hải quan để làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá vật phẩm, cán bộ tiếp nhận hồ sơ phải kiểm tra, nếu hồ sơ chưa đầy đủ theo quy định thì phải hướng dẫn người khai khai bổ sung và nộp, xuất trình các chứng từ còn thiếu; khi bổ sung đủ hồ sơ theo đúng quy định về thời hạn làm thủ tục hải quan thì hải quan tiếp nhận đăng ký và không lập biên bản vi phạm.

II-ÁP DỤNG CÁC HÌNH THỨC XỬ PHẠT VÀ MỨC XỬ PHẠT

 

1- Hình thức xử phạt: cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính về hải quan phải chịu một trong các hình thức phạt chính là: cảnh cáo hoặc phạt tiền.

a/ Cảnh cáo: áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ, được quy định tại khoản 1 thuộc các Điều 6, 8, 9a, 9b, 11 và Điều 10 Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung.

b/ Ngoài hình thức phạt chính, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm của cá nhân, tổ chức, có thể còn bị áp dụng các hình thức phạt bổ sung sau:

- Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm;

- Tước quyền sử dụng giấy phép.

Các hình thức phạt bổ sung trên không được áp dụng độc lập mà phải áp dụng kèm theo hình thức phạt chính.

2- Cá nhân, tổ chức bị áp dụng hình thức phạt chính, phạt bổ sung nêu trên còn có thể buộc phải thực hiện các biện pháp hành chính khác quy định tại Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung như:

- Buộc tái xuất hàng hoá, vật phẩm;

- Đình chỉ làm thủ tục hải quan;

- Buộc tiêu huỷ hàng hoá, vật phẩm;

Biện pháp hành chính khác được áp dụng kèm theo hình thức phạt chính, không áp dụng độc lập.

3- Chỉ áp dụng hình thức phạt bổ sung "tước quyền sử dụng giấy phép" đối với giấy phép trực tiếp liên quan đến hàng hoá, vật phẩm, phương tiện vận tải là tang vật vi phạm.

Các cấp Hải quan có thẩm quyền xử phạt chỉ được tước quyền sử dụng giấy phép đối với giấy phép do cơ quan Hải quan cấp. Trường hợp các giấy phép do cơ quan khác cấp, cơ quan Hải quan thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền cấp phép, đề nghị tước quyền sử dụng giấy phép; sau khi thực hiện đề nghị của Hải quan, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép thông báo kết quả cho cơ quan Hải quan.

Khi phát hiện giấy phép giả mạo, giấy phép cấp không đúng thẩm quyền hoặc có nội dung trái pháp luật, phải lập biên bản thu giữ, sau đó thông báo bằng văn bản cho cơ quan Nhà nước, tổ chức liên quan biết.

4- Khi xem xét xử lý những trường hợp nhầm lẫn trong quá trình gửi hàng hoá, vật phẩm xuất khẩu, nhập khẩu quy định tại khoản 3, Điều 1 Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung phải căn cứ vào Điều 17 Pháp lệnh Hải quan và Điều 7 Nghị định 16/1999/NĐ-CP ngày 27/3/1999 để xác định thời điểm "Hải quan kiểm tra hàng hoá". Thời điểm "trước khi Hải quan kiểm tra hàng hoá" quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung được hiểu là thời gian trước khi người làm thủ tục hải quan hoặc đại diện hợp pháp của họ xuất trình và mở container hoặc kiện hàng tại địa điểm kiểm tra để Hải quan kiểm tra.

Việc thông báo nhầm lẫn phải được người vận tải, người gửi hàng hoặc đại diện hợp pháp của họ thực hiện bằng văn bản, nêu rõ lý do và gửi cho Hải quan trước khi kiểm tra hàng. Trường hợp có đủ căn cứ pháp lý xác định lỗi vi phạm xảy ra do có sự thông đồng giữa bên mua và bán hoặc bên vận tải để buôn lậu, vận chuyển trái phép hoặc trốn thuế thì không chấp nhận việc thông báo nhầm lẫn, mà tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm xử lý theo quy định của pháp luật.

5 - Thời hạn quy định làm thủ tục hải quan nói tại khoản 1 và điểm a, khoản 2 Điều 6 Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung là thời hạn quy định tại Điều 5 Nghị định 16/1999/NĐ-CP ngày 27/3/1999 của Chính phủ quy định về thủ tục hải quan, giám sát hải quan và lệ phí hải quan.

6- Đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung, chỉ xử phạt nếu trong giấy phép, tờ khai hải quan hoặc các giấy tờ khác theo quy định của pháp luật, có quy định thời gian phải tái nhập hoặc tái xuất.

7- Đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3, Điều 7 Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung mà tự ý tiêu thụ hàng hoá, vật phẩm, trong trường hợp số hàng hoá vật phẩm đó là tang vật vi phạm hành chính khác bị áp dụng phạt bổ sung tịch thu sung công quỹ, thì ngoài việc xử phạt theo khoản 3, Điều 7, phải thu hồi lại số tiền tương đương với trị giá của hàng hoá, vật phẩm đó. Trường hợp cần thiết để đảm bảo thực hiện quyết định xử phạt thì thu hồi số tiền bằng số tiền bị xử phạt.

8- Chủ thể vi phạm quy định về trao đổi hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của cư dân biên giới bao gồm: cư dân khu vực biên giới và ngoài khu vực biên giới. Trị giá và mặt hàng cư dân biên giới được phép trao đổi phải theo quy định của pháp luật hiện hành; Nếu Điều ước quốc tế về trao đổi hàng hoá của cư dân biên giới giữa Việt Nam và nước chung biên giới có quy định khác, thì thực hiện theo Điều ước quốc tế.

Các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, vật phẩm dưới hình thức khác tại Cửa khẩu biên giới đường bộ, phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về hải quan và pháp luật liên quan.

Trường hợp cư dân biên giới mang ngoại hối (bao gồm cả tiền Việt Nam, vàng tiêu chuẩn quốc tế) qua biên giới vượt quá tiêu chuẩn mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định, không khai báo hải quan thì xử phạt theo quy định tại Điều 13, 14 Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung được hướng dẫn xử lý tại điểm 19, 20 Phần II Thông tư này.

9- Hành vi xuất khẩu, nhập khẩu quà biếu trái quy định của Nhà nước về xuất khẩu, nhập khẩu quy định tại khoản 2 Điều 9a Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung là hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, vật phẩm thuộc diện quản lý bằng hạn ngạch, giấy phép, kế hoạch định hướng; hàng hoá tạm ngưng xuất khẩu, nhập khẩu; hàng hoá, vật phẩm cấm xuất khẩu, nhập khẩu hoặc xuất khẩu, nhập khẩu có điều kiện khác.

Trường hợp thực tế hàng hoá, vật phẩm (là quà biếu) khi kiểm tra đúng với khai báo hải quan nhưng người nhận từ chối nhận, hoặc trường hợp nhập khẩu quà biếu thuộc danh mục hàng cấm nhập khẩu (trừ ma tuý, tài liệu phản động, vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ, trang thiết bị kỹ thuật quân sự) có khai báo hải quan thì yêu cầu người nhận quà biếu đó thông báo cho người gửi, người vận chuyển đưa vật phẩm, hàng hoá đó ra khỏi lãnh thổ Việt Nam trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 27 Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung; quá thời hạn không đưa ra thì hàng hoá, vật phẩm đó bị sung công quỹ hoặc bị tiêu huỷ.

10- Đối với các trường hợp xuất khẩu, nhập khẩu hành lý không khai báo hoặc khai báo không đúng quy định về khai báo hải quan (quy định trong nội dung tờ khai hải quan) mà không thuộc quy định tại khoản 2 Điều 9b Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung thì xử phạt theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Trường hợp vi phạm các quy định về xuất khẩu, nhập khẩu văn hoá phẩm không mang tính chất quà biếu, hành lý thì xử lý theo quy định tại Điều 12 Nghị định 88/CP ngày 14/12/1995 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá và phòng chống một số tệ nạn xã hội.

Trường hợp xuất khẩu, nhập khẩu hành lý thuộc loại hàng cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu (trừ ma tuý, tài liệu phản động, vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ, trang thiết bị kỹ thuật quân sự) có khai báo hải quan thì không được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu và không xử phạt.

11- Phương tiện vận tải chở hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, chuyển khẩu quy định tại Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung bao gồm phương tiện vận tải trên không, trên biển, trên sông, trên bộ di chuyển trong khu vực kiểm soát hải quan.

a/ Hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 11 Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung bao gồm cả phương tiện vận tải chở hàng hoá xuất khẩu xuất phát từ một cảng của Việt Nam hoặc chở hàng chuyển khẩu, cập cảng không có trong hành trình của tàu, nhưng không khai báo hải quan theo quy định tại Điều 5 Nghị định 16/1999/NĐ-CP ngày 27/3/1999.

b/ Hàng hoá, vật phẩm không khai báo hải quan trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh trong khu vực kiểm soát hải quan, không phải thuộc sở hữu của thuyền viên thì xử lý theo quy định tại khoản 4, Điều 11 Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung. Trường hợp đủ căn cứ pháp lý xác định hàng hoá đó thuộc sở hữu của người điều khiển, người phục vụ hoặc hành khách trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, phục vụ cho chuyến đi của họ hoặc hàng hoá thuộc tiêu chuẩn hành lý thuyền viên thì xử phạt theo quy định tại Điều 9b Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung.

c/ Khi phát hiện được việc mua, bán, chứa chấp, vận chuyển hàng hoá, vật phẩm không đúng theo quy định của pháp luật hoặc có nguồn gốc nhập khẩu trái phép thì tùy tính chất, mức độ hành vi vi phạm mà áp dụng mức phạt được quy định tại điểm b, khoản 3, Điều 17; Điều 21 Nghị định 01/CP ngày 3/1/1996 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại; hoặc khoản 4 Điều 11 và khoản 2 Điều 17 của Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung; nếu có hành vi trốn thuế thì xử lý theo điểm 12.a dưới đây.

12- Đối với các vi phạm quy định tại Điều 12a Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung:

a/ Vi phạm quy định tại điểm a khoản 2; điểm b, c khoản 3 Điều 12a dẫn đến thất thu thuế thì việc xử phạt được thực hiện như sau:

- Cách tính chênh lệch thuế và áp dụng mức phạt:

Lấy số thuế phải nộp của mặt hàng thực nhập khẩu, trừ đi số thuế mà chủ hàng đã khai báo trên tờ khai hải quan sẽ có số thuế gian lận. Số thuế gian lận bao gồm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt. Mức chênh lệch về thuế do đơn vị nghiệp vụ về thuế xác định.

Sau khi tính được số thuế gian lận, phải đối chiếu với Thông tư liên ngành số 06/TTLN ngày 20/9/1996 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Toà án nhân dân tối cao - Bộ Nội vụ hướng dẫn xử lý tội trốn thuế để xem xét số lượng thuế gian lận mà xử phạt theo Luật thuế hay chuyển khởi tố hình sự. Nếu xử lý hành chính thì căn cứ vào Điều 3, khoản 1 Điều 4 Nghị định 22/CP ngày 17/4/1996 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế và điểm 2, Phần II Thông tư số 128/1998/TT-BTC ngày 22/9/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định 22/CP để xử phạt từ 1 đến 5 lần thuế gian lận cho phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm.

- Căn cứ pháp lý để ra quyết định xử phạt phải phù hợp với các quy định sau đây của các Luật thuế:

+ Khoản 3, Điều 20 thuộc khoản 5 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung 1 số Điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;

+ Khoản 3 Điều 19 của Luật thuế giá trị gia tăng;

+ Khoản 3 Điều 17 của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt;

+ Nghị định 22/CP ngày 17/4/1996 của Chính phủ quy định việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế.

Khi không có đủ căn cứ pháp lý xác định được hành vi vi phạm là cố ý gian lận tiền thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) thì tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà xử phạt theo khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 12a Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung.

b/ Trong trường hợp nhập khẩu hàng hoá để góp vốn vào liên doanh đầu tư mà khai báo trị giá hàng hoá cao hơn thực tế, nếu xác định việc giả mạo giấy tờ để tăng góp vốn đầu tư thì ngoài việc phạt về hành vi khai sai trị giá, còn xử phạt về hành vi giả mạo giấy tờ; nếu có dấu hiệu phạm tội thì chuyển cho cơ quan Điều tra.

c/ Trường hợp khai báo tên hàng hoá, vật phẩm bằng tiếng Việt Nam chưa chính xác so với tên hàng hoá bằng tiếng Anh trên chứng từ trong hồ sơ hải quan và tài liệu kỹ thuật liên quan (nếu có), chỉ do lỗi dịch thuật, thì yêu cầu dịch lại chính xác, không xử phạt.

13- Đối với hành vi vi phạm liên quan đến giấy phép và văn bản thay thế giấy phép:

a/ Giấy phép quá hạn:

- Hàng xuất khẩu: Chủ hàng phải xin gia hạn giấy phép mới cho làm thủ tục xuất khẩu, đồng thời xử phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định 01/CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại.

- Hàng nhập khẩu: nếu khi ký hợp đồng, hoặc khi xếp hàng lên phương tiện vận tải hiệu lực giấy phép vẫn còn, nhưng khi hàng về tới cảng giấy phép hoặc hợp đồng hết hạn thì xử phạt về hành vi sử dụng giấy phép quá hạn để nhập khẩu hàng hóa, theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định 01/CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại, không coi đây là trường hợp nhập khẩu trái phép.

b/ Trường hợp hàng hoá nhập khẩu không đúng nội dung giấy phép, nhưng tang vật vi phạm là vật tư máy móc góp vốn liên doanh đầu tư, thuộc công nghệ tiên tiến phù hợp với yêu cầu sử dụng, được xác nhận của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền, có khai báo hải quan thì không xử phạt, nhưng phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

c/ Trường hợp nhập khẩu không đúng với khai báo hải quan mà người nhận hàng từ chối nhận, trả lại người bán với lý do xác đáng, phù hợp với Luật Thương mại và quy định khác của pháp luật Việt Nam, tập quán thương mại quốc tế, không có dấu hiệu hợp pháp hoá cho các lô hàng buôn lậu, thì xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 12a Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung buộc đưa hàng hoá ra khỏi Việt Nam.

Trường hợp nhập khẩu hàng hoá, vật phẩm đúng với khai báo hải quan (không phải là hàng hoá, vật phẩm cấm xuất khẩu, nhập khẩu) mà người nhận hàng từ chối nhận, trả lại người bán nếu có lý do xác đáng, phù hợp với thoả thuận trong hợp đồng thương mại thì được phép đưa hàng hoá, vật phẩm đó ra khỏi Việt Nam và không bị xử phạt, nhưng phải kiểm tra thực tế chặt chẽ mới cho thực hiện.

14- Trường hợp xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, vật phẩm không đúng với khai báo hải quan nhưng không ảnh hưởng đến tiền thuế và các nghĩa vụ tài chính phải nộp, không vi phạm quy định về chính sách mặt hàng, vệ sinh môi trường hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì không xử phạt, nếu pháp luật không quy định khác.

15- Vi phạm quy định về quy chế quản lý đối với hàng gia công xuất khẩu, nhập khẩu và nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà xử phạt theo quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 12c Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung.

16- Quy định tại điểm e, điểm g, khoản 5 Điều 12a Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung không áp dụng đối với trường hợp hàng hoá, vật phẩm đưa vào Việt Nam trên cơ sở hợp đồng thương mại, phù hợp với giấy phép kinh doanh của người nhập khẩu mà trong thời hạn quy định tại khoản 1, Điều 5 Bản quy định về thủ tục hải quan, giám sát hải quan và lệ phí hải quan ban hành kèm theo Nghị định 16/1999/NĐ-CP, người nhập khẩu đã xuất trình được giấy phép. Trường hợp theo quy định của pháp luật, hợp đồng thương mại chỉ được ký khi đã có giấy phép nhưng người nhập khẩu lại được cấp phép sau khi ký hợp đồng thì cơ quan Hải quan phải trao đổi với cơ quan cấp giấy phép và Viện kiểm sát nhân dân trước khi xử lý.

17- Đối với quy định tại điểm d, khoản 8 Điều 12a Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung, Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, phải báo cáo đầy đủ, kịp thời để Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan quyết định việc giải phóng hàng hoá hoặc uỷ quyền cho Cục trưởng Hải quan chịu trách nhiệm giải phóng hàng hoá.

18- Những viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự lợi dụng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao để thực hiện hoạt động thương mại ngoài phạm vi chức năng chính thức của họ, vi phạm hành chính về hải quan thì trước khi xử phạt, cần trao đổi với cơ quan Ngoại giao.

Những trường hợp không được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao, nhưng lợi dụng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao để trốn tránh sự kiểm tra hải quan nhằm xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá trái phép, trốn lậu thuế hoặc giả mạo các giấy tờ để được nhập khẩu hàng hoá theo tiêu chuẩn ưu đãi miễn trừ hải quan, mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đều bị xử phạt theo quy định tại điểm a, khoản 5 Điều 12a Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung.

19- Vi phạm quy định về xuất khẩu, nhập khẩu ngoại hối:

a/ Các trường hợp khai khống ngoại hối có số lượng lớn tương đương 5.000.000 đồng Việt Nam trở lên đều bị xử phạt.

b/ Vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 13 Nghị định16/CP sửa đổi, bổ sung mà số ngoại hối khai khống tương đương 100.000.000 đồng trở lên, nếu có tình tiết tăng nặng, thì tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm mà quyết định xử phạt vi phạm hành chính hay truy cứu trách nhiệm hình sự.

c/ Trường hợp xuất khẩu, nhập khẩu ngoại hối trái phép nhưng cố tình giấu diếm bằng các hình thức tinh vi nhằm mục đích đối phó với việc kiểm tra Hải quan, để khi Hải quan tiến hành kiểm tra khó phát hiện được thì ngoài việc phạt tiền theo quy định tại các khoản 1, 2, 5, 6 Điều 13 Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung, còn bị tịch thu tang vật vi phạm sung công quỹ.

20- Vi phạm quy định về xuất khẩu, nhập khẩu tiền Việt Nam:
a/ Vi phạm khoản 1 Điều 14 Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung không có tình tiết tăng nặng, tang vật vi phạm dưới 10.000.000 đồng thì áp dụng hình thức phạt cảnh cáo.

b/ Vi phạm khoản 1, 2, 3 Điều 14 khi xuất khẩu, ngoài việc phạt tiền còn bị đình chỉ xuất khẩu.

c/ Vi phạm khoản 1, 2, 3 Điều 14, nếu cố tình giấu diếm để trốn tránh sự kiểm tra hải quan thì ngoài việc bị phạt tiền còn bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm sung công quỹ.

III- THẨM QUYỀN XỬ PHẠT.

 

1- Thủ trưởng trực tiếp của nhân viên Hải quan, bao gồm Đội trưởng Đội công tác nghiệp vụ thuộc cửa khẩu và Phòng nghiệp vụ, do Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh bổ nhiệm; các Phòng nghiệp vụ không tổ chức Đội, được thực hiện thẩm quyền xử phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung. Cấp trên trực tiếp của Đội trưởng các Đội công tác nghiệp vụ có trách nhiệm kiểm tra và yêu cầu những người thuộc quyền chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi ra quyết định xử phạt. Những trường hợp chủ thể vi phạm là người nước ngoài hoặc vụ việc có tình tiết phức tạp thì chuyển lên cấp lên trực tiếp để ra quyết định xử phạt.

2- Trưởng Hải quan cửa khẩu, Đội trưởng Đội Kiểm soát thuộc Cục Hải quan tỉnh; Đội trưởng Đội Kiểm soát thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu thực hiện thẩm quyền xử phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung.

Quyết định xử phạt 2.000.000 đồng và quyết định tịch thu tang vật, phương tiện có giá trị 5.000.000 đồng trở lên, những người có thẩm quyền trên đây phải gửi lên Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, Cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu (nếu là quyết định của Đội Kiểm soát thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu) để gửi sang Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có trụ sở Hải quan tỉnh.

Đối với những hành vi vi phạm có mức phạt tiền trên 2.000.000 đồng hoặc tịch thu tang vật có trị giá trên 20.000.000 đồng, Trưởng Hải quan cửa khẩu, Đội trưởng Đội Kiểm soát Hải quan thuộc Cục Hải quan tỉnh phải làm báo cáo, chuyển hồ sơ, tang vật lên Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh ra quyết định xử phạt.

Những trường hợp vượt thẩm quyền xử phạt của Đội trưởng Đội Kiểm soát thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu, thì vi phạm được phát hiện, lập biên bản tại địa bàn quản lý của Hải quan khu vực nào, sẽ chuyển giao Cục trưởng Cục Hải quan nơi đó ra quyết định xử phạt.

Trưởng Hải quan cửa khẩu, Đội trưởng Đội Kiểm soát hải quan thuộc Cục Hải quan tỉnh hoặc thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu, được xử phạt theo quy định của Luật thuế với mức phạt tối đa là 20.000.000 đồng.

3- Cục trưởng Hải quan tỉnh thực hiện quyền xử phạt theo quy định tại khoản 3 Điều 16 của Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung:

a/ Đối với những vụ vi phạm áp dụng hình thức phạt tiền có mức phạt trên 20.000.000 đồng thì làm thủ tục chuyển hồ sơ sang Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ( sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân tỉnh) nơi bắt giữ để Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết định xử phạt. Sau khi có quyết định xử phạt, Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh phải báo cáo lên Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan.

b/ Hồ sơ vụ vi phạm hành chính về hải quan khi chuyển sang Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh phải kèm theo bản tóm tắt nội dung sự việc và ý kiến của Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh về biện pháp xử lý. Thủ tục bàn giao hồ sơ những vụ vi phạm hành chính về hải quan có mức phạt trên 20.000.000 đồng sang Uỷ ban nhân dân tỉnh phải thực hiện theo đúng quy định chung. Thời gian xem xét giải quyết ở mỗi cấp được quy định như sau:

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh phải gửi hồ sơ, kiến nghị biện pháp xử phạt vi phạm hành chính sang Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét, giải quyết. Tang vật vi phạm vẫn giữ tại kho của Hải quan để bảo quản. Riêng tang vật là ngoại hối, kim khí quý, đá quý phải niêm phong và gửi Kho bạc Nhà nước.

c/ Các vụ vi phạm hành chính do cơ quan Hải quan chuyển sang Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giải quyết theo thẩm quyền, thì sau khi có quyết định xử phạt của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, Cục trưởng Hải quan nơi thụ lý vụ vi phạm hành chính chịu trách nhiệm thi hành quyết định xử phạt. Hàng tháng, Cục trưởng Hải quan phải báo cáo kết quả việc thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh với Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan.

d/ Trường hợp Cục Hải quan tỉnh phụ trách cả đơn vị Hải quan đặt ở tỉnh khác thì các vụ vi phạm hành chính về hải quan bắt giữ tại địa bàn tỉnh nào sẽ chuyển đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh nơi đó ra quyết định xử phạt (nếu vượt thẩm quyền xử phạt của Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh).

e/ Thẩm quyền xử phạt theo Luật thuế của Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh thực hiện theo quy định của các Luật thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành các Luật thuế. Đối với số thuế gian lận ở dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại Thông tư số 06/TTLB ngày 20/9/1996 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Toà án nhân dân tối cao - Bộ Nội vụ hướng dẫn xử lý tội trốn thuế thì Cục trưởng Hải quan tỉnh được phạt tiền đến 5 lần số thuế gian lận, nhưng tối đa khi phạt 1 lần thuế gian lận phải dưới 50 triệu đồng; khi phạt 5 lần thuế gian lận phải dưới 250 triệu đồng.

Đối với những trường hợp có mức phạt vượt quy định nêu trên thì Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh chỉ ra quyết định xử phạt theo quy định của Luật thuế khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp. Sau khi ra quyết định xử phạt phải báo cáo Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan.

 

IV- THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN VI PHẠM
HÀNH CHÍNH VÀ ĐẢM BẢO VIỆC XỬ PHẠT VI PHẠM
HÀNH CHÍNH

 

1- Khi áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:

a/ Chỉ những người có thẩm quyền quy định tại Điều 19 Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung mới được tạm giữ người theo thủ tục hành chính.

b/ Khi tạm giữ người phải có quyết định bằng văn bản và phải giao cho người bị tạm giữ một bản.

c/ Chỉ tạm giữ người theo thủ tục hành chính trong trường hợp cần thu thập, xác minh những tình tiết quan trọng để làm căn cứ ra quyết định xử phạt hành chính hoặc để ngăn chặn, đình chỉ ngay những vi phạm hành chính.

2- Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

a/ Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải tuân theo quy định tại Điều 20 của Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung: trong một lô hàng có hàng hoá, vật phẩm là tang vật vi phạm và hàng hoá, vật phẩm không phải là tang vật vi phạm thì chỉ được giữ hàng hoá, vật phẩm là tang vật vi phạm. Trường hợp chưa xác định được có vi phạm xảy ra hay không, thì chỉ lưu mẫu tang vật. Đối với tang vật là ngoại hối của hành khách xuất cảnh, nhập cảnh, chỉ tạm giữ số ngoại hối vượt tiêu chuẩn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đối với tang vật là nguyên liệu sản xuất hàng gia công, nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu, hàng góp vốn đầu tư liên doanh, hàng nhập khẩu theo vốn ODA được miễn thuế, hàng gửi kho ngoại quan, mà có trong giấy phép, hợp đồng thì chỉ lưu mẫu, cho giải phóng hàng và yêu cầu các đối tượng này có văn bản cam kết thực hiện quyết định xử phạt sau này.

Tổ chức, cá nhân nếu không thực hiện đúng quy định về áp dụng biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm, gây thiệt hại vật chất cho chủ hàng thì Cục trưởng Hải quan tỉnh hoặc Thủ trưởng đơn vị là cấp trên của người ra quyết định tạm giữ hoặc người được uỷ quyền thuộc cơ quan Tổng cục Hải quan phải chịu trách nhiệm giải quyết bồi thường thiệt hại vật chất cho chủ hàng theo Điều 7, 8, 9, 10, 11 Nghị định 47/CP ngày 3/5/1997 quy định về bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức Nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Sau đó, xác định mức bồi thường thiệt hại do cá nhân, người có thẩm quyền tạm giữ gây ra, theo Điều 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18 Nghị định 47/CP.

b/ Những người có thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính thì có quyền tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm theo thủ tục hành chính.

c/ Đội trưởng Đội công tác nghiệp vụ chỉ được tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong trường hợp phạm pháp quả tang, mà nếu không áp dụng biện pháp tạm giữ thì tang vật, phương tiện vi phạm hành chính sẽ bị tẩu tán, đánh tráo để xoá dấu vết. Nhưng trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tạm giữ, người ra quyết định phải báo cáo Thủ trưởng trực tiếp theo quy định tại Điều 19 Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung và phải được sự đồng ý bằng văn bản.

d/ Để đảm bảo việc ngăn chặn hành chính kịp thời, có hiệu quả, Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh trong từng trường hợp cụ thể được uỷ quyền cho Trưởng phòng Điều tra chống buôn lậu tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Người uỷ quyền và người được uỷ quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

3- Khám người theo thủ tục hành chính.

a/ Thẩm quyền và trình tự khám người theo thủ tục hành chính phải tuân thủ các điều kiện quy định tại Điều 21 Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung.

b/ Nhân viên Hải quan đang thi hành công vụ được phép khám người theo thủ tục hành chính. Trước khi khám, bắt buộc phải cho người bị khám xem chứng minh thư Hải quan; phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình và phải báo cáo ngay cho Thủ trưởng đơn vị phụ trách trực tiếp.

4- Khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính.

a/ Nhân viên Hải quan đang thi hành công vụ có quyền khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính, trừ trường hợp phương tiện vận tải là tàu biển, máy bay, tàu hoả của Việt Nam và nước ngoài vận chuyển trên các tuyến đường quốc tế thì phải có quyết định của Trưởng Hải quan cửa khẩu hoặc cấp tương đương trở lên.

b/ Việc khám phương tiện vận tải, đồ vật của các đối tượng được hưởng ưu đãi miễn trừ ngoại giao, miễn trừ lãnh sự phải tuân thủ các quy định của Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia và phải có quyết định của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan.

Khi có cơ sở khẳng định hành lý của người được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao, miễn trừ lãnh sự xuất cảnh, nhập cảnh chứa đựng những đồ vật không được hưởng ưu đãi, hoặc chứa những đồ vật thuộc loại Nhà nước Việt Nam cấm xuất khẩu, nhập khẩu hoặc không tuân thủ các chế độ kiểm dịch của Việt Nam, thì việc khám xét thực hiện theo quyết định của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, trước mặt viên chức ngoại giao hoặc người được uỷ quyền đại diện cho họ.

5- Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

Khi xét thấy cần khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong khu vực kiểm soát hải quan thì cơ quan Hải quan phải phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc khám xét theo quy định tại Điều 44 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.

 

V- THỦ TỤC XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ
THỰC HIỆN QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

 

1- Khi xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về Hải quan bằng hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 20.000 đồng thì không phải lập biên bản vi phạm mà ra quyết định xử phạt tại chỗ.

2- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính có thể ghi ngày có hiệu lực (như trường hợp xử phạt đối với người nước ngoài vắng mặt; những trường hợp vì điều kiện thời gian, không gian hoặc những lý do khác không thể thực hiện được đầy đủ nội dung quyết định trong thời gian 5 ngày kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt).

3- Đối với những trường hợp áp dụng hình thức phạt tiền hoặc phạt tiền kèm tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm mà quá thời hạn chấp hành quyết định xử phạt, đương sự cố tình không thực hiện nộp phạt thì phải tổ chức việc cưỡng chế.

Căn cứ vào điểm c, khoản 3 Điều 30 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính thì Cục trưởng Cục Hải quan cấp tỉnh được áp dụng hình thức cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt bằng biện pháp đình chỉ làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá, vật phẩm xuất khẩu, nhập khẩu và chỉ thực hiện biện pháp này sau khi đã phối hợp với các cơ quan quy định tại Điều 30 Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung mà không thực hiện được các biện pháp cưỡng chế khác.

 

VI- GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI.

 

Khi nhận được hồ sơ giải quyết khiếu nại, phải căn cứ vào các Điều 30, 31, 32, 36,39, 43, 46 của Luật Khiếu nại, tố cáo để xem xét việc khiếu nại về thời hạn, thời hiệu, thẩm quyền giải quyết khiếu nại và các nội dung có liên quan để quyết định thụ lý hay không thụ lý.

1- Thẩm quyền giải quyết khiếu nại:

Người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt hoặc quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính về hải quan có trách nhiệm giải quyết khiếu nại lần thứ nhất.

Đối với quyết định xử phạt của Đội trưởng Đội công tác nghiệp vụ thì Trưởng phòng nghiệp vụ, Trưởng Hải quan cửa khẩu giải quyết khiếu nại lần 2.

Đối với các quyết định xử phạt của Trưởng Hải quan cửa khẩu, Đội trưởng Đội Kiểm soát Hải quan, Trưởng phòng nghiệp vụ (nơi không thành lập Đội) thì thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần 2 là Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh hoặc Cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu (nếu là quyết định của Đội Kiểm soát thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu).

Đối với các quyết định xử phạt của Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh thì thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần thứ 2 là Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan.

Đối với các quyết định giải quyết khiếu nại mà Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan đã giải quyết nhưng còn khiếu nại thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tổng Thanh tra Nhà nước.

Đối với các quyết định giải quyết khiếu nại về xử phạt theo các Luật thuế mà Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan đã giải quyết, nhưng còn khiếu nại thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

2- Thời hạn giải quyết khiếu nại:

a/ Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản khiếu nại, người giải quyết khiếu nại phải thụ lý để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết; trường hợp không thụ lý giải quyết phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Thời hạn giải quyết khiếu nại lần 1 của các cấp Hải quan có thẩm quyền giải quyết (người giải quyết khiếu nại) không được quá 30 ngày từ ngày thụ lý để giải quyết (ngày vào sổ thụ lý và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại) . Đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 45 ngày kể từ ngày thụ lý. ở vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 45 ngày kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể được kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày kể từ ngày thụ lý để giải quyết.

Trong quá trình giải quyết khiếu nại, nếu xét thấy việc thi hành quyết định xử phạt bị khiếu nại sẽ gây hậu quả khó khắc phục, thì người giải quyết khiếu nại phải ra quyết định hoặc kiến nghị Thủ trưởng cấp trên trực tiếp ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định đó.

Thời hạn tạm đình chỉ không vượt quá thời gian còn lại của thời hạn giải quyết khiếu nại. Quyết định tạm đình chỉ phải gửi cho người khiếu nại, người có quyền, lợi ích liên quan. Khi xét thấy lý do tạm đình chỉ không còn thì phải huỷ bỏ ngay quyết định tạm đình chỉ đó.

b/ Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết khiếu nại của mình, người giải quyết khiếu nại lần 2 và các lần tiếp theo phải thụ lý để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết.

Thời hạn giải quyết khiếu nại lần 2 và các lần tiếp theo của người giải quyết khiếu nại không được quá 45 ngày kể từ ngày thụ lý để giải quyết. Đối với các vụ việc phức tạp, thời hạn trên có thể kéo dài hơn nhưng không được quá 60 ngày; ở những vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần 2 và các lần tiếp theo không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với những vụ việc phức tạp thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không được quá 70 ngày kể từ ngày thụ lý giải quyết.

3- Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại:

Khi giải quyết khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người giải quyết khiếu nại phải căn cứ vào Điều 38 (giải quyết khiếu nại lần đầu), Điều 45 (giải quyết khiếu nại lần 2 và các lần tiếp theo) Luật Khiếu nại, tố cáo và mẫu ấn chỉ HC17 để ra quyết định giải quyết khiếu nại.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu thì có quyền khiếu nại đến cấp trên trực tiếp của người ra quyết định xử phạt hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của pháp luật.

Các vụ khiếu nại và giải quyết khiếu nại do Cục Hải quan tỉnh, Cục Điều tra chống buôn lậu thụ lý giải quyết theo thẩm quyền, định kỳ phải báo cáo về Tổng cục Hải quan theo mẫu quy định.

 

VII- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

 

1- Vụ Pháp chế Tổng cục Hải quan có trách nhiệm tổ chức phối hợp với các Vụ, Cục liên quan thuộc Tổng cục Hải quan, thực hiện phúc tra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hải quan và kiểm tra việc tuân theo pháp luật trong quá trình thực hiện xử phạt để đảm bảo việc xử phạt vi phạm hành chính về hải quan đúng quy định của pháp luật.

2- Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh tổ chức kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện nội dung nguyên tắc, trình tự xử phạt vi phạm hành chính (được quy định tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và Bản quy định về trình tự xử phạt vi phạm hành chính trong ngành Hải quan - ban hành kèm theo quyết định số 97/TCHQ-PC ngày 5/8/1996 và công văn số 2505/TCHQ-PC ngày 6/8/1996 hướng dẫn thi hành quyết định trên) của các đơn vị thuộc quyền.

Tại các đơn vị cửa khẩu, Đội kiểm soát trực thuộc Cục Hải quan tỉnh, Phòng nghiệp vụ, phải cử cán bộ chuyên theo dõi, hướng dẫn kiểm tra việc xử phạt vi phạm hành chính của các Đội nghiệp vụ; giải quyết kịp thời các khiếu nại về biện pháp ngăn chặn hành chính và quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Nghị định 16/CP sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn tại Thông tư này.

3- Đối với những vụ vi phạm hành chính hoặc khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính có nhiều tình tiết phức tạp, Hội đồng tư vấn xử lý các cấp có trách nhiệm nghiên cứu, xem xét để kiến nghị Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh ra quyết định được kịp thời, đúng đắn.

4- Những cán bộ theo dõi, hướng dẫn thực hiện việc xử phạt vi phạm hành chính phải được lựa chọn từ các cán bộ, nhân viên đã được rèn luyện tốt, trung thực, am hiểu pháp luật và nghiệp vụ.

5- Việc thu nộp tiền phạt vi phạm hành chính thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính. Cục trưởng Cục Kiểm tra thu thuế xuất nhập khẩuTổng cục Hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, hướng dẫn cụ thể chế độ thu nộp theo quy định hiện hành.

6- Những cán bộ, nhân viên Hải quan có thẩm quyền xử phạt hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính hoặc được giao nhiệm vụ làm công tác xử phạt vi phạm hành chính về hải quan, nếu có hành vi vi phạm nguyên tắc, trình tự xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật, hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm hay sách nhiễu, vụ lợi thì tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm khắc theo pháp luật; nếu gây thiệt hại về vật chất cho cá nhân, tổ chức thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Thông này hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký, thay thế Thông số 05/1998/TT-TCHQ ngày 29/8/1998 và các văn bản của Tổng cục Hải quan ban hành trước đây trái với Thông tư này.

LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam.
Tình trạng hiệu lực: Đã biết

THE GENERAL DEPARTMENT OF CUSTOM
-------
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom - Happiness
------------
No: 05/1999/TT-TCHQ
Hanoi, July 26, 1999
 
CIRCULAR
GUIDING THE IMPLEMENTATION OF DECREE NO. 16/CP OF MARCH 20, 1996 AND DECREE NO. 54/1998/ND-CP OF JULY 21, 1998 OF THE GOVERNMENT ON SANCTIONS AGAINST ADMINISTRATIVE VIOLATIONS IN THE FIELD OF STATE MANAGEMENT OVER THE CUSTOMS
Pursuant to Clause 2, Article 35, Decree No. 16/CP of March 20, 1996 and Article 7, Decree No. 54/1998/ND-CP of July 21, 1998 of the Government stipulating sanctions against administrative violations in the field of State management over the customs, the General Department of Customs hereby guides the implementation thereof as follows:
I. GENERAL PROVISIONS
1. The application of sanctions against administrative violations in the field of State management over the customs must be based on Decree No. 16/CP of July 21, 1998 of the Government stipulating sanctions against the administrative violations in the field of State management over the customs (only Articles currently in force) and Decree No. 54/1998/ND-CP of July 21, 1998 amending and supplementing a number of articles of the above-said Decree No. 16/CP (hereafter referred to as the amended Decree No. 16/CP).
2. Administrative violations in the field of State management over the customs are acts of breaching the regulations on the State management over the customs, committed by individuals and/or organizations intentionally or unintentionally, which are not serious enough for penal liability examination, but must be sanctioned for administrative violations in the field of customs as prescribed by law.
3. Individuals and organizations defined in Clause 2, Article 1 of the amended Decree No. 16/CP shall be understood as follows:
a/ The organizations shall include: State bodies, economic organizations, socio-political organizations and social organizations as defined by Vietnamese laws.
b/ The individuals shall include Vietnamese nationals, foreigners and stateless people, who have full act capacity according to the provisions of Vietnamese laws.
c/ Vietnamese and foreign individuals and organizations violating the customs State management regulations must all bear the customs-related administrative liability as prescribed by the amended Decree No. 16/CP and other Decrees of the Government defining sanctioning competence of the customs authorities, except otherwise provided for by the international agreements which Vietnam has signed or acceded to.
4. Subject to sanctions against administrative violations in the field of State management over the customs shall be the goods carriers, consignors, consignees or their lawful representatives, bonded warehouse dealers, who have committed acts of customs-related administrative violations; buyers, sellers, storers or transporters of illegally imported goods and articles; unlawful traders of goods eligible for tax preferences; persons obstructing and/or insulting customs officers on official duty.
5. An act of administrative violation is sanctioned only once. If many persons commit the same act of administrative violation, each of the violators shall be sanctioned separately. A person committing many acts of administrative violation shall be sanctioned for every act of violation. When a pecuniary fine is decided against a person for his/her many acts of administrative violation committed simultaneously at a time, the total fine amount shall be made, but the fine amount for each act must be clearly inscribed. If one of the above-mentioned violation acts falls outside their sanctioning competence, the entire dossiers and material evidence thereof shall be transferred to the competent level for sanctioning.
6. For complicated violations with difficulties to determine whether they are administrative violations or criminal offenses, the persons with sanctioning competence in the Customs Departments of the provinces or centrally-run cities (hereafter referred to as the provincial Customs Departments) shall consult with the People�s Procuracy of the same level and issue administrative- sanction decisions only after obtaining opinions of the People�s Procuracy.
7. For export and import commodities and articles being material evidences of administrative violations, which are subject to taxes, in addition to fines, the violating individuals and/or organizations shall have to pay export tax, import tax, other taxes and customs fees as prescribed by law.
8. Acts of customs-related administrative violations defined in the amended Decree No. 16/CP, which coincide with acts of administrative violations defined in other Decrees promulgated subsequently with the determination of sanctioning competence of the customs authorities, shall be handled according to the provisions of the document issued last.
Where the new legal document with the same legal value prescribes lighter legal liabilities or the customs-related administrative violations committed before the effective date of the document, the newly promulgated document shall apply according to the principle of benefit for the involved parties as defined in Clause 1, Article 5b of the amended Decree 16/CP.
9. Regarding the competence to handle violations:
a/ For the administrative violations which fall under the sanctioning competence of many agencies, the agency that has detected them and made records thereon first shall issue the sanctioning decisions.
b/ For acts of falsification of taxes (including export tax, import tax, value added tax, special consumption tax), which are not serious enough to be examined for penal liability according to the provisions of Joint Circular No. 06/TTLT of September 20, 1996 of the Supreme People’s Procuracy, the Supreme People’s Court and the Ministry of the Interior and which are detected by other bodies without sanctioning competence, all the dossiers and material evidences thereof shall be handed over to the customs authorities for issuing sanctioning decisions and collecting taxes according to the provisions of law.
c/ For violations of customs legislation, which are serious enough to be examined for penal liability but do not fall under the customs authorities’ competence, the customs authorities shall transfer the dossiers thereon to the competent judicial bodies as well as the material evidences thereto for preservation according to provisions in Clause 2, Article 57 of the Criminal Procedures Code, except for special cases otherwise directed by the Prime Minister.
d/ For administrative violations on which the dossiers involve many customs units, the unit which has detected them and made records thereon first shall issue sanctioning decisions; the relevant units shall have to transfer all the necessary documents at the request of the unit with sanctioning competence; when there appears divergence of opinions on the sanctioning, it must, within the prescribed time limit, be reported to the General Director of Customs for comments.
e/ For customs-related administrative violations involving arrests and seizures on the sea, this principle shall also apply. Where the pecuniary fine amount goes beyond the competence of the seizing unit, the case shall be handed to the nearest customs office for sanctioning.
Where a case initiated according to criminal procedures by the Anti-Smuggling and Investigation Department or central-level investigation body is related to the operations of many provincial/municipal Customs Departments, when there is the decision to suspend the investigation for administrative sanction, it shall be transferred to the provincial/municipal Customs Department in the locality where the case took place for sanctioning. Where the case occurred at a place outside the operation area of the customs, it shall be transferred to the Customs Department near the place where the case happened or the Customs Department with its head office being located in the same area where the investigation body or the Anti-Smuggling and Investigation Department is headquartered, for sanctioning.
10. Upon detection of any customs-related administrative violation in export processing zones or export processing enterprises, depending on the nature and seriousness of the violation, sanctions shall be imposed correspondingly to acts of violation prescribed in the amended Decree No. 16/CP and other Decrees which specify acts of violations and the sanctioning competence of the customs authorities.
11. Cases where customs-related administrative violations shall not be sanctioned: commodities, articles and transport means introduced into Vietnam have been hit by fires, natural disasters, acts of sabotage, unexpected incidents, emergencies, which have been declared with the customs authorities, other competent bodies or local administration according to the provisions of law.
Where they have not been declared, sanctions shall be imposed according to the provisions at Point a, Clause 2, Article 6 of the amended Decree No.16/CP.
12. In this Circular, the following terms and expressions shall be construed as follows:
a/ "Commodities, articles" mean commodities, luggage, postal matters and parcels, foreign exchange, Vietnamese currency and other articles.
b/ "Commodity code" means the tax code under the provisions of legislation on export and import taxes.
c/ "Commodities encouraged for export, import" mean goods exported or imported without control by quotas, permits or oriented plans.
d/ "The average of the pecuniary fine bracket" is the average of the maximum fine level and the minimum fine level of the fine bracket for an act of administrative violation.
e/ "Non-compatibility with the customs declaration" means the disparity between goods and/or articles declared with the customs and goods and/or articles actually exported and/or imported.
f/ "Recidivism" means a case where the violation was already sanctioned but the statute of limitations for it to be considered as being not yet sanctioned for administrative violation has not expired while the administrative violation continues to be committed in such field.
g/ "Repeated violation" means the case where an administrative violation is committed in the field where the violation was committed earlier but not yet sanctioned.
h/ "Illegally introducing goods into Vietnam" means an act of introducing goods into Vietnam in contravention of the provisions of Vietnamese laws.
13. When receiving customs dossiers for clearance of procedures for export/import of goods and/or articles, the dossiers-receiving officials shall have to check them; if the dossiers are incomplete under the regulations, the declarers shall be guided to supplement them and submit and produce additional papers; when the dossiers are fully supplemented within the time limit prescribed for filling in the customs procedures, the customs authorities shall receive the registration and not make record of the violation.
II. APPLICABLE FORMS AND LEVELS OF SANCTION
1. Sanctioning forms: Individuals and organizations committing acts of administrative violation regarding the customs shall be subject to one of the main sanctioning forms: warning or pecuniary fine.
a/ Warning: shall be applicable to individuals and organizations that commit minor administrative violations for the first time, which involve extenuating circumstances, as prescribed in Clause 1 of Articles 6, 8, 9a, 9b, 11 and Article 10 of the amended Decree No. 16/CP.
b/ In addition to the main sanctioning forms, the violating individuals and organizations may, depending on the nature and seriousness of their violations, be subject to the following additional sanctioning forms:
- Confiscation of material evidence and violating means;
- Stripping off the right to use licenses.
The above-mentioned additional sanctioning forms must not be applied independently but must be applied together with the main sanctioning forms.
2. Individuals and organizations subject to the above-mentioned main and additional sanctioning forms may still also be subject to other administrative measures prescribed in the amended Decree No. 16/ND such as:
- Forced re-export of commodities and/or articles;
- Suspension of customs procedures filling;
- Forced destruction of commodities and/or articles;
Other administrative measures shall be applied together with main sanctioning forms, but not independently.
3. The additional sanctioning form of "stripping off the right to use the license" shall apply only to licenses directly related to goods, articles and/or transport means, which are material evidences of the violation.
Customs authorities at different levels with the sanctioning competence may only strip the right to use the licenses granted by the customs agencies at all levels. Where a license is granted by other body, the customs authority shall send a written notice to the competent licensing agency, requesting the deprivation of the right to use such license; after meeting the request of the customs authority, the competent licensing agency shall inform the former of the results.
Upon detecting any counterfeit licenses or licenses granted ultra vires or containing illegal details, the record must be made to seize such licenses, then a written notification thereof shall be sent to the concerned State bodies and organizations.
4. When considering and handling cases of mistake in the process of delivering export/import goods and articles prescribed in Clause 3, Article 1 of the amended Decree No. 16/CP, the customs authorities shall have to base themselves on Article 17 of the Ordinance on Customs and Article 7 of Decree No. 16/1999/ND-CP of March 27, 1999 to determine the time of "customs inspection of goods". The "pre-customs inspection of goods" time defined in Clause 3, Article 1, the amended Decree No. 16/CP shall be understood as the time before the customs procedures fillers or their lawful representatives produce and open the goods containers or packages at the inspection places for the customs authorities to inspect them.
The notification of the mistakes must be made in writing by the goods carriers, consignors or their lawful representatives, clearly stating the reasons therefor and send it to the customs authorities before the goods inspection. Where there are enough legal grounds to determine that the violations are committed due to the collusion between the buyer and the seller or the carrier for smuggling, illegal transportation or tax evasion, the customs authority shall refuse to accept the mistake notification but handle the violations according to law, depending on their nature and seriousness.
5. The time-limit prescribed for carrying out the customs procedures mentioned at Clause 1 and Point a, Clause 2, Article 6 of the amended Decree No. 16/CP is the time-limit defined in Article 5, Decree No. 16/1999/ND-CP of March 27, 1999 of the Government defining the customs procedures, supervision and fees.
6. For acts of violation defined at Point b, Clause 2, Article 6 of the amended Decree No. 16/CP, sanctions shall be imposed only if the licenses, the customs declarations or other papers prescribed by law stipulate the time for re-import or re-export.
7. For acts of violations defined in Clause 3, Article 7 of the amended Decree No. 16/CP, if the goods and/or articles being material evidences of other administrative violations which are subject to the additional sanctioning form of confiscating them for public fund, are consumed without permission the sanction defined in Clause 3, Article 7, shall apply and the sum of money equivalent to the value of such goods and/or articles must be recovered. In case of necessity to ensure the enforcement of the sanctioning decision, the sum of money equivalent to the sum of fine shall be recovered.
8. Subjects violating regulations on exchange of export/import goods by border residents include residents in the border areas and outside the border areas. The value and type of goods to be used for exchange by the border residents shall have to comply with the current law provisions. If it is otherwise provided for by an international agreement on exchange of goods by border residents between Vietnam and a bordering country, such international agreement shall apply.
The export and import of goods and articles in other forms at land border-gates must fully comply with the provisions of the customs legislation and relevant laws.
Where a border resident brings across the border foreign exchange (including Vietnamese currency, international-standard gold) in excess of the amount prescribed by the State Bank of Vietnam without making declaration thereof to the custom authority, he/she shall be sanctioned according to Articles 13 and 14 of the amended Decree No. 16/CP with the handling thereof guided in Points 19 and 20, Part II of this Circular.
9. Acts of exporting/importing gifts in contravention of the State’s regulations on export and import prescribed in Clause 2, Article 9a, of the amended Decree No. 16/CP mean acts of exporting/importing goods and/or articles subject to the management by quotas, permits or oriented plans; goods temporarily suspended from export/import; goods and articles banned from export/import or subject to conditional export/import.
Where the actual goods or articles (gifts), when checked, are compatible with the customs declaration but rejected by the recipients or where the imported gifts are on the list of goods banned from import (excluding narcotics, documents with reactionary contents, weapons, ammunition, explosives, military equipment), which have been declared with the customs, the recipients of such gifts shall have to request the consignors, the carriers to take such articles, goods out of the Vietnamese territory within the time-limit prescribed in Clause 2, Article 27 of the amended Decree No. 16/CP; past that time-limit, if the goods, articles are not taken out of Vietnam, they shall be either confiscated for public fund or destroyed.
10. For cases of exporting/importing luggage without making declarations or making declarations not in accordance with the provisions on customs declaration (the provisions in the content of the customs declaration form) other than the provisions in Clause 2, Article 9b of the amended Decree No. 16/CP, the sanction shall comply with Clause 1 of this Article.
The violations of the regulations on export/import of cultural products which are not of gift or luggage nature shall be handled according to Article 12, Decree No. 88/CP of December 14,1995 of the Government stipulating sanctions against the administrative violations in cultural activities, cultural services as well as the prevention of and combat against a number of social vices.
Where export/import goods and articles in luggage fall into the category of goods banned from export/import (excluding narcotics, documents with reactionary contents, weapons, ammunition, explosives, military equipment) and have been declared with the customs, the export/import thereof shall not be allowed, but no sanction shall be imposed.
11. Transport means carrying export/import goods, goods on transit, goods on cross-border transshipment defined in the amended Decree No. 16/CP shall include air, sea, river and land transport means moving in the customs- controlled regions.
a/ Acts of violating the provisions in Clause 2, Article 11 of the amended Decree No. 16 shall also include the carrying by transport means of export goods from a departure port of Vietnam or the carrying of transshipment goods to a port outside the ship’s itinerary, but without customs declaration as provided for in Article 5 of Decree No. 16/1999/ND-CP of March 27, 1999.
b/ Undeclared goods and articles on transport means leaving or entering the customs-controlled areas, which are not under the ownership of the crew members shall be handled according to the provisions in Clause 4, Article 11 of the amended Decree No. 16/CP. Where there are enough legal grounds to determine that such goods are owned by the operators, attendants or passengers on board of the departing or entering transport means in service of their journeys or the goods are within the crew members’ luggage quotas, the sanction shall comply with Article 9b of the amended Decree No. 16/CP.
c/ When goods and/or articles are detected having been purchased, sold, concealed and/or transported in contravention of law or having originated from illegal import, the sanctioning levels shall comply with the provisions at Point b, Clause 3, Article 17; Article 21 of Decree No. 01/CP of January 3, 1996 on sanctions against administrative violations in the field of commerce; or Clause 4, Article 11 and Clause 2, Article 17 of the amended Decree No. 16/CP, depending on the nature and seriousness of the violations; if acts of tax evasion are committed, they shall be handled according to Point 12.a below.
12. For violations of the provisions in Article 12a of the amended Decree No. 16/CP:
a/ The violations of the provisions at Point a, Clause 2; Points b and c, Clause 3, Article 12a, which lead to tax losses, shall be sanctioned as follows:
- Way of calculating tax difference and the application of fine levels:
The payable amount of tax on the actually imported goods volume minus the tax amount declared on the customs declaration by the goods owner is equal to the amount of evaded tax. The evaded tax amount shall include the export tax, import tax, value added tax and the special consumption tax. The tax difference shall be determined by the professional tax units.
After the evaded tax amount is calculated, it must be compared with Joint Circular No. 06/TTLN of September 20, 1996 of the Supreme People�s Procuracy, the Supreme People’s Court and the Ministry of the Interior guiding the handling of tax evasion, in order to sanction the violators according to tax laws or initiate a criminal case against him/her, depending on the evaded tax amount. If the administrative sanction is imposed, it must be based on Article 3, Clause 1 of Article 4, Decree No. 22/CP of April 17, 1996 of the Government stipulating sanctions against administrative violations in the field of tax, and Point 2, Part II, Circular No. 128/1998/TT-BTC of September 22, 1998 of the Ministry of Finance guiding the implementation of Decree No. 22/CP to impose a fine of from 1 to 5 times the evaded tax amount, depending on the nature and seriousness of the violation.
- The legal bases for issuing sanctioning decisions must conform with the following provisions of the tax laws:
+ Clause 3, Article 20 under Clause 5, Article 1 of the Law Amending and Supplementing a Number of Articles of the Law on Export Tax and Import Tax;
+ Clause 3, Article 19 of the Law on Value Added Tax;
+ Clause 3, Article 17 of the Law on Special Consumption Tax;
+ Decree No. 22/CP of April 17, 1996 of the Government stipulating sanctions against administrative violations in the field of tax.
Where there are not enough legal grounds to determine whether the acts of evading export tax, import tax, value added tax and/or special consumption tax (if any) are intentional or not, the sanctions shall comply with Clause 2 or Clause 3, Article 12a of the amended Decree No. 16/CP, depending on the nature and seriousness of the acts of violation.
b/ Where goods imported for investment capital contribution to joint ventures are declared with the values higher than their actual values and papers are counterfeited to increase the investment capital contribution, sanctions shall be imposed not only on act of falsely declaring the goods value but also on the act of counterfeiting papers; if signs of criminal offenses are detected, the case shall be transferred to the investigation bodies.
c/ Where the goods and articles appellations declared in Vietnamese are not accurate as compared to their English names on vouchers in the customs records and relevant technical documents ( if any) just due to translation errors, the accurate re-translation is requested and no sanction shall be imposed.
13. Regarding acts of violation relating to permits and permit substitute documents:
a/ Expired permits:
- For export goods: The goods owners shall have to apply for the extension before being allowed to carry out the export procedures, and at the same time be sanctioned according to the provisions in Clause 1, Article 14, Decree No. 01/CP on sanctions against administrative violations in the field of commerce.
- For import goods: If a permit is still valid by the time of signing the contract or loading the goods on board the transport means, but the permit or the contract expires when the goods reach the destination port, sanctions shall be imposed on act of using the expired permit to import goods, as prescribed in Clause 1, Article 14, Decree No. 01/CP on sanctions against administrative violations in the field of commerce; this case shall not be considered the illegal import.
b/ Where imported goods are not in line with the contents of the permits but the violation material evidences are supplies or machinery to be used as investment capital contribution to joint-ventures, which are of advanced technologies suitable to the use requirements and certified by the competent State management bodies and which have been declared with the customs authorities, sanctions shall not be imposed thereon, but all financial obligations must be fulfilled according to the provisions of law.
c/ Where imported goods are not in line with the customs declaration and the consignees refuse to take the goods and return them to the sellers with legitimate reasons and in compliance with the Commercial Law and other provisions of Vietnamese legislation as well as international trade practices and without any signs of legalization of smuggled goods lots, the sanctions shall comply with Clause 3, Article 12a, the amended Decree No. 16/CP, forcing the transportation of goods out of Vietnam.
Where goods and/or articles are exported or imported in accordance with the customs declarations (not being goods and articles banned from export/import) which the consignees refuse to take and return them to the sellers with legitimate reasons, in compliance with the agreement in the commercial contract, such goods and/or articles shall be allowed to be taken out of Vietnam and no sanction shall be imposed, but actuality must be thoroughly checked before permitting the implementation.
14. Where goods and/or articles are exported or imported incompatibly with the customs declarations, but without affecting the tax money and the financial obligations to be fulfilled, without violating regulations on goods item policies, environmental hygiene or technical criteria as prescribed by law, sanction shall not be imposed unless otherwise provided for by laws.
15. Violations of the provisions on the statute of management over goods processed for export as well as import goods and raw materials imported for the production of export goods shall be sanctioned according to the provisions in Clause 1 or Clause 2, Article 12c of the amended Decree No. 16/CP, depending on the nature and seriousness of the violations.
16. The provisions in Points e and f, Clause 5, Article 12a of the amended Decree No. 16/CP, shall not apply to cases where the goods and/or articles brought into Vietnam on the basis of commercial contracts, in conformity with the importers’ business licenses which have been presented by the importers within the time-limit prescribed in Clause 1, Article 5 of the Customs Procedures, Supervisions and Fees Regulation issued together with Decree No. 16/1999/ND-CP. Where, as prescribed by law, a commercial contract can be signed only after the license is obtained but the importer is granted the license after the signing of the contract, the customs authority shall have to consult the licensing body and the People’s Procuracy before handling the case.
17. With regard to the provisions in Point d, Clause 8, Article 12a of the amended Decree No. 16/CP, the directors of the provincial Customs Departments shall have to fully and promptly report thereon so that the General Director of Customs may decide the release of goods or authorize the director(s) of the provincial Customs Department(s) to take charge of the goods release.
18. With regard to diplomatic officials, consular officials, who take advantage of the diplomatic privileges and immunities to carry out commercial activities beyond the scope of their main functions, committing administrative violations regarding the customs, before they are sanctioned, the diplomatic bodies should be consulted with.
Those who are not entitled to the diplomatic privileges and immunities but take advantage of the diplomatic privileges and immunities to evade the customs inspection with a view to illegally exporting or importing goods, to evade tax or counterfeit papers in order to import goods under the customs privilege and immunity criteria, but not seriously enough to be examined for penal liability, shall all be sanctioned according to the provisions in Point a, Clause 5, Article 12a of the amended Decree No. 16/CP.
19. Violations of the provisions on export and import of foreign exchange:
a/ All cases of false declaration of foreign exchange with an amount equivalent to 5,000,000 VNdong or more shall be sanctioned.
b/ Violations of the provisions in Clause 4, Article 13 of the amended Decree No. 16/CP with the falsely declared amount of foreign exchange being equivalent to 100,000,000 VNdong or more, if involving aggravating circumstances, shall be administratively sanctioned or examined for penal liability, depending on the nature and seriousness of the violations.
c/ Where foreign exchange are illegally exported or imported but deliberately concealed through sophisticated ways against the customs inspection so that the customs authority hardly discover them, apart from the pecuniary fine under Clauses 1, 2, 5 and 6 of Article 13 of the amended Decree No. 16/CP, the violation material evidences shall be confiscated for the public fund.
20. Violations of the regulations on export/import of Vietnamese currency:
a/ For violations of Clause 1, Article 14 of the amended Decree No. 16/CP without aggravating circumstances and the material evidence being under 10,000,000 VNdong, the sanctioning form of warning shall apply.
b/ For the violations of Clauses 1, 2 and 3 of Article 14, upon the exportation, a pecuniary fine shall be imposed and the exportation shall be suspended.
c/ For the violations of Clauses 1, 2 and 3 of Article 14, if being deliberately concealed to evade the customs inspection, a pecuniary fine shall be imposed and the material evidence as well as means of violation shall be confiscated for the public fund.
III. SANCTIONING COMPETENCE
1. The immediate leaders of customs officers, including leaders of the professional working teams of border gates and professional bureaus appointed by directors of the provincial Customs Departments; professional bureaus without teams being organized may exercise the sanctioning competence according to the provisions in Clause 1, Article 16 of the amended Decree No. 16/CP. The immediate superiors of leaders of the professional working teams, when issuing sanctioning decisions, shall have to inspect and request the strict observance of provisions of law by people under their management. Where a violator is a foreigner or the matters involve complicated circumstances, the case shall be forwarded to the immediate superior level for issuing the sanctioning decision.
2. The heads of the border-gate customs offices, the leaders of the Inspection Teams of the provincial Customs Departments and the leaders of the Inspection Teams of the Department for Investigation against Smuggling shall exercise the sanctioning competence according to Clause 2, Article 16 of the amended Decree No. 16/CP.
For decisions on fine of 2,000,000 VNdong and decisions on confiscation of violation material evidences or means valued at 5,000,000 VNdong or more, the above-mentioned competent persons shall have to send them to the directors of the provincial Customs Departments, the director of the Department for Investigation against Smuggling (particularly the decisions of the Inspection Team of the Department for Investigation against Smuggling) for further sending to the People�s Procuracy of the provinces or centrally-run cities where the provincial Customs Departments are headquartered.
For acts of violations subject to a fine of over 2,000,000 VN dong or the confiscation of material evidence valued at more than 20,000,000 VNdong, the heads of the border-gate customs offices and the heads of the Customs Inspection Teams of the provincial Customs Departments shall have to report them, transfer the dossiers and material evidences thereof to the directors of the provincial Customs Departments for issuing sanctioning decisions.
Cases which go beyond the sanctioning competence of the leader of the Inspection Team of the Department for Investigation against Smuggling shall be transferred to the directors of the Customs Departments of the provinces or centrally-run cities where the violations are detected and recorded in minutes, for issuing the sanctioning decisions.
Heads of the border-gate customs offices and leaders of the Customs Inspection Teams of the provincial Customs Departments or the Department for Investigation against Smuggling may impose sanctions according to tax laws with the maximum fine level of 20,000,000 VNdong.
3. The directors of the provincial Customs Departments shall exercise the sanctioning competence according to the provisions in Clause 3, Article 16 of the amended Decree No. 16/CP:
a/ For violations subject to a fine of over 20,000,000 VNdong, to carry out procedures for transferring the dossiers thereon to the People’s Committees of provinces or centrally-run cities (hereafter referred to as the provincial People’s Committees) where the violation material evidences and means are seized so that the presidents of the provincial People’s Committees shall issue sanctioning decisions. After the sanctioning decisions are issued, the directors of the provincial Customs Departments shall have to report the cases to the General Director of Customs.
b/ The dossiers on customs-related administrative violations, when being transferred to the provincial People’s Committee presidents, must be enclosed with the summaries of the cases and opinions of the directors of the provincial Customs Departments on handling measures. The procedures for handing over the dossiers on customs-related administrative violations subject to a fine of over 20,000,000 VNdong to the provincial People’s Committee must comply with the general regulations. The time-limit for consideration and settlement at each level is stipulated as follows:
Within 10 days after an administrative violation is recorded in minutes, the director of the provincial Customs Department shall have to send the dossiers thereon and the proposed handling measures to the provincial People’s Committee president for consideration and settlement. The violation material evidences shall still be kept at the customs warehouses for preservation. Particularly the material evidences being foreign exchange, precious metals and/or precious stones must be sealed and deposited into the State Treasuries.
c/ The sanctioning decisions against the administrative violations transferred by the customs authorities to the provincial People’s Committee presidents for settlement according to their competence, after being issued by the latter, shall be implemented by directors of the provincial Customs Departments where the administrative violations were accepted and processed. Monthly, the directors of the provincial Customs Departments shall have to report on the results of the implementation of the provincial People’s Committee presidents’ sanctioning decisions against the administrative violations to the General Director of Customs.
d/ Where a provincial Customs Department takes charge of customs units located in other provinces, the administrative violations in which provinces where the material evidences and/or means are seized shall be transferred to the presidents of People’s Committees of such provinces for issuing the sanctioning decisions ( if the cases go beyond the sanctioning competence of the directors of the provincial Customs Departments).
e/ The provincial Customs Department directors’ competence to sanction under the tax laws shall comply with the provisions of the tax laws and documents guiding the implementation thereof. For the evaded tax amounts below the level liable to the examination for penal liability as stipulated in joint Circular No. 06/TTLB of September 20, 1996 of the Supreme People’s Procuracy, the Supreme People’s Court and the Ministry of the Interior guiding the handling of tax evasions, the directors of the provincial Customs Departments may fine up to 5 times the evaded tax amount, but the maximum level of the fine of one time the evaded tax amount must be lower than 50 million VNdong or the maximum of the fine up to 5 times the evaded tax amount must be lower than 250 million VNdong.
For cases where the fine levels exceed the above-prescribed levels, the directors of the provincial Customs Departments shall issue decisions on sanctions under the tax laws only after obtaining the written consent of the People’s Procuracy of the same level. After issuing the sanctioning decisions, the provincial Customs Department directors shall have to report to the General Director of Customs thereon.
IV. APPLICATION OF MEASURES TO PREVENT ADMINISTRATIVE VIOLATIONS AND ENSURE SANCTIONS AGAINST ADMINISTRATIVE VIOLATIONS
1. When applying the measure of temporarily taking persons into custody according to the administrative procedures, the following principles must be strictly observed:
a/ Only persons with competence prescribed in Article 19 of the amended Decree No. 16/CP can temporarily take people into custody according to the administrative procedures.
b/ When taking a person in custody, there must be the written decision thereon, and a copy of which must be handed to the person in custody.
c/ People shall be taken into custody according to the administrative procedures only in case of necessity to gather and verify important details to serve as bases for deciding administrative sanctions or to prevent or immediately stop the administrative violations.
2. Temporary seizure of material evidences and means of administrative violations.
a/ The application of preventive measures of temporary seizure of material evidences and means of administrative violations must comply with the provisions in Article 20 of the amended Decree 16/CP; if a goods lot contains both goods and materials being violation material evidences and goods and articles which are not violation material evidences, only the goods and articles which are violation materials shall be seized. Where the commission of violation is not determined yet, only goods samples are kept. For the material evidences being foreign exchange of departing or arriving passengers, only the foreign exchange amount in excess of the level prescribed by the State Bank of Vietnam shall be temporarily seized. For the material evidences being raw materials for the production of processed goods, raw materials for the production of export goods, goods to be used for investment capital contribution to joint ventures, duty-free goods imported by ODA capital and goods deposited in bonded warehouses, which are all described in permits and/or contracts, only the samples thereof are kept, goods shall be released and these subjects shall be requested to make written commitments to implement the subsequent sanctioning decisions.
Where organizations or individuals fail to strictly comply with the provisions on the application of measure of temporary seizure of violation material evidences and means, thus causing material losses to goods owners, the provincial Customs Department directors or the heads of the units being the superiors of the persons who have issued the temporary seizure decisions or the authorized persons of the General Department of Customs shall have to settle the compensations for the material losses caused to the goods owners according to Articles 7, 8, 9, 10 and 11 of Decree No. 47 of May 3, 1997 stipulating the compensation for damage caused by State officials and employees or competent persons of judicial bodies. Then, determine the level of compensation for damage caused by individuals or persons competent to temporarily seize the violation material evidence and means, according to Articles 12, 13, 14, 15, 16, 17 and 18 of Decree No. 47/CP.
b/ Persons competent to put people into custody according to the administrative procedures may temporarily seize the violation material evidences and means according to the administrative procedures.
c/ Leaders of the professional working teams may temporarily seize the material evidences and means of administrative violations only in case of flagrans crimen, which will be dispersed or replaced to do away with all traces if the measure of temporary seizure is not applied. But within 24 hours after the temporary seizure, the persons who issued the temporary seizure decisions shall have to report this to their immediate superiors according to the provisions in Article 19 of the amended Decree No. 16/CP and obtain their written consents.
d/ To make the preventive measures against administrative violations timely and effective, the provincial Customs Department directors may authorize heads of the bureaus for Investigation against Smuggling to temporarily seize the material evidences and means of administrative violations on the case-by-case basis. The authorizer and the authorized shall have to take responsibility for their decisions.
3. Body search according to the administrative procedures
a/ The competence and order for body search according to the administrative procedures shall comply with the conditions prescribed in Article 21 of the amended Decree 16/CP.
b/ Customs officers on duty may conduct the body search according to the administrative procedures. Before the search, they must show their customs identity cards to the to be-searched persons; take responsibility before law for their decisions and immediately report such to leaders of their direct managing units.
4. Checking transport means, objects according to the administrative procedures.
a/ Customs officers on duty may check transport means and objects according to the administrative procedures, except for cases of Vietnamese and foreign sea vessels, aircraft and trains operating on international routes, where the decisions of the heads of border-gate customs offices or of equivalent level are required.
b/ The search of transport means and objects of subjects entitled to the diplomatic privileges and immunities as well as consular immunities must comply with the provisions of the international agreements which Vietnam has signed or acceded to and must be decided by the General Director of Customs.
Where there are grounds to confirm that the luggage of persons entitled to the diplomatic privileges and immunities or consular immunities, who are on exit or entry, contain objects not eligible for privileges, or contain objects of the categories banned from export or import or failing to comply with Vietnam’s quarantine regime, the search shall be carried out under decision of the General Director of Customs in the presence of the diplomatic personnel or their authorized representatives.
5. Searching the places where material evidences and means of administrative violations are allegedly concealed.
When deeming it necessary to search the places where material evidences and means of administrative violations are concealed within the customs-controlled areas, the customs authorities shall have to coordinate with the competent bodies to conduct the search according to the provisions in Article 44 of the Ordinance on Handling of Administrative Violations.
V. PROCEDURES FOR SANCTIONING ADMINISTRATIVE VIOLATIONS AND EXECUTING DECISIONS TO SANCTION ADMINISTRATIVE VIOLATIONS
1. When sanctioning an administrative violation in the field of State management over the customs in form of warning or fine of up to 20,000 VNdong, the violation shall not be recorded in minutes, but an on-spot sanction decision shall be issued.
2. Decisions on sanctioning administrative violations may inscribe the effective dates (like the case of sanctioning foreigners in absentia; or cases where, due to temporal or spatial conditions or other reasons, the decision contents cannot be fully executed within 5 days from the date of receiving the sanctioning decision).
3. For cases where the form of fine or fine plus confiscation of violation material evidence and means is applied and past the time-limit for enforcement of the sanctioning decision the involved party deliberately fails to pay the fine, the coercive enforcement shall be organized.
Pursuant to Point c, Clause 3, Article 30 of the Ordinance on Handling of Administrative Violations, the provincial Customs Department directors may apply form of coercive execution of the sanctioning decisions by means of suspending the customs procedures for export/import goods and/or articles and this measure shall be applied only after the coordination with agencies defined in Article 30 of the amended Decree No. 16/CP without applying other coercive measures.
VI. SETTLEMENT OF COMPLAINTS
Upon the receipt of the complaint settlement dossiers, the customs authorities shall have to base themselves on Articles 30, 31, 32, 36, 39, 43 and 46 of the Law on Complaints and Denunciations to consider the complaints in term of the time-limits, the statute of limitations and the competence to settle the complaints and relevant matters in order to decide whether to receive and process the cases or not.
1. Competence to settle complaints:
The persons competent to issue decisions to sanction or decisions to apply preventive measures against customs-related administrative violations shall have to settle first-time complaints.
Heads of the professional bureaus and heads of the border-gate customs offices shall settle second-time complaints about sanctioning decisions of leaders of the professional working teams.
Directors of the provincial Customs Departments or the director of the Department for Investigation against Smuggling shall be competent to settle second-time complaints about sanctioning decisions of the heads of border-gate customs offices, leaders of customs inspection teams, heads of the professional bureaus (in areas where teams are not established) or the decisions of the leader of the Inspection Team of the Department for Investigation against Smuggling.
The General Director of Customs is competent to settle second-time complaints about sanctioning decisions of directors of the provincial Customs Departments and the presidents of the provincial People’s Committees.
The State Inspector General is competent to settle complaints about the General Director of Customs’s decisions on settlement of complaints.
The Minister of Finance is competent to settle complaints about the General Director of Customs’s decisions on sanctions according to tax laws.
2. The time-limits for settling complaints
a/ Within 10 days after the receipt of the complaint documents, the complaint settlers shall have to process them for settlement and notify this in writing to the complainant; and, in case of refusal to process for settlement, to notify this in writing to the complainant, clearly stating the reasons therefor.
The time-limit for settling first-time complaints by competent customs authorities at all levels (complaint settlers) must not exceed 30 days after the receipt and processing for settlement (the date of recording in the processing book and notifying the complainant in writing). For a complicated case, the time limit for settlement of the complaint may be longer but shall not exceed 45 days after the receipt and processing. In deep-lying and remote areas difficult to access, the time-limit for settling the first-time complaint shall not exceed 45 days after the receipt and processing; for complicated cases and matters, such time limit may be longer but shall not exceed 60 days after the receipt and processing thereof for settlement.
In the course of settling complaints, if deeming that the execution of the complained sanctioning decision shall bring about insurmountable consequences, the complaint settler shall have to issue a decision or propose the immediate superior to issue the decision to suspend the execution of the sanctioning decision.
The suspension duration shall not exceed the remaining duration of the time-limit for settlement of the complaint. The suspension decision must be sent to the complainant and persons with involved rights and interests. When the reasons for the suspension are deemed no longer in existence, such suspension decision must be abrogated immediately.
b/ Within 10 days after receiving the complaints under their settling jurisdiction, the settlers of the second- or subsequent-time complaints shall have to receive and process them for settlement and inform the complainants thereof in writing.
The time-limit for settling the second-time or subsequent complaints by the complaint settlers shall not exceed 45 days after the complaints are received and processed for settlement. For complicated matters and cases, the above time-limit may be longer, but must not exceed 60 days. For deep-lying and remote areas which are difficult to access, the time-limit for settling the second- or subsequent-time complaints shall not exceed 60 days after they are received and processed for settlement; for complicated matters and cases, such time-limit may be longer, but must not exceed 70 days after they are received and processed for settlement.
3. The contents of a complaint-settling decision:
When settling complaints about decisions on sanctioning administrative violations, the complaint settlers shall have to base themselves on Article 38 (settlement of first-time complaints), Article 45 (settlement of second-time and subsequent complaints) of the Law on Complaints and Denunciations and the set printed form HC17 to issue decisions on settlement of the complaints.
Where a complainant disagrees with the decision on settling his/her first-time complaint, he/she may further lodge his/her complaint to the immediate superior level of the person who has issued the sanctioning decision or initiate an administrative lawsuit at court according to law.
The provincial Customs Departments and the Department for Investigation against Smuggling shall have to periodically report to the General Department of Customs according to set form on the complaints they have received, processed and settled.
VII. ORGANIZATION OF IMPLEMENTATION
1. The Legal Department of the General Department of Customs shall have to coordinate with concerned Departments and sections of the General Department of Customs in conducting review of decisions on sanctioning customs-related administrative violations and inspecting the observance of laws in the course of sanctioning so as to ensure that the sanctioning of customs-related administrative violations are carried out in accordance with the provisions of law.
2. The directors of the provincial Customs Departments shall organize the strict control of the observance of the principles and orders of sanctioning administrative violations (prescribed in the Ordinance on Handling of Administrative Violations and the Regulation on the Order of Sanctioning Administrative Violations in the Customs Service, promulgated together with Decision No. 97/TCHQ-PC of August 5, 1996 and Official Dispatch No. 2505/TCHQ-PC of August 6, 1996 guiding the implementation of the above Decision) by units under their respective management.
The border-gate units, the inspection teams of the provincial Customs Departments and the professional bureaus shall have to appoint officials to monitor, guide and inspect the sanctioning of administrative violations by professional working teams, and promptly settle complaints about administrative preventive measures and about decisions on sanctioning administrative violations according to the provisions of the amended 16/CP and the guidance in this Circular.
3. For the administrative violations or complaints about administrative violation-sanctioning decisions, which involve complicated circumstances, the Advisory Council for Settlement at all levels shall have to study and scrutinize them so as to propose the General Director of Customs and directors of provincial Customs Departments to promptly and properly issue decisions.
4. Officials monitoring and guiding the implementation of sanctioning of administrative violations must be selected from among officials and personnel, who are well tempered and tested, honest and knowledgeable about laws and professional operations.
5. The collection and payment of administrative violation fines shall comply with the guidance of the Ministry of Finance. The director of the Export/Import Tax Collection Control Department under the General Department of Customs shall have to inspect and guide in detail the collection and payment regime according to the current regulations.
6. Customs officials and personnel competent to sanction or to apply administrative preventive measures or tasked to carry out the sanctioning of customs-related administrative violations, if committing acts of violating the principles and order of sanctioning the administrative violations as prescribed by law or showing the lack of responsibility, harassing or seeking their own benefits, shall be strictly dealt with by law, depending on the seriousness of their violations; if causing material losses to individuals and/or organizations they shall have to compensate therefor according to law.
This Circular takes effect 15 days after its signing, and replaces Circular No. 05/1998/TT-TCHQ of August 29, 1998 and previous legal documents of the General Department of Customs which are contrary to this Circular.ư
 

 
GENERAL DIRECTOR OF CUSTOMS




Phan Van Dinh

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Lược đồ

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.
văn bản TIẾNG ANH
Bản dịch tham khảo
Circular 05/1999/TT-TCHQ DOC (Word)
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao để tải file.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi

19006192

Theo dõi LuatVietnam trên

TẠI ĐÂY

văn bản cùng lĩnh vực
văn bản mới nhất