Thông tư hướng dẫn thực hiện chế độ nâng bậc lương thường xuyên đối với cán bộ, viên chức Nhà nước năm 1987

Thuộc tính Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

THÔNG TƯ

SỐ 10-LĐTBXH/TT NGÀY 24-10-1987 ƯỚNG DẪN THỰC HIỆN
CHẾ ĐỘ NÂNG BẬC LƯƠNG THƯỜNG XUYÊN ĐỚI CÁN BỘ,
VIÊN CHỨC NHÀ NƯỚC NĂM 1987

 

Thi hành Chỉ thị số 297-CT ngày 13-10-1987 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về thực hiện chế độ nâng bậc lương thường xuyên đối với cán bộ, viên chức Nhà nước năm 1987, Bộ Lao động - Thương binh và X hội hướng dẫn cụ thể như sau:

 

I. ĐỐI TƯỢNG

 

Đối tượng nâng bậc lương và điều chỉnh lương là cán bộ, viên chức đã xếp lương theo Nghị định số 235-HĐBT ngày 18-9-1985 của Hội đồng Bộ trưởng, đang công tác trong các cơ quan quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể, các đơn vị sự nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh, từ Trung ương đến huyện, quận, thị xã.

Cán bộ, viên chức còn tạm xếp lương, bảo lưu lương, tập sự, đang học trường lớn tập trung do quỹ đào tạo trả lương thì chưa nâng bậc, chưa điều chỉnh lương.

 

II. TIÊU CHUẨN VÀ ĐIỀU KIỆN VỀ THỜI HẠN ĐỂ XÉT NÂNG BẬC LƯƠNG

 

1. Việc nâng bậc lương cũng phải quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động như việc xếp lương; vì vậy điều trước tiên là nắm vững 3 tiêu chuẩn nâng bậc quy định tại Điều 2 Quyết định số 274-CP ngày 25-7-1979 và được cụ thể hoá trong Thông tư số 3-LĐ/TT ngày 22-1-1980 của Bộ Lao động. Đó là căn cứ quan trọng nhất, chứ không phải cứ đủ 5 năm là đương nhiên nâng bậc như đã làm ở nhiều nơi theo kiểu "đến hẹn lại lên".

Trong việc vận dụng tiêu chuẩn chấp hành pháp luật, chính sách, chế độ, đối với cán bộ, viên chức đã vi phạm sự việc tiêu cực và đã bị xử lý kỷ luật lao động từ khiển trách trở lên dù đủ 5 năm cũng chưa nâng bậc lần này. Trường hợp bị kỷ luật nói trên, nhưng đã được xoá kỷ luật nếu đủ tiêu chuẩn thì được xét nâng bậc lương. Những trường hợp chưa được kết luận, thì thủ trưởng cơ quan căn cứ vào đề nghị của Hội đồng lương cơ quan mà quyết định.

2. Để không gây biến động quan hệ xếp lương trong khi chưa triển khai ứng dụng chức danh tiêu chuẩn nghiệp vụ viên chức kiện toàn tổ chức và tinh giảm biên chế cơ quan hành chính và quản lý sản xuất kinh doanh, năm 1987 vẫn giữ điều kiện thời hạn 5 năm, tính từ lần nâng bậc trước. Cán bộ, viên chức phải đủ 5 năm (60 tháng) mới được xét và nếu bảo đảm cả 3 tiêu chuẩn thì mới nâng bậc.

3. Năm nay Hội đồng Bộ trưởng cho thực hiện nâng bậc sớm (trước 1 hoặc 2 năm) đối với cán bộ, viên chức đã thực sự hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, thể hiện ở kết quả nổi bật, ý chí phấn đấu bền bỉ và tinh thần trách nhiệm cao; không nhất thiết hễ là chiến sĩ thi đua hay lao động tiên tiến liên tục nhiều năm thì đều coi là xuất sắc được nâng bậc sớm.

Chỉ tiêu 5% là tối đa. Những người xuất sắc được xem xét lần lượt, người bậc cũ đủ 4 năm xét trước, đủ 3 năm xét sau, đủ 5% tổng số người trong danh sách thường xuyên năm 1987 thì dừng lại. Nếu có ít người xuất sắc thì dẫu cơ quan có rất nhiều người xếp bậc đã 3 - 4 năm cũng không nâng bậc sớm để cho hết 5%.

 

III. ĐIỀU CHỈNH MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP Đà XẾP LƯƠNG
THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 235-HĐBT NGÀY 18-9-1985

 

Chủ trương cho điều chỉnh một số trường hợp đã xếp lương chức vụ theo Nghị định số 235-HĐBT ngày 18-9-1985 nói tại điểm 3 và điểm 4, Chỉ thị số 297-CT ngày 13-10-1987 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, nhằm tiếp tục điều chỉnh một bộ phận, chủ yếu là đối với một số thang, bậc lương công nhân kỹ thuật và cán bộ khoa học kỹ thuật theo tinh thần Nghị quyết hội nghị trung ương lần thứ hai (khoá VI).

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nói rõ các trường hợp cụ thể như sau:

1. Điều chỉnh bậc lương cho một số cán bộ, viên chức tốt nghiệp trung học đã làm việc nhiều năm trong các ngành khoa học, kỹ thuật, giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, thông tin.

Những cán bộ viên chức này lương cũ có nhiều mức khác nhau, khi ban hành Nghị định số 235-HĐBT phải gộp chung lại một mức để chuyển xếp vào bậc mới, nên người có mức cũ cao hơn bị một phần thiệt thòi. Vì vậy, những anh em này nếu bậc lương xếp trước Nghị định số 235-HĐBT đến nay đã được 3 năm (36 tháng) mà vẫn làm tốt công tác và lương hiện lĩnh vẫn đang tương ứng với bậc cũ chuyển sang thì được nâng lên bậc trên liền kề.

Để không giải quyết tràn lan đồng loạt, các cơ quan, đơn vị chỉ giải quyết đúng từng chức danh, từng trường hợp xếp lương trước đây, như hướng dẫn trong phụ lục 1 kèm theo thông tư này. Nếu bậc lương hiện xếp không quá bất hợp lý thì chưa điều chỉnh.

2. Trường hợp cán bộ lãnh đạo đã xếp dồn vào bậc 1 mới và cán bộ khoa học, kỹ thuật 1 bậc cũ xếp vào 1 trong 2 bậc mới, nói ở điểm 4 Chỉ thị số 297-CT ngày 13-10-1987 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đây là tiếp tục thực hiện việc xếp lương theo Thông tư số 16-LĐ/TT ngày 7-11-1985 của Bộ Lao động, những người bậc cũ xếp đã đủ 3 năm (36 tháng) và kết quả công tác tốt thì xếp bậc trên của 2 bậc mới tương ứng.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nói rõ thêm về một số đối tượng cụ thể:

a) Đối với cán bộ lãnh đạo cùng một chức vụ có nhiều bậc cũ xếp chung bậc 1 mới thì chỉ xét điều chỉnh lên bậc 2 cho người có bậc cũ cao nhất trong số đã cùng xếp bậc 1 mới, vì trong số người bị dồn bậc thì chỉ duy nhất người ấy giữ chức vụ lâu hơn, bất hợp lý hơn.

b) Những cán bộ trực tiếp làm công tác khoa học, kỹ thuật, giáo dục, y tế, văn hoá, thông tin phần lớn là cán bộ trình độ đại học mà lương mới đã xếp bậc dưới của 2 bậc tương ứng theo hướng dẫn ở mục C, điểm 1 của Thông tư số 16-LĐ/TT ngày 7-11-1985 của Bộ Lao động, nếu năm 1987 bậc cũ đã xếp đủ 3 năm, công tác làm tốt, thì nâng lên bậc trên liền kề của 2 bậc mới ấy.

Các cơ quan đơn vị căn cứ vào bản phụ lục kèm theo Thông tư số 16-LĐ/TT nói trên của Bộ Lao động để giải quyết đúng từng trường hợp đã quy định.

Đối với những cán bộ, viên chức tuy có mức lương cũ tương tự nhưng lại làm công tác chính trị, kinh tế..., đang hưởng lương chuyên viên, cán sự, nhân viên thì không thuộc diện điều chỉnh theo trường hợp b này.

3. Hai trường hợp nói tại điểm 1 và 2-b trên đây không áp dụng đối với cán bộ làm công tác nghiệp vụ quản lý (quản lý khoa học, quản lý kỹ thuật, quản lý giáo dục...) trước kia hưởng lương kỹ sư, bác sĩ, giáo viên, giảng viên đại học từ tháng 9-1985 đã xếp chuyên viên, cán sự theo bảng lương chính trị, kinh tế D1-4 như đã hướng dẫn tại Thông tư số 16-LĐ/TT của Bộ Lao động, vì không trực tiếp làm công tác khoa học, kỹ thuật, giáo dục, y tế...

 

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

 

1. Về mốc thời gian để tính điều kiện nâng bậc lương, căn cứ vào mục IV của Thông tư số 14-LĐ/TT ngày 11-10-1986 của Bộ Lao động hướng dẫn nâng bậc lương năm 1986 để xem xét từng loại bậc lương đã hình thành do nâng bậc, điều chỉnh trước tháng 9-1985.

2. Chỉ thị số 297-CT ngày 13-10-1987 thực hiện cùng lúc với việc tính lại lương theo Quyết định số 147-HĐBT ngày 22-9-1987 trong khi giá, lương, tiền, hàng và ngân sách có nhiều khó khăn và diễn biến không bình thường. Vì vậy, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội yêu cầu các ngành, các địa phương phổ biến chỉ thị của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và thông tư hướng dẫn này cho toàn thể công nhân viên chức trong cơ quan, đơn vị nắm được nội dung quy định, thực hiện "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra". Bảo đảm sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng theo chức năng quy định, cơ quan chính quyền phối hợp với công đoàn, đoàn thanh niên để giúp thủ trưởng chuyên môn quyết định đúng đắn.

3. Giám đốc các Sở Lao động - Thương binh và xã hội cùng với Ban Tổ chức tỉnh uỷ và Ban tổ chức chính quyền phối hợp với Sở Tài chính, Ngân hàng, Uỷ ban Thanh tra, Liên hiệp Công đoàn để giúp Uỷ ban Nhân dân chỉ đạo tốt, uốn nắn và xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm. Đề nghị Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Tổng Công đoàn Việt Nam, Uỷ ban Thanh tra Nhà nước cùng phối hợp để giúp các ngành ở Trung ương và địa phương thực hiện tốt và có kết quả, đồng thời kiểm tra chặt chẽ để phát hiện và sửa ngay các trường hợp làm sai.

4. Cán bộ, viên chức được nâng bậc, điều chỉnh bậc lương đều hưởng lương mới từ ngày 1-10-1987 trở đi, tuỳ theo ngày tháng ký quyết định.

5. Trường hợp giải quyết lương cán bộ lãnh đạo lên 668 đồng và cán bộ kỹ thuật, nghiệp vụ lên 644 đồng, các ngành, các địa phương làm việc với các Ban của Đảng ở Trung ương theo phân cấp hiện hành của Ban Bí thư.

Chỉ thị số 297-CT chỉ thi hành đến ngày 31-12-1987 là kết thúc; còn trường hợp nào không dứt điểm được thì sẽ xem xét vào năm 1988 khi có chủ trương.

 

PHỤ LỤC 1:

(Kèm theo Thông tư số 10-LĐTBXH/TT ngày 24-10-1987
của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội)

 

Các đối tượng sau đây nếu mức lương cũ đủ 3 năm (36 tháng) hoàn thành tốt nhiệm vụ và bảo đảm quan hệ tiền lương hợp lý trong nội bộ cơ quan thì được điều chỉnh bậc lương như sau:

ĐỐI TƯỢNG

Mức lương hiện hưởng

Mức lương hiệu chỉnh

 

Lương cũ

Lương mới đã xếp

 

1. Kỹ thuật viên

57-59

66-68

77-80

88-92

100-104

272

290

310

333

359

290

310

333

359

Bậc cũ đủ 5 năm được phụ cấp thâm niên vượt khung

2. Kỹ sư

85-88

333

359

3. Y sĩ, dược sĩ, y tá, dược tá, nữ hộ sinh tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp

58-61-64

68-71-74

78-82-86

272

290

310

290

310

333

4. Bác sĩ, dược sĩ đại học

85-87-90

333

359

5. Giáo viên phổ thông đã tốt nghiệp trung học sư phạm

59

68

80

92

104

272

290

310

333

359

290

310

333

359

Bậc cũ đủ 5 năm được phụ cấp thâm niên vượt khung

6. Cô nuôi dạy trẻ đã tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp

58

68

78

272

290

310

290

310

333

7. Diễn viên nghệ thuật

56-59-61

68-71-73

78-81-83

89-92-94

130-133-136

272

290

310

333

463

290

310

333

359

505

8. Phát thanh viên đài phát thanh và truyền hình

78

89

310

333

333

359

 

 

Thuộc tính văn bản
Thông tư hướng dẫn thực hiện chế độ nâng bậc lương thường xuyên đối với cán bộ, viên chức Nhà nước năm 1987
Cơ quan ban hành: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Số công báo: Đang cập nhật
Số hiệu: 10-LĐTBXH/TT Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Thông tư Người ký: Nguyễn Kỳ Cẩm
Ngày ban hành: 24/10/1987 Ngày hết hiệu lực: Đang cập nhật
Áp dụng: Đang cập nhật Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực:
Tóm tắt văn bản
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE MINISTRY OF LABOR, WAR INVALIDS AND SOCIAL AFFAIRS
-------
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence
- Freedom – Happiness
---------
No: 10-LDTBXH/TT
Hanoi, April 19, 1995

 CIRCULAR
GUIDING THE IMPLEMENTATION OF A NUMBER OF ARTICLES OF DECREE No.197-CP OF THE GOVERNMENT ON WAGES
In execution of Decree No.197-CP on the 31st of December 1994 of the Government providing details and guidance for the implementation of a number of articles of the Labor Code on wages, after consulting with a number of concerned ministries and branches, the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs provides the following guidance for the application of a number of articles on wages :
I. OBJECTS AND SCOPE OF REGULATION:
1. The objects and scope of the regulation on wages are the objects and scope defined in Items 1, 2, 3, 4 of Article 1 of Decree No.197-CP.
2. The objects and scope of non regulation are the subjects and scope defined in Items 5 and 6 of Article 1, and Article 2 of Decree No.197-CP.
II. SYSTEM OF WAGE SCALES AND WAGE BRACKETS:
1. The system of wage scales, wage brackets and wage subsidies stipulated in Item 1, Article 4 of Decree No.197-CP, concerning the enterprises, business and service organizations, public service and economic units operating according to the system of accountancy and accounting in the State economic sector, shall apply the provisions in Decree No.26-CP on the 23rd of May 1993 of the Government providing for a provisional system of new wages in the enterprises, and the following guiding circulars:
- The inter-ministerial Circular No.5-LB/TT on the 4th of February 1994 of the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs, the Government Commission on Organization and Personnel and the Ministry of Finance, guiding the temporary payment of wages to the persons in active service in Party agencies, mass and social organizations, the armed forces and enterprises;
- The inter-ministerial Circular No.12-LB/TT on the 2nd of June 1993 of the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs, and the Ministry of Finance, guiding the conversion of the old wages to the new wages among the workers and personnel in the enterprises;
- The Inter-ministerial Circular No.20-LB/TT on the 2nd of June 1993 of the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs, and the Ministry of Finance guiding the management of wages and bonuses in the enterprises;
- The inter-ministerial Circular No.21-LB/TT on the 17th of June 1993 of the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs, and the Ministry of Finance, guiding the classification of enterprises, and the criteria for classification of the enterprises of the ministries and branches issued in line with Circular No.21-LB/TT;
- The inter-ministerial Circular No.28-LB/TT on the 2nd of December 1993 of the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs, and the Ministry of Finance, providing supplementary guidance for the implementation of the new wage system concerning the workers and personnel in the enterprises;
- Circular No.15-LDTBXH/TT on the 2nd of June 1993 of the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs, guiding the implementation of the regime of area allowances;
- Circular No.16-LDTBXH/TT on the 2nd of June 1993 of the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs, guiding the implementation of the regime of incentive allowances.
- Circular No.17-LDTBXH on the 2nd of July 1993 of the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs guiding the implementation of the responsibility allowances;
- Circular No.19-LDTBXH/TT on the 2nd of July 1993 of the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs, guiding the implementation of the regime of the traveling allowances;
- Circular No.23-LDTBXH/TT on the 7th of July 1993 of the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs, guiding the implementation of the regime of noxiousness and danger allowances;
- The inter-ministerial Circular No.24-LB/TT on the 13th of July 1993 of the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs, the Ministry of Finance, and the General Statistics Department guiding the implementation of the regime of dearness allowances;
- Circular No.29-LDTBXH/TT on the 9th of December 1993 of the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs, providing supplements to the regime of area allowances.
2. The wage regime in the enterprises, production, business and service organizations belonging to other economic sectors employing 10 and more laborers as stipulated in Item 2, Article 4 of Decree No.197-CP, shall be implemented as follows:
a/ With regard to the enterprises, which have a stable production and business and a level of production equipment and management equivalent to the State enterprises and which are making profits in production and business, shall apply the system of wage scales, wage brackets and wage subsidies of the State for the corresponding branches and occupations.
The State encourages all enterprises to work out and apply a system of wage scales, wage brackets and wage subsidies higher and more beneficial to the laborers.
b/ With regard to the enterprises which are meeting with difficulties in production and business, or which still have a low level of equipment and management, or which are still using a large labor force with low professional and technical skills, they are allowed to work out for themselves their wage scales and wage brackets. However, the lowest wage should not be lower than the minimum wage prescribed by the State. The elaboration of the wage scales and wage brackets must be done in consultation with the local organization of the trade union and recorded in the collective labor accord.
c/ With regard to the laborers who work under seasonal contracts or for specific jobs which require less than three months, or who work in places employing less than 10 laborers, or with regard to houseworkers, the employer shall have to pay, in addition to the wage mutually agreed upon on the principle stipulated in Points a and b, an extra sum equal to at least 17% of the agreed wage, so that the laborer may look after his/her own insurance.
III. REGIME OF PAYMENT OF WAGES AND BONUSES
1. Basing himself on the form of wage payment stipulated in Article 5 of Decree No.197-CP, the employer may choose the form of wage payment, or change the form of payment, to make it conform to the conditions and character of the work and the production organization of the enterprise. But this choice or this change must be written down in the collective labor accord or the labor contract.
2. Payment for overtime work under Items 1 and 2 of Article 8 of Decree 197-CP shall be carried out as follows :
a/ Subjects : This form applies to all categories of subjects, except those who are paid according to the quota-based contracts, piece work or without stable time schedule, such as on the land transport means (including cars), or on water, sea and air routes, or who are paid to buy marine, agricultural products and foods for the State...
b/ Method of calculation of overtime work pay :
- Pay for time-work :
+ 150% of hourly pay of a normal work day, applied to overtime work on normal days.
+ 200% of hourly pay of a normal day applied to the overtime work on weekly rest days or holidays.
In case the laborer is allowed to take his/her time off to compensate for the overtime hours, the employer shall have to pay only the difference representing 50% of the hourly pay of a normal workday if the overtime work takes place in normal days, and 100% if it takes place on the weekly rest days or holidays.
Example 1: The laborer working in standard hours is paid 3,000 VND/hour (including wage and wage subsidies). If he/she works overtime on normal days, he/she is paid 4,500 VND/hour (3,000 VND x 150%). But if he/she has taken his/her time off for compensation, he/she shall be paid only 1,500 VND/hour (4,500 VND/hour - 3,000 VND/hour).
If he/she works overtime on the weekly rest days or holidays, he/she is paid 6,000 VND/hour (3,000 VND x 200%). If he/she takes his time off in compensation, he/she shall be paid only 3,000 VND/hour (6,000 VND/hour - 3,000 VND/hour).
- With regard to the laborer working on a quota basis, after fulfilling his/her norm concerning the volume and quantity of products based on standard hour (the standard hour is defined in Article 3 of Decree No.195-CP), if the employer requires overtime work, the unit price of the product produced outside the standard time shall be increased by 50% if the products are made on normal days, and 100% if the products are made on the weekly rest days or the holidays.
Example 2: The wage unit price of Product A is 1,000 VND/product. In case of overtime work:
- The wage unit price shall be 1,500 VND/product, if the product is made on normal days;
- The wage unit price shall be 2,000 VND/product, if the product is made on the weekly rest days or holidays.
3. The laborer on night shifts under Item 3, Article 8 of Decree No.197-CP shall be paid as follows:
a/ Level of pay:
- The lowest level is 35% of the daytime wage, if the laborer works on night shifts for eight days and more consecutively in a month, irrespective of the form of wage payment.
- The lowest level is 30% of the daytime pay, applied to all other night work, irrespective of the form of wage payment.
b/ Method of calculating extra pay for night work:
- With regard to the laborers who are paid for time-work:
  Example 3 : During day-time work, the laborer is paid 2,000 VND/hour (including wage and wage subsidies). If the enterprise organizes night work for less than eight consecutive days in a month, the hourly pay during the night shift is:
2,000 VND/hour + (2,000 VND/hour x 30%) = 2,600 VND/hour
- For the laborers who are paid according to piecework or who receive package pay, if they work in night shifts, the wage unit price shall be increased by at least 30% or 35% over that for daytime work.
Example 4 : Wage unit price on normal days (daytime) of product B is 1,000 VND per unit.
The extra pay per unit for night shifts is:
1,000 VND/unit x 30% = 300 VND/product.
The wage unit price of product B during the night shifts is:
1,000 VND + 300 VND = 1,300 VND/product.
For overtime work during night shifts, the hourly pay is the hourly pay for overtime work in daytime plus extra pay for nightshift work.
Example 5 : The laborer doing overtime work in daytime is paid 4,500 VND/hour (3,000 VND/hour x 150%). If he/she works on night shifts (for the enterprises which organize night shifts for less than eight consecutive days in a month), he/she shall be paid :
4,500 VND/hour + (3,000 VND/hour x 30%) = 5,400 VND/hour
Example 6 : The wage unit of overtime work in daytime of product D is 1,500 VND/product. If the overtime work is done in night shifts, the wage unit shall be:
1,500 VND/product + (1,000 VND/product x 30%) = 1,800 VND/product.
4. The deduction of bonuses from the remaining profits under Article 9 of Decree No.197-CP, shall be effected as follows:
a/ With regard to the enterprises, business and service organizations in the State economic sector:
- Persons eligible for bonuses:
+ Laborers who have worked at the enterprise for one year and longer.
+ Having contributed to the results of production and business of the enterprise.
- Bonus level:
+ For the laborers who have signed labor contracts, the bonus shall not exceed six months' wage agreed in the labor contract.
+ For the workers and employees in the permanent force of the enterprise, who have changed to the labor contract without specification of the term of the contract as stipulated in Decree No.198-CP on the 31st of December 1994 of the Government, the maximum bonus shall not exceed six months' wage according to grade and position or the position allowance, which they are receiving in the system of wage scales and brackets defined by the State in Decree No.26-CP on the 23rd of May 1993 of the Government.
- Bonus regime : The enterprise must work out its bonus regime on the following bases :
+ The efficiency of the laborers' contribution to the enterprise, reflected in the productivity and quality of their work.
+ The time during which the laborers work at the enterprise, those who work longer shall receive larger bonuses.
+ The observance of the regulations and discipline of the enterprise by the laborers.
This bonus regime must be done in consultation with the Executive Committee of the local trade union organization, or the representative of the laborers' collective where no trade union has been founded.
b/ With regard to the private enterprises:
The lowest bonus must represent 10% of the remaining profit of the enterprise. The method of determining the remaining profit of the private enterprise shall be defined by the Ministry of Finance.
The enterprise must elaborate its bonus regime just as in a State-owned enterprise according to Point a in order to pay bonus to its laborers. This regime must be worked out in consultation with the local trade union, or the representative of the laborers' collective where no trade union has been founded.
5. Wage payment during work stoppage under Item 3 of Article 12 of Decree No.197-CP shall be effected as follows:
During a workshift, if the work is stopped for two hours and more, the wage shall be paid for every hour of the stoppage. If the stoppage lasts until the end of the shift, the laborer shall be paid for the whole shift. If the stoppage lasts until the end of a week or a month, he/she will receive his/her weekly or monthly pay for the whole of that week or that month. The wage level paid for work stoppages shall comply with Article 14 of Decree No.197-CP.
IV. OTHER STIPULATIONS
1. The elderly laborers under Article 18 of Decree No.197-CP shall be allowed to work for shorter periods of time while receiving full pay, under these stipulations:
- If he/she is a wage earner by time (day, week or month), he/she shall be paid fully (100%) his/her daily, weekly and monthly wage.
- If he/she receives product pay or package pay, he/she can accept only 50% of the volume of products under contract. If he/she fulfils 50% of the assigned norm, he/she shall receive the same salary as a person (who is not an elderly laborer) who has fulfilled 100% of the norm.
2. The laborers, having a high professional and technical level under Article 20 of Decree No.197-CP, shall receive their wages according to the wage bracket B19- specialist and artisan. The high-level specialists, the high-level economists and high-level engineers shall receive their wages, according to the wage bracket of the specialized, professional and executive labor serving in the enterprises issued together with Decree No.26-CP on the 23rd of May 1993 of the Government.
On the basis of the above wage brackets, the enterprise shall base itself on the effeciciency to determine the income corresponding to the result of the labor of each person.
3. The laborer, who is a Vietnamese citizen working abroad defined in Article 21 of Decree No.197-CP, shall be paid part of his wage in foreign currency or the equivalent in Vietnamese Dong, according to the following regulations:
a/ The pay in foreign currency comprises expenditures on food, clothing and pocket money for the person concerned, in order to ensure the normal living and working conditions for the laborer during his/her working stay abroad.
b/ Principle for calculating the part of the wage in foreign currencies:
- Based on the local cost of living (food, clothing and pocket money for the person working abroad).
- The length of his/her working period abroad.
- The amount of calories spent on the work assigned.
c/ The part of the wage to be paid in foreign currency shall also depend on the concrete wage level of each category of labor, but in any case it must not exceed 60% of the wage level written in the labor contract.
V. IMPLEMENTATION PROVISION
This Circular takes effect on the 1st of January 1995. All the earlier provisions which are contrary to this Circular are now annulled.
In the process of implementation, if any question arises, the ministries, branches and localities are requested to inform the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs for settlement.
 

 
THE MINISTER OF LABOR,
WAR INVALIDS AND SOCIAL AFFAIRS




Tran Dinh Hoan

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Văn bản này chưa có chỉ dẫn thay đổi
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!