Bản án số 1273/2026/DS-PT ngày 09/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1273/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1273/2026/DS-PT ngày 09/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1273/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn giao đất theo hợp đồng đã ký kết.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1273/2026/DS-PT Bản án số 1273/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1273/2026/DS-PT Bản án số 1273/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 1273/2026/DS-PT
Ngày: 09/9/2026
V/v “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tuyết Mai.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Toàn.
Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan.
- Thư phiên tòa: Đặng Thị Ngọt Thư Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Ông Sơn Cươl - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18 tháng 08 09 tháng 9 năm 2026 tại Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 573/2026/TLPT-
DS ngày 01 tháng 4 năm 2026 về “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất và quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự thẩm số 221/2025/DS-
ST ngày 31 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Cần Thơ bị
kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 645/2026/QĐ-PT ngày
15 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1981.
Địa chỉ: A Lê Hồng P, tổ E, khu V, phường T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Huỳnh A, sinh năm 2002. Địa
chỉ: Số A, đường L, phường T, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn:
1. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1960.
Địa chỉ: A khu V, phường T, thành phố Cần Thơ.
2. Ông Bùi Thanh H, sinh năm 1970.
Địa chỉ: 8 khu V, phường T, thành phố Cần T.
2
3. Bà Trương Thị Lệ T, sinh năm 1988.
Địa chỉ: A khu V, phường T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H1, sinh
năm 1962 và bà Phương T1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số B đường C, phường
T, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trương Ngọc H2, sinh năm 1979.
Địa chỉ: A khu V, phường T, thành phố Cần Thơ.
2. Ngân hàng TMCP B2.
Địa chỉ Phòng giao dịch: H N, phường C, thành phố Cần Thơ.
3. Ông Nguyễn Văn N.
Địa chỉ: H N, khu V, phường T, thành phố Cần Thơ.
4. Chi nhánh Văn phòng Đ- Cần Thơ
Địa chỉ: A N, phường B, thành phố Cần Thơ.
Người kháng cáo: Nguyên đơn Nguyễn Ngọc L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo Đơn khởi kiện B tự khai ngày 29/11/2023, các tài liệu chứng cứ
khác trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc L trình bày:
Tháng 12/2016, nhận chuyển nhượng của Nguyễn Thị S Trương
Thị Lệ T 03 thửa đất gồm
Thửa số 57, tờ bản đồ số 32, diện tích 169,9m2
Thửa đất số 561, tờ bản đồ số 32, diện tích 552,3m2
Thửa đất số 562, tờ bản đồ số 32, diện tích 210,4m2
Các thửa đất liền kề nhau và cùng tọa lạc tại khu vực 2, phường T, quận B,
thành phố Cần Thơ (nay là phường T, thành phố Cần Thơ), bà được Ủy ban nhân
dân quận B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 561, 562 vào
ngày 27/4/2017 và chỉnh sang tên đối với thửa 57 vào 16/01/2017. Quá trình
sử dụng đất đến năm 2023 khi đi làm thủ tục nhập thửa, qua đo đạc lại thì bà phát
hiện các thửa đất đã chuyển nhượng trên không đúng vị trí và không đủ diện tích
theo thỏa thuận, ranh giới các thửa đất đều bị lệch, ngoài chuyển nhượng
cho bà các thửa đất này, bà S còn chuyển nhượng cho ông Bùi Thanh H thửa đất
liền kề với thửa 562 của (thửa của ông H thửa 107, tờ bản đồ số 32). Qua
việc đi làm thủ tục hợp thửa thì bà được quan có thẩm quyền cho biết hiện vị
trí thửa 107 ông H đang sử dụng thửa 562 của bà. Khi phát hiện vấn đtrên,
3
sang nói chuyện với ông H, S, T đyêu cầu được giao đúng vtrí,
diện tích đất, đồng thời yêu cầu ông H không được lấn chiếm sang thửa đất số 562
của bà, nhưng S và ông H không đồng ý. Do vậy khởi kiện yêu cầu
Nguyễn Thị S, ông Bùi Thanh H và Trương Thị Lệ T phải liên đới giao cho
đúng vị trí, diện tích của thửa 562, tờ bản đồ số 32 nêu trên.
- Bị đơn Nguyễn Thị S, Trương Thị Lệ T (con bà S) thống nhất trình
bày tại bản tự khai ngày 19/12/2023, ngày 01/8/2023, ngày 18/12/2023, ngày
28/03/2023 các tài liệu chứng cứ khác trong quá trình giải quyết vụ án như
sau: Phần đất mà gia đình bà chuyển nhượng cho L nguồn gốc do ông
để lại, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình sử dụng đất,
gia đình nhận chuyển nhượng thêm một số diện tích đất từ những người họ
hàng trong gia đình nhưng chưa kịp hợp vào với thửa đất lớn sẵn có.
Với diện tích đất đã chuyển nhượng cho L chỉ có thửa đất số 57, diện tích
169m2 do ông Trương Ngọc B1 (chồng bà S, chết năm 2018) và bà Nguyễn Thị
S ký chuyển nhượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng. Hai thửa đất
còn lại do Trương Thị Lệ T chuyển nhượng là đất được cắt ra từ thửa đất gốc
107. Vì vậy khi chuyển nhượng cho L, hai bên thống nhất chuyển nhượng
theo sự chỉ của bà L và gia đình bà giao đủ đất chuyển nhượng theo sự chỉ thống
nhất đó. Trong diện tích đất chuyển nhượng này, một phần diện tích không
nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho T, do đây phần đất
S nhận chuyển nhượng từ Trương Thị O (em chồng) 84m2 đất bằng giấy
tay. Năm 2022 bà O chuyển nhượng diện tích còn lại của O, O chuyển
nhượng cho ông Nguyễn Văn N, có tiến hành đo đạc theo diện tích thực tế để trả
tiền, ông N cũng chấp nhận phần giấy tay mà bà L đang sử dụng, không có tranh
chấp, bởi thực tế đã có rào ngăn cách.
Sau khi thống nhất diện tích, vtrí mua trên thực tế, L tự thuê công ty Đ1,
làm giấy chứng nhận sau khi cắt từ diện tích tổng của gia đình bà, gia đình bà có
đưa luôn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính cho bà L để bà L làm thủ
tục.
Sau khi nhận đất, L đã quản sử dụng ổn định: xây nhà, xây rào chắn
kiên cố xung quanh, không tranh chấp tđó đến nay. Nay lại cho rằng gia đình
giao thiếu đất thì gia đình không đồng ý. Ngoài ra, vthời hiệu khởi kiện
đối với hợp đồng chuyển nhượng ký với bà L cũng đã hết, gia đình bà không còn
trách nhiệm gì với bà L, do vậy không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
bà L.
- Theo các tài liệu chứng cứ khác trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn
4
ông Bùi Thanh H trình bày: Ông nhận chuyển nhượng phần đất diện tích 231,7m2,
thuộc thửa 107, tờ bản đồ số 32 từ ông Trương Ngọc H2 và được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đối với thưả đất này vào năm 2020. Hiện trạng khi ông
nhận chuyển nhượng thửa 107 đất trống, thửa giáp ranh của L thì đã tường
rào kiên cố xung quanh phần đất của L. L cũng đồng ý giáp ranh khi ông
làm giấy tờ. Ông nhận đất sử dụng n định từ khi chuyển nhượng đến nay, đã xây
dựng nhà ở, do vậy việc L cho rằng ông lấn chiếm đất của L không
căn cứ, ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông Trương Ngọc H2 trình bày tại bản tự khai: Thống nhất với lời trình
bày của mẹ là S và em gáiT. Gia đình ông bán đất theo diện tích thực
tế, không phải theo theo thửa, sau khi nhận chuyển nhượng thì L đã trào
chắn sử dụng ổn định, nên không sở đcho rằng gia đình ông giao
thiếu đất. Ông có đơn yêu cầu được vắng mặt trong quá trình tòa giải quyết vụ
án.
Ông Nguyễn Văn N trình bày tại bản tự khai: Ông nhận chuyển nhượng
thửa đất số 40 từ bà Trương Thị O, khi nhận chuyển nhượng thì ranh giới thửa
đất đã được rào chắn bằng tường gạch chắc chắn. Ông không tranh chấp gì đối
với diện tích L đang quản sử dụng. Xét thấy hiện không liên quan đến việc
tranh chấp giữa nguyên đơn bị đơn nên xin được vắng mặt trong quá trình
Tòa giải quyết vụ án.
Ngân hàng TMCP B2 Chi nhánh C P1 trình bày: Ông Bùi Thanh H
và bà Lê Ngọc N1 hiện đang thế chấp phần đất thuộc thửa 107, tờ bản đồ số 32
theo GCNQSD đất số CS06995 tại Ngân hàng B2 để vay vốn, hợp đồng tín dụng
ngày 11/01/2021. Theo ý kiến của Ngân hàng thì thửa đất của ông H thửa
đất mà nguyên đơn đang tranh chấp 02 thửa đất khác nhau. Thửa đất của ông
H đã có giấy chứng nhận riêng và việc thế chấp phù hợp với quy định của pháp
luật, hiện ông H, bà N1 thực hiện hợp đồng tín dụng đúng quy định, không
vi phạm. Do vậy đề nghị xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật
không làm thiệt hại đến quyền lợi của Ngân hàng.
Đại diện Chi nhánh Văn phòng Đ Cần Thơ trình bày: Về trình tự thủ tục
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất đang tranh chấp
trong vụ án đúng quy định, không bị cấp chồng lấn. Việc tách thửa căn cứ
vào bản đồ địa chính, đối với những trường hợp đã có ranh mốc và yêu cầu đo
đạc thì cơ quan chuyên môn sẽ tiến hành đo đạc, còn đối với những trường hợp
xác định tự bàn giao thì sẽ do các bên tự thực hiện. Trường hợp cụ thể của
5
nguyên đơn bị đơn trong vụ án này thì Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện việc
tách thửa dựa vào bản đồ địa chính, các đương sự xác định tự thống nhất
ranh mốc.
- Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên Toà án nhân dân Khu vực 2
- Cần Thơ đưa ván ra xét xử, tại bản án thẩm s221/2025/DS-ST ngày 31
tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Cần Thơ đã tuyên như sau:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Bùi
Thanh H liên đới với Nguyễn Thị S, Trương Thị Lệ T giao trả thửa đất số
562, tờ bản đồ số 32, tọa lạc tại khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ
(nay là phường T, thành phố Cần Thơ) - phần đất tại vị trí A của bản trích đo địa
chính số 374/VPĐKĐĐ do Văn phòng đăng đất đai thành phố Đ lập ngày
24/6/2024.
Công nhận cho Nguyễn Ngọc L được quyền quản sử dụng diện tích
tổng cộng 856,6m2 tại các thửa 57, 561 tờ bản đồ số 32, tọa lạc tại khu V, phường
T, quận B, thành phố Cần Thơ (nay phường T, thành phố Cần Thơ), theo
GCNQSD đất số H 03169/TN cấp ngày 19/10/2007, chỉnh sang tên bà Nguyễn
Ngọc L ngày 16/01/2017 và GCNQSD đất số CS04782 cấp ngày 09/12/2017. Và
88m2 tại vị trí B của Bản trích đo địa chính số 374/VPĐKĐĐ do Văn phòng đăng
ký đất đai thành phố Đ lập ngày 24/6/2024.
Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh lại diện tích, vị trí các thửa đất
nêu trên cho đúng với diện tích, vị trí thực tế.
Nguyễn Ngọc L được quyền liên hệ quan thẩm quyền để làm thủ
tục chỉnh lý, hợp các diện tích đất nêu trên theo quy định.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo
quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án thẩm, nguyên đơn đơn kháng cáo đối với bản
án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà T, S và ông H giao cho nguyên đơn thửa
đất 562 tại vị trí A theo Bản trích đo địa chính số 374/VPĐKĐĐ ngày 11/7/2024
của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ. Yêu cầu S giao cho nguyên đơn
được quyền sử dụng đất tại vị trí B của Bản trích đo địa chính số 374/VPĐKĐĐ
ngày 11/7/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ. Nguyên đơn đồng ý
trả gtrị quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất nhiều hơn so với hợp đồng
6
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn với bà S và bà T là 137,3m
2
,
nguyên đơn đồng ý trả giá trị quyền sử dụng đất 6.000.000 đồng/m
2
.
Các bị đơn bà T, bà S và ông H đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn.
Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP B2 cho rằng nếu thửa đất bàn
giao giữa các bên không ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng thì Ngân hàng
đồng ý sự thỏa thuận của các đương sự.
Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã
tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ đến khi
xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng. Đơn kháng
cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem là hợp lệ về mặt hình thức.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thỏa thuận được
với nhau về việc giải quyết vụ án cụ thể như sau: Bị đơn T, S ông H đồng
ý giao cho nguyên đơn thửa đất 562 tại vị trí A, S giao cho nguyên đơn được
quyền sử dụng đất tại vị trí B của Bản trích đo địa chính số 374/VPĐKĐĐ ngày
11/7/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ. Các bên đương sự thống
nhất phần đất ra so với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
nguyên đơn vớiS và bà T là 137,3m
2
, nguyên đơn đồng ý trả giá trị quyền sử
dụng đất 6.000.000 đồng/m
2
. Như vậy, nguyên đơn được quyền liên hệ quan
thẩm quyền thực hiện thủ tục đăng biến động đất, nhập thửa đất tại các vị
trí A, B, thửa 57 và thửa 561 theo Bản trích đo địa chính số 374/VPĐKĐĐ ngày
11/7/2024 của Văn phòng đăng đất đai thành phố Đ theo quy định của pháp
luật. Xét thấy, các đương sự thỏa thuận là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp
luật, không trái với đạo đức hội. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300,
khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa Bản án thẩm theo hướng công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phúc thẩm; Căn cứ vào kết
quả tranh luận trên sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên
những người tham gia tố tụng khác.
[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bà T và ông
H giao thửa đất ông H đang quản cho nguyên đơn thửa đất này nguyên
đơn T đã hợp đồng chuyển nhượng vào ngày 30/3/2017, phía bị đơn
không đồng ý nên cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp quyền sử dụng đất là phù hợp.
7
[2] Sau khi xét xử thẩm, phía nguyên đơn đơn kháng cáo trong thời
hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[3] Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, sở xác định các
thửa đất số 57, 561, 562, tờ bản đồ số 32 có nguồn gốc từ quyền sử dụng đất của
ông Trương Ngọc B1 và bà Nguyễn Thị S. Đối với thửa đất số 57, ông B1 và bà
S được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 1.426m². Sau khi
Nhà nước thu hồi một phần diện tích, phần diện tích còn lại được ông B1, S
chuyển nhượng cho Nguyễn Ngọc L. Ngày 30/12/2016, ông B1 S hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà L toàn bộ diện ch còn lại của
thửa 57. Đến ngày 16/01/2017, L được chỉnh biến động sang tên đối với
thửa đất này. Đối với thửa đất số 107, ông B1 và bà S được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 00917 ngày 03/10/2003, diện tích 1.481,5m². m 2015,
ông B1bà S lập hợp đồng tặng cho toàn bộ thửa đất này cho con là Trương
Thị Lệ T. T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/4/2016.
Sau khi Nhà nước thu hồi 95,3m², diện tích còn lại của thửa 107 1.386,2m².
Trong quá trình quản lý, sử dụng phần đất nêu trên, T đã chuyển nhượng một
phần diện tích cho Nguyễn Ngọc L. Cụ thể, ngày 30/12/2016, T ký hợp
đồng chuyển nhượng cho bà L diện tích 552,3m², sau đó phần diện tích này được
chỉnh lý biến động sang tên bà L ngày 16/01/2017 và được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CS04782 ngày 09/02/2017, mang số thửa 561. Tiếp đó, ngày
30/3/2017, T tiếp tục hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà L
diện tích 210,4m². Phần diện tích này được xác lập thành thửa đất số 562 và bà L
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05185 ngày 27/4/2017. Đối
với phần diện tích còn lại của thửa đất số 107, ngày 24/10/2018, T lập hợp
đồng tặng cho anh ruột là ông Trương Ngọc H2 diện tích 614,2m². Ông H2 được
chỉnh biến động cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ cấp
GCN CS05803 ngày 20/11/2018. Sau đó, ngày 22/10/2020, ông H2 chuyển
nhượng cho ông Bùi Thanh H diện ch 221,7m². Ông H được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số CS06995 ngày 02/12/2020 đối với thửa đất số 107.
[4] Đối chiếu các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa T với
L, các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho L; đồng thời đối
chiếu hợp đồng chuyển nhượng giữa ông H2 với ông H, Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đã cấp cho ông H với đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 374 ngày
11/7/2024, sở xác định lần lượt các thửa đất của nguyên đơn thửa 57, 561
và vị trí A là thửa 562. Như vậy, theo hiện trạng sử dụng đất, bà L đang quản lý,
sử dụng các thửa đất số 57, 561 phần đất tại vị trí B diện tích 88m². Tuy
8
nhiên, phần diện tích tại vị trí A hiện do ông H đang sử dụng.
[5] Tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn yêu cầu các bị đơn T
ông H giao cho nguyên đơn thửa đất 562 tại vị trí A, yêu cầu bà S giao cả vị trí B
theo Bản trích đo địa chính số 374/VPĐKĐĐ ngày 11/7/2024 của Văn phòng
đăng đất đai thành phố Đ, phía nguyên đơn sẽ hỗ trợ số tiền 6.000.000 đồng/m
2
đối với tổng diện tích đất nhiều hơn so với các hợp đồng chuyển nhượng đã
kết giữa nguyên đơn với bị đơn bà T và bà S là 137,3m
2
. Phía bị đơn bà T và ông
H đồng ý giao cho nguyên đơn thửa đất 562 tại vị trí A, bà S giao quyền sử dụng
đất cho nguyên đơn vị trí B của Bản trích đo địa chính số 374/VPĐKĐĐ ngày
11/7/2024 của Văn phòng đăng đất đai thành phố Đ. Đối chiếu với diện tích
đất nguyên đơn được sử dụng so với diện tích đất trong hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất được kết giữa nguyên đơn với bà T và bà S cho thấy phần
diện tích đất nguyên đơn sử dụng thực tế vượt quá diện tích ghi trong các hợp
đồng chuyển nhượng, nguyên đơn đồng ý thanh toán cho T diện tích đất
28m², tương ứng 168.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi tám triệu đồng); thanh
toán cho S 109,3m², tương ứng 655.800.000 đồng (Sáu trăm m mươi lăm
triệu đồng). Theo đó, nguyên đơn được quyền liên hệ quan có thẩm quyền để
thực hiện thủ tục đăng quyền sử dụng đất, đăng biến động, nhập thửa đối
với các vị trí A, B, thửa 57 và thửa 561 theo Bản trích đo địa chính số
374/VPĐKĐĐ ngày 11/7/2024, phù hợp quy định pháp luật.
[5] Xét thấy, việc các đương sự đã tnguyện thỏa thuận với nhau về việc
giải quyết vụ án. Việc thỏa thuận các đương sự là đúng pháp luật, không trái với
đạo đức hội. Việc Hội đồng xét xử sửa án thẩm việc ghi nhận sự thỏa
thuận của các đương sự nên cấp sơ thẩm không có lỗi về phần này.
[6] Chi phí đo đạc, thẩm định lệ phí trích đo: phía nguyên đơn đã nộp
xong.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát như đã nêu trên phợp với nhận
định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí phúc thẩm, các bên đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm
theo quy định tại Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ:
-Điều 300, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tụng dân sự năm 2015;
9
- Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
vụ Quốc hội.
* Tuyên xử:
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
1. Sửa nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 221/2025/DS-ST ngày 31 tháng 10
năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 2 - Cần Thơ.
Ông Bùi Thanh H, bà Trương Thị Lệ T giao cho bà Nguyễn Ngọc L vị trí A
theo Bản trích đo địa chính số 374/VPĐKĐĐ ngày 11/7/2024 của Văn phòng
đăng ký đất đai thành phố Đ.
Công nhận cho bà Nguyễn Ngọc L được quyền sử dụng đất vị tB theo Bản
trích đo địa chính số 374/VPĐKĐĐ ngày 11/7/2024 của Văn phòng đăng ký đất
đai thành phố Đ.
Nguyễn Ngọc L được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để
làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Nguyễn Ngọc L trách nhiệm giao cho Nguyễn Thị S số tiền
655.800.000 đồng (Sáu trăm năm mươi lăm triệu đồng).
Nguyễn Ngọc L trách nhiệm giao cho Trương Thị Lệ T số tiền
168.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi tám triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định
tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Về chi phí thẩm định, xem xét tại chỗ, đo đạc và định giá: Nguyên đơn đã
nộp xong.
3. Về án phí dân sự thẩm: Nguyên đơn L phải nộp 300.000 đồng,
chuyển tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền
tạm ứng án phí số 0002371 ngày 01/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận
Bình Thủy, thành phố Cần Thơ (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2
Cần Thơ) thành án phí.
4. Về án phí dân sphúc thẩm: Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án
phí bị đơn đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0009755
ngày 14/11/2025 tại Phòng thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
10
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 36
Điều 71 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Toàn Nguyễn Thị Tuyết L1 Phan Thị Tuyết M
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND thành phố Cần Thơ;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
11
- TAND Khu vực 2 – Cần Thơ;
- THADS thành phố Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Phan Thị Tuyết Mai
Nguyễn Thị Tuyết Loan Nguyễn Thị Trang Thư
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Thị Tuyết Mai
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1273/2026/DS-PT Bản án số 1273/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1273/2026/DS-PT Bản án số 1273/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất