Bản án số 739/2026/DS-PT ngày 27/08/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 739/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 739/2026/DS-PT ngày 27/08/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 739/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp HĐCNQSDD
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 739/2026/DS-PT Bản án số 739/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 739/2026/DS-PT Bản án số 739/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 739/2026/DS-PT
Ngày: 27-8-2026
V/v “Tranh chấp Hợp đồng
chuyển nhượng QSD đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHNGA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tấn Lợi.
Các Thẩm phán: Ông Võ Thanh Bình.
Bà Nguyễn Thị Ánh Phương.
- Thư phiên tòa: Ông Bùi Công Danh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Phan Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17/4/2026, ngày 15/5/2026 ngày 27/8/2026 tại trụ sở
Tòa án nhân n tỉnh Đồng Tháp xét xphúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ
số: 45/2026/TLPT-DS ngày 23 tháng 01 năm 2026, về việc “Tranh chấp Hợp
đồng chuyển nhượng QSD đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 71/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 709/2026/QĐ-PT
ngày 23 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1954;
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị P: Anh Trần Xuân
P1, sinh năm 1976 (có mặt); Địa chỉ: Số I P, phường C, tỉnh Đồng Tháp (theo
văn bản ủy quyền ngày 21/4/2022) anh Ngô Thành N, sinh năm 1979 (có
mặt); Địa chỉ: Số A, ấp T, L, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày
15/4/2025).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Nguyễn Thị P: Luật
Nguyễn Hoàng G - Văn phòng L2, thuộc Đoàn luật tỉnh Đ (có mặt); Địa chỉ:
Số D, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
1.2. Ông Ngô Tấn T, sinh năm 1954 (đã chết).
Cùng địa chỉ: Số H, ấp T, xã L, tỉnh Đồng Tháp.
2
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Tấn T:
1.2.1. Nguyễn Thị P, sinh năm 1954;
địa chỉ: Số H, ấp T, xã L, tỉnh Đồng Tháp.
1.2.2. Anh Ngô Thành N, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Số A, ấp T, xã L, tỉnh Đồng Tháp.
1.2.3. Chị Ngô Thanh T1, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Số G, ấp H, xã L, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Ngô Thanh T1: Anh Ngô Thành N,
sinh năm 1979 (có mặt); Địa chỉ: Số A, ấp T, xã L, tỉnh Đồng Tháp (theo văn
bản ủy quyền ngày 15/4/2025).
1.2.4. Anh Ngô Tấn T2, sinh năm 1983 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số B, ấp T, xã L, tỉnh Đồng Tháp.
1.3. Ông Nguyễn Kim C, sinh năm 1950;
Địa chỉ: ấp T, xã L, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Kim C: Anh Ngô Thành N,
sinh năm 1979 (có mặt); Địa chỉ: Số A, ấp T, xã L, tỉnh Đồng Tháp (theo văn
bản ủy quyền ngày 15/4/2025).
2. Bị đơn:
2.1. Ông Trần Trung T3, sinh năm 1968;
2.2. Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1968 (có mặt);
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Trung T3: Nguyễn Thị
Mỹ L, sinh năm 1968 (theo văn bản ủy quyền ngày 24/10/2024);
Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã H, tỉnh Vĩnh Long.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1955 (có mặt);
3.2. Chị Trần Thị Mộc N1, sinh năm 1976 (vắng mặt);
3.3. Anh Trần Hữu T4, sinh năm 1979 (vắng mặt);
3.4. Chị Trần Thị Ngọc L1, sinh năm 1981 (vắng mặt);
3.5. Anh Trần Văn V, sinh năm 1984 (vắng mặt);
3.6. Chị Trần Thị Thu T5, sinh năm 1986 (vắng mặt);
3.7. Bà Lê Thị K, sinh năm 1956 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Số B, ấp T, xã L, tỉnh Đồng Tháp.
3.8. Ông Trần Thanh S, sinh năm 1970 (có mặt);
Địa chỉ: Số I, ấp L, xã H, tỉnh Đồng Tháp.
3.9. Chị Trần Lệ Trà M, sinh năm 1989;
3.10. Chị Trần Thị Trâm A, sinh năm 1991;
3
Người đại diện theo ủy quyền của chị Trần Lệ Trà M, chị Trần Thị Trâm
A: Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1968 (có mặt); Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp B,
H, tỉnh nh Long (theo các văn bản ủy quyền ngày 20/3/2025 ngày
25/3/2025).
4. Người kháng cáo: Các nguyên đơn bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Kim
C và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Ngô Tấn T
anh Ngô Thành N, chị Ngô Thanh T1, anh Ngô Tấn T2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn Nguyễn Thị P ủy quyền cho anh Trần Xuân P1
đại diện trnh bày: Vào năm 1999 Nguyễn Thị P cùng chồng ông Ngô
Tấn T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng (QSD) đất của vợ chồng ông Trần
Trung T3, bà Nguyễn Thị Mỹ L qua các hợp đồng chuyển nhượng như sau:
+ Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất diện tích 533m
2
, theo đo đạc thực tế
là 592,1m
2
thuộc thửa đất số 48 tờ bản đồ số 01 với số tiền là 7.500.000 đồng.
+ Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất diện tích 325m
2
, đo đạc thực tế
375,2m
2
thuộc thửa đất số 67, tờ bản đồ số 01 với giá tiền là 4.000.000 đồng.
Cả hai thửa đất trên cùng tọa lạc tại T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (nay
là xã L, tỉnh Đồng Tháp).
Hai hợp đồng chuyển nhượng trên P không nhớ phần chữ viết của ai
ghi nhưng chữ ký là đúng của bà L với ông T3, còn phần ghi tên Trần Trung T3,
Nguyễn Thị Mỹ L cũng không biết ai ghi, hợp đồng không có chứng thực nhưng
ông Nguyễn Hoàng T6 em ruột P chứng kiến, việc chứng kiến lập Vi
bằng. Khi ký hợp đồng thì hai bên đã thanh toán tiền đầy đủ, không có làm biên
nhận giao tiền, ngày giao tiền là ngày hai hợp đồng trên, không ai chứng
kiến việc giao tiền; vợ chồng ông T3, L cũng đã giao giấy chứng nhận QSD
đất cho nguyên đơn giữ hứa 05 đến 10 ngày sẽ thực hiện thủ tục sang tên,
giao lại cho ông T, bà P. Tuy nhiên, khi nhận tiền xong, khoảng 05 ngày sau thì
ông T3, L bỏ địa phương đi làm nơi khác thỉnh thoảng có vlại nhưng ông
T3, L cũng không thực hiện thủ tục sang tên QSD đất cho nguyên đơn cho
đến nay. Đồng thời phần đất này có căn nhà của hộ ông Đ do ông T3 cho ở nhờ.
Lúc nhận chuyển nhượng thì trên thửa 48 ngôi nhà của ông Đ, nhà tạm bằng
cây, sau đó xây dựng lại (không nhớ thời gian), đến khoảng năm 2020 mới
phát hiện nhưng do hai hợp đồng chuyển nhượng bên P làm thất lạc, nên
không tranh chấp khởi kiện; còn thửa 67 05 ngôi mcủa bên gia đình bà
L, ông T3. Từ ngày nhận chuyển nhượng đất đến nay thì bên P chưa sử dụng
phần đất này.
Ngoài ra, vào năm 1998 ông Ngô Tấn T cùng ông Nguyễn Kim C có nhận
chuyển nhượng của ông Trần Trung T3, ông Trần Văn Đ, ông Trần Thanh S
phần đất lối đi diện tích 141m
2
, theo đo đạc thực tế 199,9m
2
thể hiện theo
các mốc đi qua các thửa đất số 48, 47, 67 tờ bản đồ số 01, với giá 2.500.000
4
đồng; các bên thỏa thuận bằng tờ giao kèo ngày 17/02/1998. Bên nguyên đơn
nhiều lần yêu cầu ông T3, ông Đ thực hiện thủ tục sang tên nhưng vẫn không
thực hiện. Trong tờ giao kèo này ông T3, ông Đ ông S chuyển nhượng
cho ông C, ông T lối đi như thế này.
Nay ông T đã chết, P cùng các con khởi kiện yêu cầu Tòa án giải
quyết:
Công nhận cho P, cùng các con là anh N, anh T2, chị T1 diện tích
đất theo đo đạc thực tế là 295,7m
2
thuộc thửa đất số 48, tờ bản đồ số 01 thể hiện
từ các mốc M1, M2, M3, M17, M18, M5, M6, M7, M22, M16, M1 diện tích
đất 375,2m
2
thể hiện từ các mốc M8, M9, M10, M11, M12, M28, M13, M14,
M15, M25, M8 thuộc thửa đất số 67, tờ bản đồ số 01.
Công nhận cho P cùng các con anh N, ông T2, chị T1 ông C
diện tích đất lối đi 199,9m
2
thể hiện từ các mốc M1, M2, M19, M20, E, M21,
M22, M23, M24, M25, M26, M27, M28, M13, M14, M15, M16, M1 thuộc thửa
đất số 47, 48, 67 cùng tờ bản đồ số 01; đất tọa lạc tại T, huyện L, tỉnh Đồng
Tháp.
Ông Trần Trung T3, Nguyễn Thị Mỹ L tiếp tục thực hiện Hợp đồng
chuyển nhượng QSD diện tích đất trên lại cho bên nguyên đơn buộc hộ ông
Đ cùng những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Mộc N1, Trần
Hữu T4, Trần Thị Ngọc L1, Trần Văn V, Trần Thị Thu T5, Thị K di dời tài
sản để giao đất trên lại cho nguyên đơn sử dụng.
Đối với thửa 48 thì cây trồng như ổi, sa bô, dừa nhà tắm, nếu công
nhận đất cho bên nguyên đơn thì phần nào di dời được sẽ di dời còn không thì
bên nguyên đơn sẽ trả giá trị theo định giá. Đối với 05 ngôi mộ bên gia đình ông
T3 thì nguyên đơn không yêu cầu di dời mà giữ nguyên hiện trạng.
Thống nhất kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
huyện L và kết quả định giá của Hội đồng định giá huyện L. Ngoài ra, trước đây
Hội đồng định giá huyện L định giá thửa đất số 47 là đất cây lâu năm, tuy nhiên
sau đó Ủy ban nhân dân L xác định đất này đất nên các nguyên đơn đều
thống nhất giá trị của thửa 47 theo giá của thửa 48 theo giá thị trường là 800.000
đồng/m
2
. Đối với Kết luận giám định của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành
phố Hồ Chí Minh, nguyên đơn không ý kiến cũng không yêu cầu giám
định chữ ký của ông T3.
do mộc treo trên hai hợp đồng do bên ông T3 cung cấp: Theo
nguyên đơn biết thì trên mẫu hợp đồng do bên ông T3, bà L đưa đã có sẵn.
Đối với việc thửa đất số 47 trong Sổ mục ghi tên P2: Tại phiên tòa
thẩm, các đương sự đều thống nhất nguồn gốc đất này của ông Trần Trung
T3, nguyên đơn cũng không có ý kiến gì. Nguyên đơn xác định đất này của ông
T3 và tiến hành khởi kiện ông T3, bà L là đúng.
- Nguyên đơn anh Ngô Thành N, đồng thời người đại diện theo ủy
quyền cho các nguyên đơn Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Kim C, chị Ngô
5
Thanh T1 trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của anh Trần Hà Xuân P1 là
người đại diện theo y quyền của bà Nguyễn Thị P. Anh N không trình bày
thêm.
- Bị đơn Nguyễn Thị Mỹ L, đồng thời người đại diện theo ủy
quyền cho bị đơn ông Trần Trung T3 người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan chị Trần Lệ Trà M, chị Trần Thị Trâm A trình y: Nguồn gốc đất
tranh chấp trên của cha ông T3 cụ Trần Văn T7 cho ông T3 đứng tên QSD
đất thờ cúng ông bà. Thửa đất số 48, tờ bản đồ số 01 hiện ông T3, L cho
anh ruột ông Trần Văn Đ nhờ từ năm 1996, ông Đ mới xây dựng (cất) nhà
cấp IV theo như ông Đ báo giá 600.000.000 đồng, nhà cất năm 2019. Thửa
đất số 67, tờ bản đồ số 01 là đất trồng cây ăn quả hiện gia đình ông Trần Văn Đ
trồng ổi và các loại cây ăn trái khác.
Vào khoảng năm 1989 khi cụ T7 chết thì đi làm thủ tục sang tên QSD đất
cho ông T3 nhưng vợ chồng ông T3, bà L không có nhận Giấy chứng nhận QSD
đất cũng không giao 02 Giấy chứng nhận QSD đất của thửa 48, 67 cho
bên bà P.
Ông T3, L không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn, ông
không ký Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất cho nguyên đơn, hợp đồng này
giả, thể hiện việc Kết luận giám định không giám định được chcủa
L ông T3 ng không do ông T3 hiện bị tai biến. Ông T3, L không
yêu cầu giám định chữ ký chữ viết tên của ông T3. Ông T3, L khẳng định
trong hai hợp đồng này không phải chữ ký của ông T3 và bà L.
Thửa đất số 48, 67 được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận
QSD đất cho hộ ông Trần Trung T3 vào ngày 29/01/1997. Từ năm 1996, ông
T3, L đi lập nghiệp sinh sống Bình Dương chưa hề nhận được Giấy
chứng nhận QSD đất, nay được thông báo thụ của Tòa án mới biết bên P
khởi kiện tranh chấp việc chuyển nhượng đất.
Nhà của P liền kề với c thửa đất tranh chấp của ông T3 đứng tên,
gia đình ông Đ sử dụng liên tục từ năm 1996 đến nay. Việc gia đình ông Đ xây
dựng căn nhà cấp 4 o năm 2019, P đều thấy biết rõ vợ chồng ông Đ
mua vật liệu của bà P nhưng bà P, ông T không có ý kiến phản đối hay ngăn cản
việc xây dựng này. Do không chuyển nhượng đất nên bđơn cũng không
nhận bất cứ khoản tiền nào của bên nguyên đơn.
Thửa đất số 47 của ông T3 nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dựng đất. Tuy nhiên qua Sổ mục ghi tên P2, P2 tên thường gọi của ông
Trần Văn Đ. Bà L cho rằng trước đây trên thửa đất này ông T3, bà L có cho ông
Đ cất (xây dựng) ngôi nhà lá nhỏ để ở tạm nên mới có sổ mục kê ghi tên P2 chứ
thực tế nguồn gốc và thửa đất này từ trước đến nay của ông Trần Trung T3.
Ngoài ra, vào năm 1998, bên nguyên đơn cho rằng bị đơn lập tờ
chuyển nhượng lối đi theo đo đạc thực tế là 199,9m
2
và yêu cầu công nhận lối đi
này, bđơn không đồng ý. vào năm 1998, ông T3, ông Đ, ông S lập tờ
6
giao kèo cho ông Nguyễn Kim C và ông NTấn T được sử dụng lối đi chiều
ngang 2 mét từ hướng lộ Phụ Thành đến vành đai ông C1, việc thỏa thuận cho đi
này bên ông T3 có nhận 2.500.000 đồng chứ không có việc chuyển nhượng như
bên nguyên đơn trình bày. Hiện lối đi này bên nguyên đơn vẫn đi bình thường,
bên bị đơn không ngăn cản. Nay nguyên đơn yêu cầu công nhận cho nguyên đơn
được đứng tên QSD lối đi này theo đo đạc thực tế 199,9m
2
, bị đơn không
đồng ý mà chỉ được phép đi trên lối đi này.
Hiện trên phần đất tranh chấp có cây như ổi, sa bô, nhà tắm và 05 ngôi mộ
đá, nguyên đơn yêu cầu trong trường hợp buộc bị đơn giao đất cho nguyên đơn
thì nguyên đơn phải nghĩa vụ trả giá trị cây lại cho bên ông Đ, còn 05 ngôi
mộ không yêu cầu di dời thì bị đơn không có ý kiến.
Bị đơn thống nhất kết quả đo đạc, định giá để làm sgiải quyết vụ án.
Đối với thửa đất số 47 chưa được cấp giấy nhưng mục đích đất nông thôn,
bị đơn thống nhất theo giá định của thửa đất số 48 800.000 đồng, không yêu
cầu định giá lại. Bị đơn thống nhất với kết quả giám định chữ ký và chữ viết của
Phân viện Khoa học hình sự.
Nguyên đơn cho rằng trong hai Hợp đồng chuyển nhượng mộc đóng
sẵn mẫu của địa chính và bên ông T3, L đưa cho nguyên đơn hoàn toàn
không đúng, từ trước đến nay bị đơn không giao dịch chuyển nhượng đất
với bên nguyên đơn nên không việc đưa mẫu hợp đồng cho bên nguyên đơn.
Còn việc dấu mộc thì bị đơn cũng không biết do tại sao đóng trên Hợp đồng
chuyển nhượng đó là mẫu hay gì bị đơn không biết.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Đ trình bày:
Ông Đ thống nhất ý kiến bên L trình bày. Nguồn gốc đất tranh chấp này
của ông T3, ông Đ anh ruột nhờ trên đất của ông T3, hiện trên phần đất
tranh chấp có ngôi nhà cấp bốn của ông Đ xây dựng khoảng năm 2018, nhà tắm
ngoài ra ông Đ trồng cây ổi, sa bô, dừa. Trong vụ án này ông Đ không
tranh chấp yêu cầu đối với đất. Trường hợp giao đất cho ông T3 thì anh em
các ông sẽ tự giải quyết, còn giao đất cho nguyên đơn thì n nguyên đơn phải
trả giá trị cây trồng theo kết quả định giá lại cho ông Đ là 7.850.000 đồng.
Nếu Tòa án tuyên phần đất tranh chấp này cho bên P thì ông Đ, vợ
các con ông Đ cũng không tranh chấp hay yêu cầuvề đất đai và chi phí tu tạo
trên đất, do đất này ông Đ cùng vợ c con chỉ nhờ trên đất của ông T3.
Không yêu cầu gì đối với nguyên đơn, bị đơn.
Đối với thửa đất số 47 sổ mục kê ghi tên P2: P2 tên thường gọi của ông
Trần Văn Đ, ông Đ cũng không biết vì sao ghi n P2, phần đất này từ trước
đến nay của em ruột ông Đ ông Trần Trung T3. Ông Đ cam đoan cũng
không tranh chấp đối với ông T3 tại thửa đất này cũng như các thửa đất nêu
trên.
Việc lối đi theo tờ giao kèo năm 1998: Ông Đ thừa nhận có lập để cho bên
ông C ông T sdụng vĩnh viễn chứ không việc chuyển nhượng đất
7
đây. Đây là lối đi chung mà ngoài ông C, ông T, bà P ra thì còn hộ của ông Đ sử
dụng, không có do ông T3 ông Đ, ông S đứng ra bán lối đi này cả,
điều này thật lý. Ông Đ anh em ông Đ từ trước đến nay vẫn thống nhất
cho bà P, ông C đi trên lối đi này.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh S trình bày:
Ông S thống nhất với lời trình bày của L, ông Đ. Năm 1998 ông S cùng
ông Đ, ông T3 tờ giao kèo cho ông C ông T được đi trên lối đi đang tranh
chấp, giao kèo này chthỏa thuận cho sử dụng lối đi vĩnh viễn chứ không
việc chuyển nhượng như bên nguyên đơn trình bày. Lối đi này hiện nay bên ông
T3, bà L anh em ông S vẫn cho bên nguyên đơn đi bình thường; còn công
nhận QSD đất thì ông S không đồng ý. Ngoài ra, việc P, các con P cho
rằng trước đây ngoài việc nhận chuyển nhượng lối đi còn nhận chuyển nhượng
thửa 48, 67 điều này càng lý, phần đất này từ trước đến nay, ông S cũng
không có nghe nói việc mua bán chuyển nhượng mà đất này của ông Trần Trung
T3 cho chỗ ông Đ ở nhờ từ trước đến nay. Thửa 47 ông S biết là của ông T3 còn
trên Sổ mục ghi tên P2 thì ông S cũng thống nhất như bên bà L, ông T3 xác
định là đất này của ông T3 không phải của ông Đ. Trong vụ án này, ông S không
có tranh chấp hay yêu cầu gì.
- Đối với Ngô Tấn T2, Trần Thị Mộc N1, Trần Hữu T4, Trần Thị
Ngọc L1, Trần Văn V, Trần Thị Thu T5, Thị K đã được Tòa án tống đạt
hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không do, không yêu
cầu g trong vụ án nên không xem xét giải quyết. Riêng đối với anh Ngô Tấn
T2 là hàng thừa kế của ông Ngô Tấn T, theo các nguyên đơn trình bày anh T2 đã
nhận các văn bản tố tụng của Tòa án tống đạt nhưng do công việc nên không
đến Tòa án nhưng ý kiến vẫn giống như P các anh em. Anh T2 cũng
không có ý kiến nào khác với ý kiến của bà P và các anh em của anh T2.
- Tại vi bằng lập ngày 11/4/2024 người làm chứng ông Nguyễn Hoàng
T6 khai: Vào khoảng năm 1999, vợ chồng ông T và bà P mời ông T6 đến tại
nhà đất của vợ chồng ông T3, L để làm chứng việc mua bán đất của ông
T3, L. Ông T6 chứng kiến thấy ông T, bà P giao tiền cho ông T3, L để
mua 02 thửa đất, bên ông T3, L giao bằng khoán đỏ (giấy chứng nhận
QSD đất) cho ông T, bà P và họ có hứa chừa lại cho ông T3 một nền nhà để ở.
- Tại vi bằng lập ngày 11/4/2024 người làm chứng ông Nguyễn Thanh
B khai: Sau mấy ngày ông T mua đất của ông T3 xong, ông B đất vườn
của ông B gần với đất của ông T ông C nghe hai người này nói việc
mua đất của ông T3 xong rồi, đợi vài ngày nữa hai bên làm thủ tục. Từ đó về sau
ông B không thấy vợ chồng ông T3 còn ở đây nữa.
Tại Bản án dân sthẩm số 71/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp (viết tắt là bản án
thẩm) đã xử:
8
1. Không chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn Nguyễn Thị P, Ngô Tấn
T, hàng thừa kế của Ngô Tấn T gồm Nguyễn Thị P, Ngô Thành N, Ngô Thanh
T1, Ngô Tấn T2 về việc yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất
được lập ngày 04 tháng 11 năm 1999 giữa Ngô Tấn T, Nguyễn Thị P với Trần
Trung T3, Nguyễn Thị Mỹ L; công nhận diện tích theo đo đạc thực tế
295,7m
2
thuộc thửa đất số 48 tờ bản đồ số 01 thể hiện tcác mốc M1-M2-M3-
M17-M18-M5-M6-M22-M16 v M1. Diện tích 375,2m
2
thể hiện t các mốc
M8-M9-M10-M11-M12-M28-M13-M14-M15-M25 về M8 thuộc thửa đất số 67
tờ bản đồ số 01.
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất lập ngày 04 tháng 11 năm
1999 tại thửa đất số 48, 67 tờ bản đồ số 01 giữa Ngô Tấn T, Nguyễn Thị P với
Trần Trung T3, Nguyễn Thị Mỹ L là vô hiệu.
Buộc bà Nguyễn Thị P hàng thừa kế của ông Ngô Tấn T gồm Ngô
Thành N, Ngô Tấn T2, Nguyễn Thị P, Ngô Thanh T1 giao trả lại bản chính Giấy
chứng nhận QSD đất số 02576 QSDĐ/B2 cấp ngày 29/01/1997 cho hộ ông Trần
Trung T3.
2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Kim C, Nguyễn Thị
P và hàng thừa kế của Ngô Tấn T gồm Nguyễn Thị P, Ngô Thành N, Ngô Thanh
T1, Ngô Tấn T2 về việc công nhận diện tích 199,9m
2
thể hiện từ các mốc M1,
M2, M19, M20, E, M21, M22, M23, M24, M25, M26, M27, M28, M13, M14,
M15, M16, M1 thuộc thửa đất số 47, 48, 67, ng TBĐ 01, đất tọa lạc tại T,
huyện L (nay là xã L, tỉnh Đồng Tháp) theo tờ giao kèo ngày 17/02/1998.
Ghi nhận sự tự nguyện của Trần Trung T3, Nguyễn Thị Mỹ L, Trần Văn
Đ, Trần Văn S1 tiếp tục cho hộ Nguyễn Kim C, hộ Nguyễn Thị P, Ngô Thành
N, Ngô Thanh T1, Ngô Tấn T2 được sử dụng lối đi 199,9m
2
thể hiện từ các mốc
M1, M2, M19, M20, E, M21, M22, M23, M24, M25, M26, M27, M28, M13,
M14, M15, M16, M1 thuộc thửa đất số 47, 48, 67, cùng TBĐ 01, đất tọa lạc tại
xã T, huyện L (nay là xã L, tỉnh Đồng Tháp) theo tờ giao kèo ngày 17/02/1998.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng
cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 03/10/2025, các nguyên đơn Nguyễn Thị
P, ông Nguyễn Kim C người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của nguyên
đơn ông Ngô Tấn T anh Ngô Thành N, chị Ngô Thanh T1, anh Ngô Tấn T2
đơn kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án
sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
- Luật sư Nguyễn Hoàng G bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên
đơn Nguyễn Thị P trình bày: P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu
cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử công nhận QSD đất cho Nguyễn Thị
P và những người thuộc hàng thừa kế của ông Ngô Tấn T đối với diện tích
9
295,7m² thuộc thửa đất số 48, tờ bản đồ số 01 diện tích 375,2m² thuộc thửa
đất số 67, tờ bản đồ số 01, theo kết quả đo đạc thực tế. Đối với yêu cầu liên quan
đến lối đi, nguyên đơn đã rút yêu cầu kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm do phía
bị đơn đã thừa nhận việc chuyển nhượng lối đi cho nguyên đơn. Căn cứ kháng
cáo của bà P như sau:
+ Ngày 04/11/1999, Nguyễn Thị P giao kết hợp đồng với ông Trần
Trung T3, Nguyễn Thị Mỹ L để nhận chuyển nhượng phần diện tích đất
thuộc thửa 48; đồng thời ông Ngô Tấn T, P cũng giao kết hợp đồng nhận
chuyển nhượng phần diện tích đất thuộc thửa 67. Sau đó 03 ngày, các bên thống
nhất lập một hợp đồng chung ngày 07/11/1999, thể hiện ông T3, L đồng ý
chuyển nhượng hai thửa đất nêu trên cho ông T, P. Tại Điều 2 của hợp đồng
ngày 07/11/1999 thể hiện ông T3, bà L đồng ý giao đất, giao ranh đất cho ông T,
P; đồng thời xác nhận đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng theo hai hợp đồng
trước đó, tổng cộng 11.500.000 đồng. Ông Nguyễn Hoàng T6 người chứng
kiến việc giao nhận tiền giữa các bên xác nhận về việc ông T, bà P giao
tiền, ông T3, bà L nhận tiền.
+ Tại phiên tòa ngày 15/5/2026, phía bị đơn đề nghị giám định chữ ký,
chữ viết trên hợp đồng ngày 07/11/1999 do nguyên đơn cung cấp. Tuy nhiên,
các mẫu so sánh mà phía bị đơn cung cấp thời điểm cách xa thời điểm lập
hợp đồng năm 1999, chủ yếu các tài liệu từ năm 2002 và năm 2003, tức sau
thời điểm giao kết hợp đồng từ khoảng 03 đến 04 năm. Do đó, việc giám định
gặp khó khăn quan giám định không đủ sở để đưa ra kết luận đối với
chữ ký trên hợp đồng. Chữ ký trên hợp đồng ngày 04/11/1999 và hợp đồng ngày
07/11/1999 đúng chcủa ông T3 và L, nên sau khi hợp đồng
nhận đủ tiền chuyển nhượng thì ông T3, bà L đã giao Giấy chứng nhận QSD đất
cho phía ông T, P quản lý. Việc chưa thực hiện thủ tục sang tên QSD đất
do sau khi chuyển nhượng, ông T3, L đã rời địa phương. Sau đó, ông T bị tai
nạn giao thông, ảnh hưởng đến khả năng nhận thức và hiện nay đã chết.
+ Đối với kết luận giám định trước đây ngày 15/10/2024, cơ quan giám
định chỉ xác định không đủ sở kết luận, chứ không kết luận chữ trên các
hợp đồng không phải do ông T3, L ký. Đối với kết luận giám định ngày
31/7/2026 được công bố tại phiên tòa hôm nay, nội dung giám định cũng xác
định không đủ cơ sở kết luận về chữ của ông T3 L. vậy, không thể
căn cứ vào kết luận giám định đkhẳng định các hợp đồng do nguyên đơn cung
cấp giả. Việc chữ viết họ tên ông T3, L trong các tài liệu cần giám định
không phải do cùng một người viết ra không đồng nghĩa với việc chữ trên
hợp đồng không phải của ông T3, L. Hai hợp đồng được lập vào hai thời
điểm khác nhau phần chữ viết trên từng hợp đồng thể do những người
khác nhau thực hiện. Đối với việc hợp đồng ghi năm sinh của L là 1967 trong
khi L cho rằng mình sinh năm 1968, đây thể sai sót trong quá trình lập
hợp đồng, không phải căn cứ để xác định hợp đồng giả tạo hoặc không
10
thật. Người dân trong quá trình giao dịch thể sai sót khi ghi thông tin
nhân.
+ Đối với ý kiến cho rằng hợp đồng hiệu, cần xem xét quá trình thực
hiện giao dịch nghĩa vụ của các n. Theo Điều 129 Bluật Dân sự, trường
hợp giao dịch đã được thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ thì thể được
xem xét công nhận hiệu lực của giao dịch theo quy định pháp luật. Trong trường
hợp Hội đồng xét xxác định hợp đồng hiệu thì đề nghị giải quyết hậu quả
của hợp đồng hiệu, buộc bên bị đơn hoàn trả cho chúng tôi số tiền đã nhận
theo giá trị được xác định tại thời điểm giải quyết vụ án. Chúng tôi thống nhất
với kết quả định giá và xem xét, thẩm định tại chỗ của cấp sơ thẩm.
+ Đối với ý kiến của L cho rằng vợ chồng chưa đăng quyền sử
dụng đất chưa nhận Giấy chứng nhận quyền sdụng đất không phù hợp,
bởi nếu không việc thực hiện các thủ tục liên quan đến ông T3, L thì
không sở để quan thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đứng tên hộ ông Trần Trung T3 mà hiện nay bà P đang quản lý.
Từ sở trên, đề nghị Hội đồng t xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
nguyên đơn bà P như nêu trên.
- Nguyên đơn Nguyễn Thị P ủy quyền cho anh Trần Xuân P1 đại
diện trình bày: Thống nhất lời bảo vệ của Luật Nguyễn Hoàng G như nêu
trên, đồng thời tnh bày bổ sung đối với người dân vào thời điểm năm 1999,
nhận thức về việc chuyển quyền sử dụng đất thủ tục đăng ký, sang tên quyền
sử dụng đất còn hạn chế. Tập quán giao dịch tại thời điểm đó chủ yếu sau khi
thỏa thuận, giao nhận tiền và giao đất thì các bên xem như việc mua bán đã hoàn
thành. Quyền sử dụng đất đối với người dân là tài sản quan trọng, việc giao Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho người khác quản lý, sử dụng không thể thực
hiện một cách tùy tiện. Trong trường hợp này, sau khi các bên thỏa thuận
thực hiện nghĩa vụ thanh toán, bên chuyển nhượng đã giao Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng quản lý. Việc chưa thực hiện
thủ tục sang tên xuất phát từ những nguyên nhân khách quan sau đó.
- Nguyên đơn anh Ngô Thành N, đồng thời người đại diện theo ủy
quyền cho các nguyên đơn Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Kim C, chị Ngô
Thanh T1 trình bày: Thống nhất lời bảo vệ của Luật Nguyễn Hoàng G
trình bày của anh Trần Hà Xuân P1 như nêu trên.
- Luật Trần T8 bảo vquyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn
Nguyễn Thị Mỹ L trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của nguyên đơn giữ nguyên bản án thẩm; cụ thể, không chấp
nhận yêu cầu công nhận các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
công nhận quyền sử dụng đất đối với các phần diện tích thuộc thửa đất số 48
thửa đất số 67 theo yêu cầu của nguyên đơn. Bởi các căn cứ sau:
+ Về các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà nguyên đơn
cung cấp, đây những tài liệu làm căn cứ cho yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên,
11
trong quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn không thừa nhận chữ ký, chữ viết
trên các hợp đồng của mình nguyên đơn không chứng minh được các hợp
đồng này do ông Trần Trung T3 và bà Nguyễn Thị Mỹ L ký kết.
+ Bản án thẩm đã căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ
kết quả giám định để không chấp nhận yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/11/1999 đối với phần diện tích 295,7m²
thuộc thửa đất số 48 375,2m² thuộc thửa đất số 67, đồng thời tuyên các hợp
đồng này vô hiệu.
+ Kết luận giám định trong hồ xác định chữ viết họ tên ông Trần
Trung T3 và Nguyễn Thị ML tại các tài liệu cần giám định không phải do
cùng một người viết ra. Theo kết luận giám định ngày 31/7/2026 của Phân viện
Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ CMinh cho thấy chưa đủ cơ sở để kết
luận chữ của ông T3, L trên các hợp đồng chữ của chính ông T3,
L. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không thừa nhận việc các hợp
đồng nêu trên, trong khi nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng
minh việc ông T3, bà L đã trực tiếp ký và giao kết hợp đồng.
+ Mặt khác, hồ còn thể hiện sự không thống nhất về năm sinh của
Nguyễn Thị Mỹ L. Trong các hợp đồng do nguyên đơn cung cấp, L được
ghi sinh năm 1967, trong khi các tài liệu tố tụng xác định L sinh năm 1968.
Đây một tình tiết cần được xem xét khi đánh gtính xác thực của các hợp
đồng. Bên cạnh đó, bản ánthẩm cũng ghi nhận mâu thuẫn: năm 1998 nguyên
đơn cho rằng đã nhận chuyển nhượng đất làm lối đi, đến năm 1999 lại tiếp tục
nhận chuyển nhượng 02 thửa đất, trong khi hồ quản Nhà nước thể hiện
03 thửa, không phải 02 thửa. Ngoài ra, nguyên đơn cho rằng sau khi hợp
đồng đã giao đủ tiền cho ông T3, L người làm chứng việc giao nhận
tiền. Tuy nhiên, ngoài lời trình bày, nguyên đơn chưa cung cấp được chứng cứ
chứng minh việc giao nhận tiền theo nội dung hợp đồng.
Từ sở trên, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng
cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đối với yêu cầu liên quan đến
lối đi do nguyên đơn đã rút yêu cầu kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử giải
quyết theo quy định của pháp luật.
- Bị đơn Nguyễn Thị Mỹ L, đồng thời người đại diện theo ủy quyền
cho bđơn ông Trần Trung T3 người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị
Trần Lệ Trà M, chị Trần Thị Trâm A trình bày: L thống nhất với lời trình
bày của Luật Trần T8 như nêu trên. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Đ ông Trần
Thanh S trình bày: Thống nhất với lời trình bày của Luật sư Trần T8
Nguyễn Thị Mỹ L như nêu trên
- Đại din Vin kim sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
12
+ Về tố tụng: Thủ tc kháng cáo của c nguyên đơn Nguyễn Thị P,
ông Nguyễn Kim C và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn
ông Ngô Tấn T anh NThành N, chị Ngô Thanh T1, anh NTấn T2 thc
hiện đúng quy đnh và hp l theo quy định của Bluật Tố tụng dân sự. Việc
tuân theo pháp luật của Thm phán, Hội đồng xét x Thư phiên tòa kể từ
khi th lý v án đến thời điểm xét x phúc thẩm đã chấp hành và thc hin
đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng
đã thc hiện đúng, đầy đquyền nghĩa v tố tụng theo quy định của pháp
luật.
+ Về nội dung: Đề ngh Hội đồng xét x căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều
308 Bộ luật Tố tụng dân sự; đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với việc yêu cầu
công nhận QSD đất lối đi diện tích 199,9m
2
thuộc các thửa đất số 47, 48, 67
theo tờ giao kèo ngày 17/02/1998 do các nguyên đơn Nguyễn Thị P, ông
Nguyễn Kim C và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông
Ngô Tấn T anh Ngô Thành N, chị Ngô Thanh T1, anh Ngô Tấn T2 đã rút
kháng cáo; không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn về việc yêu cầu
công nhận QSD đất đối với diện tích 295,7m² thuộc thửa đất số 48, tờ bản đồ số
01 diện tích 375,2m² thuộc thửa đất số 67, tờ bản đồ số 01, theo Hợp đồng
chuyển nhượng QSD đất ngày 04/11/1999 ngày 07/11/1999; giữ nguyên Bản
án dân sự thẩm s71/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp.
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm số:
1196/PB-VKS-DSPT ngày 17/8/2026).
NHN ĐNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] V t tng: Tòa án nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp thụ giải
quyết sơ thẩm vụ án “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất” đúng
quy định tại khoản 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm b khoản 1
Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự về quan hệ tranh chấp thẩm quyền của Tòa
án. Sau khi xét x thẩm, các nguyên đơn Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Kim
C và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Ngô Tấn T
anh Ngô Thành N, chị Ngô Thanh T1, anh Ngô Tấn T2 (còn viết tắt các
nguyên đơn) không thống nhất với bản án sơ thẩm nên đã kháng cáo. Vic P,
ông C anh N, chị T1, anh T2 kháng cáo vào ngày 03/10/2025 là trong thi
hn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 B lut T tng dân sự, nên được xem
xét gii quyết theo th tc phúc thm.
Ti phiên tòa phúc thm, anh Ngô Tấn T2, chị Trần Thị Mộc N1, anh
Trần Hữu T4, chTrần Thị Ngọc L1, anh Trần Văn V, chị Trần Thị Thu T5
13
Thị K vắng mặt sau khi được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nên
Hội đồng xét x tiến hành xét x vng mặt theo quy đnh tại Điều 296 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
- Tại phiên tòa, các nguyên đơn rút một phần kháng cáo đối với yêu cầu
công nhận QSD đất lối đi diện tích 199,9m
2
trong phạm vi các mốc M1, M2,
M19, M20, E, M21, M22, M23, M24, M25, M26, M27, M28, M13, M14, M15,
M16, M1 theo Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp ngày 16/12/2024 của Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai huyện L, tỉnh Đồng Tháp (viết tắt đồ đo đạc ngày
16/12/2024) thuộc các thửa đất số 47, 48, 67 theo tờ giao kèo ngày 17/02/1998
cho các nguyên đơn, nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội
dung kháng cáo này theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 289 và khoản 5 Điều
308 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] V nội dung: Các nguyên đơn cho rằng vào năm 1999Nguyễn Thị
P cùng chồng ông Ngô Tấn T (đã chết) có nhận chuyển nhượng của vợ chồng
bị đơn Nguyễn Thị Mỹ L, ông Trần Trung T3 QSD đất thuộc thửa 48, diện
tích 533m
2
, đo đạc thực tế là 592.1m
2
(ONT), tờ bản đồ số 01 (viết tắt thửa
48) với số tiền là 7.500.000 đồng và thửa đất số 67, diện tích 325m
2
, đo đạc thực
tế 375,2m
2
(CLN), tờ bản đồ s 01 (viết tắt là thửa 67) với giá tiền
4.000.000 đồng, đất cùng tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã L,
tỉnh Đồng Tháp) do hộ ông Trần Trung T3 đứng tên giấy chứng nhận QSD đất,
được UBND huyện L cấp ngày 29/01/1997, các bên lập Hợp đồng chuyển
nhượng QSD đất ngày 04/11/1999, sau đó ký lại bằng Hợp đồng (chuyển
nhượng QSD đất) ngày 07/11/1999 giữa ông Ngô Tấn T, Nguyễn Thị P với
ông Trần Trung T3, Nguyễn Thị Mỹ L. Ngoài ra, vào năm 1998, ông Ngô
Tấn T cùng ông Nguyễn Kim C nhận chuyển nhượng của ông T3, ông Trần
Văn Đ, ông Trần Thanh S phần đất lối đi diện tích 141m
2
, đo đạc thực tế
199,9m
2
thuộc các thửa đất số 48, 47, 67, tờ bản đồ số 01, với giá 2.500.000
đồng, các bên có lập Tờ giao kèo ngày 17/02/1998. Bên nguyên đơn nhiều lần
yêu cầu ông T3, ông Đ thực hiện thủ tục sang tên nhưng vẫn không thực hiện,
nên các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận Hợp đồng chuyển
nhượng QSD đất ngày 07/11/1999 Tờ giao kèo ngày 17/02/1998 để công
nhận QSD đất nêu trên cho các nguyên đơn. Bị đơn ông Trần Trung T3,
Nguyễn Thị Mỹ L người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Đ,
ông Trần Thanh S không thống nhất khởi kiện của các nguyên đơn đã làm phát
sinh tranh chấp giữa các đương sự.
[3] Xét nội dung kháng cáo của các nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án
cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, sửa án sơ thẩm
theo hướng công nhận QSD đất cho Nguyễn Thị P những người thuộc
hàng thừa kế của ông Ngô Tấn T đối với diện tích 295,7m² thuộc thửa đất số 48
diện tích 375,2m² thuộc thửa đất số 67 (theo kết quả đo đạc thực tế). Hội
đồng xét xử xét thấy như sau:
14
- Nguồn gốc đất tranh chấp thuộc các thửa 48, 67 là của cha mẹ ông T3 để
lại, đối với thửa 47 chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất nhưng các đương
sự đều thừa nhận phần đất này của ông T3 ông T3 toàn quyền quyết định
(mặc dù sổ mục kê ghi tên P2 tên thường dùng của ông Trần Văn Đ). Xét việc
các nguyên đơn cho rằng Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 04/11/1999
Hợp đồng (chuyển nhượng QSD đất) ngày 07/11/1999 hợp đồng được
đánh máy theo mẫu điền thông tin viết tay, không chứng thực nhưng có
ông T3, bà L tên vào bên chuyển nhượng; tuy nhiên trình bày này không
được bị đơn ông Trần Trung T3, Nguyễn Thị Mỹ L thừa nhận mà cho rằng
việc nguyên đơn xuất trình hai tờ chuyển nhượng năm 1999 giả mạo, bị
đơn hoàn toàn không chuyển nhượng đất cũng như n vào hai hợp đồng
chuyển nhượng ngày 04/11/1999, ngày 04/11/1999 không nhận tiền hay
giao đất gì cho nguyên đơn.
Theo Kết luận giám định ngày 15/10/2024 của V1 tại Thành phố Hồ C
Minh kết luận chữ viết họ tên không phải của Nguyễn ThMỹ L, còn chữ
ký tên không đủ cơ sở xác định chữ ký của bà L thể hiện trong Hợp đồng chuyển
nhượng QSD đất ngày 04/11/1999; đồng thời theo yêu cầu trưng cầu giám định
của L đối với chchữ viết thể hiện trong Hợp đồng (chuyển nhượng
QSD đất) ngày 07/11/1999 do phía nguyên đơn cung cấp tại Tòa án cấp phúc
thẩm thì Kết luận giám định ngày 31/7/2026 của V1 - Phân viện KHHS tại
Thành phố Hồ Chí Minh xác định không đủ sở kết luận chữ đứng tên:
Trần Trung T3, Nguyễn Thị Mỹ L dưới mục “Bên chuyển QSD” phải do
cùng một người ký ra hay không và chữ viết họ tên Trần Trung T3, Nguyễn Thị
Mỹ L dưới mục Bên chuyển QSDkhông phải do cùng một người viết ra.
vậy, không có sở xác định L ông T3 tên ghi họ tên trong các
hợp đồng chuyển nhượng do phía nguyên đơn đưa ra. Mặt khác, cũng không
đủ cơ sở xác định ông T3 và bà L đã nhận đủ tiền chuyển nhượng đất và đã giao
Giấy chứng nhận QSD đất của các thửa 48, 67 cho ông Ngô Tấn T như trình bày
của các nguyên đơn, vì các nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ
chứng minh cho trình bày của mình là có cơ sở.
Từ sở trên, việc các nguyên đơn cho rằng ông T3, L kết Hợp
đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 04/11/1999 Hợp đồng (chuyển nhượng
QSD đất) ngày 07/11/1999 để chuyển nhượng QSD đất thửa 48, với số tiền
7.500.000 đồng thửa 67, với giá tiền 4.000.000 đồng cho P, ông T
không sở, nên việc Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu của các
nguyên đơn về việc công nhận các hợp đồng chuyển nhượng QSD đất nêu trên
là có căn cứ.
Đối với yêu cầu công nhận lối đi diện tích 199,9m
2
thuộc một phần
thửa đất số 47, 48, 67 theo tờ giao kèo ngày 17/02/1998, do các nguyên đơn đã
rút kháng cáo đối với yêu cầu này, nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc
thẩm và không đặt ra xem xét.
15
Từ sở trên, xét quyết định của bản án thẩm sở phù hợp
pháp luật.
[4] Tại phiên tòa, các nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu kháng cáo. Hội đồng xét
xử xét thấy trình bày của ông Trần Xuân P1 anh Ngô Thành N người
đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn không đủ căn cứ, đồng thời các
nguyên đơn cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu
cầu kháng cáo của mình cơ snhư đã phân tích trên, nên không được Hội
đồng xét xử chấp nhận.
[5] T sở trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của các nguyên đơn bà P, ông C và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của
nguyên đơn ông T là anh N, chị T1, anh T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Đối với quan điểm và đề ngh của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay
như nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy là có sở và phù hp pháp lut, nên
được chấp nhận.
[7] Đối với đề nghị của Luật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn Nguyễn Thị P tại phiên tòa hôm nay như nêu trên, Hội đồng xét
xử xét thấy không đủ cơ sở, nên không được chấp nhận.
Đối với đề nghị của Luật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn
Nguyễn Thị Mỹ L tại phiên tòa hôm nay như nêu trên, Hội đồng xét xử xét
thấy là có cơ sở, nên được xem xét chấp nhận.
[8] Ván phí: Do kháng o của các nguyên đơn không được chấp nhận,
nên phải chịu án phí n sự phúc thẩm, riêng Nguyễn Thị P ông Nguyễn
Kim C do thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, nên được
xét miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
[9] Về chi phí giám định: Do kết luận giám định không có căn cứ xác định
chữ của ông Trần Trung T3 Nguyễn Thị Mỹ L, nên các nguyên đơn
phải chịu ½ chi phí giám định và các bị đơn phải chịu ½ chi phí giám định.
Các phn khác ca bn án sơ thm không có kháng cáo, kháng ngh có
hiu lc pháp lut kể từ ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 289; khoản 1, khoản 5 Điều 308 Bộ luật Tố
tụng dân sự;
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với một phần kháng cáo của nguyên đơn
Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Kim C người kế thừa quyền nghĩa vụ tố
16
tụng của nguyên đơn ông Ngô Tấn T anh Ngô Thành N, chNgô Thanh T1,
anh Ngô Tấn T2 về việc yêu cầu công nhận lối đi diện tích 199,9m
2
thuộc
một phần thửa đất số 47, 48, 67, theo tờ giao kèo ngày 17/02/1998;
2. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị P, ông
Nguyễn Kim C và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông
Ngô Tấn T anh Ngô Thành N, chị Ngô Thanh T1, anh Ngô Tấn T2 về việc
yêu cầu công nhận QSD đất cho Nguyễn Thị P những người thuộc hàng
thừa kế của ông Ngô Tấn T đối với diện tích 295,7m² thuộc thửa đất số 48, tờ
bản đồ số 01 diện tích 375,2m² thuộc thửa đất số 67, tờ bản đồ số 01, theo
Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 04/11/1999 và ngày 07/11/1999;
3. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 71/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực B - Đồng Tháp.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 1
Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Anh Ngô Thành N, chị Ngô Thanh T1 anh Ngô Tấn T2 phải chịu
300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân
sự phúc thẩm do anh Ngô Thành N đã nộp thay 300.000 đồng, theo biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005258, ngày 17/10/2025 của Thi hành án
dân sự tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Thị P ông Nguyễn Kim C được miễn án phí dân sự phúc
thẩm.
5. Về chi phí giám định phát sinh tại Tòa án cấp phúc thẩm:
Nguyên đơn Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Kim C và người kế thừa
quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Ngô Tấn T anh Ngô Thành N,
chị Ngô Thanh T1, anh NTấn T2 phải chịu ½ chi phí giám định 3.250.000
đồng; bị đơn ông Trần Trung T3 Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu ½ chi phí
giám định là 3.250.000 đồng. Do bà L đã nộp tạm ứng số tiền 6.500.000 đồng để
thực hiện trưng cầu giám định, nên các nguyên đơn nghĩa vụ hoàn lại cho
L số tiền 3.250.000 đồng.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6
Điều 7 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện
theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
17
Nơi nhận:
- Tòa phúc thm TANDTC ti TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng GĐKTTT&THA TAND tỉnh Đồng
Tháp;
- TAND Khu vc B - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng THADS Khu vc B - Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ v án (Danh).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Ngô Tn Li
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 739/2026/DS-PT Bản án số 739/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 739/2026/DS-PT Bản án số 739/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất